Những người phụ nữ Nhật Bản vốn khiêm nhường và bị giới hạn trong phạm vi gia đình, gia tộc trước chiến tranh đã dũng cảm bước ra xã hội, ghé vai cùng nam giới san sẻ những gánh nặng của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG NGUYỄN PHƯƠNG VY
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NHẬT BẢN TRONG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 1945 - 1965
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
Hà Nội-2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG NGUYỄN PHƯƠNG VY
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NHẬT BẢN TRONG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 1945 - 1965
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học
Mã số: 60.31.06.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Hải Linh
Hà Nội-2018
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG/ BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 5
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Kết cấu luận văn 6
Chương 1 NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1945 - 1965) VÀ NHỮNG CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN PHỤ NỮ 8 1.1 Bối cảnh Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai 8
1.2 Các chính sách liên quan đến phụ nữ 10
1.2.1 Hiến pháp năm 1946 10
1.2.2 Một số luật định liên quan đến phụ nữ ban hành sau Chiến tranh thế giới thứ hai 13
Tiểu kết chương 1 19
Chương 2 VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NHẬT BẢN TRONG GIA ĐÌNH GIAI ĐOẠN 1945 - 1965 21
2.1 Vị trí của người phụ nữ trong gia đình 21
2.2 Vai trò của người phụ nữ trong gia đình.Error! Bookmark not defined 2.2.1 Vai trò giáo dục con cái 30
2.2.2 Vai trò quản lý và nội trợ trong gia đình 31
2.3 Những thay đổi của phụ nữ trong quá trình thực hiện bình đẳng giới trong gia đình362.3.1 Tình trạng li hôn 36
Trang 42.3.2 Quyền thừa kế tài sản 39
Tiểu kết chương 2 40
Chương 3 VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NHẬT BẢN TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ - CHÍNH TRỊ GIAI ĐOẠN 1945 - 1965 43
3.1 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thay đổi quan niệm xã hội 43
3.1.1 Thay đổi trong cơ cấu kinh tế và sản xuất hàng hóa 43
3.1.2 Thay đổi trong quan niệm xã hội 50
3.2 Đặc trưng của lao động nữ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Error! Bookmark not defined 3.3 Những khó khăn thách thức trong việc nâng cao vai trò xã hội của phụ nữ Nhật Bản giai đoạn 1945 - 1965 53
3.3.1 Điều kiện làm việc của lao động nữ 43
3.3.2 Một số vấn đề ảnh hưởng đến việc nâng cao vai trò xã hội của phụ nữ Nhật Bản 56
3.4 Hoạt động xã hội của phụ nữ Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945 - 1965) 66
3.4.1 Hoạt động tham chính của phụ nữ 66
3.4.2 Phụ nữ tham gia vào soạn thảo Hiến háp 68
3.4.3 Phụ nữ tham gia vào hoạt động dân chủ 69
Tiểu kết chương 3 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 88
Trang 5DANH MỤC BẢNG/ BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.2 Khảo sát về việc lựa chọn bạn đời của thanh niên Nhật Bản
(1952)
26
Bảng 2.3 Ý kiến về việc đàn ông tham gia nội trợ (1952) 34 Bảng 2.4 So sánh tỷ lệ kết hôn và li hôn (1947-1965) 37 Bảng 2.5 Tỷ lệ các vụ li hôn theo nguyên nhân (số liệu năm 1952
Bảng 3.6 Các sự kiện tiêu biểu liên quan đến sự thay đổi vai trò
xã hội của phụ nữ Nhật Bản giai đoạn 1945-1965
71
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ nội dung các điều luật liên quan đến phụ nữ trong
Hiến pháp
10
Biểu đồ 2.1 Số người trung bình trong một hộ gia đình (1960-2005) 25 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ lao động nam và nữ tại Nhật Bản (1984-1945) 46
Trang 6triển một cách vượt bậc - điều mà sau này người ta vẫn quen gọi là ―Thần kỳ Nhật Bản‖ Để có được phép màu đó, không thể phủ nhận được vai trò quan
trọng của người phụ nữ Nhật Bản đương thời khi phải mang cả hai gánh nặng gia đình và xã hội trên vai Những người phụ nữ Nhật Bản vốn khiêm nhường và bị giới hạn trong phạm vi gia đình, gia tộc trước chiến tranh đã dũng cảm bước ra xã hội, ghé vai cùng nam giới san sẻ những gánh nặng của đất nước
Bên cạnh những hậu quả bi thảm, sự kết thúc của Chiến tranh thế giới thứ hai là một cú hích lớn tạo tiền đề cho sự thay đổi sâu rộng trên mọi phương diện của nước Nhật Sự thay đổi về chính trị, kinh tế, và đặc biệt là xã hội với những luồng tư tưởng mới về giải phóng phụ nữ chính là điều kiện tiên quyết để thay đổi vị trí và vai trò của phụ nữ Nhật Bản đương thời Phụ
nữ bắt đầu được tiếp xúc với hệ thống đào tạo bậc cao, được đặt trên một cán cân ngang bằng với nam giới về vị trí xã hội, dù chỉ trên giấy tờ Đặc biệt, năm 1965 đánh dấu lần đầu tiên tỷ lệ nữ học sinh tốt nghiệp các trường đại học ngắn hạn dành cho nữ giới kiếm được việc làm lên đến 57,4% 1 Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản con số này vượt quá 50% Giải phóng phụ
nữ khỏi sự kìm hãm của quan niệm truyền thống xã hội đồng nghĩa với việc
1
Nguồn: http://www.mext.go.jp/a_menu/shotou/career/05010501/001.htm
Trang 7giải phóng một nguồn nhân lực thiết yếu, góp phần cho sự phục hồi và vực dậy của đất nước
Việc đánh giá chính xác vai trò của phụ nữ Nhật Bản trong 20 năm sau chiến tranh không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về một giai đoạn mang tính bước ngoặt của lịch sử Nhật Bản mà còn góp phần đưa ra những gợi ý cho giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực quan trọng này Với lý do trên, tác
giả luận văn đã lựa chọn nghiên cứu đề tài ―Vai trò của phụ nữ Nhật Bản trong
xã hội giai đoạn 1945 - 1965‖
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, vấn đề bình đẳng giới được nhiều nhà xã hội học quan tâm nghiên cứu Có rất nhiều các công trình, bài viết về vấn đề bình đẳng giới Cũng như các nước Châu Á đã từng ít hay nhiều bị ảnh hưởng bởi
tư tưởng Nho giáo, tình hình bất bình đẳng giới ở Nhật Bản khá nghiêm trọng, bởi vậy, các công trình, bài viết về vấn đề bình đẳng giới ở Nhật Bản cũng khá là đồ sộ
Trước hết phải kể đến nghiên cứu của Park Jinjing với tiêu đề Bổ sung nghị viên nữ vào Chúng nghị viện (女性衆議院議員の政治補充), đăng trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục Phụ nữ Quốc gia vào năm 2007 [41] Bài viết đã khái quát một cách đầy đủ về quá trình phụ nữ tham chính cùng những khó khăn thách thức mà họ phải đối mặt sau khi 39 nữ nghị viên trúng cử vào Chúng nghị viện lần đầu tiên trong cuộc tổng tuyển cử lần thứ 22 của Nhật Bản (1946)
Tiếp theo là nghiên cứu của Kanagawa Megumi năm 2012 về ―Quá trình lịch sử dẫn đến Luật Phúc lợi dành cho Bà mẹ Trẻ em và Góa phụ‖ (母 子及び寡婦福祉法成立までの歴史的経緯) đăng trên tạp chí Lý luận Kinh tế số
370 của Trường Đại học Wakayama [43], trong đó phần 4 của bài viết đã đề cập một cách chi tiết đến nội dung cơ bản và quá trình xây dựng Luật Phúc lợi
Trang 8dành cho Bà mẹ Trẻ em và Góa phụ, cùng ảnh hưởng của luật này sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Về bình đẳng giới tại Nhật Bản, không thể không nhắc đến quyển tự
truyện viết năm 1995 của Beate Shirota Gordon với nhan đề Giáng sinh năm
1945 (1945年のクリスマス), nhà xuất bản Asahi Shimbun [40] Cuốn sách
kể về câu chuyện của một cô gái trẻ sinh ra tại Viene và lớn lên ở Nhật Bản Sau khi cô sang Mỹ học đại học thì nước Nhật bắt đầu lao vào vòng xoáy của Chiến tranh thế giới thứ hai Chiến tranh kết thúc, cô trở về Nhật Bản với tư cách mới và làm việc trong Bộ tổng tư lệnh tối cao quân Đồng minh (GHQ – General Headquarters, the Supreme Commander for the Allied Powers) Một tháng sau khi nước Nhật bại trận, cô gái 22 tuổi này đã tham gia vào nhóm biên soạn Hiến pháp của Nhật Bản và đề xuất việc khẳng định nhân quyền cho phụ nữ Nhật Bản Chương 5 của quyển tự truyện tập trung trình bày về các quyền của phụ nữ trong Hiến pháp mới Chương 6 đề cập đến sự khó khăn của người phụ nữ đã kết hôn khi phải cân bằng giữa cả công việc lẫn gia đình Đây là một tác phẩm tiêu biểu về bình đẳng giới tại Nhật Bản, miêu tả một cách chân thực, đầy đủ và sống động về tình trạng nhân quyền của người phụ nữ sau chiến tranh và những thay đổi sau khi Hiến pháp mới công nhận quyền bình đẳng của họ
Nghiên cứu của Takashi Koyama, có tên ―Thay đổi vị trí xã hội của phụ
nữ Nhật Bản‖, (Nxb La Tribune de Genève, 1961) [33] là một nghiên cứu
khá toàn diện về sự thay đổi của phụ nữ Nhật Bản từ những năm đầu Minh Trị đến khoảng năm 61 của thế kỷ XX Nghiên cứu tập trung phân tích sự phân biệt phụ nữ hai khu vực nông thôn và thành thị, đồng thời thể hiện rõ quan điểm, rằng phụ nữ thành thị là đại diện của những điều mới và tiến bộ, ngược lại, phụ nữ nông thôn là đại diện cho hệ tư tưởng xã hội cũ Tác phẩm cũng thể hiện rõ sự chuyển dịch của người phụ nữ nông thôn Nhật Bản ra khu
Trang 9vực kinh tế thành thị, và những thay đổi trong việc nhận thức vị trí mới cùng trách nhiệm mới trong xã hội
Trên đây là những công trình nghiên cứu tiêu biểu của các học giả Nhật Bản có liên quan đến đề tài của luận văn Các nghiên cứu này đã cung cấp những thông tin quan trọng và gợi mở nhiều vấn đề cho tác giả luận văn khi lựa chọn hướng triển khai đề tài và xây dựng cấu trúc cho luận văn Nhiều thống kê và tư liệu của các công trình trên được tác giả lựa chọn trích dẫn và phân tích trong luận văn
Ở Việt Nam, tác phẩm Tuyển tập Hiến Pháp của một số quốc gia của
dịch giả Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lã Khánh Tùng, Vũ Công
Giao (Nxb Hồng Đức, 2012) [6], và bài viết Lịch sử và tương lai của bộ luật Dân sự Nhật Bản đón nhận thời đại của thuyết lập pháp hiện đại của Takada
Hirotaka do Thu Trang biên dịch và công bố trên Tạp chí Luật học số 9-2014 [25] là hai tài liệu nghiên cứu về hai bộ luật Dân sự và Hiến pháp của Nhật Bản đã được dịch ra Tiếng Việt một cách bài bản
Tuy nhiên chưa có nghiên cứu hay xuất bản phẩm nào chính thức đề cập đến đề tài mà tác giả lựa chọn Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Hồng
Vân, Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội Nhật Bản trong những năm gần đây, Tạp chí Đông Bắc Á số 11(177)/2015, năm 2015; Phạm Thị Phương Minh, Phong trào đòi quyền tham chính của phụ nữ Nhật Bản từ sau chiến tranh Thế giới thứ hai (1945) đến nay, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Châu
Á học, năm 2015; Trần Mạnh Cát, Gia đình Nhật Bản, Nxb Khoa học xã hội,
2004… là những công trình ít nhiều đề cập đến vấn đề có liên quan đến luận
văn Ngoài ra bản dịch tác phẩm dịch Cải cách giáo dục Nhật Bản của Ozaki
Mugen cũng là một công trình có ý nghĩa tham khảo (Nxb.Từ điển Bách Khoa, năm 2014) [20] Tác giả nghiên cứu khá chuyên sâu về vấn đề giáo dục
Trang 10của Nhật Bản từ thời phong kiến đến hiện đại, đặc biệt, sách có đề cập rất nhiều đến các phong trào giáo dục mới của Nhật Bản
Điểm mới và đóng góp của luận văn: Như đã trình bày, trên cơ sở những
tài liệu mà tác giả luận văn tìm được, hiện chưa có công trình nào có tiêu đề như tên của luận văn Thông qua việc tham khảo các kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước, kết hợp với phân tích nhận định của bản thân, tác giả mong muốn
có thể đưa ra một cái nhìn khách quan và tổng hợp về sự thay đổi vai trò của người phụ nữ Nhật Bản trong giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ hai
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn phân tích và đánh giá vai trò của người phụ nữ trong gia đình và
xã hội Nhật Bản giai đoạn 20 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945 -1965) 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày và đánh giá những văn bản pháp qui được ban hành sau
chiến tranh có ảnh hưởng đến vị trí và vai trò của phụ nữ
- Phân tích sự thay đổi và vai trò của phụ nữ Nhật Bản trong gia đình
trong 20 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai
- Phân tích sự thay đổi và vai trò của phụ nữ Nhật Bản trong xã hội trong
20 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai
- Đánh giá và lý giải những thành tựu và vấn đề đặt ra trong nỗ lực cải
thiện vai trò của phụ nữ Nhật Bản trong 20 năm sau chiến tranh
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò của phụ nữ Nhật Bản
trong xã hội
Phạm vi không gian: đất nước Nhật Bản
Phạm vi thời gian: 20 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945-1965)
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tùy từng nội dung, tác giả đã lựa chọn và sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, bao gồm các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài được chứng thực về nguồn gốc, các thông tin, thống kê được công bố trên các trang web của các cơ quan chính phủ Nhật Bản Tác giả tập trung sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích khi đánh giá các chính sách, các nhân vật lịch sử, các sự kiện liên quan đến bối cảnh hay phản ánh quá trình thay đổi vai trò của phụ nữ Nhật Bản
- Phương pháp lịch đại, đồng đại và phương pháp logic trong nghiên cứu lịch sử được sử dụng để sắp xếp các thông tin, các dữ kiện và luận cứ về
sự thay đổi vai trò của phụ nữ Nhật Bản theo từng mốc thời gian cụ thể
- Phương pháp đối chiếu so sánh được sử dụng khi phân tích và làm sáng rõ sự thay đổi của các văn bản pháp qui, sự khác biệt về nội dung và áp dụng chính sách đối với nam giới và nữ giới…
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp được sử dụng trong việc phân tích tự truyện của bà Beate Shirota Gorgon cùng vai trò của bà trong việc đòi lại quyền bình đẳng về giới cho phụ nữ Nhật Bản
6 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành ba chương
Chương 1: Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945-1965) và những chính sách liên quan đến phụ nữ
Chương này khái quát tình hình Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai và nội dung của Hiến pháp cùng các luật được xây dựng trên nền tảng
Trang 12Hiến pháp có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thay đổi và nâng cao vai trò của người phụ nữ Nhật Bản sau chiến tranh
Chương 2: Vai trò của phụ nữ Nhật Bản trong gia đình giai đoạn
1945 -1965
Chương 2 tập trung phân tích vai trò của người phụ nữ trong gia đình và
sự thay đổi của nó khi các chính sách liên quan đến phụ nữ ra đời và được áp dụng vào thực tế cuộc sống
Chương 3: Vai trò của phụ nữ trong xã hội Nhật Bản giai đoạn 1945 -1965
Chương này phân tích những thay đổi về vai trò của người phụ nữ Nhật Bản trong xã hội cùng những khó khăn thách thức mà họ phải đối mặt trong
quá trình đấu tranh đòi quyền bình đẳng
Trang 13Chương 1 NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1945 - 1965)
VÀ NHỮNG CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN PHỤ NỮ
1.1 Bối cảnh Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Sau khi nhục nhã tiếp nhận Tuyên bố Postdam và đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện, Nhật Bản bị quân Đồng minh, trên thực tế là quân đội Mỹ, chiếm đóng Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản bị nước ngoài chiếm đóng Nước Nhật mất hết thuộc địa (diện tích tương đương 44% toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản) [1; tr.18] và phải đối mặt với tình trạng bị bao vây, cấm vận, kinh tế bị phá huỷ hoàn toàn
Ngoài hai thành phố là Hiroshima và Nagasaki bị san phẳng vì bom nguyên tử cùng hàng triệu người chết và bị thương, hầu hết tất cả các thành phố lớn, các ngành công nghiệp cùng mạng lưới giao thông của Nhật Bản bị
hư hại nghiêm trọng vì phi cơ Mỹ ném bom vào các khu trung tâm công nghiệp để triệt hạ sức sản xuất chiến tranh của nước Nhật 34% máy móc, 25% công trình xây dựng, 81% tàu biển bị phá huỷ Tại nhiều nơi của Nhật Bản chỉ còn lại đống đổ nát hoang phế Tổng số người chết, bị thương và mất tích lên đến 3 triệu người Tổng giá trị thiệt hại trong chiến tranh lên đến 64,3 tỷ yên, xấp xỉ ngang tổng giá trị tài sản quốc gia năm 1935 [8, tr.325] Cùng với đó, việc cấm vận và bao vây từ bên ngoài cũng khiến cho Nhật Bản bị gián đoạn
về việc nhập khẩu nguyên liệu cho công nghiệp Nhiều nhà phân tích cho rằng, đối với một đất nước có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nhập khẩu như Nhật Bản, thì điều này gây ra nhiều thiệt hại hơn là bị phá huỷ cơ sở vật chất cố định trong chiến tranh Các mỏ than và thuỷ điện được xem như là nguồn năng lượng chủ yếu của Nhật Bản thời kỳ này cũng gần như bị tê liệt, khiến cho các ngành công nghiệp liên quan cũng bị ảnh hưởng trầm trọng Sản lượng
Trang 14công nghiệp năm 1946 chỉ còn chưa đến 1/3 tổng sản lượng công nghiệp năm
Reischauer cho rằng: ― Với sự tàn phá hầu hết các đô thị và sự huỷ diệt hầu như hoàn toàn lực lượng tàu buôn vốn từ trước đến nay làm thành mạch máu kinh tế duy trì sự sống của nước Nhật, sản xuất công nghiệp của Nhật tụt xuống mức thấp nhất: vào năm 1946 chỉ còn 1/7 mức sản xuất của năm 1941 Dân chúng ăn mặc rách rưới, ăn uống thiếu thốn, và bị kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần [7, tr.272-273]‖
Bên cạnh đó, tình trạng lạm phát nghiêm trọng cũng đồng thời xảy ra khiến cho giá cả tăng vọt Trong chiến tranh, thâm hụt ngân sách do tiền mặt
Trang 15đổ hết vào chiến tranh khiến cho trái phiếu của chính phủ và các món nợ của trung ương đã lên đến 200% So với năm 1945, chỉ số giá tiêu dùng tăng gấp 7.889% vào năm 1949 [8, tr.326] Sản xuất công nghiệp năm 1946 chỉ bằng 1/4 so với trước chiến tranh Chính phủ Nhật đã có các biện pháp như phát hành tiền mới, gửi tiền tiết kiệm, thu thuế tài sản để chống lạm phát, nhưng kết quả vẫn không ngăn được lạm phát, gây mất lòng tin trong dân chúng vào chính phủ, dẫn đến tình trạng gần như vô chính phủ
Ngoài ra, Nhật Bản còn bị quân Đồng minh đòi bồi thường về chiến tranh Khoản bồi thường này cũng là một khó khăn không nhỏ của Nhật Bản khi đất nước đang ở trong tình trạng mất kiểm soát về mọi mặt Cuối cùng, Nhật Bản phải dựa vào viện trợ kinh tế của Mỹ dưới hình thức vay nợ để phục hồi kinh tế
1.2 Các chính sách liên quan đến phụ nữ
1.2.1 Hiến pháp năm 1946
Nhằm sớm đưa Nhật Bản ra khỏi chủ nghĩa quân phiệt và để kiến tạo một nước Nhật mới, ngày 3/11/1946, Hiến pháp mới được công bố thay thế cho Hiến pháp Minh Trị, với tên gọi là Hiến pháp Nhật Bản (日本国憲法) và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 3/5/1947 So với Hiến pháp Minh Trị, bản Hiến pháp này có rất nhiều điều khoản mới đảm bảo quyền công dân Nhật Bản trước pháp luật nói chung và bảo vệ người phụ nữ nói riêng Tác giả luận văn
đã thống kê các điều luật liên quan đến phụ nữ trong Hiến pháp mới và nhận thấy: trong tổng số 103 điều (11 chương), số điều luật liên quan đến phụ nữ là
11 điều, chiếm 11,33% Trong đó, nội dung về bình đẳng giới chiếm 27,3% (Điều 13, Điều 14, Điều 18); hôn nhân chiếm 9,1% (Điều 24); tư hữu 9,1% (Điều 29); giáo dục chiếm 27,3% (Điều 23, Điều 25, Điều 26); lao động chiếm 9,1 % (Điều 27); bầu cử chiếm 18,2 % (Điều 15, Điều 44)
Trang 16Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ nội dung các điều luật liên quan đến phụ nữ trong Hiến pháp
Đơn vị (%)
Bảng do tác giả tự lập trên cơ sở đối chiếu với Hiến pháp Nhật Bản [6]
Sau đây, tác giả luận văn xin tập trung phân tích một số nội dung quan trọng, làm nền tảng cho sự thay đổi vị trí của phụ nữ ở Nhật Bản sau Chiến
tranh thế giới thứ hai Trước hết, Điều 14 Hiến pháp viết: ―Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và không có bất kỳ sự phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, địa vị xã hội, hay lai lịch bản thân trong tất cả các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế‖ [6, tr.19]
Tiếp theo, Điều 24 đã cụ thể hoá quyền bình đẳng của người phụ nữ trong hôn nhân và gia đình:
―Hôn nhân phải có sự tán thành của cả hai vợ chồng, phải tồn tại dựa trên sự hợp tác, bình đẳng về quyền lợi giữa hai người
Dựa trên tinh thần tôn trọng phẩm giá cá nhân, bình đẳng giới, pháp luật ban hành quy định về việc lựa chọn vợ chồng, quyền tư hữu, thừa kế, chọn lựa nơi ở, li dị và mọi vấn đề khác về hôn nhân, gia đình‖ [6, tr.20]
Bình đẳng, 27.3
Hôn nhân, 9.1
Tư hữu, 9.1 Giáo dục, 27.3
Lao động, 9.1 Bầu cử, 18.2
Trang 17Như vậy, theo Điều 24 của Hiến pháp mới, mối quan hệ trong gia đình lấy nam giới làm trung tâm đã chuyển thành mối quan hệ bình đẳng giữa vợ
và chồng Điều 24 nhấn mạnh sự tôn trọng các quyền cá nhân cùng sự bình đẳng cơ bản giữa nam giới và nữ giới
Một trong những điều được chú ý nữa là quan điểm dân chủ hoá giáo
dục Điều 23 Hiến pháp viết rằng:―Chính phủ đảm bảo quyền tự do học thuật của công dân‖ [6, tr.20] Điều 26 ghi rõ:
―Mọi công dân đều có quyền hưởng một nền giáo dục bình đẳng, phù hợp với khả năng và theo quy định của pháp luật
Tất cả mọi người đều phải bảo đảm cho con em họ được tiếp thu giáo dục phổ thông theo quy định của luật pháp Giáo dục bắt buộc được miễn phí‖ [6, tr.21]
Điều 27 của Hiến pháp mới công nhận tự do việc làm của công dân:
―Mọi ngu ời đều có quyền và có nghĩa vụ làm viẹ c
Các tiêu chuẩn về lu o ng bổng, giờ làm, thời gian nghỉ ngo i và nhiều điều kiẹ n làm viẹ c khác đều đu ợc pháp luạ t quy định‖ [6,
tr 21]
Đây là một trong những nội dung nền tảng quan trọng giúp phụ nữ Nhật Bản chủ động rời khỏi phạm vi gia đình, bước vào xã hội và tự khẳng định mình Bên cạnh đó, Hiến pháp mới cũng công nhận quyền được tham chính
của phụ nữ Điều 44 viết: ―Điều kiẹ n bầu cử và ứng cử các thành viên m i Viẹ n đu ợc ghi trong pháp luạ t, không có sự phân biẹ t về chủng tọ c, tín ngu ỡng, giới tính, điều kiẹ n xã họ i, l lịch gia đình, học vấn, tài sản
và thu nhạ p‖ [6, tr 24]
Như vậy, bản Hiến pháp mới với ba nguyên lý nền tảng hoà bình, dân chủ, tôn trọng nhân quyền đã là nền móng vững chắc để Nhật Bản tiến hành cải cách trên mọi phương diện, xây dựng một nước Nhật hoàn toàn mới,
Trang 18mang lại cho phụ nữ một cơ hội được đặt trên cán cân công bằng với nam giới
để chứng minh khả năng của bản thân mình
1.2.2 Một số luật định liên quan đến phụ nữ ban hành sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Những nguyên tắc bình đẳng của Hiến pháp năm 1946 chính là nền tảng cho các văn bản quy phạm được ban hành sau đó như Luật Dân sự, Luật Cơ bản về Giáo dục, Luật Tiêu chuẩn Lao động Phần này tập trung phân tích một số điều luật tiêu biểu tạo điều kiện để phụ nữ Nhật Bản nâng cao vai trò trong gia đình và xã hội.
a Luật Dân sự năm 1947
Luật Dân sự của Nhật Bản được ban hành đầu tiên dưới thời Minh Trị (明治 - 1868-1912), và được gọi là Luật Dân sự thời Minh Trị (明治民法) Luật Dân sự thời Minh Trị đã đề cập đến các quyền công dân cơ bản nhưng vẫn tồn tại những điều khoản không bình đẳng đối với phụ nữ Tiêu biểu là những quy định về quyền của người chồng được quản lý toàn bộ tài sản sau khi kết hôn (Điều 801); hay việc người vợ không thể đơn phương li hôn trừ trường hợp người chồng ngoại tình (Điều 813); hoặc việc sau khi li hôn, quyền nuôi con thuộc về người cha (Điều 877, Điều 866) [54]
Dựa trên cơ sở Hiến pháp mới, Luật Dân sự Minh Trị đã được sửa đổi vào năm 1947 Nội dung được sửa đổi nhiều nhất liên quan đến quyền của phụ nữ là chương 5 - Thừa kế (相続) Dựa trên Điều 24 của Hiến pháp là ―tôn trọng phẩm giá cá nhân‖ và ―bình đẳng giới‖, Luật Dân sự (民法) năm 1947
đã bác bỏ quyền thừa kế của con trưởng trong Đại gia đình Ie (家) – một hệ thống gồm nhiều hộ gia đình nhỏ có chung huyết thống – và khẳng định quyền thừa kế là bình đẳng đối với cả nam giới lẫn nữ giới Nếu trong Luật Dân sự thời Minh Trị, người vợ về cơ bản không có quyền thừa kế, thì trong Luật Dân sự năm 1947, sau khi người chồng mất, người vợ có quyền thừa kế
Trang 19cao hơn so với con cái trong gia đình, kể cả con trai trưởng Bên cạnh đó, không phân biệt nam nữ, những đứa con trong gia đình đều có quyền thừa kế như nhau Điều này đã gián tiếp phủ nhận hệ thống Đại gia đình Ie - nơi con trai trưởng là người có quyền thừa kế cao nhất, khẳng định vị trí của gia đình hạt nhân trong xã hội
Theo Luật Dân sự năm 1947, người ta bãi bỏ chế độ Quyền chủ hộ (戸主権) của nam giới thuộc Luật Hộ tịch (戸籍法) với nội dung chỉ công nhận quyền thừa kế của con trai trưởng, đồng thời công nhận quyền thừa kế hợp pháp của người vợ Chẳng hạn, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 762 Luật Dân sự năm 1947, nội dung liên quan đến sở hữu tài sản của vợ và chồng ghi rõ:
Khoản 1 Điều 762: ―Tài sản hoặc là thuộc về người chồng hoặc thuộc
về người vợ trước khi kết hôn, cũng như tài sản được mua dưới tên của vợ hoặc chồng trong hôn nhân sẽ là tài sản đặc biệt.‖
Khoản 2 Điều 762: ―Những tài sản của vợ chồng không phân biệt rõ ràng về người sở hữu được xem như là tài sản sở hữu chung của cả hai vợ chồng‖ [38, pg.87-88] Như vậy, theo Luật Dân sự năm 1947, người vợ được
phép sở hữu tài sản trước và sau hôn nhân
Nguyên tắc về bình đẳng giới được phản ánh trong nhiều nội dung của Luật Dân sự năm 1947 chính là khung pháp lý quan trọng cho việc giải phóng phụ nữ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Dù vậy, sức mạnh và quyền lực của các bậc cha mẹ, của người chồng trong gia đình vốn đã bám rễ từ rất lâu trong
tư tưởng và xã hội Nhật Bản không thể biến mất hoàn toàn một cách nhanh chóng chỉ sau một bộ luật mới
b Luật Cơ bản về Giáo dục năm 1947
Thời Minh Trị, quyền bình đẳng của nữ giới trong giáo dục được thể hiện rõ nhất trong Học chế giáo dục được ban bố ngày 5/9/1872 với hi vọng không có nhà nào thất học, và mỗi nhà không có người nào thất học Năm
Trang 201891, các chính sách của sự tách biệt nam nữ trong lớp học cho các em học sinh trên lớp ba đã bắt đầu có hiệu lực Chính sách này rõ ràng là sự hồi sinh của hệ thống giáo dục của Khổng Tử: bắt đầu từ bảy tuổi trở lên, các bé trai
và bé gái không nên tiếp xúc nhiều với nhau Việc tách riêng giáo dục các bé trai và bé gái với nhau sau khi học xong lớp ba cấp tiểu học là cấp thiết, và cũng vì khác biệt về giới tính nên các chương trình giáo dục giữa nam và nữ cũng cần phải có những lĩnh vực chuyên sâu khác nhau
Khoảng năm 1910 và sau đó, một vài trường Đại học bắt đầu chấp nhận
nữ sinh viên, bên cạnh đó, số lượng các trường trung học cho nữ giới tăng lên nhanh chóng Giáo dục được phổ cập trên toàn quốc, đồng thời qua đó cũng đẩy mạnh các khái niệm về sự bình đẳng giới Đây chính là tình trạng của giáo dục dành cho nữ giới trước khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai Trong tình cảnh đất nước sau chiến tranh, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Maeda Tamon quyết định giải trừ thể chế giáo dục dưới thời chiến; một mặt tích cực bày tỏ phương châm giáo dục sau chiến tranh Trong ―Phương châm giáo dục
nhằm xây dựng nước Nhật mới‖ (15/9/1945) viết rằng: ―Giáo dục từ bây giờ trở đi sẽ vừa tiếp tục giữ gìn quốc thể vừa loại trừ tư tưởng quân phiệt và những chính sách của nó, khiêm tốn phản tỉnh nhằm xây dựng quốc gia hoà bình‖ [20, tr.218]
Nhờ có giáo dục mà việc bình đẳng giới được tuyên truyền rộng rãi trong xã hội Nếu như tri thức chính là điều kiện để khuếch tán bình đẳng giới, thì các tổ chức cơ bản của hệ thống giáo dục chính là công cụ để thực hiện nó Luật Cơ bản về Giáo dục bắt đầu có hiệu lực vào ngày 31/3/1947 Điều 1
khẳng định: ―Giáo dục phải được thực hiện để hoàn thiện nhân cách, thể chất
và cả tinh thần‖ [20, tr.226] Tiếp đó, Điều 3 quy định: ―Tất cả mọi người được trao quyền có cơ hội nhận được sự giáo dục theo khả năng của họ, không phải chịu bất kỳ một sự kỳ thị giáo dục nào vì các lý do chủng tộc, tín
Trang 21ngưỡng, giới tính, địa vị xã hội, vị thế kinh tế, hoặc nguồn gốc gia đình‖. Bên
cạnh đó, Điều 5 viết:―[ ] công nhận giáo dục chung cho cả nam và nữ trong
hệ thống giáo dục‖ [48] Theo Điều 5, chế độ giáo dục chung cho cả nam và
nữ được công nhận, đồng nghĩa với việc không còn sự phân biệt về nội dung đào tạo giữa hai giới Bên cạnh đó, chương trình đào tạo bắt buộc cũng kéo dài hơn, từ 6 năm thành 9 năm Chế độ đào tạo 6-3-3-4 được công nhận Chế
độ giáo dục chung là một bằng chứng của bình đẳng giới, mang lại những cơ hội học tập ở những cấp cao hơn cho nữ giới Từ đây, giáo dục không còn là đặc quyền duy nhất của nam giới nữa
Trên cơ sở này, từ năm 1947, nhiều luật liên quan đã được ban hành, ví
dụ như Luật Giáo dục trường học (3/1947), Luật tổ chức Giáo dục (5/1949), Luật Uỷ ban Giáo dục (7/1947), Luật Công vụ Địa phương (12/1950), Luật các Trường tư thục (12/1947) Giáo dục đã tạo ra một cơ sở vững chắc, đào tạo ra một thế hệ nữ thanh niên mới với một hệ tư tưởng mới, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp thay đổi vị trí vai trò của người phụ nữ trong xã hội Nhật Bản sau này
c Luật Tiêu chuẩn Lao động năm 1947
Năm 1911, Luật Nhà máy (工場法) được ban hành, mục tiêu là kiểm soát thiết bị trong nhà máy và thiết lập các điều kiện làm việc cho người lao động
Dù Luật Nhà máy có một số điều khoản bảo vệ quyền lợi người lao động, nhưng nội dung cơ bản vẫn phản ánh chính sách bóc lột đối với lao động nữ
và trẻ em Luật Nhà máy ban hành lần đầu tiên quy định số giờ làm việc của lao động nữ là 12 tiếng/ngày, nghỉ 2 lần/tháng; không cấm lao động vào ban đêm; trẻ em trên 12 tuổi được phép bán sức lao động [59]
Năm 1947, Luật Tiêu chuẩn Lao động (労働基準法) được ban hành So với Luật Nhà máy thời Minh Trị, Luật Tiêu chuẩn Lao động được soạn thảo trên quan điểm bảo vệ người lao động Luật đã quy định các tiêu chuẩn tối
Trang 22thiểu về điều kiện làm việc và quy định các mối quan hệ trong hợp đồng lao động: nếu hợp đồng lao động thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu do luật đề ra, thì
dù đã được hai bên mua và bán sức lao động ký kết, hợp đồng vẫn được huỷ
bỏ Ngoài ra, bởi vì có tồn tại chế tài phạt hình sự, nên Luật Tiêu chuẩn Lao động cũng các có quy định rõ ràng đối với thanh tra tiêu chuẩn lao động Dựa trên Điều 14 của Hiến pháp về bình đẳng giới, Luật Tiêu chuẩn Lao động có những quy định không phân biệt đối xử với phụ nữ Đặc biệt,
Điều 4 Luật Tiêu chuẩn Lao động quy định: ―Không phân biệt nam nữ trong vấn đề tiền lương‖ [55] Điều này quy định người sử dụng lao động không
được lấy lý do người lao động là nữ giới để phân biệt đối xử với nam giới về lương Bên cạnh đó, trên nền tảng khác biệt về giới tính, Luật Tiêu chuẩn Lao động đã quy định một số điều để bảo vệ quyền lợi của lao động nữ Tiêu
biểu, Khoản 2 Điều 64 viết: ―Người sử dụng lao động không được để phụ
nữ có thai tham gia vào các công việc ở dưới mặt đất ít nhất cho đến hết một năm sau khi sinh‖ Khoản 3 Điều 64 quy định: ―Người sử dụng lao động không được để phụ nữ có thai và phụ nữ chưa qua một năm sau khi sinh tham gia các công việc xử lý vật nặng, công việc trong khu vực có khí độc hại‖
Về quyền lợi của phụ nữ trước và sau khi sinh con, Khoản 1 Điều 65 quy
định: ―Người sử dụng lao động phải cho phép lao động nữ nghỉ 6 tuần trước khi sinh (14 tuần với trường hợp đa thai) nếu lao động nữ yêu cầu‖ Khoản 2 Điều 65 cũng viết: ―Người sử dụng lao động không cho phép nữ lao động đi làm nếu chưa đủ 8 tuần sau sinh Nếu trường hợp có sự cho phép từ bác sĩ, được phép đi làm từ 6 tuần nếu lao động nữ yêu cầu và được bác sĩ cho phép‖
Bên cạnh đó, luật còn có những điều khoản hỗ trợ phụ nữ nuôi con bằng
sữa mẹ Tiêu biểu là Điều 67: ―Phụ nữ có con chưa được một tuổi sau khi sinh được nghỉ nuôi con 30 phút/lần, 2 lần/ngày ngoài giờ nghỉ quy định‖
Trang 23Đặc biệt, luật còn chú ý đến sự khác biệt về giới tính giữa nam và nữ Điều 68
viết: ―Người sử dụng lao động phải cho lao động nữ nghỉ phép nếu người phụ nữ xin nghỉ phép vào ngày sinh l ‖ [55]
Trên đây là những điểm trọng yếu liên quan trực tiếp đến quyền lợi của lao động nữ và các bà mẹ đã được đề cập trong Luật Tiêu chuẩn Lao động
d Luật về Quyền bầu cử Chúng nghị viện năm 1945
Theo Hiến Pháp Minh Trị, nam giới trên 25 tuổi, nộp thuế trên 15 yên mới được có quyền bầu cử [21, tr.63] Điều luật này vô hình chung đã loại bỏ người phụ nữ ra khỏi các hoạt động tham chính bởi người phụ nữ đương thời không được công nhận quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế, bị trói buộc trong phạm vi gia đình và không có tiền bạc tích luỹ
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai cùng quá trình tư bản hoá, phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng, khẳng định vị trí của phụ nữ Nhật Bản bắt đầu sôi nổi và phổ biến hơn bằng nhiều hình thức khác nhau: thành lập các hiệp hội dành cho phụ nữ, nâng cao tri thức của bản thân đặc biệt là giành quyền tham chính Năm 1920, lần đầu tiên Quốc hội Nhật Bản nhận được bản yêu cầu với 2000 chữ ký của phụ nữ đòi xoá bỏ Luật Cảnh sát và Trị an (治安警察法) vì luật có nội dung không cho phép nữ giới thành lập các tổ chức
xã hội hay các cuộc tụ họp mang tính chất chính trị
Để có được quyền bầu cử, nhiều phong trào phụ nữ đã được khởi xướng với nỗ lực cải thiện vai trò của họ trong gia đình và ngoài xã hội, cải thiện điều kiện làm việc trong các cửa hàng, các ngành công nghiệp Tuy nhiên, trước và trong chiến tranh, những nỗ lực này đã vấp phải sự chống đối áp đảo của các phe bảo thủ trong xã hội
Cùng với khuynh hướng khẳng định vị trí của người phụ nữ trên thế giới sau năm 1945, nỗ lực của các phong trào phụ nữ đã được đền đáp Luật về Quyền bầu cử Chúng nghị viện năm 1945 đã quy định nữ giới trên 20 tuổi
Trang 24được phép đi bỏ phiếu Lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản diễn ra một cuộc tổng tuyển cử được tổ chức theo quy tắc phổ thông đầu phiếu bình đẳng giữa nam giới và nữ giới, và cũng là lần đầu tiên nữ giới Nhật Bản được cầm trên tay lá phiếu để thực hiện quyền lợi chính trị của mình 39 nữ nghị viên đã trúng cử trong lần bầu cử này 2, và ngay sau đó, họ đã tích cực tham gia vào hoạt động soạn thảo Hiến pháp 1946 và các hoạt động đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ trong gia đình và xã hội
***
Tiểu kết chương 1
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản phải chịu tổn thất nặng nề về mọi mặt Nhật Bản phải cùng lúc giải quyết nhiều vấn đề như bất ổn về chính trị, tổn thất và giảm sút nghiêm trọng về kinh tế, xã hội rối ren, lòng dân bất an Dưới ảnh hưởng quốc tế, đặc biệt là vai trò của Mỹ, cùng những biến động trong nước, chính phủ Nhật Bản đã ban hành Hiến pháp mới và các quy định pháp luật để thiết lập lại bộ máy chính trị, phát triển kinh tế và ổn định
xã hội Trong quá trình soạn thảo và ban hành Hiến pháp và các bộ luật, các quan điểm mới về giải phóng phụ nữ đã được phản ánh Tiêu biểu như quy tắc bình đẳng giới, bình đẳng về giáo dục và cơ hội việc làm, bình đẳng về tiền lương trong lao động, quyền li hôn, quyền sở hữu và thừa kế tài sản,
quyền bỏ phiếu
Như vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhờ những cải cách mới về quy định pháp lý, người phụ nữ Nhật Bản lần đầu tiên được đưa lên vị trí ngang hàng với người đàn ông về mặt luật pháp Từ đó, người phụ nữ Nhật Bản đón nhận những vai trò mới, và cố gắng hết sức để hoàn thành những vai trò của mình Họ đã trở thành lực lượng lao động quan trọng góp sức vào sự phát triển của xã hội và sự tiến bộ của gia đình Nhật Bản Đây chính là một
2
Tham khảo phụ lục số 2
Trang 25bước tiến dài trong phong trào đòi quyền bình đẳng nam nữ Chương hai và chương ba của luận văn sẽ tập trung phân tích về sự thay đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội Nhật Bản hai mươi năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Trang 26Chương 2 VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NHẬT BẢN TRONG GIA ĐÌNH
GIAI ĐOẠN 1945 - 1965
2.1 Vị trí của người phụ nữ trong gia đình
Lịch sử cổ đại Nhật Bản đã ghi lại thời kỳ cầm quyền của một số Nữ hoàng tiêu biểu như Himiko (卑弥呼, trị vì từ năm 170 đến năm 248), Nữ hoàng Suiko (推古天皇, là Thiên hoàng thứ 33, trị vì từ năm 593 đến năm 628),
Nữ hoàng Jito (持統天皇, trị vì từ năm 686 đến năm 697), Nữ hoàng Koken (孝謙天皇, trị vì từ năm 749 đến năm 758)… Có thể nói rằng trong thời cổ đại, phụ nữ đã đóng vai trò quan trọng trong chính trị và có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều mặt của đời sống xã hội Ngoài ra, thời Heian (794 - 1185) chứng kiến đóng góp to lớn của phụ nữ Nhật Bản trong việc xây dựng hệ thống chữ Kana,
và một nền văn học trữ tình mang đậm phong cách Nhật Bản, tồn tại song song với nền văn học chính thống chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và Phật giáo Trong thời kỳ đẳng cấp võ sĩ nắm thực quyền (thế kỷ XII – XIX), chế độ gia trưởng đã được định hình trong xã hội Nhật Bản Người phụ nữ bị đóng khuôn trong quan niệm ―tam tòng tứ đức‖ cùng vai trò chăm sóc gia đình và con cái Họ dần bị loại trừ ra khỏi các hoạt động chính trị xã hội, cam chịu số phận của mình
Đặc biệt, vào cuối thế kỷ XVI, tướng quân Toyotomi Hideyoshi 1598), đã đề ra ý tu ởng phân chia giai tầng xã họ i theo trật tự: Sĩ (士),
(1536-no ng (農), co ng (工), thu o ng (商) Đến thời Tokugawa (1600 - 1868), trật tự xã hội này đã được xác lập Trong đó, đứng đầu hệ thống đẳng cấp là các võ sĩ, những ngu ời đu ợc coi là có nguồn gốc cao quý, nắm giữ vai trò thống trị xã họ i, còn thu o ng nha n là những ngu ời có vị trí thấp nhất trong xã họ i Dù tách biệt về tầng lớp trên thực tế có thể không rõ ràng,
Trang 27nhưng mỗi đẳng cấp vẫn có những điều kiện khác nhau để phát triển Cùng với chế độ phân biệt thân phận dựa trên xuất thân và nghề nghiệp đó, xã hội Nhật Bản thời kỳ này phản ánh rõ sự phân biệt về quyền lợi và nghĩa vụ giữa đàn ông và phụ nữ
Trên thực tế quy chuẩn về mối quan hệ giữa đàn ông và phụ nữ, đặc biệt
là giữa vợ và chồng đã được xác lập và tồn tại không chỉ trong đẳng cấp võ sĩ
mà còn thịnh hành trong tầng lớp bình dân Mức độ của các quy chuẩn này thay đổi một cách đa dạng theo từng tầng lớp Trong gia đình, vị trí của trưởng tộc đóng vai trò chủ đạo cùng tất cả các đặc quyền, trong khi người vợ
và các thành viên khác của gia tộc là người phụ thuộc Ở bên ngoài xã hội, hoạt động của người phụ nữ bị hạn chế triệt để, thậm chí nhiều khi gần như là không tồn tại Thật vậy, ngoài phạm vi gia đình, người phụ nữ trong thời kỳ Tokugawa gần như không được công nhận trong bất kỳ một vị trí xã hội nào Nho giáo chính là phương tiện giúp chính quyền võ sĩ phổ biến và duy trì tư tưởng ―trọng nam khinh nữ‖ (男尊女卑) Những quy tắc gia đình nghiêm ngạ t đề cao vai trò của người đàn ông, về sức mạnh thể chất và khả năng ưu việt; đồng thời hạ thấp vai trò của người phụ nữ một cách triệt để cùng với những mặc cảm tồn tại trong cuộc sống của họ Người vợ chỉ có việc vâng lời, tuân theo, không có sự kêu ca phàn nàn ngay cả khi chồng của họ có quan hệ công khai với người phụ nữ khác Họ là những con người phải chịu bất công:
―Phụ nữ và tiểu nhân thì khó nuôi dạy‖ (女子と常人とはやしないがたし); hoặc thậm chí bị xếp ngang hàng với súc vật, như ―Phụ nữ và trâu ngựa thì phải đánh mới dùng được‖ (女と牛馬はたたいて使え) Như vậy, một cách chậm rãi, Nho giáo đã giúp hình thành một hệ thống quy chuẩn về đạo đức, lối sống, các ứng xử xã hội thời kỳ này
Trên cơ sở tham khảo hai Bộ Luật dân sự của Pháp và Phổ (Đức), chính
phủ Minh Trị đã ban bố Bộ Luật dân sự vào năm 1898 với quan điểm ―Dứt
Trang 28bỏ quan hệ phong kiến, dung hoà những ưu điểm về dân luật của những nước tiên tiến‖ [17; tr.66-67] Một nội dung quan trọng của Dự luật ban đầu là quy
định mới về hôn nhân, với trung tâm của gia đình là người chồng cùng người
vợ Điều này đã gặp phải làn sóng phản đối mạnh mẽ từ phe bảo thủ Phe này nhấn mạnh rằng, các tư tưởng mới không phù hợp với truyền thống Bởi vậy,
nỗ lực đầu tiên về việc cải cách vị trí của phụ nữ trong gia đình đã bị tư tưởng gia trưởng truyền thống đánh bại Bên cạnh đó, Luật Dân sự thời Minh Trị dành cho người phụ nữ những quyền xã hội rất hạn chế, bắt buộc phải có sự đồng ý của người chồng trong hầu hết các vụ kiện pháp lý
Gia đình theo chế độ gia trưởng ở Nhật Bản đã có một lịch sử lâu đời, nhưng trở nên phổ biến từ khi chế độ phong kiến được định hình ở Nhật Bản cách đây hơn 400 năm (thời Tokugawa) Trong gia đình gia trưởng, vị trí trưởng tộc chỉ có thể truyền lại cho con trai trưởng dòng chính Người thừa kế
đó được những người trong gia tộc tôn trọng, kể cả dòng chính lẫn các dòng phụ Những người con trai thứ không được thừa kế vị trí trưởng tộc, bị gọi là
―kẻ ăn cơm nguội‖ (冷飯食い) với ý nghĩa là người phụ thuộc Những người con thứ này sau khi lập gia đình sẽ tách ra, thành lập những gia đình nhánh Thi thoảng, trong một số trường hợp hi hữu, họ có thể may mắn được thừa kế tài sản của gia đình Vị trí và ảnh hưởng của người phụ nữ trong gia tộc thấp kém hơn trưởng tộc, con trai trưởng và những người con trai khác Vai trò này được quyết định ngay khi họ sinh ra, trên cơ sở các quy tắc Nho giáo
Trong hình thái gia đình Ie gia trưởng nhiều thế hệ thì người phụ nữ sau khi được gả về nhà chồng sẽ phải đáp ứng một lúc nhiều yêu cầu với vị trí của người con dâu, cháu dâu, người chị/em dâu, người vợ và người mẹ Đặc biệt
vị trí người con dâu trưởng đòi hỏi sự hi sinh nhiều hơn so với vị trí cô dâu thứ Sau khi các anh chị em chồng lập gia đình và rời đi, người con dâu trưởng vẫn ở lại phụng dưỡng ông bà, bố mẹ chồng và chăm lo vun vén cho
Trang 29sự nghiệp nhà chồng Trong hình thái gia đình hạt nhân, hôn nhân mở ra mô hình gia đình một thế hệ với sự tồn tại của người chồng và người vợ Sự xuất hiện của con cái đánh dấu bước chuyển sang mô hình hai thế hệ
Như vậy, tuỳ theo từng hình thái gia đình mà vị trí của người phụ nữ trong gia đình cũng sẽ bị thay đổi theo ―Hiếu thảo với cha mẹ và hoà thuận với anh em‖ là nền tảng của đạo lý truyền thống và cũng là tiêu chuẩn đánh giá người phụ nữ trong các mối quan hệ với các thành viên gia đình nhà chồng, nhất là trong hình thái gia đình gia trưởng Người vợ thường phải trải qua hai giai đoạn: cô dâu và người quản lý gia đình Đầu tiên, thông qua hôn nhân, cô dâu mới sẽ chính thức bước vào gia đình chồng Gia đình do bố chồng hoặc người chồng làm chủ, người mẹ chồng đóng vai trò quản lý nội trợ Là thành viên mới, cô phải phục tùng người đứng đầu gia đình, tuân theo gia quy và lao động vì gia đình Sau khi có con, cũng là lúc đã quen với nề nếp của gia đình, cô bắt đầu được huấn luyện để trở thành người quản lý mới của gia đình thay thế cho mẹ chồng Cô vừa phải nuôi dưỡng con cái, duy trì mối quan hệ tốt đẹp với hàng xóm, anh chị em, họ hàng của hai bên gia đình nội ngoại, vừa quản lý việc nội trợ, chi tiêu cho gia đình Trong các gia đình sản xuất quy mô nhỏ hoặc kinh doanh truyền thống, người con dâu phải góp sức vào việc kinh doanh của gia đình như một nguồn lao động hợp pháp và miễn phí Bởi vì người vợ có vị trí quan trọng trong gia đình như vậy nên thời
kỳ này việc một phụ nữ có gia đình tham gia các hoạt động xã hội hay có nghề nghiệp cố định bên ngoài phạm vi gia đình là điều khó có thể xảy ra Vị trí của người phụ nữ Nhật Bản trong hệ thống Đại gia đình Ie đã định hình sâu sắc trong nhận thức của người Nhật hàng trăm năm, nên việc thay đổi quan niệm, đánh bật gốc cái rễ này ra khỏi tâm trí người Nhật thời kỳ sau chiến tranh là một việc không dễ thực hiện
Trang 30Như đã trình bày, năm 1946, các nguyên tắc bình đẳng về giới đã được Hiến pháp mới đề cập đến Hiến pháp đặc biệt công nhận hôn nhân chính là
cơ sở của gia đình; gián tiếp bãi bỏ chế độ gia đình gia trưởng; chấp nhận cơ cấu gia đình hạt nhân với một vợ một chồng cùng làm chủ gia đình Việc kết hôn cũng phải đến từ sự tự nguyện từ cả hai phía Như vậy, khái niệm truyền thống lâu đời của hôn nhân đã bị thay thế, ít nhất là về hình thức, bởi các quan niệm mới về hôn nhân Để có được kết quả này, bên cạnh chính sách khuyến khích sự tham gia của phụ nữ vào hoạt động xã hội, giúp người phụ
nữ được tham gia các hoạt động bằng một hình dạng mới, một vị trí mới, thì
sự tuyên truyền của các phương tiện truyền thông đại chúng và nhu cầu của chính quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, hiện đại hoá đương thời đóng một vai trò quan trọng
Đến giữa thập kỉ 1960, xã hội Nhật Bản chứng kiến những sự thay đổi tích cực, chủ yếu là xu hướng gia tăng của gia đình hạt nhân Điều này có thể chứng minh qua số người trong một gia đình giảm theo từng năm
Biểu đồ 2.1: Số người trung bình trong một hộ gia đình (1960-2005)
Trang 31Nguồn: Sách trắng Bộ Y tế Lao động và Phúc lợi xã hội, Địa chỉ:
http://www.mhlw.go.jp/wp/hakusyo/kousei/11/dl/01-01.pdf
Trên thực tế, dù được công nhận từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng cơ cấu gia đình hạt nhân một vợ một chồng vẫn chưa được dân chúng chấp nhận hoàn toàn Mâu thuẫn quan niệm mới và quan niệm cũ do sự khác biệt cơ bản về nhận thức giữa các thế hệ, giữa cặp vợ chồng kết hôn theo hệ thống gia đình gia trưởng Ie cùng cặp vợ chồng kết hôn theo hệ thống gia đình hạt nhân, dẫn đến các vấn đề phức tạp khó giải quyết ngay trong chính nội bộ các gia đình
Điều này trước hết phản ánh trong quan niệm khi lựa chọn bạn đời của người Nhật Bản đương thời Những người theo quan niệm cấp tiến cho rằng
―hôn nhân cần dựa trên sự đồng thuận của cả hai giới‖, ―hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu‖ phải đối mặt với những quan niệm truyền
thống cổ hủ như ―cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy‖ Dưới đây là kết quả nghiên
cứu khảo sát dư luận do Văn phòng Nội các Chính phủ thực hiện vào năm
1952, với đối tượng khảo sát là khoảng 2500 thanh niên nam nữ trên 20 tuổi
Trang 32của 78 thành phố trên khắp nước Nhật, và câu hỏi là: ―Bạn nghĩ thế nào về việc bố mẹ lựa chọn bạn đời cho con cái của mình?‖ Câu trả lời được thống
kê ở bảng dưới
Bảng 2.2: Khảo sát về việc lựa chọn bạn đời của thanh niên Nhật Bản (1952)
Đơn vị (%) STT Câu trả lời Tỷ lệ (%)
1 Nên để bố mẹ quyết định 19,7
2 Cả bố mẹ và con cái cùng quyết định 40,0
3 Nên để tự bản thân mình quyết định 32,7
4 Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh 4,4
5 Tôi không biết 3,2
Bảng do tác giả tự lập dựa trên số liệu của Văn phòng Nội các Nhật Bản
Nguồn: https://survey.gov-online.go.jp/s24/S25-02-24-08.html
Nhiều cuộc khảo sát tương tự đương thời cũng cho kết quả về tỷ lệ phụ thuộc hoàn toàn về mặt hôn nhân của thanh niên còn khá cao (trên dưới 40%) Nếu phân tích kết quả khảo sát theo điều kiện sinh sống, có thể thấy lý do hạn chế về phương tiện giao thông và liên lạc, khiến tư tưởng cấp tiến về hôn nhân chưa phổ biến đến khu vực nông thôn Những người sống ở nông thôn
có xu hướng trung thành với truyền thống hơn so với những người ở vùng giao thoa hoặc ở các thành phố nhỏ Ngược lại, những người sống ở thành phố ít bị các quan niệm truyền thống ảnh hưởng đến việc lựa chọn người bạn đời Bên cạnh đó, nữ giới nói chung bị ràng buộc nhiều bởi truyền thống hơn
so với nam giới
Hạn chế trong sự thay đổi quan niệm hôn nhân một phần do tập quán mai mối đã tồn tại lâu dài trong xã hội Nhật Bản dẫn đến các đám cưới kiểu mai mối (見合結婚) Theo đó, hai gia đình được bên mai mối tổ chức lễ gặp mặt, ra mắt cho đôi trẻ Sau cuộc gặp mặt, đôi trẻ sẽ có một thời gian để tiếp tục tìm hiểu, và nếu như họ quyết định kết hôn thì cuộc mai mối đã thành
Trang 33công Theo quan niệm truyền thống của hôn nhân mai mối, người đóng vai trò quyết định cuộc hôn nhân là bố mẹ của cô dâu và chú rể
Tại khu vực nông thôn, hầu hết các cuộc hôn nhân thường thông qua mai mối, nhưng tại khu vực đô thị, tỷ lệ hôn nhân do tình yêu đã bắt đầu gia tăng trong giai đoạn sau Chiến tranh Theo nghiên cứu của Văn phòng Bộ Lao động, được khảo sát trong tất cả các phụ nữ trên nhiều lĩnh vực, độ tuổi
trong năm 1955, có 42% trả lời ―Tôi chấp nhận nghe theo quyết định của bố mẹ‖, 27% trả lời rằng họ sẽ kết hôn theo ý định của bản thân nếu như bị bố
mẹ phản đối; 21% trả lời ―Tôi không biết‖, và 10% không có câu trả lời [33,
pg.42] Như vậy, có thể nói rằng, xu hướng chung của một cuộc hôn nhân trong giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1965 vẫn do nhu cầu và ý nguyện của người chồng hoặc gia đình nhà chồng quyết định Điều này khiến cho việc kết hôn dựa trên tình yêu tiến triển rất chậm
Mặc dù xét trên bình diện toàn xã hội Nhật Bản, biến đổi trong quan niệm và tình hình hôn nhân diễn ra chưa mạnh mẽ, nhưng trong cộng đồng những người trẻ tuổi, quan niệm kết hôn cũ đang nhanh chóng thay thế bằng quan niệm mới: hôn nhân bình đẳng giữa một người đàn ông cùng một người phụ nữ Quy định về thủ tục đăng kí kết hôn và đăng kí khai sinh đã đóng vai trò quan trọng trong biến đổi này Trong những gia đình không đăng ký kết hôn với cơ quan hành chính có thẩm quyền, những đứa trẻ sinh
ra không được cấp giấy khai sinh và những quyền cơ bản của người vợ, bao gồm quyền lao động, cũng không được công nhận Các thủ tục pháp lý về hôn nhân sau khi được ban hành đòi hỏi một khoảng thời gian mới có thể đi vào cuộc sống và được tuân thủ Chỉ trong năm 1957, tỷ lệ người đăng ký kết hôn là khoảng 80% Tuy đây là một con số khá ấn tượng, nhưng điều này đồng nghĩa với việc còn khoảng 20% người vợ bước vào cuộc sống hôn nhân mà không có bất kỳ sự bảo vệ nào từ pháp luật [33, pg.44]
Trang 34Năm 1965, xung đột về quan điểm giữa giới trẻ và người lớn tuổi; giữa dân thành thị và nông thôn; giữa phe cải cách và bảo thủ gây mâu thuẫn gia đình nghiêm trọng Đến thời điểm 1965, có thể nói rằng, mặc dù cải cách cơ bản của Luật Hôn nhân đã được ban hành và thực hiện, nhưng thực tế, hôn nhân thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn còn bị ràng buộc nặng nề bởi các phong tục cũ Trong nhiều cuộc hôn nhân, vị trí của người phụ nữ trong gia đình cơ bản là không thay đổi mấy Tuy nhiên, từng ngày từng ngày, đến khoảng cuối thập kỷ 50 của thế kỷ, thế hệ thanh niên tiến bộ mới đang từng bước một thực hiện các nguyên tắc mới của luật hôn nhân mới
2.2 Vai trò của người phụ nữ trong gia đình
Cuộc cải cách Minh Trị Duy Tân vào năm 1868 đã đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ phong kiến Mạc Phủ Cuộc cải cách đã tuyên bố bãi bỏ chế độ phân biệt đẳng cấp và thành lập nhà nước quân chủ lập hiến với vai trò của hai viện lập pháp Ngoài ra, cuộc cải cách này còn đặt nền móng cho một
hệ thống giáo dục thống nhất trên toàn quốc Việc áp dụng giáo dục phổ cập
từ năm 1873 tạo cơ hội cho nhiều bé gái được đến trường dù trên thực tế, nội dung giáo dục cho nữ giới vẫn bị tụt hậu so với giáo dục cho nam giới Hơn nữa, mục đích của giáo dục nữ giới thời kỳ Minh Trị là đào tạo nữ giới trở thành người nội trợ giỏi, giữ truyền thống coi phụ nữ là những người vợ đảm
Trang 35mỗi hộ gia đình là 4,97 người/hộ; năm 1960 là 4,47 người/hộ; đến năm 1965 chỉ còn 4,05 người/hộ [56] Xu thế tiến tới gia đình hạt nhân là không thể đảo ngược, tuy nhiên một đạo luật không thể thay đổi ngay lập tức cả một hệ thống xã hội tồn tại hàng trăm năm Bởi vậy thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai xã hội Nhật Bản đã tồn tại song song của hai hệ thống là gia đình hạt nhân và Đại gia đình Ie nhiều thế hệ Ở mỗi hình thái gia đình, người phụ nữ nắm giữ những vị trí khác nhau Với các vị trí khác nhau đó họ giữ các vai trò
cụ thể khác nhau Nếu trong việc làm việc phạm vi ngoài gia đình người vợ chiếm vị trí không cao thì trong việc quản lý nội bộ gia đình, người vợ được tin cậy và có những quyền lực kiểm soát quan trọng Việc người vợ được giao nắm giữ chi tiêu và nuôi dạy con cái trong gia đình khiến cô có tiếng nói và ảnh hưởng nhất định Dưới đây, tác giả luận văn xin phân tích cụ thể vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kì sau Chiến tranh thế giới hai
2.2.1 Vai trò giáo dục con cái
Theo Tiến sĩ Nguyễn Mai Khanh, ―giáo dục gia đình có thể hiểu là sự nuôi dạy con cái của cha mẹ, hay người lớn chịu trách nhiệm của đứa trẻ Giáo dục gia đình hiểu theo nghĩa rộng, là một mảng kiến thức bao gồm những can thiệp xã hội nhằm chuẩn bị, giúp đỡ, thay thế (cha mẹ) trong giáo dục con cái của họ‖ [9; 24-25] Theo Nhà nghiên cứu Chiba Akiko thuộc Đại
học Bunkyo, giáo dục gia đình là những hành động có tính chất xã hội, ở đó người lớn phải hỗ trợ, giúp đỡ trẻ em và trang bị cho chúng những tri thức, hiểu biết về: cách thức hành động, cách thức phòng bị trong cuộc sống, những tri thức cơ bản sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, những hành động do giáo dục mà có , đây đều là những tri thức không thể thiếu được trong đời sống sinh hoạt hằng ngày [42]
Gia đình luôn đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dưỡng, hình thành nhân cách của một con người Dù cho vai trò giáo dục của gia đình dần dần
Trang 36mờ nhạt đi khi các trường học được mở ra ngày càng nhiều, tuy nhiên vẫn không thể phủ nhận vai trò giáo dục của gia đình đối với bản thân mỗi cá nhân trong xã hội Nhà trường là nơi đảm nhiệm việc đào tạo về các lĩnh vực giáo dục cơ bản, còn gia đình đảm nhiệm việc giáo dục về đối nhân xử thế, chọn lựa lời nói, xử phạt những hành vi nghịch ngợm, khuyến khích trẻ học tập Tuy nhiên, trong giai đoạn sau Chiến tranh, phổ biến việc người chồng nhận trách nhiệm chu cấp kinh tế cho gia đình, nên nhiệm vụ giáo dục con cái chủ yếu được thực hiện bởi người phụ nữ trong gia đình Theo khảo sát của Văn phòng Nội các Chính phủ (năm 1964) 3
, với đối tượng là 3000 bà mẹ có
con học tiểu học trong phạm vi cả nước, câu hỏi đặt ra là ―Ai là người trông coi việc học của con bạn?‖ 60,3% trả lời là ―Mẹ‖; 22,6% trả lời ―Bố‖; 13,5% trả lời ―Anh trai‖; 13,6% trả lời là ―Chị gái‖; 1,5% trả lời ―Người khác‖
Như vậy, theo số liệu trên, chúng ta có thể thấy người mẹ sẽ là người chủ yếu trông coi việc học tập của con cái, định hướng, đặt nền móng, củng cố niềm tin; phát hiện, nuôi dưỡng ước mơ của chúng Sự chăm sóc dạy dỗ của thành viên trong gia đình, đặc biệt là người mẹ chính là yếu tố đầu tiên trong quá trình trẻ em thích nghi với xã hội, điều chỉnh và ngăn chặn chúng bị cuốn vào các tệ nạn
Cùng với sự phát triển của gia đình hạt nhân, mối quan hệ giữa các gia đình cũng lỏng lẻo hơn Tình trạng kết hôn muộn, li thân, li hôn cũng trở nên phổ biến, khiến cho tỷ lệ trẻ bị thiếu sự quan tâm săn sóc, bỏ bê cũng dần nhiều lên Kinh tế giảm sút cùng với sự thay đổi quan niệm xã hội đã khiến cho các bà mẹ phải đi làm để kiếm thêm thu nhập cho gia đình Điều này cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho tương tác giữa người lớn với trẻ bị hạn chế
3
Nguồn Văn phòng Nội các Nhật Bản:
https://survey.gov-online.go.jp/s38/S39-03-38-21_chosahyo.html
Trang 372.2.2 Vai trò quản lý và nội trợ trong gia đình
Thông qua các thủ tục hôn nhân chính thức, một cô gái sau khi lấy chồng trở thành người của gia đình nhà chồng, phần lớn phải đổi họ và theo họ của chồng Như vậy, ngoài vai trò là người vợ, cô còn là cô dâu của gia đình và gia tộc Các chuẩn mực xã hội yêu cầu cô thực hiện song song bổn phận con dâu của gia tộc, bên cạnh vai trò người vợ, người mẹ Ngay cả sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi gia đình hạt nhân dần trở nên phổ biến, các nghĩa
vụ của con dâu với bố mẹ chồng và gia tộc vẫn được coi là quan trọng hơn tình yêu của đôi vợ chồng trẻ Bởi vì sự tồn tại của hôn nhân không phụ thuộc vào tình yêu và ý muốn của hai vợ chồng mà dựa theo định kiến của xã hội, nên cuộc hôn nhân rất dễ đổ vỡ nếu không có sự ủng hộ của bố mẹ chồng Trên thực tế, vai trò của người vợ trong gia đình là gì? Năm 1955, Bộ Lao động đã tiến hành một cuộc khảo sát trên quy mô quốc gia đối với 1896 người phụ nữ ở độ tuổi trên 20 Trong số đó, 46% những người đã có gia đình trả lời
về công việc của mình trong gia đình là ―Tôi chủ yếu làm việc theo lịch trình
đã được đặt ra‖; 18% trả lời rằng ―Tôi không làm việc theo lịch trình đã được định trước‖ hoặc ―Thỉnh thoảng tôi được hỏi ý kiến‖ [33, pg.59] Từ
kết quả khảo sát trên có thể suy ra rằng, trước khi nắm quyền quản lý gia đình, một số lượng lớn phụ nữ có gia đình không được chủ động trong công việc hoặc hoạt động kinh tế của nhà chồng
Tuy nhiên, sau một thời gian thử thách, đặc biệt sau khi sinh 1-2 đứa con con cho chồng, cô bắt đầu được mẹ chồng chuyển giao một số quyền quản lý trong nhà và dần trở thành người quản lý mới của gia đình Liên quan đến chi
tiêu trong gia đình, khi hỏi trẻ em khu vực thành phố về vấn đề ―Ai là người quản l chi tiêu trong gia đình?‖ và ―Ai là người cho tiền tiêu vặt hàng tháng?‖, câu trả lời ―Người mẹ‖ tương ứng cho hai câu hỏi lần lượt là 47%
và 65% [33, pg.60] Như vậy, dù người vợ trong gia đình không đóng vai trò
Trang 38to lớn trong việc kiếm tiền, sau khi nắm quyền quản lý thì cô ấy gần như có quyền kiểm soát tất cả chi tiêu trong hộ gia đình
Trên thực tế, trước khi tất cả các con trai và con gái trong nhà có thể tự lập và kết hôn, người mẹ chồng sẽ không giao hết quyền quản lý gia đình cho con dâu trưởng, bởi vì một khi không còn là người quản lý gia đình, thì bà sẽ phải xin phép chính con dâu khi muốn sử dụng tiền bạc trong gia đình Như vậy, quan hệ giữa mẹ chồng và con dâu có thể nói là quan hệ bàn giao quyền nội tướng và làm thay đổi hoàn toàn vị trí của người thống trị và người phụ thuộc Mâu thuẫn về quyền lợi khiến cho mối quan hệ mẹ chồng con dâu thường khá căng thẳng nếu hai người không biết kiềm chế hành động của bản thân để duy trì một mối quan hệ trật tự Dân gian Nhật Bản cũng có những câu tục ngữ tổng kết về mối quan hệ mẹ chồng – con dâu như: ―Mẹ chồng con dâu như chó với khỉ‖ (嫁と姑犬と猿), ―Mẹ chồng con dâu mà quan hệ tốt thì đúng là chuyện khó tin‖ (嫁と姑の中の良いのはもつけの不思議) Tương tự, các
cô con dâu cũng có những câu nói dành riêng cho mẹ chồng: ―Con dâu cũng
là con gái nhưng khi bị gọi là con dâu thì bị ghét ngay‖ ( 娘 で 嫁とながつきゃにくくなる); ―Từ ―mẹ chồng‖ vốn đã khó viết, dẫu có viết bằng chữ kana đi chăng nữa thì vẫn khó đọc‖ (「姑 」 という字は難しい、カナで書いても読みにくい) [5, tr.176]
Bên cạnh quyền quản lý chi tiêu, việc nội trợ trong gia đình cũng là một nhiệm vụ quan trọng của người phụ nữ Cho dù sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tư tưởng dân chủ hiện đại bắt đầu được tuyên truyền và len lỏi vào cuộc sống của người dân Nhật Bản, nhưng các quan niệm truyền thống bén rễ lâu đời vẫn chưa thay đổi nhiều Khi chưa có sự giúp đỡ của các loại máy móc công nghiệp hỗ trợ công việc nhà, nàng dâu phải làm rất nhiều việc như: xách nước, giặt giũ, nấu ăn, chăm sóc con cái, Gia đình hạt nhân gia tăng sau năm 1945 giúp phần nào giải quyết vấn đề mẹ chồng con dâu, nhưng vấn đề
Trang 39mới lại nảy sinh khi người phụ nữ bắt đầu bước ra xã hội để làm việc Họ bị quá tải giữa vai trò ở gia đình và xã hội Bởi vậy, thời kỳ này bắt đầu xuất hiện hiện tượng hai vợ chồng cùng chia sẻ công việc nhà
Về vấn đề người chồng hỗ trợ việc nhà cho người vợ, năm 1952, Văn phòng Nội các Nhật Bản đã tiến hành một cuộc khảo sát với đối tượng là
2500 thanh niên nam nữ trên 20 tuổi thuộc 78 thành phố trên cả nước Câu hỏi
đặt ra là―Bạn có chấp nhận việc đàn ông tham gia vào công việc nội trợ không?‖ 27,5% người được khảo sát ủng hộ ý kiến này; 21% trả lời ―Sẽ giúp
đỡ nếu cần thiết‖; 48,2% không đồng ý; và 3,3% trả lời ―Tôi không biết‖ Lý
do ủng hộ và phản đối được thể hiện chi tiết ở bảng dưới đây:
Bảng 2.3: Ý kiến về việc đàn ông tham gia nội trợ (1952)
(Đơn vị %)
Ý kiến Nội dung Tỷ lệ (%)
Chỉ đơn giản nghĩ là nên như vậy 2,3
Vì như vậy hai bên mới có thể hợp tác và thấu hiểu lẫn nhau 11,7
Vì khối lượng công việc của phụ nữ quá nặng 8,8 Nam giới giúp đỡ công việc nhà sẽ giúp khối lượng công
việc của phụ nữ trở nên hợp lý
Vì sẽ làm vướng víu Phụ nữ cũng không muốn đàn ông
tham gia nội trợ
5,7
Đó là trách nhiệm của phụ nữ 27,4
Vì đàn ông không thể làm tốt công việc nội trợ 3,7
Trang 40Tôi không biết 3,0
Bảng do tác giả tự lập dựa trên số liệu của Văn phòng Nội Các Nhật Bản,
Nguồn: https://survey.gov-online.go.jp/s24/S25-02-24-08.html
Từ bảng trên có thể thấy, hầu hết lý do đồng ý việc nam giới cần hỗ trợ việc nhà cho người vợ chủ yếu là vì công việc người phụ nữ phải đảm đương quá nặng Trong khi đó, gần 50% ý kiến phản đối vì một lý do duy nhất: đó là
trách nhiệm của người phụ nữ Điều này chứng tỏ tư tưởng ―người phụ nữ phải làm nội trợ‖ vẫn trói buộc suy nghĩ của rất nhiều người Nhật lúc bấy giờ
Tuy nhiên, có một điều đặc biệt là phần lớn người đồng ý và phản đối trong cuộc khảo sát này đều là nữ giới Mặc dù các luật liên quan đến gia đình đã thay đổi, gia đình hạt nhân cũng đã trở thành đơn vị hợp pháp, nhưng thời kỳ này vẫn có một số lượng phụ nữ không nhỏ không được tiếp xúc nhiều với giáo dục bậc cao và các tư tưởng tiến bộ mới; hoặc có lẽ chính bản thân người phụ nữ cũng không biết số lượng và gánh nặng công việc của họ hàng ngày chiếm một số lượng lớn là việc nhà Tâm trí của họ chỉ nghĩ đến việc làm sao
để hằng ngày có thể đủ ăn ba bữa Họ cảm thấy khó có thể chấp nhận những
sự thay đổi về vị trí và vai trò của nam giới và nữ giới từ bao đời nay Sự thay đổi chỉ có thể chậm rãi xảy ra, mang tính chất chuyển tiếp, chứ không thể thay đổi một cách đột ngột và hoàn toàn
Năm 1953, báo Mainichi đã thực hiện một cuộc khảo sát về ước nguyện
của nữ giới, với câu hỏi ―Bạn mong muốn điều gì từ người chồng của bạn?‖
Cuộc khảo sát lấy đối tượng là người phụ nữ đã lập gia đình trên phạm vi cả nước, và hầu hết những người vợ đều trả lời rằng họ mong muốn chồng của
họ có thể cải thiện các điều kiện tài chính cuộc sống hiện tại của gia đình
―Thu nhập ngày càng tăng‖, ―Đời sống ổn định‖, ―Tiết kiệm tiền‖ Như