Điều đó đã làm cho nước ta trở thành một trong những nước xuất khẩu càphê hàng đầu thế giới, kim ngạch xuất khẩu cà phê thường xuyên chiếm vị trí quantrọng trong kim ngạch xuất khẩu hàng
Trang 1Phần I: Cơ Sở Lý Luận
1 Lý do chọn đề tài:
Dưới chính sách tự do hóa thương mại ở nước ta, các hàng rào thương mạinhư thuế, hạn ngạch xuất nhập khẩu nông sản đang từng bước được cắt giảm Hơnthế nữa, sau nhiều năm thực hiện sự độc quyền Nhà nước trong lĩnh vực ngoạithương, giờ đây các thành phần kinh tế phi quốc doanh được khuyến khích tham giacác hoạt động xuất khẩu nông sản Kết quả là thị trường nông sản trong nước nóichung và thị trường cà phê nói riêng ngày càng chịu ảnh hưởng của thị trường khuvực và thị trường quốc tế
Thực tế thừa nhận rằng các chính sách tự do hóa thương mại ban hành nhữngnăm qua được xem như là nhân tố quan trọng đứng đằng sau sự phát triển của nôngnghiệp ở nước ta Tự do hóa thương mại đã có tác động đẩy nhanh tốc độ tăngtrưởng sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất cà phê nói riêng Sau hơn 10năm thực hiện chính sách tự do hóa thương mại, sản xuất cà phê nước ta đã cónhững bước thay đổi quan trọng về mặt diện tích, sản lượng cũng như kim ngạchxuất khẩu Điều đó đã làm cho nước ta trở thành một trong những nước xuất khẩu càphê hàng đầu thế giới, kim ngạch xuất khẩu cà phê thường xuyên chiếm vị trí quantrọng trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nông sản trong những năm vừa qua
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Quá trình tự do hóa thương mại cũng đang đặt ra nhiều thách thức cho ngànhsản xuất cà phê nước ta Hai câu hỏi được rất nhiều người quan tâm là:
- Tại sao thị trường cà phê ở nước ta trong những năm qua biến động rất lớn
và giá cà phê có xu hướng giảm xuống?
- Những giải pháp nào để ổn định thị trường cà phê nước ta?
Trang 2Xuất phát từ những vấn đề đó, việc nghiên cứu tác động của thị trường càphê quốc tế đến thị trường cà phê trong nước trong quá trình tự do hóa thương mại ởnước ta, từ đó làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách nông nghiệp nhằm phát huynhững lợi thế và hạn chế những tác động tiêu cực trong quá trình hội nhập kinh tếcủa nước ta hiện nay là một việc làm hết sức cần thiết - đây chính là mục đích củanghiên cứu
3 Phương pháp nghiên cứu:
Để tìm hiểu và phân tích thị trường cà phê trong nước và quốc tế trong nghiêncứu này đã sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ sách – báo, internet,…
sử dụng số liệu thống kê hàng năm của Tổ chức cà phê Quốc tế (ICO), Hiệp hội càphê Cacao Việt Nam (VICOFA), Tổng Công ty cà phê Việt Nam (VINACAFE),…
4 Phạm vi nghiên cứu:
Chủ yếu tập trung vào tình hình sản xuất và tiêu thụ của ngành cà phê ViệtNam.Ảnh hưởng của thị trường quốc tế đến thị trương trong nước và ngược lại Vìthời gian tiến hành ngắn, phạm vi nghiên cứu hẹp và kiến thức có hạn nên khó tránhkhỏi sai sót Rất mong được sự đóng góp của thầy hướng dẫn để đề tài đựoc hoànthiện hơn
Trang 3Phần II: Nội Dung
Chương 1: Thực Trạng Của Ngành Cà Phê Hiện Nay
I Khái quát về ngành cà phê Việt Nam:
Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt nam từ năm 1870, mãi đến đầu thế kỷ
20 mới được phát triển trồng ở một số đồn điền của người Pháp Năm 1930 ở Việt nam có 5.900 ha trồng cà phê
Trong thời kỳ những năm 1960-1970, cây cà phê được phát triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh miền Bắc Cho đến năm 1975, diện tích cà phê của cả nước có khoảng trên 13.000 ha, cho sản lượng 6.000 tấn
Trong vòng vài năm gần đây cà phê Việt Nam đã có những bước phát triểnmạnh mẽ cả về diện tích, năng suất, tổng sản lượng và lượng cà phê xuất khẩu Nếunăm 1980, cả nước chỉ có khoảng 22.500 ha, năng suất chỉ đạt khoảng 0,78 tấn/hathì 20 năm sau, năm 2000, 533.000 ha, trong đó diện tích sản xuất có 385.000 ha vớisản lượng 720.000 tấn, năng suất 1,87 tấn/ha và xuất khẩu được 705.300 tấn
Trong vòng 15 năm từ 1990 đến 2004, Việt Nam đã đạt được những thành tựuđáng kể, kim ngạch XK: 5.289.620.344 USD với đơn giá bình quân 15 năm là848,18 USD/T
Như vậy, Việt Nam trong một thời gian ngắn đã được xếp vào một trongnhững nước sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới
Thị trường cà phê Việt Nam ngày càng được mở rộng Có thể xem lượng nhậpkhẩu cà phê từ Việt Nam của 12 nước đứng hàng đầu trong số khoảng 60 nước vàđịa bàn lãnh thổ tiêu thụ cà phê Việt Nam qua 4 vụ (2000/01 đến 2003/04)
Trong trên nửa triệu hécta cà phê, có tới trên 85% diện tích là thuộc về cácchủ vườn, những người nông dân thuộc nhóm dân tộc Kinh, Thái, H'Mông, Êdê, GiaRai, M'Nông,
Trang 4Vì thế mà ngành cà phê là một trong những phân ngành nông nghiệp khá quantrọng và quan hệ mật thiết với chương trình phát triển nông thôn Việt Nam
II Thực trạng sản xuất và tiêu thụ cà phê ở VN:
Trước đây vấn đề phát triển cây cà phê được đặt ra với những bước khởi đầurầm rộ, chủ yếu là khu vực Tây nguyên Vào thời gian này cả nước mới chỉ có khôngđầy 20 ngàn hécta phát triển kém, năng suất thấp, với sản lượng chỉ khoảng 4.000-5.000 tấn Đến nay vào năm 2000 cả nước đã có 500.000ha cà phê hầu hết sinhtrưởng khoẻ, năng suất cao, tổng sản lượng đạt tới 80 vạn tấn Những con số đó vượt
xa tất cả mọi suy nghĩ, mọi mục tiêu chiến lược của ngành Diện tích cà phê ở ViệtNam bắt đầu tăng nhanh vào nửa cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20
Đến năm 1992 giá cà phê thế giới tụt xuống ở mức thấp nhất do các nước sảnxuất cà phê trên thế giới tung lượng cà phê tồn kho từ những năm trước do Tổ chức
cà phê quốc tế còn áp dụng chế độ hạn ngạch xuất nhập khẩu Sau năm 1992 giá càphê lại hồi phục và dần dần đạt tới đỉnh cao vào năm 1994, 1995 Lúc này mọi người
từ nông dân, gia đình cán bộ công nhân viên ở Tây nguyên và cả những người ởthành phố từ Nha Trang đến thành phố Hồ Chí Minh xô đi tìm đất, mua vườn làm càphê, dẫn đến sự tăng nhanh sản lượng cà phê qua từng năm Phân bổ diện tíc và sảnlượng cà phê ở các địa phương như sau:
Trang 5Niên vụ Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Tình hình xuất khẩu cà phê ở Việt nam qua các vụ từ 1995/96 đến 2000/01cho thấy sự tăng trưởng nhanh chóng về lượng xuất khẩu cùng như với sự giảm sútnhanh chóng về giá cả
Trang 61999/00 653.678 823,0
Các vụ cà phê từ 1998/99 về trước lượng cà phê xuất khẩu tăng hàng nămkhông lớn lắm Nhưng hai vụ 1999/00 và 2000/01 mỗi vụ tăng trên 200.000 tấn tức
là tăng khoảng 3,5 triệu bao, và đơn giá xuất khẩu hai vụ này cũng thấp thảm hại, giá
vụ sau chỉ bằng xấp xỉ 60% giá vụ trước Tình hình này đem lại cho những ngườitrồng cà phê nhiều khó khăn Kết quả tất yếu dẫn đến đời sống nông dân khó khănbuộc họ phải chặt bỏ cây cà phê để chuyển sang trồng cây khác
Trước tình hình đó, từ năm 2000 đến nay Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp
kể cả biện pháp tài chính huy động ngân sách nhà nước để giúp đỡ nông dân quakhỏi khó khăn như mua cà phê tạm trữ để nâng giá cho nông dân, miễn thuế nôngnghiệp cho đất trồng cà phê,, hoãn nợ và tiếp tục cho nông dân vay tiền để chăm sócvườn cây hoặc trồng cây khác
Những sự quan tâm của Chính phủ như thế được nông dân và toàn ngành càphê hoan nghênh Nhưng dù sao đi nữa thì khả năng tài chính của đất nước có hạnnên cũng còn nhiều khó khăn.Điều quan trọng là Chính phủ chỉ ra hướng đi chongành cà phê và sự điều chỉnh phương hướng là một vấn đề có tầm quan trọng đốivới ngành cà phê Việt nam
Sản lượng cà phê hạt của Việt Nam trong những năm gần đây tăng trưởng rấtmạnh đã kéo theo nhu cầu tiêu dùng cà phê tăng lên Tuy nhiên, tăng trưởng tiêudùng lại chậm hơn so với tăng năng lực sản xuất
Tính đến thời điểm tháng 11/2005, có 3 đơn vị sản xuất cà phê ( chủ yếu là càphê hoà tan) với tổng công suất 2.200 tấn/ năm Trong đó, Vinacafé 1.000 tấn/ nămđang chạy hết công suất, Nescafé 1.000 tấn/ năm, Trung Nguyên 200 tấn/năm chưađưa vào sử dụng Trong số các loại cà phê hòa tan đang cạnh tranh trên thị trường thì
cà phê hòa tan nguyên chất chỉ chiếm 14%, còn lại 86% là cà phê hòa tan 3 trong 1,
Trang 7người dân gọi là cà phê sữa Như vậy, cạnh tranh trong nhóm sản phẩm cà phê hòatan tập trung chủ yếu ở cà phê hòa tan 3 trong 1.
Nếu tất cả công suất của các nhà máy cà phê hòa tan ở Việt Nam sử dụng đểsản xuất cà phê hòa tan 3 trong 1 thì tổng sản lượng sẽ là 23.000 tấn/ năm
Với cà phê hòa tan 3 trong 1, trong thời gian qua đã có hàng loạt các công ty nhỏđầu tư vào đấu trộn nguyên liệu cà phê nhập ngoại để đóng gói cà phê hòa tan 3trong 1
Hiện trên thị trường có thể tìm thấy trên 20 nhãn hiệu khác nhau, nhưng theo
số liệu nghiên cứu thị trường của Taylor Nelson Sofrees - TNS năm 2004 thìVinacafé chiếm 50,4%, Nescafé 33,2%, các nhãn hiệu khác 16,4% Bình quân mỗinhãn hiệu nhỏ chỉ chiếm chưa tới 1% thị phần cà phê hòa tan 3 trong 1
III Thị trường cà phê Việt Nam:
1 Thị trường trong nước:
Nước ta là một nước sản xuất cà phê lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Braxin
và là nước đứng đầu về sản xuất cà phê vối
Do chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước ta trước đây 20 năm cho phéphình thành khu vực kinh tế tư nhân trong nông nghiệp và chính sách khoán tới hộgia, đã cổ vũ cho sự phát triển của khu vực tư nhân trong ngành cà phê Chính phủ
đã tạo ra nhiều cơ chế khuyến khích người nông dân đẩy mạnh việc trồng cây choxuất khẩu Ngành cà phê đã nhận được những hỗ trợ tích cực của chính phủ về đấtđai, vay vốn ưu đãi, các chương trình khuyến nông
Việt nam cũng như một số nước láng giềng Châu á khác, có tập quán uống trà
từ lâu đời Văn hoá trà đã đậm nét trong đời sống nhân dân Việt nam Uống cà phê làmột thói quen mới được du nhập vào Việt nam và đã trở nên phổ biến Việc đưa vănhoá cà phê vào văn hoá ẩm thực của người Việt nam là một việc làm lâu dài, bền bỉ,không thể trong một sớm một chiều Có thể nêu một số điểm sau: hiện nay lượngtiêu dùng cà phê của Việt nam còn thấp song lượng tiêu dùng tính theo đầu người
Trang 8cũng tương đương với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia lượng
cà phê được tiêu thụ nhiều trong nước là cà phê rang xay, còn cà phê hoà tan thườngđược dùng nhiều trong dịp lễ, tết làm quà tặng Và người uống cà phê Việt namcũng kén cà phê chất lượng cao hơn
2 Thị trường nước ngoài:
Ở nước ta cà phê là mặt hàng nông sản xuất xuất khẩu có giá trị lớn đứng thứ
2 sau gạo Giá trị cà phê xuất khẩu chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩuhàng năm Nếu trước đây cà phê Việt Nam chỉ được xuất sang Liên Xô và các nướcĐông Thì hiện nay (Vụ 2000/01) Việt Nam đã xuất cà phê đi 61 nước, trong đó, 10nước nhập khẩu cà phê đứng đầu gồm:
10 nước nhập khẩu hàng đầu của ngành cà phê Việt Nam
(tấn)
(USD)
Tỷ phần so với tổng xuất khẩu (%)
Về lượng tiêu thụ bình quân tính theo đầu người so sánh năm 2004 với năm
2000 thì ở một số nước có giảm đi như Bỉ/Luxembourg 15,10%), Hà Lan 12,57%), Pháp (-8,03%) ở một số nước khác lại tăng lên như Irlande (+ 43,42%),
Trang 9(-Đức (+17,62%), Đan Mạch (+16,79%), Hy Lạp (+11%), Malta (+10%), Mỹ(+7,57%), Nhật bản (+7,34%).
Chương 2: Các Nhân Tố Tác Động Đến Ngành Cà Phê Vieät Nam
I Điều kiện tự nhiên:
Nước Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc Bán cầu, trải dài theophương kinh tuyến từ 8°30' đến 23°30' vĩ độ Bắc Điều kiện khí hậu và địa lý rấtthích hợp với việc phát triển cà phê đã đem lại cho cà phê Việt Nam một hương vịrất riêng
Đèo Hải Vân nằm trong dãy núi Bạch Mã, cuối dãy Trường Sơn Bắc, nằmngang ra đến biển tạo nên một bức tường thành cao trên 1.000m ngăn gió mùa đôngbắc và chia địa lý khí hậu Việt Nam thành hai miền Miền địa lý khí hậu phía Namthuộc khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thích hợp với cà phê Robusta Miền khí hậu phíaBắc có mùa đông lạnh và có mưa phùn thích hợp với cà phê Arabica Đó là vùng chủyếu quy hoạch phát triển cà phê Arabica của Việt Nam
Trang 10II Sự tác động của cung - cầu:
1 thị trường quốc tế:
Về khía cạnh cầu, nhìn chung độ co giãn cầu cà phê với giá rất thấp, hay nóicách khác cầu cà phê ít co giãn, FAO ước tính độ co giãn giá cả đối với nhu cầu tiêudùng cà phê ở các nước công nghiệp phát triển là -0,34, có nghĩa là giá bán tăng lên1% thì khối lượng cà phê tiêu thụ giảm 0,34% và ngược lại, đặc biệt là mức tăng cầu
cà phê chỉ có tính chất thời điểm, trong khi đó phản ứng cung cà phê trước việc tănggiá cà phê lại rất “trễ” (lagged response), do đặc tính sinh học của ngành sản xuất càphê từ khi trồng mới cho đến khi có thu hoạch cây cà phê cần ít nhất 4 năm Hơnnữa, theo quy luật sinh học thì thường sau một năm được mùa, năm tiếp theo năngsuất cà phê sẽ bị giảm thấp, tình hình này thậm chí có thể trầm trọng hơn nếu thờitiết bất lợi Chẳng hạn, tình hình sương muối năm 1994 đã làm cho sản lượng cà phêcủa Brazil giảm 50%, dẫn đến tình hình thiếu hụt cà phê và giá của nó tăng nhanhtrên thị trường Kết quả là hàng loạt nước sản xuất cà phê mở rộng diện tích trồngmới cà phê và theo quy luật sinh học thì sau 4 đến 5 năm những cây cà phê này sẽcho thu hoạch vào những năm 1998 và kéo dài đến nay Khi khối lượng cung cà phêtăng đột biến, khối lượng cầu tiêu thụ hầu như thay đổi không đáng kể dẫn đến tìnhtrạng dư thừa lớn cà phê và hậu quả là giá cà phê sụp đổ hoàn toàn Tình hình đó sẽkéo dài cho đến khi các nước sản xuất cà phê hàng đầu có những sự điều chỉnh diệntích cà phê, và một chu kỳ mới của thị trường cà phê lại hình thành Nguyên nhânkhác là sự thất bại trong những thỏa thuận quốc tế của ICO về kiểm soát diện tíchsản xuất, khối lượng dự trữ và xuất khẩu cà phê của các nước thành viên ICO
Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), tổng sản lượng cà phê thế giới
sẽ đạt 113,2 triệu bao (60 kg/bao), không thay đổi so với dự báo hồi tháng 6/2005,song giảm 7% so với sản lượng năm 2004/05 Tuy nhiên, có sự điều chỉnh bù trừ sảnlượng ở các nước trong năm 2005/06
Sản lượng cà phê Braxin năm 2005/06 dự báo đạt 36,1 triệu bao , điều chỉnhgiảm 400 ngàn bao so với dự báo hồi tháng 6/2005, và giảm 7,5 triệu bao so với sản
Trang 11lượng năm 2004/05 Sản lượng cà phê của Việt Nam năm 2005/06 dự báo đạt 12,3triệu bao, điều chỉnh tăng 166 ngàn bao so với dự báo hồi tháng 6/2005, song giảm
so với 14,5 triệu bao của năm 2004/05 Sản lượng cà phê Mêhicô năm 2005/06 điềuchỉnh giảm 100 ngàn bao, xuống còn 4,2 triệu bao do bão gây thiệt hại, đặc biệt là ởbang Chiapas
Tổng cung cà phê ở các nước sản xuất trong năm 2005/06 dự báo đạt 139,2triệu bao, giảm 4% so với năm 2004/05 Phần lớn mức giảm cung là do sản lượnggiảm bởi dự trữ đầu niên vụ 2005/06 ước tính tăng 2,8 triệu bao so với năm trước
Xuất khẩu cà phê trên thế giới năm 2005/06 dự báo sẽ đạt 87,7 triệu bao, giảm4% so với 91,8 triệu bao của năm 2004/05 Xuất khẩu cà phê của Braxin năm2005/06 dự báo sẽ đạt tổng cộng 22,0 triệu bao, giảm khoảng 5,9 triệu bao so vớinăm 2004/05 Xuất khẩu cà phê của Việt Nam năm 2005/06 dự báo sẽ đạt 11,8 triệubao, giảm 2,1 triệu bao so với năm 2004/05
Bảng 1 Sản lượng và xuất khẩu cà phê ở một số nước (Đơn vị: triệu bao; 60kg/bao)
Trang 13các nước nhập khẩu và 30 triệu bao ở các nước xuất khẩu cà phê (Nguồn: "Tropical Products: World Markets an Trade", December 2005)
1 thi trường quốc tế:
Giá cà phê trên thị trường quốc tế thường xuyên dao động lớn, đặc biệt làtrong những năm gần đây Trước năm 1994, giá cà phê thế giới ở mức thấp, giá càphê đã giảm từ mức 150,67 cent/pound ở năm 1980 xuống mức 50 cent/pound vàonăm 1992 Tuy vậy, giá cà phê đã dần hồi phục vào nửa cuối năm 1993, và tăngnhanh đến mức 202 cent/pound vào tháng 12 năm 1994 mà nguyên nhân chính là dotình hình thời tiết bất lợi (sương muối) đã làm giảm sản lượng cà phê của Brazil -nước sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới Những tháng đầu năm 1995,giá cà phê tiếp tục đứng ở mức cao, nhưng đến tháng 12 năm này đã giảm xuốngcòn 90 cent/pound Sau đó giá cà phê lại được khôi phục vào năm 1996 và đầu năm
1997 trước khi giảm xuống dần dần Giá cà phê đã hoàn toàn sụp đổ tính từ tháng 3năm 1998, có lúc đã giảm đến mức thấp nhất trong lịch sử của ngành cà phê thếgiới trong những thập kỷ gần đây Chẳng hạn năm 2002, giá cà phê bình quân trênthị trường thế giới chỉ đạt 44,3 cent/pound, đặc biệt giá cà phê Robusta ở mức rấtthấp (24,37 cent/pound) Bước sang năm 2003-2004, đặc biệt là những tháng đầunăm 2005 giá cà phê trên thị trường thế giới có dấu hiệu phục hồi trở lại
Số liệu ở bảng 1 chỉ rõ tình hình dao động của giá cà phê trên thị trường thếgiới qua các thời kỳ khác nhau Trong thời kỳ 1980-1985, giá cà phê tương đối ổnđịnh, trong khi đó giá cả cà phê dao động lớn nhất trong thời kỳ 1986-1994, Giá càphê đạt mức cao nhất vào năm 1986 với hơn 170 US cent/ pound, và thấp nhất là 53
US cent/pound vào năm 1992 Kết quả là phương sai và độ lệch tiêu chuẩn giá càphê cũng đạt cao nhất trong thời kỳ này với giá trị tương ứng là 1343,32 và 36,65.Trong thời kỳ 1995-1998 và 1999-2002, giá cà phê tiếp tục dao động ở mức độ lớn,dẫn đến phương sai và độ lệch tiêu chuẩn giá trong hai thời kỳ này cũng khá cao
Trang 14Bảng 1: Một số chỉ báo về tình hình dao động giá cà phê trên thị trường thế giới, thời kỳ 1980 - 2002
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê của ICO.
Theo chúng tôi, có hai nguyên nhân chính làm cho giá cà phê biến động trongnhững năm qua Trước hết là do những đặc điểm nội tại của thị trường cà phê
2 Thị trường trong nước:
Tình hình giá cà phê ở thị trường trong nước được phản ánh thông qua sơ đồ
2 Nhìn chung giá cà phê trong nước vận động theo cùng xu hướng với giá cà phêtrên thị trường quốc tế Xu hướng này ngày càng chặt chẽ hơn khi mà Việt Nam trởthành một trong những nước hàng đầu về sản xuất và xuất khẩu cà phê Robusta, đặcbiệt là sau chính sách tự do hóa thị trường cà phê xuất khẩu từ những năm đầu thập
kỷ 90, tiếp theo đó những biến động lớn trên thị trường cà phê quốc tế ngay lập tứctác động đến thị trường cà phê trong nước
Các chỉ báo đo lường tình hình dao động của giá cà phê ở thị trường trongnước được phản ánh ở bảng 2 Trong thời kỳ 1990-2002, nhìn chung, giá cả cà phê
ở thị trường trong nước cũng dao động rất lớn, mức giá cà phê cao nhất là năm 1994,với mức bình quân 22 ngàn đồng/kg, trong khi đó mức giá thấp nhất là 3,23 ngàn
Thời kỳ Giá thấp
nhất
Giá caonhất
Giá bìnhquân
Phương saigiá
Độ lệch tiêuchuẩn
Trang 15đồng trong năm 2002 Trong thời kỳ 1998-2002, giá cà phê có xu hướng giảm xuốngmức kỷ lục trong lịch sử ngành cà phê nước ta Giá bình quân cho cả thời kỳ này chỉđạt 6,63 ngàn đồng/kg Mức giá này thấp hơn nhiều so với giá thành sản xuất cà phêhiện nay, dẫn đến tình trạng thua lỗ trầm trọng cho người sản xuất cà phê
Thời kỳ 1990-1994, phương sai và độ lệch tiêu chuẩn giá cà phê đạt giá trị caonhất Thời kỳ 1995-1998 và 1999-2004 phương sai và độ lệch tiêu chuẩn giá mặc dù
có giảm xuống nhưng vẫn đạt giá trị rất cao Điều này chứng tỏ rằng người sản xuất
cà phê gặp rất nhiều rủi ro do sự dao động của thị trường cà phê tạo nên
(1000đ/kg)
Giá bìnhquân
(1000đ/kg)
Phương saigiá
Độ lệchtiêu chuẩn
kê của tổ chức lương nông liên hợp quốc FAO, vào năm 2003 thế giới nhập khẩu
548 tỉ đô la Mỹ nông sản các loại nông sản mà việt nam có thế mạnh như gạo cómức thu nhập khoảng 5 tỷ đô la mỹ tuy nhiên rau quả mới là mặt hàng nhập khẩulớn nhất thế giới, trị giá khoảng 97 tỉ đô la mỹ
Trang 16Những vấn đề nông nghiệp phải đối đầu khi gia nhập WTO: bên cạnh nhữnglợi ích cho việc gia nhập WTO mang lại, nông nghiệp việt nam sẽ phải đối đầu vớinhiều thách thức mới rất phức tạp và khó khăn Đây là vấn đề đặc biệt nhạy cảm,không chỉ thuần là vấn đề kinh tế, mà quan trọng hơn là sự thay đổi của xã hội nôngthôn Đây là vấn đề lớn nhất cần quan tâm vì nông nghiệp là nguồn sống của 70%dân Việt Nam ở nông thôn những thách mà Việt Nam phải đối đầu là:
1 Cạnh tranh trong và ngoài nước
Một khi gia nhập WTO, trước hết Việt Nam phải mở của cho hang ngoại trànvào Như vậy nông sản của Việt Nam phải cạnh tranh vừa ở sân nhà vừa ở thị trườngquốc tế báo cáo của FAO(năm 2003) cho biết chỉ riêng khu vực châu Á, đã có gần 1
tỉ tấn nông sản đang chờ để cạnh tranh một khi Việt Nam mở cửa
2 Phá hoại tàii nguyên thiên nhiên và môi trường
Để đối phó với cạnh tranh ngày càng gay gắt, cũng như tăng lượng hang hoásản xuất theo yêu cầu của thị trường, nông dân và các nhà sản xuất sẽ càng lúc sửdụng triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên như nước, đất đai, rừng,… làm cạn kiệtnhững tài nguyên này đồng thời cũng lạm dụng việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệthưc vật làm môi sinh bị phá hoại
3 Một bộ phận lao động nông thôn và sản xuất manh mún bị đào thải:
Vì sức ép của htị trường, và để khỏi bị đẩy vào cảnh lạc hậu, Việt Nam sẽ phảinhanh chống phát triển và ứng dụng kỹ thuật công nghệ cao trong nông nghiệp điềunày buộc nông dân phải ho hỏi để có kiến thức, từ đó thay đổi kỉ thuật và thói quenlàm việc để hợp với yêu cầu mới cho nên một bộ phận nông dân không có kiến thứchoặc không chịu trau dồi kiến thức sẽ bị đào thải,
kiểu sản xuất manh mún cũng không thể tồn tại do yêu cầu cần có một lượng hanghoá lớn, chất lượng đồng đều và giá rẻ
4 Đòi hỏi an toàn và chất lượng ngày càng cao