1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối liên hệ giữa các vấn đề sức khỏe tâm thần và bắt nạt trực tuyến ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố đà nẵng

105 210 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo một nghiên cứu trên những trẻ có hành vi bắt nạt trực tuyến, những trẻ này có vấn đề về hành vi và các triệu chứng về tăng động-giảm chú ý nhiều hơn những trẻ không có hành vi bắt n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ

trợ nhiệt tình, quý báu từ các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp

Trước hết, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Trần Văn Công

là người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Nhờ

những định hướng, chỉ dẫn sát sao, tỉ mỉ của Thầy mà tôi đã có thể hoàn thành

được luận văn này Qua quá trình làm việc cùng Thầy, tôi cũng đã thu được

nhiều bài học kinh nghiệm về nghiên cứu khoa học

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu, giáo viên và học sinh

trường THPT Nguyễn Trãi và THPT Herman Gmeiner, thành phố Đà Nẵng

đã hợp tác, hỗ trợ, tạo điều kiện giúp tôi thu thập số liệu cho luận văn này

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô, anh chị và các bạn học viên trong

chương trình Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên đã đồng hành, hỗ

trợ cả về chuyên môn và tinh thần trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn

Lời cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và đồng

nghiệp đã luôn bên cạnh, ủng hộ, động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có

thể hoàn thành luận văn này

Đà Nẵng, ngày 01 tháng 11 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Bích Hạnh

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt ii

Danh mục các bảng v

Danh mục các biểu đồ vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC VẤN ĐỀ SKTT VÀ BNTT 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về BNTT 6

1.1.1 Các nghiên cứu về BNTT trên thế giới 6

1.1.2 Các nghiên cứu về bắt nạt ở Việt Nam 16

1.2 Các khái niệm liên quan 20

1.2.1 Bắt nạt trực tuyến 20

1.2.2 Vấn đề sức khỏe tâm thần 25

1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT 35

1.3.1 Đặc điểm sinh lý 35

1.3.2 Đặc điểm đời sống tình cảm 36

1.3.3 Đặc điểm nhận thức 36

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Tổ chức nghiên cứu 37

2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37

2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 37

2.2 Quy trình nghiên cứu 38

2.3 Phương pháp nghiên cứu 38

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 38

2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 39

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 41

Trang 5

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC

VẤN ĐỀ SKTT VÀ BNTT 42

3.1 Thực trạng tham gia vào BNTT ở học sinh THPT 42

3.2 Thực trạng các biểu hiện SKTT ở học sinh THPT 48

3.2.1 Các biểu hiện về căng thẳng xã hội 48

3.2.2 Các biểu hiện về lo âu 50

3.2.3 Các biểu hiện về trầm cảm 52

3.2.4 Các biểu hiện về rối loạn dạng cơ thể 53

3.2.5 Các biểu hiện về tăng động 54

3.2.6 Các biểu hiện về khả năng tự kiểm soát 55

3.2.7 Các biểu hiện về vấn đề tập trung chú ý 56

3.2.8 Các biểu hiện về tính bất thường 57

3.2.9 Các biểu hiện về lòng tự tôn 58

3.2.10 Các biểu hiện về tính tự lập 59

3.3 Mối liên hệ giữa bắt nạt trực tuyến và các vấn đề sức khỏe tâm thần 60

3.3.1 Mối liên hệ giữa hành vi bắt nạt trực tuyến và các vấn đề sức khỏe tâm thần 60

3.3.2 Mối liên hệ giữa bị bắt nạt trực tuyến và sức khỏe tâm thần 64

3.3.3 Mối liên hệ giữa mức độ biểu hiện SKTT và mức độ tham gia vào BNTT ở học sinh THPT 67

3.3.4.Các yếu tố dự đoán cho mức độ tham gia bắt nạt trực tuyến ở học sinh THPT 69

3.3.5 Các yếu tố dự báo cho các vấn đề SKTT ở học sinh THPT 72

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 87

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Thực trạng BNTT trên thế giới 9

Bảng 2.1 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 38

Bảng 3.1 Các hành vi bắt nạt bằng lời trên mạng 43

Bảng 3.2 Các hành vi ngụy tạo trên mạng 44

Bảng 3.3 Các hình thức bị bắt nạt bằng lời trên mạng 46

Bảng 3.4 Các hành vi ngụy tạo trên mạng 46

Bảng 3.5: Các biểu hiện của căng thẳng về mặt xã hội (1) 48

Bảng 3.6: Các biểu hiện của căng thẳng về mặt xã hội (2) 49

Bảng 3.7: Các biểu hiện của lo âu (1) 50

Bảng 3.8: Các biểu hiện của lo âu (2) 50

Bảng 3.9 : Các biểu hiện của trầm cảm (1) 52

Bảng 3.10 : Các biểu hiện của trầm cảm (2) 52

Bảng 3.11: Mức độ các biểu hiện về rối loạn dạng cơ thể (1) 53

Bảng 3.12: Mức độ các biểu hiện về rối loạn dạng cơ thể (2) 53

Bảng 3.13: Mức độ các biểu hiện của vấn đề tăng động 54

Bảng 3.14: Các biểu hiện về khả năng tự kiểm soát (1) 55

Bảng 3.15: Các biểu hiện về khả năng tự kiểm soát (2) 56

Bảng 3.16: Các biểu hiện về tập trung chú ý của học sinh (1) 56

Bảng 3.17: Các biểu hiện về tập trung chú ý của học sinh (2) 57

Bảng 3.18: Các biểu hiện về tính bất thường (1) 58

Bảng 3.19: Các biểu hiện về tính bất thường (2) 58

Bảng 3.20: Các biểu hiện về lòng tự tôn (1) 59

Bảng 3.21: Các biểu hiện về lòng tự tôn (2) 59

Bảng 3.22: Các biểu hiện về tính tự lập (1) 60

Bảng 3.23: Các biểu hiện về tính tự lập (2) 60

Bảng 3.24 Bảng tương quan giữa việc có hành vi bắt nạt trực tuyến và các vấn đề sức khỏe tâm thần 61

Trang 7

Bảng 3.25 Bảng tương quan giữa các hình thức BNTT và các vấn đề

sức khỏe tâm thần 62

Bảng 3.26 Bảng tương quan giữa bị bắt nạt trực tuyến và các vấn đề sức khỏe tâm thần 65

Bảng 3.27 Bảng tương quan giữa các hình thức bị bắt nạt trực tuyến và các vấn đề sức khỏe tâm thần 65

Bảng 3.28: So sánh mức độ biểu hiện của SKTT ở học sinh THPT 67

Bảng 3.29 Các yếu tố dự đoán cho bắt nạt trực tuyến 70

Bảng 3.30 Các yếu tố dự đoán cho bị bắt nạt trực tuyến 70

Bảng 3.31 Các yếu tố dự báo vấn đề SKTT ở học sinh THPT……….72

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ học sinh THPT tham gia vào BNTT 42

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công nghệ đã thay đổi cách con người sống, làm việc, giao tiếp và thậm chí là cách thức mà chúng ta bắt nạt người khác [81] Hiện nay, cùng với sự bùng nổ của mạng internet và các thiết bị điện tử, một hình thức bắt nạt mới đã xuất hiện đó là bắt nạt trực tuyến, hành vi bắt nạt được thực hiện thông qua máy tính hoặc điện thoại

Theo các nghiên cứu về BNTT, tại Đức, từ 3 đến 43% trẻ vị thành niên

là nạn nhân của BNTT, từ 8 đến 33% trẻ vị thành niên cho biết đã có hành vi BNTT Tỉ lệ này ở Mỹ lần lượt là 72% và 4% trẻ vị thành niên [44] Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu trên 736 học sinh thì có 183 học sinh (chiếm 24%) từng là nạt nhân của ít nhất một hình thức bắt nạt trực tuyến Bên cạnh

đó, học sinh cấp THPT là nạn nhân nhiều hơn học sinh cấp THCS [2] Các con số này cho thấy, BNTT đang ngày càng phổ biến và ảnh hưởng đến học sinh ở các cấp học khác nhau

Cũng giống như bắt nạt truyền thống về thể chất và tinh thần, BNTT cũng gây ra những ảnh hưởng về tâm lý cho nạn nhân Tuy nhiên, trong khi mối liên hệ giữa các vấn đề sức khỏe tâm thần với các hình thức bắt nạt truyền thống đã được biết rõ, độ mạnh của mối liên hệ này trong bắt nạt trực tuyến vẫn còn ít được biết đến Nghiên cứu đã chỉ ra rằng không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê trong các vấn đề sức khỏe tâm thần giữa bắt nạt truyền thống và bắt nạt trực tuyến ở cả nạn nhân và thủ phạm [27]

Bên cạnh đó, một phát hiện quan trọng khác là cả thủ phạm và nạn nhân của bắt nạt trực tuyến đều có nguy cơ như nhau trong việc mắc phải các vấn đề sức khỏe tâm thần [27] Theo một nghiên cứu trên những trẻ có hành

vi bắt nạt trực tuyến, những trẻ này có vấn đề về hành vi và các triệu chứng về tăng động-giảm chú ý nhiều hơn những trẻ không có hành vi bắt nạt trực tuyến và có mối tương quan giữa hành vi gây hấn ở trường và việc bắt nạt trực tuyến [43] Các học sinh tham gia vào BNTT cũng có nhiều khó khăn về

Trang 10

mặt xã hội hơn và có điểm trên thang đo stress, lo âu, trầm cảm cao hơn những học sinh không tham gia vào việc bắt nạt [39] Điều này cho thấy bản thân các học sinh là thủ phạm của bắt nạt trực tuyến cũng có những vấn đề về cảm xúc và hành vi và cũng cần được hỗ trợ về mặt tâm lý Bên cạnh đó, các vấn đề về hành vi và cảm xúc cũng có thể là nguyên nhân khiến các em có hành vi bắt nạt người khác Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu về bắt nạt trực tuyến quan tâm nhiều đến các vấn đề cảm xúc và hậu quả ở nạn nhân bị bắt nạt hơn là những học sinh là thủ phạm của việc bắt nạt [32]

Barlett và Gentile (2012) cho rằng để đưa ra những can thiệp giúp giảm hành vi BNTT, các nghiên cứu cần xem xét các biến dự báo cho hình thức gây hấn mới này [43] Một trong những yếu tố dự báo như vậy có thể là tình trạng sức khỏe tâm thần

Tại Việt Nam, các nghiên cứu gần đây về BNTT tập trung làm rõ về thực trạng, các ảnh hưởng của BNTT và chiến lược ứng phó của học sinh, đồng thời xây dựng thang đo cho hiện tượng này dành riêng cho học sinh Việt Nam Một số nghiên cứu về vấn đề này như nghiên cứu của Trần Văn Công

và cộng sự (2014) [9], Trần Văn Công và cộng sự (2015) [8], Nguyễn Phương Hồng Ngọc và cộng sự (2016) [16] nhưng các nghiên cứu này chủ yếu được thực hiện ở các trường học tại phía Bắc và tập trung vào nạn nhân

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên, nhận thấy sự cần thiết trong việc nghiên cứu về bắt nạt trực tuyến nói chung và đối tượng có hành vi bắt

nạt trực tuyến nói riêng, chúng tôi lựa chọn đề tài “Mối liên hệ giữa các vấn

đề sức khỏe tâm thần và bắt nạt trực tuyến ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố Đà Nẵng” Nghiên cứu nhằm góp phần tìm hiểu các vấn đề sức

khỏe tâm thần ở học sinh và mối liên hệ của các vấn đề này với hình thức bắt nạt trực tuyến ở cả nạn nhân và thủ phạm

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này tìm hiểu các vấn đề về sức khỏe tâm thần của học sinh

và mối liên hệ của các vấn đề này với hiện tượng BNTT nhằm hỗ trợ xây dựng các chương trình phòng ngừa và can thiệp BNTT

Trang 11

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về mối liên hệ giữa các vấn đề SKTT và BNTT

- Làm rõ khái niệm công cụ như bắt nạt trực tuyến; sức khỏe tâm thần; vấn đề sức khỏe tâm thần

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

- Xây dựng công cụ nghiên cứu

- Tiến hành khảo sát thực trạng trên nhóm khách thể

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Mối liên hệ giữa các vấn đề sức khỏe tâm thần và bắt nạt trực tuyến ở học sinh THPT

4.2 Khách thể nghiên cứu:

Học sinh tại 2 trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

5 Câu hỏi nghiên cứu

Thực trạng về BNTT ở học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay như thế nào?

Thực trạng về các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh THPT hiện nay như thế nào?

Hành vi BNTT có mối liên hệ như thế nào với các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh THPT?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Có mối liên hệ giữa một số vấn đề sức khỏe tâm thần và hiện tượng BNTT ở học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu ý luận

Thu thập, tổng hợp và phân tích các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng nền tảng lý luận của đề tài

Trang 12

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

a) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Bảng hỏi nhân khẩu học: tuổi, giới tính, trường, lớp, thời gian và phương tiện sử dụng internet, mục đích sử dụng internet

- Bảng hỏi về hành vi BNTT: Để khảo sát thực trạng bắt nạt trực tuyến, nghiên cứu đã sử dụng “Thang đo bắt nạt và bị bắt nạt trực tuyến” (Cyber victim and bullying scale) [37] đã được Việt hóa Thang đo bao gồm 2 tiểu thang đo dành cho thủ phạm của BNTT và nạn nhân của BNTT

b) Phương pháp trắc nghiệm

Sử dụng các trắc nghiệm tiêu chuẩn để khảo sát các vấn đề về sức khỏe tâm thần trên nhóm khách thể: thang đo BASC-2 SPR-A: hệ thống đánh giá hành vi trẻ em, phiên bản 2 (Behavior Assessment System for Children, Second Edition) bản tự thuật về dành cho thanh thiếu niên (12 -21 tuổi) (Self-Report of Personality– Adolescent) của Reynolds, và Randy Kamphaus (2007)

7.3 Phương pháp xử lý dữ liệu

Từ số liệu thu được khi khảo sát thực tế chúng tôi sẽ tiến hành tổng hợp, mã hóa , xử lý số liệu, và phân tích kết quả thông qua phần mềm SPSS nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu

8 Phạm vi nghiên cứu

8.1 Về thời gian và địa điểm nghiên cứu:

Thời gian: nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 12/2016 đến tháng 10/2017

Địa điểm: 2 trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

8.2 Về mẫu nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu là 500 học sinh được chọn ngẫu nhiên từ 2 trường THPT

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị , danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục khác, nội dung chính của luận văn sẽ được trình bày

trong 3 chương :

Trang 13

Chương 1 : Cơ sở lý luận

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC VẤN ĐỀ SKTT VÀ BNTT

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về BNTT

1.1.1 Các nghiên cứu về BNTT trên thế giới

1.1.1.1 Thực trạng bắt nạt trực tuyến

Tại Hoa Kỳ, trong một nghiên cứu tổng quan về BNTT của Selkie, Fales, Moreno (2016) tổng hợp kết quả từ các nghiên cứu từ năm 2015 về thực trạng BNTT ở học sinh cấp hai và cấp ba (10-19 tuổi), kết quả cho thấy 1-41% trẻ vị thành niên có hành vi BNTT, 3-72% trẻ vị thành niên bị BNTT

và 2.3-16.7% trẻ vị thành niên vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân [69]

Trong cuộc khảo sát trên học sinh về BNTT ở bang New York, Mỹ (2012)

có sự tham gia của học sinh đến từ 45 hạt và hơn 350 trường [50] Kết quả cho thấy 92.4% nhận biết được ít nhất một hình thức của BNTT khi được hỏi; 47.8% học sinh biết người nào đó đã bị bắt nạt Đa số học sinh cảm thấy thoải mái khi chia sẻ về việc bị bắt nạt đối với cha mẹ hơn là những người khác 69.5% học sinh cho rằng BNTT có thể là hành vi trái pháp luật Chỉ 1 trong 5 học sinh ở New

York thực sự chia sẻ về việc các em đã bị bắt nạt trực tuyến

Một nghiên cứu khác ở Thổ Nhĩ Kỳ đã được thực hiện trong một cộng đồng mạng với hơn 1000 người tham gia cho thấy 56% người tham gia đã từng ít nhất một lần bị bắt nạt Trong đó các trường hợp bị bắt nạt bao gồm: bị

sử dụng hình ảnh webcam mà không có sự đồng ý (23%), nhận tin nhắn hoặc email đe dọa (27%), bị sử dụng trái phép thông tin cá nhân (30%), bị chia sẻ thông tin cá nhân lên mạng (30%), bị công bố hình ảnh hoặc video mà không

có sự đồng ý (31%) v.v [24] Kết quả cũng cho thấy rằng một vài yếu tố có ảnh hưởng đến việc bị bắt nạt trên mạng như: giới tính, tình trạng hôn nhân và kinh tế, mục đích, tần suất, thời gian, địa điểm và đặc điểm sử dụng internet

và khả năng ngôn ngữ Ngoài ra việc sử dụng diễn đàn và blog cũng có ý

Trang 15

nghĩa đối với nguy cơ bị bắt nạt Tuổi, trình độ học vấn và khả năng sử dụng internet không có sự ảnh hưởng đối với việc trở thành nạn nhân của BNTT

Tại Hy Lạp, nhiều nghiên cứu về hình thức bắt nạt mới này cũng đã được thực hiện Nghiên cứu về BNTT đầu tiên ở Hy Lạp được tiến hành bởi Sygkollitou, Psalti và Kapatzia (2010) trên 450 học sinh để khảo sát về những trải nghiệm bị bắt nạt trực tuyến Kết quả cho thấy 54% người tham gia cho biết đã từng bị bắt nạt, trong khi đó 50% người tham gia đã từng bắt nạt người khác Điều quan trọng là hơn 40% người tham gia không biết rằng họ là thủ phạm gây ra việc bắt nạt Nghiên cứu của Kapatzia và Sygkollitou (2008) trên

544 học sinh cấp 3 từ 16 đến 19 tuổi cho thấy việc học sinh bị BNTT nhiều hơn so với bắt nạt truyền thống với 20.5% trẻ tham gia cho biết từng bị bắt nạt trên mạng Trong khi trẻ trai thường liên quan vào việc bắt nạt thông qua điện thoại thì với trẻ gái lại là khi dùng internet Và tương tự với các nghiên cứu trước, khi được hỏi về đặc điểm của thủ phạm thì đa số trẻ tham gia đều trả lời “Không biết” Tần suất xảy ra BNTT được đánh giá là tương đối thấp theo như kết quả nghiên cứu của Tripodaki và cs (2008) khi chỉ có 4.2% trong tổng số 900 trẻ vị thành niên tham gia đã từng bị bắt nạt và nhận những tin nhắn đe dọa, làm phiền [26]

Tương tự như các quốc gia khác, BNTT cũng là một vấn nạn ở Đức Riebel, Jäger và Fischer (2009) đã tiến hành nghiên cứu trên 1987 học sinh ở Đức [66] Kết quả cho thấy ở Đức đã xuất hiện hình thức bắt nạt này tuy nhiên chỉ với một số lượng nhỏ: 5.4% học sinh bị bắt nạt một lần một tuần hoặc thậm chí nhiều hơn; 14.1% học sinh trải nghiệm những tình huống gần giống với việc BNTT Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những học sinh bắt nạt người khác trên mạng thì cũng hành xử giống như những học sinh bắt nạt người khác trong đời thực Điều này cũng tương tự đối với nạn nhân

Các nghiên cứu về bắt nạt tại Thái Lan chủ yếu tập trung vào bắt nạt truyền thống về thể chất Tuy nhiên một vài nghiên cứu gần đây cũng đã đưa

ra được các bằng chứng liên quan đến hiện trạng BNTT tại đất nước này Báo

Trang 16

cáo về BNTT của Boonoon (2009) [33] thực hiện trên 2500 học sinh từ 12 đến

19 tuổi trên cả nước cho thấy rằng 43% học sinh bị làm phiền, đe dọa trên mạng internet và đa phần trong số đó là học sinh THPT Một phát hiện quan trọng của cuộc khảo sát là những đứa trẻ sống trong gia đình li hôn hoặc bạo lực có xu hướng gây ra sự quấy rối, xấu hổ và đe dọa cho người khác như những gì mà chúng phải chịu đựng trong cuộc sống thực của chúng Songsiri và Musikaphan (2011) [77] cũng báo cáo các kết quả tìm được trên 1200 học sinh từ 21 trường ở Bangkok 96% học sinh có điện thoại riêng và 95% sử dụng internet Nghiên cứu cũng đưa ra 7 hình thức của BNTT Thời gian sử dụng internet và các mối quan

hệ trong gia đình cũng có thấy mối liên hệ với BNTT

Musikaphan (2009) đã so sánh kết quả về BNTT ở Thái Lan và Nhật Bản Kết quả ở Thái Lan thu được từ 2000 học sinh và ở Nhật Bản thu được

từ 100 học sinh [58] Tại Thái Lan, 59% học sinh cho biết đã bị bắt nạt nhiều hơn 1 lần mỗi tháng, trong khi ở Nhật Bản con số này rất thấp khi hơn một nửa học sinh tham gia chưa bao giờ đối mặt hoặc nhận thông tin về BNTT

Về thái độ đối với BNTT, ở Thái Lan, 60% học sinh cho rằng BNTT là hành

vi nên bị cấm, trong khi 35% cho rằng BNTT là hành vi có thể được chấp nhận; trong khi đó ở Nhật Bản, 68% học sinh nghĩ rằng đó là một hành vi không tốt

Đa số các nghiên cứu về BNTT đều tập trung vào học sinh trung học và

có trạng thái tâm thần bình thường mà bỏ qua các đối tượng là người khuyết tật Tuy nhiên nghiên cứu gần đây của Kowalski, Morgan, Drake-Lavelle và Allison (2016) [53] được tiến hành trên cả sinh viên khỏe mạnh và các sinh viên có khuyết tật về thể chất, thần kinh hoặc các vấn đề về tâm lý 205 sinh viên đã hoàn thành bảng khảo sát về những trải nghiệm đối với BNTT Kết quả cho thấy, tương tự như với bắt nạt truyền thống, những sinh viên khuyết tật nằm trong nguy cơ trở thành nạn nhân của BNTT với 13.9% sinh viên khuyết tật có nhiều khả năng bị bắt nạt hơn Hậu quả của việc bị bắt nạt (lòng

Trang 17

tự trọng thấp, trầm cảm nặng…) đặc biệt được phát hiện ở những người bị

khuyết tật

Bảng 1.1 Thực trạng BNTT trên thế giới Tác giả Năm

xuất bản

Quốc gia nghiên cứu

Tổng số khách thể

Lứa tuổi

Tỉ lệ học sinh bị bắt nạt

3%-72% trẻ VTN là NN và 2.3%-16.7% trẻ vừa là TP vừa là NN

56% người tham gia đã từng

5.4% học sinh bị bắt nạt một lần một tuần hoặc thậm chí nhiều hơn; 14.1% học sinh trải nghiệm những tình huống gần giống với việc BNTT

12-19 43% học sinh bị làm phiền,

đe dọa trên mạng internet Musikaphan 2009 Thái

Lan và Nhật Bản

2100 người tham gia

Tại Thái Lan, 59% học sinh cho biết đã bị bắt nạt nhiều hơn 1 lần mỗi tháng, trong khi

ở Nhật Bản con số này rất thấp khi hơn một nửa học sinh tham gia chưa bao giờ đối mặt hoặc nhận thông tin về BNTT

Trang 18

Từ thực trạng này có thể thấy các các quốc gia tiên tiến như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức có tỉ lệ người tham gia bị bắt nạt ít hơn so với các nước còn lại như Thái Lan, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ

1.1.1.2 Đặc điểm của nạn nhân và thủ phạm

Các nghiên cứu trên thế giới đã được tiến hành để tìm hiểu những đặc điểm ở nạn nhân và thủ phạm của BNTT như độ tuổi, cấp học, giới tính, đặc điểm tâm lý v.v

Một nghiên cứu cung cấp bằng chứng về mối quan hệ giữa tuổi và giới tính với hành vi BNTT là nghiên cứu của Cole, Krohn, Jewell và Hupp (2011) [40] Nghiên cứu được tiến hành trên 483 học sinh ở các trường THCS, THPT

và cao đẳng nhằm kiểm chứng yếu tố giới tính, độ tuổi, tần suất sử dụng tin nhắn qua mạng, tần suất sử dụng tin nhắn văn bản và thời gian sử dụng mạng như yếu tố dự báo của việc thực hiện BNTT, bắt nạt bằng hình ảnh, trở thành nạn nhân của BNTT, hay bị bắt nạt bằng hình ảnh Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi, giới tính, tần suất sử dụng tin nhắn văn bản và thời gian sử dụng mạng là yếu tố dự báo của việc thực hiện BNTT Tuổi, giới tính và tần suất sử dụng tin nhắn văn bản dự báo việc bắt nạt bằng hình ảnh Về việc trở thành nạn nhân của BNTT, tuổi, tần suất sử dụng tin nhắn điện tử và tần suất sử dụng tin nhắn văn bản là yếu tố dự báo có ý nghĩa Thời gian sử dụng mạng là yếu tố dự báo của việc bị bắt nạt bằng hình ảnh

Về độ tuổi, Williams và Guerra (2007) tiến hành nghiên cứu về thực trạng BNTT ở 1519 học sinh lớp 5 (từ 10 đến 11 tuổi), lớp 8 (từ 13 đến 14 tuổi) và lớp 11 (từ 16 đến 17 tuổi) – những năm học chuyển cấp trong hệ thống giáo dục của Mỹ [82] Kết quả cho thấy BNTT diễn ra nhiều nhất ở các học sinh lớp 8 và giảm dần đến lớp 11 Điều này có thể được giải thích bởi sự thay đổi về tâm sinh lý trong giai đoạn dậy thì ở độ tuổi 13-14 là yếu tố nguy

cơ làm gia tăng các hành vi BNTT Trong khi đó, học sinh lớp 11 đã bước vào giai đoạn phát triển ổn định và cũng đã có nhiều kĩ năng xã hội hơn để ứng phó với các thay đổi trong cuộc sống

Trang 19

Tuy nhiên, một nghiên cứu trên 92 học sinh trong độ tuổi từ 11 đến 16 tuổi tại các trường học tại London được tiến hành bởi Smith, Mahdavi, Carvalho và Tippett (2006) về các hình thức BNTT, nhận thức và ảnh hưởng,

và mối quan hệ giữa tuổi và giới tính trong BNTT lại đưa ra kết quả trái ngược khi cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa liên quan đến độ tuổi trong việc BNTT [75] Bên cạnh đó, kết quả cũng chỉ ra rằng: nữ sinh có xu hướng bị bắt nạt nhiều hơn, đặc biệt bởi việc nhắn tin và điện thoại; một sự tác động có ý nghĩa giữa tuổi và giới tính được tìm thấy trong mối quan hệ với ảnh hưởng của bắt nạt bằng email, và sử dụng tin nhắn khi có những ý kiến khác nhau giữa các nam sinh và các nhóm tuổi khác nhau

Cũng đưa ra kết quả trái chiều nhau khi nghiên cứu độ tuổi liên quan đến BNTT là nghiên cứu của Slonje và Smith (2008) và Ybarra và Mitchell (2004) Nghiên cứu của Slonje và Smith (2008) trên 360 học sinh không tìm

ra những sự khác biệt có ý nghĩa trong độ tuổi từ 12 đến 15 trong bất kỳ hình thức BNTT nào Bên cạnh đó, các học sinh trên 15 tuổi có sự giảm dần về mức độ BNTT Kết quả này trái ngược với phát hiện của Ybarra và Mitchell (2004) khi nói rằng mức độ BNTT ở học sinh từ 15 – 17 tuổi cao hơn học sinh từ 10 – 14 tuổi

Về đặc điểm giới tính, Barlett và Coyne (2014) đã thực hiện một nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tích các số liệu từ nhiều nghiên cứu trước để tìm hiểu xem liệu có sự khác biệt nào về mặt giới tính trong tần suất thực hiện BNTT [29] Kết quả phân tích cho thấy: nam giới có xu hướng gây

ra BNTT nhiều hơn nữ giới tuy nhiên nữ giới lại có mức độ gây ra BNTT thường xuyên hơn nam giới

Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nữ giới có xu hướng trở thành nạn nhân của BNTT nhiều hơn nam giới Trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại với 1500 trẻ vị thành niên có sử dụng internet ở Mỹ, Ybarra, Mitchell, Wolak và Finkelhor (2006) thấy rằng trẻ gái có xu hướng trở thành mục tiêu của

sự quấy rối trên mạng nhiều hơn [84] Tương tự, Mesch (2009) sau khi phân tích

Trang 20

số liệu thu được trên 935 trẻ cũng nhận thấy 61% trẻ gái đã bị bắt nạt ít nhất một lần, trong khi chỉ có 39% trẻ trai bị bắt nạt [57] Ngoài ra, trong một nghiên cứu ở

1671 học sinh Bồ Đào Nha, nhiều nữ sinh cho biết đã đã bị bắt nạt thông qua cả điện thoại và internet hơn nam sinh Kết quả tương tự cũng được tìm thấy qua nghiên cứu của Dehue, Bolman, và Vollink (2008)

Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây của Daniela (2014) trên hai nhóm mẫu khác nhau đã cho thấy nam sinh có khuynh hướng có hành vi BNTT nhiều hơn nữ sinh [70] Hai nhóm mẫu, nhóm 1 gồm 249 học sinh cấp hai và nhóm 2 gồm 339 học sinh cấp 2 đã được thực hiện thang đo “Cyber Victim and Bullying Scale” Ở nhóm 1, có 24.9% học sinh cho biết đã từng bị BNTT

và 27.7% có hành vi bắt nạt đối với người khác Trong đó học sinh nam là nạn nhân và thủ phạm của BNTT nhiều hơn học sinh nữ Ở nhóm 2, 17.7% học sinh từng bị BNTT và 16.5% học sinh có hành vi BNTT Trong đó học sinh nam có hành vi bắt nạt nhiều hơn học sinh nữ

Về mặt tâm lý, một đặc điểm được nhận thấy ở các thủ phạm của BNTT

là sự thiếu lòng thấu cảm – khả năng hiểu và chia sẻ cảm xúc với người khác Steffgen, Konig, Pfetsch, và Melzer(2011) đã tiến hành nghiên cứu trên 2070 học sinh THCS bằng một bảng phỏng vấn trên mạng với giả thuyết rằng thiếu

sự thấu cảm có thể là đặc điểm của học sinh có hành vi BNTT [79] Đúng như giả thuyết đặt ra, kết quả phân tích cho thấy những học sinh có hành vi BNTT thể hiện ít khả năng thấu cảm hơn những học sinh không có hành vi này Theo kết quả nghiên cứu này thì việc rèn luyện kĩ năng thấu cảm cho học sinh có thể

là một phương cách quan trọng để giảm thiểu BNTT

Bên cạnh đó, đặc điểm ở những học sinh bị BNTT là việc luôn cảm thấy cô đơn và có sự giao tiếp không tốt với bố mẹ Đây là kết quả được tìm thấy khi Larra~naga, Yubero, Ovejero và Navarro (2016) tiến hành nghiên cứu trên 813 trẻ vị thành niên từ lớp 7 đến lớp 10 ở Tây Ban Nha [55] Theo

đó những trẻ vị thành niên ngại giao tiếp với mẹ thường thỉnh thoảng bị bắt nạt Những trẻ vị thành niên ngại giao tiếp với mẹ và có cảm giác cô đơn

Trang 21

thường bị bắt nạt trầm trọng hơn Ngoài ra, việc giao tiếp với bố mẹ một cách công kích cũng liên quan đến việc bị bắt nạt nặng nề

Nghiên cứu về đặc điểm tâm lý ở cả nạn nhân và thủ phạm của Brewer (2015) trên 90 trẻ vị thành niên từ 16 đến 18 tuổi sử dụng các thang đo về BNTT (RCBI), sự cô đơn (UCLA Loneliness Scale), sự thấu cảm (Toronto Empathy Questionnaire) và lòng tự tôn (Rosenberg Self-Esteem Scale) chỉ ra rằng sự cô đơn, thấu cảm và lòng tự tôn là các yếu tố dự báo đối với BNTT

Cụ thể, những trẻ có lòng tự tôn thấp thường bị bắt nạt trên mạng nhiều hơn các trẻ khác Bên cạnh đó, những trẻ có sự thấu cảm thấp thì sẽ càng có nguy

cơ có các hành vi bắt nạt đối với người khác [35]

1.1.1.3 Mối liên hệ giữa BNTT và SKTT

BNTT gây ra những ảnh hưởng đến trẻ vị thành niên cả về đời sống xã hội, thành tích học tập và đặc biệt là các hậu quả về mặt tâm lý như trầm cảm,

và bằng cách nào đó cũng là một mối đe dọa nghiêm trọng đến quá trình học tập

và nghề nghiệp của họ Trong đó, nữ sinh chịu ảnh hưởng nhiều hơn nam sinh Sinh viên phải đối diện với các vấn đề như khó khăn học tập (11%), giảm tập trung (55%), giảm hứng thú học tập (16%) và những sự thay đổi khác (3%) sau khi bị BNTT Mất cân bằng cảm xúc cũng là một ảnh hưởng của BNTT đến đời sống xã hội của sinh viên: 29 % sinh viên cảm thấy căng thẳng, 30% sinh viên đối mặt với trầm cảm và 40% cảm thấy lo âu Bên cạnh đó còn có các vấn đề về hành

vi, sức khỏe và lạm dụng chất

Các nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra rằng BNTT gây ra những nguy cơ đối với sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của trẻ vị thành niên

Trang 22

[62] Những trẻ vị thành niên là mục tiêu của BNTT có các biểu hiện trầm cảm, lo âu, cảm giác cô đơn, hành vi tự sát và các triệu chứng về mặt cơ thể Thủ phạm của BNTT có xu hướng gia tăng trong việc sử dụng chất, gây hấn

và hành vi phạm pháp

Một nghiên cứu trên 165 học sinh cấp 2 (từ 10-14 tuổi) ở Thổ Nhĩ Kỳ

đã được tiến hành bởi Baker (2010) để tìm hiểu mối liên hệ giữa các trải nghiệm liên quan đến BNTT (cả nạn nhân và thủ phạm) và các triệu chứng trầm cảm [28] Nghiên cứu được thực hiện trên 94 trẻ trai và 71 trẻ gái, sử dụng thang đo mức độ trầm cảm ở trẻ em CBI Kết quả nghiên cứu cho thấy những học sinh bị BNTT có mức độ của các triệu chứng trầm cảm cao hơn những học sinh không liên quan đến BNTT và cả những học sinh gây ra BNTT Điều này cho thấy việc bị bắt nạt làm tăng nguy cơ gặp các vấn đề về tâm lý ở học sinh cấp 2

Cùng tìm hiểu về ảnh hưởng của BNTT đến trẻ vị thành niên là nghiên cứu của Gámez-Guadix, Orue, Smith và Calvete (2013) [45] Nghiên cứu được tiến hành trên 845 trẻ vị thành niên tại hai thời điểm cách nhau 6 tháng nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa BNTT và ba vấn đề thường gặp ở độ tuổi vị thành niên là trầm cảm, sử dụng chất và các vấn đề về sử dụng internet Kết quả cho thấy trẻ vị thành niên bị BNTT có nhiều khả năng phát triển các triệu chứng trầm cảm và vấn đề về sử dụng internet Bên cạnh đó, những trẻ có dấu hiệu trầm cảm và sử dụng chất nhiều hơn những trẻ khác thường dễ trở thành mục tiêu của việc BNTT

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra mối liên hệ giữa BNTT và các vấn đề sức khỏe tâm thần ở cả nạn nhân và thủ phạm Sara Bottino, Cássio Bottino, Regina, Correia và Ribeiro (2015) đã tiến hành tổng hợp và phân tích

dữ liệu từ 10 nghiên cứu ở Anh, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha để đánh giá mối liên hệ giữa BNTT và sức khỏe tâm thần của trẻ vị thành niên [34] Kết quả cho thấy những yếu tố sau có liên quan đến BNTT: sử dụng internet trên 3h mỗi ngày, vấn đề trong các mối quan hệ, vấn đề tăng động – giảm chú ý,

Trang 23

vấn đề hành vi, vấn đề liên quan đến trường học, và các hành vi nguy cơ trên mạng internet như công khai thông tin cá nhân, sử dụng webcam và sự quấy rầy của những người trên mạng Cả nạn nhân và thủ phạm của BNTT đều có nhiều vấn đề về cảm xúc và thần kinh, các khó khăn xã hội, và cảm thấy không an toàn và không được quan tâm khi ở trường 68.5 % trẻ vị thành niên

có những cảm xúc tiêu cực như giận dữ, buồn chán, lo lắng, căng thẳng, sợ hãi và “cảm giác trầm cảm” khi có liên quan đến một hình thức bắt nạt nào

đó Bên cạnh các triệu chứng trầm cảm từ mức độ vừa đến nặng, sử dụng chất, BNTT còn dẫn đến nguy cơ tự sát Đặc biệt, trẻ vị thành niên là nạn nhân của BNTT có các triệu chứng trầm cảm nhiều hơn và có ý nghĩ, hành vi cũng như cố gắng tự sát cao hơn

Một nghiên cứu trên 251 trẻ vị thành niên nam được chẩn đoán tăng động giảm chú ý được tiến hành bởi Cheng-Fang Yen, Wen-Jiun Chou, Tai-Ling Liu, Chih-Hung Ko, Pinchen Yang, Huei-Fan Hue (2014) tại Đài Loan

để tìm hiểu mối liên hệ giữa việc tham gia vào BNTT với nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có trầm cảm, lo âu, và việc tự sát Kết quả nghiên cứu cho thấy

có 19,1% trẻ từng là nạn nhân của BNTT và 14.3% trẻ cho biết đã từng đi bắt nạt người khác trên mạng Điều này cho thấy có một tỉ lệ khá lớn các trẻ nam

bị tăng động giảm chú ý có liên quan đến hình thức bắt nạt này Bên cạnh đó, các nạn nhân của BNTT có dấu hiệu trầm cảm nặng hơn và có ý nghĩ tự sát nhiều hơn những trẻ không bị BNTT [85]

Nhằm tìm hiểu các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh có hành vi BNTT, Campbell, Slee, Spears và Kift (2013) cũng đã tiến hành nghiên cứu trên các học sinh ở Úc trong độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi [39] Theo đó, các học sinh tham gia vào BNTT có nhiều khó khăn xã hội hơn và có điểm trên thang

đo stress, lo âu, trầm cảm cao hơn những học sinh không tham gia vào việc bắt nạt

Trong khi đó, cảm giác cô đơn, sự thấu cảm và lòng tự trọng là yếu tố

dự báo cho cả mức độ bị BNTT và mức độ gây ra BNTT Lòng tự trọng là

Trang 24

một yếu tố dự báo có ý nghĩa đối với việc bị bắt nạt và bắt nạt khi các học sinh

có lòng tự trọng thấp có xu hướng trải nghiệm về BNTT nhiều hơn Sự thấu cảm cũng là một yếu tố dự báo có ý nghĩa đối với việc thực hiện hành vi BNTT khi

sự thấu cảm càng thấp thì khả năng gây ra bắt nạt trên mạng càng tăng Những phát hiện này chỉ ra rằng những can thiệp theo định hướng gia tăng lòng tự trọng

và sự thấu cảm có thể thành công trong việc giảm hành vi BNTT Đây là những kết quả mà Brewer và Kerslake đã tìm được khi tiến hành nghiên cứu trên 90 học sinh (từ 16-18 tuổi) tại một trường học ở Anh [35]

Một nghiên cứu về mối liên hệ của chất lượng cuộc sống, cảm giác cô đơn và các triệu chứng trầm cảm với các hình thức bắt nạt trên 484 trẻ vị thành niên (từ 11 đến 17 tuổi) ở Tây Ban Nha đã cho thấy có tương quan nghịch giữa chất lượng cuộc sống và BNTT Đồng thời cũng có mối tương quan thuận giữa BNTT với cảm giác cô đơn và các triệu chứng trầm cảm

Từ các nghiên cứu trên có thể thấy cả nạn nhân và thủ phạm của BNTT đều có những vấn đề về cảm xúc và hành vi như tăng động giảm chú ý, cảm giác cô đơn, stress, lo âu, các khó khăn xã hội và đặc biệt là trầm cảm và nguy

cơ tự sát

1.1.2 Các nghiên cứu về bắt nạt ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hiện tượng bắt nạt nói chung và bắt nạt trực tuyến nói riêng ở học sinh cũng đã được quan tâm nghiên cứu

1.1.2.1 Các nghiên cứu về bắt nạt

Bắt nạt và bạo lực học đường vẫn luôn là một vấn nạn ở Việt Nam và trên thế giới Kết quả nghiên cứu về thực trạng bắt nạt ở học sinh Việt Nam của Trần Văn Công (2017) đã phần nào khẳng định điều đó khi cho thấy có

344 trên tổng số 955 học sinh tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội (36% khách thể) thường xuyên bị bắt nạt bởi ít nhất một loại hình Trong đó

có 122 em (12.8% khách thể) bị bắt nạt bởi 2 đến 5 hình thức Về các loại hình bắt nạt trực tiếp, thân thể và xâm phạm tài sản thì học sinh trung học cơ

sở bị bắt nạt nhiều hơn học sinh tiểu học Tỉ lệ học sinh nam bị bắt nạt trực

Trang 25

tuyến và bắt nạt thân thể nhiều hơn học sinh nữ Tất cả những khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê [11]

Lê Thị Hải Hà, Trần Thành Nam, Dunne, Campbell, Gatton, Nguyễn Thanh Hương (2017) đã tiến hành nghiên cứu về đặc điểm và các yếu tố dự báo cho bắt nạt ở trẻ vị thành niên tại Việt Nam [46] 1424 học sinh cấp hai và cấp ba từ 12 đến 17 tuổi đã tham gia vào nghiên cứu này Kết quả cho thấy 38.9% học sinh không liên quan đến bắt nạt, 24% học sinh chỉ là nạn nhân bị bắt nạt, 6.6% học sinh là thủ phạm đi bắt nạt, 40.4% học sinh vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm Các yếu tố liên quan đến cá nhân (tuổi, giới tính, sức khỏe tâm thần), gia đình (hỗ trợ xã hội, sự giám sát của cha mẹ, chứng kiến bạo lực giữa cha mẹ và xung đột với anh chị em), trường học và mối quan hệ với bạn

bè có mối liên hệ có ý nghĩa đến mức độ bắt nạt hoặc bị bắt nạt ở trường học

Nhằm tìm hiểu chiến lược ứng phó của học sinh THPT khi bị bắt nạt, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thắm, Trần Văn Công (2016) được thực hiện trên 236 học sinh THPT tại 3 trường trên địa bàn Hà Nội [21] Kết quả cho thấy 70.8% học sinh đã từng bị bắt nạt, trong đó học sinh nam chiếm 45.5%, học sinh nữ chiếm 54% Khi bị bắt nạt, đa số học sinh sẽ chọn cách tự làm sao nhãng, tập trung làm những việc thư giãn, giải trí để quên đi vấn đề đã xảy ra Học sinh ít có xu hướng tìm kiếm sự hỗ trợ hãy trả thù khi bị bắt nạt Đồng thời, có sự khác biệt có ý nghĩa trong việc sử dụng các chiến lược ứng phó ở học sinh về giới tính và học lực

Tìm hiểu về bắt nạt từ góc độ phụ huynh có nghiên cứu của nhóm tác giả Trần Văn Công, Lương Thị Ngọc Lan (2016) về “Thái độ của phụ huynh

có con bị bắt nạt” [6] Nghiên cứu này tiến hành khảo sát trên 49 phụ huynh

có con học THCS và51 phụ huynh có con học THPT trên địa bàn Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy gần một phần tư phụ huynh (17%) không biết, không quan tâm đến việc học sinh bắt nạt nhau trong trường học Bên cạnh đó, nhận thức của phụ huynh về các hình thức bắt nạt học đường còn chưa thật đầy đủ Ngoài ra kết quả nghiên cứu còn cho thấy khi biết con mình bị bắt nạt, phụ

Trang 26

huynh thường cảm thấy thương, lo lắng cho con và tức giận với thủ phạm trong đó phụ huynh nữ có xu hướng tức giận nhiều hơn

Trần Văn Công, Nguyễn Thị Hồng và Lý Ngọc Huyền (2016) đã thực hiện nghiên cứu trên 371 học sinh THCS từ lớp 6 đến lớp 9 tại Hà Nội để tìm hiểu về thực trạng hành vi gây hấn và mối liên hệ giữa hành vi gây hấn và khả năng tự kiểm soát Về thực trạng hành vi gây hấn, kết quả nghiên cứu cho thấy các em có xu hướng thực hiện các hành vi gây hấn bằng lời cao nhất so với những loại biểu hiện gây hấn khác Học sinh nam có xu hướng thực hiện hành vi gây hấn với đồ vật và gây hấn với người khác nhiều hơn học sinh nữ [3] Các học sinh cũng được yêu cầu thực hiện một bảng hỏi tự thuật và bảng hỏi do bạn bè đánh giá để tìm hiểu về mối liên hệ giữa hành vi gây hấn và khả năng tự kiểm soát Kết quả từ bảng hỏi do bạn bè đánh giá cho thấy có 6.74% học sinh thường xuyên có biểu hiện gây hấn Với số liệu tự đánh giá, kết quả cho thấy có tương quan nghịch giữa tự kiểm soát và gây hấn, tự kiểm soát là biến độc lập dự đoán mức độ và biểu hiện gây hấn [4]

1.1.2.2 Các nghiên cứu về bắt nạt trực tuyến

Nghiên cứu về thực trạng BNTT và cách ứng phó của học sinh khi bị bắt nạt của Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Ngô Thùy Dương, Nguyễn Thị Thắm (2015) cho thấy có 183 học sinh trên tổng số 763 học sinh (chiếm 24%) từng là nạn nhân của ít nhất một hình thức BNTT [2] Học sinh

ở nông thôn bị bắt nạt trực tuyến cao hơn ở thành thị Tỉ lệ nạn nhân là nam nhiều hơn nữ Bên cạnh đó, nạn nhân đa số là những em thường xuyên sử dụng internet hàng ngày Khi bị bắt nạt, đa số học sinh chọn cách ứng phó bằng suy nghĩ, nhận thức; sau đó đến ứng phó bằng cách chia sẻ, rất ít nạn nhận chọn ứng phó bằng cách trả đũa Kết quả cũng cho thấy nạn nhân thường ít chia sẻ việc bị bắt nạt với cha mẹ, thầy cô hoặc những người có thể giúp đỡ giải quyết mà có xu hướng tìm lời khuyên từ bạn bè hoặc lời khuyên

ở trên mạng Đây cũng là cách được các em đánh giá có hiệu quả cao trong việc ngăn chặn việc bị bắt nạt

Trang 27

Hậu quả của BNTT đối với học sinh THPT cũng đã được chỉ ra trên

493 học sinh tại 3 trường THPT Nghiên cứu tiến hành phân tích ảnh hưởng của việc bị BNTT đối với nạn nhân về mặt tâm lý, nhận thức, hành vi, học tập sức khỏe thể chất, mối quan hệ xã hội và việc sử dụng internet Kết quả nghiên cứu cho thấy BNTT có thể gây ra những hậu quả tiêu cực trên nhiều lĩnh vực, trong đó chủ yếu là về mặt tâm lý ở nạn nhân, sau đó là cách ảnh hưởng về mặt nhận thức Nạn nhân thường cảm thấy buồn rầu, lo lắng, bồn chồn, tức giận … trong đó đa số nạn nhân trở nên dễ cáu giận và cảm thấy căng thẳng Bên cạnh đó, việc sử dụng internet ít có tác động tiêu cực đến nạn nhân nhất Điều này cho thấy tuy là một hình thức bắt nạt mới nhưng BNTT

có những ảnh hưởng nghiêm trọng đến nạn nhân không kém các hình thức bắt nạt truyền thống khác [16]

Một nghiên cứu nhằm xây dựng thang đo cho việc bị BNTT ở học sinh Việt Nam cũng đã được tiến hành bởi Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Ngô Thùy Dương, Nguyễn Thị Thắm (2015) [8] Thang đo được xây dựng dựa trên các bảng hỏi và thang đo về bắt nạt và bắt nạt trực tuyến trong các nghiên cứu trong nước và trên thế giới và tiến hành khảo sát trên 763 học sinh ở 8 trường THCS và THPT Số liệu được xử lý bằng chiến lược phân tích nhân tố để lựa chọn ra số nhân tố tối ưu Hệ số tin cậy bên trong Cronbach alpha của thang đo được đưa ra là α = 0.935 cho thấy thang đo có độ tin cậy cao, có thể được sử dụng để đo bắt nạt trực tuyến Thang đo này cũng chỉ ra được các hình thức học sinh bị BNTT một cách cụ thể và thấy được các mối quan hệ với các yếu tố khác liên quan đến nạn nhân

Bắt nạt qua mạng và một số yếu tố liên quan gồm dân số học, các đặc điểm cá nhân của vị thành niên cũng đã được nghiên cứu bởi Phạm Thị Thu

Ba và Trần Quỳnh Anh (2016) [1] Nghiên cứu được thực hiện trên 1609 học sinh THPT thuộc 6 trường tại Hà Nội, Huế và Cần Thơ bằng thang đo của Putchin và Hinduja về bắt nạt qua mạng; cô lập xã hội (social isolation), thời gian chơi game online Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ học sinh bị bắt nạt

Trang 28

qua mạng trong 30 ngày trước thời điểm nghiên cứu là 13.5% Học sinh nam

có xu hướng bị bắt nạt qua mạng nhiều hơn học sinh nữ Học sinh ở thành phố trải nghiệm bị bắt nạt qua mạng nhiều hơn học sinh nông thôn Học sinh được bạn bè yêu mến hơn có xu hướng ít bị bắt nạt hơn học sinh ít được yêu mến Học sinh dành nhiều thời gian chơi game online cũng bị bắt nạt nhiều hơn các học sinh khác

Nhìn chung các nghiên cứu về bắt nạt ở Việt Nam đã chỉ ra được thực trạng, chiến lược ứng phó của học sinh khi bị bắt nạt, hậu quả và các yếu tố liên quan Tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ tập trung vào nạn nhân bị bắt nạt

mà chưa xem xét đến thủ phạm trong khi đây cũng một khía cạnh quan trọng

vì việc nắm được những đặc điểm của thủ phạm cũng sẽ góp phần vào việc phòng ngừa Do đó, đề tài của chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu đặc điểm của

cả thủ phạm và nạn nhân của BNTT Bên cạnh đó, đề tài cũng sẽ chỉ ra mối liên hệ giữa BNTT và các vấn đề sức khỏe tâm thần bao gồm cả cảm xúc và hành vi như trầm cảm, stress, lo âu, tăng động, giảm chú ý, rối loạn dạng cơ thể trong khi các đề tài trước mới chỉ dừng lại ở các cảm xúc như tức giận, lo lắng, buồn rầu… Đồng thời các nghiên cứu trước hầu hết được tiến hành tại các trường học phía Bắc Do đó số liệu mà đề tài này cung cấp sẽ mở ra một

thực trạng rộng hơn về BNTT ở Việt Nam

1.2 Các khái niệm liên quan

1.2.1 Bắt nạt trực tuyến

1.2.1.1 Khái niệm bắt nạt

Bắt nạt (Bullying) là một hành động cố ý nhằm gây hại cho người khác, thông qua hành vi gây rối bằng lời nói, tấn công, xâm hại thể chất, hoặc bằng những ép buộc tinh vi hơn Bắt nạt có thể xảy ra ở các môi trường như trường học hoặc nơi làm việc [63] Bắt nạt có thể có nhiều hành vi, bao gồm: quấy rối tình dục người khác; sỉ nhục và khử trừ ai đó; đùa cợt, chế giễu, thách thức; ép buộc về thể chất hoặc tấn công về phương diện khác; đe dọa; phá hoại hoặc trộm cắp của cải; trấn lột tiền, vật dụng, phương tiện [20]

Trang 29

Trong học đường, bắt nạt vẫn luôn là một vấn đề nhức nhối vì nó gây ra những ảnh hưởng về tâm lý cho học sinh Người bị bắt nạt có thể bị ảnh hưởng về mặt tâm lý trong một thời gian dài hay thậm chí suốt đời Nó ảnh hưởng đến lòng tự trọng, đặc biệt đến những nạn nhân vốn đã có vấn đề về lòng tự trọng trước đó Nạn nhân sẽ dễ dẫn đến trầm cảm, sợ hãi và các biểu hiện đau bệnh về mặt thể lý Một số trẻ lo sợ đến mức không thể tiếp tục học tập vì sợ phải đối mặt với việc bị bắt nạt ở trường hay có những trường hợp muốn tự tử để tránh né hiện tại Những trẻ đã từng bị bắt nạt trong quá khứ

có thể lại trở thành người bị bắt nạt dù có bước vào tuổi trưởng thành vì lòng

tự trọng bị suy giảm và dường như không thể tìm thấy lòng dũng cảm để chấm dứt việc trở thành nạn nhân

Bắt nạt có thể thành 3 loại chính: Bắt nạt về thân thể, bắt nạt về tinh thần, bắt nạt thông qua phương tiện truyền thông

Các nhà khoa học cho rằng ít nhất hai hình thức bị bắt nạt mà trẻ có thể phải chịu đựng là bị bắt nạt về cơ thể và bị bắt nạt về mặt quan hệ [10] Tuy nhiên, trong thời đại phát triển của công nghệ thông tin, khi các thiết bị điện

tử trở nên phổ biến và trẻ dễ dàng tiếp cận với mạng internet thì một hình thức bắt nạt cũng đang dần phổ biến và ảnh hưởng đến trẻ đó là bắt nạt thông qua phương tiện truyền thông hay bắt nạt trực tuyến

1.2.1.2 Khái niệm bắt nạt trực tuyến

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau đối với khái niệm BNTT Người đầu tiên đặt ra khái niệm này là Bill Belsey (2004) khi

ông mô tả nó trên website của mình rằng “BNTT là việc sử dụng các phương tiện truyền thông và liên lạc như email, điện thoại, tin nhắn văn bản và các trang web để thực hiện những hành vi thù địch có chủ đích được lặp đi lặp lại bởi cá nhân hoặc nhóm nhằm mục đích gây hại cho người khác” [31]

Willard (2005) định nghĩa BNTT là hành vi gửi hoặc đăng tải những nội dung có hại hoặc tàn bạo bằng những thiết bị truyền thông [83] Trong những định nghĩa khác, bắt nạt trực tuyến có thể được hiểu là hành vi gây hấn

Trang 30

lặp đi lặp lại được thực hiện thông qua các thiết bị điện tử với ý định làm tổn hại đến người khác (Nocentini và cs., 2010; Smith và cs., 2008; Tokunaga, 2010) [44] BNTT có thể được thực hiện bởi cá nhân hoặc nhóm một cách riêng tư bằng các tin nhắn hoặc hình ảnh, video được gửi trực tiếp đến nạn nhân hoặc công khai cho mọi người cùng xem trên các mạng xã hội [44]

Bauman (2010) chỉ định nghĩa đơn giản BNTT là việc “sử dụng công nghệ để có tình gây hại hoặc quấy rối người khác”

Các định nghĩa về BNTT thường bao gồm 6 yếu tố chính: có chủ đích, gây tổn thương, lặp đi lặp lại, diễn ra trong thời gian dài, xung đột về quyền lực và mang tính khiêu khích, trêu chọc [24]

Về cơ bản, BNTT cũng là một hình thức gây hấn được thực hiện thông qua các thiết bị điện tử [73] BNTT có những đặc điểm của bắt nạt truyền thống và những đặc điểm đặc trưng của nó Hiểu một cách chung nhất, BNTT

là hành vi bắt nạt được thực hiện thông qua các thiết bị giao tiếp điện tử, do

đó định nghĩa BNTT cần bao gồm những yếu tố cần thiết của việc bắt nạt Hành vi bắt nạt trực tuyến là hành vi có chủ ý, lặp đi lặp lại, gây hại cho đối tượng mà hành vi nhắm đến và được thực hiện thông qua máy tính, điện thoại hoặc các thiết bị điện tử khác [47] Ba đặc điểm đầu tiên là những đặc điểm của BNTT giống với bắt nạt truyền thống; đặc điểm còn lại là đặc điểm chủ yếu cần có để phân biệt hai hình thức bắt này

Một vấn đề được cân nhắc khi định nghĩa về BNTT là tính lặp đi lặp lại của hành vi có phải là một yếu tố cần thiết và nếu có thì nó nên được xác định như thế nào Điều này là do BNTT diễn ra trong những bối cảnh khó để xác định sự lặp lại của nó, tuy nhiên theo Kowaski (2016) thì chỉ một hành vi BNTT cũng có thể tạo

ra những ảnh hưởng lâu dài, lặp đi lặp lại Một email gây khó chịu hoặc một tin nhắn có tính chất kích động có thể được gửi đến hàng trăm hoặc hàng ngàn đứa trẻ trong một khoảng thời gian Đồng thời, nạn nhân có thể có cảm giác đang bị bắt nạt nhiều lần nếu họ đọc đi đọc lại những email hoặc tin nhắn đó Do đó, dù chỉ là một hành động được thực hiện một lần duy nhất nhưng nó có thể tác động đến nhiều người trong rất nhiều lần [54]

Trang 31

Khi đưa ra định nghĩa về BNTT, các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến vấn đề rằng liệu hành vi này xảy ra ở đối tượng nào thì có thể xác định đó

là hành vi BNTT Trong khi Renee L Servance cho rằng BNTT chỉ xảy ra ở sinh viên [68], thì định nghĩa về BNTT trên trang www.stopbullying.org lại

mở rộng đối tượng hơn khi cho rằng nạn nhân và thủ phạm là những người vị thành niên [86] Thậm chí có định nghĩa còn cho rằng BNTT có thể xảy ra khi những đứa trẻ là thủ phạm và các cán bộ nhà trường là nạn nhân [41]

Ở đây, chúng tôi sẽ sử dụng khái niệm BNTT với định nghĩa BNTT là hành vi bắt nạt gián tiếp có chủ đích được thực hiện bằng tin nhắn, hình ảnh hoặc video thông qua các thiết bị điện tử giữa trẻ vị thành niên nhằm mục đích làm tổn hại về mặt tinh thần, tâm lý và danh dự của người khác (nạn nhân) 1.2.1.3 Phân loại bắt nạt trực tuyến

Phân chia hình thức của BNTT có thể giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc nhận diện chúng Có rất nhiều hình thức của việc BNTT

Phân chia theo nội dung có 6 hình thức BNTT phổ biến được đưa ra bởi

N Willard (2005) [83]:

- Quấy rối (Harassment) Nó bao gồm các hành động như: gửi các

thông điệp công kích, thô lỗ, và tin nhắn xúc phạm hay để bạo hành, lạm dụng; viết những bình luận, bức hình làm khó chịu hay gây xấu hổ trong các phòng trò chuyện trên mạng; gây khó chịu rõ ràng cho người chơi khác trên các trang mạng chơi game…

- Phỉ báng (Denigration) Đây là khi một người nào đó gửi các thông

tin giả mạo, gây tổn hại và không đúng sự thật về người khác Chia sẻ hình ảnh về một người nào đó với mục đích chế giễu, lan truyền các tin đồn và lời thị phi không đúng sự thật Điều này có thể diễn ra trên bất cứ trang mạng hay ứng dụng nào Chúng ta thường chứng kiến những người hay gửi các hình ảnh

về người khác và đăng các bài viết lên mạng với mục đích bắt nạt

- Gây đau khổ (Flaming) Điều này diễn ra khi một người nào đó cố

tình sử dụng ngôn ngữ khắc nghiệt và công kích và tiến hành các cuộc chiến

Trang 32

tranh luận trên mạng Những kẻ đó làm điều này để mong thấy sự phản ứng

và hưởng thụ khi việc làm này gây đau khổ cho người khác

- Mạo danh (Impersonation) Đây là khi một người nào đó đột nhập

vào tài khoản email hoặc mạng xã hội của ai đó và sử dụng danh tính trên mạng (vừa đột nhập) để gửi hay đăng các tin khiêu dâm phóng đãng, hoặc các tài liệu (bài viết, hình ảnh, đoạn ghi âm, video clips…) đáng xấu hổ cho người khác Nó cũng có thể là việc lập một trang/hồ sơ giả mạo trên các trang mạng

xã hội, ứng dụng và những nơi trên mạng khác, điều này thực sự rất khó khăn

để dẹp bỏ

- Phát tán và lừa đảo (Outing and Trickery) Đây là khi một ai đó chia

sẻ các thông tin cá nhân hoặc lừa đảo để lấy các thông tin bí mật rồi chuyển tiếp cho người khác Chúng cũng có thể làm điều này với những hình ảnh và video riêng tư

- Rình rập trên mạng (Cyber Stalking) Đây là hành động lặp đi lặp lại

việc gửi các thông điệp, tin nhắn bao gồm: đe dọa làm tổn thương, các tin nhắn quấy rối và đe dọa, hoặc tham gia vào các hoạt động trực tuyến khác, làm cho một người lo sợ cho sự an toàn của bản thân Những hành động này

có thể là bất hợp pháp, phụ thuộc vào việc họ làm là gì

- Tẩy chay, cô lập (Exclusion) Điều này là khi một ai đó cố ý loại bỏ

một ai đó khỏi nhóm chẳng hạn như nhóm nhắn tin chung, những ứng dụng trên mạng, các trang mạng chơi game, và những hình thức tham gia trên mạng khác Đây cũng là dạng bắt nạt trên mạng rất phổ biến

Phân chia theo phương tiện dùng để bắt nạt, Smith, Mahdavi, Carvalho,

& Tippett (2006) nhận thấy tin nhắn văn bản, hình ảnh/video, cuộc gọi thực hiện bằng điện thoại, email, phòng chat và websites là những phương thức phổ biến để BNTT

Bên cạnh đó, BNTT không nhất thiết phải là những tin nhắn hoặc email chứa nội dung xúc phạm, đe dọa, chế nhạo, ám chỉ đến tình dục hoặc ngôn ngữ thô tục Nó cũng liên quan đến việc sử dụng tên, thông tin cá nhân và

Trang 33

hình ảnh trên mạng internet với mục đích chế nhạo hoặc gây tổn thương người khác Đồng thời, nó cũng có thể được thể hiện bằng việc phát tán thông tin sai lệch và kích động người khác có hành vi và thái độ tiêu cực đối với người bị bắt nạt Hình thức đặc biệt của BNTT là bám theo trên mạng (cyber stalking) hay khủng bố trên mạng (cyber-persecution) [48]

1.2.2 Vấn đề sức khỏe tâm thần

1.2.2.1 Khái niệm sức khỏe tâm thần

Khi định nghĩa về khái niệm “Sức khỏe”, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho rằng “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật” Như vậy, trong xã hội hiện đại, con người không chỉ quan đến đến sự khỏe mạnh của thể chất mà còn chú trọng đến sự khỏe mạnh của tâm trí, tinh thần

Sức khỏe tâm thần (Mental Health) là một trạng thái tâm lý tốt, không

có những rối loạn về mặt tâm thần Sức khỏe tâm thần nói đến một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, thỏa mãn và có thể điều chỉnh hành vi một cách thỏa đáng trong các tình huống của cuộc sống [87] Theo cách tiếp cận của tâm lý học tích cực, sức khỏe tâm thần bao gồm cả những khả năng của một

cá nhân để tận hưởng cuộc sống và có thể tạo ra được sự cân bằng cho các hoạt động Dù có bị tác động bởi những vấn đề tiêu cực, cá nhân ấy vẫn có thể phục hồi lại tâm lý

Tổ chức y tế thế giới (WHO) chỉ rõ hơn các khía cạnh của sức khỏe tâm thần như:

- Là một cuộc sống thật sự thoải mái

- Có niềm tin vào bản thân, nhận thức được về chính mình và người khác

- Có cảm xúc và hành vi phù hợp trong mọi tình huống của cuộc sống

- Có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ

- Có khả năng hàn gắn các tổn thương do các căng thẳng gây ra, lấy lại một tinh thần khỏe mạnh sau các sang chấn tâm lý [88]

Trang 34

Sigmund Freud đưa ra định nghĩa về sức khỏe tâm thần một cách ngắn gọn

và được nhiều người chấp nhận là “Năng lực làm việc và yêu thương” [42]

Các biểu hiện của sức khỏe tâm thần:

Lòng tự tôn

Lòng tự tôn được hiểu như là cách mà chúng ta cảm nhận về mình trong thế giới này Một trong những định nghĩa sớm nhất về lòng tự tôn là của William James.Ông cho rằng “sự tự cảm nhận của chúng ta trong thế giới này hoàn toàn phụ thuộc vào những gì chúng ta có được và làm được Nó được xác định bằng tỷ lệ của những khả năng thực tế của chúng ta với mẫu số là

những kỳ vọng của chúng ta và tử số là những thành công của chúng ta”

Định nghĩa lòng tự tôn của William James đề cập đến năng lực thực tế Trong mỗi lĩnh vực nếu mức độ thành công cao hơn kỳ vọng thì lòng tự tôn sẽ được nâng cao, ngược lại nếu mức độ thành công thấp hơn kỳ vọng thì lòng tự tôn sẽ giảm xuống

Với định nghĩa lòng tự tôn như là sự xứng đáng, Nathaniel Branden (1969) cho rằng: “Lòng tự tôn có hai khía cạnh liên quan đến nhau: ý thức về sự hiệu quả cá nhân và ý thức về giá trị cá nhân Nó là tổng hợp của

sự tự tin và tự tôn trọng Đó là một niềm tin cho rằng một người là có năng lực để sống và xứng đáng được sống”[36].Ông tin rằng con người có một nhu cầu cơ bản để cảm thấy có giá trị/ xứng đáng,

Nhìn chung, lòng tự tôn được hiểu là sự tự tin vào bản thân, tự nhìn nhận bản thân là một người có giá trị, có năng lực, yêu thương bản thân

Theo thời gian, lòng tự tôn cũng có thể tăng hay giảm xuống Tùy thuộc vào mức độ của sự nghi ngờ về sự xứng đáng của bản thân mình một người có thể xuất hiện sự phòng ngự, không ổn định đối với sự mất mát, thụt lùi, thất bại[61]

Những nguyên nhân dẫn đến lòng tự tôn thấp:

Theo tác giả McKay (2000) thì các nghiên cứu về trẻ em thể hiện rõ rằng, phong cách nuôi dưỡng của cha mẹ trong ba hoặc bốn năm đầu đời sẽ

Trang 35

xác định mức độ lòng tự tôn, dựa vào đó đứa trẻ bắt đầu cuộc đời [56] Sự tự nhận thức của chúng ta bị ảnh hưởng nhiều bởi cách thức mà chúng ta giải thích “thông tin phản hồi từ người khác” Quá trình này bắt đầu từ những tương tác đầu tiên từ khi là trẻ sơ sinh

Và khi chúng ta trưởng thành, chúng ta vẫn dựa vào các thông tin bên ngoài để xác nhận giá trị và năng lực của bản thân Chúng ta nhìn vào những người quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta (cha mẹ, ông bà, thầy cô…)

để chỉ cho chúng ta thấy rằng chúng ta được yêu thương hay chấp nhận đến mức nào [64]

Theo thuyết hai nguyên tố, lòng tự tôn của một người bị ảnh hưởng bởi việc “thành công – thất bại” và “chấp nhận – từ chối” Nếu một người luôn đạt được những thành công, được mọi người tôn trọng, thừa nhận thì lòng tự tôn sẽ được tăng lên Ngược lại, nếu họ không gặt hái được những thành công, không được mọi người xung quanh, đặc biệt là những người có ý nghĩa với họ thừa nhận, yêu thương thì lòng tự tôn của họ sẽ không được củng cố

Tóm lại, lòng tự tôn phụ thuộc vào cách mà chúng ta đối mặt với những thách thức trong cuộc sống theo thời gian, các chúng ta diễn giải về thế giới xung quanh và về bản thân thông qua các sự kiện Ở trẻ vị thành niên, lòng tự tôn thấp có thể biểu hiện qua việc không tự tin vào ngoại hình của bản thân, chú trọng quá nhiều vào ngoại hình hoặc việc luôn mong muốn trở thành một người khác, không cảm thấy yêu thích bản thân mình hiện tại

Khả năng độc lập

Một đứa trẻ từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành trải qua sự phát triển dần dần từ trạng thái hoàn toàn phụ thuộc và chịu sự chi phối của cha mẹ sang trạng thái tương đối độc lập và tự lực Điều này dần hình thành nên khả năng độc lập ở trẻ khi trưởng thành [67]

Khả năng độc lập là khả năng suy nghĩ và hành động mà không cần sự giúp đỡ hay tác động của người khác, là khả năng tự quyết định bản thân nên làm gì Người độc lập là người có thể đối diện với những thách thức trong

Trang 36

cuộc sống và có thể tự mình đưa ra những định hướng, chỉ dẫn mà không cần đến người khác

Khả năng độc lập thể hiện qua việc suy nghĩ độc lập, tự chịu trách nhiệm,

tự đưa ra quyết định và đối diện với các vấn đề Người có khả năng độc lập trong suy nghĩ là người luôn tự mình tìm ra cách giải quyết vấn đề [23]

Từ khi lên 3 tuổi, trẻ đã muốn thể hiện sự độc lập của mình thông qua việc trẻ đòi tự mình làm mọi thứ Đến độ tuổi vị thành niên, xu hướng độc lập thể hiện mạnh mẽ hơn Nó không dừng lại ở những việc tự chăm sóc bản thân

mà còn thể hiện cả trong suy nghĩ, khi mà trẻ có nhu cầu đưa ra những ý kiến, quan điểm cá nhân và tự đưa ra những quyết định liên quan đến cuộc sống của mình Lúc này trẻ cũng độc lập hơn trong việc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống và dần dần muốn tách khỏi cha mẹ Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái trong giai đoạn này

Một điều cũng được thừa nhận rằng sự thành công của đứa trẻ trong việc có được sự tự lực phụ thuộc vào môi trường sống trong gia đình và những nguồn giáo dục mà trẻ nhận được Một mối quan hệ cha mẹ - con cái thành công là mối quan hệ từ từ giảm dần ở trẻ nhu cầu được cha mẹ bảo bọc

và hướng đến sự tự lực hoàn toàn [67]

Khả năng tự kiểm soát

Tự kiểm soát là khả năng điều chỉnh suy nghĩ, cảm xúc, hành vi và ham muốn của bản thân, đặc biệt trong những tình huống khó khăn giúp cá nhân trở nên phù hợp với yêu cầu của môi trường xung quanh và giảm thiểu, bác

bỏ những hành vi tiêu cực không mong muốn [4]

1.2.2.2 Khái niệm vấn đề sức khỏe tâm thần

Tổ chức Y tế thế giới cho rằng các vấn đề sức khỏe tâm thần bao gồm rất nhiều các vấn đề khác nhau từ nhẹ đến nặng với nhiều triệu chứng phong phú Tuy nhiên, một cách khái quát, những triệu chứng này là sự kết hợp của những suy nghĩ cảm xúc, hành vi lệch lạc và mối quan hệ với người khác lệch lạc, ví dụ như trầm cảm, lo âu, stress đến chậm phát triển và những rối loạn

Trang 37

liên quan đến việc lạm dụng chất gây nghiện [87] Vấn đề sức khỏe tâm thần

là khá phổ biến trong dân chúng

Phân loại những vấn đề sức khỏe tâm thần: Hiện nay trên thế giới có hai bảng phân loại về vấn đề sức khỏe tâm thần được sử dụng rộng rãi, đó là Cẩm nang chuẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần lần thứ tư của Hiệp hội tâm thần Mỹ lần thứ 5 (DSM 5) và Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD 10)

Một số vấn đề sức khỏe tâm thần:

Căng thẳng về mặt xã hội

Căng thẳng xã hội (social stress)là căng thằng bắt nguồn từ mối quan

hệ của một người với người khác và từ môi trường xã hội nói chung Theo lý thuyết về cảm xúc, căng thẳng xã hội nảy sinh khi một người đánh giá một tình huống như có liên quan đến chính mình và nhận thấy rằng bản thân người

đó không có đủ nguồn lực để đối phó hoặc xử lý các tình huống cụ thể [76]

Wadman, Durkin, và Conti-Ramsden (2011) đã cùng đưa ra một định nghĩa về căng thẳng xã hội là “Cảm xúc không thoải mái hoặc lo lắng mà các

cá nhân có thể gặp trong các tình huống xã hội và có xu hướng tránh né những tình huống liên quan đến những căng thẳng mà cá nhân đã trải nghiệm trong quá khứ” [80]

Những tác nhân gây nên căng thẳng xã hội được phân làm 3 loại chính: Trước tiên được kể đến như là những sự kiện xảy ra cách đột ngột và nghiêm trọng đòi hỏi cá nhân phải thích nghi một cách nhanh chóng (ví dụ như bị tấn công tình dục, bị thương tích đột ngột,v.v.) Thứ hai là những sự kiện tiêu cực xảy ra khiến cá nhân phải chấp nhận trong một khoảng thời gian dài (ví dụ như li dị, bị thất nghiệp,v.v.) Thứ ba là những rắc rối nhỏ trong đời sống thường ngày đòi hỏi cá nhân phải thích ứng trong cả ngày sống (ví dụ như kẹt

xe, bất đồng với người khác,v.v.) [38] Khi những căng thẳng này trở nên mãn tính, những trải nghiệm về mặt cảm xúc, hành vi, sinh lý có nguy cơ trở nên những rối loạn về mặt tinh thần và những căn bệnh thể lý

Trang 38

Những năm gần đây, tỷ lệ học sinh có những biểu hiện về suy nghĩ và

có cảm xúc-hành vi theo xu hướng tiêu cực như thiếu hứng thú trong học tập,

bỏ nhà, trốn học, nghiện các trò chơi điện tử, chat, tình trạnghọc sinh co giật phân ly, trầm cảm, tự tử hoặc có hành vi bạo lực với bạn bè với thầy cô ngày càng gia tăng Các điều tra cho thấy các rối loạn trên chiếm từ 20- 25% số học sinh ở các lứa tuổi Và yếu tố stress tâm lý chiếm 80% các nguyên nhân gây tổn thương trên [15]

Tình trạng căng thẳng kéo dài có thể phát triển thành các rối loạn lo âu hoặc trầm cảm Các nghiên cứu chỉ ra có mối liên hệ giữa căng thẳng xã hội

và sự phát triển của chứng lo âu Những người cao niên, trung niên hay thanh thiếu niên được chuẩn đoán là rối loạn hoảng loạn ở tuổi trưởng thành có thể

có nguyên nhân từng bị lạm dụng tình dục ở tuổi thơ ấu [78] Những trẻ em từng bị căng thẳng xã hội như bị lạm dụng về mặt thể lý hay tâm lý, bị mất cha – mất mẹ hay bất kì một biến cố khó chấp nhận nào về những mối quan

hệ đều có nguy cơ phát triển rối loạn lo âu hơn những trẻ em không trải qua những căng thẳng như vậy Trải qua căng thẳng xã hội, nguy cơ phát triển trầm cảm lâm sàng tăng lên đáng kể Các cá nhân cảm thấy mất mát về các

các mối quan hệ trước khi trở nên trầm cảm[71]]

Lo âu

Lo âu là cảm xúc lo lắng, sợ hãi thông thường của con người trước những sự kiện của cuộc sống, là sự không yên lòng trước những tín hiệu báo trước một trở ngại sắp xảy ra và do đó, con người phải tìm cách giải quyết sự việc liên quan đến mối lo âu này [12]

Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên bình thường của con người, là một tín hiệu báo động, báo trước nguy hiểm sắp đến Tuy nhiên, nếu lo âu ở mức độ cao, kéo dài, xuất hiện thành cơn, đột ngột, cấp tính, ảnh hưởng đến các hoạt động chức năng của cá nhân thì sự lo âu này đã phát triển ở mức bệnh lý, được gọi là rối loạn lo âu

Trang 39

Rối loạn lo âu là một trong những rối loạn tâm lý phổ biến, thường gặp

ở tuổi vị thành niên trở lên, nữ mắc phải nhiều hơn nam Rối loạn lo âu là một bệnh lý chỉ sự lo sợ quá mức và không kiểm soát được trước một tình huống xảy ra, có tính chất vô lý, lặp lại và kéo dài gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống [14]

Theo DSM 5 (Hiệp hội tâm thần Mỹ, 2013), rối loạn lo âu bao gồm: rối loạn lo âu chia ly, ám ảnh sợ đặc hiệu, rối loạn lo âu lan tỏa, cơn hoảng sợ, ám ảnh sợ xã hội, rối loạn ám ảnh nghi thức, rối loạn stress sau sang chấn

Những biểu hiện của học sinh khi có rối loạn lo âu thường thấy là: lo lắng thái quá về những vấn đề cá nhân gặp phải; biểu hiện cơ thể gồm: căng cứng các cơ, run chân tay, sắc mặt tái hoặc đỏ sẫm, hơi thở nhanh, tiết mồ hôi thái quá, tim đập nhanh, khó tiêu đầy bụng…Một số biểu hiện thường thấy khác như đau đầu, bồn chồn, bất an, đứng ngồi không yên, dễ bực dọc, cáu gắt [17]

Trầm cảm

Theo tổ chức Y tế thế giới WHO, “Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn bã, mất đi hứng thú hoặc khoái cảm, cảm thấy tội lỗi hoặc tự hạ thấp giá trị bản thân, bị rối loạn giấc ngủ hoặc ăn uống

và kém tập trung” Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát nhiều lần, làm suy giảm đáng kể khả năng học tập, làm việc hoặc khả năng đương đầu với cuộc sống hàng ngày Trường hợp nặng nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự tử

Các biểu hiện trầm cảm ở trẻ vị thành niên:

1 Rối loạn khí sắc: khó chịu, cau có, vẻ mặt buồn tẻ, lời nói thì thầm, khóc lóc vì một vấn đề không đáng kể hay hoàn toàn không có lý do

2 Cảm nghĩ tự tị, thất bại, tội lỗi quá đáng

3 Giảm thích thú rõ rệt trong các hoạt động mà trước kia bệnh nhân thường quan tâm, yêu thích; thu mình trong giao tiếp xã hội

Trang 40

4 Ức chế trí tuệ biểu hiện ở giảm sút kết quả học tập Trẻ em than phiền

bị giảm tập trung chú ý, suy luận chậm chạp, trí nhớ giảm, tưởng tượng nghèo nàn

5 Bệnh nhân tỏ ra mệt mỏi, sống cô đơn, thường chỉ chơi một mình hay chơi với các bạn nhỏ tuổi hơn

6 Các pha ức chế tâm thần vận động có thể xen kẽ với các pha hung phấn vận động

7 Các rối loạn cơ thể thường gặp: giấc ngủ kém, rối loạn ăn uống, không lên cân

8 Ý nghĩa thường xuyên về cái chết ý tưởng tự sát tái diễn mà không có một kế hoạch tự sát cụ thể hoặc có dự định tự sát hoặc có một kế hoạch

tự sát để tự sát thành công [18]

Ở thanh thiếu niên, có thể nổi trội lo âu, bồn chồn hay kích động tâm – vận động, lạm dụng rượu, hành vi kịch tính, ảm ảnh sợ, ám ảnh vốn có nay tăng vượt lên hay lo lắng nghi bệnh (ICD-10) Đặc biệt thường có các biểu hiện bẳn gắt, giận giữ, biểu hiện này được xem là tương đương với trạng thái buồn rầu

Biểu hiện trầm cảm liên quan nhiều với lĩnh vực nhận thức (nghiền ngẫm, ý tưởng) và xung đột tự sát, tự ti, bực bội Triệu chứng tâm thể vượt trội là đau đầu [18]

Rối loạn dạng cơ thể

Rối loạn dạng cơ thể là một thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm rối loạn được đặc trưng bởi các triệu chứng cơ thể gợi ý đến một bệnh lý cơ thể nhưng không phát hiện thấy tổn thương thực thể cũng như không giải thích được bằng các cơ chế sinh lý học đã biết [25]

Bảng phân loại DSM - 5 chia rối loạn dạng cơ thể thành những nhóm

như sau:

- Rối loạn cơ thể hoá:bệnh nhân có biểu hiện than phiền với rất nhiều

triệu chứng như đau đầu, đau lưng, đau cổ, tiêu chảy, táo bón, khó nuốt, buồn

Ngày đăng: 24/01/2019, 11:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Thu Ba, Trần Quỳnh Anh (2016), “Bắt nạt qua mạng ở học sinh trung học phổ thông và một số yếu tố liên quan”, Tạp chí Nghiên cứu Y học 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắt nạt qua mạng ở học sinh trung học phổ thông và một số yếu tố liên quan”
Tác giả: Phạm Thị Thu Ba, Trần Quỳnh Anh
Năm: 2016
2. Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Ngô Thùy Dương, Nguyễn Thị Thắm (2015), “Chiến lược ứng phó của học sinh với bắt nạt trực tuyến”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Giáo dục, Tập 31, Số 3, trang 11-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược ứng phó của học sinh với bắt nạt trực tuyến”, "Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Giáo dục
Tác giả: Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Ngô Thùy Dương, Nguyễn Thị Thắm
Năm: 2015
3. Trần Văn Công, Nguyễn Thị Hồng, Lý Ngọc Huyền (2016), “Thực trạng hành vi gây hấn ở học sinh trung học cơ sở”, Tuyển tập công trình khoa học Hội thảo Phòng, chống bạo lực học đường trong bối cảnh hiện nay – Thực trạng và giải pháp, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 326- 334 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hành vi gây hấn ở học sinh trung học cơ sở”, "Tuyển tập công trình khoa học Hội thảo Phòng, chống bạo lực học đường trong bối cảnh hiện nay – Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Văn Công, Nguyễn Thị Hồng, Lý Ngọc Huyền
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
6. Trần Văn Công, Lương Thị Ngọc Lan (2016), “Thái độ của phụ huynh trước việc con bị bắt nạt”, Tuyển tập công trình khoa học Hội thảoPhòng, chống bạo lực học đường trong bối cảnh hiện nay – Thực trạng và giải pháp, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 273-279 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái độ của phụ huynh trước việc con bị bắt nạt”, "Tuyển tập công trình khoa học Hội thảoPhòng, chống bạo lực học đường trong bối cảnh hiện nay – Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Văn Công, Lương Thị Ngọc Lan
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
7. Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Ngô Thùy Dương, Nguyễn Thị Thắm (2015), “Chiến lược ứng phó của học sinh với bắt nạt trực tuyến”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu giáo dục, Tập 31, số 3 (2015) 11-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược ứng phó của học sinh với bắt nạt trực tuyến”, "Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Ngô Thùy Dương, Nguyễn Thị Thắm
Năm: 2015
8. Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Ngô Thùy Dương, Nguyễn Thị Thắm (2015), “Xây dựng thang đô bắt nạt trực tuyến cho học sinh Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Cán bộ trẻ các trường ĐHSP toàn quốc lần thứ 5, trang 537-548 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng thang đô bắt nạt trực tuyến cho học sinh Việt Nam”, "Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Cán bộ trẻ các trường ĐHSP toàn quốc lần thứ 5
Tác giả: Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Ngô Thùy Dương, Nguyễn Thị Thắm
Năm: 2015
9. Trần Văn Công, Bahr Weiss, David Cole (2014). “Xây dựng thang đo nạn nhân bắt nạt cho trẻ em Việt Nam”. Kỷ yếu hội thảo khoa học toàn quốc “Sức khỏe tâm thần trong trường học”. NXB ĐHQG TP. HCM.ISBN: 978-604-73-2638-9. Trang 228-247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng thang đo nạn nhân bắt nạt cho trẻ em Việt Nam"”". Kỷ yếu hội thảo khoa học toàn quốc “Sức khỏe tâm thần trong trường học
Tác giả: Trần Văn Công, Bahr Weiss, David Cole
Nhà XB: NXB ĐHQG TP. HCM. ISBN: 978-604-73-2638-9. Trang 228-247
Năm: 2014
10. Trần Văn Công, Bahr Weiss, David Cole (2009), “Bị bắt nạt bởi bạn cùng lứa và mối liên hệ với nhận thức bản thân, trầm cảm ở học sinh phổ thông”, Tạp chí Tâm lý học số 11(128), trang 50-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bị bắt nạt bởi bạn cùng lứa và mối liên hệ với nhận thức bản thân, trầm cảm ở học sinh phổ thông
Tác giả: Trần Văn Công, Bahr Weiss, David Cole
Năm: 2009
11. Trần Văn Công (2017), “Thực trạng bắt nạt ở học sinh Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 3, số 4, 453-467 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bắt nạt ở học sinh Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tác giả: Trần Văn Công
Năm: 2017
12. Văn Thị Kim Cúc (2005), “Tìm hiểu rối loạn lo âu ở một nhóm trẻ lang thang kiếm sống tại Hà Nội”, Tạp chí Tâm lý học số 9, 13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu rối loạn lo âu ở một nhóm trẻ lang thang kiếm sống tại Hà Nội”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Văn Thị Kim Cúc
Năm: 2005
14. Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Ngọc Duy (2015), “Rối loạn lo âu của sinh viên một số trường sư phạm tại thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM, số 11, trang 90-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn lo âu của sinh viên một số trường sư phạm tại thành phố Hồ Chí Minh”, "Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM
Tác giả: Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Ngọc Duy
Năm: 2015
15. Đặng Hoàng Minh, Hoàng Cẩm Tú, (2009), “Thực trạng sức khỏe tâm thần (SKTT) ở HS THCS ở Hà Nội và nhu cầu tham vấn SKTT học đường”, Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, tập 25, số 1S, 2009, trang 106-112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sức khỏe tâm thần (SKTT) ở HS THCS ở Hà Nội và nhu cầu tham vấn SKTT học đường”, "Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tác giả: Đặng Hoàng Minh, Hoàng Cẩm Tú
Năm: 2009
16. Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Trần Văn Công (2016), “Hậu quả của bắt nạt trực tuyến ở học sinh trung học phổ thông”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế:Sang chấn tâm lý và các hoạt động trợ giúp, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr.51-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu quả của bắt nạt trực tuyến ở học sinh trung học phổ thông”, "Kỷ yếu hội thảo quốc tế: "Sang chấn tâm lý và các hoạt động trợ giúp
Tác giả: Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Trần Văn Công
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
17. Nguyễn Thị Hằng Phương (2009), “Thực trạng và nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh trường trung học phổ thông chuyên Quảng Bình”, Tạp chí Tâm lý học số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh trường trung học phổ thông chuyên Quảng Bình”
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng Phương
Năm: 2009
18. Nguyễn Văn Siêm, Tâm bệnh học trẻ em và thanh thiếu niên. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm bệnh học trẻ em và thanh thiếu niên
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
19. Đinh Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Văn Tính, Tâm lý học phát triển, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
20. Trần Công Thuận (2016), Bạo lực học đường qua khảo sát và nghiên cứu, NXB Tôn giáo,tr59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực học đường qua khảo sát và nghiên cứu
Tác giả: Trần Công Thuận
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2016
21. Nguyễn Thị Thắm, Trần Văn Công (2016), “Chiến lược ứng phó của học sinh trung học phổ thông khi bị bắt nạt”,Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế Tâm lý học học đường lần thứ 5, NXB Thông tin và truyền thông, trang 673-680 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược ứng phó của học sinh trung học phổ thông khi bị bắt nạt”,"Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế Tâm lý học học đường lần thứ 5
Tác giả: Nguyễn Thị Thắm, Trần Văn Công
Nhà XB: NXB Thông tin và truyền thông
Năm: 2016
22. Lê Thị Thanh Thủy (2009), “Stress trong học tập và cách ứng phó ở học sinh cuối cấp trung học phổ thông”, Tạp chí Tâm lý học số 4 (121), 22-27 23. Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang (2007), Tâm lýhọc đại cương, NXB Đại học Sư phạm Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress trong học tập và cách ứng phó ở học sinh cuối cấp trung học phổ thông”, Tạp chí Tâm lý học số 4 (121), 22-27 23. Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang (2007), "Tâm lý "học đại cương", NXB Đại học Sư phạm
Tác giả: Lê Thị Thanh Thủy (2009), “Stress trong học tập và cách ứng phó ở học sinh cuối cấp trung học phổ thông”, Tạp chí Tâm lý học số 4 (121), 22-27 23. Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm "Tài liệu tiếng Anh
Năm: 2007
24. Akbulut, Y., Sahin, Y. L., & Eristi, B. (2010), “Cyberbullying Victimization Among Turkish Online Social Utility Members”, Educational Technology & Society, 13 (4), 192–201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cyberbullying Victimization Among Turkish Online Social Utility Members”, "Educational Technology & Society, 13
Tác giả: Akbulut, Y., Sahin, Y. L., & Eristi, B
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w