Hơn các loại hình báo chí khác, báo điện tử đã mạnh dạn phản ánh tất cả những biểu hiện của vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt.. Lịch sử nghiên c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
CAO LỆ QUYÊN
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG BIỂU TƯỢNG, SẢN PHẨM LINH VẬT KHÔNG PHÙ HỢP VỚI VĂN HÓA
VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
CAO LỆ QUYÊN
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG BIỂU TƯỢNG, SẢN PHẨM LINH VẬT KHÔNG PHÙ HỢP VỚI VĂN HÓA
VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Hoài Sơn -Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Cao Lệ Quyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giảng viên Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - ĐHQG Hà Nội đã giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình theo học chương trình Cao học Báo chí, niên khóa 2014-2016
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo - PGS.TS Bùi Hoài Sơn đã tận
tâm hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn đến quý lãnh đạo và các anh chị phóng viên của báo điện
tử Vnexpress, Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ Quốc, Đài Tiếng nói Việt Nam; Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Mỹ thuật Nhiếp ảnh và Triển lãm cảm ơn các anh/chị giúp tôi trong quá trình nghiên cứu, khảo sát
Xin gửi lời cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, chia sẻ khó khăn và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Cao Lệ Quyên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài 4
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 8
7 Kết cấu luận văn 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU BÁO ĐIỆN TỬ VỀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG BIỂU TƯỢNG, SẢN PHẨM LINH VẬT KHÔNG PHÙ HỢP VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM 10
1.1 Báo điện tử 10
1.1.1 Khái niệm 10
1.1.3 Vai trò và chức năng của báo điện tử 16
1.2 Một số khái niệm về văn hóa và biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Nam 18
1.2.1 Khái niệm về Văn hóa Việt; Di sản văn hóa Việt 18
1.2.2 Khái niệm về biểu tượng, sản phẩm linh vật phù hợp với văn hóa Việt 20
1.3 Vai trò của báo điện tử trong việc thông tin về vấn đề văn hóa 23
Tiểu kết 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BÁO ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ SỬ DỤNG BIỂU TƯỢNG, SẢN PHẨM, LINH VẬT KHÔNG PHÙ HỢP VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM Khảo sát 03 báo điện tử VnExpress, Tổ Quốc và Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh 32
2.1 Khái quát về các báo điện tử khảo sát 32
2.2 Thực trạng báo điện tử với vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Nam 36
2.2.1 Hình thức 37
2.2.2 Nội dung 46
Trang 62.2.3 Đánh giá của công chúng 54
2.3 Ðánh giá hiệu quả của BĐTvới việc thông tin về vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt 60
Tiểu kết 74
CHƯƠNG 3: KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP CHO BÁO ĐIỆN TỬ TRONG VIỆC THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG BIỂU TƯỢNG, SẢN PHẨM, LINH VẬT KHÔNG PHÙ HỢP VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM 76
3.1 Một số vấn đề đặt ra đối với BĐT trong việc thông tin về vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Nam 76
3.2 Khuyến nghị và giải pháp 77
3.2.1 Giải pháp cho ngành văn hóa và các làng nghề trong việc sử dụng biểu tượng, sản phẩm, linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Nam 77
3.2.2 Về hình thức thể hiện 80
3.2.3 Về nội dung 88
Tiểu kết 90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 98
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Stt Ký hiệu, viết tắt Tên đầy đủ
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Nghê Việt tại đình Lâu Thượng - Phú Thọ thế kỷ XVIII 22
Hình 1.2 Sư tử đá Trung Quốc tại Viện kiểm sát Hạ Long, Quảng Ninh 23
Hình2.1 Giao diện Báo điện tử Vnexpress 32
Hình2.2 Giao diện Báo điện tử Tuổi trẻ 34
Hình2.3 Giao diện Báo điện tử Tổ Quốc 35
Hình2.4 Sư tử đá tạo hình của Trung Quốc được đặt trước vườn tháp ở di tích chùa cổ Chân Tiên (phố Bà Triệu, Hà Nội) Ảnh: Quý Đoàn 39
Biểu đồ 2.5 Khảo sát độc giả về hình thức thể hiện tác phẩm báo chí 40
Hình2.6 Hình thức đọc báo online của tuoitre.vn 41
Hình2.7 Tag được sử dụng trên báo Tuổi trẻ 42
Hình2.8 Tag được sử dụng trên báo Tổ Quốc 42
Hình2.9 Công chúng tương tác với công chúng trên báo Vnexpress 45
Biểu đồ 2.10 Khảo sát độc giả về nội dung thông tin liên quan đến vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt 46
Hình 2.11 Ý kiến bạn đọc trên BĐT Vnexpress 48
Hình 2.12 Công ty Vạn Bảo Ngọc (Ninh Bình) sản xuất các sản phẩm lưu niệm qua hình tượng linh vật Việt 51
Hình 2.13 Tượng Khỉ bộ “tam không” thời Lý thế kỷ thứ 1 -13 52
Hình 2.14 Tượng rồng bằng vàng thời Nguyễn, thế kỷ 19-20 52
Hình 2.1.5 Hình sư tử ngoại lai được bứng ra khỏi di tích 52
Hình 2.16 Linh vật nghê cổ bằng đá đen ở Cửa Hiển Nhơn của hoàng thành Huế 53 Hình 2.17 Sư tử đá trước điện Thiên An Môn, Bắc Kinh, Trung Quốc 53
Biểu đồ 2.18 Khảo sát độ tuổi độc giả 55
Biểu đồ 2.19 Khảo sát nghề nghiệp của độc giả 56
Biểu đồ 2.20 Khảo sát trình độ văn hóa của độc giả 56
Biểu đồ 2.21 Khảo sát về hiểu biết của độc giả về khái niệm biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt 57
Biểu đồ 2.22 Khảo sát mức độ quan tâm của độc giả 58
Trang 9Biểu đồ 2.23 Khảo sát mức độ truy cập thông tin của độc giả 59
Biểu đồ 2.24 Về nội dung thể hiện các thông tin trên báo điện tử 60
Hình 2.25 Tượng sư tử bằng đá của Việt Nam thế kỷ 11-12 tại chùa Bà Tấm, Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội 63
Hình 2 26 Website mô phỏng những linh vật Việt được 3D 65
Hình 2.28 Thứ hạng của báo điện tử Vnexpress 66
Biểu đồ2.29 Số lượt truy cập báo điện tử Vnexpress 6 tháng gần nhất 67
Biểu đồ 2.30 Nguồn truy cập đến từ các site liên kết của vnexpress.net 67
Biểu đồ 2.31 Nguồn đem lại truy cập đến website vnexpress.net 68
Biểu đồ 2.32 Nguồn truy cập đến từ mạng xã hội vnexpress.net 68
Hình 2.33 Thứ hạng của báo điện tử tuoitre.vn 69
Biểu đồ 2.34 Số lượng truy cập vào website Tuoitre.vn 69
Biểu đồ 2.35 Nguồn đem lại truy cập đến website Tuoitre.vn 69
Hình 2.36 Nguồn truy cập đến từ site liên kết Tuoitre.vn 70
Biểu đồ 2.37 Nguồn truy cập đến từ mạng xã hội Tuoitre.vn 70
Hình 2.38 Thứ hạng của website toquoc.vn 72
Biểu đồ 2.39 Số lượt truy cập website toquoc.vn 6 tháng gần nhất 73
Biểu đồ 2.40 Nguồn đem lại truy cập đến website toquoc.vn 73
Hình 2.41 Nguồn truy cập đến từ site liên kết Toquoc.vn 73
Biểu đồ 2.42 Danh mục quan tâm của người truy cập website toquoc.vn 74
Biểu đồ 3.1 khảo sát về cải thiện hình thức thể hiện bài viết 80
Biểu đồ 3.2 Khảo sát về cải thiện nội dung của bài viết 87
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Báo chí là một loại hình truyền thông đại chúng có vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội hiện đại Chức năng cơ bản của báo chí là cung cấp thông tin một cách nhanh chóng, chính xác, khách quan về mọi mặt của đời sống tới mọi tầng lớp công chúng Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về thông tin càng tăng lên cũng như đa dạng, phong phú hơn Có thể thấy, chủ thể nào kiểm soát được thông tin, sử dụng truyền thông một cách hợp lý thì sẽ đạt được hiệu quả tốt nhất trong hoạt động của mình
Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế, sự phát triển của công nghệ khoa học đã phá vỡ khái niệm về không gian, thời gian, góp phần vào việc thúc đẩy xã hội phát triển trên nhiều lĩnh vực Bởi vậy những giá trị về văn hóa dân tộc là “món
ăn tinh thần” không thể thiếu đối với xã hội đương đại và cũng là một trong những nội lực to lớn để phát triển đất nước Tuy nhiên, một thực trạng đáng báo động là việc nghiên cứu, tìm tòi và phát triển văn hóa dân tộc đang bị xem nhẹ và đặc biệt là thế hệ trẻ Các vấn đề văn hóa dân tộc càng cần phải hiểu rõ và truyền thông đúng mực nhất đến với công chúng qua quá trình lâu dài cùng cái nhìn khách quan đa chiều Cần có sự nghiên cứu đồng bộ, cụ thể từ kiến thức nền đến định hướng và dự báo cho công chúng
Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du Lịch năm 2014 trên 6000 di tích Việt đều tồn tại những hiện vật lạ là sản phẩm, biểu tượng, linh vật không đúng với văn hóa Việt và vi phạm nghiêm trọng luật Di sản Riêng địa bàn
Hà Nội có 538 di tích thì 538 đều có linh vật sư tử đá
Trong khi thu thập tài liệu, tìm hiểu và nâng cao hiểu biết để chuẩn bị cho đề tài luận văn này về linh vật ngoại lai, tôi đã tìm về tỉnh Ninh Bình nơi có làng đá Ninh Vân Cùng với làng đá Non Nước, Đà Nẵng thì làng đá Ninh Vân nổi tiếng là một trong những cái nôi sản xuất sư tử đá kiểu Trung Quốc lớn nhất Việt Nam Vài năm trở lại đây, sư tử đá kiểu Trung Quốc và một số mẫu linh vật ngoại lai bán chạy nhất Người ta mua về cung tiến vào đình chùa, đặt trước cửa cơ quan, công sở, nhà riêng Nhiều người quản lý chùa, người cung tiến hoặc thợ tạc đá khi được hỏi thì khẳng định sư tử đá kiểu Trung Quốc là con Nghê của Việt Nam Cùng trong chuyến đi, tôi đến thăm đền Vua Đinh, có thể nói đây là “vương quốc” của Nghê - những linh vật Việt tuyệt đẹp, Nghê chầu phía ngoài lăng, chầu trong lăng, Nghê ở
Trang 11trên mái, ở trên trụ cao… Hiện hữu rất nhiều nhưng khách tham quan không biết và không để ý đến, hướng dẫn viên cũng không thấy giới thiệu cho du khách Hỏi một
du khách trẻ có biết đó là con gì, bạn ấy cũng không biết
Một linh vật mang trong mình những gửi gắm sâu sắc về triết lý nhân sinh của cha ông, có lịch sử tồn tại hàng thế kỷ và đến nay vẫn tồn tại, “hữu hình” mà không khác nào “vô hình” Nghê - linh vật vô cùng đặc biệt của văn hóa Việt Nam
bị chính người Việt không những lãng quên mà còn bị nhầm lẫn Là người làm trong lĩnh vực báo chí, tôi gọi đây là một ví dụ điển hình của việc bị “cắt đứt” phũ phàng thông điệp truyền thông, một sự đứt đoạn đáng “báo động” của sự tiếp nối văn hóa truyền thống giữa các thế hệ, giữa lịch sử và hiện tại Bởi vì sự cắt đứt với văn hóa truyền thống khiến người ta không hiểu được những thông điệp của quá khứ Đây chính là một trong những nguyên nhân lớn tạo ra sự mất bản sắc văn hóa Nguyên nhân nào khiến cả một cộng đồng cùng lãng quên một biểu tượng văn hóa quan trọng trong truyền thống dân tộc?
Tuy nhiên, trước thực trạng ở nhiều địa phương trưng bày, sử dụng biểu tượng, vật phẩm, linh vật (sư tử bằng đá và một số vật phẩm khác) theo tạo hình, hình thức không phù hợp với văn hóa Việt Nam ở cổng, cửa, khu di tích, đình, chùa, công sở cơ quan, đơn vị gây phản cảm về thẩm mỹ, văn hóa, tâm linh ở những nơi công cộng Qua quá trình truyền thông đa chiều và nhiều khía cạnh về những hiện vật lạ Ngày 08 tháng 8 năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành công văn số 2662/BVHTTDL-MTNATL về việc không sử dụng biểu tượng, sản phẩm, linh vật không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam Lần đầu tiên, sự hưởng ứng mạnh mẽ của dư luận và xã hội đối với một chủ trương của Bộ VHTT&DL lại trở thành một sự kiện nổi bật trong năm và được bình chọn là top 10
sự kiệnvăn hóa thể thao du lịch năm 2014
Trong bảng xếp hạng 10 sự kiện nổi bật năm 2014 thì “việc dư luận ủng hộ chủ trương của Bộ VHTT&DL trong việc khuyến cáo, ngăn chặn và loại bỏ các hiện vật ngoại lai không phù hợp tại các di tích lịch sử văn hóa, công sở, nơi công cộng” chỉ đứng sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Khóa 11 (Nghị quyết 33-NQ/TW) về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam và Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình) cùng Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa nhân loại Điều đó thêm một
Trang 12lần nữa khẳng định rằng, một chủ trương đúng đắn hợp lòng dân thì sẽ luôn được
dư luận và truyền thông báo chí đón nhận Chúng ta không nên chần chừ trước những điều tốt đẹp vì lợi ích chung của dân tộc, của đất nước
Đây cũng là công văn được báo chí ủng hộ Hầu hết các báo đều ưu ái dành đất cho các bài viết liên quan đến việc thực hiện công văn 2662, đăng tải nhiều ý kiến của các chuyên gia và vẻ đẹp của linh vật Việt cũng như đóng góp những thông tin hữu ích cho cơ quan chức năng để việc thực thi được hiệu quả hơn
Qua đó càng khẳng định hơn được mối quan hệ chặt chẽ giữa báo chí và văn hóa Từ thời cận đại đến hiện đại nhất là phương tiện truyền thông như báo chí đã truyển tải, phổ cập và nâng cao văn hóa cho quần chúng Nếu phương tiện này truyền thông một cách đúng đắn sẽ nâng cao giá trị văn hóa cho cộng đồng; một cộng đồng có nền tảng văn hóa chắc chắn có thể chống lại được văn hóa ngoại lai
và văn hóa suy đồi và đặc biệt hơn cả là báo chí cách mạng
Cùng với chặng đường phát triển của nền văn hóa, báo chí cách mạng Việt Nam đã thể hiện vai trò to lớn trong việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc Nhiều báo, đài đặc biệt là các BĐT
đã có các chuyên trang, chuyên mục về văn hóa để người dân có những kiến thức nhất định cho việc ứng xử có văn hóa với các sản phẩm, biểu tượng, linh vật Việt Hơn các loại hình báo chí khác, báo điện tử đã mạnh dạn phản ánh tất cả những biểu hiện của vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Những tờ BĐT đã nêu lên những hạn chế, thiếu sót, thậm chí là yếu kém, tiêu cực còn tồn tại trong công tác quản lý, năng lực của cán bộ ngành văn hóa tự nhìn nhận, đánh giá và tìm những giải pháp khắc phục, đấu tranh đẩy lùi tiêu cực, nâng cao hơn nữa giá trị nhân văn sâu sắc và yếu tố tâm linh
Tuy BĐT là loại hình báo chí ra đời muộn nhất trong hệ thống báo chí nước
ta nhưng báo điện tử đã nắm giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng BĐT với sự kế thừa sức mạnh kết hợp của tất
cả những loại hình báo chí truyền thống, tích hợp với công nghệ mới đã tạo ra những đột phá trong quá trình truyền tin và tiếp nhận thông tin
Xuất phát từ tình hình thực tế và những nguyên nhân nêu trên tác giả với mong muốn làm rõ mối liên hệ giữa vai trò của báo chí trong tuyên truyền để ngành văn hóa có thái độ quan tâm đúng mực hơn trong việc chấn chỉnh giúp giảm thiểu,
Trang 13khắc phục vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Đồng thời cũng nâng cao hơn nữa nhận thức, hiểu biết và trách nhiệm của những người làm báo về văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập Đề tài tập trung vào việc khảo sát các bài viết liên quan đến sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt trọng tâm là thông tin về linh vật Việt và sư tử đá Trung Quốc trên 3 BĐT Vnexpress, Tổ Quốc và Tuổi trẻ thời gian từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 12 năm 2016
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tại Việt Nam, nghiên cứu về biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với Văn hóa Việt Nam trong công tác truyền thông và hoạt động báo chí từ khoảng
10 năm trở lại đây đã trở thành mối quan tâm của rất nhiều học giả Có thể tìm thấy rất nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, khóa luận, bài báo khoa học, tham luận hội nghị…tập trung vào các vấn đề liên quan Các nghiên cứu có liên quan tới đề tài này thường nằm trong hai nhóm: Nhóm các nghiên cứu về văn hóa và nhóm các nghiên cứu về báo chí với văn hóa
Một số tác phẩm như: Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa Việt Nam -
Các Con Vật Linh (Tập 3), Nxb Tri thức, Hà Nội của PGS.TS Đinh Hồng Hải
(2012) Khái quát nội dung về quá trình giao lưu với các nền văn minh lớn trên thế giới như Trung Hoa, Ấn Độ và phương Tây, nền văn hóa Việt Nam đã tích hợp thêm nhiều giá trị văn hóa từ các quốc gia đó và Việt hóa các con vật linh có nguồn gốc bên ngoài thành các biểu tượng của riêng mình Qua đó, chúng ta có thể định danh các con vật linh là những con vật linh thiêng (có thực hoặc hư cấu) gắn với truyền thống văn hóa và tín ngưỡng của một cộng đồng dân cư, được thiêng hóa thành những biểu tượng của cộng đồng đó hay nền văn hóa đó
Còn cuốn sách Phác họa Nghê gã linh vật bên rìa (nhìn từ đền Vua
Đinh,Vua Lê) Nxb Thế giới của nhóm tác giả Trần Hậu Yên Thế - Nguyễn Đức Hòa
- Hồ Hữu Long (2017) cung cấp tư liệu hình ảnh, những bản đạc họa, sơ đồ, phác thảo ban đầu chân dung một linh vật quan trọng bậc nhất của người Việt
Bên cạnh đó, nhiều đề tài luận văn, khóa luận tốt nghiệp trong nước nghiên cứu về đề tài văn hóa và báo điện tử liên quan đến văn hóa như:
Trang 14Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu phân loại linh vật Việt trong các di tích tôn giáo -
tín ngưỡng xếp hạng quốc gia trên địa bàn thành phố Hà Nội” do PGS.TS Nguyễn
Văn Tiến chủ trì Đề tài cung cấp cho người đọc thực trạng sử dụng các biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt tại các di tích xếp hạng quốc gia trên địa bàn Hà Nội
Bài viết chuyên đề của PGS.TS Đinh Hồng Hải (2014), Biểu tượng“con
Nghê” trong văn hóa Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, số 138, trang
110-124 Phần nào cho độc giả hiểu được linh vật Nghê trong văn hóa Việt Nam
Đề tài “Báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam
hiện nay” Luận án tốt nghiệp Tiến sỹ của Nguyễn Sơn Minh năm 2014, Trường
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn hướng đến tìm hiểu phương pháp, cách thức
tổ chức và thực hiện quy trình truyền thông hiệu quả nhất cho báo điện tử Việt Nam
về vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam hiện nay
Đề tài “Thông tin đối ngoại về văn hóa trên báo chí (Khảo sát báo Vietnam News, Báo Ảnh Việt Nam và báo Thế giới&Việt Nam từ tháng 01/2012 đến 06/2012)” Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm 2012 Trên cơ sở trình bày về thực trạng hoạt động thông tin đối ngoại về văn hóa trên báo chí ở Việt Nam hiện nay cũng như bài học kinh nghiệm ở một số nước, đề tài đề xuất một số phương hướng và giải pháp cho hoạt động này thời gian tới
Còn đề tài “Báo Văn hóa với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay” của tác giảTrịnh Liên Hà Quyên(2006) Luận văn thạc
sỹ của Học viện Báo chí và Tuyên truyền đề cập đến những vấn đề lí luận và thực tiễn về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc; Khảo sát thực trạng báo văn hóa trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc; Một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc
Có nhiều luận văn khác nhau liên quan đến báo điện tử, lịch sử, văn hóa, di sản của Việt Nam Tuy nhiên, tình đến thời điểm hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu về quá trình truyền thông qua công văn 2662 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về vấn đề không sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Nam Chưa có một đề tài nào đặt nghiên cứu một cách toàn diện và triệt để về di sản văn hóa vật thể thuần Việt qua
Trang 15phương tiện truyền thông là báo mạng điện tử Như vậy, thông qua truyền thông của báo chí, các khái niệm về biểu tượng, sản phẩm linh vật không thuần Việt sẽ được đưa đến với độc giả một cách cơ bản nhất và dễ tiếp cận nhất Đồng thời, độc giả sẽ
ý thức sâu sắc hơn về giá trị cũng như vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể tại Việt Nam
Báo chí với vai trò là cơ quan ngôn luận của Đảng, cần phải thể hiện được vai trò của mình khi thông tin và định hướng cho công chúng Tác giả hy vọng thông qua đề tài này có thể góp phần vào việc nâng cao hiệu quả thông tin về vấn đề
sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Nam trên báo điện tử nhằm chấn chỉnh, giảm thiểu và cao hơn là khắc phục tình trạng sử dụng những sản phẩm, biểu tượng, linh vật không thuần Việt tràn lan như những năm gần đây Ngoài ra, luận văn cũng khẳng những thế mạnh của báo mạng điện tử; xu hướng phát triển của báo điện tử trong việc thông tin về văn hóa Việt Nam đứng trước bối cảnh văn hóa ngoại lai du nhập mạnh mẽ Đồng thời đưa ra cách thức sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, hình thức, nhằm phát triển các thông tin văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hiện tại một cách hiệu quả, bền vững, thực hiện tốt nhiệm vụ báo chí của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Về mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và khảo sát thực tiễn, đánh giá quá trình truyền thông về việc không sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Nam nhìn từ góc độ đa phương tiện, luận văn đưa ra một số kiến nghị để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông đối với việc hiểu đúng, đồng thời bảo tồn và phát huy giá trị di sản Việt Nam
Bên cạnh đó, còn làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và báo chí, bởi không có
sự thông tin kịp thời và định hướng dư luận rõ nét về vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt thì người Việt vẫn bị nhầm lẫn giữa những biểu tượng, sản phẩm linh vật ngoại lai
3.2 Về nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật ngoại lai không phù hợp với văn hóa Việt trên báo điện tử Việt Nam
Trang 16Qua đó thấy được báo mạng là một hình thức thông tin hữu ích và quan trọng giúp công chúng tiếp cận thông tin nhanh hơn và đạt hiệu quả tốt hơn, đồng thời cũng giúp báo điện
tử tiếp cận được nguồn công chúng tiềm năng trong lĩnh vực văn hóa
- Khảo sát để đánh giá thực trạng việc thông tin về vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật ngoại lai không phù hợp với văn hóa Việt trên báo điện tử
Từ đó, luận văn chỉ ra điểm mạnh và hạn chế của việc thông tin về vấn đề này trên báo điện tử cả về hình thức và nội dung thể hiện
- Rút ra những bài học kinh nghiệm cho những phóng viên, biên tập viên của 3 tờ BĐT trong việc thông tin về các vấn đề liên quan tới sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt trên báo điện tử
- Đề xuất khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc thông tin về vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt trên báo điện tử Đặc biệt là giúp BĐT phát huy vai trò của mình nhằm chấn chỉnh, giảm thiểu và khắc phục hiện tượng tiêu cực này
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt được thông tin trên 3 BĐT: VnExpress, Tổ Quốc và Tuổi trẻ TP.HCM Đặc biệt chú trọng đến 2 linh vật được thông tin và tranh luận nhiều nhất trên BĐT đó là Nghê Việt và Sư tử Trung Quốc
đó là BĐT Tổ Quốc, cơ quan chủ quản là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch nhằm
Trang 17hiểu rõ hơn về cùng một vấn đề nhưng báo chí sẽ đưa thông tin, cách thức thể hiện khác nhau như thế nào
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài của luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Sưu tầm, phân tích, tổng hợp, hệ thống và
khái quát hóa những lý thuyết cũng như các công trình đã được đăng tải trên sách báo, tạp chí và những công trình nghiên cứu thực tiễn các tác giả có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Từ đó tạo cơ sở nền tảng cho hoạt động nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp phân tích nội dung: Phân tích nội dung trong thông tin số liệu từ
3 BĐT để thấy được thành công, hạn chế trong việc thông tin đến độc giả vấn đề về biểu tượng, sản phẩm linh vật Việt nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung
- Điều tra bằng bảng hỏi: Đề tài sẽ sử dụng phương pháp khảo sát điều tra
bằng 200 bảng hỏi đối với công chúng sử dụng báo điện tử, vấn đề tiếp cận các thông tin văn hóa từ trực tiếp báo điện tử Bên cạnh đó nghiên cứu, đánh giá xem công chúng có thường xuyên theo dõi và tương tác trên báo điện tử không? Công chúng thích nội dung về văn hóa thuần Việt được viết bằng thể loại nào? Công
chúng đánh giá chất lượng nội dung của BĐT như thế nào?
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Đề tài sẽ tiến hành phỏng vấn sâu 3 nhóm đối
tượng là đại diện lãnh đạo Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Nhà nghiên cứu về vấn
đề Văn hóa linh vật, phóng viên báo điện tử Nội dung của phiếu câu hỏi phỏng vấn sâu về các thông tin liên quan đến việc sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật phù hợp với văn hóa Việt Ngoài ra còn đánh giá vai trò của báo chí, vai trò của cơ quan lãnh đạo
văn hóa, hướng đi cho linh vật Việt đến với người Việt một cách dễ dàng nhất
- So sánh đối chiếu: Tác giả sẽ tiến hành so sánh đối chiếu cách thức hoạt
động giữa các BĐT để thông tin có hiệu quả đối với công chúng để có thể đưa ra
các giải pháp hoạt động cụ thể cho các báo điện tử
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trang 18Bên cạnh việc đưa ra lý thuyết đã được nghiên cứu và công bố, luận văn còn triển khai nghiên cứu, phát triển một cách bài bản các nội dung liên quan đến kinh nghiệm thực tiễn nâng cao hiệu quả bài viết về vấn đề văn hóa tới công chúng của báo điện tử hiện nay, từ đó gợi ra hướng phát triển hiệu quả cho hoạt động của các báo điện tử hiện nay trong việc tiếp cận, thu hút công chúng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Về ý nghĩa thực tiễn của đề tài, sau khi nghiên cứu, luận văn góp phần tìm ra những đặc điểm nổi bật cũng như hạn chế trong nghệ thuật chuyển tải thông tin về một vấn đề tiêu cực trong lĩnh vực văn hóa trên 03 báo điện tử Vnxspess, Tổ Quốc
và Tuổi trẻ Từ đó, giúp các nhà báo, cơ quan báo chí, phóng viên, biên tập viên có một cách nhìn nhận chính xác hơn về việc thông tin về vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm, linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Từ đó đưa ra phương pháp khắc phục và hoàn thiện hơn công tác làm báo của nhà báo, cơ quan báo chí, cơ quan văn hóa và nâng cao ý thức của công chúng khi sử dụng các biểu tượng, sản phẩm linh vật phù hợp với văn hóa Việt nói riêng và văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luân và thực tiễn báo điện tử với vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm, linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Nam
Chương 2: Thực trạng báo điện tử với vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm, linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Nam
Chương 3: Khuyến nghị và giải pháp cho báo điện tử trong việc thông tin về vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm, linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Nam
Trang 19CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU BÁO ĐIỆN
TỬ VỀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG BIỂU TƯỢNG, SẢN PHẨM LINH VẬT KHÔNG
PHÙ HỢP VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM 1.1 Báo điện tử
1.1.1 Khái niệm
Với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và công nghệ, Internet thực sự đem lại cho con người một cuộc các mạng thông tin khi đã làm thay đổi hoàn toàn phương thức truyển tải, tiếp nhận và trao đổi Khoảng cách không gian và thời gian bị phá vỡ hoàn toàn Với khả năng kết nối mở, Internet trở thành mạng thông tin lớn nhất thế giới, xuất hiện và tham gia trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Các dịch vụ và ứng dụng chạy trên nền Internet cũng không ngừng phát triển, tạo ra một kỷ nguyên thương mại điện tử và kỹ thuật số
Trong bối cảnh phát triển của khoa học kỹ thuật và Internet, đối với lĩnh vực thông tin, báo điện tử được công chúng đón nhận và xem như địa chỉ tin cậy và nhanh chóng nhất để tiếp nhận tin tức mới nhất trong đời sống xã hội Năm1992, trang báo điện tử đầu tiên trên thế giới Chicago Tribune ra đời đầu và nhanh chóng trở thành một trong những trang báo điện tử lớn nhất của Hoa Kỳ và là nhật báo chính của miền Trung Tây nước này
Tại Việt Nam, năm 1997, tạp chí Quê hương đã cho ra đời tờ báo trực tuyến đầu tiên Đây là tờ tạp chí của Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc
Bộ ngoai gio, phát hành số đầu tiên vào ngày 6/2/1997, chính thức khai trương ngày 3/12/1997 Tiếp nối là sự ra đời của hàng loạt các tờ báo điện tử khác như Vietnamnet.vn, Thanhnien.vn, dantri.com…
Về khái niệm báo điện tử, tại Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật báo chí Việt Nam số 12/1999, QH10, ngày 12/6/1999 có quy định về Báo điện tử Trong
đó quy định báo in (bao gồm báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (các chương trình phát thanh), báo hình ( các chương trình truyền hình, chương trình nghe – nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài Theo đó, các trang thông tin điện tử chỉ được gọi là báo điện tử khi đã được Bộ Thông tin & Truyền thông Việt Nam cấp
“Giấy phép hoạt động báo điện tử”
Trang 20Theo Điều 3, Chương 1 của Luật Báo chí được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 05/4/2016, báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử
Trong cuốn “Báo chí và đào tạo báo chí” của PGS.TS Nguyễn Đức Dũng (Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội, 2010) cũng đã đưa ra cách hiểu chung nhất của các nhà nghiên cứu lý thuyết về Báo điện tử Theo đó, Báo điện tử là một loại hình báo chí “được sinh ra từ sự phát triển vượt bậc về khoa học công nghệ thông tin; hoạt động được nhờ các phương tiện kỹ thuật tiên tiến số hoá, các máy tính nối mạng và các server, các phần mềm ứng dụng…”
Bên cạnh đó, PGS.TS Nguyễn Đức Dũng cũng trích dẫn quan niệm của Tiến
sỹ Báo chí Mark Dueze về Báo điện tử “ Báo điện tử là hình thức báo chí kế tiếp thứ tư sau báo in, báo nói, báo hình nhưng lại có những đặc điểm khác hẳn so với các loại hình báo chí truyền thống Báo điện tử sử dụng công nghệ cao như một nhân tố quyết định Các phóng viên báo điện tử phải lựa chọn phương tiện nào tốt nhất để đăng một câu chuyện (tính đa phương tiên), phải đặt ra một không gian, đường dẫn để tạo sự tương tác giữa tác phẩm và chông chúng (tính tương tác cao), phải cân nhắc để kết nối, đồng thời mở rộng những câu chuyện, đưa người đọc từ không gian khác (tính siêu văn bản)
Theo TS Nguyễn Thị Trường Giang trong cuốn Báo mạng điện tử - Đặc trưng và phương pháp sáng tạo “Báo mạng điện trử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức một trang web, phát hành trên mạng internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao
Như vậy “Báo điện tử là loại hình báo chí/phương tiện truyền thông đại chúng ra đời muộn hơn truyền hình, phát thanh và báo in, có khả năng cung cấp thông tin sống động bằng chữ viết, âm thanh, hình ảnh chỉ trong vài phút đến vài giây, với số trang không hạn chế Báo điện tử hội tụ những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình; sử dụng yếu tố công nghệ cao như một nhân tố quyết định, quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền tảng của mạng Internet toàn cầu”
Mặc dù sinh sau đẻ muộn so với các loại hình báo chí khác nhưng sự ra đời của báo điện tử đã mở ra một cuộc cách mạng thông tin mới cho nền báo chí hiện
Trang 21đại Tại Việt Nam, báo điện tử đã nhanh chóng phát triển về sống lượng, chất lượng
và ngày khẳng định được vị trí của mình trong đời sống báo chí, đời sống xã hội của đất nước, tạo nên một mạng thông tin sôi động
1.1.2 Đặc điểm của báo điện tử
Có thể nói rằng, BĐT - kết quả của sự tích hợp giữa công nghệ và truyền thông, dựa trên nền của internet và sự tích hợp ưu thế của các loại hình báo chí truyền thống đã đem lại những giá trị rất lớn cho xã hội, cho người dân BĐT đã tạo
ra bước ngoặt làm thay đổi cách truyền tin và tiếp nhận thông tin
Về truyền tin, sự thay đổi thể hiện ở những góc độ sau:
Thứ nhất, BĐT có những lợi thế về dung lượng truyền tải mà báo in, phát thanh, truyền hình không thể có được BĐT không bị giới hạn bởi khuôn khổ, số trang nên có khả năng truyền tải thông tin không giới hạn Vì vậy, nó có thể cung cấp một lượng thông tin lớn , phong phú và chi tiết Ngoài ra, những thông tin này còn được BĐT xâu chuỗi lại với nhau theo các chủ đề thông qua siêu liên kết, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận thông tin của độc giả Không những thế, thông tin trên BĐT còn được lưu trữ lâu dài và khoa học theo ngày tháng, chủ đề, chuyên mục…tạo thành cơ sở dữ liệu để bạn đọc có thể tìm kiếm nhanh chóng và hiệu quả
Thứ hai, BĐT không bị phụ thuộc vào khoảng cách đại lý nên thông tin được truyền tải khắp toàn cầu Nó tiếp cận với độc giả khắp mọi nơi, dù đó là thành thị, nông thôn, vùng sâu, vùng xa miễn nơi đó có đường dây điện thoại, có di động hay phủ sóng vệ tinh Ở các nước phát triển, với hạ tầng viễn thông đã rất phát triển, người dân chỉ cần một sợi cáp nối đến nhà là họ có tất cả các dịch vụ trong đó, từ điện thoại, truy cập internet bằng thông cộng và xem truyền hình (truyền hình trực
Trang 22tuyến và cả truyền hình thuê bao cáp) Vì thế, BĐT là một phương tiện truyền tải thông tin dễ dàng, sinh động và trực tiếp
Thứ ba, BĐT đã tạo ra bước ngoặt về quy trình sản xuất thông tin Thông tin
từ thu nhận đến khi phát hành đều được diễn ra rất nhanh chóng với những thao tác hết sức đơn giản Về lý thuyết, một người có thể làm được tất cả các bước trong một công đoạn và tất cả các công đoạn trong cả quy trình sản xuất BĐT Vì vậy, xét về chi phí cho cả người sản xuất và công chúng đều ít tốn kém hơn các loại hình báo chí khác
Thứ tư, BĐT là sự tổng hợp của công nghệ đa phương tiện, nghĩa là nó không chỉ truyền tải văn bản, hình ảnh như báo in mà cả âm thanh, video như phát thanh, truyền hình và các chương trình tương tác Tính năng ba trong một của BĐT đang và sẽ tạo dựng một sức mạnh truyền thông mới
Thứ năm, BĐT có tần xuất và tốc độ truyền tin nhanh Không cần phải chờ đến giờ ra báo, phát sóng, cứ khi nào có thông tin mới là BĐT đưa lên Vì vậy, thông tin trên BĐT liên tục được cập nhật từng giờ, từng phút có thể tức thời và ngay lập tức Do đó, BĐT luôn sống 24h/ngày và 7 ngày/tuần
Thứ sáu, xét về tiềm năng tài chính thì với mật độ sử dụng internet và BĐT tăng lên hằng ngày, BĐT sẽ nhanh chóng chiếm một thị phần không nhỏ về quảng cáo Theo một tính toán thì trong tương lai, quảng cáo trên BĐT sẽ không chỉ cạnh tranh với báo in mà với cả truyền hình
BĐT ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội Bây giờ, vào mỗi buổi sáng, hình ảnh các nhân viên văn phòng đến cơ quan, bật máy tính, truy cập vào các trang BĐT sau đó mới làm việc đã trở nên quen thuộc Điều này diễn ra ở nhiều nơi: công sở, gia đình, quán cà phê…BĐT đã được chấp nhận không chỉ ở góc độ đối tượng tiếp nhận là khán giả, độc giả mà ngay cả bản thân những người làm báo
Về sự tiếp nhận thông tin của công chúng cũng thay đổi rất nhiều giờ đây, công chúng trở thành trung tâm, hoàn toàn chủ động lựa chọn thông tin, thời gian, không gian trình tự tiếp nhận cũng như cách tiếp cận thông tin cho phù hợp với nhu cầu và sở thích của mình Không những thế, công chúng còn được khuyến khích và tạo cơ hội để tích cực tham gia vào quá trình sản xuất thông tin và truyền tin Vị trí của người truyền tin và tiếp nhận thông tin đôi khi được hoán đổi cho nhau Ngoài
Trang 23ra, nhờ những ưu điểm như khả năng đa phương tiện và tính tương tác cao, BĐT đã giúp cho mối quan hệ giữa nhà báo và công chúng chặt chẽ hơn thông qua việc mở các diễn đàn trao đổi, giao lưu trực tuyến, tổ chức hội nghị trực tuyến…
Cùng với các phương tiện thông tin đại chúng khác, BĐT ngày càng phát triển, đem lại hiệu quả xã hội to lớn Hơn thế, BĐT còn chắp cánh cho các loại hình báo chí khác bay xa hơn, giúp khuếch trương hình ảnh mọi nơi, mọi lúc
BĐT đã và đang có một vị trí xứng đáng, trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống người dân bởi sức mạnh thực sự của nó Xu hướng phát triển của BĐT sẽ như vũ bão trong thời gian tới, số lượng người truy cập ngày càng tăng lên nhanh chóng khi cước phí internet rẻ tới mức bất cứ ai cũng có thể đăng ký được Tuy nhiên sự tồn tại và phát triển của BĐT tử sẽ tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh giữa các loại hình truyền thông
Điểm yếu
Như các loại hình báo chí khác, BĐT cũng có những hạn chế nhất định
Thứ nhất, độ chính xác của thông tin: Thông tin được BĐT đưa rất nhanh, nhiều khi phải chạy đua với thời gian Do vậy, nhanh thì dễ ẩu Các loại hình báo chí khác tránh xu hướng này bằng hàng rào các biên tập viên giỏi nghiệp vụ, kiểm tra kỹ lưỡng qua nhiều lớp Nhưng đối với BĐT để cạnh tranh thông tin với các báo khác, tính chạy đua về thời gian là điều ưu tiên hàng đầu nên có những sai sót không thể tránh khỏi ví dụ như lỗi chính tả, lỗi câu hoặc thông tin cập nhật tính theo giây
Thêm nữa, dù đã phát hành, thông tin trên BĐT vẫn có thể chỉnh sửa được tạo nên tâm lý thiếu cẩn thận ở một bộ phận nhà báo.Vì vậy, độ chính xác của thông tin trên BĐT nhiều khi không cao bằng thông tin trên các loại hình báo chí khác
Thứ hai, độ an toàn của thông tin trên báo điện tử bị phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ, toàn bộ nội dung thông tin gần như phụ thuộc vào sự ổn định của hệ thống máy móc Vì BĐT chỉ phát hành một bản duy nhất nên khi gặp các sự cố như cháy, hỏng virút phá hoại, tin tặc tấn công…nội dung lưu trữ có thể bị chỉnh sửa, làm sai lệch hoặc bí phá hoại hoàn toàn và khó khôi phục lại
Mỗi ngày có hàng chục nghìn lượt người truy cập vào địa chỉ của các tờ BĐT, mỗi người để lại dấu vết trên hệ thống gọi là địa chỉ IP, dấu hiệu đó xác định
họ là ai, ở đâu (trong nước hay nước ngoài, thậm chí thông qua vùng địa chỉ của nhà cung cấp còn biết ở tỉnh nào…) Trong hàng vạn người truy cập vào tờ báo có kẻ
Trang 24thay vì đọc báo lại lục lọi, thâm nhập vào hệ thống, cài đặt lên đó những con Backdoor (phần mềm cho phép điều khiển từ xa nhằm mục đích phá hoại) Và không phải công cuộc dò tìm, lục lọi trái phép nào các quản trị mạng của tờ báo cũng có thể kiểm soát Vì vậy, nếu các tin tặc chiếm được quyền điều khiển, có quyền ngang hàng với các quản trị mạng thì khi họ tấn công, tờ báo khó có thể chống đỡ nổi
Một kiểu tấn công khác cũng rất đấng sợ, đó là tấn công từ chối dịch vụ DDoS (Distributed Denis of Service) và Flood Khi đó các tin tặc lợi dụng băng thông lớn của những hệ thống mạng trên thế giới như Yahoo, Google… để gửi những gói tin và yêu cầu truy cập ồ ạt tới hệ thống của tờ báo gây ra hiện tượng nghẽn mạng, bạn đọc kết nối tờ báo nhưng không thể xem được tin tức gì Những cuộc tấn công kiểu nghẽ mạng DDoS hay Flood để ngắt bạn đọc với tờ báo diễn ra thường xuyên VnExpress đã từng bị ít nhất 4 lần deface (xóa sạch trang chủ), còn VietNamNet thì rất nhiều lần
Thứ ba, vì BĐT đưa ra rất nhiều thông tin nên người đọc nhiều khi bị nhiễu, choáng ngợp, mất tập trung và đôi khi không có khả năng lựa chọn thông tin nào tốt, đáng tin cậy cho mình Thêm nữa, rất nhiều thông tin trên BĐT quá chi tiết, tủn mủn, sa đà vào giật gân, câu khách
Có thể thấy nhiều tờ BĐT có những kiểu giật tít bất chấp khi nhân vật của câu chuyện là bất kỳ ai, không phân biệt già trẻ, giới tính, tuổi tác miễn là thông tin
đó có thể “câu wiew”
Thứ tư, tâm lý không thư giãn, thoải mái khi tiếp nhận thông tin từ BĐT Vì phải sử dụng máy tính có kết nối mạng internet hoặc trong vùng phủ sóng đối với internet không dây nên không dễ dàng đọc BĐT mọi lúc, mọi nơi
Thứ năm, BĐT mang tính cá nhân hóa nên khó có thể chia sẻ cho người khác cùng xem, cùng đọc BĐT không có khả năng tập hợp quần chúng như phát thanh hay truyền hình
Thứ sáu, quản lý thông tin trên BĐT cũng khó khăn hơn các loại hình báo chí khác Các diễn đàn nếu tổ chức không tốt rất dễ rất đến sa đà vào những vấn đề mang tính giật gân, câu khách
Trang 25Thứ bảy, thông tin từ mạng xã hội đang đe dọa đến tốc độ tin tức của BĐT BĐT phải nhanh nhạy hơn nữa, chính xác hơn nữa và biết sử dụng mạng xã hội trở thảnh công cụ cho mình thay vì thành đối thủ cạnh tranh
Trong tương lai, BĐT sẽ tiếp tục phát triển mạnh song song cùng tồn tại với các loại hình báo chí khác, bổ sung những khiếm khuyết mà các loại hình báo chí truyền thống không thể đạt được và đương nhiên cũng phải tính đến cách khắc phục những hạn chế của mình
1.1.3 Vai trò và chức năng của báo điện tử
Trong công tác gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống, văn hóa, lịch sử , truyền thông là một trong những phương tiện hữu hiệu trong việc lên tiếng, vạch trần các hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật Báo chí là một kênh hữu hiệu nhất của truyền thông Báo chí tham gia và giữ vai trò trung tâm trong công tác truyền thông đại chúng - thông tin về vấn đề thương mại hóa trong các lễ hội truyền thống dân tộc là thể hiện đúng bản chất và các chức năng cơ bản của hoạt động báo chí BĐT là một trong những loại hình báo chí mang đầy đủ những đặc điểm này, bao gồm:
Thứ nhất, chức năng thông tin - giao tiếp, đảm bảo nhu cầu ngày càng
cao của con người Thông tin trên các loại hình báo chí không chỉ trở thành sức mạnh chính trị trong cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng ,đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ, góp phần hình thành diện mạo văn hóa quốc gia cũng như nhân cách mỗi con người, mà còn ngày càng đi sâu vào đời thường, đi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống cá nhân và cộng đồng Thông tin báo chí có thể
là các thông tin thời sự – chính trị, thông tin – chỉ dẫn, thông tin – tư vấn, thông tin – quảng cáo, thông tin – giải trí được báo chí mang lại cho công chúng một cách khách quan, chân thực, mới mẻ và nhiều chiều dưới góc nhìn và cách thức thể hiện phong phú Thông qua báo chí mà độc giả trong nước và nước ngoài mới biết thực trạng về vấn đề
sử dụng biểu tượng, sản phẩm, linh vật không phù hợp với văn hóa Việt
Thứ hai, chức năng tư tưởng Báo chí tham gia vào quá trình tuyên truyền, quảng bá hệ tư tưởng, làm cho hệ tư tưởng ngày càng lan truyền rộng rãi và chiếm
ưu thế trong đời sống tinh thần của nhân dân Mỗi nền báo chí, mỗi cơ quan báo chí
có khuynh hướng tư tưởng chủ đạo - khuynh hướng tư tưởng chiếm ưu thế của mình; thể hiện ở chỗ nó phụng sự cho hệ tư tưởng của giai cấp đó Báo chí bám sát
Trang 26thực tiến xã hội và định hướng dư luận xã hội theo luồng tư tưởng của giai cấp mà
nó phụng sự Đối với vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm, linh vật không phù hợp với văn hóa Việt, báo chí hướng dư luận xã hội tới loại bỏ những biểu hiện lệch lạc, phi văn hóa, gìn giữ và phát huy giá trị nhân văn sâu sắc của biểu tượng, sản phẩm, linh vật Việt nhằm xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Thứ ba, chức năng khai sáng và giải trí Khai sáng là làm cho dân được mở mang, gắn liền khái niệm văn hóa với hai thành tố trung tâm là khoa học công nghệ
và giáo dục đào tạo Báo chí với vai trò là phương tiện truyền thông đại chúng lớn nhất trong xã hội, thực hiện chức năng văn hóa thể hiện qua một số phương thức cơ bản:
+ Thứ nhất là tham gia bảo tồn hệ thống các giá trị văn hóa thông qua giáo dục truyền thống Hệ thống giá trị văn hóa truyền thống cần được chọn lọc, phân loại để xác định nội dung và phương thức giáo dục cho các thế hệ người Việt, nhất
là thế hệ trẻ thông qua các kênh như nhà trường, các tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị, qua các phương tiện truyền thông đại chúng và báo chí Việc giáo dục hệ thống văn hóa này cần được phân cấp cho nhà trường phổ thông, đại học; hệ thống báo chí cũng cần bám sát hệ giá trị, chương trình và kế hoạch giáo dục trong nhà trường để
có phương thức truyền tải phù hợp với nhóm đối tượng và địa bàn công chúng
+ Thứ hai, cổ vũ, khích lệ năng lực sáng tạo giá trị mới; đồng thời truyền bá
và nhân rộng nhân tố mới, giá trị mới, động viên tính tích cực xã hội của con người Phát hiện, bảo vệ, ủng hộ, truyền bá, nhân rộng cái mới, năng lực sáng tạo giá trị mới của cá nhân và cộng đồng thông qua dư luận xã hội vì lợi ích của cộng đồng và
sự phát triển bền vững của xã hội là trách nhiệm xã hội của nhà báo
+ Thứ ba, phê phán các thói hư tật xấu, các biểu hiện bảo thủ, trì trệ, đấu tranh chống các hiện tượng phi văn hóa… là phương thức quan trọng của báo chí trong quá trình tham gia phát triển văn hóa, giáo dục
+ Thứ tư, giao lưu văn hóa với các dân tộc, các cộng đồng trên thế giới Đó
là quá trình tiếp biến văn hóa qua các loại hình báo chí - truyền thông
Thứ tư, chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội Báo chí đảm bảo dòng thông tin hai chiều từ chủ thể quản lý và khách thể quản lý, đảm bảo cho các quyết định quản lý được thông suốt và thực thi trong thực tế Đồng thời góp phần khơi thức, tập hợp nguồn lực trí tuệ và cảm xúc toàn dân, trước hết là đội ngũ
Trang 27chuyên gia và trí thức, góp ý cho các quyết sách lớn của nhà nước trong quá trình xây dựng và thực hiện nhằm đảm bảo cho sự phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Có thể nói báo chí là áp lực góp phần thúc đẩy việc ra đời luật Di sản Văn hóa mà Quốc hội thông qua năm 2001 cùng nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng liên quan đến vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Nhờ có tiếng nói của báo chí mà các cơ quan chức năng của Nhà nước mới biết và mới thực sự chuyển biến trong việc quan tâm bảo vệ, đầu tư phục hồi di tích
bị hư hỏng, bị xuống cấp và bị mất mát, đồng thời cũng thông qua báo chí mà nhân dân mới biết được cái quý cái đẹp, cái giá trị muôn đời của những biểu tượng, sản phẩm linh vật thuần Việt Bất kỳ tờ báo nào kể cả chính trị, kinh tế và quân sự đều
có những chuyên mục dành riêng cho văn hóa, trong đó bàn rất nhiều về các vấn đề
sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt khi thì tôn vinh, ca ngợi các hay, cái nhân văn, lúc thì phê phán những hành vi làm tổn hại đến các biểu tượng, sản phẩm linh vật Việt
Thứ năm là chức năng kinh tế - dịch vụ, trong đó quảng cáo là vấn đề quan trọng Quảng cáo là một chức năng xã hội của báo chí, tạo ra nguồn thu cho báo chí phát triển nhưng cũng cần có những quy định cụ thể từ các cơ quan quản lý và cơ quan báo chí để vẫn đảm bảo tốt các chức năng xã hội cơ bản khác Với BĐT, chức năng này còn cần được đặt trong một chế tài và quy định phù hợp để giảm thiểu tình trạng quảng cáo tràn lan, bố trí, thiết kế quảng cáo sai quy định của luật báo chí đang diễn ra ở rất nhiều tờ báo
1.2 Một số khái niệm về văn hóa và biểu tƣợng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt Nam
1.2.1 Khái niệm về Văn hóa Việt; Di sản văn hóa Việt
Trước tiên để hiểu rõ ngọn nguồn rồi có thể phân biệt và sử dụng đúng cách, đúng mục đích được biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt một cách tỏ tường nhất Chúng ta cần nắm chắc lý thuyết về Văn hóa Việt và Di sản văn hóa Việt bởi những biểu tượng, sản phẩm linh vật đó đều thuộc di sản văn hóa vật thể mà cha ông ta để lại
Ngoài định nghĩa văn hoá của UNESCO (Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn
hoá của Liên hợp quốc): “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng
Trang 28biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét bản thân Chính văn hoá đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương
án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”
còn có định nghĩa của Edward Bur Tylor (nhà nhân học người Anh), Federico Mayor Zaragoza (cựu Tổng giám đốc UNESCO từ 1987 – 1999), Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đào Duy Anh, Phan Ngọc, Trần Ngọc Thêm, Hoàng Trinh, Phạm Xuân Nam…
Tính ổn định và giá trị dẫn đường của Đề cương văn hoá Việt Nam có giá trị lâu dài tới mức 55 năm sau, sau bao cuộc thăng trầm của đất nước, dân tộc và cách mạng Việt Nam, ngày 16/7/1998, Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII mới ra bản Nghị quyết số 03 “Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (thường được gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 5 về văn hoá), là bản Nghị quyết thứ hai của Đảng
về xây dựng nền văn hoá Việt Nam trong thời kỳ hiện đại Đưa rõ khái niệm về nền
văn hoá Việt Nam “Nền văn hoá Việt Nam hiện nay là những giá trị vật chất và
tinh thần của con người Việt Nam, được hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm, trong sự giao lưu, tiếp biến với văn hoá nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới, nên chứa đựng cả yếu tố tích cực và hạn chế Con người Việt Nam là trung tâm, là kết tinh của văn hoá Việt Nam.”
Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng.Tuy nhiên, so với những thành tựu trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; chưa đủ để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng
Trang 29Trước tình hình đó, ngày 9/6/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Với mục tiêu chung “Xây dựng nền
văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của ã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”
Theo Luật Di sản Việt Nam ban hành tháng 6, năm 2001 Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của
di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta
Điều 4, Luật Di sản Việt Nam ban hành tháng 6, năm 2001 quy định Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm
di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
1.2.2 Khái niệm về biểu tượng, sản phẩm linh vật phù hợp với văn hóa Việt
Văn hoá là một lĩnh vực hết sức rộng lớn, nó bao la như chính cuộc sống của loài người Đó là vấn đề thuộc về mặt nhận thức của con người trong toàn bộ cách nhìn, cách ứng xử của cá nhân đối với tự nhiên và cộng đồng xã hội Có thể nói, văn hoá là sự hiểu biết, là phương thức hoạt động sống của con người và là những kinh nghiệm do con người đúc kết được trong quá trình lịch sử hình thành nên đời sống
của nhân loại Trong thời kỳ hội nhập này theo nhà sử học Dương Trung Quốc “Với
các biểu trưng văn hóa ngoại lai, chúng ta không kỳ thị nhưng phải gìn giữ được sức đề kháng mà ông cha ta đã truyền trao qua các thế hệ để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, dân tộc ta luôn coi sức mạnh bắt nguồn từ bản sắc văn hóa là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu để chiến thắng” Để hiểu rõ thế nào là biểu tượng, sản phẩm linh vật phù
hợp với văn hóa Việt trước tiên cần hiểu rõ biểu tượng là gì? Linh vật là gì?
Biểu tượng trong tiếng Hán: Biểu có nghĩa là: "bày ra", "trình bày", "dấu hiệu", để người ta dễ nhận biết một điều gì đó Tượng có nghĩa là "hình tượng"
Trang 30Biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng
Theo tìm hiểu của tôi, từ linh vật trong tiếng Anh là holy animal hay sacred animal là con vật được sử dụng trong các tín ngưỡng thờ động vật (animal worship) thể hiện sự tôn kính con vật, thường thông qua sự kết nối của nó với một vị thần đặc biệt Theo đó, các vị thần được thể hiện dưới hình dạng động vật nhưng hoàn toàn không phải là sự thờ phụng chính con vật đó Thay vào đó, sức mạnh thiêng liêng của vị thần được thể hiện trong một con vật thích hợp như là hóa thân của chính vị thần này 4.[47.tr110]
Linh vật là một thuật ngữ dùng để chỉ cho bất cứ biểu tượng chính thức nào, cho bất kỳ cá nhân nào, động vật và các đối tượng, chủ đề nào mà mang lại sự may mắn.[46.tr8] Theo định nghĩa này, linh vật là biểu tượng may mắn, nó có thể là động vật, cây cối hay con người Còn trong công văn số 2662 của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, linh vật được nhìn nhận là "sư tử bằng đá và một số vật phẩm khác”
Ở đây tác giả luận văn chú trọng vào linh vật Nghê bởi theo tìm hiểu của tôi bên cạnh hệ thống tứ linh (long, ly, quy, phượng), nghê là một trong những linh vật phổ biến trong không gian tín ngưỡng của người Việt Nó xuất hiện từ khá sớm và
đi suốt chiều dài lịch sử từ dân gian đến cung đình, trong đó, hai không gian mà nghê xuất hiện rất nhiều là đình và chùa Một trong những bằng chứng quan trọng cho thấy sự xuất hiện của nghê là văn bia “Minh tịnh tự bi văn” thời Lý (tìm thấy ở nghè thôn Tế Độ, xã Hoằng Phúc, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa) Nghê là con vật mang tính hư cấu và chính sự hư cấu này tạo nên bản sắc Việt cho nghê Nó thể hiện sự sáng tạo của những người nghệ nhân Việt Trong tâm thức của người Việt, con nghê có hình dạng cơ bản là con chó Hay nói khác đi, con nghê chính là con chó biến điệu ra Tuy nhiên, cũng như các linh vật khác, tạo hình nghê có sự biến hóa và thay đổi qua các thời kỳ lịch sử Bên cạnh đó, do nhu cầu thiêng hóa, nghê có nhiều dạng thức khác nhau như: sư tử nghê, long nghê,
kỳ lân nghê, khuyển nghê
Trang 31Hình 1.1 Nghê Việt tại đình Lâu Thượng - Phú Thọ thế kỷ XVIII
Trước thực trạng nhiều địa phương trưng bày, sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật (sư tử bằng đá và một số vật phẩm khác) theo tạo hình, hình thức không phù hợp với văn hóa Việt Nam ở cổng, cửa khu di tích, đình, chùa, công sở không phù hợp với văn hóa Việt ở đây chủ yếu nói về sư tử đá
Trang 32Hình 1.2 Sư tử đá Trung Quốc tại Viện kiểm sát Hạ Long, Quảng Ninh
“Sư tử là một động vật có thật, tuy không phải là sinh vật bản địa của người Trung Quốc nhưng đã từ rất lâu trở thành một phần máu thịt của văn hóa Trung Hoa Nó biểu tượng cho quyền uy và sức mạnh”[49.tr36] thực tế, ở Trung Quốc, sư
tử đá là linh vật để canh mộ Đặc điểm chung sư tử đá canh mộ của Trung Quốc mang hình thức dữ dằn, gân guốc với dáng vẻ đe dọa
1.3 Vai trò của báo điện tử trong thông tin về văn hóa Việt Nam
BĐT là một loại hình báo chí mang những đặc điểm riêng khác biệt so với các loại hình báo chí truyền thống Đó là sự mới mẻ, tính hiện đại với những ứng dụng kỹ thuật và phương tiện thông tin tiên tiến BĐT mang một lượng thông tin khổng lồ, không bị giới hạn bởi bất cứ điều gì Với khả năng cung cấp lượng thông tin lớn, nhanh chóng và cập nhật độc giả BĐT có thể tìm thấy “một vũ trụ thông tin” từ internet…Chính sự khác biệt này đã khiến báo điện tử có vai trò to lớn trong việc phản ánh vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt
Xét về nội dung truyền tải, BĐT có những lợi thế mà báo in thậm chí cả phát thanh - truyền hình cũng phải kính nể Xét về công nghệ, với những ưu thế vượt trội khi tích hợp chữ viết, âm thanh cho đến những hình ảnh cả tĩnh và động… BĐT đã trở thành kênh truyền thông được nhiều người lựa chọn Đặc biệt là việc đưa tin nhanh nhạy, không giới hạn khuôn khổ khiến cho những thông tin, hình ảnh về các
Trang 33biểu tượng, sản phẩm linh vật cập nhật tức thì và đầy đủ Điều này được minh chứng ở nhiều số lượng và chất lượng các bài viết phản ánh về hiện sử dụng các biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt đem đến cái nhìn toàn cảnh, nhiều chiều cho người dân trong nước
Theo tôi vai trò của báo chí là khá nhiều, khi công văn 2662 mới ra đời thì việc đấu tranh, tranh cãi giữa các luồng quan điểm rất dữ dội giữa một bên bảo vệ quan điểm các nơi thờ tự, tín ngưỡng, công sở…của người Việt thì chỉ dùng linh vật Việt còn một bên cho răng không nên bài Trung Quốc cực đoan nhân các mâu thuẫn về chinh trị, lãnh thổ và lãnh hải Báo chí đã làm tốt việc phản ánh cả hai luồng quan điểm đó nhưng đến thời điểm này thì số đông người đều ủng hộ quan điểm là nơi thờ tự, linh thiêng hoặc công sở nên dùng linh vật Việt Tất nhiên không thể dùng biện pháp cưỡng chế hay ép các công ty, cơ sở tư nhân phải dùng linh vật Việt hay Tàu nhưng báo chí đã tác động đến họ thông qua tuyên truyền, giải thích cho họ hiểu để phân biệt linh vật Việt và Trung Quốc về cách tạo hình cũng như ý nghĩa của hai linh vật này trong đời sống Như việc sư tử Trung Quốc thường dùng
để canh giữ các hầm mộ, nhiều người khi hỏi lần đầu mới biết vấn đề này và họ nhận thức được và không dùng nó nữa bới ý nghĩa biểu tượng của nó không phải như lâu nay họ vẫn nghĩ.[PV2]
Hiện nay vẫn còn một bộ phận người dân (có cả cán bộ làm công tác quản lý nhà nước) không biết, không phân biệt được tượng, hiện vật ngoại lai, nguồn gốc xuất xứ của các sản phẩm ngoại lai? các sản phẩm truyền thống của Việt Nam? Phần lớn nhân dân không biết việc cúng tiến tượng linh vật, đồ thờ vào di tích lịch
sử văn hóa mà chưa được sự đồng ý của cơ quan quản lý nhà nước là vi phạm Luật
Di sản văn hóa
Nhiều người không biết hiện nay trong các công trình tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam hiện còn lưu giữ được nhiều tượng sư tử, nghê, lân, sấu mang những đặc trưng riêng của Việt Nam
Theo quan niệm, các sản phẩm ngoại lai hiện trưng bầy trong di tích, nơi thờ
tự công sở có mang ý nghĩa tâm linh, vì vậy việc loại bỏ, di dời hết sức phực tạp Ngoài vấn đề tâm linh, ở các địa phương, đối với cán bộ thực hiện việc loại bỏ, di dời các biểu tượng, linh vật ra khỏi di tích còn vướng mắc bởi quan hệ thân nhân, dòng tộc, sự cả nể, né tránh
Trang 34Một số địa phương, Bộ, ban, ngành chưa thực sự cùng vào cuộc để tuyên truyền, vận động người dân di dời các hiện vật và tượng linh vật ngoại lai Đặc biệt hiện nay còn nhiều cơ quan công sở nhà nước vẫn còn trưng bày tượng sư tử đá mẫu Trung Quốc, châu Âu Điều này ít nhiều đã tác động tiêu cực tới công tác tuyên truyền thực hiện Công văn số 2662
Thời gian qua, nhiều sách giới thiệu hoa văn trang trí, tượng… truyền thống của nước ngoài, đặc biệt của Trung Quốc được dịch và giới thiệu ở Việt Nam với giá thành rẻ, phát hành rộng Nghệ nhân của Việt Nam dễ dàng tiếp cận các ấn phẩm này, mua về và lấy mẫu sử dụng để chế tác các sản phẩm của mình Từ đó các mẫu hoa văn, sản phẩm mang yếu tố của nước ngoài, của Trung Quốc được nhân bản và phát triển mạnh Trong khi đó, ở nước ta việc xuất bản các sách giới thiệu về hoa văn, tượng, sản phẩm thủ công truyền thống Việt Nam còn thiếu, nếu xuất bản thì số lượng hết sức hạn chế, giá thành cao, chủ yếu đáp ứng các nhà nghiên cứu mà chưa đến được các làng nghề, các nghệ nhân
Hiện nay, tại nhiều di tích đã được xếp hạng còn bày đặt đồ thờ, tượng sư tử
đá (kiểu Trung Quốc, châu Âu), đèn chùm, đèn lồng, bình lọ, hoa trang trí không phù hợp truyền thống Việt Nam, đặc biệt đã vi phạm nghiêm trọng Luật Di sản văn hóa nhưng không bị xử lý Nguyên nhân do cán bộ quản lý còn buông lỏng, ngại va chạm, ngại đụng chạm vấn đề tâm linh, chưa sâu sát với di tích và cộng đồng địa phương để tìm cách tháo gỡ, tuyên truyền vận động cũng như thực hiện nghiêm Luật Di sản văn hóa theo tinh thần của Công văn số 2662 Cán bộ các cấp thực hiện văn bản chỉ đạo không nghiêm đã tạo ra dư luận xã hội không tốt về tính nghiêm túc của Công văn số 2662 cũng như Luật Di sản văn hóa
Tại các tỉnh miền Trung, Nam Bộ, các khu công nghiệp có cộng đồng người nước ngoài sinh sống, mỹ thuật truyền thống đã có giao lưu văn hóa với người Hoa, Chăm, Kh‟me nên việc giáo dục, tuyên truyền bày đặt tượng sư tử đá ngoại lai hết sức khó khăn, đòi hỏi phải tuyên truyền văn hóa truyền thống Việt Nam mạnh mẽ thì mới có hiệu quả nâng cao ý thức và trách nhiệm người dân
So với thực trạng sử dụng tràn lan những biểu tượng, sản phẩm không phù hợp với văn hóa Việt cách đây nhiều năm thì đã đạt được một số kết quả tốt làm lành mạnh hóa môi trường văn hóa Hiện tượng cung tiến các hiện vật không phù hợp vào di tích và hiện tượng sử dụng các linh vật lạ là tượng sư tử đá ngoại lai đã
Trang 35không còn xảy ra trên phạm vi toàn quốc như trước đây Ý thức bảo vệ di sản văn hóa nói chung, di tích nói riêng đã được nâng cao, tinh thần tự tôn dân tộc, bài trừ các sản phẩm ngoại lai, không phù hợp thuần phong mỹ tục được nhân dân ủng hộ, hưởng ứng
Các cấp chính quyền, quản lý di tích đã có thêm những bài học kinh nghiệm thực tế sâu sắc trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích, nghiêm túc rút kinh nghiệm, thực hiện việc rà soát, kiểm kê hiện vật thuộc di tích một cách khoa học, bài bản
Để đạt được thành công bước đầu trong việc công chúng nhận thức rõ ràng hơn về biểu tượng, sản phẩm linh vật Việt không thể phủ nhận vai trò của báo chí
Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đặng Thị Bích Liên đã khẳng định:
“Tôi đánh giá rất cao vai trò của báo chí trong việc truyền thông, tuyên truyền về các giá trị, vẻ đẹp, sự linh thiêng của các linh vật Việt Nam.Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn kiên định lập trường không ngừng “tiếp thu những tinh hoa nhân loại” vừa “phải luôn coi trọng những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không được tự đánh mất mình, trở thành cái bong mờ hoặc bản sao chép của người khác” Đây là bước đột phá trong sự phối hợp giữa cơ quan của bộ và các đơn vị truyền thông Bước đầu của sự thành công sau khi ban hành văn bản lần này
là nhờ một phần không nhỏ của các cơ quan báo chí đã tuyên truyền và vận động
để không ngừng nhằm nâng cao nhận thức toàn dân về lĩnh vực văn hóa tâm linh này.Tôi hy vọng trong thời gian tới báo chí vẫn tiếp tục đồng hành cùng chúng tôi
để có những bài viết có giá trị, có nội dung hữu ích đối với những người làm công tác quản lý, nghiên cứu, cũng như phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống Việt Nam trong giai đoạn hội nhập hiện nay.” [PV1]
Nguyên nhân sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật và các sản phẩm trang trí không phù hợp với văn hóa Việt Nam ngày càng gia tăng trong thời gian gần đây
Sư tử đá được xuất ưởng hàng loạt như thế nào?
Trong bài viết “Làng đá Non Nước bối rối với sư tử đá” của phóng viên Hữu Khá đăng trên báo tuổi trẻ phản ánh tại Đà Nẵng - nơi sản xuất đá mỹ nghệ và tâm linh lớn nhất cả nước với hơn 500 cơ sở sản xuất và hàng nghìn nhân công Trong khi các tác phẩm đá mỹ nghệ chủ yếu được bán cho người nước ngoài thì các tác
Trang 36phẩm tâm linh lại được nhiều người trong nước đặt mua Trong đó, mặt hàng sư tử
đá kiểu Trung Quốc là bán chạy nhất “5 năm trở về đây, mặt hàng này lên ngôi, hầu như ai đến cũng mua Người ta mua về để bày đặt ở công ty, đình, chùa, nhà riêng” - ông Trần Văn Xuất, chủ nhân Cơ sở đá mỹ nghệ Xuất Ánh cho biết như vậy và khẳng định riêng cơ sở của ông mỗi một tháng bán được 60-70 con sư tử đá kiểu này Trung bình một ngày ở làng đá Non Nước có khoảng 15 cặp sư tử đá được bán cho khách Khách hàng chủ yếu là từ Nghệ An trở ra phía Bắc và khách miền Nam Các nghệ nhân và chủ cửa hàng mà chúng tôi gặp đều không biết đây là mẫu
sư tử đá dập khuôn kiểu Trung Quốc Họ khẳng định chỉ đơn thuần đáp ứng nhu cầu của khách hàng còn không quan tâm đến nguồn gốc xuất xứ của nguyên mẫu
Sư tử đá kiểu Trung Quốc vào đình, chùa Việt theo đường cung tiến
Câu trả lời hay gặp khi được hỏi lý do tại sao sư tử lại ngồi trước cửa chùa là: Đây
là đồ cung tiến! Đó chính là cách thức và con đường đi đến của sư tử Căn nguyên của hiện tượng này thực ra nằm ở “vùng tối” của sự thiếu hiểu biết về văn hoá của những người cung tiến và của cả những người được giao nhiệm vụ trông coi di tích lịch sử - văn hoá
Công tác quản lý tài sản của một di tích đã được xếp hạng quốc gia tuyệt đối không cho phép thêm hoặc bớt bất cứ thứ gì Vậy mà chỉ cần “thí chủ phát tâm” là nhà chùa sẵn lòng mở cửa, dọn chỗ cho không chỉ sư tử đá mà còn cho nhiều đồ cung tiến khác như đá phong thủy, tượng, bát hương, bùa chú Chúng tôi đã ghi nhận được nhiều ý kiến của các chuyên gia về văn hoá, lịch sử xung quanh câu chuyện về những con sư tử đá Nhiều ý kiến khá gay gắt, nặng nề cho rằng đây là lối khoe mẽ vô văn hoá, thậm chí đây là “bệnh sư tử”, là “họa sư tử” - một cái họa
về văn hóa
Bởi ngay cả khi bị áp đặt hay chủ động giao lưu - tương tác văn hoá, người Việt luôn biết tiếp thu một cách chọn lọc tinh hoa văn hoá ngoại lai rồi Việt hoá nó,
“thuần phục” nó theo cách riêng của mình Chưa bao giờ tổ tiên chúng ta chấp nhận
sự sao chép dập khuôn vô thức Nhưng ngày nay, câu chuyện thiếu vốn hiểu biết văn hoá và sự cẩu thả trong ứng xử và quản lý di tích lịch sử - văn hoá là “căn bệnh” đã lây lan khắp nơi Đây là hành động vô tình lại vi phạm Luật Di sản
Sau 1986, chủ trương mở cửa hội nhập đã mở ra sự phát triển kinh tế văn hóa với khu vực và quốc tế, đời sống kinh tế của người dân khá hơn cho nên việc giao
Trang 37lưu buôn bán được mở rộng hơn; nhà cửa, cơ sở kinh doanh, khu thương mại, khu vui chơi được xây dựng khắp nơi Cư dân từ các nước châu Á sang làm ăn ở Việt Nam đã mang theo văn hóa của họ, do có sự tương đồng trong tín ngưỡng, tôn giáo cũng như trong văn hóa vì vậy những biểu tượng văn hóa của các cư dân ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc… đã dễ dàng được người Việt Nam đón nhận mà không hiểu hết ý nghĩa đặc trưng của các biểu tượng trang trí đó, trường hợp sử dụng tượng sư tử đá lấy nguyên mẫu của Trung Quốc, đèn đá của Nhật Bản
để trưng bày nơi thờ tự, tư gia là một ví dụ điển hình
Trong giai đoạn hiện nay, trong xã hội, người giàu lên cũng nhanh, nhưng làm ăn thua lỗ cũng nhanh, nạn chạy chức, tệ nạn tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp… với tâm lý bất an, người ta đã tìm đến thế giới tâm linh để giải tỏa Vì vậy tệ nạn mê tín di đoan ngày càng gia tăng Trong khi đó, hầu hết ở các làng xã, các nơi thờ tự, bảo tàng còn lưu giữ được rất nhiều hiện vật, sản phẩm biểu tượng trang trí mang đặc thẩm mỹ của người Việt, có giá trị nghệ thuật cao, nhưng các hiện vật, sản phẩm của cha ông đã dường như bị quên lãng, thay vào đó là các sản phẩm không phù hợp với thuần phong mỹ tục, xa lạ với thẩm mỹ người Việt
Việc giáo dục di sản cho học sinh, cho cộng đồng còn thiếu và yếu Tại nhiều địa phương, di sản mỹ thuật của cha ông đậm đặc, có bề dày lịch sử như Hà Nội, Ninh Bình, Bắc Ninh… có nhiều tác phẩm nghệ thuật điêu khắc quý, nhưng người dân không biết đến các giá trị của nó, vì vậy khi có sản phẩm khác của người ngoài sẵn có thì họ dễ dàng tiếp nhận
Công tác quản lý văn hóa và năng lực cán bộ quản lý văn hóa còn hạn chế Nhiều năm qua, hiện tượng đưa hiện vật mới vào di tích tràn làn nhưng thiếu sự quan tâm, thanh tra, kiểm tra, nhắc nhở, tuyên truyền của cán bộ với nhân dân, vì vậy nó trở thành chuyện đã chót thường cho qua
Chính báo chí, nhất là BĐT đi tiên phong trong công cuộc tìm lại sử Việt, nguồn gốc Việt thông qua vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật tràn lan Phản ánh thực trạng một cách nghiêm túc và đồng loạt đã trở thành một vấn đề thời
sự mang tính cấp bách, không còn là hiện tượng văn hóa đơn thuần nữa Sau 3 năm, một vấn đề vẫn còn được quan tâm và có thành công nhất định mà xã hội ghi nhân không phải là điều đơn giản, để đạt được điều đó các nhà báo, các cơ quan báo chí
đã chung sức cùng lên kế hoạch truyền thông cụ thể
Trang 38Hậu quả của việc sản xuất và sử dụng các sản phẩm biểu tượng trang trí ngoại lai, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam
Cách đây không lâu, khi ngành giáo dục quyết định không đưa môn lịch sử vào thi tốt nghiệp thì ở một trường các em đã xé tài liệu môn lịch sử trắng xóa sân trường Tình trạng học sinh, giới trẻ không thích học và tìm hiểu lịch sử Việt Nam ngày càng phổ biến Lịch sử Việt Nam ít được tuyên truyền, phổ cập một cách bài bản, các chương trình dạy lịch sử trở nên nhàm chán với giới trẻ, chủ yếu là học thuộc
Trong khi đó, các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc có các chương trình quảng bá, giới thiệu về lịch sử nước ngoài hấp dẫn qua các kênh văn hóa như truyện, phim các sản phẩm văn hóa ngày càng tăng và hấp dẫn Kiến thức
về văn hóa, thẩm mỹ dân tộc của giới trẻ và đại bộ phận dân chúng ngày càng yếu, đây được coi là “sức đề kháng” với các luồn văn hóa nước ngoài trong thời kỳ hội nhập trở nên yếu ớt, chính vì lẽ đó, văn hóa ngoại lai dễ dàng chiếm lĩnh và xâm nhập, trở thành làn sóng mạnh mẽ Văn hóa và thẩm mỹ dân tộc Việt trở nên nhạt nhòa trước sức ép của văn hóa và thẩm mỹ nước ngoài Nếu không có sự điều chỉnh
từ những cơ quan quản lý nhà nước, những người làm văn hóa và giới truyền thông vào cuộc thì nguy cơ bản sắc văn hóa Việt Nam sẽ bị hòa tan trong dòng chảy hội nhập, bản sắc văn hóa Việt sẽ không còn Có nhà nghiên cứu còn cho rằng “đây là sự xâm lăng văn hóa” mà chúng ta dùng văn hóa nước ngoài để xâm lăng chính mình
Về các làng nghề thủ công truyền thống
Việt Nam là quốc gia có nghề thủ công truyền thống phát triển lâu đời như gốm, gỗ, sơn, đan lát, chạm khảm được các nước ưa chuộng Hiện nay nhiều bảo tàng thế giới cũng như trong nước và tại các di tích vẫn còn lưu giữ được các sản phẩm thủ công hết sức tinh xảo, mang đậm nét bản sắc thẩm mỹ văn hóa Việt Đặc biệt, các sản phẩm thủ công là những hàng đơn chiếc, không sản phẩm nào giống nhau, điều này cho thấy sức sáng tạo của người Việt Nam là vô cùng lớn
Nhưng thời gian gần đây, do giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế, các làng nghề sản xuất khá nhiều sản phẩm nhưng phần lớn làm theo đơn đặt hàng của nước ngoài với những mẫu mã có sẵn Nhiều làng nghề phần lớn làm gia công cho đối tác nước ngoài, hoặc xuất sản phẩm thô, vì vậy không có thương hiệu cho riêng mình Với những mẫu mã có sẵn, người ta sản xuất bán ra thị trường nội địa với giá rẻ, kém chất lượng Với giá thành rẻ, hình thức bắt mắt người dân mua về dùng không
Trang 39cần tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa Hiện tượng sử dụng tượng sư tử đá kiểu Trung Quốc, chấu Âu, các sản phẩm tượng Quan Công, Tam Đa, tượng Phật Quan Âm Bạch y… là một ví dụ Với các sản phẩm này, người thợ trở thành cái máy sản xuất hàng hóa, thiếu cảm xúc và sáng tạo Phần lớn thợ làng đá mỹ nghệ Non Nước, Đà Nẵng và Ninh Vân, Ninh Bình đã thành thạo trong việc chế tác các sản phẩm đá là tượng sư tử kiểu Trung Quốc, khi đặt hàng mới là họ không thể làm ngay được, đặc biệt là họ không thể sáng tạo ra được mặt hàng mới Đây là điều đáng lo ngại với các làng nghề thủ công, trong khi đó các mặt hàng thủ công trên thế giới người ta đánh giá cao các sản phẩm mang dấu ấn sáng tạo của người thợ Ở làng đá Ninh Vân, Ninh Bình trong đợt phong tặng nghệ nhân vừa qua không có người thợ nào
đủ tiêu chuẩn để phong nghệ nhân bởi họ không có sản phẩm nào do mình sáng tạo
ra, hoàn toàn là các sản phẩm làm thuê theo mẫu, tùy rằng tay nghề, kỹ năng chạm
Tiểu kết
Trong 3 năm qua, sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Bộ, các cơ quan liên quan cùng báo chí truyền thông đã luôn kịp thời nắm bắt thông tin, từ đó có phương án chỉ đạo kịp thời với những vấn đề liên quan đến việc di dời, loại bỏ linh vật ngoại lai ra khỏi di tích
Trong bối cảnh hội nhập, công băn 2662 có ý nghĩa rất lớn trong việc gìn giữ
và phát huy bản sắc Bởi vậy, việc thực hiện cần liên tục và đều đặn Phải thừa nhận rằng năm đầu chúng ta làm rất tốt, những năm sau đã có lúc có những khoảng lặng nhất định cho dù sự hiện hữu của linh vật ngoại lai tại đình chùa đâu đó vẫn còn
Cần xác định những “điểm nóng” để tiến hành các biện pháp thuyết phục tự nguyện di dời thay vì “cưỡng chế” Không nên để đâu đó hiểu nhầm rằng chúng ta bài ngoại vô căn cứ vì vậy việc thuyết phục mềm dẻo để người dân thấu hiểu đi đến quyết định tự nguyện di dời là việc làm quan trọng nhất
Trang 40Mặc dù đến nay, đại bộ phận các tầng lớp xã hội đã có những chuyển biến về vấn đề sử dụng biểu tượng, linh vật, đặc biệt sử dụng phục vụ tâm linh Các làng nghề mỹ nghệ đã chuyển sang sản xuất các sản phẩm truyền thống Tuy nhiên, để mọi người cảm thấy thực sự yêu mến và thấy linh vật Việt đẹp thì cũng còn cần thời gian Cần tăng cường các kênh truyền tải vẻ đẹp linh vật Việt hơn nữa và linh vật Việt cũng cần có những hình dáng thay đổi phù hợp với hiện tại thay vì dập khuôn lại mẫu cũ Đây cũng là thách thức với các nghệ nhân để chế tác ra những sản phẩm mới vừa mang hơi thở thời đại mà vẫn mang hồn cốt cha ông
Báo chí, đặc biệt là BĐT với nhiều thế mạnh về loại hình trong thời kỳ bùng
nổ công nghệ thông tin, trở thành kênh truyền thông mạnh dạn, chủ lực và hiệu quả nhất giúp cho công chúng hiểu nhanh nhất và rõ nhất bản chất của hiện tượng sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không đúng với văn hóa Việt một cách tràn lan
Từ việc đó, BĐT có thể chấn chỉnh và giảm thiểu hiện tượng tiêu cực này BĐT mạnh dạn phản ánh tất cả các biểu hiện lệch lạc từ khâu quản lý tại các di tích, đình, chùa, công sở cho người dân Bên cạnh ưu thế về loại hình, trong quá trình thông tin BĐT cũng bộc lộ rõ nét các đặc điểm và thực hiện các vai trò và chức năng cơ bản của hoạt động báo chí nói chung trong truyền thông đại chúng Trong đó, các chức năng thông tin, văn hóa, giáo dục, quản lý, giám sát và phản biện xã hội là những chức năng được thể hiện rõ rệt nhất Tuy nhiên, cũng không thể không kể tới những tồn tại, hạn chế của BĐT trong quá trình thông tin về hiện tượng tiêu cực này
Hệ thống các khái niệm được trình bày trong chương 1 sẽ là cơ sở lý luận để luận văn khảo sát, phân tích thực trạng BĐT với vấn đề sử dụng biểu tượng, sản phẩm linh vật không phù hợp với văn hóa Việt ở hai chương tiếp theo