Tuy nhiên, việc thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc còn tồn tại một số hạn chế nhất định như: sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc, đặc biệt là giữa d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRỊNH THU THẢO
TƯ TƯỞNG V.I.LÊNIN VỀ BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC
VÀ SỰ VÂN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRỊNH THU THẢO
TƯ TƯỞNG V.I.LÊNIN VỀ BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC
VÀ SỰ VÂN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Chủ nghĩa Xã hội Khoa học
Mã số: 60 22 03 08
Người hướng dẫn khoa học: TS Mẫn Văn Mai
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS.Mẫn Văn Mai Các tài liệu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Tác giả Trịnh Thu Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Triết học đã giảng dạy, trang bị kiến thức, giúp tôi nắm vững những vấn đề lý luận và phương pháp luận để hoàn thành tốt luận văn này Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS.Mẫn Văn Mai đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo để tôi hoàn thành tốt luận văn
Đồng thời, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn luôn quan tâm, động viên và đóng góp ý kiến trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Tác giả Trịnh Thu Thảo
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu 9
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 9
7.Kết cấu của luận văn 10
Chương 1BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC VÀ TƯ TƯỞNG V.I.LÊNINVỀ BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC 11
1.1 Quan niệm về dân tộc và bình đẳng dân tộc 11
1.1.1 Dân tộc 11
1.1.2 Bình đẳng dân tộc 13
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của tư tưởng V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc 18
1.2.1 Cơ sở lý luận 18
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 24
1.3 Nội dung tư tưởng V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc 31
1.3.1 Vị trí, vai trò của “Bình dẳng dân tộc” 31
1.3.2 Nội dung của “Bình đẳng dân tộc” 34
1.3.3 Con đường thực hiện “Bình đẳng dân tộc” 42
1.3.4 Lực lượng thực hiện “Bình đẳng dân tộc” 46
Chương 2SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG V.I.LÊNIN VỀ BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 49
2.1 Đặc điểm tình hình dân tộc Việt Nam và nội dung vận dụng tư tưởng V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam 49
2.1.1 Đặc điểm tình hình dân tộc Việt Nam 49
2.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc 54
Trang 62.1.3 Quan điểm, chính sách bình đẳng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng theo tư tưởng V.I.Lênin 61
2.2 Thực trạng việc vận dụng tư tưởng V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam hiện nay 72
2.2.1 Thành tựu trong việc thực hiện bình đẳng dân tộc ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của thành tựu 72 2.2.2 Hạn chế trong việc thực hiện bình đẳng dân tộc ở Việt Nam hiện nay
và nguyên nhân của hạn chế 83
2.3 Một số yêu cầu và giải pháp chủ yếu trong việc vận dụng tư tưởng V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam hiện nay 91
2.3.1 Yêu cầu mới trong vận dụng tư tưởng V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc
ở Việt Nam hiện nay 91 2.3.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc theo tư tưởng V.I.Lênin ở Việt Nam hiện nay 97
KẾT LUẬN 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 7MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Vấn đề dân tộc là một nội dung có ý nghĩa chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong giai đoạn hiện nay nó đang là một vấn đề thực tiễn nóng bỏng nhất Thế giới ngày nay đang đứng trước những biến đổi nhanh chóng và phức tạp, tác động mạnh mẽ đến xu hướng phát triển của nhân loại
và con đường đi lên của mỗi quốc gia dân tộc.Những biến đổi đó đã làm cho mối quan hệ giữa các dân tộc lại càng phức tạp
Bình đẳng dân tộc là một nguyên tắc, nội dung cơ bản trong giải quyết vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin Cũng như C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã để lại di sản tư tưởng phong phú về bình đẳng dân tộc Đây là cơ
sở lý luận và phương pháp luận để các Đảng Cộng sản và Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa trên thế giới vận dụng vào điều kiện cụ thể trong giải quyết vấn đề dân tộc Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng V.I.Lênin về vấn đề dân tộc, bình đẳng dân tộc, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải quyết vấn đề dân tộc, bình đẳng dân tộc phù hợp với đặc điểm dân tộc Việt Nam và đạt hiệu quả trên thực tế
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em, các dân tộc sống đan xen trên toàn bộ lãnh thổ cả nước, có quan hệ lâu đời trên nhiều lĩnh vực trong quá trình tồn tại và phát triển Phần lớn các dân tộc thiểu số sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo – những địa bàn có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, môi trường sinh thái và giao lưu quốc tế, song trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, vẫn có sự chênh lệch về nhiều mặt Nhận thức rõ vị thế đó, từ khi thành lập cho đến nay, Đảng ta luôn coi trọng giải quyết vấn đề dân tộc, đặc biệt là thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc và coi đó là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là nhân tố quan trọng đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển
Trang 8Sau 30 năm đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, các vùng dân tộc thiểu số nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, việc thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc còn tồn tại một số hạn chế nhất định như: sự chênh lệch về trình
độ phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc, đặc biệt là giữa dân tộc thiểu
số và dân tộc đa số (Kinh), giữa miền núi với miền xuôi, vùng cao với vùng thấp; đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn, chất lượng, hiệu quả, công tác giáo dục, văn hóa, bảo vệ sức khỏe của đồng bào dân tộc còn thấp; việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ công tác ở các vùng dân tộc còn nhiều bất cập…Bên cạnh đó, trong nội bộ ta nhận thức về “bình đẳng” còn sai lệch, cũ kỹ, giản đơn hoặc xem nhẹ, hoặc “cấp tiến Tây hóa”…đặc biệt là sự kích động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, gắn với tôn giáo
để chống phá cách mạng, gây cản trở, nguy cơ chệch hướng, rối loạn cho chế
độ ta Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, tổ chức thực hiện tốt chính sách bình đẳng dân tộc, từng bước khắc phục những hạn chế nêu trên có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Trong suốt quá trình xây dựng và thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc, Đảng ta luôn kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.Vì vậy, việc nghiên cứu, làm rõ nội dung tư tưởng V.I.Lênin về vấn đề bình đẳng dân tộc không chỉ là đòi hỏi trước mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài Đó là một trong những cơ sở lý luận quan trọng cho việc định ra đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc, bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn và nhận thức trên, tôi chọn đề tài
“Tư tưởng V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn hiện nay” để nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 9Có thể thấy, dân tộc và bình đẳng dân tộc là một trong những vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm, nó quyết định đến sự tồn vong của mỗi quốc gia, bởi vậy không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới coi đó là vấn
đề chiến lược, là nhiệm vụ hàng đầu trong mục tiêu phát triển đất nước Vì vậy, đã có không ít những nhà lý luận, nhà lãnh đạo, nhà khoa học…nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề này và nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đã ra đời như:
Tác phẩm Dân tộc và vấn đề dân tộc của tác giả Hồng Phúc dịch từ Đại
bách khoa toàn thư của Liên Xô, được Nhà xuất bản Sự thật in năm 1960 là một tác phẩm mang tính chất kinh điển được lược trích lựa chọn những bài viết liên quan trực tiếp đến vấn đề dân tộc của một số nhà tư tưởng lớn ở Liên
Xô thời đại Lênin Tác phẩm đã trở thành một tài liệu quan trọng, tạo cơ sở lý luận cho quá trình tiếp cận nghiên cứu các quan điểm của V.I Lênin về vấn
đề dân tộc
Cuốn sách Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay – vấn đề và giải pháp
(1996) của GS.TS.Trịnh Quốc Tuấn đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam.Tác giả đã luận giải một số khía cạnh nhận thức về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc, những vấn đề đặt
ra trong quá trình thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc ở vùng dân tộc, miền núi nước ta Trên cơ sở trình bày lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc, đặc điểm dân tộc, quá trình lãnh đạo và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam, tác giả đã đề xuất hệ thống nhóm giải pháp thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta Đây là những giải pháp có thể tham khảo và vận dụng đối với từng vùng trong cả nước
Trần Quang Nhiếp trong công trình Phát triển quan hệ dân tộc ở Việt
Nam hiện nay (1997) đã xác định những đặc điểm chủ yếu cũng như thực
trạng của quan hệ dân tộc ở Việt Nam; phân tích những yếu tố tác động đến
sự phát triển quan hệ dân tộc ở nước ta, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm củng cố, tăng cường, phát triển mối quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta hiện nay
Trang 10Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay (2001) của tập thể tác giả biên soạn do Phan Hữu Dật chủ
biên đã phân tích và đưa ra những nhận thức về mối quan hệ dân tộc, trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, đồng thời khắc họa tổng quát sự xung đột dân tộc đang diễn ra trên thế giới, từ đó đi vào vấn đề dân tộc ở Việt Nam
Các tác giả Hoàng Đức Nghi với bài “Xóa đói giảm nghèo ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn” (2000) và Hà Quế Lâm với tác
phẩmXóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay – thực
trạng và giải pháp (2003) đã nghiên cứu vấn đề cơ bản của thực hiện bình
đẳng dân tộc ở nước ta là xóa đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, miền núi
và vùng đồng bào dân tộc thiểu số Trong đó, các tác giả đề cập khá rõ những giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình xóa đói, giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo, đại đoàn kết trong cách mạng Việt Nam (2003) của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân do nhiều tác giả
biên soạn đã tập trung làm rõ những tư tưởng cốt lõi nhất của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Nguyễn Quốc Phẩm trong cuốn sách Công bằng và bình đẳng xã hội
trong quan hệ tộc người của các quốc gia đa tộc người (2006) đã phân tích rõ
quan điểm Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng, bình đẳng xã hội từ góc độ dân tộc và quan hệ dân tộc, từ đó đưa ra đánh giá về những vấn
đề dân tộc và sự phát triển của các quốc gia dân tộc trong bối cảnh và xu thế hiện nay của thế giới nói chung; về công bằng, bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các tộc người ở các vùng dân tộc, miền núi Việt Nam nói riêng Trong đó, tác giả cũng phân tích một số yếu tố tác động đến việc thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở nước ta hiện nay
Trong cuốn sách Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các
dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay (2009) do
Trang 11GS.TS.Hoàng Chí Bảo chủ biên, đã phân tích lý luận về dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc theo quan điểm đổi mới của Đảng; đánh giá thực trạng, phát hiện các vấn đề quan hệ dân tộc – tộc người và thực hiện chính sách dân tộc ở các vùng trọng điểm; đề xuất phương hướng, quan điểm, giải pháp chung thực hiện bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc ở nước ta
Cuốn sách Tư tưởng của Lênin về quyền con người và giá trị thực tiễn
ở Việt Nam (2011) của hai tác giả Hoàng Mai Hương và Nguyễn Hồng Hải đã
tập trung phân tích và làm rõ lý luận, quan điểm của V.I.Lênin về một số quyền con người nổi bật – dân chủ, quyền dân tộc tự quyết, quyền chính trị và những giá trị thực tiễn của những tư tưởng này ở Việt Nam hiện nay
Cuốn sách Hồ Chí Minh với con đường giải phóng dân tộc do Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2012 Nội dung cuốn sách tập trung phân tích làm sáng tỏ bối cảnh lịch sử, mục đích và hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, quá trình truyền bá Chủ nghĩa Mác – Lênin và vai trò của Người trong việc sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; phân tích những nội dung cốt lõi của con đường giải phóng dân tộc – độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng của Người; tác phẩm còn làm rõ những cống hiến vĩ đại của Người đối với cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới Trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm, gợi mở những vấn đề thực tiễn nhằm kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác như Chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc (1999) của tác giả Nguyễn
Thế Thắng; Một số vấn đề dân tộc và phát triển (2005) của tác giả Lê Ngọc Thắng; Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc
ở Việt Nam (1999) của hai tác giả Nguyễn Quốc Phẩm và Trịnh Quốc
Tuấn…Nhìn chung, các công trình đã luận giải khá chi tiết quan điểm của chủ
Trang 12nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, đồng thời làm rõ những đặc điểm của dân tộc Việt Nam, khái quát nội dung
cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Qua đó, cung cấp cho luận văn những nội dung cần thiết về vấn đề dân tộc, đặc biệt là quan hệ dân tộc, bình đẳng dân tộc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Trên cơ sở phân tích những quan điểm cơ bản của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc và sự vận dụng của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện bình đẳng dân tộc, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn tư tưởng V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc ở nước ta giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số khái niệm cơ bản: “dân tộc”, “bình đẳng dân tộc”
- Phân tích những quan điểm cơ bản của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc
- Phân tích, làm rõ nội dung và thực trạng sự vận dụng tư tưởng V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn tư tưởng V.I.Lênin
về bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu tư tưởng V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay
Phạm vi nghiên cứu:
Trong giới hạn của một luận văn thạc sỹ, tác giả tiếp cận những nội dung cơ bản trong tư tưởng của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc tập trung chủ yếu trong “Cương lĩnh dân tộc” và một số tác phẩm tiêu biểu của V.I.Lênin như: “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề
Trang 13thuộc địa”, “Dự luật về quyền bình đẳng dân tộc và về việc bảo vệ quyền của các dân tộc ít người”…; sự vận dụng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong các giai đoạn cách mạng từ năm 1986 (Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI) đến nay
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về vấn đềdân tộc và bình đẳng dân tộc Ngoài ra, luận văn còn kế thừa có chọn lọc một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp
cụ thể khác như so sánh, phân tích, tổng hợp, trong đó phương pháp kết hợp lịch sử và logic là phương pháp nghiên cứu cơ bản
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận:
Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu làm rõ hơn tư tưởng V.I.Lênin
về bình đẳng dân tộc và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta
Trang 14Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo vào việc nghiên cứu những vấn đề liên quan đến dân tộc và bình đẳng dân tộc cũng như trong việc hoạch định chính sách bình đẳng dân tộc
7.Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 6 tiết
Trang 15Chương 1 BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC VÀ TƯ TƯỞNG V.I.LÊNIN
VỀ BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC 1.1 Quan niệm về dân tộc và bình đẳng dân tộc
1.1.1 Dân tộc
“Dân tộc” là một khái niệm phức tạp trong khoa học xã hội Nó không chỉ là đối tượng riêng của ngành dân tộc học mà còn được các ngành khoa học khác như sử học, triết học, nhân học…nghiên cứu Do vậy, khái niệm
“dân tộc” được hiểu rất đa nghĩa, đa cấp độ tùy theo nhận thức và cách tiếp cận của mỗi người, mỗi ngành khoa học
Ngày nay, các nhà khoa học đã tương đối thống nhất khái niệm “dân tộc” được hiểu theo hai nghĩa chính:
Thứ nhất, dân tộc được hiểu là cộng đồng quốc gia – dân tộc, dùng để
chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của quốc gia mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lâu dài dựng nước và giữ nước
Theo nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó – quốc gia dân tộc Dân tộc thường được nhận biết qua những đặc trưng cơ bản sau:
- Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế: đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc
- Có lãnh thổ chung: dân tộc là một cộng đồng người chung sống với nhau lâu đời trên một vùng lãnh thổ ổn định Mọi thành viên của dân tộc sống trên lãnh thổ ấy gắn bó với nhau cùng lao động sản xuất để cùng tồn tại và phát triển, đồng thời làm chủ không gian cư trú của mình
Trang 16- Có một ngôn ngữ (quốc ngữ) giao tiếp chung: là phương tiện giao tiếp giữa người với người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, văn hóa, tinh thần…Ngôn ngữ thúc đẩy sự hình thành ý thức dân tộc Tiếng nói, chữ viết chung ấy được gọi là tiếng phổ thông và chữ quốc ngữ
- Có nền văn hóa chung: biểu hiện kết tinh trong tâm lý dân tộc
Thứ hai, dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp (tộc người): là một cộng
đồng người có chung nguồn gốc được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử nhất định với những đặc trưng cơ bản:
- Cộng đồng về tiếng nói (tiếng mẹ đẻ): tiếng mẹ đẻ là tiêu chí cơ bản
để phân biệt các tộc người khác nhau, nó là phương tiện giao tiếp và gắn kết các thành viên trong một cộng đồng tộc người thống nhất, nhờ đó mà văn hóa tộc người được bảo tồn và phát triển Trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc – tộc người, sự bảo tồn và phát triển ngôn ngữ tộc người là một đặc trưng quan trọng
- Cộng đồng về văn hóa: những đặc điểm chung về văn hóa hay bản sắc văn hóa tộc người cũng là tiêu chí quan trọng để xem xét, phân định một dân tộc Những biểu hiện cụ thể của văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần ở mỗi dân tộc phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc đó Ngày nay, cùng với xu thế giao lưu văn hóa vẫn song song tồn tại xu thế bảo tồn và phát triển văn hóa của mỗi dân tộc
- Ý thức tự giác tộc người: đây là tiêu chí quan trọng nhất trong các tiêu chí xem xét, phân định một dân tộc Đặc trưng nổi bật ở các dân tộc, tộc người là luôn ý thức về dân tộc mình: từ nguồn gốc đến tộc danh Đó cũng là
ý thức tự khẳng định sự hiện tồn và phát triển của dân tộc dù có nhiều tác động hoặc thay đổi về địa bàn cư trú, lãnh thổ hay tác động ảnh hưởng của giao lưu kinh tế, văn hóa…Sự hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người liên quan trực tiếp đến các yếu tố của ý thức dân tộc, tình cảm dân tộc, tâm lý dân tộc Tùy thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác
Trang 17nhau ở mỗi dân tộc mà ý thức tự giác tộc người được biểu hiện sinh động và
đa dạng
Ba tiêu chí vừa nêu trên đã tạo sự ổn định trong mỗi cộng đồng dân tộc trong quá trình phát triển tộc người Đây chính là căn cứ khoa học và thực tiễn giúp xem xét và phân định các dân tộc ở nước ta – một quốc gia đa dân tộc với sự xen kẽ cư dân các tộc người trên lãnh thổ đã hình thành từ lâu đời
Mặc dù khái niệm “dân tộc” được hiểu theo hai nghĩa khác nhau nhưng dân tộc – tộc người và dân tộc – quốc gia có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bởi lẽ, dân tộc ra đời trong một quốc gia nhất định, thông thường thì những nhân tố chín muồi hình thành tộc người không tách rời với sự chín muồi của những nhân tố hình thành quốc gia, chúng bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau
Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, dân tộc được định nghĩa như sau:
“Dân tộc 1 Một cộng đồng người ổn định hình thành trong quá trình lịch sử
của xã hội, có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý: đoàn kết
dân tộc 2 Dân tộc thiểu số, nói tắt: ưu tiên học sinh dân tộc, cán bộ dân tộc
3 Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, một quốc gia gắn
bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi: dân tộc Việt Nam”
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, khái niệm “bình đẳng được hiểu là sự
ngang bằng nhau về địa vị và quyền lợi” [78, tr.69]
Trang 18Trong Từ điển Chủ nghĩa xã hội khoa học, bình đẳng được hiểu là
“những điều kiện và những khả năng như nhau đối với việc tự do phát triển các năng lực và thỏa mãn các nhu cầu của tất cả các thành viên trong xã hội” [75, tr.10]
Theo Từ điển Triết học, khái niệm bình đẳng phản ánh “vị trí như nhau
của con người trong xã hội nhưng cũng chỉ ra sự thay đổi về nội dung khái niệm bình đẳng theo từng thời đại lịch sử và ở những giai cấp khác nhau” [76, tr.43]
Theo đó, nội dung bình đẳng xã hội biến đổi theo không gian, thời gian, nhất là trong xã hội có giai cấp, tính giai cấp chi phối sự bình đẳng xã hội Trong xã hội nguyên thủy, bình đẳng mang tính tự phát Chuyển sang xã hội chiếm hữu nô lệ, vấn đề bình đẳng và bất bình đẳng tồn tại song song với nhau, bình đẳng nghiêng về giai cấp chủ nô và bất bình đẳng nghiêng về giai cấp nô lệ Trong xã hội phong kiến, vấn đề bất bình đẳng nổi lên, đó là sự bất bình đẳng giữa hai chủ thể nông dân và các tầng lớp khác nhau của giai cấp phong kiến Xã hội tư bản chủ nghĩa bắt đầu thức tỉnh về quyền bình đẳng, khao khát bình đẳng và đấu tranh cho sự bình đẳng; khẩu hiệu bình đẳng đã đóng một vai trò tiến bộ trong thời kỳ đấu tranh cách mạng của giai cấp tư sản chống sự bất bình đẳng của giai cấp phong kiến và chống chế độ phong kiến nói chung Nhưng sau khi giành được chính quyền, giai cấp tư sản lại chà đạp lên chính khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” mà họ từng giương cao để chống chế độ phong kiến Khẩu hiệu ấy đã trở thành một phương tiện để lừa phỉnh quần chúng bị áp bức
Theo quan niệm tư sản, bình đẳng chỉ có nghĩa là sự bình đẳng của các công dân trước pháp luật, trong khi vẫn duy trì tệ người bóc lột người, sự bất bình đẳng về tài sản và về chính trị Thậm chí, họ còn cho rằng: “bình đẳng là
ai cũng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu tài sản riêng” [76, tr.52]
Đó là quan niệm phản động và không tưởng vì nó không bao hàm sự cần thiết phải thủ tiêu giai cấp, thủ tiêu sự bất bình đẳng giai cấp và thủ tiêu chế độ bóc lột
Trang 19Chủ nghĩa Mác – Lênin xuất phát từ chỗ cho rằng, không thể có sự bình đẳng nếu không thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và xóa bỏ các giai cấp bóc lột Sự bình đẳng thực sự trong quan hệ đối với các tư liệu sản xuất chỉ xuất hiện do sự thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản Chủ nghĩa xã hội đã mở
ra điều kiện, khả năng thực tế thực hiện bình đẳng xã hội, song vẫn tồn tại những tàn tích và biểu hiện bất bình đẳng xã hội trên nhiều phương diện, đó là
do trình độ phát triển chưa đầy đủ của nền sản xuất vật chất, còn những giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, còn sự khác biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa thành thị và nông thôn, còn thực hiện nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động… Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, bình đẳng xã hội không có nghĩa là một sự san bằng nào đó đối với tất cả mọi người, mà nó mở ra những khả năng vô hạn cho mỗi người tự do phát triển năng lực, nhu cầu của mình Đó là sự bình đẳng, mà trong đó “mọi người đều
sẽ có một địa vị như nhau trong xã hội, một quan hệ giống nhau đối với tư liệu sản xuất, những điều kiện lao động và phân phối như nhau, đều sẽ tham gia tích cực vào việc quản lý các công việc xã hội Quan hệ hài hòa giữa cá nhân và xã hội sẽ được xác lập trên cơ sở sự thống nhất giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân” [75, tr.12]
Như vậy, bình đẳng là một phạm trù chính trị - xã hội, đều có nghĩa là
sự ngang bằng, sự ngang nhau giữa các cá nhân hay các nhóm xã hội về một hay một số phương diện xã hội nhất định, sự ngang bằng nhau giữa các cá nhân hay các nhóm xã hội về những quyền và nghĩa vụ công dân, về địa vị xã hội, về cơ hội xã hội, về mức độ thỏa mãn những nhu cầu nhất định trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…
Từ những dẫn giải trên, có thể hiểu Bình đẳng là nhu cầu tự nhiên của
con người, là sự ngang nhau của các cá nhân và cộng đồng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ, về cơ hội và điều kiện phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phân biệt thành phần, địa vị xã hội, được bảo đảm bằng pháp luật, cơ chế, chính sách và được thể hiện trên thực tế
Trang 20* Bình đẳng dân tộc (tộc người):
Bình đẳng giữa các dân tộc là một nguyên tắc quan trọng trong quan hệ dân tộc, gắn chặt với lợi ích, sự tồn tại, phát triển và ý thức dân tộc của các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc
Bàn về bình đẳng dân tộc, các tác giả trong cuốn sách “Bình đẳng dân
tộc ở nước ta hiện nay – vấn đề và giải pháp” khẳng định: “Bình đẳng dân
tộc là kết quả của sự nỗ lực tự thân vươn lên trình độ tiến bộ của từng dân tộc; đồng thời, một phần không kém quan trọng, đó cũng là kết quả giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các dân tộc theo tinh thần xích lại gần nhau, hòa hợp với nhau hơn nữa” [73, tr.28]
GS.TS.Phan Hữu Dật cho rằng: “Bình đẳng dân tộc là quyền ngang nhau của mọi dân tộc, không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển, màu da, chủng tộc Quyền bình đẳng giữa các dân tộc được biểu hiện trong tất
cả mọi mặt của đời sống xã hội, được bảo đảm bằng pháp luật” [6, tr.713]
Bình đẳng dân tộc là một mặt của bình đẳng xã hội, đó là sự ngang nhau về nghĩa vụ và quyền lợi, về cơ hội và điều kiện phát triển giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phân biệt đa số hay thiểu số, sắc tộc hay chủng tộc, lớn hay nhỏ, trình
độ phát triển cao hay thấp, chế độ kinh tế, chính trị khác nhau
Bình đẳng dân tộc được thể hiện thông qua hệ thống cơ chế, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước và phải được thực hiện bằng các hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, trong lịch sử trước đây và hiện nay, sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống của các dân tộc là một thực tế, do vậy vẫn tồn tại sự bất bình đẳng
Thực hiện bình đẳng dân tộc là nội dung quan trọng trong giải quyết vấn đề dân tộc Đảng Chính trị, Nhà nước phải có các chính sách hỗ trợ các
Trang 21dân tộc thiểu số, khắc phục sự thiệt thòi về điều kiện, cơ hội phát triển của họ,
từ đó mới thực hiện thành công sự bình đẳng giữa các dân tộc
Mặt khác, bình đẳng dân tộc chỉ được thực hiện trên cơ sở xóa bỏ áp bức, bóc lột giữa giai cấp này với giai cấp khác, dân tộc này với dân tộc khác,
sự tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc, xây dựng khối đoàn kết giữa các dân tộc, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng
xã hội, an sinh xã hội, chính sách xã hội đúng đắn Đồng thời phải đẩy lùi, loại bỏ mọi quan điểm, hành vi kỳ thị dân tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sô vanh, tư tưởng dân tộc lớn, sự tự trị, mặc cảm dân tộc; ban hành và thực hiện tốt chính sách dân tộc
Như vậy, có thể hiểu Bình đẳng dân tộc là sự ngang bằng nhau và
không bị phân biệt đối xử giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc về quyền, lợi ích, nghĩa vụ, trách nhiệm, cống hiến, hưởng thụ…về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và các quan hệ xã hội, được bảo đảm bằng pháp luật, cơ chế, chính sách và hoạt động thực tiễn, trong điều kiện lịch sử nhất định
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, các dân tộc trong cộng đồng quốc gia Việt Nam vốn có truyền thống đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng
có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau trong cuộc đấu tranh chung để bảo vệ và xây dựng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Thực chất của bình đẳng dân tộc ở nước ta là các dân tộc cùng đoàn kết thực hiện mục tiêu: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Bình đẳng dân tộc là một trong những quyền cơ bản, một nguyên tắc trong quan hệ giữa các dân tộc nước ta Đó là sự ngang nhau hợp lý trong quan hệ giữa các dân tộc về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, được bảo đảm bằng pháp luật và từng bước được thực hiện ngày càng đầy đủ trên thực tế
Bình đẳng dân tộc không chỉ bao hàm việc tạo cơ hội, điều kiện phát triển của bản thân mỗi dân tộc mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển
Trang 22chung của toàn xã hội Đồng thời, bình đẳng dân tộc là nguyên tắc, mục tiêu, nội dung chủ yếu trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
Theo đó, bình đẳng dân tộc ở Việt Nam là sự ngang nhau hợp lý về
quyền và nghĩa vụ, về cơ hội và điều kiện phát triển trên các lĩnh vực đời sống
xã hội giữa các dân tộc ở Việt Nam, không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu
số, trình độ phát triển cao hay thấp, nguồn gốc dân tộc và địa vực cư trú, được bảo đảm bằng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước và thực hiện trong cuộc sống
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của tư tưởng V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc
1.2.1 Cơ sở lý luận
Quan điểm Chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc và bình đẳng dân tộc
Vấn đề dân tộc là một vấn đề quan trọng đượcC Mác và Ph Ăngghen đặc biệt chú ý trong quá trình xây dựng học thuyết của mình Đối với hai ông, vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc luôn gắn liền với lợi ích của giai cấp công nhân và sự nghiệp giải phóng nhân loại
Các ông cho rằng, dân tộc là hình thức cộng đồng phát triển sau bộ tộc Cũng như bộ tộc, dân tộc là cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, Nhà nước và các thể chế chính trị Mặc dù trong các tác phẩm của mình, Mác – Ăngghen không đưa ra định nghĩa về dân tộc, song các ông đã nêu ra những vấn đề có tính quy luật trong sự hình thành và phát triển của dân tộc
Khi phân tích quá trình phát triển từ thị tộc lên bộ lạc, liên minh bộ lạc thành dân tộc, C.Mác từng nêu lên quyền bình đẳng giữa các bộ lạc như là quyền tự nhiên vốn có: “Liên minh vĩnh viễn của năm bộ lạc cùng dòng máu với nhau được xây dựng trên cơ sở quyền bình đẳng và độc lập hoàn toàn của mỗi bộ lạc về mọi vấn đề trong nội bộ của bộ lạc” [54, tr.144] Bình đẳng về
xã hội như là một quyền của công dân, của cư dân các thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Từ đó quyền bình đẳng giữa các dân tộc cũng là quyền tự nhiên
Trang 23Nhưng do sự xuất hiện của chế độ chiếm hữu tư nhân, xuất hiện các giai cấp bóc lột đã xâm phạm đến công bằng, tự do của các dân tộc
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu thực chất của vấn đề công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc chỉ được thực hiện khi thủ tiêu mọi áp bức giai cấp, coi
đó như là điều kiện chế ước cho công bằng, bình đẳng dân tộc Các ông đã chỉ rõ: “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc đồng thời cũng mất theo” [50, tr.624] Từ
đó, các ông khẳng định: “Hãy xóa bỏ tình trạng bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ” [50, tr.624]
C.Mác từng phê phán các quan điểm mơ hồ theo kiểu Latxan về “thủ tiêu mọi sự bất bình đẳng về xã hội và chính trị” Theo ông thì “thay vào cái câu kết luận mơ hồ ở cuối đoạn là: “thủ tiêu mọi sự bất bình đẳng về xã hội và chính trị” thì đáng lẽ phải nói là: cùng với việc thủ tiêu những sự khác biệt giai cấp thì mọi sự bất bình đẳng về xã hội và chính trị bắt nguồn từ những sự khác biệt giai cấp đó, tự chúng cũng không còn nữa” [52, tr.43 – 44]
Bàn về bình đẳng dân tộc, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luôn gắn với bình
đẳng giữa người với người, gắn với quyền tự do Trong tác phẩm Chống
Đuyrinh, Ph.Ăngghen từng nêu một luận điểm nổi tiếng về quyền bình đẳng
giữa các dân tộc, phải được tuyên bố là những “quyền con người”, mang tính chất chung và vượt ra ngoài khuôn khổ của một quốc gia: “Trong một hệ thống những quốc gia độc lập, quan hệ với nhau trên một cơ sở bình đẳng và
ở vào một trình độ phát triển tư sản xấp xỉ ngang nhau, cho nên lẽ dĩ nhiên là yêu sách về bình đẳng phải mang một tính chất chung, vượt ra ngoài ranh giới của một quốc gia riêng biệt, là tự do và bình đẳng phải được tuyên bố là những quyền của con người” [53, tr.153]
Theo quan điểm của Ph.Ăngghen, quyền bình đẳng dân tộc phải đặt trong quan hệ với quyền tự do, bình đẳng, gắn với nhân quyền Bình đẳng dân tộc không thể có được trong xã hội tư bản, bởi tại đó chủ nghĩa dân tộc tư sản
là bạn đồng hành của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc
Trang 24Ph.Ăngghen trong thư gửi Laphacgo năm 1893 đã khẳng định: “Sự bình đẳng giữa các dân tộc cũng cần thiết như sự bình đẳng giữa các cá nhân” [55, tr.125] Tuy nhiên, trong xã hội tư bản quyền bình đẳng giữa các dân tộc với tư cách là những quyền của con người đó đã phản ánh “đặc thù tư sản” Ph.Ăngghen đã phê phán cái đặc thù tư sản ấy ngay trong việc phê phán Hiến pháp của nước Mỹ đã thần thánh hóa đặc quyền chủng tộc: “Đồng thời sự việc sau đây cũng nói lên tính chất đặc thù tư sản của những quyền con người ấy: hiến pháp của nước Mỹ, hiến pháp đầu tiên thừa nhận quyền của con người, đồng thời cũng chuẩn y luôn cả chế độ nô lệ của người da mầu đang tồn tại ở nước Mỹ; đặc quyền giai cấp bị cấm chỉ, đặc quyền chủng tộc được thần thánh hóa” [53, tr.153]
Có thể thấy, quan điểm xuyên suốt của C.Mác – Ph.Ăngghen về vấn đề dân tộc đó là mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, các ông khẳng định sự áp bức, bóc lột của giai cấp này với giai cấp khác
là nguồn gốc áp bức của dân tộc này với dân tộc khác
Xem xét tình hình thế giới thời kỳ chủ nghĩa tư bản đang phát triển, C.Mác – Ph.Ăngghen đã chỉ ra nguồn gốc, nguyên nhân của tình trạng dân tộc này thống trị dân tộc khác, đó là chế độ tư hữu, chế độ người bóc lột người, chế
độ giai cấp này áp bức, thống trị giai cấp khác, chế độ tư bản chủ nghĩa Các ông chỉ rõ, xét về nguồn gốc thì các dân tộc hiện nay cũng là sản phẩm của những giai cấp bị áp bức và không một dân tộc nào có thể trở thành tự do trong khi còn tiếp tục bị áp bức bởi những dân tộc khác Do vậy, để xóa bỏ triệt để ách áp bức dân tộc thì phải xóa bỏ hoàn toàn chế độ áp bức giai cấp, tức là xóa
bỏ chế độ tư bản, chế độ người bóc lột người cuối cùng trong lịch sử
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, trong các xã hội dựa trên chế độ người bóc lột người thì không thể có công bằng, bình đẳng trong quan hệ dân tộc trên tất cả các phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…
C.Mác và Ph.Ăngghen đã kịch liệt phê phán quan điểm tư sản, do việc bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản mà sẽ tạo ra sự bất công, bất bình đẳng về
Trang 25mặt dân tộc, đồng thời, các ông khẳng định chỉ có giai cấp vô sản mới thực hiện được sự đoàn kết anh em giữa các dân tộc: “Giai cấp tư sản mỗi nước đều có lợi ích đặc thù của mình, và vì đối với giai cấp này thì những lợi ích ấy
là cao hơn hết cho nên nó không thể vượt qua được phạm vi dân tộc, còn đôi
ba nhà lý luận của nó với tất cả “những nguyên tắc” mỹ miều của họ cũng chẳng làm nên trò trống gì ở đây vì họ không đụng chạm đến tính bất khả xâm phạm của những lợi ích mâu thuẫn nhau đó cũng như toàn bộ chế độ hiện tại nói chung, và chỉ có tài bàn suông mà thôi Nhưng giai cấp vô sản tất cả các nước đều cùng chung một lợi ích, cùng chung một kẻ thù và cùng đứng trước một cuộc đấu tranh; tất cả những người vô sản vốn dĩ sinh ra đã không mang thiên kiến dân tộc và toàn bộ sự phát triển về tinh thần và hoạt động của họ về thực chất mang tính chất nhân đạo và chống chủ nghĩa dân tộc Chỉ có người
vô sản mới có khả năng xóa bỏ sự cách biệt giữa các dân tộc, chỉ có giai cấp
vô sản giác ngộ mới xây dựng được tình anh em giữa các dân tộc khác nhau” [49, tr.792 – 793]
Như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, để giải quyết vấn đề dân tộc, bình đẳng dân tộc một cách triệt để, cần phải đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, lợi ích chính đáng và nhu cầu, nguyện vọng của các dân tộc
Vì vậy, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, vấn đề giai cấp gắn bó chặt chẽ với vấn đề dân tộc Đặt vấn đề ưu tiên, nhiệm vụ cấp bách trong mối quan hệ đó, tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc Song, xét đến cùng vấn đề giai cấp được giải quyết đúng đắn, triệt để thì vấn đề dân tộc mới được giải quyết trọn vẹn: “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo” [50, tr.624] Như vậy, sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản không chỉ đấu tranh cho lợi ích giai cấp mà còn đấu tranh cho lợi ích dân tộc Với bản chất quốc tế của giai cấp công nhân, chỉ trên cơ sở đoàn kết thống nhất giai cấp công nhân, đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản thì công cuộc giải phóng dân tộc, thực hiện công bằng, bình đẳng dân tộc mới được thực hiện
Trang 26Để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân cần tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa qua các giai đoạn khác nhau, trong
đó đấu tranh giành chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động là mục tiêu cơ bản, trực tiếp Bản chất của cách mạng xã hội chủ nghĩa
và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đặt ra yêu cầu khách quan để thực hiện bình đẳng dân tộc phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ gắn bó khăng khít của vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc Cơ sở hiện thực để giải quyết mối quan hệ đó là thực hiện đoàn kết dân tộc, tạo thành lực lượng to lớn để hoàn thành mục tiêu của sự nghiệp cách mạng
Cơ sở xây dựng đoàn kết dân tộc và thực hiện bình đẳng dân tộc đó là
sự thống nhất về lợi ích căn bản giữa các dân tộc, các giai cấp, tầng lớp xã hội
và việc giải quyết hài hòa các lợi ích đó trong đời sống hiện thực trên lập trường giai cấp công nhân C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Muốn cho các dân tộc có thể thực sự đoàn kết lại thì họ phải có lợi ích chung Muốn cho những lợi ích của họ trở thành lợi ích chung thì những quan hệ sở hữu hiện có phải
bị thủ tiêu, bởi lẽ những quan hệ sở hữu hiện có tạo điều kiện cho một số dân tộc này bóc lột một số dân tộc khác; chỉ có giai cấp công nhân là thiết tha với việc thủ tiêu những quan hệ sở hữu hiện tồn Duy chỉ có mình nó mới có thể làm được việc này Giai cấp vô sản chiến thắng giai cấp tư sản đồng thời còn
có nghĩa là khắc phục tất cả những cuộc xung đột dân tộc và xung đột công nghiệp hiện nay đang sinh ra sự thù hằn giữa các dân tộc” [50, tr.526 – 527] Chỉ khi chính quyền thuộc về giai cấp công nhân, bằng các chính sách đúng đắn của chính quyền nhà nước của giai cấp công nhân thì vấn đề công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc mới được giải quyết và thực hiện
Tóm lại, có thể khái quát thành những yếu tố cơ bản với tư cách là điều kiện thực hiện công bằng, bình đẳng trong quan hệ dân tộc theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen như sau:
- Công bằng, bình đẳng giữa người với người phải gắn liền với công bằng, bình đẳng dân tộc
Trang 27- Chỉ có xóa bỏ áp bức bóc lột giữa người với người, giữa giai cấp với giai cấp thì mới xóa bỏ được ách áp bức dân tộc này với dân tộc khác
- Giai cấp công nhân phải giành lấy chính quyền, đại diện cho giai cấp
và đại diện cho dân tộc thì công bằng, bình đẳng dân tộc mới được thực hiện
- Giải phóng dân tộc là điều kiện trước tiên cho thực hiện công bằng, bình đẳng đối với các dân tộc bị áp bức
- Đoàn kết giai cấp công nhân trong tất cả các quốc gia dân tộc là điều kiện cơ bản để phát huy bản chất quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết giai cấp như là điều kiện của đoàn kết quốc tế, đoàn kết dân tộc và bình đẳng dân tộc
- Trong từng quốc gia đa dân tộc – tộc người, chính sách của Nhà nước
sẽ quyết định quan hệ dân tộc, tộc người Chính sách của Nhà nước của giai cấp công nhân sẽ đảm bảo công bằng, bình đẳng dân tộc – tộc người
Như vậy, trong các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu
ra những quan điểm có tính chất nguyên tắc, có tính phương pháp luận khi nghiên cứu vấn đề dân tộc, bình đẳng dân tộc Các ông đã nêu rõ những nội dung cơ bản về nguồn gốc, bản chất, quan hệ dân tộc và thái độ của giai cấp công nhân, của Đảng Cộng sản về vấn đề dân tộc Chính trên cơ sở những quan điểm này mà V.I.Lênin đã tiếp tục phát triển, xây dựng một lý luận toàn diện, sâu sắc về vấn đề dân tộc, đó là cơ sở cho cương lĩnh, chính sách của một Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản về vấn đề dân tộc và bình đẳng dân tộc
Ngoài ra, V.I.Lênin còn kế thừa, tiếp thu có chọn lọc tư tưởng tiến bộ
về bình đẳng dân tộc của các nhà lý luận trong lịch sử tư tưởng nhân loại, nhất
là các đại biểu của chủ nghĩa xã hội không tưởng trên thế giới và các nhà dân chủ cách mạng Nga có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa không tưởng thế kỷ XIX
Trang 28Chủ nghĩa thực dân phát triển một cách mạnh mẽ; kết hợp với các nhà
tư bản phương Tây, chủ nghĩa tư bản đã lợi dụng chiêu bài “khai hóa văn minh” để thực hiện chính sách khai thác thuộc địa của mình với tất cả các hình thức đàn áp dã man nhất Với mục đích tiêu thụ được khối lượng hàng hóa đó và âm mưu đẩy mạnh phát triển tư bản, chủ nghĩa tư bản đã thực hiện triệt để thị trường thế giới bằng cách mở rộng thị trường của mình sang các nước chậm phát triển và lạc hậu Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa
tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Chủ nghĩa đế quốc tăng cường bóc lột các nước thuộc địa, phụ thuộc và áp đặt sự thống trị của chúng đối với các dân tộc Chủ nghĩa tư bản đã không trừ một thủ đoạn nào để nhằm
có thị trường tiêu thụ hàng hóa và vơ vét tài nguyên khoáng sản nguyên vật liệu nhằm mục đích làm giàu cho mình Để đáp ứng nhu cầu và khát vọng ấy, chủ nghĩa tư bản đã tạo nên hệ thống thị trường của mình ở các nước thuộc địa cùng với tính chất áp bức bóc lột và nô dịch một cách tàn bạo nhất Chủ nghĩa thực dân đã tìm mọi thủ đoạn cấu kết với địa chủ phong kiến và bè lũ tay sai ở các nước thuộc địa nhằm đẩy những người nông dân đến con đường cùng, không nhà cửa ruộng vườn và phải chấp nhận đi làm thuê cho họ với mức công rẻ mạt, ở những nơi điều kiện thiếu thốn, lại bị tăng thời gian lao
Trang 29động Mặt khác, giai cấp tư sản đại biểu cho tư tưởng dân tộc lớn, nô dịch, áp bức, áp đặt sự bất bình đẳng đối với các dân tộc thiểu số trong nước và thực hiện sự đồng hóa Quan điểm tư sản và chính sách nhà nước tư sản phân biệt chủng tộc, kỳ thị dân tộc, chủ nghĩa dân tộc sô vanh, dân tộc hẹp hòi của chủ nghĩa tư bản Từ đó đã đến đến tình trạng bất bình đẳng giữa các dân tộc Trước thực trạng bị áp bức nặng nề như vậy, sự vùng dậy đấu tranh là một tất yếu
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự lớn mạnh của chủ nghĩa thực dân cũng đã tạo nên những mâu thuẫn gay gắt giữa các nước tư bản, các nước thực dân với nhau Họ tranh giành, xâu xé các thuộc địa, tạo nên những xung đột giữa các nhóm khác nhau về lợi ích Sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX đã làm thay đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa các nước đế quốc Những cuộc chiến tranh đế quốc đầu tiên để giành thuộc địa đã diễn ra Chiến tranh bùng nổ và nhanh chóng trở thành chiến tranh thế giới Từ những diễn biến đó cho thấy nguyên nhân của đại chiến thế giới lần thứ nhất chính là do bản chất tham lam và hành vi tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1919)
đã làm thay đổi cục diện thế giới, nhưng đó chỉ là sự thay đổi về hình thức, còn bản chất áp bức bóc lột thì không thay đổi
Cách mạng tháng Mười Nga (1917) là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên thắng lợi trong lịch sử toàn thế giới, do giai cấp công nhân Nga liên minh với nông dân lao động tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đứng đầu
là V.I.Lênin, mở ra một thời đại mới: thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Cùng với đó là sự ra đời một Nhà nước Xô Viết công – nông, nó đã đánh dấu một điểm mốc lịch sử quan trọng đối với toàn nhân loại Lúc này chủ nghĩa xã hội không chỉ còn là ước mơ, mong muốn mà nó đang phát triển thành một xã hội hiện thực – xã hội mà những người lao động được làm chủ Cũng từ đây, V.I.Lênin đã vận dụng nó, đưa vào điều kiện thực tiễn nước Nga để khẳng định tính đúng đắn và khoa học của chủ nghĩa Mác vĩ đại Nhà nước Xô Viết ra đời đã tạo tiền đề cho hàng loạt các nước phương Tây
Trang 30thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, tạo điều kiện thực hiện tốt vấn
là chế độ chuyên chế Nga hoàng và chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ
Tư bản nước ngoài chiếm được những vị trí then chốt trong những ngành công nghiệp quan trọng nhất của nước Nga, giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân khác ở nước Nga bị bóc lột, áp bức hết sức nặng nề Chủ nghĩa tư bản kết hợp với tàn tích của chế độ nông nô đã bóc lột tàn nhẫn đời sống cùng cực của người lao động Nước Nga Sa hoàng trở thành nhà tù của các dân tộc, Nga hoàng thống trị các dân tộc một cách tàn bạo, đồng hóa, thậm chí thủ tiêu cả một dân tộc, kích động các dân tộc chống đối lẫn nhau Bọn thủ phạm gây ra ách áp bức bóc lột ở Nga là những giai cấp bóc lột, là chế độ Nga hoàng với toàn bộ bộ máy nhà nước của chúng Những dân tộc không phải Nga chiếm đa số dân số (57%) nhưng không được hưởng chút quyền lợi nào và chịu dưới hai ách áp bức: ách áp bức dân tộc của chế độ Nga hoàng và ách áp bức xã hội của bọn chúa đất là tư sản địa phương Chính phủ Nga hoàng lập ra các tòa án để đàn áp, trừng trị các dân tộc khác Nền văn hóa dân tộc của các dân tộc không phải Nga bị cấm đoán, ngăn chặn.Chính phủ Nga hoàng cấm nhiều dân tộc không được xuất bản sách báo bằng tiếng
mẹ đẻ và dạy tiếng mẹ đẻ cho trẻ em Nhân dân miền Đông hoàn toàn mù chữ Ngoài ra, chính phủ Nga hoàng còn luôn xúi giục, gây nên mối thù hằn dân tộc giữa dân tộc này với dân tộc khác như tổ chức những cuộc tàn sát người Do Thái, những cuộc chém giết lẫn nhau giữa người Ác – mê – ni và A – déc – bai – dan…Đối với các dân tộc bị chế độ Nga hoàng áp bức, bình
Trang 31đẳng dân tộc là nhu cầu, khát vọng mãnh liệt, bức thiết và đang đặt ra một cách trực tiếp
Không những thế, nước Nga còn là điểm nút tập trung những mâu thuẫn lớn của chủ nghĩa đế quốc, đó là mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản, mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân, mâu thuẫn giữa thuộc địa và đế quốc, mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc; đồng thời nước Nga cũng trở thành trung tâm mới của cách mạng vô sản thế giới Chính ở đây đã xuất hiện khả năng cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể nổ ra và thắng lợi ở một nước Lúc này trên thế giới, chủ nghĩa Mác ngày càng được truyền bá sâu rộng trong phong trào công nhân Riêng ở Nga, sự truyền bá chủ nghĩa Mác diễn ra rất mạnh mẽ gắn liền với yêu cầu nhận thức con đường phát triển tất yếu của nước Nga đang được đặt ra hết sức cấp bách Những mâu thuẫn của xã hội Nga đã tất yếu dẫn đến cuộc cách mạng dân chủ - tư sản lần thứ nhất (1905 – 1907) với tính đặc thù như Lênin đã nhận xét: “Xét về nội dung xã hội của nó, thì nó là cách mạng dân chủ - tư sản, mà xét về phương pháp đấu tranh của nó, thì nó lại là cách mạng vô sản” [45, tr.391 – 392] Chính thực tiễn cách mạng đã đặt ra yêu cầu cấp bách là phải nghiên cứu khoa học hình thái xã hội Nga để dự đoán chính xác khả năng phát triển của nước Nga và xây dựng lý luận cho việc thành lập đảng mácxít kiểu mới nhằm lãnh đạo, tổ chức phong trào cách mạng Nga
Sau thất bại của phong trào cách mạng năm 1905, chủ nghĩa dân tộc Đại Nga phát triển, ách áp bức dân tộc tăng lên Đồng thời nảy sinh các khuynh hướng dân tộc tư sản Do cùng chung lợi ích, giai cấp tư sản và các tầng lớp phong kiến có tư tưởng Đại Nga đã ra sức bóc lột công nhân, gây chia rẽ, làm mất đoàn kết trong nội bộ giai cấp công nhân các dân tộc ở Nga
Đồng thời, trên thế giới, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất là cuộc chiến tranh đế quốc với đế quốc nhằm mục đích tàn sát, cướp bóc các dân tộc Những kẻ gây chiến muốn sử dụng chủ nghĩa dân tộc để dọn đường cho chiến tranh, kích động chủ nghĩa dân tộc nước lớn thôn tính dân tộc nhỏ Ở nước
Trang 32Nga, để thực hiện âm mưu đó, chúng sử dụng bọn Men-se-vich làm công cụ tuyên truyền cho chúng
Trước tình hình thế giới, tình hình nước Nga đã đặt ra cho Đảng se-vich nhiệm vụ chống lại chủ nghĩa dân tộc Đại Nga, mặt khác phải khắc phục được thiên kiến hẹp hòi của vấn đề dân tộc
Bôn-Lúc này, ở Nga giai cấp vô sản tập trung phát triển và sớm giác ngộ Giai cấp vô sản Nga ra đời khi chủ nghĩa Mác đã chiến thắng các trào lưu xã hội chủ nghĩa trước Mác Nhờ có chủ nghĩa Mác, giai cấp vô sản Nga mặc dù
có chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa dân túy, vẫn sớm trở thành một lực lượng chính trị độc lập, tự mình tìm con đường riêng để thay đổi nước Nga Như vậy, giai cấp vô sản là một lực lượng xã hội chính trị thực sự có thể giải quyết được những mâu thuẫn chồng chất cũng như vấn đề dân tộc của nước Nga bằng con đường cách mạng
Cách mạng tháng Mười Nga đã trở thành sự kiện lớn của nhân loại, nó
là một cuộc cách mạng vĩ đại có tầm ảnh hưởng sâu sắc đên hầu hết tất cả các dân tộc, đặc biệt nó đã chiếu vào các dân tộc thuộc địa một luồng ánh sáng mới làm thức tỉnh hàng triệu triệu người dân bị áp bực bóc lột, mở ra con đường giải phóng dân tộc cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới Từ đây lý tưởng về một xã hội công bằng, dân chủ, một xã hội xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên trên thé giới đã và đang được hiện thực hóa tại nước Nga – Xô Viết
Thực tế cho thấy, trong cuộc đấu tranh để giải quyết các vấn đề chuyên chính vô sản thì cách mạng tháng Mười Nga đã đồng thời giải quyết một cách đúng đắn vấn đề mang tính thực tiễn to lớn của các dân tộc lúc bấy giờ là giải phóng dân tộc Cách mạng tháng Mười Nga có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nhân loại, đặc biệt là với các dân tộc bị áp bức, nô dịch, mất quyền tự chủ, quyền tự quyết dân tộc V.I.Lênin đã khẳng định: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại đã dẫn tới việc làm nảy sinh ra nhiều dân tộc mới”, [19, tr.6] và phong trào đấu tranh của các dân tộc này chính là sự khẳng định
rõ ràng rằng các dân tộc phải có quyền độc lập tự do, quyền bình đẳng và
Trang 33quyền tự quyết dân tộc V.I.Lênin đã nêu ra khẩu hiệu nổi tiếng: “Vô sản tất
cả các nước và dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”, điều đó cho thấy tư tưởng của ông đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác vào tình hình cụ thể của nước Nga
và trong bối cảnh chiến tranh thế giới lần thứ nhất, V.I.Lênin và Đảng sê-vích đã lãnh đạo cuộc cách mạng tháng Mười Nga thành công Lần đầu tiên trên thế giới, nhân dân lao động đã có một nhà nước của mình, một nhà nước thật sự, chính quyền về tay nhân dân để xây dựng một xã hội tiến bộ, hơn hẳn các xã hội phân chia giai cấp trước đây Từ “nhà tù đối với các dân tộc”, nước Nga trở thành tổ quốc của nhiều dân tộc Cách mạng tháng Mười Nga đã thức tỉnh, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc ở các châu lục Chính
Bôn-vì thế, mà cách mạng tháng Mười đã mở ra một thời đại quá độ từ tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga đánh dấu vị thế ưu việt của chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin so với các trào lưu cơ hội, xét lại phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, mở đường cho học thuyết cách mạng mácxít xâm nhập mạnh mẽ hơn vào các nước, các dân tộc
Như vậy, có thể khẳng định rằng, trong lịch sử thế giới chưa có sự kiện nào ảnh hưởng to lớn và sâu rộng đối với quá trình phát triển xã hội, đối với vận mệnh của tất cả các dân tộc như cách mạng tháng Mười Nga
* Mục tiêu và nhiệm vụ của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa:
Cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra là tất yếu khách quan do những mâu thuẫn về kinh tế, chính trị, xã hội và đấu tranh giai cấp trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa quy định
Trong lịch sử loài người đã diễn ra những cuộc cách mạng xã hội khác nhau Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi sự bóc lột, áp
Trang 34bức và bất công, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là quá trình chuyển biến không ngừng trải qua các giai đoạn khác nhau, trong đó đấu tranh giành chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động là mục tiêu cơ bản, trực tiếp vì vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng Chính quyền là công
cụ thống trị xã hội, nhờ đó mà giai cấp thống trị duy trì xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội Do đó, giai cấp công nhân muốn thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng phải lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản, giành lấy chính
quyền nhà nước là điều kiện để thực hiện mục tiêu tiếp theo Trong Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Giai cấp vô sản mỗi
nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc” [50, tr.623 – 624] Mục tiêu lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản văn minh trên toàn thế giới Song, để thực hiện mục tiêu đó, giai cấp công nhân phải lãnh đạo được các giai cấp, tầng lớp nhân dân bị bóc lột trong mỗi dân tộc, phải tạo nên khối liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và các tầng lớp nhân dân khác
Đoàn kết giữa giai cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động trong mỗi dân tộc là tính quy luật, là nhân tố quyết định bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản Tuy nhiên, để thực hiện đoàn kết dân tộc tất yếu phải có sự bình đẳng dân tộc Đó là cơ sở để gắn kết, tạo được sự ủng hộ của các dân tộc, đặc biệt là những người nông dân nghèo khổ và bị phá sản
Từ đó mới thực hiện được mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng toàn nhân loại
Bản chất của cách mạng xã hội chủ nghĩa và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đặt ra yêu cầu khách quan phải giải quyết đúng đắn mối quan
Trang 35hệ gắn bó khăng khít vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc Cơ sở hiện thực để giải quyết mối quan hệ đó là thực hiện đoàn kết dân tộc, bình đẳng dân tộc, tạo thành lực lượng to lớn để hoàn thành mục tiêu của sự nghiệp cách mạng
1.3 Nội dung tư tưởng V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc
Từ thực tiễn lịch sử cùng với sự kế thừa một cách có chọn lọc, bổ sung những quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, phát triển thành những quan điểm mang tính hệ thống của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, bình đẳng dân tộc trong điều kiện lịch sử mới, V.I.Lênin đã luận chứng một cách khoa học cho những luận điểm về vấn đề dân tộc, về quyền bình đẳng của các dân tộc và về quyền của các dân tộc thiểu số…Đồng thời, V.I.Lênin đã phê phán các quan điểm của bọn cơ hội chủ nghĩa Nga và quốc
tế, đã vạch trần chủ nghĩa dân tộc tư sản dưới mọi hình thức và đem chủ nghĩa quốc tế vô sản đối lập lại nó
Luận giải về vấn đề bình đẳng dân tộc, V.I.Lênin đã xem xét ở cả 2 cấp độ: dân tộc – quốc gia và dân tộc – tộc người Ông khẳng định: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất
cả các dân tộc lại; đó là cương lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác, kinh nghiệm toàn thế giới và kinh nghiệm của nước Nga dạy cho công nhân” [43, tr.375]
Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập và phân tích những tư tưởng, quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc ở góc độ dân tộc – tộc người
1.3.1 Vị trí, vai trò của “Bình dẳng dân tộc”
Các tác phẩm của V.I.Lênin đã luận chứng một cách khoa học cho những luận điểm có tính chất cương lĩnh của Đảng mácxít về vấn đề dân tộc;
về quyền bình đẳng của các dân tộc và về quyền của các dân tộc thiểu số; về ngôn ngữ và quyền bình đẳng của các ngôn ngữ…Với V.I.Lênin, vấn đề dân tộc luôn được xem xét khi đặt nó trong tiến trình của cách mạng xã hội chủ nghĩa, coi nó như là một bộ phận thống nhất, không thể tách rời của cuộc cách mạng đó Từ đó, một mặt ông nhấn mạnh rằng vấn đề dân tộc là vấn đề bộ
Trang 36phận, phụ thuộc vào vấn đề giai cấp, vào cách mạng xã hội chủ nghĩa Vì vậy
mà ông phê phán xu hướng tuyệt đối hóa vấn đề dân tộc, đặt vấn đề dân tộc lên trên vấn đề giai cấp trong toàn bộ tiến trình cách mạng Tuy nhiên, mặt khác, V.I.Lênin cũng khẳng định tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, giải quyết đúng vấn đề dân tộc sẽ góp phần có ý nghĩa quyết định vào sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giai cấp, của cách mạng xã hội chủ nghĩa và ông kiên quyết đấu tranh chống xu hướng coi nhẹ vấn đề dân tộc, chỉ thấy vấn đề giai cấp mà không thấy vấn đề dân tộc Điều đó cũng chứng minh rằng, trong thực
tế khi giải quyết vấn đề dân tộc thì sẽ có tác động tích cực trở lại đối với vấn
đề giai cấp, góp phần quyết định vào sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giai cấp, của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Thực hiện bình đẳng dân tộc là một trong ba nội dung cơ bản trong
Cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin Trong Cương lĩnh dân tộc được nêu ra vào
đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin cũng chỉ rõ: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại” [43,tr.375] Theo V.I.Lênin, các dân tộc dù lớn hay nhỏ (kể cả bộ tộc hay chủng tộc), không phân biệt trình độ phát triển cao hay thấp, đều có nghĩa vụ
và quyền lợi như nhau, không một dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa…Trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không một dân tộc nào có quyền đi áp bức, bóc lột dân tộc khác Tiếp
đó phải từng bước khắc phục tình trạng chênh lệch trong sự phát triển của các dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc còn ở trình độ lạc hậu, bằng sự
nỗ lực của chính mình cùng với sự giúp đỡ của các dân tộc anh em phát triển nhanh trên con đường tiến bộ Như vậy, theo V.I.Lênin, bình đẳng dân tộc về thực chất là xóa bỏ tình trạng người bóc lột người để từ đó xóa bỏ tình trạng dân tộc này có đặc quyền đặc lợi so với dân tộc khác, dân tộc này đi áp bức dân tộc khác V.I.Lênin chỉ rõ: “Ý nghĩa thật sự của việc đòi quyền bình đẳng, chung quy là đòi thủ tiêu giai cấp” [46, tr.136] Chính vì thế mà V.I.Lênin đã
Trang 37xem bình đẳng dân tộc là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong việc giải quyết vấn đề dân tộc
Sự bình đẳng toàn diện giữa các dân tộc về chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội…phải được ghi nhận về mặt pháp lý và quan trọng hơn là phải được thực hiện trong thực tiễn Bình đẳng giữa các dân tộc cũng chính là kết quả đấu tranh của nhân dân lao động các nước Theo V.I.Lênin: “Nguyên tắc bình đẳng hoàn toàn gắn liền chặt chẽ với việc bảo đảm quyền lợi của các dân tộc thiểu số…bất cứ một thứ đặc quyền nào dành riêng cho một dân tộc, và bất cứ một sự vi phạm nào đến quyền lợi của một dân tộc thiểu số đều bị bác bỏ” [42, tr.179] Đó là lý do V.I.Lênin xem việc giải quyết vấn đề bình đẳng dân tộc như một bộ phận không thể thiếu trong cương lĩnh cách mạng nhằm thực hiện bình đẳng xã hội nói chung Việc thực hiện bình đẳng xã hội nói chung
là mục tiêu bao trùm, do đó có ý nghĩa quyết định việc thực hiện bình đẳng dân tộc; ngược lại việc thực hiện bình đẳng dân tộc sẽ góp phần thực hiện bình đẳng xã hội, là một trong những nhân tố thúc đẩy thực hiện bình đẳng xã hội Không xóa bỏ bất bình đẳng giữa người với người thì bất bình đẳng về dân tộc không bao giờ được xóa bỏ; ngược lại không xóa bỏ bất bình đẳng về dân tộc thì việc xóa bỏ bất bình đẳng xã hội không bao giờ được thực hiện triệt để, đầy đủ Bình đẳng dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực để giải quyết vấn đề dân tộc của cách mạng xã hội chủ nghĩa Bình đẳng dân tộc chỉ
có thể thực hiện từng bước trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa trong mỗi dân tộc, quốc gia dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân nhằm cải tạo
xã hội một cách toàn diện, triệt để
Quyền bình đẳng là quyền thiêng liêng, đồng thời là mục tiêu phấn đấu, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thiểu số; đó cũng chính là tiền đề, điều kiện để xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc Như vậy, tôn trọng quyền bình đẳng của các dân tộc nói chung và của các dân tộc – tộc người trong một quốc gia đa dân tộc nói riêng chính là tạo điều kiện xóa bỏ hoàn toàn tình trạng nô dịch hay đồng hóa
Trang 38đối với các dân tộc, đồng thời khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc
1.3.2 Nội dung của “Bình đẳng dân tộc”
Bàn về quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong phạm vi nội bộ quốc gia, V.I.Lênin khẳng định quyền này không chỉ được thừa nhận mà còn phải được đảm bảo thực thi trong thực tế, đấu tranh với những hiện tượng vi phạm quyền bình đẳng giữa các dân tộc: “Trong phạm vi những quan hệ nội bộ của quốc gia, chính sách dân tộc của Quốc tế cộng sản không thể chỉ giới hạn trong việc đơn giản thừa nhận, - một cách hoàn toàn hình thức, đơn thuần bằng những lời tuyên bố suông và không có trách nhiệm gì trên thực tế, - quyền bình đẳng giữa các dân tộc, như bọn dân chủ tư sản vẫn làm và cho thế
là đủ…trong toàn bộ công tác tuyên truyền và cổ động của các đảng cộng sản
- ở diễn đàn nghị viện cũng như ở ngoài – không những phải luôn luôn không ngớt tố cáo những việc vi phạm thường xuyên nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc và những sự đảm bảo quyền lợi của các dân tộc thiểu số trong tất cả các quốc gia tư bản chủ nghĩa, bất chấp những hiến pháp “dân chủ” ở những nước ấy; mà còn phải: một là, luôn luôn chứng minh rõ rằng chỉ có chế độ Xô viết là chế độ có thể thật sự đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bằng cách thực hiện trước hết sự đoàn kết tất cả những người vô sản, rồi đến toàn thể quần chúng lao động, trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản; và hai
là, tất cả các đảng cộng sản phải trực tiếp ủng hộ các phong trào cách mạng của những dân tộc phụ thuộc hoặc không được hưởng đầy đủ quyền bình đẳng (chẳng hạn như Airolen, những người da đen ở Mỹ…) và các thuộc địa” [47, tr.201 – 202]
V.I.Lênin chỉ rõ, quyền bình đẳng dân tộc là quyền chính đáng, hợp pháp của tất cả mọi dân tộc, không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, quốc gia dân tộc lớn hay nhỏ, trình độ phát triển xã hội cao hay thấp, giàu hay nghèo, không phân biệt chủng tộc, sắc tộc…
Trang 39Đặc biệt V.I.Lênin nhấn mạnh quyền bình đẳng dân tộc phải thể hiện nổi bật ở việc bảo đảm quyền, lợi ích của các dân tộc thiểu số Mọi sự coi nhẹ
và xâm phạm đến lợi ích của các dân tộc thiểu số là vi phạm nguyên tắc bình đảng dân tộc không thể chấp nhận được
Trong tình hình hiện nay, bình đẳng giữa các dân tộc đặt lên hàng đầu
là việc xóa bỏ áp bức dân tộc, tạo điều kiện để khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển trên các lĩnh vực của đời sống giữa các dân tộc và là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong hợp tác, giao lưu giữa các dân tộc
Nội dung các nguyên tắc bình đẳng dân tộc bao gồm toàn diện các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Việc tôn trọng quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực vừa là một mục tiêu, nhiệm vụ phải phấn đấu trong thực tế để khắc phục sự chênh lệch, bất bình đẳng gữa các dân tộc vừa
là thái độ ứng xử trong các mối quan hệ xã hội, đồng thời thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc và phương thức thực hiện đoàn kết dân tộc
Bình đẳng về kinh tế là tiền đề, là nền tảng sâu xa nhất có ý nghĩa bền
vững nhất của bình đẳng dân tộc Ở phương diện này, bình đẳng dân tộc phụ thuộc vào sự đồng đều về trình độ phát triển kinh tế của các dân tộc, cốt lõi là
sự phát triển đồng đều về lực lượng sản xuất Vì vậy, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, vượt qua tình trạng lạc hậu về kinh tế, vươn lên trình độ sản xuất tiên tiến của thời đại là con đường đưa dân tộc lên địa vị bình đẳng với các dân tộc khác
Theo V.I.Lênin, thực hiện bình đẳng về kinh tế phải gắn lợi ích kinh tế với lợi ích giai cấp, dân tộc, quốc gia, bởi vậy, giải quyết các mối quan hệ liên quan đến dân tộc – quốc gia, dân tộc – tộc người đều phải tính đến quan hệ kinh tế, lợi ích kinh tế Bất cứ sự áp đặt nào trong hợp tác, giao lưu, liên kết, bất kỳ đặc quyền kinh tế nào dành riêng cho các dân tộc, tộc người đều dẫn đến việc vi phạm lợi ích của các dân tộc, dẫn đến sự bất bình đẳng dân tộc
Bên cạnh đó, người lao động của các dân tộc có cơ hội như nhau trong tìm kiếm việc làm, nâng cao tay nghề, kỹ năng lao động và đều được hưởng
Trang 40lợi ích kinh tế trên cơ sở đóng góp công sức lao động và vốn liếng của mình Các dân tộc có trình độ phát triển kém hơn sẽ được ưu tiên, giúp đỡ để phát triển kinh tế
Có thể thấy, bình đẳng về kinh tế là nội dung cốt lõi để rút ngắn sự chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống giữa các dân tộc Thực hiện bình đẳng kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm của việc giải quyết vấn đề dân tộc phải thông qua việc đề ra và tổ chức thực hiện thắng lợi các chính sách kinh tế, xã hội, trong đó cần đặc biệt quan tâm đên các chính sách, ưu tiên, ưu đãi, hỗ trợ kinh tế - xã hội đối với các dân tộc thiểu số, các vùng, miền mà đời sống kinh
tế, xã hội chậm phát triển và nhiều khó khăn
Bình đẳng về chính trị là quyền thiêng liêng của mỗi dân tộc, tộc
người Theo V.I.Lênin, bình đẳng về chính trị, trước hết, các dân tộc đều có quyền độc lập, tự quyết, chống mọi đặc quyền của bất kỳ quốc gia nào đối với bất kỳ dân tộc nào, không thừa nhận quan hệ có tính chất áp đặt giữa các dân tộc, chủ trương xây dựng quan hệ tự nguyện giữa các dân tộc, xây dựng tinh thần đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc Đồng thời xóa bỏ sự không tin cậy, sự xa lánh và thù địch giữa các dân tộc, thúc đẩy giai cấp vô sản trong các dân tộc liên hiệp lại thực hiện sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội
Bình đẳng chính trị là điều kiện tiên quyết của bình đẳng dân tộc Đối với các dân tộc bị áp bức, bị lệ thuộc, đấu tranh giành quyền bình đẳng về chính trị chính là điều kiện để có bình đẳng trên các phương diện khác của đời sống xã hội Mọi biểu hiện của tư tưởng dân tộc cực đoan, sôvanh nước lớn,
sự kỳ thị, phân biệt, đối xử giữa các dân tộc – tộc người đều là những mưu đồ chính trị của các thế lực phản động nhằm đồng hóa các dân tộc nhỏ, yếu Việc can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, dân tộc đều vi phạm quyền bình đẳng chính trị của các dân tộc Đó cũng chính là quyền tự quyết dân tộc – một nội dung trước hết của bình đẳng về chính trị