1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp hướng dẫn học sinh xác định từ láy và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa tiếng việt ở tiểu học

126 261 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2PHAN THỊ THU HẰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ GIÁ TRỊ CỦA TỪ LÁY QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG SÁCH GIÁO KHOA

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

PHAN THỊ THU HẰNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ GIÁ TRỊ CỦA TỪ LÁY QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG SÁCH GIÁO

KHOA TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

PHAN THỊ THU HẰNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ GIÁ TRỊ CỦA TỪ LÁY QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG SÁCH GIÁO

KHOA TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học

Mã số: 60 14 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN THU HƯƠNG

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn:

- TS Nguyễn Thu Hương - Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.

- Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học, Khoa Giáo dục Tiểu học và Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện cho việc học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn của tác giả.

- Các thầy, cô trong Hội đồng giám khảo bảo vệ đề cương và Hội đồng giám khảo bảo vệ và đánh giá luận văn đã không quản thời gian để đọc và tham gia góp ý cho luận văn được hoàn thành.

- Các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã quan tâm giúp đỡ.

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Phan Thị Thu Hằng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu đều là trung thực và chưa có ai công bố trong một công trình nghiên cứu nào khác.

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Phan Thị Thu Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẦU 1

1 do chọn đề tài 1

2 ục đ ch và nhiệm vụ nghi n cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghi n cứu 2

4 Phạm vi nghi n cứu 3

5 Phương pháp nghi n cứu 3

6 iả thuyết khoa học 3

7 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1 CƠ S LÍ LUẬN 5

1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề 5

1.2 Một số vấn đề về từ láy 7

1.2.1.Quan niệm về từ láy 7

1.2.2 Sự phân loại từ láy 9

1.2.3 Từ láy và dạng láy 16

1.2.4.Phân biệt từ láy và từ ghép 19

1.2.5 Giá trị của từ láy 21

1.3 Đặc điểm của học sinh Tiểu học .25

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí 25

1.3.2 Phát triển tri giác 26

1.3.3 Phát triển chú ý 26

1.3.4 Phát triển trí nhớ 27

1.3.5 Phát triển tưởng tượng 27

1.3.6 Phát triển tư duy 28

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ GIÁ TRỊ CỦA TỪ ÁY QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRON SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC 31

2.1 Vai trò của việc xác định từ láy và giá trị của từ láy trong môn Tiếng Việt ở tiểu học 31

2.2 Từ láy và giá trị của từ láy trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học 32

Trang 6

2.2.1 Từ láy 32

2.2.2 Giá trị của từ láy 33

2.3 Từ láy và giá trị của từ láy trong các văn bản thơ của sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học 36

2.3.1 Từ láy trong các văn bản thơ 36

2.3.2 Giá trị của từ láy trong các văn bản thơ 48

2.4 Thực trạng việc xác định từ láy và giá trị của từ láy trong các văn bản thơ ở trường tiểu học 50

2.4.1 Đối tượng, nội dung và phương pháp khảo sát 50

2.4.2 Thực trạng việc xác định từ láy và giá trị của từ láy 50

Tiểu kết chương 2 55

Chương 3 BIỆN PHÁP XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ CÁC GIÁ TRỊ CỦA CHÚNG QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRON SÁCH IÁO KHOA TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC 56

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 56

3.1.1 Căn c vào đặc điểm nh n th c củ h c sinh 56

3.1.2 Căn c vào từ loại và đặc trưng ng pháp trong xác định từ láy và giá trị từ láy 56

3.1.3 Căn c vào các văn bản thơ cho h c sinh trong chương tr nh tiểu h c 58

3.2 Các biện pháp 60

3.2.1 Các biện pháp giúp h c sinh xác định từ láy 60

3.2.2 Các biện pháp giúp học sinh xác định giá trị của từ láy 68

Tiểu kết Chương 3 87

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 7

BẢNG CHÚ THÍCH

CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Từ láy trong các văn bản thơ 37

Bảng 2.2 Khuôn vần láy 38

Bảng 2.3 Giá trị từ láy 48

Bảng 2.4.Tầm quan trọng của việc xác định từ láy và giá trị của từ láy 51

Bảng 2.5 Hiệu quả của việc xác định từ láy và giá trị từ láy 51

Bảng 2.6 Khả năng xác định từ láy và giá trị của từ láy của học sinh 52

Bảng 2.7a Biện pháp dạy học sinh xác định từ láy 53

Bảng 2.7b Biện pháp dạy học sinh xác định giá trị của từ láy 53

Bảng 2.8 Những khó khăn trong quá trình giảng dạy 54

Bảng 3.1 Nghĩa của từ láy có nghĩa giảm nhẹ hay tăng mạnh 63

Trang 9

ri ng Thơ là sản ph m sáng tạo của tâm hồn và tr tuệ con người Thông quacác bài thơ giúp học sinh hiểu được cuộc sống đang diễn ra xung quanh mình,

có được tình cảm y u thương, gắn bó với qu hương đất nước Với những đặctrưng về thanh âm và kiểu ngữ nghĩa ri ng biệt của mình, từ láy được dùngnhiều trong ngôn ngữ văn chương, nhất là trong các văn bản thơ của các em.Suốt mấy thập kỉ qua, từ láy tiếng Việt luôn là vấn đề thu hút sự quan tâmcủa nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bởi t nh đa diện, phức tạp nhưngcũng đầy lí thú của nó Từ láy thích hợp với việc tạo n n được những bứctranh sinh động với những gam màu ấn tượng, những hình dáng, tính cách củacon người bằng ngôn từ Lớp từ láy có khả năng tạo nên nhịp điệu, hình ảnhcho thơ ca, là một trong những phương tiện biểu đạt đặc sắc của thơ ca n nđược các nhà thơ, nhà văn rất ưa dùng Các nhà thơ nhà văn sử dụng từ láynhư là một yếu tố nghệ thuật để thể hiện tác ph m Trong đời sống giao tiếp, từláy cũng thường được sử dụng và mang lại nhiều hiệu quả Có thể nói từ láy làmột công cụ đặc biệt của các nhà văn, nhà thơ trong quá trình sáng tác

Hiện nay, chương trình tiếng Việt ở Tiểu học đã tiến hành cải cách, đổimới về nội dung chương trình sách giáo khoa cho phù hợp với sự phát triểncủa khoa học và khả năng nhận thức của học sinh So với chương trình cũ,

Trang 10

chương trình tiếng Việt sau năm 2000 đã rất chú ý đưa nội dung giảng dạy cácphương thức cấu tạo từ, trong đó có từ láy theo cả hai hướng: cung cấp lýthuyết và luyện tập kĩ năng nhận diện, cảm thụ Phục vụ nhiệm vụ này, cácbài thơ sử dụng phương thức láy được tuyển chọn đưa vào giảng dạy trongchương trình khá nhiều Tuy nhi n, trong quá trình giảng dạy, đa số giáo vi nchưa khai thác hết giá trị của từ láy trong mỗi văn bản thơ, cũng như chưa sửdụng tốt các biện pháp giúp học sinh xác định giá trị của từ láy qua bài thơ đó.Xuất phát từ những cơ sở thực tế và lý luận tr n, chúng tôi chọn đề tài

Một số biện pháp hướng dẫn học sinh xác định từ láy và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học.

2 Mục ch và nhi m vụ nghiên c u

2.1 Mục đích

- Nghi n cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đ ch đưa ra các biện pháphướng dẫn học sinh xác định từ láy và giá trị của từ láy qua các văn bản thơtrong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học

2.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc hướng dẫn học sinh xác định từ láy

và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ởtiểu học

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc hướng dẫn học sinh xác định từ láy

và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ởtiểu học

- Đề xuất biện pháp hướng dẫn học sinh xác định từ láy và giá trị của từláy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học

3 Đối tư ng và khách thể nghiên c u

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Việc hướng dẫn học sinh xác định từ láy và giá trị của từ láy qua cácvăn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học

Trang 11

3.2 hách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học tiếng Việt cho học sinh tiểu học

4 Phạm vi nghiên c u

Do phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu việc xác định

từ láy và giá trị của chúng trên văn bản thơ từ lớp 2 tới lớp 5 trong sách giáokhoa Tiếng Việt ở tiểu học

5 Phương pháp nghiên c u

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghi n cứu tài liệu về từ láy, các văn bản thơ trong môn Tiếng Việt ởtiểu học, phân t ch, tổng hợp các công trình đã có cả ở trong nước và ngoàinước về một số biện pháp xác định từ láy và giá trị từ láy qua các văn bản thơtrong sách giáo khoa tiếng Việt ở tiểu học

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát, khảo sát các bài học về từ láy trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học

- Quan sát, khảo sát thực trạng tại trường tiểu học

5.3 Phương pháp thống kê, xử lí số liệu

Phương pháp này được sử dụng khi xử l , thống k số lượng các từ láy vàgiá trị của chúng trong các văn bản thơ và khi khảo sát thực trạng tại trườngtiểu học Sau khi thống k , chúng tôi tiến hành nhập và xử l số liệu bằng cáchdùng Excel vẽ sơ đồ, biểu bảng

5.4 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

Thông qua số liệu các từ láy và giá trị của chúng, thông qua số liệu thống

k thực trạng ở trường tiểu, chúng tôi tiến hành phân t ch, so sánh để đánhgiá những kết quả đó nhằm đưa ra những kết luận phù hợp

6 Giả thuy t khoa học

Nếu đề xuất được những biện pháp phù hợp thì sẽ nâng cao hiệu quả khidạy học sinh xác định từ láy và giá trị của từ láy trong các văn bản thơ củasách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học

Trang 12

7 C u tr c uận v n

Ngoài phần ở đầu, Kết luận, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận

Chương 2 Thực trạng việc xác định từ láy và giá của trị từ láy qua các văn

bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học

Chương 3 Biện pháp xác định từ láy và các giá trị của chúng qua các văn bản

thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học

Trang 13

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan lịch sử v n

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đái Xuân Ninh về lịch sử phát triển

của từ láy tiếng Việt trong cuốn Hoạt động của từ Tiếng Việt [26] thì từ láy

xuất hiện từ thế kỷ XII sau khi hệ thống thanh điệu được hình thành Nhờ có hệthống thanh điệu phong phú nên phép láy từ dễ dàng phát triển Nó phát triểnđỉnh cao ở thế kỷ XVII - XVIII trong nhiều tác ph m tiêu biểu viết bằng chữ

Nôm của nền văn học Việt Nam như: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Chinh phụ ngâm (Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều), … Đến giai

đoạn sau từ láy phát triển với tốc độ chậm hơn, nó nhường bước cho cácphương pháp tạo từ mới đáp ứng sự phát triển của khoa học kỹ thuật, phù hợpvới cách biểu đạt những khái niệm ch nh xác Tuy nhi n đến nay láy vẫn làmột phương pháp cấu tạo từ cơ bản và có vai trò quan trọng trong việc tạo

ra các giá trị về nghĩa Từ láy có khả năng giúp cho con người bộc lộ đượcmọi trạng thái tâm lý tình cảm một cách chính xác nhất, miêu tả sự vật, thiênnhiên một cách đa dạng và sinh động nhất Từ láy khi được thể hiện trong tác

ph m văn học, nhất là tác ph m thơ thì luôn mang lại cho tác ph m những giátrị lớn lao

Bởi giá trị và sức mạnh tiềm tàng trong bản thân lớp từ láy tiếng Việt màlớp từ này từ xưa tới nay được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và tìmhiểu.Trong lĩnh vực ngôn ngữ học đã có nhiều công trình nghiên cứu về từ láyvới tên tuổi của các nhà ngôn ngữ học tiêu biểu như: Đỗ Hữu Châu, NguyễnTài C n, Hoàng Tuệ, Diệp Quang Ban, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Thiện Giáp,Hữu Đạt, Nguyễn Văn Tu, Hoàng Văn Hành, Đào Thản,Hoàng Cao Cương,Nguyễn Thị Hai,…Đó là những kết quả nghiên cứu một cách toàn diện, sâusắc về các đặc điểm của từ láy Tiếng Việt: về cấu tạo, về đặc trưng ngữ nghĩa,

về giá trị biểu trưng, giá trị gợi tả âm thanh, hình ảnh, giá trị biểu cảm của từláy Những công trình nghiên cứu tiêu biểu bao gồm: những sách nghiên cứu

Trang 14

về tiếng Việt trong đó có từ láy, những chuyên luận về từ láy, những chuyên

luận về từ láy trên các tạp chí Có thể kể đến như: Cách xử lí các hiện tượng trung gian trong ngôn ng của Đỗ Hữu Châu in trong [7] Trường từ vựng

ng nghĩ và việc dùng từ ng trong tác phẩm nghệ thu t của Đỗ Hữu Châu đăng trong [8] Từ láy trong tiếng việt và sự cần thiết phải nh n diện nó của Phan Văn Hoàn đăng trong [17] Từ láy trong tiếng Việt của Hoàng Văn Hành [18] Về một hiện tượng láy trong tiếng Việt của Hoàng Văn Hành [16] Cũng

có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề từ láy trong tác ph m văn học như: Hệ thống từ láy tiếng Việt trong một số khúc ngâm thế kỉ XIX luận văn thạc sĩ ngữ văn của Nguyễn Thị Hường Đại học Sư phạm Hà Nội (2004), Từ láy trong thơ văn Nguyễn Đ nh Chiểu luận văn thạc sĩ ngữ văn của Hoàng Thị

an Đại học Thái Nguy n (2009) …

Từ những tư liệu có được, chúng tôi nhận thấy đã có nhiều tác giả chú ý

tới vấn đề này Điển hình như trong cuốn Từ láy trong tiếng Việt của Hoàng

Văn Hành, [18] Trong cuốn sách này, tác giả đã đưa ra những cách nhìn khácnhau của từ láy, các kiểu cấu tạo từ láy, cơ cấu nghĩa của từ láy Ngoài ra, tácgiả còn đưa ra một số cứ liệu về quá trình hình thành và phát triển từ láy tiếngViệt, giá trị sử dụng của từ láy nói chung

Trong cuốn Dạy h c từ láy ở trường phổ thông của Hà Quang Năng,

[24] tác giả đã n u được đặc điểm cấu tạo của từ láy, cơ cấu nghĩa của từ láyđối với hiện tượng láy, bao gồm các quan điểm về từ láy, phân loại từ láy vềmặt ngữ nghĩa và phân loại dựa vào mặt số lượng âm tiết trong từ láy Tác giảcũng đề cập tới giá trị nghệ thuật của từ láy trong văn chương nhưng chưathực sự đi sâu vào vấn đề đó Đáng kể nhất là luận văn thạc sĩ của tác giả

Nguyễn Thị an - Từ láy trong thơ Nguyễn Đ nh Chiểu, luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà - iá trị nghệ thu t và phương th c sử dụng hiện tượng láy trong thơ c Việt N m Hai tác giả đã nghi n cứu giá trị và cách

Trang 15

thức từ láy sử dụng để từ láy phát huy tác dụng với thơ ca ở hai phương diện

là t nh tạo hình và t nh tạo nhạc Đó thực sự là những công trình có nhiềuđóng góp cho việc nghi n cứu ngôn ngữ thơ Việt Nam

Nhìn chung, đã có rất nhiều các tác giả nghi n cứu về từ láy trong thơ cacũng như trong văn chương Việt Nam Tuy nhi n, nghi n cứu về các biệnpháp xác định từ láy và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ sách giáo khoaTiếng Việt ở tiểu học lại chưa được nghi n cứu Vì vậy, lựa chọn đề tài này,chúng tôi hi vọng sẽ đưa ra được những ý kiến thiết thực, đóng góp vào côngtác nghi n cứu và giảng dạy từ láy và giá trị của từ láy các văn bản thơ trongmôn Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng và dạy học từ láy nói chung

1.2 Một số v n v từ láy

1.2.1.Quan niệm về từ láy

Trong khái niệm về từ láy đã tồn tại nhiều t n gọi khác nhau như: Từphản điệp, từ lấp láy, từ láy âm, từ láy, Những t n gọi này được thể hiệntrong các định nghĩa về từ láy như sau:

“Từ láy là nh ng từ được cấu tạo theo phương th c láy, đó là phương

th c lặp lại toàn bộ h y bộ ph n h nh th c âm tiết (Với nh ng th nh điệu gi nguyên h y biến đổi theo quy tắc biến th nh, t c là quy tắc th nh điệu, biến đổi theo nhóm, nhóm c o: th nh hỏi, th nh sắc, th nh ng ng và nhóm thấp:

th nh huyền, th nh ngã, th nh nặng) củ một h nh vị h y đơn vị có nghĩ ”

[11;Tr 41] Định nghĩa này Đỗ Hữu Châu đã chỉ rõ láy là một cơ chế (cơ chếláy) và nhấn mạnh quan hệ ngữ âm giữa các âm tiết trong từ láy nhưng chưanói rõ về ý nghĩa biểu đạt của từ láy

“Từ láy, nói chung là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo

nh ng quy tắc nhất định, s o cho qu n hệ các tiếng trong từ vừ điệp vừ đối, vừ hài hò về âm và về ng nghĩ , có giá trị biểu trưng hó ” [18; Tr

27] Trong định nghĩa này, Hoàng Văn Hành coi láy là một cơ chế, chi phối

Trang 16

việc tạo ra những từ đa tiết mà các tiếng của chúng nằm trong thế vừa điệpvừa đối Tác giả khẳng định t nh chất điệp và đối có quan hệ hữu cơ với nhautrong cơ chế láy và định nghĩa đã bao quát được cả mặt âm thanh và ngữnghĩa của từ láy, âm và nghĩa trong từ láy có quan hệ khăng kh t và hài hòa.Tác giả Diệp Quang Ban lại cho rằng:

“Từ láy là một kiểu từ ph c (từ đ tiết) được tạo r bằng phương th c

hò phối ng âm có tác dụng tạo nghĩ Từ láy có thể là từ đơn tố (cả từ chỉ

là một bộ ph n có nghĩ )” [2; Tr 33]

Định nghĩa của Diệp quang Ban đã n u l n láy là phương thức cấu tạo

từ, phương thức láy, là sự lặp lại có t nh chất hòa phối về mặt ngữ âm toàn bộ

âm tiết ban đầu hay một bộ phận nào đó của âm tiết khác để tạo ra một tổ hợpnhiều âm tiết làm thành từ láy Tác giả nhấn mạnh đến nguy n tắc hòa phốingữ âm của từ láy và tác dụng tạo nghĩa của từ láy Tuy nhi n về tác dụng tạonghĩa từ láy như thế nào lại chưa được cụ thể

Hoàng Tuệ định nghĩa “Nên hiểu rằng “láy”, đó là phương th c cấu tạo

nh ng từ mà trong đó có một sự tương qu n âm - nghĩ nhất định” [30;

Tr23] Trong định nghĩa tác giả đã thể hiện cách hiểu về từ láy một cách trọnvẹn và đầy đủ về đặc trưng của từ láy với 2 đặc điểm cơ bản: từ láy là từ có sựtương quan âm - nhĩa nhất định

Nguyễn Hữu Quỳnh định nghĩa: “Từ ghép láy (h y còn g i là từ ghép lắp láy, từ láy) là nh ng từ ghép gồm h i h nh vị kết hợp với nh u chủ yếu là theo qu n hệ ng âm Các thành tố củ từ ghép láy có mối tương qu n với

nh u về th nh điệu hoặc về các bộ ph n ng âm tạo nên các thành tố đó, đồng thời chúng tạo nên một nội dung ng nghĩ nhất định” [27; Tr113].

Định nghĩa đã n u rõ trong từ ghép láy có mối quan hệ âm nghĩa trong đó chỉ

có một thành tố có ý nghĩa từ vựng, yếu tố này có thể đứng trước hoặc đứng

sau như: l p lòe, nhấp nhô, chim chóc, im lìm, Hoặc cả hai thành tố đều

Trang 17

không có ý nghĩa từ vựng, chỉ có ý nghĩa kết cấu như: đủng đỉnh, ton lon, lóng lánh

Những quan điểm về từ láy chưa thật thống nhất trong khái niệm giữa cácnhà nghi n cứu Song đa số các nhà nghi n cứu lại có quan điểm tương đồngvới nhau ở chỗ: coi từ láy là từ được cấu tạo theo phương thức láy, lấy nguy ntắc hòa phối ngữ âm làm cơ sở và có những đặc trưng ngữ nghĩa ri ng

Sự trình bày của chúng tôi về các khái niệm và các quan niệm của một

số nhà nghi n cứu ngôn ngữ về từ láy trong tiếng Việt giúp chúng ta hìnhthành được một cách rõ ràng hơn trạng thái hiện nay của vấn đề đang xét.Trong sự vận dụng khái niệm từ láy để viết đề tài này, chúng tôi có thể

khái quát về từ láy theo cách hiểu như sau: Từ láy là từ đ âm tiết được cấu tạo theo phương th c láy mà trong đó qu n hệ gi các âm tiết phải thể hiện được sự hò phối và lặp lại về mặt ng âm, có giá trị biểu trưng và sắc thái

hó về ng nghĩ Chúng tôi đi vào xem xét và khảo sát từ láy Tiếng Việt ở

thời điểm hiện tại, tức xem xét láy tr n quan điểm đồng đại - xét từ láy trong

sự hành chức của nó chứ không phải tr n quan điểm lịch đại Tr n quan điểm

đồng đại, Diệp Quang Ban cho rằng với từ láy hiện nay Một sự giải thích lịch

sử không có tác dụng thực tiễn bởi lẽ con người khi sử dụng ngôn ngữ chỉ

chú ý đến hoạt động của từ mà t chú ý đến nguồn gốc của từ

1.2.2 Sự phân loại từ láy

1.2.2.1.Phân loại từ láy trên cơ sở ng nghĩ

Cách phân loại này gặp nhiều khó khăn bởi phần lớn các nhà nghiên cứuthường chỉ chú tâm vào việc phân loại và miêu tả từ láy theo tiêu chí thuộc vềhình thức cấu tạo Đáng chú ý là cách phân loại của Hoàng Tuệ (1978), ĐỗHữu Châu (1999) và của Hoàng Văn Hành (1985)

Căn cứ mà Hoàng Tuệ dựa vào để xem xét và phân loại từ láy là „„Sựtương quan âm - nghĩa‟‟ trong từ Với tiêu chí này, tác giả chia từ láy thành 3nhóm khác nhau:

Trang 18

- Nhóm thứ nhất: gồm những từ như: a) oa oa, gâu gâu và b) cu cu „„Nói

chung là những từ mô phỏng, những từ tiếng vang‟‟

- Nhóm thứ hai: gồm những từ như: a) làm lụng, mạnh mẽ và b) lơ thơ, loanh quanh Đó là những từ „„bao gồm một âm tiết - hình vị‟‟

Ví dụ: làm và làm lụng (làm lụng = làm + 1 sắc thái, sắc thái này có giátrị ngữ pháp và biểu cảm)

- Nhóm thứ ba gồm những từ như: lác đác, bâng khuâng…đó là những

từ không bao gồm một âm tiết - hình vị, „„Nhưng lại là những từ có giá trịbiểu cảm rất rõ‟‟ [23, tr.21]

Cách phân loại này khắc phục được tính phiến diện của cách phân loạikhông chỉ thuần túy dựa vào cấu trúc và gợi cho ta một hướng suy nghĩ đángchú ý

Cũng dựa tr n cơ sở ngữ nghĩa, Đỗ Hữu Châu đề nghị lấy t nh „„Độtbiến‟‟ hay „„Sắc thái hóa‟‟ về nghĩa làm căn cứ Tr n cơ sở những căn cứ đó,ông chia từ láy thành 3 nhóm:

- Nhóm thứ nhất: Những từ láy sắc thái hóa về nghĩa, v dụ: dễ dãi, dễ dàng (so với dễ)

- Nhóm thứ hai: Những từ đột biến về nghĩa ở hình vị cơ sở, ví dụ: lúng túng (so với túng), bỡ ngỡ (so với ngỡ)…

- Nhóm thứ ba: Những từ trung gian giữa hai nhóm trên, ví dụ:

+ Bối rối: Nghĩa 1 (nghĩa vật l ) „„rối‟‟: đột biến

Nghĩa 2 (nghĩa tâm l ) „„rối‟‟: sắc thái hóa

+ Phất phơ: Nghĩa 1 (nghĩa vật l ) „„phất‟‟: sắc thái hóa

Nghĩa 2 (nghĩa t nh cách) „„phất‟‟: đột biến

Cách phân loại này nghiêng hẳn về tiêu chí ngữ nghĩa Nó chỉ ra đượcnhững bước khác nhau trong quá trình diễn biến của từ láy về mặt ngữ nghĩa.Song mối tương quan âm - nghĩa ở đây chưa được quan tâm một cách đầy đủ

Trang 19

Hoàng Văn Hành lại căn cứ vào tính có lí do của từ mà chia từ láy thành

ba nhóm:

a Từ láy phỏng thanh như lộp bộp, bìm bịp…

b Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm và chuyên biệt hóa về nghĩa: bấp bênh, nõn nà…

c Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm, thí dụ: lênh đênh, lâng lâng, lác đác…

Trong quá trình nghiên cứu từ láy, Hoàng Văn Hành đã hiệu chỉnh hệ thốngphân loại từ láy tr n cơ sở dùng một tiêu chí thỏa đáng hơn Ti u chí ấy, theotác giả là „„Đặc điểm của hình thái biểu trưng hóa ngữ âm của từ‟‟vì nó thỏamãn được ba yêu cầu:

Nhóm 1: Có t nh đến mối tương quan âm - nghĩa trong từ láy

Nhóm 2: Có t nh đến vai trò ngữ nghĩa của tiếng gốc và khuôn vần(trong điều kiện cho phép)

Nhóm 3: Có t nh đến khả năng bộc lộ nghĩa, hay là giá trị ngữ nghĩa củacác kiểu từ láy khác nhau

Dựa vào tiêu chí này, từ láy được phân chia làm ba nhóm:

1 Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản, đó ch nh là những từ láy mà

chúng ta quen gọi là “tượng thanh”, từ “tiếng vang”, v dụ: tí tách, lộp bộp…

2 Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu, như lênh đênh, lác đác, bâng khuâng…

3 Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về ngữ nghĩa,

ví dụ: chắc chắn, đỏ đắn… [12, tr.73 - 74]

Khi xem xét nghĩa của ba loại từ láy nêu trên, tác giả nhắc đến vai tròcủa khuôn vần Dựa vào khuôn vần, chúng ta có thể xác định được ý nghĩacủa từ láy một cách có cơ sở khoa học và có khả năng giải th ch nghĩa củamột số lượng lớn các từ láy Các từ láy có khuôn vần khác nhau sẽ có ý nghĩakhác nhau, còn nều không khuôn vần sẽ có một nét nghĩa chung, đồng nhất

Trang 20

Cách phân loại từ láy dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa có ưu điểm chỉ ra đượcnhững bước khác nhau trong quá trình diễn biến của từ láy về mặt nghĩa Tuynhiên, theo cách phân loại này thì mối tương quan âm - nghĩa chưa được quantâm một cách đầy đủ.

1.2.2.2 Cách phân loại từ láy dự vào số lượng âm tiết

Dựa vào tiêu chí phân loại này, Hoàng Văn Hành chia từ láy ra làm 2loại, đó là: từ láy bậc 1 và từ láy bậc 2 Trong mỗi loại lớn, tác giả lại chialàm hai loại nhỏ hơn

Cũng căn cứ vào số lượng âm tiết trong từ láy, Diệp Quang Ban chia từláy ra làm ba loại: từ láy đôi từ láy ba và từ láy tư Trong các phân loại này, từláy đôi chiếm vị trí quan trọng hàng đầu không chỉ vì nó chiếm số lượng lớnnhất trong tổng số từ láy tiếng Việt mà chính là ở từ láy đôi, các đặc trưng cơbản thể hiện bản chất của hiện tượng láy cả ở bình diện thể hiện bằng âmthanh lẫn bình diện ngữ nghĩa đều được bộc lộ đầy đủ

1.2.2.2.1 Từ láy đôi

Từ láy đôi là từ láy gồm hai âm tiết Tùy theo kết quả của phương thứcláy có hình thức ngữ âm giống như âm tiết của hình vị cơ sở hay cho một âmtiết khác với hình vị cơ sở ở phụ âm đầu hoặc vần mà ta chia từ láy đôi ra làmhai loại: láy hoàn toàn (hay láy toàn bộ) và láy bộ phận

*Từ láy hoàn toàn

Láy hoàn toàn là từ láy mà toàn bộ âm tiết của hình vị cơ sở được giữ lại

Ví dụ: đ m →đ m đ m

mãi→ mãi mãi

Đây là nhóm điển hình trong từ láy hoàn toàn Trong kiểu láy này có 3mức độ khác biệt sau đây:

Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng giống hệt nhau về thành phần cấu tạo,

chỉ khác nhau về trọng âm, ví dụ: h o h o, đùng đùng, x nh x nh…

Trang 21

Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng có thêm sự khác biệt ở thanh điệu, ví dụ:

Ví dụ: rắp →răm rắp

phớt → phơn phớtthích → thinh thích

*Từ láy bộ phận

Từ láy bộ phận là những từ láy có bộ phận âm tiết được giữ lại Đây làloại từ láy có số lượng nhiều nhất và điển hình nhất của từ láy tiếng Việt.Căn cứ vào thành phần của âm tiết được giữ lại, người ta chia từ láy bộphận ra làm 2 loại: từ láy âm và từ láy vần

- T ừ l á y â m :

Từ láy âm là những từ láy trong đó âm đầu được láy lại Ví dụ: c p kềnh, tung tăng, ngô nghê, qu nh co, th thầm…

Trang 22

Trong từ láy âm, người ta dựa vào hình vị gốc để chia thành hai loại:+ Các từ láy âm có hình vị cơ sở ở trước (gốc trước), láy sau.

Ví dụ: ríu rít, ngẩn ngơ, mỏng manh, lạnh lùng, nhẹ nhàng, lạ lùng,

Từ láy vần là những từ láy có phần vần trùng lặp và phụ âm đầu khác

biệt ở tiếng gốc và tiếng láy Ví dụ: lủng củng, chói lói, thong dong…

Từ láy vần có số lượng t hơn so với từ láy âm loại láy vần người tacũng dựa vào hình vị cơ sở để chia từ láy vần ra làm hai loại:

+ Loại gốc trước < hình vị cơ sở ở trước >, láy sau Loại này có số lượng

rất ít Ví dụ: thò lò, thiêng liêng, co ro, xo ro, thè lè…

+ Loại láy trước, gốc sau Ví dụ: lềnh kềnh, lờ mờ, líu díu, cheo leo, lom khom, tủm tỉm…

*Một số trường hợp cần chú ý về từ láy đôi

- Có một số từ cả hai âm tiết đều có nghĩa như: g y gộc, vung vẩy, bạn

bè, cây cối, đất đ i, ch chiền, mùa màng, thịt thà… âu nay tồn tại nhiều

cách lý giải khác nhau, theo chúng tôi nên xếp vào từ láy có nghĩa khái quát

- Có một số từ mà các tiếng trong từng từ được biểu hiện trên chữ viết

không có phụ âm đầu như: êm ái, ấm áp, ốm o, ầm ĩ, óc ách, inh ỏi, ồn ã, ép uổng, im ắng, ế ẩm, ít ỏi, oi ả, yên ả, o ước, ấm c, o ép (xác định được tiếng gốc), ấp úng, ẽo ợt, ỉ eo, oái ăm, ỏn ẻn, õng ẽo, ách ỏi…(không xác định được

tiếng gốc) là từ láy Đây là các từ láy đặc biệt (đặc biệt ở chỗ: nó không giốngcác từ láy bình thường về hình thức ngữ âm)

- Các từ như: bình minh, linh tính, cần mẫn, tham lam, bao biện, bảo bối, căn cơ, ho n hỉ, hào hiệp, hào hoa, hào hùng, hào h ng…không phải là từ

láy Đây là những từ ghép Hán - Việt

Trang 23

Tuyệt đại đa số từ láy ba là từ láy hoàn toàn, một số ít là từ láy vần (khác

phụ âm đầu) như: lơ tơ mơ, lờ tờ mờ, tù lù mù…

1.2.2.2.3.Từ láy tư

Do phương thức láy tác động vào những từ láy đôi mà có, cho ta một từláy bốn âm tiết - gọi là từ láy tư Tuy nhi n, cũng có những từ láy tư dophương thức láy tác động vào những hình vị hai âm tiết không láy (từ ghép)

Từ láy tư khá đa dạng về kiểu cấu tạo Một số kiểu thường gặp là:

- Láy qua vần a hoặc ơ như:

ấm ớ → ấm a ấm ớ

hì hục → hì ha hì hục sớn sát → sớn sơ sớn sát vất vưởng → vất vơ (v ) vất vưởng

- Láy bằng biến thanh, ví dụ:

bồi hồi → bổi hổi bồi hồi lảm nhảm → lảm nhảm làm nhàm

Trang 24

- Láy bằng tách xen và biến âm, ví dụ:

nhồm nhoàm → lồm nhồm loàm nhoàm thơ thẩn → lơ thơ lẩn thẩn

- Láy bằng tách xen và láy toàn bộ, ví dụ:

hăm hở → hăm hăm hở hở hối hả → hối hối hả hả

Ví dụ từ láy có phần gốc là từ ghép:

tầng lớp → tầng tầng lớp lớp

xe cộ → xe xe cộ cộ nói cười → nói nói cười cười Ngoài ra còn các từ láy tư lẻ tẻ khác như: bông lông ba la, bù lu bù loa,

bù xù bà xòa, buồn thỉu buồn thiu.

Như vậy, có nhiều cách phân loại từ láy: ta có thể dựa vào mặt nghĩa,cũng có thể dựa vào số lượng tiếng trong từ láy để phân loại khác nhau Trongmỗi cách phân loại đều có những mặt ưu điểm và nhược điểm riêng.Cáchphân loại dựa vào số lượng tiếng tỏ ra có nhiều hợp lý vì mối tương quan âm -nghĩa thể hiện rõ hơn và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh nhất làhọc sinh tiểu học Trong luận văn này người viết dựa vào cách phân loại căn

cứ vào số lượng tiếng theo quan điểm của Diệp Quang Ban (như đã trình bày

ở trên)

1.2.3 Từ láy và dạng láy

Khi nghiên cứu từ láy, đa số các nhà nghiên cứu không chủ trương đivào phân biệt từ láy và dạng láy của từ Một số nhà nghiên cứu lại chủ trươngphân biệt từ láy và dạng láy, mặc dù những tiêu chu n, những dẫn chứng màcác tác giả này trên thực tế khi đưa ra chứng minh chưa đủ sức thuyết phục và

có căn cứ rõ ràng Có một số quan niệm về dạng láy: Dạng láy của từ là kết quả củ quá tr nh trượt để nhân đôi từ khi sử dụng chúng trong lời nói Từ

Trang 25

dùng để làm cơ sở cho việc tạo dạng láy có thể là từ đơn âm tiết, có thể là một số kiểu từ láy đôi Tùy thuộc vào số lượt âm tiết mà chúng ta có dạng láy đôi, dạng láy ba hay láy của từ [16; Tr12]

Tác giả Võ Xuân Quế trong bài viết Tìm hiểu về một số kiểu láy trong Tiếng Việt lại khẳng định những trường hợp như g t gà g t gù, hấp ta hấp tấp, ngất nga ngất ngưởng là kiểu láy bốn, chứ không phải là dạng láy bốn.

Các tác giả Nguyễn Tài C n, Hồ , Đái Xuân Ninh, Nguyễn Thiện iáp, ĐỗHữu Châu cũng thừa nhận đây là kiểu láy tư trong Tiếng Việt Kiểu láy bốnnày đuợc cấu tạo từ các từ láy đôi n n nghĩa của chúng chỉ là nghĩa của từ láyđôi mức độ cao hơn, nhấn mạnh hơn nghĩa của từ láy đôi cơ sở

Những từ kiểu như: đo đỏ, tim tím, chầm chậm, Hoàng Văn Hành vàmột số nhà nghiên cứu lại coi là dạng láy đôi Tuy nhi n tác giả Hoàng VănHành lại lí giải chỉ nên phân biệt dạng lặp với từ láy vì cái gọi là dạng láy và

từ láy thực chất đều được cấu tạo theo cùng một cơ chế

Quan niệm truyền thống khi phân biệt từ láy và dạng láy lại cho rằngdạng láy biểu thị ý nghĩa ngữ pháp còn từ láy biểu thị ý nghĩa từ vựng Tuynhiên ngữ pháp truyền thống lại chưa phân biệt rõ ràng thế nào là ý nghĩa ngữpháp, thế nào là ý nghĩa từ vựng nên khó lòng phân biệt được khi nào là từláy, khi nào là dạng láy của từ Truyền thống Việt ngữ học, các nhà tác giảthường phân biệt dạng láy, dạng lặp và từ láy

Hoàng Tuệ cho rằng những từ bốn âm tiết như: mừng mừng rỡ rỡ, tùm lum tà la chỉ là dạng láy và cho rằng các từ láy chỉ gồm có hai âm tiết “như

v y, các từ láy đều hai âm tiết” và khẳng định “các dạng láy bốn âm tiết không nên xem là từ, đó là nh ng đơn vị hình thành qua một sự biểu trưng hóa ng âm ở b c câu, không phải ở b c từ” [30; Tr.23]

Dạng láy đôi biểu hiện mức độ giảm của tính chất, nó chỉ miêu tả mức

độ tương đối Ngoài dạng láy đôi, còn có dạng láy bốn biểu thị mức độ tăngcủa tính chất so với từ gốc

Trang 26

Các tác giả của cuốn Ng pháp Tiếng Việt đã có sự trình bày tỉ mỉ về

hình thức ngữ âm và nghĩa của dạng láy

*Hình th c ngữ âm của dạng láy:

Từ một tiếng có những dạng láy: dạng láy hai tiếng, dạng láy batiếng và dạng láy có kết hợp với trợ từ

Từ hai tiếng có những dạng láy: dạng láy toàn bộ, dạng láy bộ phận

Từ một tiếng và từ hai tiếng có dạng láy đặc biệt với vần “iếc” ở tiếng cuối của dạng láy Ví dụ: Cơm kiếc, xe xiếc, câu lạc bộ lạc biếc

Dạng láy đặc biệt có thể có vần “ang” hay vần “ung”.

Ví dụ: đàn ông đàn ng, hoa tai hoa tung

* Nghĩa của dạng láy:

Dạng láy của dạng từ biểu thị loại nghĩa: Nghĩa về số lượng toàn bộ của

sự vật.Ví dụ: người người, ngành ngành, đâu đâu và nghĩa về sự liên tục thời gian.Ví dụ: Sáng sáng, chiều chiều, lớp lớp,

Dạng láy của động từ có thể biểu thị những loại nghĩa: Nghĩa về sự liên

tục của hoạt động.Ví dụ: Đ p đ p, g t g t, lắc lắc, đẽo đẽo, Có thể có cách dùng hai ngữ liền nhau, song song.Ví dụ: Qu y đi qu y lại, nói lên nói

xuống và nghĩa về cường độ hoạt động Ví dụ: lo lo, sờ sợ, yêu yêu

Dạng láy của tính từ biểu thị nghĩa về mức độ của tính chất: Nghĩa về

mức độ thấp của tính chất.Ví dụ: be bé, nho nhỏ, nằng nặng, và nghĩa về mức độ cao của tính chất Dạng láy hai tiếng kết hợp với trợ từ.Ví dụ: Mẩy

Trang 27

mẩy mẩy là; ngoan th t là ngoan Dạng láy ba tiếng , bốn tiếng.Ví dụ: Đủng

đ đủng đỉnh; sạch sành sanh

Dạng láy đặc biệt có vần “iếc” hay “ ng”, “ung” của danh từ, động từ,

tính từ thường biểu thị t nh không xác định của sự vật, hoạt động của trạng

thái hay tính chất.Ví dụ: Sốt siếc, diễn văn diễn vung, Có khi nó nhấn mạnh

nghĩa phủ định hoặc có hàm ý khinh thường, mỉa mai hay đùa giỡn

Ví dụ: H c hiếc, hát hiếc

Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu khác công phu về dạng láynhư chúng tôi đã trình bày ở tr n Nhưng phải thừa nhận một thực tế là sựphân biệt từ láy và dạng láy của từ chưa có tác giả nào đưa ra dẫn chứng chặtchẽ và khoa học để chứng minh một cách có thuyết phục về sự phân biệt đó.Với những quan niệm về dạng láy trong sự phân biệt với từ láy, tuy các tác

giả có những lý giải ri ng nhưng những trường hợp láy đôi như: xanh xanh,

đo đỏ, đèm đẹp, và láy ba, láy tư như: khít khìn khịt, vội vội vàng vàng tại

sao lại là dạng láy của từ thì chưa ai giải th ch rõ được do những trường hợptrên giống từ láy hoàn toàn cả về hình thức cấu tạo lẫn ý nghĩa

Tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình Từ chỉ tồn tại dưới một hìnhthức duy nhất, có nghĩa là không tồn tại một hình thức biến dạng Việc đưa ra

sự đối lập từ với dạng thức của từ e rằng không phù hợp và lại còn lạm dụngnhiều phạm trù chỉ có ở trong ngôn ngữ Ấn - Âu Hơn nữa nếu quả thực trongcác hiện tượng láy, sự phân biệt từ láy và dạng láy có chấp nhận được đi nữathì điều đó cũng không giúp ch gì th m cho sự miêu tả Tiếng Việt và lại còn

có thể che lấp đi những cái chung hơn, bản chất hơn của đối tượng và gây ranhững rắc rối không đáng có Hơn nữa, đối với học sinh tiểu học thì sự phânbiệt từ láy và dạng láy chưa thực sự cần thiết trong sự nhận thức của các em

1.2.4.Phân biệt từ láy và từ ghép

Để hiểu biết hơn về từ láy và không nhầm lẫn giữa từ láy và từ ghép,chúng ta cần phân biệt từ láy và từ ghép

Trang 28

Từ láy là những từ được tạo ra từ phương thức láy, đó là phương thứclặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết của một hình vị hay một âm vị

có nghĩa Còn từ ghép lag từ được tạo ra từ phương thức ghép, bao gồm hai

âm tiết (hoặc hai hình vị trở lên) Trong đó hai âm tiết (hai hình vị) đều cónghĩa, có mối quan hệ với nhau về mặt ngữ nghĩa và mặt cú pháp

Cả từ láy và từ ghép đều có điểm giống nhau Trước hết, về hình thức,

chúng đều là những từ có hai âm tiết, có thể song tiết hoặc đa tiết như: h c sinh, trường h c, hợp tác xã, bách hóa tổng hợp,…(từ ghép); khấp khểnh, sạch sành sanh, kẽo cà kẽo kẹt,…(từ láy) Còn về nghĩa thì láy khái quát còn ghép tổng hợp từng bộ phận giống nhau như: Từ láy: tiệc tùng (tiệc nói chung), máy móc (máy nói chung); từ ghép: đồng áng (đồng nói chung), chợ búa (chợ nói chung)… đây hai bộ phận của từ ghép và từ láy giống nhau.

Ngoài sự giống nhau này thì giữa từ láy và từ ghép cũng có điểm khácbiệt Về cơ chế cấu tạo thì từ láy tạo ra từ phương thức láy; từ ghép tạo ra từphương thức ghép Từ láy bao gồm hai hình vị, trong đó chỉ có một hình vị cónghĩa và một hình vị không có nghĩa, trừ một trường hợp đặc biệt không xácđịnh được nghĩa; còn trong từ ghép thì cả hai hình vị đều có nghĩa

Ví dụ: Từ láy “nhanh nhẹn” thì bản thân nó có ý nghĩa chỉ mức độ của

sự dời chỗ Nếu tách riêng ra thì chỉ có hình vị nhanh có ý nghĩa; Từ ghép “ăn uống”, “quần áo”… thì cả hai hình vị đều có nghĩa khi tách ri ng ra.

Về mặt ý nghĩa thì từ láy thường tạo ra sự đồng nghĩa; còn từ ghép

thường có ý nghĩa khái quát, phân loại Ví dụ: từ láy “nhanh nhẹn” so với hình vị gốc “nhanh” đồng nghĩa với nhau; từ ghép “tàu thuyền” (mang ý nghĩa kh a quát chung); “cá rô”, “cá diếc”…mang ý nghĩa phân loại.

Từ ghép có số lượng nhiều hơn và thường được dùng trong ngôn ngữkhoa học vì nó đòi hỏi tính khái quát, chính xác cao Còn từ láy có tác dụngsắc thái hóa rất lớn, nó tạo hình ảnh và hình tượng bởi vậy được dùng nhiềutrong ngôn ngữ văn chương, nhất là trong thơ ca

Trang 29

Như vậy, ngoài sự giống nhau thì giữa từ láy và từ ghép cũng có nhữngđiểm khác biệt Chúng ta cần nhận biết sự khác biệt này để không nhầm lẫngiữa từ láy và từ ghép Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việcgiảng dạy bởi đối tượng của chúng ta là học sinh tiểu học Chúng ta nắm được

từ láy và phân biệt được với từ ghép để từ đó cung cấp và mở rộng vốn từ chocác em

1.2.5 Giá trị của từ láy

Do đặc điểm ngữ nghĩa như chúng ta vừa phân t ch ở tr n cộng với t nhcân đối hài hòa trong cấu tạo âm thanh của từ láy cho n n nó được sử dụngphổ biến trong hoạt động lời nói hàng ngày của người Việt cũng như trongcác loại hình văn học

Từ láy là sản ph m của văn hóa Việt Nam, cho n n ngay trong bộ phậnvăn học truyền miệng từ xưa tới nay từ láy đã xuất hiện rất nhiều, ti u biểu hơn

cả là trong thơ ca Bởi như chúng ta đã biết thơ là thể loại văn học giàu t nhnhạc điệu, giàu cảm xúc mà từ láy thì thường được v như những “nốt nhạc” về

âm thanh Vì vậy có thể xem từ láy là một công cụ quan trọng để tạo n n t nhnhạc, t nh họa trong bài thơ Nó làm cho những bài thơ càng th m mượt mà,cân đối và dễ đi vào lòng người Nhất là đối với các văn bản thơ trong tiểuhọc, từ láy là yếu tố quan trọng giúp các em li n tưởng thực tế hơn, sâu sắchơn thông qua đó các em sẽ tiếp nhận các bài học một cách chủ động hơn

1.2.5.1 iá trị gợi tả

Giá trị gợi tả của từ láy là khả năng làm cho người đọc, người nghe cảmthụ và hình dung được một cách cụ thể, tinh tế và sống động màu sắc, âmthanh, hình ảnh của sự vật mà từ biểu thị Cái khả năng ấy không dễ dàng nắmbắt và giải thích bằng lời lẽ rành mạch nhưng hiển nhi n là “Người bản ngữ tỏ

ra nhạy cảm hơn so với người nước ngoài dùng tiếng Việt” [24, tr.24] Khảnăng ấy không phải là kết quả của một sự cảm thụ chủ quan, có tính chất cá

Trang 30

nhân, mà là một thực tế khách quan, có tính chất xã hội, bắt nguồn từ bản chất

từ láy Như đã biết, từ láy là một phương thức cấu tạo từ mà trong đó có sứchòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa, tức là có một sự tương quan âm

- nghĩa nhất định Chính sự hòa phối hay mối tương quan âm - nghĩa này dướinhiều hình thức khác nhau, đã làm cho từ láy có sức gợi tả lớn Những hìnhthái biểu hiện chủ yếu của giá trị gợi tả của từ láy là: giá trị tượng thanh, giátrị tượng hình và giá trị gợi ý

1.2.5 1 iá trị tượng th nh

Giá trị tượng thanh thể hiện đặc biệt rõ ở các phỏng thanh Trong các từ

này, mối tương quan âm - nghĩa có t nh chất tự nhiên, trực tiếp như leng keng, huỳnh huỵch… Đó là những từ mô phỏng gần đúng âm thanh tự nhiên, bằng

những phương diện và quy tắc ngữ âm của tiếng Việt Sự mô phỏng này làdạng đơn giản nhất của sự biểu trưng ngữ âm vì sự biểu trưng này còn mangtính chất tự nhiên và trực tiếp Mối tương quan âm - nghĩa trong từ phỏngthanh là mối tương quan trực tiếp, âm đổi thì nghĩa đổi song không phải vì thế

mà giá trị gợi tả của nó giảm đi Trái lại, do từ láy phỏng thanh trong tiếngviệt chịu sự chi phối của quy tắc điệp và nối, do tiếng Việt là ngôn ngữ cóthanh điệu, nên những từ này có khả năng mi u tả âm thanh tự nhiên một cáchrất tinh tế trong sự đa dạng về đặc trưng của nó Hãy lấy những từ miêu tảtiếng trống làm ví dụ Không phải vô cớ mà người Việt lại có xu hướng chọn

dụng phụ âm đầu t/t, những cặp khuôn vần ung, om hoặc i , ung; i,

-om với thanh bằng,…để mô phỏng tiếng trống khác nhau:

thùng thùng thòm thòm/ tòm tom/ tom tom lùng tùng/ tùng tùng/ tung tung thì thòm/ thì thung

th nh th nh/ thùng th nh…

Trang 31

Ta thấy rằng, mỗi từ láy mô phỏng thanh như thế đều gợi tả một loại

tiếng trống với âm sắc, âm vực và âm điệu riêng biệt Thật vậy, bung - b p bung rõ là tiếng trống cơm; thùng thùng là tiếng trống cái, tiếng trống hội mùa, tiếng trống ra quân: “thùng thùng trống đánh ngũ li n”…(ca dao); tom tom… chỉ có thể là tiếng trống con và lùng tùng là tiếng trống trong hội ngày

xuân Cũng như vậy, tiếng chuông cũng được mô phỏng bằng nhiều từ khác

nhau ứng với những âm điệu riêng biệt của nó như: bi li (tiếng chuông nhà thờ), boong boong (tiếng chuông chùa), leng keng (tiếng chuông xích lô), kính coong (chuông xe đạp), leng reng (tiếng chuông điện)…

Như vậy, giá trị tượng thanh của những từ đang xét thể hiện ở khả năng

mô phỏng, hay gợi ta một cách tinh và hài hòa âm thanh tự nhiên trong sự đadạng về âm điệu, âm sắc của nó

1.2.5 1.2 iá trị tượng h nh

Giá trị tượng hình là hình thái biểu hiện cao và tinh tế của sự biểu trưng

hóa ngữ âm Ví dụ về các từ láy có giá trị tượng hình như: loằng ngoằn, lơ thơ, lác đác,… mối tương quan âm - nghĩa ở những từ láy này tuy không rõ

nét nhưng có giá trị tượng hình Những từ này “không phải là bắt chước, là

mô phỏng những tiếng kêu, tiếng động do một sự vật phát ra để gọi tên sự vật

ấy, nhưng ở đây vẫn có sự tương quan giữa mặt âm của từ với sự vật mà từ đóchỉ ra, chính mối tương quan này tạo nên sắc thái biểu cảm hay gợi ý của từ”[23, tr.23] Mối tương quan âm - nghĩa của từ láy là có thực: khi được cáchđiệu hóa, nó biểu hiện dưới hình thái biểu trưng hóa ngữ âm, khiến cho từ láy

có khả năng gợi ý gợi hình Sự sắc thái hóa nghĩa của từ láy không chỉ là biểuhiện của giá trị tượng hình mà còn là sự biểu hiện của giá trị gợi ý

Gắn liền với những giá trị này, còn có giá trị biểu cảm và màu sắc phongcách của từ, tức nói đến mặt thực dụng trong cơ cấu nghĩa của từ

Trang 32

1.2.5 2 iá trị biểu cảm

Giá trị biểu cảm của từ là khả năng diễn đạt thái độ đánh giá, tình cảmcủa người nói đối với sự vật, hay thuộc tính do từ biểu thị và cũng là khả năngkhơi dậy ở người nghe một thái độ đánh giá, một tình cảm tương ứng Thái độđánh giá hay sự thể hiện tình cảm lúc đầu chỉ là hiện tượng cá nhân mang tínhchất chủ quan nhưng dần chở thành hiện tượng xã hội, mang tính chất khách

quan Ví dụ: chói chang: “là một cảm giác khó chịu tác động vào bản thân mình như trời mưa năng gắt”; khỏe khoắn: “là dễ chịu, làm cho con người phấn khởi, thoải mái”; tròn trặn: là “tròn, gây cảm giác êm dịu khi nhìn, như

trăng rằm, mặt trời buổi sáng sớm” hoặc là “rất tròn, không gây ấn tượngxấu”…

Từ láy trong tiếng Việt có những phương tiện ri ng để biểu cảm, ví dụ:

các từ láy có khuôn vần - ăn thường biểu thị nghĩa tốt như: xinh xắn, khỏe khoắn, chín chắn…; các từ láy có khuôn vần -ơm thường biểu thị nghĩa xấu như: người ngợm, hay hớm, lì lợm… hay các từ láy có khuôn vần - iếc có sức sản sinh rất lớn trong việc tạo từ, bao giờ - iếc cũng đem vào nghĩa của từ nét đánh giá phủ định như: h c hiếc, đi điếc, tay tiếc…

Ví dụ về từ láy được dùng trong phong cách chính luận cũng như trong

phong cách khoa học là: bàn bạc, thu th p, song song, dần dần, nền nếp, sâu

Trang 33

sắc, rõ ràng, đúng đắn… Đó thường là những từ trung tính về giá trị biểu

cảm, được dùng chung cho nhiều phong cách Khi được dùng trong phongcách khoa học cũng như trong phong cách ch nh luận, từ láy góp phần làmcho lập luận chặt chẽ, ý tưởng được diễn đạt chính xác

Ví dụ: “…nếu muốn có một định nghĩa thật sự khoa học, thì rõ ràng làcần phải có sự điều chỉnh lại” [4, tr.14]…

Như vậy, từ láy có giá trị gợi tả, giá trị tượng thanh, tượng hình, giá trịbiểu cảm và giá trị phong cách Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tìm hiểu giátrị gợi tả, giá trị tượng thanh, giá trị tượng hình và giá trị biểu cảm của từ láytrong sử dụng; còn giá trị phong cách chúng tôi không đi sâu tìm hiểu, bởinhững từ láy trong các văn bản thơ lớp 2 - 5 tất nhiên sẽ thuộc phong cáchvăn chương

1.3 Đặc iểm của học sinh Tiểu học

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí

Đi học ở trường Tiểu học là bước ngoặt trong đời sống của trẻ Nhữngmối quan hệ mới với thầy cô giáo, với bạn bè cùng tuổi được hình thành Điều

đó tác động đặc biệt đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh Mộtvấn đề nổi bật nhất trong nhân cách của học sinh Tiểu học là đời sống tìnhcảm của các em Trẻ đang ở lứa tuổi ngây thơ, trong trắng, giàu cảm xúc, dễ

bị xúc động trước các hiện tượng xung quanh Các em dễ vui, dễ buồn, dễrung cảm… Sự nảy sinh tình cảm ở học sinh gắn liền với những tình huống cụthể với những hoạt động của trẻ Trạng thái tình cảm được bộc lộ khá rõ ràngqua ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, hành vi của các em Tình cảm trí tuệ đang hìnhthành và phát triển, các em dần biết chăm lo cho kết quả học tập, biết thể hiện

sự hài lòng hay không hài lòng với kết quả của mình lứa tuổi này trẻ rấtham hiểu biết, th ch khám phá để tìm cái mới lạ trong thế giới tự nhiên và xãhội gần gũi xung quanh Tình cảm đạo đức và tình cảm th m mĩ cũng được

Trang 34

thể hiện khá rõ nét thông qua tình cảm bạn bè, tình cảm thầy trò, tình cảm tậpthể, tình cảm ham th ch cái đẹp Việc tổ chức tốt đời sống và hoạt động tậpthể cho học sinh tiểu học là điều kiện quan trọng để hình thành và phát triểnnhân cách cho các em Ý chí của các em cũng đang hình thành và phát triển.Tuy nhiên những ph m chất ý chí của các em như t nh kiềm chế, độc lập, tựchủ, tính kiên trì còn yếu Các em chưa đủ khả năng theo đuổi lâu dài mục

đ ch đã đề ra, chưa ki n trì khắc phục khó khăn và trở ngại Khi gặp thất bạicho các em có thể mất lòng tin vào sức lực và khả năng của mình Tính cáchcủa học sinh mới chỉ được hình thành Điểm nổi bật nhất trong tính cách củacác em là t nh xung đột - khuynh hướng hành động ngay tức khắc do ảnhhưởng của các kích thích trực tiếp trong tính cách của các em có nhiều mâuthuẫn và chưa bền vững Tóm lại, ở lứa tuổi này dưới ảnh hưởng chủ đạo củaviệc giảng dạy, việc giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội và tổ chức đoàn

- đội, sự phát triển tâm lí, nhân cách của các em đang diễn ra mạnh mẽ

1.3.2 Phát triển tri giác

Cuối tuổi mẫu giáo và đầu tuổi tiểu học, trẻ em đã hình thành và pháttriển một dạng tri giác mới có chất lượng cao hơn tri giác thông thường là:Quan sát Quan sát phát triển mạnh mẽ trong suốt quá trình học phổ thông,Thông qua các giờ học, lúc đầu giáo viên chỉ ra cho học sinh các biện pháp trigiác; sau đó, học sinh tự tổ chức, tự tổ chức, tự vạch ra nội dung, kế hoạch,phương tiện tri giác và thực hiện tri giác một cách có kết quả

1.3.3 Phát triển chú ý

Trước tuổi đến trường, chú ý có chủ định của trẻ còn hạn chế Trẻ chủyếu chú ý đến các thuộc tính nổi bật, rực rỡ và khác thường Vào tuổi họcsinh, trẻ buộc phải theo dõi các đối tượng, phải nắm lấy những hiểu biết màtại thời điểm đó trẻ hoàn toàn không thích thú Dần dần, trẻ học cách điềukhiển và duy trì chú ý một cách bền vững đến những đối tượng cần thiết chứ

Trang 35

không phải là những đối tượng có sự hấp dẫn bề ngoài Phương hướng chungcủa sự phát triển chú ý ở trẻ là từ chỗ đạt mục đ ch do giáo vi n đặt ra, chuyểnsang việc giải quyết các nhiệm vụ do chính trẻ tự đặt ra và tự kiểm soát.

1.3.4 Phát triển trí nhớ

Thời gian đầu tiểu học, học sinh ghi nhớ và khôi phục nguy n văn các sựkiện của tài liệu Phương thức phổ biến nhất là nhắc lại nhiều lần tài liệu Đếngiữa lớp 1 và sang lớp 2, đa số học sinh đã biết ghi nhớ dựa tr n cơ sở hiểunghĩa (ghi nhớ ý nghĩa); biết phân chia tài liệu nhớ thành từng ý (lập dàn ý).Phương thức hiệu quả này của việc ghi và tái hiện tài liệu của học sinh khôngphải do ngẫu nhiên, mà do trẻ học được ở trường dưới sự hướng dẫn của giáoviên Cùng với việc hình thành các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa và tự kiểm tra,trí nhớ chủ định của trẻ (phổ biến từ học sinh lớp 2 -3) phát triển và mang lạihiệu quả hơn tr nhớ không chủ định Nói cách khác, ở nhi đồng đã mang lạihiệu quả hơn tr nhớ không chủ định Nói cách khác, ở nhi đồng đã diễn ra sựbiến đổi căn bản về mặt tâm lí trong bản thân các quá trình trí nhớ từ lớp 1đến lớp 4 - 5

1.3.5 Phát triển tưởng tượng

Khả năng tưởng tượng của nhi đồng đã có sự chuyển biến cơ bản vàđược phát triển theo hai hướng: Thứ nhất, phát triển khả năng tưởng tượng táitạo từ đầu cấp đến cuối cấp tiểu học giai đoạn đầu (lớp 1), trẻ tái tạo gầnđúng đối tượng thực nhưng các chi tiết, các sự kiện còn nghèo nàn (trẻ hay bỏsót nhiều chi tiết), các hình ảnh được cấu trúc thường ở dạng tĩnh Trẻ chỉhình dung các trạng thái đầu và cuối của đối tượng đang vận động Sang giaiđoạn sau (từ lớp 2 và 3), số lượng các chi tiết, các sự kiện được tái tạo đã tăng

l n đáng kể Trẻ hình dung được khá đầy đủ các trạng thái trung gian trong cảquá trình vận động của đối tượng, dù chúng được bộc lộ trực tiếp hay ngầm

n Trong học tập, trẻ đã có thể làm cả một bài văn khá dài theo chủ đề do

Trang 36

giáo viên yêu cầu Thứ hai, tính chủ định trong tưởng tượng của trẻ đã biết táitạo cho mình các hình ảnh tùy theo tính chất bài dạy của giáo viên và của tàiliệu từng môn học Đồng thời các em đã biết huy động tr tưởng tượng tái tạo

và việc sáng tạo ra các ý tưởng, hình ảnh - tức là dựa vào tưởng tượng tái tạo

để phát triển tưởng tượng sáng tạo

1.3.6 Phát triển tư duy

Tư duy của nhi đồng thường mang t nh đột biến, nhảy vọt: Chuyển từ tưduy tiền thao tác sang tư duy thao tác Trong giai đoạn mẫu giáo và đầu tiểuhọc, tư duy của trẻ chủ yếu diễn ra trong trường hành động: Hành động thực

tr n đồ vật và hành động tri giác, hành động kí hiệu hóa - đó là tư duy tiềnthao tác Thực chất của loại tư duy này là trẻ em tiến hành các hành động đểphân t ch, so sánh, đối chiếu các sự vật, các hình ảnh về sự vật Về bản chất,trẻ chưa có các thao tác tư duy - với tư cách là các thao tác tr óc b n trong.iai đoạn tiếp theo (thường có ở đa số học sinh lớp 3 -4), trẻ đã chuyển đượccác hành động phân t ch, so sánh, khái quát…từ bên ngoài thành các thao táctrí óc bên trong, mặc dù quá trình tiến hành các thao tác này vẫn phải dựa vàocác hành động với đối tượng thực, thực thoát li khỏi chúng Đó là các thao tác

cụ thể Biểu hiện rõ nhất của bước phát triển này trong tư duy của nhi đồng làcác em đã có khả năng đảo ngược các hình ảnh tri giác, khả năng bảo tồn sựvật khi có sự thay đổi các hình ảnh tri giác về chúng

Sự phát triển tư duy của trẻ lứa tuổi nhi đồng đặt ra hai vấn đề trong dạyhọc: Thứ nhất, ở mức độ thao tác cụ thể, quá trình tư duy của trẻ diễn ra

trên

cơ sở các hành động trực quan (hành động thực đối tượng hoặc quan sát đốitượng) Vì vậy, để tạo thuận lợi cho trẻ tư duy, cần tổ chức cho các em làmviệc trực tiếp với đối tượng nhận thức, qua đó quan sát đầy đủ đối tượng theonhiều mức độ, nhiều trạng thái biến đổi của nó Đây ch nh là cơ sở tâm lí họccủa dạy học trực quan

Trang 37

Thứ hai, có khoảng cách khá lớn giữa mức độ tiền thao tác với mức độthao tác cụ thể trong quá trình phát triển tư duy của trẻ Các em thường gặpkhó khăn, hẫng hụt trong quá trình chuyển từ mức độ tư duy tiền thao tác lên

tư duy thao tác cụ thể Tức là khó khăn trong quá trình chuyển hành động tưduy ở b n ngoài thành thao tác b n trong Để khắc phục khó khăn này, họcsinh phải sử dụng hành động mô hình hóa ô hình hóa là bước đệm, là giaiđoạn chuyển tiếp từ hành động bên ngoài thành thao tác bên trong Trong thựctiễn, dạy cho học sinh biết cách sử dụng phương pháp mô hình hóa, biết cáchxây dựng các mô hình và phát triển mô hình là biện pháp tốt nhất để trợ giúphọc sinh lấp được khoảng trống trong quá trình chuyển từ tư duy tiền thao táclên mức thao tác

Trang 38

âm có giá trị biểu trưng hoá.

Chúng tôi cũng tiến hành thống kê một số vấn đ li n quan tới từ láy nhưcác quan niệm về từ láy của nhiều tác giả, cũng như phân loại về từ láy qua đógiúp người đọc hiểu rõ hơn về khái niệm của từ láy một cách bao quát hơn, đachiều hơn

Qua việc nghiên cứu đặc điểm của học sinh tiểu học như đặc điểm vềtâm lý, về nhận thức, tri giác, chú ý, trí nhớ,tưởng tượng, tư duy chúng tôinhận thấy, đa số giáo vi n đều nắm được quá trình nhận thức của học sinh qua

đó có cách dạy đúng đắn phù hợp với giai đoạn phát triển của học sinh

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ GIÁ TRỊ CỦA TỪ LÁY QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG SÁCH GIÁO

KHOA TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC 2.1 Vai trò của vi c xác ịnh từ láy và giá trị của từ láy trong môn Ti ng

Vi t ở tiểu học

Từ láy là một trong ba loại từ được phân loại theo đặc điểm cấu tạo.Trong vốn ngôn ngữ người Việt, từ láy có số lượng khá lớn với số lượng tiêubiểu nhất là các từ láy đôi thuộc về nhiều tiểu loại khác nhau Thấy được sốlượng cũng như vai trò to lớn của từ láy, các nhà khoa học trong quá trìnhTiếng Việt đã đưa nội dung này vào chương trình S K bậc tiểu học Việcphát triển vốn từ cho học sinh tiểu học không phải chỉ được thực hiện trongphân môn Luyện từ và câu mà còn được tích hợp ở tất cả các phân mônkhác Việc xác định được các từ láy chỉ là bước đầu tiên trong quá trìnhchiếm lĩnh ngôn ngữ, bước quan trọng thứ hai chính là việc học sinh biếtcách phân tích giá trị của từ láy Học sinh nhận thức cũng như biết cáchphân tích giá trị của từ láy là một phương tiện quan trọng trong việc pháttriển ngôn ngữ Năng lực ngôn ngữ của chủ thể có được là kết quả của nhiềuđường k nh và phương tiện khác nhau.Trong vốn từ của học sinh phải là sựxuất hiện của đầy đủ các từ thuộc các loại khác nhau Khi người học biếtcách xác định từ láy và giá trị của từ láy thì bản thân chủ thể sẽ nhận thứcđược vai trò quan trọng của các từ láy đối với việc chiếm lĩnh nội dung củacác văn bản văn chương Thông qua đó, năng lực ngôn ngữ của học sinh sẽđược tăng cường cả về chất và lượng Học sinh có vốn từ phong phú cả vềchiều rộng và chiều sâu là căn cứ quan trọng để học sinh củng cố các kĩ năngngôn ngữ của mình Mặt khác, từ láy cũng tham gia quan trọng vào quá trình

tư duy của người học Câu là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ được dùng để tạo

n n các đơn vị lớn hơn và cũng là đơn vị quan trọng của hoạt động giao tiếp

Trang 40

bằng ngôn ngữ Và để tạo nên câu cần phải có các từ, vì vậy từ láy cũngchính là một trong các chất liệu để tạo thành câu.

Tóm lại, việc nhận thức từ láy cũng như việc biết cách phân tích giá trịcủa từ láy là một vấn đề quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ nói chung

và việc khám phá các tác ph m văn học nói riêng Có thể xem đây là một việc

cơ bản và quan trọng đối với việc hình thành các năng lực ngôn ngữ và khảnăng tư duy cho học sinh

2.2 Từ láy và giá trị của từ láy trong sách giáo khoa Ti ng Vi t tiểu học

2.2.1 Từ láy

Như đã trình bày, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của từ láy trongđời sống cũng như trong văn học Nhưng trong toàn bộ chương trình Tiểuhọc, học sinh chỉ được học về từ láy lớp 4, còn ở các khối khác thì từ láy vàgiá trị từ láy được dạy ở dạng một số dấu hiệu nhận biết mà chưa cung cấp gì

về khái niệm Trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4, từ láy được dạy trong 2

tiết Luyện từ và câu (tập một) với các dạng bài tập sau:

- Bài tập cấu tạo: yêu cầu quan sát ví dụ, trả lời câu hỏi để từ đó hìnhthành khái niệm về cấu tạo từ láy (phần Nhận xét, TV 4, T1, tr.38)

- Bài tập nhận diện và tái hiện:

* Bài 1 (TV4, T1, tr.39): Hãy xếp những từ phức được in nghiêng trongcác câu dưới đây thành hai loại: từ ghép và từ láy Biết rằng những tiếng inđậm là tiếng có nghĩa:

a) Nhân dân ghi nhớ công ơn Chử Đổng Tử, lập đền thờ ở nhiều nơi b n

sông Hồng Cũng từ đó hằng năm, suốt mấy tháng mùa xuân, cả một

vùng bờ bãi sông Hồng lại nô nức làm lễ, mở hội để tưởng nhớ ông.

(Theo Hoàng Lê)

b) Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn Rồi tre lớn lên, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc Tre trông thanh cao, giản dị, ch kh như

người

(Thép Mới)

Ngày đăng: 24/01/2019, 22:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đào Duy Anh (1974), Từ điển Truyện Kiều, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Truyện Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1974
[2] Diệp Quang Ban (chủ biên) (2005), Ng pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ng pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tiếng Việt lớp 2 - lớp 5, Nxb Giáo dục VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt lớp 2 - lớp 5
Nhà XB: Nxb Giáo dục VN
[4] Nguyễn Tài C n (1999), Ng pháp tiếng Việt, Nxb ĐHQ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ng pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài C n
Nhà XB: Nxb ĐHQ Hà Nội
Năm: 1999
[5] Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ng tập I, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
[6] Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ng tập II, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
[7] Đỗ Hữu Châu (1971), “Cách xử lí các hiện tượng trung gian trong ngôn ngữ”, Tạp chí Ngôn ng số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách xử lí các hiện tượng trung gian trong ngônngữ”, "Tạp chí Ngôn ng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1971
[8] Đỗ Hữu Châu (1974), “Trường từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác ph m nghệ thuật”, Tạp chí Ngôn ng số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữtrong tác ph m nghệ thuật”, "Tạp chí Ngôn ng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1974
[9] Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ng nghĩ tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ng nghĩ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1981
[10] Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1986
[11] Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ng nghĩ tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ng nghĩ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
[12] Trịnh Bá Dĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh,…(2002), Nguyễn Du tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du tácgia tác phẩm
Tác giả: Trịnh Bá Dĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh,…
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
[14] Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nh n dạng từ tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nh n dạng từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1996
[15] Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng h c Tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng h c Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
[16] Hoàng Văn Hành (1979), “Về một hiện tượng láy trong tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ng số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một hiện tượng láy trong tiếng Việt”, "Tạpchí Ngôn ng
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1979
[17] Phan Văn Hoàn (1985), “Từ láy trong tiếng việt và sự cần thiết phải nhận diện nó”, Tạp chí Ngôn ng số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ láy trong tiếng việt và sự cần thiết phải nhậndiện nó”, "Tạp chí Ngôn ng
Tác giả: Phan Văn Hoàn
Năm: 1985
[18] Hoàng Văn Hành (1985), Từ láy trong tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ láy trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1985
[20] Hồ Lê (1973), Về sự phân biệt từ ghép song song trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự phân biệt từ ghép song song trong tiếng Việt hiệnđại
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1973
[21] Nguyễn Thị ương (1996), “Trở lại vấn đề phân biệt từ đơn, từ láy, cụm từ trong tiếng Việt”, Tạp chí Giáo dục Tiểu h c số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở lại vấn đề phân biệt từ đơn, từ láy, cụmtừ trong tiếng Việt”, Tạp chí "Giáo dục Tiểu h c
Tác giả: Nguyễn Thị ương
Năm: 1996
[22] Phương ựu (2006), Lí lu n văn h c, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí lu n văn h c
Tác giả: Phương ựu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w