1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc sắc nghệ thuật tự sự trong hai tiểu thuyết của ma văn kháng một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ; người thợ mộc và tấm ván thiên

95 162 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

những đóng góp của Ma Văn Kháng đối với văn chương nước nhà và vị trí củaông trong sự phát triển của văn chương đương đại.Năm 2016, nhà văn đã bước sang tuổi 80 nhưng hai tiểu thuyết trì

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo, PGS TS Nguyễn NgọcThiện người đã hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2, phòng Sau đại học, quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốtkhóa học

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn đãdành thời gian đọc và đóng góp ý kiến

Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ động viên của gia đình, bạn bè và đồngnghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có những cố gắng, tìm tòi nhất định, song chắc chắn luận vănkhông tránh khỏi hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng gópcủa thầy, cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2016

Học viên

Nguyễn Nữ Khánh Hương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo,PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện Tôi xin cam đoan:

- Luận văn là kết quả nghiên cứu tìm tòi của riêng tôi

- Những tư liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực

- Những gì được triển khai trong luận văn không trùng khít với bất kì côngtrình nghiên cứu của các tác giả nào đã được công bố trước đó

Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2016

Học viên

Nguyễn Nữ Khánh Hương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1.MỘT VÙNG ĐẤT HOANG VÀ NHỮNG CUỘC GẶP GỠ - TIỂU THUYẾT KIỂU CHƯƠNG HỒI MỚI 7

1.1 Sự khám phá hiện thực nơi những vùng đất mới sau chiến tranh 8

1.2 Kết cấu tiểu thuyết chương hồi mới 17

1.3 Luân chuyển điểm nhìn và ngôi kể 22

1.4 Khắc họa tính cách các loại nhân vật 28

1.4.1 Nhân vật trí thức .29

1.4.2 Nhân vật nữ 33

1.4.3 Nhân vật phản diện 36

CHƯƠNG 2 NGƯỜI THỢ MỘC VÀ TẤM VÁN THIÊN- TIỂU THUYẾT LUẬN ĐỀ 38

2.1 Tiểu thuyết luận đề với tư tưởng bao dung hướng thiện 39

2.1.1 Tiểu thuyết luận đề 39

2.1.2 Người thợ mộc và tấm ván thiên với tư tưởng bao dung, hướng thiện 40

2.2 Các kiểu nhân vật trong không gian đô thị 47

2.3 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 53

2.4 Một vài nét về nghệ thuật trần thuật 58

2.4.1 Người kể chuyện và điểm nhìn .28

2.4.2 Giọng điệu triết lý 63

CHƯƠNG 3 NHỮNG ĐẶC SẮC CỦA TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG GẦN ĐÂY66 3.1 Cái nhìn nghệ thuật, đa chiều đầy trải nghiệm, thâm thúy, lão thực 67

3.2 Chủ đề có giá trị nhân văn hướng về cái thiện, cái đẹp 72

3.3 Sự phong phú về ngôn ngữ nghệ thuật 75

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ma Văn Kháng là một trong những tên tuổi đáng chú ý của làng văn xuôiđương đại Việt Nam Ông vốn là một nhà giáo sinh ra ở Hà Nội nhưng lại gắn bóvới miền núi nơi còn bao nhọc nhằn, gian khó Chính những năm tháng dạy học,sống cùng đồng bào Tây Bắc đã cho Ma Văn Kháng một vốn sống phong phú để

từ đó kết tinh trong các tác phẩm văn chương của ông

Ma Văn Kháng là một nhà văn có sức sáng tạo dồi dào Đánh giá về Ma VănKháng, giới nghiên cứu phê bình đều thống nhất thừa nhận ông như một cây bútvăn xuôi có “bút lực sung mãn, cường tráng” Bút lực ấy được thể hiện ở số lượng

và chất lượng tác phẩm của ông trong hơn 50 năm cầm bút Gia tài mà Ma VănKháng đóng góp cho văn chương đương đại đã lên tới trên 200 truyện ngắn và 17tập tiểu thuyết Với sức sáng tạo, tìm tòi và lòng say mê với văn chương như vậy

Ma Văn Kháng đã làm nên một phong cách nghệ thuật riêng cho mình Qua nhữngtác phẩm của ông, chúng ta cũng có thể khẳng định ông là một nhân cách nghệ sĩcao đẹp và chân chính, luôn cống hiến và sáng tạo không ngừng để làm tròn chứctrách của một nhà văn trước cuộc đời

Nhìn lại đời văn Ma Văn Kháng-cây bút cần mẫn và hết sức nghiêm túctrong công việc lao động nghệ thuật, ta còn thấy ông có một sức viết rất bền bỉ.Viết cần mẫn, say mê, Ma Văn Kháng đã để lại một văn nghiệp không chỉ lớn vềqui mô, đa dạng về thể loại mà còn đều đặn và liền mạch Giai đoạn nào, Ma VănKháng cũng có những sáng tác nổi bật, mang dấu ấn cá nhân đậm nét Những đónggóp của ông đã được ghi nhận bằng những giải thưởng như: Giải B của Hội nhàvăn Việt Nam năm 1986 cho tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn; Giải thưởng củaHội đồng văn xuôi năm 1995 cho tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ, Giải thưởngNhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001, Giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nộinăm 2009 cho tác phẩm Một mình một ngựa, Giải thưởng Hồ Chí Minh về vănhọc nghệ thuật năm 2012; và trên hết có lẽ chính là lòng yêu mến của độc giả dànhcho ông và những tác phẩm của ông Chính những sự ghi nhân đó đã khẳng định

Trang 6

những đóng góp của Ma Văn Kháng đối với văn chương nước nhà và vị trí củaông trong sự phát triển của văn chương đương đại.

Năm 2016, nhà văn đã bước sang tuổi 80 nhưng hai tiểu thuyết trình lànggần đây của ông là Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ rồi Người thợmộc và tấm ván thiên vẫn cho thấy sự nỗ lực làm việc không ngừng nghỉ của nhàvăn Đồng thời một lần nữa khẳng định cho sự tìm tòi sáng tạo của cây bút cầnmẫn, say mê, quyết liệt, luôn làm mới mình Những tiểu thuyết gần đây của MaVăn Kháng thể hiện cái nhìn nghệ thuật đa chiều đầy trải nghiệm, thâm thúy, mangtính triết luận sâu sắc cùng nghệ thuật tự sự đặc sắc Ma Văn Kháng là nhà vănluôn khắc khoải về số phận con người Đặc biệt là những con người gặp nhữngnghịch cảnh trong cuộc sống nhưng họ vẫn vươn lên, khẳng định những phẩm chấttốt đẹp của mình, kiên quyết đấu tranh với cái ác, cái xấu, chống lại sự tha hóa,biến chất

Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa học: “Đặcsắc nghệ thuật tự sự trong hai tiểu thuyết gần đây của Ma Văn Kháng: Một vùngđất hoang và những cuộc gặp gỡ; Người thợ mộc và tấm ván thiên” Nghiên cứuvấn đề này sẽ góp phần bổ sung một cái nhìn mới về nghệ thuật tự sự trong mảngtiểu thuyết của Ma Văn Kháng cũng như việc nhìn nhận những đóng góp và vai tròcủa Ma Văn Kháng trên văn đàn

2 Lịch sử vấn đề

Với một gia tài không nhỏ trong tay lại đi cùng văn học dân tộc qua mộtchặng đường nhiều biến động, Ma Văn Kháng là một trong những cây bút nổi bậtcủa thế hệ nhà văn “thứ ba” Ngay khi tác phẩm Đồng bạc trắng hoa xòe ra đời,nhà văn đã gây được ấn tượng mạnh với độc giả Tác phẩm này đã đưa Ma VănKháng đến với tiểu thuyết, khẳng định một hướng đi đúng đắn và tìm cho mìnhmột chỗ đứng trên văn đàn Nghiên cứu về Đồng bạc trắng hoa xòe có thể kể đếncác bài viết của Hoàng Tiến Đọc “Đồng bạc trắng hoa xòe” với nhiều nhận địnhsâu sắc và chính xác.Sau đó có thể kể đến nhiều nhà nghiên cứu khác với các bàiviết, những nhận định sắc sảo chỉ ra những nét độc đáo, thành công cũng như tồn

Trang 7

tại của tác phẩm Ma Văn Kháng Chúng ta có thể kể đến các nhà nghiên cứu nhưTrần Đăng Suyền, Nghiêm Đa Văn, Nguyễn Ngọc Thiện…

Nối tiếp Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải ra đời và cũng gây được sựchú ý cho giới nghiên cứu phê bình Các tác giả như Trần Đăng Suyền với Cuộcchiến tranh tiễu phỉ ở “Vùng biên ải”, Lê Thanh Nghị với Đọc “Vùng biên ải”…

đã chỉ ra nét đặc trưng trong sáng tác này của Ma Văn Kháng là chất dân tộc miềnnúi đặc biệt là khả năng khái quát đời sống phản ánh hiện thực của các dân tộcvùng cao trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt

Các tác phẩm của Ma Văn Kháng nối tiếp nhau ra đời Với sự chuyển mình

từ đề tài miền núi sang đề tài thành thị, từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự,các tiểu thuyết như Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không cógiấy giá thú có thể nói đã gây được tiếng vang trong dư luận được đặc biệt chú ýquan tâm, tạo nên những dấu mốc mới trong sáng tác của Ma Văn Kháng Có thể

kể đến các bài viết của Trần Bảo Hưng, Tô Hoài, Nguyễn Thái Vận, Trần Cương,Nguyễn Thị Huệ, Trần Đăng Suyền, Nguyễn Văn Lưu, Hoàng Sơn, Hồ AnhThái,… Thậm chí sức nóng của hai tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn và Đámcưới không có giấy giá thú còn khiến các báo phải tổ chức cả những cuộc hội thảovới nhiều ý kiến khác nhau Năm 1985, báo Người Hà Nội tổ chức hội thảo Thảoluận về tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” các ý kiến tham gia hội thảo đượcđăng tải trên báo số 14 năm 1985 Tại hội thảo có rất nhiều ý kiến tham gia tranhluận, đóng góp bày tỏ quan điểm như các ý kiến của Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên

Ân, Vũ Quần Phương,… Các ý kiến đều đi đến thống nhất tác phẩm là một bướcngoặt quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng Nó đã thể hiệnnhững thành công của nhà văn trong mảng đề tài về thành thị, đi sâu khám phá đờisống tâm hồn con người, khai thác đề tài về những biến động của gia đình trongcơn biến động của xã hội Nó là một trong những tác phẩm thành công nhất củanhà văn lúc bấy giờ Tương tự như vậy là cuộc hội thảo do báo Văn nghệ tổ chứcnăm 1990 về Đám cưới không có giấy giá thú Cuốn tiểu thuyết này ra đời đã gây

ra nhiều ý kiến tranh luận thậm chí trái chiều nhau

Trang 8

Tiếp đến là các tác phẩm Ngược dòng nước lũ, Một mình một ngựa, Côi cútgiữa cảnh đời, Chó Bi, Đời lưu lạc,…với các đề tài khác nhau từ tiểu thuyết viết vềcác vấn đề xã hội đến tiểu thuyết viết cho thiếu nhi nhưng đều thu hút được quantâm chú ý của dư luận cũng như của những nhà nghiên cứu phê bình Có thể kểđến các bài viết của Hồ Anh Thái, Nguyễn Ngọc Thiện, Phong Lê, Lã Nguyên…

Các tiểu thuyết ra đời sau này như Bóng đêm, Bến bờ, Một vùng đất hoang

và những cuộc gặp gỡ, Người thợ mộc và tấm ván thiên,… tuy mới ra đời gần đâysong cũng được chú ý quan tâm Các bài viết mang tính chuyên luận về những tácphẩm này mới chỉ có một bài phê bình của Bùi Việt Thắng, song những bài viếtmang tính chất giới thiệu thì khá nhiều trên các báo

Các nghiên cứu tổng hợp, khái quát về sáng tác của Ma Văn Kháng cũngkhá phong phú và đa dạng với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, từ đề tài phản ánhcho đến nghệ thuật, tư duy tiểu thuyết Có thể kể đến các công trình như Tiểuthuyết về đề tài dân tộc miền núi của Ma Văn Kháng (Nguyễn Ngọc Thiện), Phongcách văn xuôi miền núi Ma Văn Kháng (Phạm Duy Nghĩa), Nghệ thuật tự sự trongsáng tác của Ma Văn Kháng (Đỗ Phương Thảo), Phong cách tiểu thuyết Ma VănKháng (Dương Thị Thanh Hương), Nhân vật trí thức trong tiểu thuyết Ma VănKháng (Đỗ Hải Ninh), Đặc điểm tiểu thuyết về đề tài thành thị của Ma Văn Kháng(Lê Văn Chính), Ma Văn Kháng – Ngọn cờ đổi mới có sức vẫy gọi (Đoàn TrọngHuy), Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng (Bùi LanHương), Tiểu thuyết về đề tài miền núi của Ma Văn Kháng (Trần Thị ThanhHuyền),… Những nghiên cứu chuyên sâu mang tính tổng hợp khái quát này đã chỉ

rõ các đặc trưng trong sáng tác của Ma Văn Kháng Có thể thấy xu hướng nghiêncứu càng về sau dường như càng chú ý hơn tới các khía cạnh khác của tác phẩmhơn là cách nhìn đơn giản về đề tài, nội dung ở giai đoạn đầu Mỗi nhà nghiên cứutuy có hướng tiếp cận khác nhau nhưng đều gặp gỡ ở một điểm đó là ghi nhậnnhững đóng góp không nhỏ của Ma Văn Kháng trong hành trình đổi mới tiểuthuyết Bên cạnh đó tiểu thuyết Ma Văn Kháng còn là đối tượng nghiên cứu củacác đề tài tổng hợp khác về tiểu thuyết hiện đại Có những nhà nghiên cứu dành rấtnhiều sự quan tâm chú ý của mình cho Ma Văn Kháng với nhiều bài viết, chuyên

Trang 9

luận khác nhau cho thấy sự say sưa tâm huyết của mình về nhà văn như nhà nghiêncứu Nguyễn Ngọc Thiện với 12 bài viết bám sát chặng đường sáng tác của nhà vănnhư Hỏi chuyện nhà văn Ma Văn Kháng, Ma Văn Kháng và cuốn hồi ký –tự truyệnmới…, hay nhà nghiên cứu Hoàng Việt Quân với tập nghiên cứu,phê bình Nhàgiáo-nhà văn Ma Văn Kháng- Nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2013,…Tất cả chothấy sức hấp dẫn của đối tượng nghiên cứu này.

Với hai cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 2015 là Một vùng đất hoang vànhững cuộc gặp gỡ, Người thợ mộc và tấm ván thiên chúng tôi nhận thấy ngoàinhững bài báo mang tính chất giới thiệu tác phẩm thì mới có một bài phê bình củaBùi Việt Thắng Đây chính là một vùng đất “mới” để chúng tôi tìm tòi và đưa ranhững đánh giá nhận định của mình Hướng nghiên cứu tự sự học tuy không cònmới mẻ, thậm chí nó đã được sử dụng để nghiên cứu nhiều tác phẩm khác của MaVăn Kháng Song nó vẫn tỏ ra đắc lực trong việc tiếp cận tác phẩm

Như vậy có thể nhận thấy sáng tác của Ma Văn Kháng khá phong phú vàcác công trình nghiên cứu về ông cũng đa dạng và phong phú không kém Cónhiều nhận định nhiều đánh giá khá nhau, có những ý kiến đồng thuận và tráichiều song có thể khẳng định các sáng tác của Ma Văn Kháng chủ yếu ở hai mảng

đề tài lớn là miền núi và thành thị, các nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng

đa dạng phong phú, sáng tác của Ma Văn Kháng có sự vận động về tư duy, quanđiểm nghệ thuật và có nhiều tìm tòi đổi mới

3 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích của luận văn nhằm làm rõ đặc sắc nghệ thuật tự sự trong hai tiểuthuyết Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ và Người thợ mộc và tấm vánthiên của nhà văn Ma Văn Kháng Qua đó để khẳng định sự cần mẫn, sáng tạo củacây bút có sức viết dồi dào nhất trên văn đàn Việt Nam đương đại

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Dựa vào cơ sở lý thuyết tự sự học, luận văn chúng tôi sẽ nghiên cứu nhữngđặc sắc của nghệ thuật tự sự trong hai tiểu thuyết Một vùng đất hoang và nhữngcuộc gặp gỡ; Người thợ mộc và tấm ván thiên

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Trang 10

- Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật tự sự trong hai tiểu thuyết Một vùng đấthoang và những cuộc gặp gỡ; Người thợ mộc và tấm ván thiên của nhà văn MaVăn Kháng.

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào tiểu thuyết Một vùng đấthoang và những cuộc gặp gỡ - Nxb Hội Nhà văn 2015 và tiểu thuyết Người thợmộc và tấm ván thiên – Nxb.Trẻ 2015 Ngoài ra chúng tôi có thể tham khảo thêmcác sáng tác khác của Ma Văn Kháng, các tiểu thuyết cùng thời của những nhà vănkhác để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn

6 Phương pháp nghiên cứu:

Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng và mục đích nghiên cứu, luận văn vậndụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp;

- Phương pháp so sánh;

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học

-Phương pháp tiếp cận từ lí thuyết tự sự học

7 Đóng góp của luận văn:

Từ việc tìm hiểu nghệ thuật tự sự qua hai tiểu thuyết Một vùng đất hoang vànhững cuộc gặp gỡ; Người thợ mộc và tấm ván thiên cho người đọc thấy:

- Cái nhìn nghệ thuật đa chiều đầy trải nghiệm, thâm thúy của nhà văn

- Chủ đề có giá trị nhân văn hướng về cái đẹp, cái thiện

- Đặc sắc nghệ thuật tự sự

Trang 11

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1MỘT VÙNG ĐẤT HOANG VÀ NHỮNG CUỘC GẶP GỠ -

TIỂU THUYẾT KIỂU CHƯƠNG HỒI MỚI

Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ là cuốn tiểu thuyết được nhà vănhoàn thành và xuất bản trong năm 2015, khi Ma Văn Kháng đã bước sang cái tuổi

“xưa nay hiếm”, khi thời gian ông năm viện đã nhiều hơn, khi vị trí của ông trongvăn học Việt Nam hiện đại đã được khẳng định một cách vững chãi từ nhiều nămtrước Cuốn tiểu thuyết này cùng với bốn cuốn sách khác là Người thợ mộc và tấmván thiên (tiểu thuyết), Nỗi nhớ mưa phùn (tập truyện ngắn), Nhà văn anh là ai(tập tiểu luận và bút ký về nghề văn), Bài ca trăng sáng (tập truyện) cho thấy sứcsáng tạo không mệt mỏi của nhà văn Ở cái tuổi 80, thời gian còn lại của cuộc đờiđang được Ma Văn Kháng dồn cả vào ngòi bút Ông viết có lẽ không còn để tìmkiếm một chỗ đứng, để khẳng định mình nữa mà viết như một sự thúc đẩy mãnhliệt từ bên trong, để những điều ông ngẫm nghĩ, ông chiêm nghiệm được sẻ chiabằng trang sách Ra đời trong hoàn cảnh như vậy, Một vùng đất hoang và nhữngcuộc gặp gỡ vừa có nét mới mẻ của một nhân sinh, một góc nhìn mới mang bề dàythời gian và trải nghiệm, lại vừa gần gũi thân thuộc mang đậm phong cách Ma VănKháng

Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ đã được Ma Văn Kháng thainghén và chấp bút ngay sau khi ông đi thực tế ở vùng trồng dứa Kiên Giang vàonhững năm đầu đổi mới thập niên 70 – 80 của thế kỉ trước Tuy nhiên chỉ đến năm

2015, ông mới hoàn thiện và công bố cuốn tiểu thuyết này Một hành trình sáng táckhá dài đi xuyên qua những năm tháng nhiều biến động của đất nước, qua mộthành trình gần nửa thế kỉ với biến bao sự kiện đổi thay Cuốn sách được nhà văn vínhư kết lại cuộc đời cầm bút của ông Vì vậy nếu bạn đọc kì vọng một sự lột xác,một sự sáng tạo hoàn toàn mới mẻ so với những gì đã biết về Ma Văn Kháng thì

Trang 12

dường như là cuốn sách không đáp ứng được yêu cầu đó Song cuốn tiểu thuyếtcũng lại chứa đựng, gửi gắm nhiều thử nghiệm mới của nhà văn như những tìm tòisau cuối cho một chặng đường nghệ thuật nhọc nhằn Sức hấp dẫn của cuốn sáchnày có lẽ không còn nằm ở tính thời sự của đề tài, không nằm ở cốt truyện mà nằmsâu trong tầm tư tưởng, trong những suy tư mà nhà văn gửi gắm.

1.1 Sự khám phá hiện thực nơi những vùng đất mới sau chiến tranh

Thuộc thế hệ những nhà văn trưởng thành trong kháng chiến, Ma VănKháng đã đi cùng văn học Việt Nam một chặng đường dài từ văn học chiến tranhđến văn học đổi mới Ông sáng tác ở nhiều thể loại, với tiểu thuyết có thể khẳngđịnh Ma Văn Kháng luôn nỗ lực tìm tòi, không ngừng sáng tạo 17 cuốn tiểuthuyết của Ma Văn Kháng chính là một minh chứng rõ nét nhất cho những đónggóp của ông với văn học nước nhà Cùng với nhiều nhà văn khác trong công cuộcđổi mới văn học, Ma Văn Kháng đã có những vận động không ngừng để chuyểnmình trong sáng tạo Từ những tiểu thuyết đầu tiên mang màu sắc sử thi đậm chấtmiền núi, tới các cuốn tiểu thuyết mang đề tài thành thị sau này đã cho thấy sự tìmtòi, nỗ lực của nhà văn trong việc tránh lặp lại mình, cố gắng bắt nhịp với sự thayđổi của hiện thực xã hội

Nhắc tới Ma Văn Kháng có lẽ ấn tượng đầu tiên và rất sâu đậm với bạn đọcchính là chất dân tộc miền núi trong văn chương của ông Nét phong cách đặc biệt,độc đáo này được hình thành trong những năm tháng ông sống cùng đồng bào nơiTây Bắc tổ quốc, những năm tháng khó khăn, gian khổ với mỗi cá nhân và với cảdân tộc đến không thể nào quên Sinh ra ở Hà Nội nhưng những năm tháng tuổi trẻcủa mình Ma Văn Kháng lại gắn bó với núi rừng biên ải như một cơ duyên Vừatốt nghiệp Trung cấp Sư phạm ở Trung Quốc, chàng trai Hà thành được phân cônglên miền núi phía bắc làm công tác giảng dạy cho tới những năm 1976, ông mớiquay trở về Hà Nội làm việc và sinh sống Chính những năm tháng sống gắn bóvới vùng cao đã mang lại cho ông nhiều vốn sống, hiểu biết sâu sắc về các dân tộcnơi đây, từ đó thấm dần vào mỗi trang văn của mình Trong giai đoạn đầu nhữngtiểu thuyết như Gió rừng, Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải,… đã phản ánh

Trang 13

chân thực một giai đoạn lịch sử của nhân dân Tây Bắc với các sự kiện lớn thể hiệnquá trình giác ngộ lý tưởng cách mạng, đứng lên đi theo Việt Minh giải phóng dântộc, giải phóng đất nước Đó là một lát cắt lịch sử ngắn ngủi nhưng dồn dập, căngthẳng Giai đoạn này văn chương Ma Văn Khang không chỉ đậm chất núi rừng màcòn là chất sử thi khi đi vào phản ánh những vấn đề mang tầm vóc lớn, với nhữngnhân vật phi thường mang số phận chung của cộng đồng Có thể nói Ma VănKháng đã ghi chép lại lịch sử, đặt ra các vấn đề của đồng bào các dân tộc thiểu sốtrong những trang văn của mình.

Giai đoạn thứ hai trong sáng tác của mình, Ma Văn Kháng có sự chuyển đổilớn về đề tài cũng như tư duy tiểu thuyết Các tác phẩm như Mưa mùa hạ, Mùa lárụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ, Một mìnhmột ngựa,… đã mở ra một con đường mới trong hành trình nghệ thuật của Ma VănKháng Từ tiểu thuyết sử thi nhà văn chuyển sang tiểu thuyết thế sự, đi sâu phảnánh đời sống cá nhân, đặc biệt là đời sống tâm hồn, tình cảm Từ đề tài miền núi

Ma Văn Kháng chuyển sang đề tài thành thị với những vấn đề của cuộc sống hàngngày Từ giai đoạn lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm giờ đây là cuộc đấutranh với những tiêu cực trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Kéo theo

đó là sự thay đổi lớn về cách viết, kĩ thuật viết, khi các tác phẩm đã đi sâu hơn vàotâm lý nhân vật, thay vì chỉ phản ánh khái quát những bình diện lớn của lịch sử.Những bi kịch của cá nhân được nhìn nhận và phản ánh một cách sâu sắc Đó là bikịch của người trí thức trong thời đại mới, đó là bi kịch gia đình, bi kịch tình yêu,

bi kịch hôn nhân,… Những tiêu cực của xã hội cũng được phản ánh chân thực, thôráp như chính cuộc sống với nhiều ngổn ngang, biến động Một không gian mớiđược mở ra không còn là không gian núi rừng với những nét văn hóa đặc sắc củacác dân tộc miền núi phía bắc Giờ đây hình ảnh của một thành thị ồn ào, gấp gáptrong cuộc chạy đua của một thời kì mới đã cuốn theo nó bao số phận, cảnh đời.Nếu ở giai đoạn trước Ma Văn Kháng đặt nhân vật trong dòng xoáy của lịch sử đểthấy cái phi thường, đẹp đẽ đầy sử thi thì ở giai đoạn này con người được đặt giữacái đời thường để thấy hết cái nhỏ bé, yếm thế và sụp đổ của những hình mẫutưởng như là lý tưởng Sự tha hóa của con người được đặt ra một cách rốt ráo Kể

Trang 14

cả ở những tác phẩm phảng phất không gian núi rừng, mang tính “hồi cổ” thì cũngkhông còn là hình ảnh của núi rừng như trong các sáng tác ở giai đoạn trước.

Gần đây là sự ra đời của Bóng đêm và Bến bờ những tác phẩm về một mảng

đề tài hoàn toàn mới mẻ của Ma Văn Kháng đó là đề tài hình sự tâm lý Ở đề tàimới mẻ này Ma Văn Kháng một lần nữa thể hiện sự tìm tòi và hướng đi của riêngmình Ông không dùng những chi tiết giật gân để đánh vào thị hiếu bạn đọc Nhàvăn tập trung lý giải nguyên nhân của tội ác, về giá trị sống và nhân cách conngười trong xã hội đương đại Hình ảnh người chiến sĩ công an giữa sự sống và cáichết, giữa tội ác và điều thiện lương, giữa cuộc sống đời thường và cuộc chiếnchiến dữ dội với tội phạm được Ma Văn Kháng lột tả khá thành công

Tác phẩm ra đời cùng thời với Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ làNgười thợ mộc và tấm ván thiên lại quay về với các tác phẩm ở giai đoạn thứ hai.Lấy không gian thành thị đan xen với không gian núi rừng như hiện tại mà cũngnhư là hồi ức của quá khứ làm nên không gian cho tác phẩm Ma Văn Khángdường như gửi gắm trong đó bao tình cảm của mình với những vùng đất ông gắnbó

Điểm lại các sáng tác của Ma Văn Kháng và các đề tài trong hành trình sángtạo nghệ thuật của nhà văn, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến tính độc đáo trong Mộtvùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ Rời khỏi những không gian mang tính sởtrường của mình, Ma Văn Kháng tìm đến một vùng đất mới Ở đó không còn làvùng núi Tây Bắc của người Mông, người Dáy; không còn là Hà Nội với nhữngnếp nhà, nếp người riêng Miền đất hoang Nam bộ trong những năm đầu đổi mới

đi vào trang viết của Ma Văn Kháng một cách tự nhiên, chân thực mà không kémphần sinh động Mở đầu cuốn sách là câu thơ của Cao Bá Quát như một nguồncảm hứng khơi gợi cho toàn tác phẩm Cảnh đã tuyệt kỳ thú./ Lại có ta đến đây Cái

kì thú của cảnh vật nơi đất rừng phương Nam, cùng với con người với ý chí vàhoài bão của mình đã làm nên một nét kỳ thú mới, làm nên cái đẹp giữa vô vànnhững xô động của cuộc đời

Đất phẳng tẹt, trải ra tít mù, không chân trời giới hạn Lác đác những khómtràm cằn cội, đôi ba vùng cỏ vàng áy, chìm trong một màu xanh nhức mắt bí ẩn

Trang 15

của loài cỏ năn ống, cỏ năn kim, nhả ra một chất độc xua đuổi tất cả những sinhlinh ra khỏi chốn vắng vẻ quạnh hiu bao la này Bên trái là vậy Bên phải cũng làvậy Trước sau cũng là vậy, trời đất mở toang một không gian ba chiều ban sơ,nguyên thủy gợi một cảm giác rõ rệt về sự vô tận, vô cùng Vẻ hoang sơ ánh lênbầu trời xa thẳm không sinh khí, bất động, những đám mây xám dường như đãđứng đó từ thuở mới khai thiên lặng lẽ đầy vẻ hăm dọa và hoang đường [26, 7-8].

Những câu văn đầu tiên như muốn lột tả cái xa lạ đến hoang hoải của cảnhvật Có đất, có nước có bầu trời nhưng dường như thiếu đi sự sống và dấu vết củacon người Trong cách miêu tả của mình Ma Văn Kháng như muốn hé mở, ẩn dụmột điều gì đó ẩn sâu hơn dưới tầng câu chữ Không gian hoang sơ của miền đất

xa lạ như mang một bộ mặt đầy hăm dọa những con người mới tìm đến nó Dườngnhư có “những cơn tai biến” đang rình rập ở quanh đây Một vùng đất hoang,không cánh chim trời, không cá dưới nước, một vùng đất hoang “man rợ thật khônlường” dần dần hiện lên trên trang viết Mảnh đất phèn chua, với biển, với gió vớinhững con kênh con rạch chằng chịt vừa xa lạ vừa thu hút bước chân của nhữngcon người khai hoang Nó không còn là những vùng đất quen thuộc với cảm giác

an toàn Giờ đây giữa cái nguyên bản hoang sơ của đất trời con người trực tiếpphải đối mặt với thế giới không còn những che chắn thân thuộc Không những thếmảnh đất này còn mang trong mình những di chứng của chiến tranh với bom đạncòn sót lại nằm đâu đó dưới tầng đất kia

Những đặc tính tự nhiên của một vùng đất mới được Ma Văn Kháng miêu tảqua nhiều chi tiết Từ những cơn mưa thật dữ dằn, cơn mưa như tiến từ biển vàođất liền, có những khi cơn mưa đến bất ngờ như một ngẫu nhiên, có những lúc cơnmưa như chạy đua với con người, những cơn mưa rửa bớt phèn chua, những cơnmưa trả nước về cho biển Không còn cái bốn mùa của miền Bắc, Nam bộ với haimùa mưa và khô hiện lên trong những cơn mưa và mùa lũ lụt

Không ai cai quản Mưa như con quái vật tháo cũi sổ lồng Mưa lồng lộnnhư lên cơn điên dại Mưa thốc tháo như dốc chĩnh nghiêng vò Mưa như đập vỡtrời Mưa như mưa thời hồng hoang nguyên thủy [26,180]

Trang 16

Mưa như làm rõ hơn cái man dại của vùng đất hoang, hăm dọa con người tớitận cùng, gây ra bao khó khăn cho vùng đất trũng sình lầy Không phải ngẫu nhiên

Ma Văn Kháng miêu tả những cơn mưa nhiều đến vậy Nó như một “đặc sản” củađất trời Nam bộ Nó trở thành một nét thân quen tới mức ông Sáu có thể nghe gió

mà biết cơn mưa đang tới, cảm nhận đất trời mà biết mưa tới nhanh hay chậm Nócòn giống như một thử thách để con người phải vượt qua phải làm quen với môitrường mới Hình ảnh Sinh ướt nhèm trong mưa với đàn trâu và những chiếc máykéo, với con kênh và những đồng dứa như một hình ảnh đẹp về sự kỳ thú của conngười và cảnh vật Mưa cũng gột rửa không chỉ phèn chua mà cả những gì xấu xí

ẩn sâu trong mỗi con người để giữ lại những gì giá trị Cuộc chiến đấu với thiênnhiên nơi vùng đất hoang là cuộc chiến đấu với thiên nhiên để tạo ra của cải vậtchất nhưng cũng là cuộc chiến đấu với chính mình để vượt lên trên những tiêu cực,xấu xa của cuộc sống

Hình ảnh mảnh đất phương Nam còn là biển, là thủy triều, là rừng tràm, làcon nước, là đất chua Mỗi mảnh đất như có những “chỉ số” cơ thể riêng của mình,làm nên những đặc trưng riêng có

Thuyền rẽ vào một con lạch nhỏ Be xuồng chạm lạt sát vào một bờ cỏ rậm.Lui vào phía trong chừng hơn mười thước cả ba người nhìn thấy một cánh rừngtràm non…

… Cây tràm non vậy mà khỏe lắm Trong nước phèn trong vắt trông chúngmảnh mai như các loài rong xanh ấy Nước xuống chúng ngả rạp về phía biển vàkhi ấy chồi non mới lại nẩy tiếp, vươn lên Cứ thế nên chẳng mấy chốc mà có đượcmột cánh rừng tràm [26, 172]

Hay hình ảnh một ngôi làng nhỏ:

Không xúm xít quây tròn trong vòng tre xanh như các làng quê ngoài Bắc,các nóc gia ở đây rải rác cách đều trên dọc hai bờ kênh thẳng tắp, nước trong vănvắt Kênh là mặt đường, nhộn nhịp chuyển động những xuồng ba lá, những ghe,tầu, thuyền, xuồng các loại Dừa nước ken đôi bờ xanh ngút Và tít trên cao, chùmdừa lửa hồng bóng như sơn mài điểm sáng cả một vòm trời xanh lục diệp những làchuối, mía, xoài, đu đủ, sa bô chê…[26, 37]

Trang 17

Một vài chi tiết rất nhỏ, một vài nét phác họa đơn sơ nhưng lại giúp ngườiđọc cảm nhận được không khí của vùng đất phương Nam, không phải là núi làrừng mà là kênh là nước, là cành dừa, là cây trái… Chỉ khi nào hiểu được cái chấtriêng của từng vùng đất con người mới có thể sống và làm giàu từ những vùng đất

đó Giống như, nông trường I thì trồng lúa nhưng nông trường II lại gieo sạ tràm

và hạt đào lộn hột Vì đó là những cây có thể sống được trong môi trường đất ngậpmặn chua phèn nơi đây Nếu nông trường I vun gốc dứa 20cm thì nông trường IIvun cao gấp đôi thế Đến mùa mưa nước tràn vào, dứa vẫn sống được mà ra hoakết trái Tác phẩm không đi sâu vào miêu tả cảnh vật mảnh đất phương Nam,nhưng phảng phất trong tác phẩm hình ảnh một vùng đất hoang nơi cực Nam tổquốc dần hiện lên với những chi tiết vừa đủ để gợi được những nét riêng nhất củavùng đất này

Ma Văn Kháng đã tỏ ra khá thông hiểu vùng đất hoang nơi cực Nam tổquốc Tuy không phải là sở trường của mình, không phải mảnh đất ông từng sống

và gắn bó cuộc đời nhưng Ma Văn Kháng đã có những hiểu biết thấu đáo để chắtlọc và miêu tả cho ra được đúng cái chất riêng, “chỉ số” riêng của vùng đất này.Không thể chỉ qua một tác phẩm này mà thấy được cái chất Nam bộ trong sáng táccủa Ma Văn Kháng Nếu so sánh với nhiều nhà văn gắn bó với Nam bộ khác, cóthể Ma Văn Kháng chưa làm tới được cái chất Nam bộ đặc sắc tới từng câu chữ.Nhưng có thể thấy được những nỗ lực không nhỏ của tác giả trong việc vượt thoátkhỏi những không gian quen thuộc để tìm kiếm những không gian nghệ thuật mới

Và cũng phải ghi nhận rằng Ma Văn Kháng đã lột tả được đúng cái chất, cái đặctrưng của vùng đất Kiên Giang nơi ông đã đi thực tế Đặc biệt khi Tây Bắc đã trởthành hơi thở tự nhiên trong các tác phẩm của ông, khi tuổi đời, tuổi nghề đãkhông còn ở giai đoạn để thử nghiệm để thay đổi thì việc vượt lên trên những thóiquen thông thường của ngòi bút để bắt đầu lại ở một vùng đất mới là một điều thậtđáng ghi nhận

Không chỉ là không gian Nam bộ, không gian của một miền sông nước vớithiên nhiên đất trời đặc trưng mà còn là con người Nam bộ Không đi sâu khắc họacon người bản địa của vùng đất này, Ma Văn Kháng mang tới mảnh đất hoang

Trang 18

những con người từ nhiều miền tổ quốc Nhưng chỉ một hình ảnh ông Sáu thoángxuất hiện trong tác phẩm thôi ít nhiều nhà văn đã thể hiện được hình ảnh của ngườidân miền sông nước bộc trực, thẳng thắn mà rất chân tình Ông Sáu xuất hiện đầutiên với hình ảnh của một người già “quần áo bà ba đen, hai tay chống nạnh”dường như là để “chủ làng bắt nạt ngụ cư” Trong cuộc gặp gỡ lần đầu với Sinh,người đọc chắc không nhiều thiện cảm với ông Sáu khi ông gây khó khăn choSinh, yêu cầu Sinh về trụ sở bàn công chuyện Nhưng ở lần gặp gỡ chính thức thứhai bạn đọc dần được nhìn thấy vẹn toàn con người ông Sáu đúng cái chất của conngười khai hoang mở đất Có nét phóng khoáng, bộc trực thẳng thắn đến ngangtàng nhưng cũng chân tình hết lòng Khi đã tin, đã hiểu, đã biết về nhau là hết lònghết dạ Ông Sáu hiểu vùng đất này, biết từng cơn mưa, thấm từng chất phèn, thuộctừng cơn triều Ông dạy Sinh, Luận cách xổ phèn, trồng cây, ông cho Sinh giốngĐào lộn hột quý của ông Giống như muôn vàn người nông dân bình dị trên khắpnẻo đất này, ông Sáu mang nét đẹp chất phác, hồn hậu dù bề ngoài có thể xù xì,thô ráp Xuyên suốt câu chuyện ông Sáu giống như ông Thoại là một chỗ dựa tinhthần cho Luận, cho Sinh mạnh dạn đi theo con đường mình đã chọn.

Không chỉ là sự thay đổi về không gian và con người, ở tiểu thuyết này MaVăn Kháng còn chọn một góc hiện thực khác để khai phá Đó không còn là đề tàilịch sử của những năm kháng chiến chống Pháp, của những năm tháng trước Cáchmạng tháng Tám nữa Đó cũng không còn là những bi kịch của gia đình, tình yêu,hôn nhân trong những năm tháng đổi mới, với nhiều tác động của nền kinh tế thịtrường Đó cũng không còn là những hồi ức tuổi trẻ cho những năm tháng nhọcnhằn làm thầy, làm thư kí cho bí thư tỉnh ủy Ở đây tác giả khai thác công cuộckhai hoang, phát triển kinh tế ở một vùng đất mới sau chiến tranh Không đi sâuvào khai thác đề tài hậu chiến Chiến tranh chỉ như một vết xước nhỏ nhắc nhởngười đọc về quá khứ của vùng đất này từng là nơi giao tranh của ta và địch Dấuvết chiến tranh chỉ còn lại là những quả mìn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, là một anhNguyện từng lái xe cho quân đội Sài Gòn Có lẽ ngay từ đầu Ma Văn Kháng đãxác định tiểu thuyết của ông không viết về những vết thương chiến tranh để lại.Ông muốn viết về ngày hôm nay, nơi mảnh đất từng bom đạn ấy một cuộc sống

Trang 19

mới được hình thành Nó cũng là một cuộc chiến Một cuộc chiến có khi còn ácliệt và nghiệt ngã hơn Bởi nó là cuộc chiến dai dẳng giữa cái tốt và cái xấu, giữanhững gì tiến bộ và những thứ cũ kĩ lạc hậu, giữa những con người của lý tưởng,

vì lợi ích chung với những con người cá nhân ích kỉ, tham lam

Hiện thực cứ được phóng to dần Đầu tiên là từ bốn người phương xa tụ họptrên mảnh đất hoang như một ngẫu nhiên của lịch sử, của đất trời Đó là Sinh,Thoại, Luận và Thảnh với mỗi gương mặt khác nhau tạo nên một hiện thực đadạng Rồi từ đó hiện thực được phóng dần ra với sự xuất hiện của Nguyện, rồinhững người công nhân đến nông trường mang theo một quá khứ sau mình, rồi đếnnông trường bạn, rồi đến các cơ quan quản lý cấp trên mà đại diện là “anh trưởng”.Hiện thực như đầy dần lên cùng với mỗi nhân vật Họ mang đến mảnh đất xa lạ chỉ

có thiên nhiên chưa có con người này phần “con” và phần “người” của riêng mình

để góp thành một bức tranh xã hội phức tạp, ngổn ngang Đó là những năm thángđầu xây dựng nền kinh tế Khi những người dám nghĩ, dám làm, dám sống nhưSinh không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi Không phải lần đầu tiên Ma VănKháng miêu tả cuộc chiến của những nhân tố tiến bộ như Sinh với đám quan chứctham lam, hủ lậu Nhưng cái khác ở đây có lẽ là bởi Ma Văn Kháng không xoáysâu vào bi kịch tinh thần của con người Nhìn ngay sang Người thợ mộc và tấmván thiên tác phẩm ra đời cùng thời điểm đã có thể nhìn thấy sự khác biệt đó Mộtvùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ đang cố gắng tái hiện một giai đoạn đặc biệtcủa xã hội khi chiến tranh vừa kết thúc, khi cái mới bắt đầu manh nha hình thành,khi việc xây dựng kinh tế theo những mô hình mới được triển khai Trong câuchuyện ấy có việc hình thành các nông trường, những vùng khai hoang mới nhưthế nào Trong câu chuyện ấy có hình ảnh của cơ chế đang vận hành đầy non nớt

và nhiều khó khăn, có chuyện vay vốn giải ngân, có chuyện trồng cây, nuôi con gìcho hợp lý, có chuyện gian dối sao cho được lợi, có chuyện đào kênh khơi biển,rửa phèn, đánh luống Tất cả được miêu tả rất chi tiết, với những con người cụ thểcâu chuyện cụ thể Trong câu chuyện ấy có cả những mảnh đời làm lại sau chiếntranh Có những người con gái như Quyên từ bỏ một quá khứ để bắt đầu học tập,làm lại cuộc đời Có Liễu tìm đến vùng đất này để trọn nghĩa tình với người chồng

Trang 20

đã hi sinh, để bắt đầu một tình yêu, hạnh phúc Có cả những người như Thảnh,Ngoạn, Anh Trưởng những kẻ cơ hội với quá khứ đầy vết nhơ Tập trung miêu tảcông cuộc khai hoang, xây dựng kinh tế và cạnh đó là số phận con người vớinhững mảnh đời khác nhau, Ma Văn Kháng đã tái hiện được những khó khăn củanhững năm tháng sau chiến tranh Bên cạnh lòng nhiệt tình phơi phới của conngười, bên cạnh trí tuệ và quyết tâm của con người là những khó khăn không tránhkhỏi của một mô hình mới vận hành Từng ý tưởng, từng việc làm, từng khó khăn

mà nông trường II gặp phải có lẽ không chỉ là của riêng nông trường II Và đámngười như tàu Phi Long, như Thảnh, như Ngoạn và đặc biệt là như Anh Trưởng có

lẽ cũng không phải là cá biệt Người ta có thể bắt gặp nó ở bất cứ nơi đâu tronggiai đoạn lịch sử giao thời ấy Ma Văn Kháng giống như mọi lần phân chia rất rõràng trong tác phẩm của mình những chiến tuyến khác biệt Không lẩn tránh hiệnthực, Ma Văn Kháng đã chỉ ra những tiêu cực còn tồn tại, những thế lực cản trở sựphát triển chung, những nhỏ nhen trong mỗi con người

Trong cuộc giao chiến đó có khi cái mới, cái tốt đẹp phải tạm thất bại Sinhgặp phải nhiều cản trở, vốn không được đáp ứng, nhiều ý tưởng có thể bị thất bạihoặc khi triển khai không đơn giản như anh dự tính, những con người anh đặt niềmtin cũng có khi lung lạc Anh cũng phải trả giá, bị bắt Nhưng cuối cùng đồng dứa

đã thắng lợi, con kênh anh đào nối với biển đã phát huy được sức mạnh của nó,những người anh tin tưởng đã xứng đáng với niềm tin anh trao Ở Sinh người đọcnhận thấy vẻ đẹp của một con người hết lòng vì tập thể nhưng cũng nuôi giấcmộng cá nhân anh hùng Đó là nét khác biệt của Sinh so với nhiều nhân vật kháctrong các tác phẩm cùng đề tài Có lẽ độ lùi thời gian cho phép Ma Văn Kháng cócái nhìn khác hơn về cá nhân và tập thể Kết thúc tác phẩm là một hiện thực để ngỏnhưng nó mở ra cho người đọc niềm tin vào một tương lai Một cuộc sống mớiđang hình thành, những điều tốt đẹp được gieo xuống sẽ nảy mầm và đơm trái

Khám phá một mảng hiện thực khác Ma Văn Kháng một mặt cho thấy cáinhìn khá toàn diện và sâu sắc của mình trong cách phản ánh đời sống xã hội nhữngnăm đầu sau chiến tranh xây dựng nền kinh tế trên những mảnh đất hoang Mặtkhác, bạn đọc vẫn nhận ra chất Ma Văn Kháng trong cách nhìn hiện thực và tái

Trang 21

hiện hiện thực của ông Dường như tiểu thuyết của Ma Văn Kháng luôn có sự phântuyến rõ ràng, luôn có những nhân vật đóng vai trò của nhân vật tư tưởng mangtính luận đề thể hiện triết lý nhân sinh của tác giả Hiện thực một mặt được nhìnchân thực với ngổn ngang tốt xấu, với đầy đủ những biến động và biểu hiện củamột giai đoạn lịch sử mới Song cũng lại được nhìn một cách đơn giản, một chiều

từ hướng chia cực phân tuyến mạch lạc giản đơn Tuy nhiên chúng ta cũng khôngthể phủ nhận những nỗ lực của nhà văn trong việc tìm kiếm những đề tài mới,khám phá và tái hiện đời sống ở nhiều góc độ khác nhau Đặc biệt dù viết về mộtgiai đoạn đã qua, một câu chuyện quá khứ, nhưng tác phẩm của Ma Văn Khángvẫn mang tính thời sự, có những điều để chúng ta suy ngẫm cho hôm nay

1.2 Kết cấu tiểu thuyết chương hồi mới

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp vàsinh động của tác phẩm Tổ chức tác phẩm ở đây không chỉ được hiểu là sự kết nối

ở bề mặt, ở những tương quan giữa các bộ phận chương đoạn mà sâu hơn nó là sựliên kết trong tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh Kết cấu bộc lộ tư tưởng chủ đề tácphẩm, triển khai một cách hấp dẫn cốt truyện, cấu trúc hợp lý hệ thống tính cách,

tổ chức các điểm nhìn trần thuật và tạo ra tính toàn vẹn cho tác phẩm như một hiệntượng thẩm mĩ Vì vậy có thể thấy kết cấu đóng một vai trò quan trọng trong việcxây dựng tác phẩm Từ kết cấu mới có thể tổ chức cốt truyện, nhân vật và qua đó

là toàn bộ nội dung chủ đề của tác phẩm Kết cấu của tiểu thuyết đa dạng và thểhiện tài năng cũng như nhận thức của nhà văn Kết cấu tiểu thuyết cũng có nhiềuthay đổi theo sự phát triển, hiện đại hóa của văn học

Tiểu thuyết chương hồi là một thể loại thịnh hành và phát triển ở thời Minh– Thanh Trung Quốc, thuộc dạng trường thiên tiểu thuyết với quy mô lớn Thể loạinày có xuất phát điểm là từ các thoại bản, bạch thoại Về hình thức dễ nhất thấy lànội dung được chia thành các chương, các hồi; đầu mỗi chương là một hai câu thơnhắc về chương trước và gợi mở nội dung chương mới, cuối mỗi chương cũng làmột hai câu thơ hé mở về nội dung chương sau Mỗi chương hồi tập trung vào mộtcâu chuyện nhỏ, một sự kiện nhỏ có tính độc lập tương đối với các chương hồi

Trang 22

khác, các tình tiết thường khá gay cấn thu hút người đọc Mỗi chương hồi đềuđược đặt tên riêng gọi là “hồi mục” và một chương thường được kết thúc ở chi tiếtgay cấn hấp dẫn kèm theo câu “muốn biết sự việc ra sao, xin xem hồi sau phângiải” Tiểu thuyết chương hồi có một số đặc điểm nổi bật: 1 Nội dung câu chuyệnchủ yếu thể hiện qua hành động và ngôn ngữ nhân vật hơn là qua sự miêu tả tỉ mỉtâm lý, tính cách; 2 Câu chuyện được phát triển qua các tình tiết xung đột căngthẳng mang nhiều kịch tính; 3 Nghệ thuật khắc họa nhân vật mang nhiều tính ước

lệ Các đặc điểm này đều cho thấy sự ảnh hưởng của kết cấu thoại bản tới tiểuthuyết chương hồi

Ở đây chúng tôi đưa ra nhận định tiểu thuyết Một vùng đất hoang và nhữngcuộc gặp gỡ có kết cấu chương hồi là muốn nhấn mạnh tới đặc điểm hình thức củatác phẩm Toàn bộ tiểu thuyết được chia làm 24 chương khác nhau được đánh số

và đặt tên cụ thể cho từng chương Tuy nhiên cũng phải nhận thấy Một vùng đấthoang và những cuộc gặp gỡ mang hình thức của tiểu thuyết chương hồi nhưngkhông hoàn toàn mang những đặc trưng của tiểu thuyết chương hồi với các trườngthiên tự sự, thiên về sự kiện như trong văn học trung đại Ở đây hình thức chươnghồi đã cho phép tác giả tạo ra một kiểu kết cấu mới cho tác phẩm với những câuchuyện nhỏ, chủ đề nhỏ lồng trong một tổng thể tự sự hoàn chỉnh bao quát Nhiềutiểu thuyết khác của Ma Văn Kháng sử dụng lối truyện lồng trong truyện, đan xennhiều mạch truyện, nhiều phân nhánh tự sự để kể Tuy nhiên nhìn chung tiểuthuyết của Ma Văn Kháng thường không quá phức tạp trong kết cấu, cốt truyệnthường được tổ chức theo lối tuyến tính, xoay quanh các xung đột giữa các tuyếnnhân vật, ít thiên về kết cấu tâm lý hoặc dòng ý thức Một vùng đất hoang vànhững cuộc gặp gỡ cũng mang đầy đủ các đặc điểm về kết cấu như nhiều tiểuthuyết khác của Ma Văn Kháng nhưng được tổ chức thành các chương hồi theo lốicủa tiểu thuyết chương hồi Minh – Thanh tạo nên một nét riêng độc đáo

Đặc điểm độc đáo nhất trong kết cấu của tiểu thuyết Một vùng đất hoang vànhững cuộc gặp gỡ có lẽ chính là ở chỗ nó mang dấu ấn của tiểu thuyết chươnghồi mà lại không phải là tiểu thuyết chương hồi Mỗi chương hồi như một truyệnngắn trong một tiểu thuyết Vì mỗi chương kể về một sự kiện, một câu chuyện

Trang 23

hoàn chỉnh Các câu chuyện nhỏ này nằm trong sự phát triển tuyến tính của cốttruyện có sự liên kết bằng nhiều yếu tố như sự kiện, tâm lý nhân vật chứ khônghoàn toàn tách rời Ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh về sự toàn vẹn của một nộidung được kể trong từng chương Chính đặc điểm này làm nên sự khác biệt củaMột vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ với nhiều tiểu thuyết khác của Ma VănKháng Nó vừa mới mẻ lại vừa quen thuộc chứ không hoàn toàn xa lạ Ví dụchương 1 là chương giới thiệu về 4 người được cử đến xây dựng nông trường 2cùng với đó là câu thơ của Cao Bá Quát như một nguồn cảm hứng cho toàn tácphẩm Nhan đề của chương là “Bốn người và hai câu thơ” cho thấy ngay nội dungkhái quát của chương đó Bằng cách như vậy 24 chương truyện là 24 câu chuyệnnhỏ trong một tổng thể lớn Kết thúc chương này có sự hé mở cho chương sau Ví

dụ kết thúc chương 2 “chiếc máy kéo đầu tiên” là hình ảnh của ông Sáu và tên đội

mũ nồi đen, thì chương 3 có nội dung chính là về chuyến đi vào ấp bà Riu gặp ôngSáu của ông Thoại và Sinh Ở đây ta thấy cái phảng phất không khí của tiểu thuyếtchương hồi Minh – Thanh trong một sắc diện hiện đại mới mẻ

Cách đặt tên chương cũng khá thú vị Tên chương không chỉ khái quát nộidung mà còn thể hiện những tư tưởng triết lý mà tác giả gửi gắm Có những cái tênrất ngắn gọn như: chương 1 Bốn người và hai câu thơ, chương 2 Chiếc máy kéođầu tiên… Cá biệt có những chương, tên chương được đặt khá dài là những câunhững mệnh đề nối tiếp nhau như chương 18: Ai tìm ra các giống cây trồng mới?

Ai phát minh ra động cơ máy hơi nước? Chỉ các cá thể đơn lẻ mới có thể tư duytạo ra các giá trị mới mẻ và cao quý, hay chương 14: Có hàng trăm lý do để khóc.Nhưng cũng có hàng ngàn lý do để mỉm cười Sau một nụ cười thế giới rạng rỡhơn… Những tên chương như vậy rõ ràng gợi một không khí rất cổ điển của tiểuthuyết chương hồi Vì lúc này tên chương giống như những vế câu thơ thườngđược mở đầu cho một chương, một hồi trong tiểu thuyết xưa Nó không chỉ tómgọn lại nội dung sự kiện lớn trong chương mà dường như còn gửi gắm những triết

lý sâu xa nhiều chiêm nghiệm của tác giả

Dung lượng của mỗi chương không quá đồ sộ, trung bình mỗi chương chỉrơi vào khoảng 14 trang truyện Thoáng đọc qua độc giả có cảm giác việc chia

Trang 24

chương này có vẻ như xé lẻ câu chuyện và đặt ra câu hỏi liệu việc chia tách này cóthực sự cần thiết? Nếu không chia thành 24 chương nhỏ, bỏ toàn bộ phần tênchương và các chia tách, có thể nội dung toàn bộ tác phẩm không bị biến đổi nhiềukhi bản thân dung lượng tiểu thuyết không quá đồ sộ, câu chuyện không bị phânthành các nhánh tự sự phức tạp với quá nhiều sự kiện như tiểu thuyết chương hồixưa Tuy nhiên nếu nhìn sâu hơn ta sẽ thấy ý đồ của Ma Văn Kháng khi chia táchcác chương hồi Chúng tôi cho rằng đó không phải chỉ là sự cầu kỳ về mặt hìnhthức mà nó có một dụng ý nghệ thuật khá rõ ràng Một mặt nó làm mới cấu trúc vàhình thức tác phẩm Mặt khác nó là cách kể chuyện độc đáo buộc bạn đọc phảibước vào những chiếu nghỉ trước khi bắt đầu tiếp tục những bậc thang chinh phụctác phẩm Kết thúc chương này vắt nối với chương kia, nhưng giữa hai chương cómột sự chia cách, một khoảng lặng với những câu chuyện tiếp diễn nhưng cũngđộc lập Mỗi một nhân vật dù chính hay phụ cũng có một chương của mình, mộtsân khấu để xuất hiện và bộc lộ hết những tính cách phẩm chất của bản thân Theođánh giá của chúng tôi thì kết cấu tác phẩm theo kiểu này không phải là lạ nhưnglại có giá trị nhất định trong việc chuyển tải ý đồ của nhà văn.

Ở nhiều tiểu thuyết khác của Ma Văn Kháng ta thấy kết cấu tác phẩm cóphần phức tạp hơn Các câu chuyện có thể được đan cài vào nhau, nhiều mạch tự

sự có thể bị phân nhánh nhỏ hơn Đặc biệt các tiểu thuyết viết về người trí thức vớinhững bi kịch nội tâm như Đám cưới không có giấy giá thú, Mùa lá rụng trongvườn tác giả có xu hướng xoáy sâu vào những dằn vặt bên trong của nhân vật vìvậy ngoài những sự kiện dồn dập đẩy nhân vật vào những tình huống đặc biệt thìtâm lý nhân vật cũng được khai thác khá sâu Với các tiểu thuyết tuy vẫn tổ chứctheo một chiều tuyến tính đi nữa cũng sẽ có những hồi ức, hồi cố, những dòng tâm

lý nhất định dù có thể mức độ nhiều ít khác nhau So với các tiểu thuyết trên thìMột vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ có vẻ đơn giản hơn trong kết cấu Thựcchất ở tiểu thuyết này chúng tôi nhận thấy yếu tố tâm lý nhân vật không phải làyếu tố chủ đạo được xoáy sâu, mâu thuẫn không phải từ bên trong nhân vật màchính là mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn bên ngoài Do đó các hồi ức có thể có, có thểđược kể lại khi các nhân vật nhớ về quá khứ nhưng nhìn tổng thể tiểu thuyết đi

Trang 25

theo kết cấu tuyến tính của trục thời gian, kể theo sự kiện chứ không theo tâm lýnhân vật Có thể khẳng định ngay kết cấu này là kiểu kết cấu không mới thậm chí

là đã khá quen thuộc và xưa cũ Đặc biệt khi chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời, khi kĩthuật dòng ý thức đã được các nhà văn thế giới khai thác từ đầu thế kỉ XX và cácnhà văn Việt Nam thì bắt đầu khai thác nhiều hơn với các tiểu thuyết giai đoạncuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, lối kết cấu này có lẽ không phải là xu hướng củatiểu thuyết giai đoạn hiện nay Nếu nhìn sang các nhà văn Việt Nam được cho làtiêu biểu của giai đoạn cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI như Bảo Ninh với Nỗi buồnchiến tranh, Tạ Duy Anh với Đi tìm nhân vật, Nguyễn Bình Phương với Trí nhớsuy tàn, Thoạt kỳ thủy, Ngồi, Thuận với T mất tích, … Chúng ta nhận thấy phầnlớn các tiểu thuyết của những nhà văn này đều được tổ chức xoay quanh tâm lý, ýthức của nhân vật với các kĩ thuật viết chịu ảnh hưởng khá nhiều của chủ nghĩahậu hiện đại của văn học thế giới Trong dòng chảy ấy có thể tiểu thuyết của MaVăn Kháng không mang lại những đột phá độc đáo, khai mở những hướng đi, haytạo ra một xu thế mới nhưng nó vẫn có những giá trị riêng mà theo chúng tôi đánhgiá là phù hợp trong việc chuyển tải thông điệp tác phẩm Bởi Một vùng đất hoang

và những cuộc gặp gỡ là tiểu thuyết viết về quá trình xây dựng cuộc sống mới sauchiến tranh với những mâu thuẫn bên ngoài giữa các nhân vật đại diện cho nhữngnhóm người, cho những tư tưởng khác nhau Với nội dung và đề tài đó kết cấu quáphức tạp chưa hẳn sẽ mang lại hiệu quả Thêm vào đó chúng tôi cho rằng Mộtvùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ cùng với Người thợ mộc và tấm ván thiên lànhững tiểu thuyết mang đậm tính luận đề, tính tư tưởng Do đó nhân vật cũng lànhân vật tư tưởng chứ không phải nhân vật tâm lý vì vậy kết cấu này là hoàn toànhợp lý

Trong một nghiên cứu về cấu trúc tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nhà nghiêncứu Hoàng Cẩm Giang có gọi Ma Văn Kháng là nhà văn thuộc làn sóng thứ nhất,nghĩa là những nhà văn của buổi đầu đổi mới cùng với Nguyễn Minh Châu, LêLựu,… Phong cách Ma Văn Kháng đã được định hình từ những tác phẩm đầu tiên,xuyên suốt trong hành trình sáng tạo của ông Sự đổi mới tìm tòi có làm khác đi,

có tạo ra những thay đổi nhưng không phải là sự phủ nhận hoàn toàn cái cũ Vì vậy

Trang 26

đến cả những tác phẩm được coi là sau cùng của chặng đường văn chương củamình, chất Ma Văn Kháng vẫn vậy Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng không hấp dẫnbạn đọc ở sự gay cấn hay phức tạp của kết cấu, ở sự lắng sâu của tâm tư, tình cảm

mà là ở sự trải nghiệm, ở tính thời sự, ở sự chân thực, ở cách nhìn vấn đề của nhàvăn Kết cấu tiểu thuyết của Ma Văn Kháng chính là một phương diện như vậy.Các tiểu thuyết vừa riêng biệt lại vừa thống nhất trong một phong cách chung tạonên sự thu hút riêng

1.3 Luân chuyển điểm nhìn và ngôi kể

Khái niệm người kể chuyện (người trần thuật) là một khái niệm quan trọngtrong nghệ thuật tự sự Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hãn, Trần Đình

Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên thì Người kể chuyện: là một nhân vật hư cấuhoặc có thật mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành [18,221] Người kể chuyện trong các thể loại phi văn học có thể trùng với chính tácgiả, trong hình thức kể miệng thì người trần thuật là người sống sinh động Nhưngtrong văn học viết người trần thuật là một nhân vật được trừu tượng hóa, khôngtrùng với tác giả Kể cả các tác phẩm văn học hiện đại với xu hướng phản nhân vậtthì cũng không thể xóa bỏ hoàn toàn người kể chuyện Bởi như một nhà nghiên cứu

tự sự học đã nói “biến cố không thể tự nó kể chuyện” Người trần thuật có thể chiathành người kể chuyện ẩn tàng với ngôi kể là ngôi thứ ba hoặc người kể chuyện lộdiện với ngôi kể là ngôi thứ nhất Người trần thuật có thể tham gia vào cốt truyệncũng có thể là người quan sát rồi kể lại câu chuyện.Vai trò của người kể chuyệntrong tiểu thuyết là vô cùng quan trọng Đặc biệt khi bạn đọc đang ngày càng quantâm nhiều hơn tới cách kể chuyện chứ không chỉ còn đơn giản là cái được kể nữathì vai trò của người kể chuyện càng được khẳng định Bởi đấy chính là yếu tốkhông nhỏ tạo ra cách kể cho mỗi tác phẩm tự sự

Đi cùng với khái niệm người kể chuyện là khái niệm ngôi kể và điểm nhìn Như

đã nói ở trên có hai kiểu người kể chuyện là người kể chuyện ẩn tàng và người kể chuyện lộ diện đi cùng với đó là kể chuyện ở ngôi thứ ba và kể chuyện ở ngôi thứ nhất Hi hữu có cả trường hợp kể chuyện từ ngôi thứ hai, nhưng điều này không phổ biến với văn học Việt Nam Điểm nhìn là sự lựa chọn cự ly trần thuật nào đó

Trang 27

loại trừ được sự can thiệp của tác giả vào các sự kiện được miêu tả và cho phép văn xuôi trở nên tự nhiên hơn phù hợp hơn với cuộc sống Hiểu một cách đơn giản nhất thì điểm nhìn chính là vị trí mà người trần thuật chọn để từ đó nhìn ra và miêu

tả cuộc sống Do đó điểm nhìn sẽ gắn với nhân vật có thể đặt bên trong hoặc bên ngoài nhân vật Từ điểm nhìn ta có khái niệm đi kèm là tiêu cự Theo nhà nghiên cứu Pouillon (trong cuốn Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học Tây Âu và Hoa Kì thế kỉ XX) có 3 loại tiêu cự:

- Tiêu cự bằng 0: điểm nhìn từ bên trong: người kể chuyện biết bao nhiêunhân vật biết bấy nhiêu;

- Tiêu cự lớn hơn 0: điểm nhìn từ đằng sau thì người kể chuyện biết nhiềuhơn nhân vật, luôn đóng vai trò biết tuốt yểm trợ nhân vật;

- Tiêu cự nhỏ hơn 0: điểm nhìn từ bên ngoài thì người kể chuyện sẽ biết íthơn nhân vật, chỉ đóng vai trò quan sát nhân vật

Trong mối quan hệ tương tác qua lại thì người kể chuyện, ngôi kể và điểmnhìn chỉ cần một thành tố thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các thành tố còn lạidẫn đến sự biến hóa trong cách kể chuyện Tiểu thuyết truyền thống thường được

kể từ ngôi thứ ba với điểm nhìn từ đằng sau, người kể chuyện đóng vai trò thượng

đế, biết tuốt liên tục mách nước, nhắc vở cho người đọc về nội tâm, tính cách nhânvật Ngược lại ở tiểu thuyết hiện đại người kể chuyện dần mất đi năng lực nàykhông còn khả năng chi phối tới toàn bộ cốt truyện đôi khi người kể chuyện cũngchỉ như người nghe chuyện biết ít hơn cả nhân vật

Trong các tiểu thuyết của Ma Văn Kháng chúng ta bắt gặp cả người kểchuyện ẩn tàng và người kể chuyện lộ diện, cả ngôi kể thứ nhất và ngôi kể thứ ba,

cả điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài Đánh giá một cách khách quan thì

Ma Văn Kháng không phải là nhà văn sử dụng quá nhiều điểm nhìn với cách trầnthuật phức tạp, tiểu thuyết của ông phần đa vẫn sử dụng một người kể chuyện biếttuốt với điểm nhìn từ bên trong nắm rõ tác phẩm chi phối đến nhân vật và cốttruyện Tuy nhiên ông vẫn có những đổi mới trong cách kể và cách sử dụng ngôi

kể điểm nhìn của mình Đó chính là việc tác giả di chuyển điểm nhìn linh hoạt, sửdụng nhiều điểm nhìn tạo ra một cách kể chuyện hấp dẫn riêng

Trang 28

Xuyên suốt tác phẩm giữ vai trò người kể chuyện chính là hình ảnh người kểchuyện ẩn tàng, với ngôi kể là ngôi thứ 3 Người kể chuyện này không tham giavào cốt truyện, là người đứng ngoài quan sát và kể lại toàn bộ câu chuyện Đây làcách kể chuyện khá truyền thống Với cách kể chuyện này thường điểm nhìn đượcđặt từ bên ngoài, người kể chuyện như một người biết tuốt dẫn dắt người đọc, biếttrước hành động của nhân vật và cốt truyện Vì vậy điểm nhìn được di động khálinh hoạt và có thể đặt ở nhiều nhân vật khác nhau Thoáng qua, cách kể chuyệnnày có vẻ khách quan khi điểm nhìn được đặt bên ngoài và di động với nhiều vị tríkhác nhau Song bản chất đây là cách kể chuyện chủ quan bởi điểm nhìn bị chiphối bởi ý đồ của người kể chuyện.

Trước tiên với các điểm nhìn được đặt từ bên ngoài, chúng tôi nhận thấyphần lớn là các đoạn văn mang tính suy nghiệm, bình luận thể hiện tư tưởng chủ

đề tác phẩm:

Họ đã thầm yêu nhau từ lâu rồi Nhưng đây vẫn là một khoảng khắc khá bấtngờ và là một thời điểm hệ trọng với cả hai Chao ôi cuộc sống còn biết bao trắctrở gian nan và lúc này một hơi ấm một vòng tay ôm ấp dắt dìu nhau đã trở nênmột nhu cầu quá khẩn thiết cho cả hai rồi Cần lắm một tình thương yêu, trìu mếnhơn nữa một sự trao xương gửi thịt, đồng tâm chia sẻ để chống chọi lại cái khắcnghiệt bất công của cuộc sống Một tình yêu thật sự ruột cật trên một vùng hoangdã! [26, 232]

Tiếc thay quy luật lớn của cuộc đời không theo sắp đặt chủ quan của ai Vìhoang dã chỉ có thể được đẩy lùi bằng văn hóa, bằng đạo đức Mọi phù phép mưu

ma chước quỷ dù xảo quyệt đến đâu rốt cuộc cũng không che giấu được bản chấttham tàn đê tiện, man trá Và hoang dã thế là lại trở về thuở hồng hoang [26, 333]Vậy là có định mệnh Vậy là quá khứ là một bóng ma luôn ám ảnh và quấynhiễu con người! Vậy là mỗi con người còn một món nợ không biết bao giờ mới cóthể thanh khoản được [26, 128]

Những đoạn văn như thế này xuất hiện khá dày đặc trong tác phẩm Hầunhư ở chương nào ta cũng có thể tìm thấy những đoạn văn ngắn dài khác nhau vớinhững bình luận, chiêm nghiệm giàu triết lý Ở các tiểu thuyết khác của mình, Ma

Trang 29

Văn Kháng thường sử dụng độc thoại nội tâm, để nhân vật của mình tự nói lênnhững triết lý góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm Ở tiểu thuyết này talại thấy một đặc điểm hoàn toàn khác Ma Văn Kháng vẫn sử dụng hình thức đốithoại và độc thoại để nhân vật nói lên tâm tư, suy nghĩ của mình nhưng nhữngđoạn văn giàu chiêm nghiệm lại thường được người kể chuyện với điểm nhìn từbên ngoài chắt lọc Nếu theo cách mà Ma Văn Kháng hay dùng, sử dụng độc thoại,đối thoại để nhân vật thay tác giả, thay người kể chuyện phát ngôn những nghiệm

lý, suy tư giàu chất triết lý này, nhân vật thường mang nặng tính tư tưởng và rấtgần với nhà văn Còn ở đây Ma Văn Kháng sẵn sàng quay trở về cách kể chuyệntruyền thống nhất, người kể chuyện với điểm nhìn bên ngoài tự trữ tình ngoại đề,

tự suy nghiệm và bình luận Nhân vật không còn phải đóng vai trò như một “cáiloa” phát ngôn thay tác giả nữa Khi đó điểm nhìn bên ngoài này lại trở nên hữuhiệu trong việc bộc lộ sâu hơn tư tưởng của nhà văn

Bên cạnh việc sử dụng điểm nhìn bên ngoài để chiêm nghiệm, triết lý ta cònthấy tác giả sử dụng điểm nhìn bên ngoài để tả và kể Điểm nhìn này cho phépngười kể chuyện đứng ngoài bao quát hơn để từ đó có cách kể, cách tả phù hợp

Vẫn là sự lẩn quất của những điều quái dị những hình ma bóng quỷ ở cáiđất hoang dại tuyệt đối này Sau những đám mây mang hình thù kỳ dị nay đến lượtnhững đám cỏ năn Chúng mọc sin sít từng đám rậm đầy, mỗi thân to bằng câynhang cúng, cứng quèo và xanh đặc Luận nói Nó là sản phẩm của đất chua cực

kỳ Chua cực kỳ mà hắn sống được, lại sống rất dai Mầu xanh của chúng trôngphát sợ như có tẩm thuốc độc.[26, 26]

Chiều buông màn chầm chậm Bóng tối còn đang ngấp nghé ở đâu đó Vìlúc này từ những vạt mây nằm the le nơi chân trời đang hắt lên không trung nhữngtia sáng đỏ cháy Xa xa, những vũng nước trên đồng lóng lánh sáng như thép lạnh.Lát sau, chìm mở đi đầu tiên là những búi cỏ năn ống, cỏ năn kim Có cảm giácbóng tối đang từ đó tỏa ra và những liếp dứa kẻ những nét dòng dọc mỗi lúc mộttrôi trượt xa xa, rồi chìm dần vào bóng đêm đang từ những búi cỏ năn và trên vòmtrời trùm phủ xuống [26, 215]

Trang 30

Có thể thấy hầu hết các đoạn tả cảnh hay tả người tác giả đều dùng điểmnhìn bên ngoài để tả Ở các tiểu thuyết khác khi tả, điểm nhìn cũng thường được dichuyển ra bên ngoài Lúc này người kể chuyện ngôi thứ ba, ẩn tàng thường làngười quan sát và tả lại Song cũng ở nhiều tác phẩm, thiên nhiên, cuộc sống sẽđược miêu tả qua con mắt của nhân vật, tức là điểm nhìn vẫn có thể được dichuyển vào bên trong để tả Với tác phẩm Một vùng đất hoang và những cuộc gặp

gỡ ta thấy không phải tất cả những đoạn tả đều được nhìn từ bên ngoài Nhưng cóthể khẳng định phần lớn những đoạn tả là sử dụng điểm nhìn bên ngoài

Như vậy chúng ta có thể thấy ở Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡnhân vật không có nhiều độc thoại nội tâm Hầu hết các chiêm nghiệm, bình luận,

tả hay kể đều được nhà văn sử dụng điểm nhìn bên ngoài với người kể chuyện ởngôi thứ ba, đóng vai trò người kể chuyện toàn năng Tác giả dùng điểm nhìn nàycho cả việc kể, tả và bình luận Đặc biệt cả những đoạn miêu tả nội tâm nhân vậtthì điểm nhìn này cũng vẫn được khai thác Các thủ pháp kĩ thuật kể chuyện hiệnđại không được khai thác nhiều Người kể chuyện không dùng giấc mơ, hình thứcthư, hay đan xen truyện lồng trong truyện, thơ lồng trong truyện để kể như ở cáctiểu thuyết khác của Ma Văn Kháng ta thường gặp Có thể nói cách kể chuyện kháđơn giản Có một vài đoạn quá khứ của nhân vật được kể lại, nhắc lại nhưng cũngkhông theo phương thức là những dòng hồi cố tự thân của nhân vật mà phần lớn làđược người kể chuyện ngôi thứ ba chủ động kể lại với bạn đọc Dường như vớitiểu thuyết này Ma Văn Kháng đã triệt tiêu đến tối giản các phương thức kểchuyện hiện đại để câu chuyện được kể một cách toàn vẹn, đơn giản nhất từ người

kể chuyện “biết tuốt” Một vài yếu tố quen thuộc trong cách kể của Ma Văn Khángvẫn xuất hiện Ví dụ người kể chuyện hay nhắc tới cái ngẫu nhiên, số phận, tử vi,những dự cảm,… để dự đoán tương lai, gợi trước câu chuyện tạo sự hấp dẫn vớibạn đọc Không chỉ một lần trong tiểu thuyết này tác giả nhắc tới lá số tử vi củaSinh, của Quyên, cũng không chỉ một lần nhìn hình ảnh thiên nhiên mà cảm xúccủa một nhân vật gờn gợn về một sự chẳng lành có thể rình rập xảy ra, cái ngẫunhiên với cả may mắn và không may được nhắc tới nhiều lần Tất cả vừa như phảnánh nhân sinh quan của nhà văn lại cũng vừa như một yếu tố hình thức tăng thêm

Trang 31

hấp dẫn cho cách kể chuyện Song về cơ bản có thể đánh giá phần lớn truyện được

kể một cách đơn giản, đơn tuyến, điểm nhìn bên ngoài được khai thác triệt để

Tuy nhiên không phải vì thế mà tác phẩm chỉ có duy nhất một điểm nhìn từbên ngoài của người kể chuyện “biết tuốt” Điểm nhìn còn được di động vào bêntrong, vào nhiều nhân vật như một phương thức phản ánh tâm hồn, tình cảm củatừng nhân vật

Quyên không có áo mưa Anh nhận ra cô gầy gùa và như là già dặn hẳn đi.Nhưng quan trọng hơn là giờ đây anh nhận ra cô đang đứng ở trên con đê baongạn bên anh trong cái khung cảnh mưa lũ dị thường này Rưng rưng anh muốnkhóc Và trong anh vừa nẩy sinh một quyết định vô cùng hệ trọng và sâu xa Nhất

là khi thấy cô đứng yên Hai con mắt bồ câu mưng mẩy như sắp bật khóc, để anhcài từng chiếc khuya áo mưa cho cô Rồi ngoan ngoãn gật đầu sau câu nói củaanh: Xong đợt này, em đi học để bổ túc ý tá nhé, Quyên! [26, 185]

Đoạn văn trên vẫn sử dụng hình thức người kể chuyện ngôi thứ ba nhưngđiểm nhìn không còn được đặt từ bên ngoài mà đã được di động vào bên trong,qua cái nhìn, suy tư và tình cảm của nhân vật Sinh Ngôn ngữ của người kể chuyệnđan xen với ngôn ngữ của nhân vật Ở đây không phải là một người đứng từ bênngoài quan sát và tả lại hình ảnh Quyên nữa Cái nhìn được đặt từ Sinh Vì vậyQuyên không được tả lại bằng một ánh mắt khách quan vô cảm mà trên hết hìnhảnh Quyên được tả lại thông qua cảm xúc của Sinh Đây cũng chính là đặc trưngriêng của điểm nhìn bên trong Nó mang tính chủ quan, mang theo sắc thái tìnhcảm của nhân vật vì vậy nó có sức hấp dẫn với bạn đọc

Khi sử dụng điểm nhìn từ bên trong, điểm nhìn thường được đặt tại nhân vật

và vì vậy một cách thật logic nhân vật chính nhân vật trung tâm bao giờ cũng được

ưu tiên đặt điểm nhìn nhiều hơn Tiểu thuyết này cũng không phải là một ngoại lệ.Khi điểm nhìn được di động vào trong thì điểm nhìn được đặt từ quan sát của nhânvật Sinh chắc chắn chiếm phần lớn hơn các nhân vật khác Song không phải đó làđiểm nhìn duy nhất Nếu điểm nhìn từ bên ngoài chỉ có một, là cái nhìn của người

kể chuyện ẩn tàng, thì điểm nhìn từ bên trong lại khá đa dạng có thể là từ bất cứnhân vật nào Do đó khi đặt điểm nhìn vào bên trong nhân vật các điểm nhìn được

Trang 32

nhân lên, tạo ra một lối kể chuyện “dân chủ”, sinh động và phong phú hơn Hầuhết các nhân vật trong truyện đều trở thành một điểm nhìn để người kể chuyệnngôi thứ ba khai thác Điểm nhìn được di động tới bên ngoài vào bên trong củatừng nhân vật Việc nhân lên các điểm nhìn không phải là điều gì đặc biệt với vănchương đương đại nữa Thậm chí nhiều nhà văn khá táo bạo trong việc đặt điểmnhìn bên trong Họ không chỉ chọn điểm nhìn từ các nhân vật bình thường mà cònđặt điểm nhìn từ các nhân vật “đặc biệt” Ví dụ như Tạ Duy Anh trong Thiên thầnsám hối đặt điểm nhìn từ một bào thai, Nguyễn Bình Phương trong nhiều tiểuthuyết của mình như Người đi vắng, Bả giờ,… đặt điểm nhìn ở những bóng ma, cỏcây, Ma Văn Kháng vẫn ưu tiên lối kể truyền thống đơn giản hơn so với nhữngcách tân táo bạo kể trên Khách quan đánh giá có thể thấy ở Một vùng đất hoang

và những cuộc gặp gỡ không có nhiều biến chuyển đáng kể về mặt hình thức kểchuyện so với những tiểu thuyết trước của Ma Văn Kháng Tức là muốn tìm mộtyếu tố mới mẻ hoàn toàn về mặt hình thức chúng ta sẽ khó đươc thỏa mãn Và phảichăng cũng không nên đòi hỏi điều đó ở một nhà văn phong cách đã được địnhhình từ gần nửa thế kỉ trước?

Như vậy, trong kĩ thuật kể chuyện có thể thấy Ma Văn Kháng sử dụng kĩthuật truyền thống, người kể chuyện là người kể chuyện ẩn tàng, kể từ ngôi thứ bavới điểm nhìn di dộng bên trong và bên ngoài linh hoạt, từ người kể chuyện sangnhân vật Tuy không có nhiều đột phá nhưng vẫn có những nét riêng, thu hút đượcbạn đọc

1.4 Khắc họa tính cách các loại nhân vật

Văn học phản ánh thế giới khách quan bằng hình tượng vì vậy nhân vậtđóng một vai trò quan trọng trong bất kỳ tiểu thuyết nào Nhân vật là nhân tố cơbản nhất của tiểu thuyết, dù tiểu thuyết phát triển theo hướng nào với các quanniệm ra sao thì khi nó còn là một tự sự kể một câu chuyện thì nó còn phải xâydựng các hình tượng nhân vật chuyển tải câu chuyện ấy Nhân vật vì vậy đóng mộtvai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm,đồng thời cũng là yếu tố hình thức thể hiện rõ các thủ pháp nghệ thuật được nhà

Trang 33

văn sử dụng Qua nhân vật, bạn đọc không chỉ thấy được hiện thực xã hội mà cònnhìn thấy rõ hơn nhân sinh quan của nhà văn, cách nhìn nhận con người của tácgiả.

Vậy nhân vật là gì? Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thếgiới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định [4, 126] Theo Từ điểnthuật ngữ văn học thì nhân vật (character) là: con người cụ thể được miêu tả trongtác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng, cũng có thể không có tênriêng… Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồngnhất nó với con người có thật trong đời sống… Nhân vật văn học còn thể hiệnquan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người Vì thếnhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm [18, 235 – 236]

Phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng được thể hiện khá rõ quaviệc xây dựng nhân vật Các nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đượcphân tuyến tương đối rõ ràng Qua nhiều tiểu thuyết của ông bạn đọc có thể nhận

ra kiểu nhân vật sở trường của nhà văn chính là nhân vật người trí thức với nhữngphẩm chất tốt đẹp nhưng chịu sự thăng trầm của số phận mang theo những bi kịchtinh thần Nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thường khôngphải là phụ nữ, song trong hầu hết các tác phẩm của ông ta đều gặp những ngườiphụ nữ đẹp, có thể bị tha hóa hoặc không nhưng họ luôn xuất hiện trong tác phẩmnhư một phần khác để làm rõ hơn nhân vật trung tâm Về thủ pháp xây dựng nhânvật, Ma Văn Kháng rất chú ý miêu tả ngoại hình nhân vật Tính cách nhân vậtđược định hình rõ ràng và có sự phân tuyến Các đặc điểm ấy được thể hiện hầuhết trong Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ

1.4.1 Nhân vật trí thức

Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Sinh – một trí thức tiêu biểu và quenthuộc trong các tác phẩm của Ma Văn Kháng Những phẩm chất thường thấy ởnhững nhân vật này là họ mang vẻ đẹp của tâm hồn trí tuệ, có lối hành xử văn hóa,không bị mua chuộc bởi quyền lực và danh lợi Họ dù có thể có những nghềnghiệp khác nhau nhưng đều yêu văn chương là những người hiểu biết về vănchương, sống trọng nghĩa, trọng tình Ở họ vừa như những người truyền cảm hứng

Trang 34

đến xung quanh, lại vừa là những cá thể đơn lẻ mang nỗi cô đơn của riêng mình.

Số phận của những nhân vật này cũng thường là bi kịch Họ chịu những biến thiêncủa số phận, những thử thách nghiệt ngã, thăng trầm Trong luận án tiến sĩ vềPhong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng, tác giả Dương Thị Thanh Hương chia kiểunhân vật trí thức thành hai loại: một là những nhân vật trí thức như «cuốn sách hayđặt lầm chỗ»; hai là những nhân vật «ngược dòng nước lũ» Theo cách phân chianày có thể xếp Sinh vào nhóm nhân vật thứ hai Đó là những con người khát khaocống hiến nhiều trăn trở suy tư, mang hoài bão và lý tưởng Điều đặc biệt hơn là họdám đấu tranh chống lại cái xấu với tinh thần nhập cuộc và khát vọng xây dựngcuộc sống tốt đẹp hơn Ở họ dường như không còn cái yếm thế của người trí thứctiểu tư sản mà là tinh thần mạnh mẽ dám đấu tranh đến cùng cho những điều mìnhtin tưởng Sinh như hạt giống căng mẩy để mang tới một sức sống mới cho vùngđất hoang vu Sinh như người truyền cảm hứng tới những người xung quanh Anhkhông chỉ là người quản lý nông trường trong tư cách một giám đốc mà anh còn làngười gieo những hạt giống tích cực vào mỗi phận người nơi đây Để từ đó cái tốtđược lây lan, khát vọng sống, khát vọng cống hiến được tiếp sức

Ngay từ những trang đầu truyện Sinh đã được miêu tả như một con ngườimạnh dạn dám nghĩ dám làm, mang một sức sống mãnh liệt để có thể đương đầuvới những khó khăn, những lực cản sẵn sàng «ngược dòng nước lũ»:

Không để ý đến câu nói của người nọ, người đứng cạnh người đàn ông cótuổi, xăm xăm bước về phía trước Vừa đi vừa xắn cái quần xanh ka ki lên đầugối, anh lội qua một vũng nước, xộc vào một búi năn ống xanh lả, rậm rịt [26, 12]

Sinh đã phải chịu những cú đánh của số phận, sự phản trắc của lòng người,thậm chí sự phản bội hãm hại còn đáng sợ hơn khi đến từ chính người bạn anhthân thiết, thương yêu, gắn bó nhất Nhưng Sinh không đóng vai nạn nhân với bikịch không lối thoát, giằng co trong đau khổ Trong tiểu thuyết này Sinh là ngườikiến tạo Đến một vùng đất mới mang theo nhựa sống và khát vọng đầy kiêu ngạocủa người trí thức « Cảnh đã tuyệt kỳ thú/ Lại có ta đến đây », Sinh phải đươngđầu với những thử thách mới Đó không chỉ là cuộc đối mặt của con người vớithiên nhiên, để cải tạo chinh phục một vùng đất mới Đó còn cuộc chiến giữa

Trang 35

những thế lực tiến bộ và phản động, giữa những điều tốt đẹp và những cái xấu xa,lạc hậu Sinh một lần nữa phải chịu những đòn tới tấp từ những kẻ như AnhTrưởng, như Thảnh, như Ngoạn… Và Sinh lại vượt lên tất cả, làm hồi sinh mộtmảnh đất hoang vu Ở Sinh có một sức mạnh hướng thượng, hướng thiện khôngthể lý giải Khi bị hãm hại bởi chính người bạn thân, cô gái Sinh yêu thương vì oanuổng mà phải tự tử, bản thân không thể giải thích, Sinh từng thấy bế tắc SongSinh không thả trôi đời mình trong những bi kịch, trong những bất hạnh và ngẫunhiên của số phận.

Mất mấy tháng Sinh sa đà Nhưng Sinh không đi đến cùng cái đà ấy Thànhquả của một nền giáo dục mới không mất hoàn toàn trong Sinh Vang hưởng củanhững khát vọng cao cả đẹp đẽ từ lịch sử truyền lại còn ngân đọng trong Sinh.Trong Sinh vẫn sống động những kỉ niệm của một thời thanh niên sôi nổi đầy khílực [26, 136]

Mang theo những ngân vọng ấy Sinh bắt đầu một cuộc sống mới nơi nôngtrường xa xôi, hoang vu với nhiều khó khăn Dẫu quá khứ là một bóng ma ám ảnh

là một « món nợ không biết bao giờ mới thanh khoản được » nhưng Sinh không vìthế mà hồ nghi với con người, mà mất đi lòng tin sự nhiệt huyết với công việc.Những việc Sinh làm không toan tính cho lợi ích riêng Anh mang vẻ đẹp của mộtcon người luôn khát khao cống hiến Anh dám quyết định những quyết định táobạo như đào kênh, làm trạm xá, mua trâu bò thay vì máy kéo,… Những quyết định

đó táo bạo nhưng không liều lĩnh nó cho thấy tầm hiểu biết, sự quyết đoán và tấmlòng của một con người sống hết mình cho những điều tốt đẹp Sự vô tư và nhiệtthành của Sinh đã khiến anh trở thành người truyền cảm hứng chinh phục chonhững người xung quanh Có thể nói Sinh là mẫu người trí thức của những nămtháng xây dựng đất nước sau chiến tranh Họ phải trải nghiệm cả những đauthương và mặt tối của xã hội, song dù thế nào họ vẫn là người vượt lên trên nhữngcan qua đó để sống đúng như những điều đẹp đẽ họ tin tưởng

Lao động với tất cả sự hiến mình đã trở thành một nội dung chủ yếu của đờiSinh trong những ngày này Và Sinh không hề hay biết chính anh đã lôi cuốn đãtruyền cảm hứng dựng xây tới những người xung quanh, cuốn họ vào một nhịp

Trang 36

điệu sôi nổi hào hùng chưa từng có Hình ảnh Sinh đã trở thành một ấn tượng sâunặng với cái tập thể công nhân từ tứ chiếng hợp thành này Chưa bao giờ họ thấymột người làm việc như thế ! [26,110]

Trong những tháng ngày xây dựng cuộc sống mới nơi nông trường Sinh gặplại Ngoạn không những thế còn thêm Anh Trưởng, Thảnh Những người lợi dụng

sự lỏng lẻo của cơ chế, những con người tham lam và làm chậm lại bánh quay củalịch sử, những con người vì lợi ích cá nhân, vì những toan tính ích kỉ, vì sự thùghét vô lý mà sẵn sàng làm nhiều việc đi ngược lại pháp luật và đạo đức Khôngnhững vậy Sinh còn phải nhìn thấy Quyên, cô gái mà anh thương mến, tin tưởng

có lúc không chống lại được những cám dỗ Những khó khăn mà Sinh phải đốimặt có lẽ không đơn giản Buổi đầu gây dựng cuộc sống cho không chỉ bản thân

mà còn biết bao người Sinh phải lo từ vốn, cái ăn, chỗ ở cho bao người Sinh phảiđối mặt với những mùa mưa triền miên, với đất nhiễm phèn, với vô vàn khó khăncủa thiên nhiên và cả của con người Cuối cùng một lần nữa anh bị đẩy vào vònglao lý, đẩy đến đường cùng Song Sinh không đơn độc trong cuộc chiến này và rồimọi thứ đều phải về đúng vị trí của nó Kết thúc tác phẩm để ngỏ nhưng có thểkhiến người đọc tin tưởng vào một ngày mai tốt đẹp hơn nơi nông trường Khôngbiết là ngẫu nhiên hay là một dụng ý mà tên của nhân vật trung tâm là «Sinh», nhưmột sức sống, một sự nảy nở phát triển, như một hạt mầm mang sự sống mà lớnlên, trưởng thành

Hệ thống nhân vật trí thức trong tác phẩm còn được làm dày thêm bởi nhữngngười như Luận như ông Thoại Nó luôn ở bên Sinh là những phần bổ khuyết choSinh, giúp Sinh hoàn thiện những ước mơ hoài bão của mình Luận cũng có nhữnglúc không hiểu được Sinh, không hoàn toàn tin vào việc Sinh làm Anh khôngđược Ma Văn Kháng dụng công xây dựng như Sinh nhưng anh là hiện thân chonhững người trí thức say mê công việc, say mê chuyên môn, thấu hiểu đến ngọnngành công việc mình làm Đã có lúc anh mò sang nông trường bạn để xem cách

họ làm, cái tò mò nghi hoặc của một con người yêu khoa học, muốn tìm hiểu vàlàm tốt nhất có thể chuyên môn của mình Nếu Sinh là người truyền cảm hứng,Sinh là người bao quát hoạt động của nông trường, thì Luận là người tạo nên niềm

Trang 37

tin từ những hiểu biết và cơ sở khoa học của mình Có anh thì Sinh mới dám trồngdứa đánh luống cao gấp đôi nông trường bạn, có anh Sinh mới dám vững tin vàoviệc mình làm không chạy theo hình thức thi đua.

Ông Thoại thì lại như một cố vấn về tinh thần tư tưởng Những trải nghiệm

và vốn sống của ông khiến ông nhìn thấu tâm can con người, hiểu lẽ đời và cócách ứng xử thuận tình thuận lý Ông giống như sợi dây cương ghìm bớt cái nhiệtthành bốc đồng của tuổi trẻ nơi Sinh và Luận Trong những cơn biến cố, những lúcchao đảo, trước những đòn của kẻ thù, ông Thoại đã giúp Sinh thêm vững vàng đểchèo lái con thuyền mình đi Ông sống giản dị, không hay chữ như Sinh hay Luậnnhưng cái thâm trầm của người đứng tuổi, tình yêu thương của người nhân hậu ởông đã làm chỗ dựa cho Sinh vượt qua mọi biến cố

Có thể nói Ma Văn Kháng đã xây dựng nên những hình tượng đẹp về ngườitrí thức Họ như sự bổ khuyết cho nhau, mang đến cho người đọc niềm tin vào conngười, vào những phẩm giá cao đẹp, vào khát vọng và ước mơ chinh phục ĐọcMột vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ ta không có cảm giác ngột ngạt củanhững bi kịch, không thấy cái đau đớn của những số phận bế tắc bị dồn đẩy từnhiều phía Ta có thêm niềm tin yêu vào chân lý cái thiện sẽ chiến thắng cái ác nhưbao câu chuyện cổ tích thuở nào Nét đẹp của các nhân vật trí thức trong truyện

Ma Văn Kháng thể hiện một nhân sinh quan, cách nhìn nhận con người của tácgiả Ma Văn Kháng có lòng tin và sự yêu mến vô bờ đối với người trí thức Đặcbiệt người trí thức của Ma Văn Kháng dù ở lĩnh vực gì cũng vô cùng yêu thơ văn.Phải chăng phảng phất trong đó ta nhìn thấy bóng hình của chính tác giả?

1.4.2 Nhân vật nữ

Bên cạnh việc xây dựng nhân vật trí thức hầu hết các tiểu thuyết của MaVăn Kháng đều xuất hiện những nhân vật nữ có một vị trí quan trọng Chúng ta cóthể nhận thấy tiểu thuyết Ma Văn Kháng không có các nhân vật trung tâm là nữ

mà thường là nhân vật nam Tuy nhiên các nhân vật nữ lại có một vị trí khá quantrọng trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm cũng như trong việc góp phầnlàm nổi bật cuộc đời số phận của nhân vật nam trung tâm Một vùng đất hoang vànhững cuộc gặp gỡ cũng không ngoại lệ Hai nhân vật nữ có dấu ấn trong tác

Trang 38

phẩm này có thể kể tới là Liễu và Quyên Nếu so sánh với các nhân vật nữ trongcác tác phẩm khác của Ma Văn Kháng thì hai nhân vật này không được xây dựngsắc nét bằng Ma Văn Kháng cũng không quá chú ý trong việc xoáy vào số phậncủa hai nhân vật này Tuy nhiên các đặc điểm nổi bật của Ma Văn Kháng trongviệc xây dựng các nhân vật nữ vẫn được thể hiện khá sắc nét.

Khảo sát các nhân vật nữ của Ma Văn Kháng trong các tiểu thuyết chúng ta

có thể nhận thấy nhân vật nữ của ông có thể chia thành các nhóm nhỏ Một lànhững người phụ nữ mang vẻ đẹp tâm hồn, có tình yêu thủy chung Đó có thể làPhong trong Một mình một ngựa, là Phượng trong Đám cưới không có giấy giáthú, là Hoan trong Ngược dòng nước lũ… Những nhân vật này xuất hiện bên cạnhnhân vật trí thức là tình yêu tươi đẹp trong kí ức của họ Ở Một vùng đất hoang vànhững cuộc gặp gỡ cô gái mối tình đầu của Sinh chỉ xuất hiện trong hồi ức gợi nhớ

về những điều tốt đẹp của năm tháng tuổi trẻ mang dáng dấp của kiểu nhân vật nữnày Bên cạnh đó Liễu cũng chính là một đại diện cho những cô gái dám yêu dámsống Liễu mạnh mẽ, quyết đoán và xốc vác Cô giúp Sinh phần nào trong việc lolắng giải quyết những vấn đề đời sống ở nông trường Ấn tượng ban đầu có lẽcũng chỉ có vậy về một cô gái từ nơi xa đến có vẻ cứng cỏi, nói được làm được.Nhưng rồi câu chuyện về Liễu cứ hé mở dần để chúng ta thấy rõ hơn những vẻ đẹpnơi cô

Lý do cô đến nông trường nay không giống như nhiều người là để trốn tránhquá khứ hay để gột rửa một quá khứ đau thương Cô đến đây để tìm lại quá khứ, đểkhép lại một trang trong cuộc đời mình Cô đến vì người chồng đã khuất của cô.Anh là một người lính anh đã hi sinh ở vùng đất này Cô chẳng có tin gì hơn thế.Nhưng cũng chỉ cần thế thôi là cô để lại những năm tháng ở mảnh đất nông trườngchè Tây Bắc, để lại gia đình để đến đây Cô nhất định phải thắp cho anh nén hương

ở nơi anh ngã xuống Tấm lòng dành cho người đã khuất, cái nghĩa dành chongười chồng chưa kịp ấm nồng hạnh phúc của Liễu khiến người đọc cảm động Côsẵn lòng bỏ lại những gì đã quen thuộc để bắt đầu lại nơi xa xôi Cô thương cha mẹđau yếu bệnh tật, nhưng cái nghĩa với anh cô không thể không trả Hành động vàsuy nghĩ đó ở Liễu khiến chúng ta cảm phục

Trang 39

Nhưng không vì thế mà cô mang gánh nặng quá khứ Cô dám yêu và dámsống, luôn hết mình cho những lựa chọn của mình Đến nông trường gặp Luận,gặp tình cảm của Luận, Liễu không trốn tránh, càng không mặc cảm tự ti Cô khéplại quá khứ, trọn vẹn nghĩa tình với người đã khuất để sống tốt hơn cho chính mình

và những người xung quanh Đón nhận tình yêu của Luận một cách tự nhiên, ởLiễu chính là một sức sống bất tận Sức sống mạnh mẽ đó trong Liễu đã lan tỏa ranhững người xung quanh làm chỗ dựa cho họ Cô giúp đỡ gia đình Nguyện, côquan tâm tới Quyên, cô ủng hộ Luận trong công việc, cô lo lắng và động viênSinh,… Có thể nói dù tác giả không cho Liễu nhiều đất diễn nhưng đã ưu ái cho cônhững phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ trong thời đại mới

Không giống Liễu, Quyên yếu đuối hơn Cô có một quá khứ phức tạp, côđến nông trường như để tìm kiếm một cơ hội thay đổi cuộc sống của mình Nhưngtrước những cám dỗ của con tàu Phi Long nhiều khi cô đã không kìm lại được.Quyên xinh đẹp lại có phần bản năng Song cô không có cái mạnh mẽ của Liễu

Ma Văn Kháng không đi sâu miêu tả những diễn biến tâm lý của Quyên để bạnđọc hiểu hơn những căn nguyên hành động của cô chỉ biết rằng đã có lúc cô làmSinh đau lòng khi nhìn thấy cô trên con tàu đại diện cho những cám dỗ và xấu xa –tàu Phi Long Trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng chúng ta đã khá quen thuộcvới những người phụ nữ truân chuyên, những người phụ nữ không đứng vữngtrước số phận và cám dỗ, những người phụ nữ bị tha hóa, bị biến đổi trước thựctại Ma Văn Kháng miêu tả ra được cái chất chao chát ở họ, cá tính ở họ, phức tạp

ở họ Quyên có lẽ không hẳn giống với Loan (Mưa mùa hạ), Lý (Mùa lá rụngtrong vườn), Hoan (Ngược dòng nước lũ), Cô cũng không được miêu tả kĩ nhữnghành động sa ngã hay dấn sâu vào con đường cám dỗ Cô chỉ được miêu tả thoángqua và cuối cùng kết thúc là tình yêu đẹp của cô và Sinh Cô thay đổi mạnh mẽhơn để đi theo con đường tốt đẹp như Sinh, như Liễu, như Luận Cô đi học để trởthành y tá và cảnh gặp gỡ của cô với Sinh trong chiếc lều nơi đồng dứa đã manglại hình ảnh đẹp cho tác phẩm Không được khai thác với chiều sâu tâm lý, vớinhững ẩn ức tình dục hay sự phát triển cá tính đặc biệt, Quyên xuất hiện trong tácphẩm như một nét vẽ thoáng qua Quyên giống như nhiều cô gái từng sai lầm

Trang 40

nhưng biết hối cải, may mắn lớn nhất của Quyên có lẽ là bởi cô được sống và được

ở gần những con người có sức sống mạnh mẽ và tươi đẹp như Sinh, như Liễu

1.4.3 Nhân vật phản diện

Bên cạnh những nhân vật chính diện là các nhân vật phản diện như Ngoạn,Anh Trưởng, Thảnh, chủ tàu Phi Long Ma Văn Kháng đã khá sắc sảo trong việctái hiện chân dung các nhân vật này Ma Văn Kháng không đi sâu vào chi tiết Ví

dụ như Ngoạn chỉ được hiện lên qua một đoạn nhỏ hồi ức về quá khứ và một đoạnnhỏ về hình ảnh nông trường I trong hiện tại nhưng sự phản trắc, hám lợi, thủ đoạncủa hắn vẫn được làm rõ Anh Trưởng và Thảnh có lẽ được miêu tả kĩ hơn vớinhững hành động và toan tính cụ thể đặc biệt là Thảnh

Ngay từ chương mở đầu Thảnh đã được miêu tả để bạn đọc có thể đoántrước được tương lai đây không phải con người bình thường Rồi dần dần chândung Thảnh được hé mở Một con người ghen ăn tức ở, có quá khứ lem luốc, luôntìm cách trục lợi cho bản thân, nham hiểm và đê hèn Hắn lợi dụng vợ Nguyện chonhững âm mưu của mình, hắn đâm sau lưng Sinh, hắn định hại ông Thoại,…Những chi tiết rất nhỏ thôi cũng được Ma Văn Kháng chú ý để lột tả nhận vật Khinghe nói về những đứa trẻ trong ấp Bà Riu chết vì tẩy giun bằng cây sầu đôngThảnh chỉ có một thái độ Gương mặt Thảnh mỏng tang vẫn không một nét chia sẻ[26, 61] Chính những chi tiết đó đã cho bạn đọc thấy được sự vô tình, nhẫn tâmcủa Thảnh Một con người không biết rung động, đau xót trước đồng loại thì sao

có thể là một người tốt

Anh Trưởng cũng được xây dựng từ những chi tiết như thế Một chi tiết khiAnh Trưởng đến nông trường ăn quýt nhả bã thôi đã khiến Sinh không ưa nổi Rồicàng về sau cái bản chất tham quan của một kẻ trục lợi, xấu xa về nhân cách dầnđược bộc lộ Lợi dụng chức quyền của mình, Anh Trưởng đã trả thù Sinh, bản chấtsâu xa hơn có lẽ đó là sự đố kị trước một sức sống, một niềm tin và vẻ đẹp lýtưởng nơi Sinh đã khiến Anh Trưởng không thể ưa nổi con người này Hắn tìmmọi cách ép nông trường II, gây khó dễ Bản chất thiếu năng lực chỉ đi lên bằngnhờ bóng người anh rể, lại thêm tính tham lam, nham hiểm hắn đã đẩy Sinh vàonhưng gian nan, đẩy nông trường II vào những khó khăn không đáng có Hắn cấu

Ngày đăng: 24/01/2019, 22:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Thái Phan Vàng Anh (2010), “Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu văn học
Năm: 2010
3. Hà Ân (1998), “Đọc Mùa lá rụng trong vườn”, Báo Người Hà Nội số 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc Mùa lá rụng trong vườn
Tác giả: Hà Ân
Nhà XB: Báo Người Hà Nội
Năm: 1998
5. BAKHTIN.M (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: BAKHTIN.M
Nhà XB: Trường viết văn Nguyễn Du
Năm: 1992
6. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 những đổi mới căn bản, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 những đổi mới căn bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2007
8. Tô Đức Chiêu (1999), “Gặp người vừa Ngược dòng nước lũ” , Tuần báo Du lịch số 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gặp người vừa Ngược dòng nước lũ
Tác giả: Tô Đức Chiêu
Nhà XB: Tuần báo Du lịch
Năm: 1999
9. Lê Văn Chính(2004), Đặc điểm tiểu thuyết viết về đề tài thành thị của Ma Văn Kháng, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tiểu thuyết viết về đề tài thành thị của Ma Văn Kháng
Tác giả: Lê Văn Chính
Nhà XB: Trường ĐHSP Hà Nội
Năm: 2004
10. Trần Cương (1982), Đọc mùa lá rụng, Tạp chí Nghiên cứu văn học số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc mùa lá rụng
Tác giả: Trần Cương
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu văn học
Năm: 1982
13. Hồng Diệu (1990), “Tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú”, Báo Giáo viên nhân dân số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giáthú
Tác giả: Hồng Diệu
Năm: 1990
15. Đặng Anh Đào (2004), “Sự phát triển nghệ thuật tự sự ở Việt Nam – một vài hiện tượng đáng lưu ý”, Trong: Tự sự học – Một số vấn đề lý luận và lịch sử, Nxb. ĐHSP, Hà Nội, Tr 170-184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển nghệ thuật tự sự ở Việt Nam – một vài hiện tượng đáng lưu ý
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb. ĐHSP
Năm: 2004
16. Phan Cự Đệ (2001), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 2001
18. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb. Giáo dục, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2007
19. Nguyễn Thị Thu Huệ (1999), “Đổi mới tư duy nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng”, Tạp chí Văn học số 2, Tr 51-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tư duy nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1999
20. Đỗ Thanh Hương, (2011), Đặc sắc nghệ thuật tự sự trong văn xuôi của Ma Văn Kháng đầu thế kỷ XXI, Luận văn thạc sĩ, ĐHSPHN 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc sắc nghệ thuật tự sự trong văn xuôi của Ma Văn Kháng đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Đỗ Thanh Hương
Nhà XB: ĐHSPHN 2
Năm: 2011
21. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb. Hội nhà văn, Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2000
1. Vũ Tuấn Anh (1997), Việt Nam nửa thế kỷ văn học, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội Khác
4. Lại Nguyên Ân (2004), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Khác
7. Nguyễn Minh Châu (1993), Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
11. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
12. Trương Đăng Dung (2002), Tác phẩm văn học như một quá trình,Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội Khác
14. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương tây hiện đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w