Theo điều 3 Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả nêu rõ : “Hàng giả là những sản phẩm, h
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN HOÀNG
GIẢI PHÁP CHỐNG BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Đức
Trang 2Hà Nội - tháng 12/2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và cácthông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hoàng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ Quản lý Kinh tế của mình, ngoài sự nỗ lực
cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân
và tập thể
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảotận tình của các thầy, cô giáo khoa Kinh tế và PTNT; Ban quản lý Đào tạo - Họcviên Nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của thầy
giáo TS Nguyễn Văn Đức đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Chi Cục Quản lý Thị trườngtỉnh Bắc Ninh, Đội Quản lý Thị trường và người dân thị xã Từ Sơn, tỉnh BắcNinh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệuphục vụ cho luận văn
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đãgiúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhìn nhận một cách tổng thể khi xã hội ngày càng phát triển thì ngườitiêu dùng ngày càng được thỏa mãn các nhu cầu của mình Ở Việt Nam, thànhquả gần 30 năm sự nghiệp đổi mới của Đảng đã chứng minh điều đó Với sựchung sức của toàn thể nhân dân cả nước thì đất nước Việt Nam ngày càngthay đổi rõ rệt kinh tế phát triển, hệ thống cơ sở hạ tầng khang trang, hành langpháp luật thông thoáng… tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu, vận chuyểnhàng hóa từ đó góp phần làm đa dạng, phong phú các mặt hàng nhằm đáp ứngnhu cầu của mọi tầng lớp dân cư Bên cạnh mặt tích cực, thì không ít nhữngmặt trái của nền kinh tế cũng được bộc lộ ra Người tiêu dùng đã và đang phảiđối mặt với các thách thức của nạn hàng giả, hàng kém chất lượng…với hìnhthức lừa đảo tinh vi và thủ đoạn hung hăng bất chấp pháp luật, thậm chí liều cảtính mạng để chống đối lại cơ quan thẩm quyền chức năng Đề giải quyết vấnnạn này cần phải có sự chung tay phối hợp của nhiều cơ quan ban ngành, vớichức năng kiểm tra, kiểm soát hàng hóa lưu thông trên thị trường, lực lượngQuản lý thị trường tỉnh Bắc Ninh phối hợp với các cơ quan chức năng liênngành khác như: Công an, Sở khoa học và công nghệ, Sở Công thương, Sở ytế… nhằm chống tệ nạn buôn bán lậu, sản xuất và buôn bán hàng giả, chốnggian lận thương mại, vi phạm sở hữu trí tuệ, vệ sinh an toàn thực phẩm … vàcác hành vi khác trong hoạt động thương mại, dịch vụ Hoạt động của lựclượng quản lý thị trường liên quan mật thiết đến việc bảo vệ quyền lợi củangười tiêu dùng, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi hợppháp của các nhà sản xuất kinh doanh chân chính
Với sự làm việc tận tâm để làm tròn trách nhiệm với Đảng, Nhà nước
và toàn thể nhân dân, các cán bộ, kiểm soát viên Quản lý thị trường thị xã TừSơn đã không ngừng cố gắng chống lại các hành vi gian lận trên nhắm bảo vệ
Trang 7người tiêu dùng là một nhiệm vụ cấp thiết Tuy nhiên hoạt động này chưa đạtđược kết quả cao, hàng giả vẫn còn được bầy bán trên thị trường vào nhữngdịp lễ tết, thực phẩm không đảm bảo vệ sinh vẫn được lưu hành…
Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp chống buôn bán hàng giả tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”.
1.2 Mục Tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng buôn bán hàng giả tại thị xã Từ Sơn,tỉnh Bắc Ninh từ đó đề xuất giải pháp chống buôn bán hàng giả tại thị xã TừSơn, tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất các giải pháp chống buôn bán hàng giả tại thị xã Từ Sơn, tỉnhBắc Ninh trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng buôn bán hàng giả trênđịa bàn thị xã Từ Sơn và công tác chống buôn bán hàng giả tại cơ quan Quản
lý thị trường thị xã Từ Sơn trong giai đoạn 2011 - 2014
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian
+ Số liệu thông tin thứ cấp được thu thập từ năm 2011 đến năm 2014+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3/2013 đến tháng 3/2014
Trang 8- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu giải pháp chốngbuôn bán hàng giả của cơ quan quản lý thị trường thị xã Từ Sơn, trong đó chútrọng nghiên cứu hoạt động kiểm tra, kiểm soát đối với hàng giả.
2.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh.
Định nghĩa phổ biến về cạnh tranh là:
Cạnh tranh chính là một sự chạy đua giữa các doanh nghiệp cùng sản -xuất một mặt hàng trên nền tảng là thị trường hàng hóa, sản phẩm cụ thể để tiến tới mục tiêu lợi nhuận.
Môt mặt hàng ở đây được hiểu là hàng hoá hoặc dịch vụ cùng loại hay
có thể thay thế được cho nhau Ví dụ : mỳ chính và bột ngọt Knor có thể thaythế được cho nhau
Trong từ điển tiếng Việt, cạnh tranh được hiểu là tranh đua giữa những cá
nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình
Bên cạnh đó, cạnh tranh còn rất nhiều cách hiểu khác Theo một địnhnghĩa được Lobe đưa ra gần một thế kỷ nay (mà khoa học cũng không thể
phát triển thêm một cách đáng kể) cạnh tranh được hiểu là sự cố gắng của hai
hay nhiều người thông qua những hành vi và khả năng nhất định để cùng đạt một mục đích Theo Lobe, cạnh tranh là hành vi của ít nhất hai nhà cung cấp
hàng hoá hoặc dịch vụ cùng loại hoặc có thể trao đổi được, nhằm vào cùngmột loại khách hàng
Từ điển Kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992 đã định nghĩa cạnh
tranh như sau: “ Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh
Trang 9doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuât hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”
2.1.1.2 Thế nào là hàng giả
Hàng giả là một thuật ngữ dùng để phân biệt và so sánh với hàng thật.Thuật ngữ “hàng giả” không được định nghĩa trong từ điển tiếng Việt Ở cácnước trên thế giới cũng chưa có định nghĩa tổng quát về hàng giả
Theo Mác-Lênin, hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãnnhu cầu nào đó của con người, được sản xuất ra để trao đổi, mua bán trên thịtrường Hàng hóa bao giờ cũng có hai thuộc tính: Giá trị sử dụng và giá trị.Một sản phẩm chỉ trở thành hàng hóa khi nó thỏa mãn hai thuộc tính vừa nêu
Theo từ điển tiếng Việt: Giả có nghĩa là không phải thật mà được làm
ra với bề ngoài giống như thật, thường để đánh lừa
Theo Viện Sở hữu trí tuệ - Liên bang Thụy sĩ: Không có định nghĩađược công nhận của hàng giả Định nghĩa về giả của Hiệp định TRIPS (hiệpđịnh Bảo Vệ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ liên quan đến thương mại của Tổ ChứcThương Mại Thế Giới (WTO)) cũng như Quy chế vi phạm bản quyền sảnphẩm của Liên minh châu Âu (EU): Giả là xâm phạm quyền sở hữu độcquyền về bằng sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý với mục đích bắtchước các sản phẩm gốc
Ở Việt Nam có nhiều văn bản đề cập đến thuật ngữ hàng giả, nhưnghiện nay chưa có sự thống nhất về khái niệm hàng giả
Theo điều 3 Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả nêu rõ : “Hàng giả là những sản phẩm, hàng hóa được sản xuất ra
trái pháp luật có hình dáng giống như sản phẩm hàng hóa được Nhà nước chophép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm,hàng hóa không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên
Trang 10Trong quá trình thực hiện những quy định này đã cho thấy hàng giảđược quy định tại Nghị định số 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộtrưởng chưa thể hiện rõ các dấu hiệu về mặt bản chất của hàng giả; khái niệm
về hàng giả còn được đề cập chung chung dưới dạng liệt kê Hoạt động củathực tiễn đòi hỏi phải có sự phân định rõ ràng hơn về hàng giả giúp cho côngtác đấu tranh ngăn ngừa, chống hàng giả tránh được những khó khăn trong xử
lý các hành vi vi phạm Đến nay, Nghị định này đã hết hiệu lực thi hành
Qua thực tế đấu tranh chống hàng giả, các vi phạm về sản xuất, buônbán hàng giả, ngày 27/04/2000, Liên Bộ Thương mại - Bộ Tài chính - BộCông an - Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã ban hành thông tư liêntịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT về hướng dẫn thực hiệnChỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ vềđấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả qui định hàng hóa có mộttrong các dấu hiệu sau đây được coi là hàng giả:
a- Hàng giả chất lượng hoặc công dụng
- Hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng
như bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó.
- Hàng hóa đưa thêm tạp chất, chất phụ gia không được phép sử dụnglàm thay đổi chất lượng; không có hoặc có ít dược chất, có chứa dược chấtkhác với tên dược chất ghi trên nhãn hoặc bao bì; không có hoặc không đủhoạt chất, chất hữu hiệu không đủ gây nên công dụng; có hoạt chất, chất hữuhiệu khác với tên hoạt chất, chất hữu hiệu ghi trên bao bì
- Hàng hóa không đủ thành phần nguyên liệu hoặc bị thay thế bằngnhững nguyên liệu, phụ tùng khác không đảm bảo chất lượng so vớI tiêuchuẩn chất lượng hàng hóa đã công bố, gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sứckhỏe người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường
Trang 11- Hàng hóa thuộc danh mục Tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng mà khôngthực hiện gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khỏe người, động vật, thựcvật hoặc môi sinh, môi trường.
- Hàng hóa chưa được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn mà sử dụng giấychứng nhận hoặc dấu phù hợp tiêu chuẩn (đối với danh mục hàng hóa bắt buộc)
b- Giả về nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc, xuất
xứ hàng hóa:
- Hàng hóa có nhãn hiệu hàng hóa trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫnvới nhãn hiệu hàng hóa của người khác đang được bảo hộ cho cùng loạI hànghóa kể cả nhãn hiệu hàng hóa đang được bảo hộ theo các Điều ước quốc tế màViệt Nam tham gia, mà không được phép của chủ nhãn hiệu
- Hàng hóa có dấu hiệu hoặc có bao bì mang dấu hiệu trùng hoặc tương
tự gây nhầm lẫn với tên thương mại được bảo hộ hoặc với tên gọi xuất xứhàng hóa được bảo hộ
- Hàng hóa, bộ phận của hàng hóa có hình dáng bên ngoài trùng vớikiểu dáng công nghiệp đang được bảo hộ mà không được phép của chủ kiểudáng công nghiệp
- Hàng hóa có dấu hiệu giả mạo về chỉ dẫn nguồn gốc, xuất xứ hàng hóagây hiểu sai lệch về nguồn gốc, nơi sản xuất, nơi đóng gói, lắp ráp hàng hóa
Trang 12- Các loại đề can, tem sản xuất, nhãn hàng hóa, mẫu nhãn hiệu hànghóa, bao bì sản phẩm có dấu hiệu vi phạm như: trùng hoặc tương tự gây nhầmlẫn với nhãn hàng hóa cùng loại, với nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng côngnghiệp, tên gọi xuất xứ hàng hóa được bảo hộ.
- Các loại hóa đơn, chứng từ, chứng chỉ, tem, vé, tiền, ấn phẩm có giátrị như tiền, ấn phẩm và sản phẩm văn hóa giả mạo khác
Theo Thông tư liên tịch này thì hàng giả có hai loại: giả về chất lượng,công dụng và giả về hình thức Hàng giả về chất lượng, công dụng thường lànhững hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng vớitên gọi, công dụng của nó, không đảm bảo tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật đãđược quy định Còn hàng giả về hình thức có nghĩa là giả về nhãn hiệu hànghóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, nhãn hàng hóa
Theo khoản 8 điều 3 Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại quy định hàng giả bao gồm:
- Hàng giả chất lượng và công dụng: Hàng hoá không có giá trị sử dụnghoặc giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi vàcông dụng hàng hoá;
- Giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa: hàng hóa giả mạo tên, địachỉ của thương nhân khác trên nhãn hoặc bao bì cùng loại hàng hóa; hàng hóagiả mạo chỉ dẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráptrên nhãn hoặc bao bì hàng hóa;
- Giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trítuệ bao gồm hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệtvới nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó
mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉdẫn địa lý; hàng hóa là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủthể quyền tác giả hoặc quyền liên quan;
Trang 13- Các loại đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, tem chất lượng, temchống giả, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa có nội dung giả mạo tên,địa chỉ thương nhân, nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hànghóa (sau đây gọi tắt là tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả);
- Đối với hàng hóa thuộc diện quản lý chuyên ngành nếu pháp luật cóquy định riêng thì áp dụng các quy định đó để xác định hàng giả
Tóm lại, hàng giả là hàng bất hợp pháp so với hàng thật được pháp luậtthừa nhận và bảo hộ
Từ cơ sở thực tiễn và những phân tích trên, có thể khái quát về hàng giảnhư sau: Hàng giả là những sản phẩm hàng hóa được sản xuất ra trái pháp luật
có hình dáng giống như những sản phẩm hàng hóa được Nhà nước cho phépsản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường hoặc những sản phẩm hàng hóakhông có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi vàcông dụng của nó, là loại sản phẩm hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giốnghệt hoặc tương tự có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với sảnphẩm hàng hóa thật mà cơ sở sản xuất kinh doanh đã đăng ký với cơ quan bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp hoặc được bảo hộ theo điều ước quốc tế màViệt Nam có tham gia
2.1.1.3 Quyền sở hữu trí tuệ và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ (SHTT)
- Theo Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 : "Quyền sở hữu trí tuệ làquyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả vàquyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đốivới giống cây trồng"
Một số khái niệm cụ thể:
+ Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm domình sáng tạo ra hoặc sở hữu
Trang 14quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
+ Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối vớisáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãnhiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo rahoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
+ Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối vớigiống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặcđược hưởng quyền sở hữu
Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ
Các loại hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ được quy định tại điều 213Luật sở hữu trí tuệ như sau:
1 Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này baogồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi làhàng hoá giả mạo nhãn hiệu) quy định tại khoản 2 Điều này và hàng hoá saochép lậu quy định tại khoản 3 Điều này
2 Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắnnhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lýđang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ
sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý
3 Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không đượcphépcủa chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan”
2.1.2 Bản chất, phương thức, đối tượng buôn bán hàng giả
2.1.2.1 Bản chất của việc sản xuất, buôn bán hàng giả
Bản chất của việc sản xuất, buôn bán hàng giả là hành vi cướp đoạt giá trịvật chất và tinh thần của người khác, lừa dối người tiêu dùng để thu lợi bất chính.Các đối tượng sản xuất, kinh doanh hàng giả thường tập trung vào sản xuất, kinhdoanh một số hàng hoá có thương hiệu, được thị trường tín nhiệm và người tiêu
Trang 15dùng ưa chuộng nhằm dễ tiêu thụ sản phẩm của mình với khối lượng lớn, bánhàng nhanh và thu lợi nhuận cao, thậm chí siêu lợi nhuận thông qua việc sử dụngnguyên liệu cấp thấp, công nghệ sản xuất thủ công, trốn tránh được các khoảnthuế,…nhằm tiết kiệm tối đa chi phí bỏ ra cho sản phẩm hàng hóa của họ Chính
vì vậy số tiền mà người tiêu dùng bỏ ra để có được loại sản phẩm hàng hóa đó vàgiá trị sử dụng của hàng hóa là không tương xứng với nhau
Sản xuất hàng giả là một hoạt động kinh doanh mang nhiều lợi nhuận nên cósức hấp dẫn lớn nên nhiều người và nhiều doanh nghiệp tham gia vào hoạt độngnày bao gồm cả những công ty chính thức, lẫn các doanh nghiệp nhỏ và cá nhân giađình Cũng vì lợi nhuận đạt được trước mắt mà nhiều doanh nghiệp, cá nhân đã từ
bỏ hoạt động đầu tư vốn, đầu tư máy móc thiết bị, khoa học công nghệ tiên tiến,nghiên cứu sáng tạo hay nâng cao chất lượng, tạo uy tín thương hiệu mà chỉ tậptrung vào làm hàng giả để kiếm lợi nhuận cao trước mắt
Ở những nước, địa phương có trình độ phát triển kém (thu nhập thấp)
có xu hướng tham gia sản xuất hàng giả càng nhiều, một mặt do sức ép việclàm, thu nhập dẫn đến việc sản xuất để có thu nhập; mặt khác do thu nhậptrung bình chưa cao nên nhiều người muốn mua hàng rẻ
Sản xuất hàng giả là vi phạm nguyên tắc của nền kinh tế thị trường và
nó có nguy cơ phá hoại thị trường và gây nên trì trệ trong sản xuất, làm giảmtăng trưởng và phát triển, làm triệt tiêu động lực kinh doanh của các doanhnghiệp chân chính Sản xuất và buôn bán hàng giả đã và đang trở thành mộtthảm hoạ trong hệ thống mậu dịch trong nước và quốc tế Nó gây thiệt hại lớncho nhà sản xuất và nhà đầu tư, họ là nạn nhân của sự cạnh tranh không lànhmạnh, do không thể thu hồi vốn và có được lợi nhuận từ quá trình đầu tư củamình Hậu quả là họ có thể bị nản chí và giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tếhoặc số lượng công ăn việc làm bị mất đi, thậm trí có thể dẫn đến bị phá sản
Sản xuất hàng giả là vi phạm luật pháp và phải sử dụng các biện pháp
Trang 162.1.2.2 Phương thức sản xuất hàng giả
Hàng giả chủ yếu xuất xứ từ nước ngoài, còn ở trong nước, các đối tượng
vi phạm thường chỉ thuê nhà ở những nơi hẻo lánh, ít người, khu vực mới pháttriển đô thị để ở và sản xuất hàng giả, hoặc chỉ thuê trong một thời gian ngắn rồiđổi địa điểm khác, nhằm tránh bị người dân khu vực xung quanh phát hiện
Thời gian gần đây, việc sản xuất hàng giả đã có sự phân công chặt chẽ, cóđối tượng chuyên sản xuất các loại bao bì, tem, nhãn giả, kể cả các loại tem phảnquang chống giả, sau đó bán cho các đối tượng trực tiếp sản xuất thành phẩm
Hàng giả do nước ngoài hoặc trong nước sản xuất đều có nhiều dạngkhác nhau là:
- Sản xuất những loại hàng hoá đang khan hiếm, thị trường có nhu cầutiêu thụ lớn, lãi suất cao
- Sản xuất hàng hoá mang tên thương mại, địa chỉ sản xuất, nhãn hiệu hoặc một trong các yếu tố trên của cơ sở sản xuất kinh doanh khác có thươnghiệu nổi tiếng hoặc có chất lượng tốt hơn, thị trường tiêu thụ nhiều
- Sản xuất theo đơn đặt hàng của các đầu mối tiêu thụ
- Sản xuất hàng hoá lấy nhãn hiệu, hàng hoá cùng loại của những cơ sởsản xuất khác đã nổi tiếng được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng để tiêu thụđược hàng hoá của mình sản xuất ra
- Sản xuất hàng hoá cùng loại, cùng công dụng nhái nhãn hiệu hàng hoácủa người khác đang được bảo hộ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng - đây làtình trạng vi phạm xảy ra khá nhiều hiện nay Việc làm giả nhãn hiệu củangười khác rất tinh vi: Có khi nhái toàn bộ, có khi chỉ thay đổi một chi tiếtnhỏ, thêm, bớt một chút làm cho người tiêu dùng không để ý, dễ nhầm lẫnvới hàng thật
- Sản xuất hàng hoá có nhãn hàng hoá nhưng không ghi tên thương mại,địa chỉ, chất lượng, thành phần cấu tạo hoặc có ghi nhưng ghi không đầy đủ,không rõ ràng, ghi không đúng sự thật
Trang 17- Sử dụng lại bao bì, nhãn hiệu của hàng chính phẩm đánh tráo ruột làhàng giả, bao bì nhãn hiệu thật (xi măng, nước gội đầu )
- Hàng hoá được sản xuất theo phương thức thủ công, không có trình độchuyên môn, kỹ thuật, không tuân theo một quy trình sản xuất nhất định (vídụ: đối với một số loại hàng hoá như mỹ phẩm - phải có sổ theo dõi pha chếthuốc, kiểm tra chất lượng, hồ sơ số lô sản xuất nhưng người sản xuất hànggiả không tuân thủ quy trình sản xuất trên) Mặt khác người sản xuất muanguyên liệu trôi nổi trên thị trường không rõ nguồn gốc xuất xứ, chất lượngkhông đảm bảo để sản xuất Đây là một phương thức sản xuất hàng giả đangdiễn ra trong giai đoạn hiện nay mà có những mặt hàng giả gây nguy hiểmcho xã hội, cho sản xuất, cho sức khoẻ con người như thuốc chữa bệnh, thuốcbảo vệ thực vật, hoá mỹ phẩm
- Hàng cũ, hàng đã qua sử dụng được tân trang lại, được mông má, lênđời, đánh bóng như mới; hàng bị tráo đổi các linh kiện, phụ tùng chính hiệu chất lượng không đảm bảo như hàng chính hiệu nhưng được đem tiêu thụ nhưhàng mới, hàng nguyên gốc
- Tẩy xoá, sửa lại nhãn hàng đã quá hạn sử dụng, hàng chất lượngkhông đảm bảo an toàn thành hàng còn trong thời hạn sử dụng để tiêu thụ.Phương thức này chủ yếu tiêu thụ hàng bao gói sẵn, đồ hộp như sữa hộp, thịthộp, cá hộp, hoa quả hộp
- Dùng hàng kém chất lượng hoặc các nguyên liệu rẻ tiền khác pha trộnvới một lượng hàng thật theo tỷ lệ xác định; hoặc tự sản xuất hàng, sau đó dánnhãn mác của các doanh nghiệp đã được đăng ký nhãn hiệu cũng rất đa dạngnhư vụ đóng gói bột ngọt giả nhãn hiệu Ajinomoto với công thức dùng bộtngọt Saji của Công ty Vedan Việt Nam trộn với đường cát Mimosa của Công
ty đường Bourbon Tây Ninh; Công ty CP tân dược Việt - Pháp dùng thủ đoạnmua thuốc nội về tháo nhãn mác, rồi dập vỉ mới, in hộp giả "lên đời" thành
Trang 18Trong vài năm gần đây hàng hóa do Việt Nam sản xuất “Made in ViệtNam” đã có uy tín trên thị trường trong và ngoài nước, tuy vậy việc quản lýlại lỏng lẻo, đã xuất hiện tình trạng doanh nghiệp trong nước sang TrungQuốc đặt hàng rồi ghi “Made in Việt Nam” nhưng thực chất sử dụng nguyênliệu, phụ kiện tại Trung Quốc 100% để sản xuất, xuất khẩu giả thương hiệu,xuất xứ hàng Việt Nam Đặc biệt với hàng may mặc, giày dép trước thông tin
về mức độ ảnh hưởng và gây hại cho người tiêu dùng của các loại quần áo,giày dép Trung Quốc, các cửa hàng Made in Việt Nam đã mọc khắp các tuyếnphố nhưng hầu hết là hàng Trung Quốc gắn nhãn mác hàng Việt Nam Cácđối tượng kinh doanh hàng giả tìm mọi phương thức nhập hàng Trung Quốc vềrồi tháo mác Trung Quốc tự dán mác Made in VietNam vào quần áo, giày dépnhằm đánh tráo nguồn gốc thực tế của sản phẩm Đây là vấn đề rất mới trongcông tác chống hàng giả trong tình hình hiện nay cần được quan tâm khi nềnkinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới và khu vực
2.1.2.3 Phương thức buôn bán
Phương thức vận chuyển, giao nhận, mua bán hàng giả, xâm phạmSHTT cũng rất tinh vi, tùy từng chủng loại hàng hóa mà đối tượng vi phạmchọn phương thức vận chuyển phù hợp cả bằng đường không, đường bộ,đường thủy, chuyển fax nhanh
- Hàng giả có giá trị lớn, quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, thịtrường tiêu thụ rộng, thì việc sản xuất và tiêu thụ rất tinh vi: Hàng giả rấtgiống hàng thật, thậm chí nhìn bề ngoài có khi đẹp hơn hàng thật nhưng chấtlượng kém hơn hàng thật, hoặc giả về sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu hànghoá, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn thương mại )
Những loại hàng trên nhiều khi là hàng nhập khẩu, hàng cao cấp, ngườitiêu dùng không am hiểu nhiều về nhãn mác, xuất xứ, cấu tạo, đó là một yếu
tố dẫn đến loại hàng giả này nhiều khi được sản xuất và tiêu thụ công khai
Sản xuất và buôn bán loại hàng ở dạng vi phạm này nhiều khi công khai
Trang 19như nhiều loại hàng hoá khác Những hành vi vi phạm này đã bị phát hiện,kiểm tra, xử lý, nhiều trường hợp bắt đầu từ khiếu nại, khiếu kiện của chínhnhà sản xuất ra sản phẩm hàng hoá đang bị làm giả.
- Các loại hàng giả khác, phương thức tiêu thụ phổ biến ở các dạng sau:+ Dùng nhiều hình thức, chiêu thức khuyến mại đánh vào tâm lý ngườimua để tiêu thụ hàng giả, hàng nhái như: Giảm giá, mua hàng được tặng quà
+ Giá bán nhiều loại hàng giả rẻ hơn hàng thật để người mua tham rẻ
mà tiêu thụ là phổ biến nhưng cũng có loại để tránh người tiêu dùng nghi ngờthì hàng giả lại được bán với giá xấp xỉ hàng thật, thậm chí có loại người tiêudùng biết là hàng giả nhưng vẫn chấp nhận mua, vì giá rẻ
+ Nhiều loại hàng hoá khi bán phải kèm theo phiếu bảo hành, nhưngđối với hàng giả, hàng nhái thì không phiếu bảo hành hoặc có nhưng là phiếubảo hành giả mạo làm cho người tiêu dùng tin đó là hàng chính hiệu của hãngsản xuất có bảo hành
+ Lừa dối người tiêu dùng bằng cách quảng cáo sai, quảng cáo quá sựthật về công dụng, chất lượng hàng hoá, xuất xứ , hàng chất lượng thấpnhưng quảng cáo và bán với giá như hàng có chất lượng cao
+ Lợi dụng người tiêu dùng hiểu biết còn hạn chế về mặt hàng, về chấtlượng, nhãn hiệu hàng hoá ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn để đưahàng giả đến tiêu thụ Thậm chí có loại hàng, có trường hợp đưa cả hàng cócông dụng khác hàng thật nhưng giới thiệu, quảng cáo công dụng như hàngthật, tráo trộn hàng giả lẫn vào hàng thật để tiêu thụ Phương thức tiêu thụ nàykhông những được thực hiện ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn mà ngaytại thành phố lớn, thị xã cũng có nhiều lọai hàng hoá người tiêu dùng không
am hiểu nhiều, thiếu hiểu biết về công dụng, cách sử dụng, chất lượng, xuấtxứ thì hàng giả cũng được đưa ra tiêu thụ (thuốc chữa bệnh, mỹ phẩm )
+ Có một số mặt hàng giả, hình thức tiêu thụ đa dạng hơn như sắt thép
Trang 20lý của nhà sản xuất ra hàng hoá chính hiệu để tiêu thụ; các chủ thầu, chủ côngtrình lớn vì lợi nhuận đã lợi dụng hoặc móc ngoặc, thông đồng với cơ quanquản lý, giám sát để tiêu thụ hàng giả.
2.1.2.4 Đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả
Tham gia vào hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả có đủ loại tổ chức
và cá nhân thuộc tất cả các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp Nhà nước,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng phần đông và phổ biến hơn cả
là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các hộ kinh doanh cá thể Có những
tổ chức, cá nhân sản xuất, buôn bán hàng giả gần như mang tính chuyênnghiệp Họ tổ chức hoạt động thành những kênh, những đường dây khép kín,khá chặt chẽ trong việc sản xuất-giao nhận-vận chuyển-buôn bán-tiêu thụhàng giả; trong đó có những quan hệ móc nối với các tổ chức, cá nhân ngườinước ngoài để sản xuất hàng giả đưa vào tiêu thụ ở Việt Nam hoặc thậm chíđược sản xuất ở trong nước rồi đưa qua biên giới để sau đó tìm cách nhập trởlại vào nước ta với nhãn mác hàng ngoại để lừa gạt người tiêu dùng Cụ thể:
- Đối với các Doanh nghiệp trong nước: Sản xuất nhái mẫu mã, kiểudáng công nghiệp, sử dụng thương hiệu hàng hoá của nước ngoài để tiêu thụtại Việt nam và thậm chí đã có trường hợp xuất khẩu hàng vi phạm nhãn hiệu
ra nước ngoài; sản xuất giả hàng của những doanh nghiệp VN có sản phẩmchất lượng tốt, thị trường rộng lớn và nhu cầu tiêu thụ cao: Rượu bia, nướcgiải khát, nước mắm và nhập khẩu hàng hoá có yếu tố vi phạm về sở hữucông nghiệp
- Các loại hình doanh nghiệp, tư nhân Việt Nam liên kết với doanhnghiệp, tư nhân nước ngoài để sản xuất tại nước ngoài, sau đó nhập khẩu vàoViệt Nam tiêu thụ các loại hàng giả, hàng kém chất lượng, bao bì giả nhãn vàgiả nhãn hiệu hàng hoá
- Một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng sản xuất vàtiêu thụ hàng giả Việc sản xuất hàng giả của loại đối tượng này thường ở
Trang 21dạng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp dẫn đến tranh chấp nhãn hiệu hànghoá, kiểu dáng công nghiệp, sử dụng nhãn hiệu của người khác mà không có
sự đồng ý của chủ sở hữu
- Hộ kinh danh cá thể sản xuất, tiêu thụ hàng giả: Đối tượng này sảnxuất chủ yếu những mặt hàng tiêu dùng thông thường cho nhu cầu tiêu dùnghàng ngày của người tiêu dùng: Xà phòng, nước gội đầu, muối I ốt, bột canh
- Đặc biệt, trong những năm gần đây khi nền kinh tế nước ta mở cửa hộinhập kinh tế khu vực và quốc tế, xuất hiện nhiều loại hàng giả được sản xuất
ở nước ngoài đưa vào thị trường Việt nam tiêu thụ, đồng thời xuất hiện doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam sản xuất nhái theo mẫu mã,kiểu dáng, thương hiệu của các sản phẩm hàng hoá nước ngoài gây tranhchấp, khiếu nại vi phạm sở hữu công nghiệp, gây nhầm lẫn cho người tiêudùng Công ty nước ngoài sản xuất hàng giả đưa vào Việt Nam tiêu thụ: Chủyếu là hàng cao cấp, có giá trị lớn như đầu DVD, VCD, Ti vi, các loại đồng
hồ đeo tay đủ các nhãn mác, hàng mỹ phẩm cao cấp , gắn nhãn hiệu hànghoá cùng loại của các hãng nước ngoài có thương hiệu nổi tiếng, như hàngđiện tử, điện lạnh mang nhãn hiệu Panasonic, Sony đồng hồ gắn nhãn hiệuLongines, Omega nhưng thực chất hàng không phải do hãng có thương hiệunổi tiếng đó sản xuất Tình trạng này đang xảy ra khá phổ biến, loại hàng giảnày đã và đang được bán công khai trên thị trường nước ta mà chủ yếu làhàng Trung Quốc Những hàng giả trên xâm nhập thị trường Việt nam bằngcác đường: Nhập lậu, nhập khẩu tiểu ngạch, nhập khẩu chính ngạch, hàng hóaxách tay và trao đổi của cư dân biên giới
2.1.3 Đặc điểm của hàng giả và hoạt động sản xuất buôn bán hàng giả
Ngày nay, cùng với sự phát triển của thị trường hàng hóa thì hàng giảcũng ngày càng đa dạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã với công nghệ sảnxuất ngày càng tinh vi, hiện đại Từ những sản phẩm hàng hóa tiêu dùng
Trang 22được sản xuất với công nghệ cao khó phân biệt với hàng thật Tuy nhiên, ởthời kỳ nào thì hàng giả vẫn có một số đặc điểm chủ yếu đó là:
Chất lượng mẫu mã kém hơn, sản phẩm trông kém hấp dẫn hơn: kiểudáng, đường may, tính hoàn thiện của sản phẩm không được chăm chút nhưhàng thật (nhưng đôi khi một số hàng giả lại có vẻ ngoài đẹp hơn hàng thật)
Màu sắc có thể hơi khác Hàng giả sử dụng chất liệu rẻ tiền hơn, nên cóchất lượng kém hơn (giả da, vải nhân tạo );
Các phụ liệu (lớp lót quần áo, quai túi, khóa) thuộc hàng thứ cấp
Nhãn hiệu sản phẩm bị bỏ đi, bị thay đổi (thêm một tiền tố hoặc hậu tốvào tên gốc), sao chép (hình dáng, chính tả )
Do hàng giả chủ yếu là hàng chất lượng kém được sản xuất với giáthành hạ nhưng lại ẩn náu dưới danh nghĩa hàng thật có nhãn hiệu của các nhàsản xuất nổi tiếng được người tiêu dùng ưa chuộng nên hàng giả vẫn được tiêuthụ nhanh, nhiều và mang lại siêu lợi nhuận đặc biệt là tại những quốc gia màthu nhập bình quân của người dân còn thấp
Sản xuất và buôn bán hàng giả là hai khâu có quan hệ mật thiết vớinhau và có tính nguy hại như nhau Đặc điểm của hoạt động sản xuất, buônbán hàng giả phục thuộc rất nhiều vào loại hàng hóa bị làm giả bởi đối vớimỗi loại hàng hóa khác nhau thì phương thức sản xuất, buôn bán hàng hóakhác nhau Ví dụ: Đối với các loại hàng hóa tiêu dùng thông thường như:Đường kính, Bột ngọt, diêm, bột giặt,…công nghệ sản xuất đơn giản, có cảhàng xuất xứ từ trong nước, nước ngoài và thường được bán ở các vùng nôngthôn, vùng sâu, vùng xa; đối với các loại sản phẩm như: Các mặt hàng điện tử,tin học, viễn thông, mỹ phẩm …thường là hàng do nước ngoài sản xuất, đượcbày bán chủ yếu ở thành thị và một số địa bàn ở nông thôn Nhưng nhìn chunghoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả có một số đặc điểm chủ yếu sau:
- Hoạt động trái với quy định của pháp luật;
- Thường được thực hiện lén lút nhằm tránh sự quan sát của mọi người
Trang 23và cơ quan chức năng;
- Thường hoạt động trong điều kiện thiếu thốn về không gian, khôngđảm bảo các điều kiện về vệ sinh an toàn, kỹ thuật, môi trường…;
- Bất chấp mọi thủ đoạn để tiêu thụ hàng hóa và thu được lợi ích từ việcsản xuất, buôn bán hàng hóa giả như: Sử dụng công nghệ sản xuất thô sơ, rẻtiền, nguyên liệu sản xuất không đảm bảo yêu cầu chất lượng, kỹ thuật, antoàn…;
- Tập trung nhiều ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi vì lợidụng ở những nơi này trình độ dân trí thấp, kém hiểu biết, lại có tâm lý thích hàngngoại, giá rẻ nên dễ lừa gạt; hơn nữa ở đây sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quanchức năng thường chưa chặt chẽ, có nhiều sơ hở nên dễ trốn tránh
Có thể khẳng định rằng thủ đoạn sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càngtinh vi, đa dạng ; đó là những hành vi gian dối, lừa đảo có tính phổ biến vànguy hại ở mức cao đối với lợi ích của xã hội và người tiêu dùng và cũng cóthể lên án các hành vi đó vì nó không loại trừ việc thu lợi nhuận từ các hành
vi xâm hại sức khoẻ và tính mạng con người, như sản xuất thuốc chữa bệnhgiả, thực phẩm có chứa các độc tố nguy hiểm
2.1.4 Các nhân tố tác động đến hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả
- Nhân tố rất quan trọng thúc đẩy sản xuất, buôn bán hàng giả là cạnhtranh trên toàn cầu và trong nước ngày càng gay gắt, quyết liệt mang tính sốngcòn, hệ quả của nó là các doanh nghiệp, cá nhân không đủ điều kiện cạnh tranhtheo pháp luật nảy sinh ra các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh, chạy theolợi nhuận bằng mọi giá, không chú trọng xây dựng văn hoá kinh doanh và đạođức nghề nghiệp… dẫn tới con đường sản xuất, buôn bán hàng giả
- Hiểu biết của công chúng về bảo hộ sở hữu công nghiệp và chốnghàng giả: Một điểm bức xúc hiện nay là sự hiểu biết và quan tâm của doanhnghiệp, nhất là ban lãnh đạo doanh nghiệp đối với quyền sở hữu công nghiệp
Trang 24việc xác lập các quyền về nhãn hiệu hàng hoá và sở hữu công nghiệp củamình Vì vậy, khi hàng hoá mang nhãn hiệu thuộc quyền sở hữu công nghiệpcủa doanh nghiệp bị vi phạm thì doanh nghiệp đó không có cơ sở pháp lý đểkiện tụng hoặc tố cáo Mặt khác do không quan tâm đến quyền sở hữu côngnghiệp đã được xác lập của người khác nên doanh nghiệp dễ vi phạm quyền
sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp khác
- Nước ta nằm cạnh trung tâm sản xuất, buôn bán hàng giả lớn nhất thếgiới là Trung Quốc, có tác động rất lớn đối với thị trường nội địa Trung Quốcđang đối mặt với vấn đề này nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn để hạn chế nó
- Quan hệ giao lưu, trao đổi hàng hoá ngày càng mở rộng, không chỉ ởtrong nước mà còn phát triển với các nước trên thế giới và trong khu vực;thông tin, khoa học công nghệ phát triển nhanh, bên cạnh phần tích cực của
nó, thì những kẻ sản xuất - kinh doanh hàng giả cũng triệt để lợi dụng khaithác lợi thế này Trong quá trình phát triển kinh tế, trình độ quản lý của các cơquan quản lý Nhà nước còn nhiều hạn chế và cuối cùng là hệ thống pháp luậtcủa nước ta mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng chưa hoàn chỉnh
- Việc mở cửa phát triển kinh tế đối ngoại thu hút mạnh người nướcngoài và Việt kiều vào Việt Nam đầu tư, liên doanh, liên kết, tham quan dulịch, đồng thời kéo theo hoạt động sản xuất - buôn bán hàng giả, hàng nháisản phẩm của các cơ sở sản xuất nổi tiếng trên thế giới và thông qua đó họ lợidụng vận chuyển và sử dụng séc chuyển tiền giả, thẻ Master card giả, tiềnViệt Nam, ngoại tệ giả và các loại giấy tờ giả khác
- Thủ đoạn sản xuất và buôn bán hàng giả ngày càng tinh vi hơn do sựphát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức, nhưng phổ biếnnhất vẫn là các loại hàng giả về chất lượng, công dụng, giả về nhãn hiệu hànghoá, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ
- Đối với đa số người tiêu dùng, các hiểu biết về bảo hộ nhãn hiệu hànghoá, sở hữu công nghiệp và chống hàng giả cũng chưa được phổ cập; vì vậy
Trang 25họ thường dễ bị nhầm lẫn khi mua hàng và khi phát hiện ra hàng hoá xâmphạm quyền sở hữu công nghiệp, hàng giả thì thường lúng túng không biếtphải làm gì.
Trên đây là một số nét chung đang tác động mạnh đến sản xuất buônbán hàng giả ở nước ta Dưới đây có thể hệ thống hoá bước đầu những nhân tốchủ yêu thúc đẩy tình hình sản xuất - buôn bán hàng giả:
2.1.4.1 Các nguyên nhân chủ quan
- Công tác quản lý Nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu, còn nhiều bất cập(về quy định pháp luật, chính sách chưa đủ và đồng bộ, chưa hoàn thiện; trình
độ nghiệp vụ trong công tác kiểm tra còn hạn chế, chính quyền địa phươngchưa quan tâm đúng mức, sự phối hợp giữa các lực lượng kiểm tra, kiểm soátchưa chặt chẽ )
- Công tác kiểm soát hàng hóa nhập khẩu, kiểm tra sau thông quan vàchống buôn lậu chưa đủ sức ngăn chặn được nguồn hàng giả từ nước ngoàixâm nhập vào thị trường nước ta Hơn nữa công tác chống hàng giả nhập khẩuqua biên giới chưa được quan tâm đúng mức và chưa gắn với công tác chốngbuôn lậu nhằm ngăn chặn từ gốc hàng giả nhập khẩu lưu thông trên thịtrường
- Cơ chế chính sách và trang bị đảm bảo cho hoạt động chống hàng giảcủa các cơ quan thực thi còn thiếu
- Nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm, lợi íchphát triển trong việc tự bảo vệ sản phẩm của mình tránh bị làm nhái, làm giả
- Công tác tuyên truyền thu hút người tiêu dùng cùng tham gia vào cuộcđấu tranh này chưa tốt
- Sự phối hợp giữa các lực lượng trên từng địa bàn; giữa cửa khẩu, biêngiới với nội địa và với các doanh nghiệp chưa thường xuyên, chặt chẽ; côngtác đấu tranh chưa triệt để tận gốc, thiếu sự chỉ đạo tập trung thống nhất nhằm
Trang 262.1.4.2 Các nguyên nhân khách quan
- Sản xuất, buôn bán hàng giả thu lợi nhuận cao là lực hấp dẫn mạnhđối với những kẻ làm hàng giả
- Tâm lý và thói quen tiêu dùng của người Việt Nam còn ưa chuộnghàng ngoại và hàng có nhãn hiệu nổi tiếng, trong khi không đủ trình độ, khảnăng phân biệt hàng nội - hàng ngoại, hàng thật - hàng giả đã tạo cơ hội vàmôi trường thuận lợi cho hàng giả mang nhãn mác ngoại được nhập khẩu vàlưu thông trên thị trường
- Một nhân tố được coi là quan trọng là hàng giả với giá cả rất rẻ đánhđúng vào tâm lý người tiêu dùng bao giờ cũng muốn mua hàng rẻ Đặc biệt, làngười dân sống tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa có thu nhập thấp vàthiếu thông tin hàng hóa
- Với trình độ khoa học, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, hiện đại, việcsản xuất hàng giả được thực hiện rất nhanh nhạy với những lô hàng lớn vàcũng được nguỵ trang bằng công nghệ hiện đại, tinh xảo để dễ đánh lừa ngườitiêu dùng Thêm vào đó là hệ thống các kênh phân phối lưu thông đã hìnhthành trên thị trường, nhất là hệ thống tiêu thụ của các nhà sản xuất sản phẩmchính hiệu, hệ thống bán lẻ khó kiểm soát chính là nơi để hàng giả, hàngnhái trà trộn, đan xen tiêu thụ lẫn với hàng thật, hàng chính hiệu
- Do các nước, vùng lãnh thổ quanh ta như Trung Quốc, Thái Lan, ĐàiLoan có nền kinh tế hàng hoá phát triển hơn, tạo nên sức ép lớn về hàng hoáđối với thị trường Việt Nam; có nhiều tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, cá nhânnước ngoài chuyên làm hàng giả, hàng kém chất lượng để đưa vào nước ta
- Chống hàng giả nói chung và chống hàng giả có nguồn gốc nhập khẩulưu thông trên thị trường nói riêng là công việc khó khăn, phức tạp trong khinăng lực, trình độ nghiệp vụ, thông tin và điều kiện vật chất để thực hiện côngtác này của các lực lượng có chức năng chống hàng giả chưa đáp ứng yêu cầu
2.1.5 Tác hại của hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả
Trang 27Theo đánh giá của Tổ chức Sở hữu trí tuệ (WIPO) và Interpol, tội phạmlớn nhất của thế kỷ 21 là tội phạm làm hàng giả Sản xuất hàng giả đã trởthành một ngành công nghiệp thực sự với quy mô lớn, tác động tới tất cả cácngành công nghiệp khác nhau Việc sản xuất và kinh doanh hàng giả, hàngkém chất lượng và các hành vi khác xâm phạm quyền SHTT ngày càng diễnbiến phức tạp, với những thủ đoạn ngày càng tinh vi và khó kiểm soát, quản
lý Vấn nạn này không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu dùng (NTD) và nhàsản xuất chân chính mà còn là rào cản đối với các doanh nghiệp trong việc nỗlực tìm kiếm thị trường, phát triển thương hiệu
Hàng giả xuất hiện trên thị trường đủ mọi chủng loại từ cao cấp đắt tiềnđến các mặt hàng chuyên dụng như thuốc chữa bệnh, thuốc trừ sâu, vật liệuxây dựng, thực phẩm Thành phần và đối tượng ngày càng mở rộng bao gồmcác cá thể hoạt động nhỏ lẻ phân tán, thiếu hiểu biết về pháp luật, có trình độchuyên môn cao, hoạt động có tổ chức Loại hình hàng giả, xâm phạm SHTTcũng vô cùng đa dạng, trước đây chủ yếu là hàng nội giả hàng nội, hàng nộigiả hàng ngoại sản xuất trong nước, hiện nay hàng ngoại giả hàng ngoại, hàngngoại giả hàng nội được sản xuất từ nước ngoài sau đó nhập vào Việt Namtheo chính ngạch, tiểu ngạch, nhập lậu Các loại hàng giả, bao bì giả làm từtrong và ngoài nước, các hành vi xâm phạm quyền SHCN như nhái nhãn hiệuhàng hóa hoặc kiểu dáng công nghiệp nổi tiếng, có uy tín trong và ngoàinước gia tăng, gây thiệt hại cho doanh nghiệp, người tiêu dùng, tác độngtiêu cực đến môi trường đầu tư và quá trình hội nhập nền kinh tế khu vực vàthế giới
Hàng giả một mặt tàn phá nền kinh tế trong nước, làm xói mòn uy tíncác thương hiệu chính phẩm và lợi ích của các nhà sản xuất chân chính Đặcbiệt nghiêm trọng là hàng giả còn xâm hại lợi ích, thậm chí nguy hiểm đếntính mạng người tiêu dùng, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái và
Trang 28- Hàng giả có tác hại to lớn đối với nền kinh tế quốc dân: Nhà nước thấtthu thuế, xã hội mất đi của cải, vật chất; ảnh hưởng sản xuất, kinh doanh, chấtlượng công trình xây dựng
- Đối với thị trường, nạn sản xuất, buôn bán hàng giả tạo ra sự cạnhtranh không lành mạnh, khiến cho hiệu lực luật pháp bị suy giảm làm cho cácnhà đầu tư chân chính ngần ngại và bị thiệt hại Bởi khi đó họ trở thành nạnnhân của sự cạnh tranh không lành mạnh, do không thể thu hồi vốn và cóđược lợi nhuận từ quá trình đầu tư của mình Hậu quả là họ có thể bị nản chí,giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế và số lượng công ăn việc làm, thậm trí cóthể dẫn đến bị phá sản
- Đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh chân chínhkhông những bị thiệt hại về lợi nhuận mà còn bị ảnh hưởng đến uy tín, mất thịphần, thiệt hại về kinh tế mà thiệt hại này không thể tính bằng tiền được
- Các sản phẩm có chất lượng cao bị cào bằng với chất lượng thấp.Hàng giả làm lu mờ hình ảnh của nhãn hiệu nổi tiếng và có thể gây mất lòngtin đối với người tiêu dùng
- Đối với người tiêu dùng thì gây thiệt hại về kinh tế “Tiền mất, tậtmang”; đặc biệt ở các mặt hàng dược phẩm, thực phẩm, mỹ phẩm vì hàng giảgây những tác hại trầm trọng ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, gâythiệt hại về sức khoẻ, tính mạng Do đó, nạn hàng giả đang trở thành mối đedoạ thực sự đối với sức khoẻ và tính mạng người tiêu dùng
- Đối với môi trường sản xuất, kinh doanh hàng giả còn dẫn đến nguy
cơ gây ô nhiễm môi trường trầm trọng chẳng hạn như sản phẩm thuốc bảo vệthực vật giả, kém chất lượng
- Không những thế tệ nạn sản xuất, buôn bán hàng giả còn gây nênnhững hậu quả phức, nặng nề về đạo đức và xã hội Đặc biệt là các loại hànggiả có các độc tố gây tác hại cho sức khoẻ con người như: Tác hại của dưlượng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng thức ăn gia súc có tác nhân gây biến đổi
Trang 29gien, sử dụng thuốc chữa bệnh không có tác dụng chữa bệnh, vắc xin và thuốcphòng dịch giả… khi sử dụng những loại hàng hóa này không chỉ gây thiệthại cho người sử dụng mà còn gây tác hại cho cộng đồng và nòi giống của dântộc Cùng với đó, là các văn hoá phẩm giả, băng đĩa hình giả, chất lượng thấp
sẽ hạ thấp giá trị văn hoá; bằng cấp, chứng chỉ đào tạo giả sẽ tạo ra những conngười giả, làm suy đồi đạo đức trong giáo dục và gây hại lâu dài cho quốc gia.Ngoài ra, lợi nhuận phi pháp từ sản xuất, buôn bán hàng giả cũng làm cho đạođức bị tha hóa từ đồng tiền bất chính thu được, kéo theo đó là nạn cờ bạc,rượu chè và những tệ nạn xã hội khác có cơ hội phát triển
- Vấn đề trọng tâm cần nhấn mạnh là hậu quả của hàng giả còn trực tiếp
đe dọa đối với chủ quyền và an ninh quốc gia Tuy hiện tại chưa có vấn đề gìlớn nhưng về lâu dài tác hại của hàng giả luôn có thể xuất hiện với thách thức
và nguy cơ rất lớn Như tác hại của các công trình quốc gia bị giả mạo từ khiđấu thầu đến khi thi công dẫn tới các công trình này có thể bị hư hỏng, thoáihóa do sử dụng các loại nguyên liệu kém phẩm chất, các thiết bị phục vụ quân
sự cũng có thể là hàng giả; các cây giống, con giống giả và kém chất lượng cóthể gây tác hại lâu dài trong nông nghiệp
- Hàng giả đã và đang thách thức hiệu lực Pháp luật và năng lực quản lýcủa bộ máy Nhà nước Kẻ có tội không bị trị tội hay không phải chịu hìnhphạt thích đáng sẽ nảy sinh tâm lý coi thường Pháp luật, coi thường Nhànước, làm khủng hoảng hệ thống Lập pháp -Tư pháp và công luận
Như vậy, hàng giả đang trở thành hiện tượng khá phổ biến với diện mặthàng, chủng loại hàng hóa ngày càng đa dạng Vì thế cuộc chiến chống hànggiả không kém phần khó khăn, phức tạp so với chống buôn lậu, diễn ra khôngngừng và nhiều khi rất quyết liệt nhằm bảo vệ lợi ích chung của xã hội, lợi ích
và cuộc sống bình yên, an toàn của người tiêu dùng, đồng thời bảo vệ quyềnlợi của các nhà sản xuất, kinh doanh chân chính
Trang 302.1.5.1 Tác hại của hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả đối với người tiêu dùng
Người tiêu dùng là người bị thiệt hại trực tiếp của hàng giả, hàng nhái Đểthoã mãn các nhu cầu trong cuộc sống của mình, người tiêu dùng đã tiêu thụ mộtlượng hàng hoá, nhu yếu phẩm, thuốc men rất lớn Nhưng bởi vì hàng giả, hàngnhái đều không phải là loại hàng hoá đảm bảo về mặt chất lượng và an toàn vệsinh như người tiêu dùng mong muốn nhất là hàng giả, ví dụ loại nước màu phamuối giả làm nước mắm ở trên Những đối tượng sản xuất hàng giả, hàng nhái vìmục đích lợi nhuận coi thường sự an toàn về sức khoẻ của người tiêu dùng màtính mạng, sức khoẻ của con người là vô giá không thể tính thành tiền
Khi thiệt hại về sức khoẻ, người tiêu dùng có thể bị mất một phần hoặchoàn toàn khả năng lao động, do đó dẫn đến việc bị giảm sút thu nhập so với thunhập mà người đó đáng ra có được nếu không bị thiệt hại về sức khoẻ Ví dụ: chị
Lê Thị Đ mua phải mỹ phẩm Debon giả làm da bị dị ứng nổi đỏ, sần sùi khiếnkhông thể tiếp xúc với ánh nắng và không thể đi ra ngoài Chị Đ không chỉ gánhchịu việc tổn hại sức khoẻ do những loại mỹ phẩm giả gây ra mà còn phải chịu chiphí chữa trị và những thu nhập bị mất trong thời gian chữa trị
2.1.5.2 Tác hại của hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả đối với người sản xuất
Thiếu nghiêm trọng ý thức trách nhiệm xã hội và đạo đức chung của xãhội, những đối tượng háo hức làm giàu dùng mọi mưu mô sản xuất và bánhàng giả, hàng nhái làm thiệt hại đến nhiều người sản xuất chân chính Kiểudáng công nghiệp, bao bì, nhãn hiệu là một yếu tố không thể thiếu được và
để những thông tin này được người mua nhận biết thông thường người sảnxuất phải mất rất nhiều trí tuệ và tiền của Nhưng khi đã được người tiêu dùngnhận biết bán chạy trên thị trường thì lại bị làm giả hoặc làm nhái và đến lúcnaỳ người sản xuất không hoặc khó có thể làm lại vì thời gian và tiền bạckhông cho phép Ví dụ: 1 gói Agar độ 50 gram đựng trong túi nilon kích
Trang 31thước 15 x 10 cm người sản xuất phải chi ra khoảng bốn chục triệu đồng chochế bản các trục đồng ban đầu để in.
Thêm vào đó, người mua luôn bị nhầm lẫn giữa hàng nhái và hàng thậttrong khi người sản xuất lại chưa tìm được biện pháp nào để khắc phục haygiúp khách hàng phân biệt hàng nhái với hàng thật Người mua đề phòng bằngcách giảm mua hàng hoặc chuyển sang đối tượng hàng hoá khác Người sảnxuất phải tìm lại lòng tin nơi khách hàng bằng cách nào?
2.1.5.3 Tác hại của hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả đối với nền kinh tế nói chung
Hàng giả, hàng nhái làm đảo lộn trật tự thị trường bình thường, pháhoại cơ cấu kinh tế Cứ mỗi năm, ít nhất 100 vụ hàng giả, hàng nhái bị pháthiện nhờ kiểm tra, kiểm soát Năm 1997, cảnh sát kinh tế cả nước kiểm tra,phát hiện 306 vụ sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái; khởi tố, điều trađược 106 vụ sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái với 237 bị can Năm
1998, cảnh sát kinh tế cả nước phát hiện 180 vụ với 373 bị can; đã đưa ra khởi
tố xét xử 153 vụ với 262 bị caó Con số trên để nói lên là thị trường luôn trànngập hàng nhái, hàng giả có thể khiến cho nền kinh tế không thể phát triển lênđược
Hàng giả, hàng nhái làm cho nền kinh tế quốc dân bị thất thu thuế, ảnhhưởng đến sản xuất kinh doanh, chất lượng công trình xây dựng Hàng giả,hàng nhái sản xuất trái pháp luật trốn thuế là điều tất nhiên nhưng hại nhất là
nó còn làm cho các doanh nghiệp không kinh doanh được do mất uy tín, mấtlợi nhuận Các nhà đầu tư nước ngoài e ngại khi đầu tư vào thị trường Việtnam Vì vậy nên hàng giả, hàng nhái chẳng khác nào là quốc nạn
2.1.6 Nội dung các biện pháp chống buôn bán hàng giả
2.1.6.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò điều hành quản lý của Nhà nuớc trong phát triển kinh tế - xã hội:
Trang 32Đây là biện pháp quan trọng nhất, có ý nghĩa cơ bản và quyết định đếnviệc phòng ngừa tội phạm sản xuất và buôn bán hàng giả, trong đó phát triểnsản xuất là vấn đề mấu chốt, đồng thời mở rộng hoạt động kinh doanh xuấtnhập khẩu, có vai trò thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển thỏa mãn nhucầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Để phát triển sản xuất trong giai đoạn hiện nay, trước hết phải nghiêncứu và thực hiện xoá bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu, chuyển hẳnsang cơ chế thị trường, có sự phân định rõ chức năng quản lý hành chính vớichức năng quản lý sản xuất và kinh doanh Phân định rõ quyền sở hữu vớichính quyền quản lý Có chế định rõ ràng vế chế độ trách nhiệm, quyền hạncủa các chủ thể trong lĩnh vực quản lý Nhà nước
Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước về kinh tế theo hướng đồng
bộ, thích ứng và có hiệu lực trong cơ chế thị trường, nhằm tạo ra môi trườngsản xuất và kinh doanh tự chủ, thông thoáng nhưng vẫn đảm bảo trật tự xãhội Nhà nước có vị trí điều hành, hướng dẫn, điều tiết, cân đối mang tính vĩ
mô và tổng thể các hoạt động sản xuất và kinh doanh
Nhà nước điều hành và quản lý kinh tế - xã hội phải triệt để tuân thủđường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần được Nghị quyết Đạihội VIII, Đại hội IX đề ra Trong đó, phát triển thị trường hàng hoá trongnước mở rộng, tạo điều kiện để cho các hoạt động xuất nhập khẩu và kinhdoanh trong nước phát triển, đây là điều kiện để mở rộng và phát triển sảnxuất trong nước Đồng thời, chú trọng phát triển dầu tư hợp lý cho các chươngtrình, dự án kinh tế lớn, làm nòng cốt cho các ngành nghề sản xuất và các địaphương phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội
Nếu thực hiện tốt chính sách kinh tế - xã hội như trên sẽ tạo ra công anviệc làm cho người lao động, tạo ra nhiều của cải cho xã hội, tăng sản phẩmhàng hoá được sản xuất trong nước với chất lượng tốt, mẫu mã hình thức đẹp,giá thành sản phẩm hạ, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất nội địa với
Trang 33hàng hoá được sản xuất từ nước ngoài nhập vào Từng bước xoá đói giảmnghèo cho nhân dân vùng sâu, vùng xa Nhu cầu vật chất như công cụ sảnxuất được đáp ứng, nhu cầu tiêu dùng hàng hoá phục vụ cho sinh hoạt từngbước được cải thiện Làm được như vậy, mâu thuẫn cơ bản giữa cung và cầutừng bước được giải quyết, cũng có nghĩa là phòng ngừa, ngăn chặn được mộttrong những nguyên nhân căn bản nhất của tình hình sản xuất và buôn bánhàng giả Thống nhất vai trò điều hành và quản lý của Nhà nước từ trungương đến cơ sở thông qua hệ thống pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý chặtchẽ, xây dựng môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, không để tình hìnhsản xuất và buốn bán hàng giả xen vào.
Trong tình hình hiện nay, các hoạt động kinh tế và các quan hệ sản xuấtkinh doanh diễn ra sôi động và đa dạng, đòi hỏi cấp bách là xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật kinh tế, trọng tâm là quản lý Nhà nước về sản xuất vàkinh doanh, cụ thể là việc cấp phép và quản lý sản xuất kinh doanh Không đểtình hình sản xuất và buôn bán hàng giả nảy sinh và phát triển
Từ cuối năm 1999 đến nay, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đếncông tác phòng ngừa, ngăn chặn tình hình sản xuất và buôn bán hàng giả.Nhiều văn bản qui phạm pháp luật được ban hành, song việc quán triệt vàtriển khai thực hiện chưa thực sự có hiệu quả, đặc biệt còn thiếu đồng bộ vàthống nhất từ trung ương đến cơ sở Chính vì vậy, Nhà nước cấp tập trung chỉđạo các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương triển khai thực hiện tốtmột số nội dung cụ thể sau:
Tăng cường quản lý tốt việc cấp phép cho các tổ chức, doanh nghiệp, cánhân về hoạt động sản xuất, kinh doanh
Thực hiện nghiêm túc các quy định của nhà nước về quyền sở hữu trítuệ, sở hữu công nghiệp, củng cố tổ chức đăng ký bảo hộ quyền sở hữu côngnghiệp với việc quản lý hoạt động sở hữu công nghiệp Tiếp tục bổ sung và cụ
Trang 34thể hoá hệ thống pháp lý trong việc xử lý những tranh chấp về sở hữu trí tuệ
và sở hữu công nghiệp
Tăng cường bồi dưỡng kiến thức về sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệpcho nhân viên điều tra, giám định, kiểm sát, toà án để quá trình vận dụng,tránh những sai sót do thiếu kiến thức
Quá trình thực thi điều hành và quản lý Nhà nước từ trung ương đến cơ
sở phải dựa vảo cơ sở pháp lý chung nhất, đó là: Điều 156 157, 158, 171 của
Bộ luật hình sự 1999; Điều 805 của Bộ luật Dân sự; Pháp lệnh số 18 về chấtlượng hàng hoá; Pháp lệnh số 13 về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Chỉ thị31/1999 của Thủ tướng chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bánhàng giả; Nghị định số 12/1999 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong sởhữu công nghiệp; Nghị định số 54/2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền sởhữu công nghiệp; Thông tư liên tịch số 10/2000 giữa Bộ Thương Mại - Bộ tàichính - Bộ Công An - Bộ khoa học công nghệ & môi trường hướng dẫn thihành nghị định số 12 của Chính phủ
Đề thống nhất được về nhận thức và hành động trong công tác phòngngừa sản xuất và buôn bán hàng giả, Chính phủ phải đứng ra, hoặc giao chomột Bộ, Ngành chủ trì phối hợp các ngành, các cấp có chức năng liên quan,cùng xây dựng kế hoạch hành động cụ thể bằng những nội dung, biện pháp cụthể Định kỳ phải có sơ kết đánh giá kết quả triển khai thực hiện và xây dựngchương trình hành động cho thời gian tới
2.1.6.2 Tăng cường hơn nữa công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động toàn dân tham gia công tác phòng ngừa và đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả, phải được thực hiện trên một số mặt sau:
Xác định rõ tình hình sản xuất và buôn bán hàng giả có nguồn gốc phátsinh và phát triển từ lâu, mọi lĩnh vực của đời sông xã hội, có mặt ở mọi miềncủa đất nước Trong điều kiện của nền sản xuất hàng hoá, nhất là trong điềukiện kinh tế thị trường, hàng giả có xu hướng ngày càng phát triển Công tác
Trang 35phòng ngừa và đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả là nhiệm vụcủa toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành từ TW đến tân cơ sở, có tínhchất lâu dài.
Mục đích của công tác này là từng bước nâng vao dân trí, làm cho toàndân hiểu được tác hại của hàng giả, hiểu được thể nào là hàng giả, hàng thật,hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình Từ đó, làm cho họ tự giác khôngtham mua hàng giả rẻ tiền, không sử dụng hàng giả, tích cực tham gia cùngcác lực lượng chức năng của Nhà nước phòng ngừa và đấu tranh quyết liệt vớicác loại tội phạm này
Trước mắt là các cơ quan thông tin đại chúng phải xác định trách nhiệmcủa mình, đàu tư hợp lý cho công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, giành
tỷ lệ thời gian phù hợp cho chương trình tuyên truyền trên báo hình, báo nói
và báo viết
Các cơ quan xây dựng pháp luật và bảo vệ pháp luật phải phối hợp chặtchẽ với các cơ quan thông tin đại chúng cung cấp những thông tin tài liệu liênquan đến các quy định của Nhà nước, các cụ án trọng điểm và những tập thể,
cá nhân dũng cảm, mưu trí và có thành tích xuất sắc trên mặt trận phòng ngừa
và đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả
Nhà nước, giao cho các bộ, ngành liên quan như Toà án, Kiểm sát,Công an, nhất là Bộ giáo dục và Đào tạo phối hợp nghiên cứu và đưa ra côngtác giáo dục phòng ngừa và đấu tranh chống hàng giả vào trong chương trìnhhọc chính khoá của các học sinh phổ thông
Cấp uỷ và chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở xã, phường phải thườngxuyên tuyên truyền, vận động từng hộ gia đình gương mẫu đăng ký không sửdụng hàng giả, không tham gia sản xuất và buôn bán hàng giả, tố giác với cơ quanchức năng Những trường hợp vi phạm phải được xét xử công khai, nghiêm minhlàm bài học để giáo dục răn đe những người khác Phát động phong trào chống
Trang 36Nội dung cần giáo dục và tuyên truyền để cho mọi thành viên trong xãhội hiểu được:
Thứ nhất: Tất cả các văn bản pháp quy về lĩnh vực chống hàng giả và
nhận biết đâu là hàng thật, đâu là hàng giả
Thứ hai: Tham gia phòng ngừa và đấu tranh chống sản xuất và buôn
bán hàng giả là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi thành viên trong xã hội vì: sảnxuất và buôn bán hàng giả có tác động tiêu cực trực tiếp đến mọi lĩnh vựctrong đời sống xã hội Nó phá hoại quá trình sản xuất và kinh doanh lànhmạnh, làm sói mòn đến đời sống tinh thân và niềm tin của nhân dân đối vớiĐảng, Chính phủ trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung,chống sản xuất và buôn bán hàng giả nói riêng, gây sự hoài nghi trong cuộcsống hàng ngày Nó ảnh hưởng đến sức khoẻ, thậm chí cả tính mạng conngười nên tham gia phòng ngừa và đấu tranh chống sản xuất và buôn bánhàng giả là tham gia xây dựng xã hội phát triển văn minh, là tự bảo vệ chínhquyền lợi của bản thân mình
Thứ ba: Mỗi người dân muốn cùng đấu tranh chống hàng giả, hàng nhái
phải hiểu là: Không sử dụng hàng giả, không tham gia bất cứ một công đoạnnào của quá trình sản xuất và buôn bán hàng giả; khi phát hiện hàng giả hoặcngười nào sản xuất và buôn bán hàng giả thì chủ động tố giác với các cơ quan
có chức năng như: Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Tổ chức thanh tracủa Bộ khoa học công nghệ và môi trường hoặc thanh tra chuyên ngành để cóbiện pháp bắt giữ, xử lý
Thứ tư: Nên biểu dương khuyến khích kịp thời những tập tể và cá nhân
điển hình tiên tiến, có thành tích trong công tác phòng ngừa và đấu tranhchống sản xuất và buôn bán hàng giả, để nhân rộng, khuyến khích nhiều tậpthể và cá nhân tham gia Đưa tin kịp thời những vụ án sản xuất và buôn bánhàng giả được các cơ quan bảo về pháp luật phát hiện, điều tra và xử lý nhằmgiáo dục răn đe, ngăn chặn những người khác có ý định phạm tội
Trang 372.1.6.3 Tăng cường hợp tác quốc tế và phối hợp chặt chẽ giưa các cơ sở sản xuất kinh doanh với các cơ quan khoa học trong công tác phòng ngừa ngăn chặn sản xuất và buôn bán hàng giả:
Thế giới đang trong xu thế hình thành một thị trường chung Xuất phát
từ sự phát triển và tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại,một cuộc cách mạng có tính hai mặt, vừa là thời cơ, vừa là thách thức, cuộccách mạng này xoá đi tình biệt lập, khép kín, tự cung tự cấp truyền thống củamột số nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Quốc tế hoá, toàn cầu hoá làmột xu thế của thời đại, là một yêu cầu tất yếu khách quan, ngày càng hìnhthành rõ rệt
Cùng với xu thế quốc tế hoá mọi mặt tích cực của đời sống xã hội, thìtình hình quốc tế hoá các loại tội phạm, trong đó có tội phạm sản xuất và buônbán hàng giả cũng là một tất yếu khách quan Trong những năm trước, nhất làthời kỳ bao cấp, khi khoa học công nghệ chưa phát triển, Nhà nước thêu nướcngoài in tiền, hoặc khi Ngân hàng Nhà nước có máy in tiền (K84) thì Nhànước độc quyền in tiền, tội phạm chưa in được tiền, nên chưa có tiền giả.Trong những năm của thời kỳ mở cửa, đã kéo theo sự móc nói giữa tội phạmtrong nước với nước ngoài Tiền giả được in từ nước ngoài chuyển vào ViệtNam không ít, thậm chí có một số đối tượng là tội phạm đã nắm bắt đượckhoa học - công nghệ, sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại in được tiền giả,cũng như sản xuất các loại hàng giả khác là công cụ tư liệu sản xuất, hàng hoátiêu dùng như thuốc chữa bệnh, hàng điện tử, điện lạnh gia dụng, thuốc trừsâu đã được các đội tượng trong nước móc nối với các đối tượng chuyên sảnxuất hàng giả từ nước ngoaì vận chuyển lậu vào Việt Nam, hoặc tự sản xuấttrong nước, đưa ra tiêu thụ trên thị trường ngày càng nhiều Trên thực tế,công cuộc hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm trên các lĩnh vực như: chống
ma tuý, chống buôn lậu, chống các loại tội phạm hình sự có tổ chức của
Trang 38Nhưng hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm sản xuất và buôn bán hànggiả chưa được quan tâm đúng mức, do đó công tác phòng chống tội phạm sảnxuất và buôn bán hàng giả của ta chưa đáp ứng với yêu câù nhiệm vụ trongtình hình hiện nay Do vậy, mở rộng đối ngoại, nhằm khai thác tốt nhữngnhân tố tích cực trong công tác phòng chống tội phạm sản xuất và buôn bánhàng giả là hết sức cần thiết, là một nhu cầu tất yếu khách quan Chính vì vậyquan hệ hợp tác quốc tế cần tập trung vào các nội dung sau:
Quan tâm hơn nữa đến biện pháp kiểm soát biên giới với vai trò của lựclượng Hải quan Hải quan là cơ quan có trách nhiệm trong việc thực hiện cácbiện pháp kiểm soát biên giới Theo quy định của Pháp lệnh hải quan, tất cảhàng hoá, hành lý xuất, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh
và quá cảnh đều phải khai báo với hải quan và chịu sự kiểm tra, kiểm soát củahải quan Hải quan chỉ cho phép giải phóng hàng hoá hoặc phương tiện vậntải khi bộ hồ sơ, chứng từ đi kèm hàng hoá và phương tiện vận tải đó cũngnhư các thủ tục cần thiết được thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định củapháp luật Việt nam Bên cạnh việc kiểm tra, kiểm soát công khia đối với hoạtđộng xuất nhập khẩu và xuất nhập cảnh, Hải quan Việt nam còn tiến hành cáchoạt động điều tra, ngăn chặn, trấn áp đối với các hoạt động xuất nhập khẩu,xuất nhập cảnh trái phép diễn ra tại các địa điểm ngoài cửa khẩu dọc theo biêngiới, bờ biển
Các Bộ, Ngành chức năng chủ động phối hợp với chính quyền và các
cơ quan bảo vệ pháp luật của các nước có đường biên giới với nước ta pháthiện, đấu tranh, ngăn chặn sự móc nối giữa tội phạm sản xuất và buôn bán hànggiả trong nước với tội phạm sản xuất và buôn bán hàng giả các nước trên thế giới,nhất là các nước có quan hệ trao đổi hàng hoá nhiều và thuận lợi với nước ta
Đồng thời với tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc tế, do đặc điểmcủa trình độ khoa học công nghệ và sản xuất trong nước nên vấn đề thứ haiđặt ra là: Các tổ chức và cá nhân sản xuất và kinh doanh trong nước, cần phải
Trang 39tăng cường phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên môn, cơ quan bảo hiểm
ở trung ương và địa phương, từ khâu cấp, quản lý, kiểm tra giấy phép sảnxuất, kinh doanh cho đến việc nghiên cứu sản xuất ra những hàng hoá có tínhriêng biệt, đặc thù từ nội dung cho đến mẫu mã, bao bì, chủ động phối hợpvới các cơ quan bảo vệ pháp luật, phát hiện những tổ chức, đường dây chuyênsản xuất và buôn bán hàng giả theo hàng của mình, hoặc nói cách khác: các tổchức và doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh phải chủ động tự bảo vệ chínhmình Có nhiều phương pháp mà các doanh nghiệp có thể sử dụng như: tạo ranhững kiểu dáng công nghiệp, kiểu bao bì đặc chủng, mã số, mã vạch, temđặc chủng Kiểu dáng công nghiệp thì tốn thời gian và tiền bạc nên khó làmnhất Mã số, mã vạch cho những thông tin đầy đủ về nhà sản xuất, nơi sảnxuất và nếu sử dụng mực in đặc chủng phát quang có thể dùng đèn cực tímchuyên dụng để phát hiện thật giả Hình thức dùng tem đặc chủng là tiện dụngnhất Ưu điểm của con tem là mang được đầy đủ các thông tin mà người sảnxuất muốn chuyển tải đến người mua như tên công ty, địa chỉ, điện thoại, camkết của người sản xuất với người mua về sản phẩm của mình như: tem bảohành, tem chính hiệu Tính chất tiện dụng của con tem cũng rất cao vi dụ chỉcần một con tem có thể dán lên nhiều loại hàng của công ty mình Giá thànhmột con tem trong giá thành chung của sản phẩm lại không cao Ngoài ra,con tem còn làm vật trang trí cho sản phẩm thêm hấp dẫn và dễ thu hút ngườimua Các doanh nghiệp tuỳ nghi lựa chọn theo sản phẩm để giữ gìn không bịhàng giả, hàng nhái vi phạm
2.2 Cở sở thực tiễn
2.2.1 Kính nghiệm chống hàng giả của một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của EU
EU có một hệ thống chống hàng giả tinh vi, được xây dựng gần đây vìlợi ích chung của các quốc gia trong khối
Trang 40khẩu hải quan bởi theo họ, hoạt động hàng giả, hàng nhái chủ yếu diễn ra ở thịtrường trong nước và tại các biên giới
Hệ thống hải quan của EU hoạt động rất hiệu quả Số liệu thống kê antoàn nhất và chính xác nhất là số liệu của Hải quan (mặc dù số liệu này khôngtính đến thương mại trong nước) Theo thống kê của Hải quan EU, ở châu Âu
có đến 70% hàng giả, hàng nhái bị giữ lại ở cửa khẩu; 30% vẫn lọt qua biêngiới (khoảng vài triệu sản phẩm) Ước tính hàng giả tại Hải quan là 200 tỷ đô-
la, lớn hơn GDP của 150 nước
Đặc biệt, EU có các biện pháp bên trong nhằm thực thi bảo vệ SHTTtrên phạm vi lãnh thổ EU rất thành công, bao gồm hệ thống FALSTAFF(Fully Automated Logical System to Avoid Forgeries & Fraud) - Công nghệ
và mạng lưới hỗ trợ đấu tranh chống hàng giả, hàng nhái đoạt giải Oscar vềchính phủ điện tử châu Âu năm 2005
EU cũng đã hoàn thành dự án Europ Aware gồm văn phòng SHTT,trường đại học, trung tâm nghiên cứu về phát huy quyền SHTT và các trungtâm tư vấn; các chiến dịch nâng cao nhận thức về quyền bảo vệ SHTT; xuấtbản hoặc hỗ trợ xuất bản các ẩn phẩm về biện pháp thực hành tốt nhất (sổ tay,sách nhỏ, tờ rơi) và thành lập cơ quan giám sát của châu Âu về hàng giả, hàngnhái
Ngoài ra, từ năm 2004, chiến lược của EU còn nhằm thực thi bảo vệSHTT ở nước thứ 3 Cụ thể, EU xác định quốc gia ưu tiên là các quốc gia cónhiều vấn đề nhất về vi phạm quyền SHTT Tăng cường đối thoại chính trị,chính sách hỗ trợ, hợp tác kĩ thuật đảm bảo hỗ trợ kĩ thuật cho các nước thứ 3
về thực thi bảo vệ SHTT, đặc biệt ở những nước ưu tiên; trao đổi ý kiến vàthông tin với Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO), Hoa Kỳ hoặc Nhật Bản Đặcbiệt thiếp lập quan hệ hợp tác công - tư, hỗ trợ/tham gia vào mạng lưới thựcthi SHTT ở các nước thứ 3 liên quan
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ