Ngoài ra, các công ty phần mềm trong nước cũng đã xây dựng hệ thống PMTV mang thương hiệu của riêng mình, tiêu biểu là Libol Tinh Vân, iLib CMC, Vebrary Lạc Việt… Trải qua hơn 10 năm kể
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================
DƯƠNG THỊ THU THỦY
ỨNG DỤNG PHẦN MỀM KOHA TẠI MỘT SỐ TRUNG TÂM
THÔNG TIN THƯ VIỆN CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Hà Nội – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================
DƯƠNG THỊ THU THỦY
ỨNG DỤNG PHẦN MỀM KOHA TẠI MỘT SỐ TRUNG TÂM
THÔNG TIN THƯ VIỆN CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI Chuyên ngành: Khoa học Thông tin – Thư viện
Mã số: 60 32 02 03
LUẬN VĂN THẠC SỸ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Quý
Hà Nội – 2018
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================
DƯƠNG THỊ THU THỦY
ỨNG DỤNG PHẦN MỀM KOHA TẠI MỘT SỐ TRUNG TÂM
THÔNG TIN THƯ VIỆN CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Chuyên ngành: Khoa học Thông tin – Thư viện
Mã số: 60 32 02 03 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Quý
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn
PGS TS Trần Thi Quý PGS TS Đoàn Phan Tân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo PGS.TS Trần Thị Quý, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới các giảng viên của khoa Thông tin Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, công ty D&L, giáo viên phản biện, các đồng nghiệp công tác tại 3 Thư viện: Thư viện Đại Học Thăng Long, Thư viện Đại học tài chính ngân hàng Hà Nội và Trung tâm Thông tin Tư liệu trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin được dành lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người thân đã luôn quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Hà nội, ngày 20 tháng 12 năm 2017
Học viên
Dương Thị Thu Thủy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu (Lịch sử nghiên cứu vấn đề) 5
3 Đối tượng nghiên cứu & phạm vi nghiên cứu 10
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Giả thuyết nghiên cứu 11
7 Cấu trúc của luận văn (Nội dung chính của từng chương) 12
CHƯƠNG 1: TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI VỚI PHẦN MỀM KOHA 13
1.1 Một số các khái niệm liên quan 13
1.1.1 Khái niệm phần mềm thư viện 13
1.1.2 Khái niệm phần mềm mã nguồn mở 14
1.1.3 Khái niệm phần mềm quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở 14
1.2 Các tiêu chí đánh giá và lựa chọn phần mềm thư viện 14
1.2.1 Đảm bảo nguyên tắc thiết kế mở 15
1.2.2 Tạo lập được mô hình quản lý và chia sẻ tài nguyên thông tin 15
1.2.3 Hỗ trợ đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về thư viện 16
1.2.4 Tính tương thích với các chuẩn dữ liệu trong xử lý dữ liệu 16
1.2.5 Hỗ trợ đa ngôn ngữ 17
1.2.6 Hỗ trợ các công nghệ mã vạch và RFID 17
1.2.7 Tìm tin linh hoạt, trực tuyến 17
1.2.8 Bảo mật và an toàn dữ liệu 18
1.3 Xuất xứ và vai trò của phần mềm Koha 18
1.3.1 Xuất xứ và các tính năng nổi bật của phần mềm Koha 18
1.3.2 Vai trò của phần mềm Koha 21
1.3.2.1 Giúp thư viện lưu giữ khối lượng lớn tài nguyên thông tin 21
1.3.2.2 Tự động h a hoạt động nghiệp vụ 22
1.3.2.3 Xây dựng và kiểm soát nguồn tin chuẩn 23
Trang 61.3.2.4 Khả năng tương tác với các phần mềm thư viện tiêu chuẩn một
cách linh hoạt và dễ dàng 23
1.3.2.5 Hỗ trợ các sản phẩm và dịch vụ thư viện hiện đại không giới hạn về không gian và thời gian 24
1.3.2.7 Không giới hạn số lượng người dùng tin tương tác với thư viện cùng lúc 25
1.4 Khái quát về các trung tâm thông tin-thư viện đại học ở Hà Nội đã ứng dụng phần mềm Koha 26
1.4.1 Lịch sử ra đời, phát triển và chức năng, nhiệm vụ 26
1.4.2 Đội ngũ cán bộ, cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất 31
1.5 Ý nghĩa của việc ứng dụng phần mềm Koha tại các trung tâm thông tin-thư viện đại học ở Hà Nội 34
1.5.1 Đối với các trường đại học 34
1.5.2 Đối với các trung tâm thông tin-thư viện 35
1.5.3 Đối với người dùng tin 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG PHẦN MỀM KOHA 36
TẠI CÁC TRUNG TÂM THÔNG TIN-THƯ VIỆN 36
CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI 36
2.1 Các yếu tố tác động tới việc ứng dụng phần mềm mã nguồn mở Koha 36
2.1.1 Quy trình triển khai ứng dụng phần mềm Koha của các trung tâm thông tin-thư viện 36
2.1.2 Cơ sở vật chất trang thiết bị 38
2.1.3 Trình độ nguồn nhân lực thông tin-thư viện 42
2.1.4 Nguồn lực thông tin 46
2.1.5 Chính sách đầu tư của lãnh đạo 47
2.1.6 Năng lực thông tin của người dùng tin 48
2.1.7 Hiệu quả công việc hỗ trợ 49
2.2 Các phân hệ phần mềm Koha được ứng dụng tại các trung tâm thông tin – thư viện 51
2.2.1 Ứng dụng phân hệ quản trị hệ thống 51
2.2.2 Ứng dụng phân hệ bổ sung 52
2.2.3 Ứng dụng phân hệ biên mục 61
Trang 72.2.4 Ứng dụng phân hệ bạn đọc 71
2.2.5 Ứng dụng phân hệ lưu thông 74
2.2.6 Ứng dụng phân hệ quản lý ấn phẩm định kỳ 77
2.2.7 Ứng dụng phân hệ tra cứu trực tuyến OPAC 80
2.2.8 Ứng dụng phân hệ công cụ bổ trợ 84
2.2.9 Ứng dụng phân hệ báo cáo thống kê 85
2.3 Những thuận lợi và khó khăn khi ứng dụng phần mềm Koha 87
2.3.1 Về mặt thuận lợi 87
2.3.2 Về mặt kh khăn 88
2.4 Đánh giá về Phần mềm mã nguồn mở Koha 89
2.4.1 Về mặt chức năng 89
2.4.1.1 Tạo lập được mô hình quản lý và chia sẻ tài nguyên thông tin 90
2.4.1.2 Hỗ trợ đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế 90
2.4.1.3 Tính tương thích với các chuẩn dữ liệu trong xử lý tài liệu 90
2.4.1.4 Hỗ trợ đa ngôn ngữ 90
2.4.1.5 Công cụ tìm tin linh hoạt, trực tuyến 91
2.4.1.6 Khả năng đáp ứng các chuẩn về công nghệ thông tin 91
2.4.1.7 Bảo mật và an toàn dữ liệu 91
2.4.2 So sánh Koha với các phần mềm thư viện thương mại bản quyền 92
2.5 Nhận xét chung về ứng dụng Koha tại các trung tâm thông tin-thư viện 93
2.5.1 Ưu điểm 93
2.5.2 Hạn chế 94
2.5.3 Nguyên nhân 95
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG 96
PHẦN MỀM KOHA TẠI CÁC TRUNG TÂM THÔNG TIN-THƯ VIỆN 96
CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI 96
3.1 Các giải pháp đối với thư viện 96
3.1.1 Tăng cường khai thác hết các chức năng của phần mềm 96
3.1.2 Tăng cường hoạt động liên kết, chia sẻ 96
3.1.3 Tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở vật chất 97
3.2 Các giải pháp liên quan đến yếu tố con người 98
Trang 83.2.1 Cần sự quan tâm của lãnh đạo các cấp 98
3.2.2 Bồi dưỡng nâng cao trình độ nguồn nhân lực 99
3.2.3 Đào tạo nâng cao năng lực thông tin cho người dùng tin 102
3.2.4 Tăng cường về số lượng và phân bổ nhân lực một cách hợp lý 103
3.3 Nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ của nhà cung cấp dịch vụ 104
3.3.1 Hoàn thiện hơn bản Việt h a và các chức năng của phần mềm 104
3.3.2 Thường xuyên mở các kh a tập huấn, đào tạo 105
3.3.3 Tăng cường chính sách hỗ trợ cho cơ sở ứng dụng 106
3.3.4 Đổi mới nội dung và phương thức hỗ trợ sử dụng phần mềm 106
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 Các từ viết tắt tiếng Việt
Đại học Đại học Ngoại ngữ Đại học Quốc gia Hà Nội
Thông tin thƣ viện
2 Các từ viết tắt tiếng Anh
Radio Frenquency Identification (Công nghệ nhận dạng bằng s ng vô tuyến)
Universal Marc Format (Khổ mẫu biên mục quốc tế)
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Trang thiết bị của 3 cơ quan thông tin-thư viện 41
Bảng 2.2 Trình độ học vấn của cán bộ 3 cơ quan thông tin-thư viện 43
Bảng 2.3 Trình độ chuyên môn của cán bộ tại 3 cơ quan thông tin-thư viện 44
Bảng 2.4 Phân bổ nguồn nhân lực của 3 cơ quan thông tin-thư viện 44
Bảng 2.5 Thông tin g i hỗ trợ của nhà cung cấp 50
Bảng 2.6 Mức độ hài lòng của khách hàng với nhà cung cấp 50
Bảng 2.7 Ứng dụng phân hệ quản trị hệ thống của 3 cơ quan thông tin-thư viện 51
Bảng 2.8 Thực trạng ứng dụng phân hệ biên mục tại 3 thư viện 67
Bảng 2.9 Tình hình ứng dụng phân hệ bạn đọc tại 3 cơ quan thông tin-thư viện 73
Bảng 2.10 Tình hình ứng dụng phân hệ Lưu thông tại 3 cơ quan thông tin- 76
thư viện 76
Bảng 2.11 Ứnp dụng phân hệ ấn phẩm định kỳ tại 3 cơ quan thông tin-thư viện 79
Bảng 2.12 Tình hình ứng dụng phân hệ Opac tại 3 cơ quan thông tin-thư viện 84
Bảng 2.13 Tình hình ứng dụng phân hệ báo cáo tại 3 thư viện 86
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Quy trình của phân hệ bổ sung 53
Hình 2.2 Giao diện chính của phân hệ bổ sung 54
Hình 2.3 Giao diện chức năng quản lý ngân sách 54
Hình 2.4 Giao diện chức năng quản lý quỹ 55
Hình 2.5 Giao diện chức năng quản lý nhà cung cấp 55
Hình 2.6 Giao diện chức năng quản lý đơn hàng 56
Hình 2.7 Giao diện chức năng quản lý đơn hàng chậm của thư viện 57
Hình 2.8 Giao diện chức năng quản lý hoá đơn mua tài liệu 57
Hình 2.9 Giao diện chức năng quản lý hoá đơn mua hàng 58
Hình 2.10 Giao diện chức năng biên mục của Koha 62
Hình 2.11 Giao diện chức năng quản lý các kiểu (nh m) bạn đọc trong Koha 71
Hình 2.12 Giao diện chức năng quản lý bạn đọc trong Koha 72
Hình 2.13 Giao diện chức năng nhập bạn đọc theo lô 73
Hình 2.14 Giao diện phân hệ lưu thông 75
Hình 2.15 Giao diện phân hệ ấn phẩm định kỳ 78
Hình 2.16 Giao diện tạo ấn phấm định kỳ trên PM Koha 78
Hình 2.17 Giao diện chức năng quản lý các kỳ ấn phẩm của thư viện 79
Hình 2.18 Giao diện chức năng quản lý danh sách định tuyến của ấn phẩm 79
Hình 2.19 Giao diện OPAC của PM Koha 81
Hình 2.20 Quy trình hỗ trợ hỗ trợ khách hàng của công ty D&L 107
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ những năm 1980 tới nay, việc sử dụng phần mềm mã nguồn mở (PMMNM) đã trở nên phổ biến và dần trở thành một xu hướng trên thế giới Nhận thấy việc sử dụng PMMNM đem lại nhiều lợi ích to lớn như giúp hạn chế vi phạm bản quyền phần mềm (PM) thương mại, hình thành nguồn nhân lực công nghệ thông tin trình độ cao c thể tự làm chủ công nghệ, giảm sự phụ thuộc vào các nhà
cung cấp phần mềm… và đặc biệt là vấn đề tiết kiệm ngân sách: Đảng, Nhà nước
và các Bộ, ban, ngành nước ta đã đặc biệt quan tâm đến việc đẩy mạnh ứng dụng
và phát triển PMNM Điều đ được thể hiện rõ qua các văn bản như: “Quyết định
số 235/2004/QĐ-TTg ngày 02/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Dự
án tổng thể “Ứng dụng và phát triển PMNM ở Việt Nam giai đoạn 2004-2008” đã nêu rõ các nhiệm vụ chính của dự án bao gồm việc xây dựng các chính sách thúc đẩy ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở, triển khai ứng dụng, đào tạo nguồn nhân lực cho ứng dụng, phát triển PM nguồn mở cũng như các vấn đề hợp tác quốc tế về PMNM [8] Ngày 30/12/2008, Bộ trưởng Bộ Thông tin &Truyền thông Lê Doãn Hợp đã ký ban hành Chỉ thị số 07/2008/CT-BTTTT về việc đẩy mạnh sử dụng PMNM trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhà nước [10] Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã thể hiện quyết tâm đẩy mạnh công tác đào tạo PMNM thông qua việc ban hành Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/3/2010 về quy định sử dụng phần mềm tự do nguồn mở [10] Tại điều 3 của thông tư ghi rõ 7 mục đích sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong ngành giáo
dục đ là: 1- Hỗ trợ nâng cao hiểu biết về lập trình phần mềm, hỗ trợ đổi mới tư duy, tạo môi trường nghiên cứu, sáng tạo; rút ngắn thời gian nghiên cứu; 2- Là môi trường học tập, chia sẻ kinh nghiệm trong xã hội học tập; tạo môi trường kỹ năng làm việc theo nhóm, theo cộng đồng; 3- Hạn chế và hướng tới việc xóa bỏ việc vi phạm bản quyền phần mềm; 4- Tiết kiệm chi phí bản quyền; 5- Tạo sự thích nghi với các sản phẩm tương đương với các phần mềm thương mại mã nguồn đóng; 6- Đảm bảo an ninh cho hạ tầng hệ thống thông tin và dữ liệu; 7- Định hướng sử dụng chuẩn mở
Trang 13Ngày nay, khi thông tin và tri thức ngày càng trở nên đa dạng, phong phú và phát triển nhanh ch ng theo thời gian; khi nhu cầu của xã hội về thông tin ngày càng trở nên cao cấp hơn, việc tổ chức lưu trữ, quản lý thông tin trong các cơ quan thông tin thư viện là vấn đề thiết yếu Các tài liệu, thông tin càng được tổ chức chặt chẽ, khoa học thì việc khai thác, tìm kiếm thông tin phục vụ người dùng càng được diễn ra một cách dễ dàng, nhanh ch ng
Cùng với sự đổi mới và phát triển mạnh mẽ của hệ thống các cơ quan thông tin-thư viện trên thế giới, các cơ quan thông tin - thư viện Việt Nam cũng đã và đang từng bước phát triển và hội nhập Điều đ được thể hiện qua việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ thông tin - thư viện quốc tế hay đẩy mạnh các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin-thư viện, cụ thể là vấn đề sử dụng các PMTV trong công tác quản lý và phục vụ các sản phẩm dịch vụ thông tin Hiện nay, các PMTV quốc tế như Virtua (VTLS), Millennium (Innovative Interface), Aleph (Ex Libris) đã và đang được sử dụng tại các cơ quan thông tin - thư viện ở Việt Nam, điều mà trước đây không thể thực hiện được Ngoài ra, các công ty phần mềm trong nước cũng đã xây dựng hệ thống PMTV mang thương hiệu của riêng mình, tiêu biểu là Libol (Tinh Vân), iLib (CMC), Vebrary (Lạc Việt)…
Trải qua hơn 10 năm kể từ ngày hệ thống PMTV đầu tiên được triển khai tại Việt Nam, cho đến nay đa phần các cơ quan thông tin-thư viện c quy mô vừa và lớn của của các trường đại học, cao đẳng, các trung tâm học liệu vùng, các thư viện công cộng, các viện nghiên cứu… đã được cài đặt và ứng dụng PMTV ở các mức
độ khác nhau và đạt được những hiệu quả nhất định
Theo thống kê cho thấy, phần lớn các cơ quan thông tin - thư viện sử dụng PMQTTVTH do Việt Nam sản xuất Tuy nhiên, sự chậm trễ trong việc nâng cấp và phát hành các phiên bản mới cũng như đội ngũ kỹ thuật hỗ trợ không tức thì khiến cho các cơ quan thông tin - thư viện sử dụng phần mềm này gặp phải những trở ngại lớn Dễ thấy rằng, hệ thống các cơ quan thông tin - thư viện ngày một phát triển nhanh ch ng cùng với xu thế hội nhập chung của thế giới, trong khi các PMTV không cập nhật kịp thời khiến n trở nên lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu của người dùng
Trang 14Hiện nay, mạng lưới các cơ quan thông tin-thư viện ở Việt Nam rộng khắp với khoảng gần 30.000 đơn vị trên cả nước Trong số đ , phần lớn là các thư viện
c quy mô nhỏ như các thư viện quận, huyện, các thư viện của các trường phổ thông trung học, phổ thông cơ sở, thư viện các điểm văn h a xã… do các kh khăn
về tài chính, nguồn lực chưa triển khai được PMTV
Chúng ta c thể khẳng định rằng PMTV đã đem lại các lợi ích thiết thực, làm thay đổi cơ bản diện mạo hoạt động thông tin- thư viện tại Việt Nam Thông qua PMTV, các cơ quan thông tin - thư viện đã tự động h a được qui trình nghiệp vụ, quản lý tài nguyên để tăng năng suất hoạt động và nâng cao chất lượng phục vụ người dùng tin PMTV cũng là công cụ quan trọng để các cơ quan thông tin-thư viện thực hành áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về nghiệp vụ thông tin-thư viện Tuy nhiên, việc triển khai các ILS thương mại cho số lượng các cơ quan thông tin-thư viện như trên đặt cho chúng ta một bài toán kinh tế lớn Thử làm một phép tính đơn giản là mỗi cơ quan thông tin- thư viện trang bị một ILS thương mại trong nước với giá khoảng 500 triệu Việt Nam đồng (VNĐ) hoặc ILS thương mại nước ngoài với gía khoảng 3 tỉ VNĐ thì con số thu được sẽ làm cho những người làm công tác TT-TV Việt Nam phải trăn trở suy nghĩ, và với mức chi phí lớn như vậy thì c lẽ việc trang bị PM cho cả mạng lưới các cơ quan TT-TV sẽ
là một bài toán không c lời giải
Nhìn lại thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại một số cơ sở đào tạo về thông tin-thư viện, chúng ta dễ dàng nhận thấy được những vấn đề còn tồn tại Trên thực tế, nội dung chương trình đào tạo của các đơn vị về lĩnh vực TT-TV tập trung nhiều hơn trên lý thuyết, các phần mềm – công cụ thực hành còn thiếu, yếu và kém; những kiến thức sinh viên được học chỉ là lý thuyết sách vở, thiếu tính thực tiễn Chưa cơ sở nào c tràng bị đầy đủ các phần mềm để các em thực hành, mặc dù phần cứng đã được trang bị Mỗi năm nước ta c hàng trăm sinh viên tốt nghiệp nhưng khi đi làm, tiếp xúc với ILS cho thấy họ vẫn còn rất bỡ ngỡ và gặp nhiều kh khăn
để sử dụng Nguyên nhân xuất phát từ việc cán bộ giảng viên không đủ điều kiện để trang bị riêng một PM phục vụ giảng dạy và làm công cụ thực hành cho sinh viên, đối với các đơn vị đã mua ILS thương mại vì lý do chính xác, bảo mật và an toàn hệ
Trang 15thống nên không thể dễ dàng cho phép giảng viên và sinh viên dùng n làm công cụ
để giảng dạy và học tập ở môi trường trực tuyến Trong quá trình sinh viên đi thực tập thì không phải cơ quan thông tin-thư viện nào cũng c ILS để cho sinh viên thực hành; đối với những cơ quan đã trang bị ILS thì giới hạn sinh viên đăng nhập để tìm hiểu hoạt động của PM, dẫn tới khi ra trường thì cơ hội xin việc làm của họ cũng giảm đi một cách rõ rệt
Trên thực tế, việc chuyển qua sử dụng phần mềm nguồn mở sẽ là một trong những phương thức hữu hiệu nhất giúp chúng ta giải quyết các vấn đề nêu trên Trong những năm gần đây, việc ứng dụng phần mềm mã nguồn mở Koha tại một số
cơ quan thông tin-thư viện trên địa bàn Hà Nội đã đạt được những kết quả đáng kể
như: Hiện đại hóa công tác biên mục tài liệu đáp ứng các chuẩn quốc tế, vấn đề quản lý bạn đọc và các giao dịch lưu thông được thực hiện nhanh chóng, chính xác
và dễ dàng… tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ thư viện thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, cũng như giúp bạn đọc có thể khai thác thông tin dễ dàng hơn… Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề tồn tại như các cơ quan thông tin-thư viện
chưa áp dụng đồng bộ và khai thác tối ưu tính năng của các phân hệ, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra khi triển khai PM hay trình độ của cán bộ còn hạn chế… Điều này khiến các cơ quan TT-TV chưa đáp ứng được tốt nhất các nhu cầu của bạn đọc cũng như chưa theo kịp xu thế phát triển chung của ngành thông tin- thư viện trên thế giới
Với ý nghĩa như vậy, tác giả chọn đề tài “Ứng dụng PM Koha tại một số trung tâm thông tin thư viện trên địa bàn Hà Nội” làm đề tài cho luận văn tốt
nghiệp của mình với mong muốn g p phần hoàn thiện lý luận về phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động thông tin-thư viện Đồng thời, nắm bắt được thực trạng
áp dụng phần mềm Koha của các cơ quan thông tin- thư viện ở Việt Nam n i chung
và các cơ quan thông tin thư viện ở Hà Nội n i riêng Trên cơ sở đ , tìm ra những
cơ sở khoa học để đánh giá khách quan về phần mềm Koha về những điểm mạnh, điểm hạn chế của PM, cũng như sự phù hợp của PM đối với các yếu tố tác động tới hiệu quả khi triển khai phần mềm Koha tại các cơ quan thông tin-thư viện ở nước ta; Đồng thời, đề xuất những giải pháp c tính khả thi cho việc hoàn thiện và nâng
Trang 16cao hiệu quả việc triển khai ứng dụng PM Koha trong hoạt động thông tin-thư viện, nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ cho người dùng tin
2 Tình hình nghiên cứu (Lịch sử nghiên cứu vấn đề)
Nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là việc ứng dụng phần mềm quản trị thư viện (kể cả phần mềm thương mại và phần mềm mã nguồn mở) luôn là một trong những vấn đề quan trọng được các cơ quan thông tin, thư viện, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, nhất là trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay
Koha là phần mềm (PM) quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở, được nghiên cứu phát triển lần đầu tiên từ năm 2000 tại New Zealand Hiện nay, Koha được phát triển mạnh mẽ và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới C thể n i, số lượng các cơ quan thông tin-thư viện sử dụng Koha ngày một gia tăng xuất phát từ chính kết quả nghiên cứu về tính ứng dụng cũng như hiệu quả mà các cơ quan thông tin-thư viện này đã đạt được khi sử dụng phần mềm
Cùng với quá trình phát triển của n , trên thế giới c rất nhiều các đề tài nghiên cứu về Koha bao gồm cả việc nghiên cứu về chức năng, tính ứng dụng, hiệu quả hoạt động hay phân tích sự phù hợp với các kiểu đối tượng sử dụng (các loại hình cơ quan thông tin- thư viện khác nhau, quy mô khác nhau…)
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Cụ thể nghiên cứu về chức năng của phần mềm có các công trình nghiên cứu như: Bài viết “Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng thư viện trực tuyến
Koha tại trường đại học Jos, Nigeria” (Assessment and Evaluation of KOHA ILS for Online Library Registration at University of Jos, Nigeria) [22] đăng trên tạp chí Máy tính và thông tin châu Á (Asian Journal of Computer and Information Systems, ISSN: 2321 – 5658; Volume 03 – Issue 01, February 2015) được thực hiện bởi
nh m tác giả trường Đại học Jos, “Các báo cáo chung được khởi tạo từ phần mềm Koha của Thư viện Đại học Bowen, Nigeria” (Reports Generation with Koha ILS: Examples from Bowen University Library, Nigeria) [21] được thực hiện bởi nh m tác giả Adekunle, Paul Adesola; Olla, Grace Omolara và Oshiname, Roseline M đăng trên tạp chí Quản trị Thông tin và tri thức (Information and Knowledge
Trang 17Management: Vol.6, No.4, 2016); bài viết “Triển khai hệ thống quản lý thư viện tự động cho các trường học trực thuộc Đại học H a học Bharathidasan bằng phần mềm mã nguồn mở Koha” (Implementation of Automated Library Management System in the School of Chemistry Bharathidasan University using Koha Open Source Software” [23] được đăng trên Tạp chí Quốc tế về nghiên cứu và ứng dụng
kỹ thuật được nghiên cứu bởi Neelakandan.B, Duraisekar S, Balasubramani.R, Srinivasa Ragavan.S – các cán bộ phận Thư viện và Thông tin khoa học trường Đại học Bharathidasan, Ấn Độ; luận văn “Phát triển hệ thống thư viện tích hợp sử dụng phần mềm mã nguồn mở Koha” của tác giả Mohibuzzaman Zico (Developing an integrated library system using open source software Koha) [24] thực hiện tại trường Khoa học và Kỹ thuật máy tính, thuộc Đại học Brac…
Nhìn một cách tổng quát, tất cả các bài viết đều phân tích các chức năng của phần mềm Bài viết Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng thư viện trực tuyến Koha tại trường đại học Jos, tác giả đã tập trung nghiên cứu và xác định sự đầy đủ
về các phân hệ chức năng, cũng như sự hài lòng của người dùng về các công cụ tìm kiếm trực tuyến của phần mềm; bài viết Các báo cáo chung được khởi tạo từ phần mềm Koha của thư viện Đại học Bowen, Nigeria nghiên cứu koha tập trung vào hoạt động báo cáo thống kê của n ; bài viết “Phát triển hệ thống thư viện tích hợp
sử dụng phần mềm mã nguồn mở Koha” của tác giả Mohibuzzaman Zico đi từ các khái niệm về phần mềm thư viện và các yêu cầu phân hệ chức năng cần c của một phần mềm thư viện hiện đại, từ đ tập trung phân tích những tiêu chuẩn chức năng của phần mềm koha như một minh chứng Koha đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của một ILS Bài viết “Triển khai hệ thống quản lý thư viện tự động cho các trường học trực thuộc Đại học H a học Bharathidasan bằng phần mềm mã nguồn mở Koha” lại nghiên cứu các chức năng của koha gắn liền với hoạt động ứng dụng n tại thư viện của trường
Nghiên cứu về lý do sử dụng phần mềm:
Bên cạnh việc nghiên cứu chức năng của phần mềm, mỗi bài viết c đối tượng nghiên cứu khác nhau, tập trung nghiên cứu các lĩnh vực, hoạt động khác
Trang 18nhau từ đ tạo nên sự khác biệt Cụ thể nghiên cứu về lý do sử dụng phần mềm c các công trình như:
“Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng thư viện trực tuyến Koha tại trường đại học Jos, Nigeria” ngoài việc nghiên cứu chức năng và hiệu quả sử dụng các dịch vụ trực tuyến của phần mềm, tác giả còn tập trung vào việc phân tích những lý
do cụ thể để thư viện chuyển đổi từ phần mềm thương mại sang Koha Trong đ , tác giả đã nêu ra những hạn chế của phần mềm Virtual, cùng với việc so sánh các tính năng mà Koha đáp ứng cũng như những lợi ích về mặt chi phí triển khai…
Nghiên cứu về quy trình triển khai ứng dụng phần mềm:
Nghiên cứu về quy trình triển khai ứng dụng phần mềm c các công trình như: “Triển khai hệ thống quản lý thư viện tự động cho các trường học trực thuộc Đại học H a học Bharathidasan bằng phần mềm mã nguồn mở Koha” lại tập trung nghiên cứu và chỉ ra các kế hoạch, phương pháp triển khai cũng như sự phù hợp của một số ứng dụng trong phần mềm với nhu cầu thực tiễn của nhà trường… thì bài viết “Phát triển hệ thống thư viện tích hợp sử dụng phần mềm mã nguồn mở Koha” của tác giả Mohibuzzaman Zico lại tập trung phân tích kết quả đạt được trong việc ứng dụng Koha cho thư viện Đại học Brac, từ đ chỉ ra nguyên nhân và hướng khắc phục những hạn chế để hiệu quả ứng dụng phần mềm cũng như hiệu quả hoạt động của thư viện ngày càng phát triển hơn
Bài viết “Các báo cáo chung được khởi tạo từ phần mềm Koha của thư viện Đại học Bowen, Nigeria” lại tập trung phân tích sự dễ dàng và linh hoạt của Koha trong việc tạo ra các báo cáo thống kê cho thư viện Trong đ , các tác giả đã chỉ ra các loại báo cáo của Koha liên quan đến các thông tin chung của hệ thống cũng như những báo chi tiết liên quan đến từng phân hệ bổ sung, biên mục, lưu thông… từ
đ , tác giả đã khẳng định rằng, phần mềm Koha không giới hạn các loại báo cáo cho người dùng, bao gồm toàn bộ các thành phần liên quan đến hệ thống
Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, các phần mềm thư viện mã nguồn mở như Dspace, Greenstone được nhiều thư viện ứng dụng từ những năm 2005 Hai PM này tập trung chủ yếu vào việc quản trị và khai thác các bộ sưu tập số trên Internet Một số cơ quan đơn vị
Trang 19thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo về Dspace và Greenstone phải kể đến Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Đà Lạt, Thư viện trung tâm Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh…
Về tình hình nghiên cứu các phân hệ chức năng và tính ứng dụng của phần mềm Koha, có một số bài viết sau:
Bài viết “Phần mềm quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở Koha cho hệ thống thư viện Việt Nam” của TS Nguyễn Huy Chương ( Tạp chí Thông tin và Tư liệu, số 3, 2014, tr.12-18) Bài viết “Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp
mã nguồn mở Koha – Giải pháp tốt cho hệ thống thư viện Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam” của tác giả Dương Thị Thu Thủy ( Tạp chí Thư viện, số 2, tháng 3 – 2014) Bài viết: “Hệ thống quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở Koha” của tác giả Lê
Bá Lâm ( Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 2, 2011, tr.30-35)
Với ba bài viết trên, các tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích phân hệ chức năng của phần mềm với các tính năng nổi bật, tính hữu ích và các giá trị của phần mềm Koha đem lại Kèm theo đ là những phân tích, đánh giá ưu nhược điểm của phần mềm Đối với đề tài của tác giả Nguyễn Huy Chương và Dương Thị Thu Thủy, các tác giả còn phân tích sự phù hợp của Koha với hệ thống thư viện Việt Nam n i chung và hệ thống thư viện các trường đại học, cao đẳng n i riêng; từ đ đưa đề xuất ứng dụng phần mềm Koha nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các thư viện
Tuy nhiên, việc ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở Koha ở Việt Nam là hoạt động khá mới Chính vì vậy, các bài viết nghiên cứu chức năng và thực trạng ứng dụng của phần mềm hiện nay vẫn còn hạn chế Chưa c công trình nào nghiên cứu quy trình triển khai, đánh giá một cách đầy đủ trên cơ sở các tiêu chí của một phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động thông tin, thư viện
Xét trên khía cạnh nghiên cứu thực trạng ứng dụng phần mềm Koha tại trung tâm thông tin – thư viện, c các đề tài sau:
Đề tài “Thực trạng ứng dụng phần mềm mã nguồn mở koha tại trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Tài chính Ngân hàng Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Ngân (Kh a luận Tốt nghiệp năm 2014) Bài viết: “ Nghiên cứu ứng dụng phần
Trang 20mềm mã nguồn mở Koha tại Trung tâm học liệu Đại học Quảng Bình” của tác giả Trần Thị Lụa (Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình – số 2/2015) Hai bài viết chủ yếu nghiên cứu các khía cạnh ứng dụng phần mềm Koha tại trung tâm thông tin thư viện Cụ thể là các phân hệ biên mục (tạo lập cơ sở dữ liệu), lưu thông và báo cáo thống kê Từ đ đưa ra những nhận xét, đánh giá, đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện và nâng cấp phần mềm mã nguồn mở Koha Đối với đề tài của Nguyễn Thị Ngân, ngoài những vấn đề nêu trên, tác giả còn tập trung nghiên cứu xuất xứ và phân hệ chức năng của phần mềm, cũng như những đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng phần mềm koha tại Thư viện Tài chính Ngân hàng
Về hướng nghiên cứu Koha như một khía cạnh, một thành phần của bộ giải pháp quản trị thư viện mã nguồn mở, phải kể đến:
Bài viết: “Ứng dụng phần mềm mã nguồn mở Koha để quản lý thư viện theo tiêu chuẩn quốc tế” của tác giả Dương Thị Thu Thủy ( Kỷ yếu hội thảo: Hoạt động thông tin – Thư viện với vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam, 2015, tr 572 - 583) Đề tài: “Xây dựng thư viện điện tử bằng phần mềm mã nguồn mở” của tác giả Phạm Quang Quyền đã được xuất bản thành sách (2014)
Đối với hai bài viết và đề tài trên, các tác giả đưa ra các bộ giải pháp phần mềm quản trị thư viện mã nguồn mở, mỗi bộ giải pháp là sự tích hợp chặt chẽ của 4 phần mềm khác nhau Trong đ bao gồm một phần mềm quản trị thư viện tích hợp, một phần mềm quản lý tài nguyên số, một phần mềm tìm kiếm tập trung và một cổng thông tin thư viện Trong cả hai bộ giải pháp này, các tác giả đều xác định và lựa chọn Koha là một yếu tố quan trọng của bộ giải pháp, thực hiện chức năng quản
lý tài nguyên truyền thống Từ việc giới thiệu bộ giải pháp cũng như các chức năng của từng phần mềm trong đ , các tác giả đã đưa ra những nhận xét, đánh giá những lợi ích của thư viện khi triển khai các bộ giải pháp này; từ đ đề xuất các Bộ, Ban ngành, cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch, tạo điều kiện để cơ quan thư viện sớm
c thể triển khai ứng dụng bộ giải pháp này
Mặc dù đã c những đề tài luận văn, kh a luận, các bài viết về phần mềm Koha trong nước và trên thế giới, tuy nhiên mỗi tác giả lại c cách tiếp cận khác
Trang 21nhau, áp dụng ở những thư viện khác nhau, với phạm vi không gian và thời gian khác nhau Trong tất cả các đề tài trên, chưa c đề tài nào đề cập đến thực trạng ứng dụng Koha của các cơ quan thông tin thư viện trên địa bàn Hà Nội Xem xét việc quy trình triển khai, các yếu tố tác động cũng như đánh giá phần mềm từ người dùng tin và các chuyên gia… thì chưa c một công tình nào được nghiên cứu cả về phạm vi không gian, thời gian cũng như nội dung Vì vậy đề tài “Ứng dụng phần mềm Koha tại một số trung tâm thông tin thư viện trên địa bàn Hà Nội” là vấn đề nghiên cứu hoàn toàn mới không trùng với bất cứ đề tài nào trước đ
3 Đối tượng nghiên cứu & phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Phần mềm Koha và việc ứng dụng phần mềm này tại một số trung tâm thông
tin- thư viện trên địa bàn Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên địa bàn Hà Nội, c nhiều trung tâm thông tin - thư viện đã ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở Koha, tuy nhiên do hạn chế về thời gian và trong khuôn khổ một luận văn nên tôi tập trung nghiên cứu, khảo sát và phân tích quá trình ứng dụng PM Koha tại 3 đơn vị (gọi chung là Trung tâm Thông tin – Thư viện) c thời gian sử dụng dài nhất và tương đồng nhau về thời gian triển khai, đại diện cho các đơn vị đào tạo các ngành và chuyên ngành khoa học khác nhau trên địa bàn Hà Nội như:
- Trung tâm Học liệu trường Đại học Ngoại ngữ (ĐHNN) – Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN)
- Thư viện trường Đại học Thăng Long
- Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Tài chính Ngân hàng Hà Nội
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả xác định c những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu lý luận về việc ứng dụng phần mềm trong hoạt động TT-TV
n i chung và Koha n i riêng;
Trang 22- Nghiên cứu thực trạng ứng dụng PM mã nguồn mở Koha và các yếu tố tác động tới việc triển khai ứng dụng phần mềm này tại một số thư viện trên địa bàn Hà Nội Đồng thời đưa ra những nhận xét, đánh giá về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện phần mềm Koha, đẩy mạnh quá trình ứng dụng c hiệu quả PM này trong hoạt động của các cơ quan thông tin-thư viện đại học ở Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoạt động TTTV khi ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin đảm bảo các nguyên tắc khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể và thực tiễn
4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Đề tài dự kiến áp dụng các Phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu/tư liệu
- Phương pháp so sánh các thông tin/số liệu, dữ liệu, tư liệu thu thập được
Cụ thể là đánh giá 03 cơ sở đã triển khai nghiên cứu tìm ra những kh khăn, thuận lợi, kinh nghiệm để c giải pháp phù hợp
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi cho khoảng 30 cán bộ/chuyên gia và
300 người dùng tin là cán bộ giảng dạy và người học các ngành khác nhau, các hệ đào tạo khác nhau của cả 3 trường triển khai nghiên cứu tại ba cơ quan TT-TV đang ứng dụng PM koha
- Phương pháp quan sát, điều tra thực tiễn
- Phương pháp phỏng vấn, trao đổi với các cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ trực tiếp quản trị phần mềm Koha trong hoạt động nghiệp vụ
- Phương pháp thống kê số liệu
6 Giả thuyết nghiên cứu
Ngày nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của sự phát triển CNTT & truyền thông, việc ứng dụng các phần mềm tích hợp (đặc biệt là phần mềm mã nguồn mở
Trang 23n i chung và phần mềm Koha n i riêng) vào hoạt động TT-TV là vấn đề cấp thiết Vậy, tại sao một số một số trung tâm thông tin-thư viện trên địa bàn Hà Nội n i riêng và cả nước n i chung đã ứng dụng PM Koha nhưng hiệu quả hoạt động vẫn chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra cả về chiều sâu của mọi hoạt động nghiệp vụ và diện ứng dụng? Phải chăng không chỉ do “lỗi” của phần mềm mà là do nhận thức và sự hiểu biết của lãnh đạo và các chuyên gia về phần mềm Koha còn hạn chế?; Việc tổ chức quy trình ứng dụng chưa phù hợp? Chính sách đầu tư của các cơ quan thông tin, thư viện chưa thích đáng? Nguồn lực thông tin/tài liệu số còn hạn chế; Việc trang bị cơ sở vật chất, hạ tầng CNTT chưa được triển khai đủ mạnh
& áp dụng chưa đồng bộ Trình độ chuyên môn đặc biệt là trình độ CNTT của cán
bộ chưa đáp ứng yêu cầu của phần mềm; Năng lực thông tin của Người dùng tin còn hạn chế; Việc tổ chức khai thác tối các ưu tính năng của phần mềm, chia sẻ nguồn lực thông tin chưa được tận dụng triển khai triệt để ; Sự hỗ trợ của công ty tư vấn chưa hiệu quả… Đ là các giả thuyết đặt ra mà kết quả nghiên cứu của luận văn cần c lời giải để nâng cao hiệu quả việc ứng dụng phần mềm KOHA trong hoạt động TT-TV ở Hà Nội n i riêng và ở Việt Nam noí chung
7 Cấu trúc của luận văn (Nội dung chính của từng chương)
Luận văn dự kiến c độ dài khoảng 100 trang khổ giấy A4, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia thành 3 chương
Chương 1: Trung tâm thông tin-thư viện của các trường đại học ở Hà Nội với phần mềm Koha
Chương 2: Thực trạng ứng dụng phần mềm Koha tại trung tâm thông tin- thư viện của các trường đại học ở Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng phần mềm Koha tại trung tâm thông tin- thư viện của các trường đại học ở Hà Nội
Trang 24CHƯƠNG 1: TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN CỦA CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI VỚI PHẦN MỀM KOHA 1.1 Một số các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm phần mềm thư viện
C thể n i, việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện nay đã và đang làm thay đổi diện mạo của mọi ngành nghề, lĩnh vực của đời sống xã hội Trong lĩnh vực thông tin – thư viện, bước đột phá đáng kể đ là việc áp dụng các phần mềm quản
lý thư viện (PMTV) trong quy trình chuyên môn nghiệp vụ
Phần mềm thư viện được phát triển và áp dụng đầu tiên trên thế giới vào khoảng cuối thể kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX (1970-1980) Ở Việt Nam, phần mềm thư viện thực sự nhận được sự quan tâm và ứng dụng của những người làm công tác thông tin thư viện trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây Vậy, PMTV c nghĩa là gì?
PMTV là phần mềm được phát triển nhằm mục đích hỗ trợ quản lý các nội dung trong quy trình của thư viện bao gồm: quản lý các nguồn tài nguyên của thư viện, quản lý người dùng và các giao dịch lưu thông trong thư viện PMTV cung cấp cho nhân viên thư viện một công cụ làm việc khoa học, nhanh ch ng và thuận tiện từ khâu bổ sung, biên mục, đến việc phục vụ người dùng tin…; Cung cấp cho bạn đọc giao diện tìm kiếm dễ dàng, linh hoạt không giới hạn về mặt không gian và thời gian
Về mặt kỹ thuật công nghệ, PMTV là một bộ dữ liệu và các mã lập trình được sử dụng để phát triển các chương trình phần mềm và các ứng dụng cho hoạt động nghiệp vụ thông tin- thư viện (theo https://www.techopedia.com/definition/ 3828/software-library)
Về mặt nghiệp vụ, Phần mềm thư viện thực chất là một qui trình nghiệp vụ thông tin - thư viện đã được tin học hoá ở mức độ tự động nhằm giúp cho các hoạt động nghiệp vụ trở nên thân thiện, nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả Hay n i một
cách khác: PMTV là mô phỏng quá trình nghiệp vụ thông tin - thư viện của một thư viện truyền thống nhưng đã được nâng lên mức độ tự động h a nhờ ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin & truyền thông
Trang 251.1.2 Khái niệm phần mềm mã nguồn mở
Phần mềm nguồn mở là phần mềm với mã nguồn được công bố và sử dụng
một giấy phép nguồn mở Giấy phép này cho phép bất cứ ai cũng c thể nghiên cứu, thay đổi và cải tiến phần mềm và phân phối phần mềm ở dạng chưa thay đổi hoặc
- Giảm lệ thuộc vào các PM nguồn đ ng và các nhà cung cấp
1.1.3 Khái niệm phần mềm quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở
Tích hợp được hiểu là việc kết nối, gắn kết các thành phần riêng lẻ lại với nhau thành một thể thống nhất, tương tác và hỗ trợ lẫn nhau nhằm thực hiện một mục đích nào đ Ví dụ như phần mềm tích hợp ứng dụng trong doanh nghiệp nhằm
hỗ trợ quản lý, liên kết và chia sẻ tài nguyên, thông tin giữa các phòng ban, bộ phận
trên một hệ thống chung
Phần mềm quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở là phần mềm thư viện c giấy phép mã nguồn mở, được xây dựng bởi cộng đồng những người lập trình viên, những cán bộ thư viện và cả những người yêu thích thư viện trên thế giới;giúp thư viện tin học hoá các quy trình chuyên môn nghiệp vụ dựa trên việc tích hợp các phân hệ chức năng bao gồm: phân hệ bổ sung, phân hệ biên mục, phân hệ bạn đọc, phân hệ lưu thông, phân hệ quản lý ấn phẩm định kỳ, phân hệ báo cáo thống kê và quản trị hệ thống
1.2 Các tiêu chí đánh giá và lựa chọn phần mềm thư viện
Trong bài viết “Các tiêu chí đánh giá và lựa chọn phần mềm cho thư viện điện tử ở Việt Nam”, đăng trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu, số tháng 02/2005 [9] ;
Trang 26TS Tạ Bá Hưng cùng các tác giả KS Nguyễn Điển và KS Nguyễn Thắng đã chỉ ra khá đầy đủ 3 nh m tiêu chí đánh giá và lựa chọn PM cho thư viện điện tử bao gồm :
Nhóm tiêu chí về CNTT, nhóm tiêu chí về tiêu chuẩn nghiệp vụ thư viện và nhóm tiêu chí về các phân hệ chức năng Tuy nhiên, cùng với sự phát triển như vũ bão
của CNTT, vấn đề toàn cầu h a, đòi hỏi PM thư viện cũng phải c những bước phát triển, đột phá mới để đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của người dùng Do đ , ngoài các tiêu chí đánh giá PM mà các tác giả đã đưa ra trong bài viết trên, theo xu hướng phát triển chung của lĩnh vực thông tin-thư viện trên thế giới, trong luận văn này tác giả xin bổ sung và đưa ra các tiêu chí chính để đánh giá PM thư viện trong giai đoạn hiện nay bao gồm :
1.2.1 Đảm bảo nguyên tắc thiết kế mở
Để đảm bảo tính ổn định và phát triển bền vững, không chỉ đáp ứng các nhu cầu của thư viện trong giai đoạn hiện tại mà còn đảm bảo khả năng phát triển cùng với sự phát triển của hệ thống thư viện trong tương lai, phần mềm TV phải được thiết kế, xây dựng và vận hành theo các tiêu chuẩn công nghệ mở để đảm bảo khả năng mở rộng, nâng cấp, tuỳ chỉnh, bổ sung thêm các tính năng hay các phân hệ mới mà không gây ảnh hưởng tới hệ thống, cũng như đảm bảo kế thừa các thành quả đã đạt được
1.2.2 Tạo lập được mô hình quản lý và chia sẻ tài nguyên thông tin
Thực tế cho thấy rằng, việc tổ chức hoạt động thư viện hợp nhất giữa nhiều thư viện thành viên trong cùng một hệ thống vừa giúp thư viện giảm thiểu được nguồn nhân lực, giảm thiểu chi phí; mặt khác giúp tăng cường mức độ đáp ứng yêu cầu của người dùng thông qua nguồn tài nguyên dùng chung Tuy nhiên, để thực hiện được điều này, đòi hỏi PM thư viện vừa phải c khả năng tạo lập được mô hình quản lý nhiều thư viện thành viên, vừa đáp ứng khả năngliên kết chia sẻ nguồn tài nguyên giữa các thư viện
Hiện nay, vấn đề xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung nhằm liên kết chia sẻ nguồn tài nguyên đã và đang là xu thế phát triển của ngành thư viện trên thế giới n i chung và ở Việt Nam n i riêng Do đ , một phần mềm quản trị thư viện
Trang 27hiện đại đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế thì phải đảm bảo c khả năng tạo lập được mô hình quản lý và chia sẻ tài nguyên với nhiều thư viện thành viên
1.2.3 Hỗ trợ đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về thư viện
Một PM thư viện chuẩn phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về thư viện bao gồm:
Hỗ trợ biên mục theo các chuẩn biên mục MARC21, NORMARC hoặc UNIMARC
Hỗ trợ các quy tắc biên mục: ISBD, AACR2, RDA
Hỗ trợ các khung phân loại như DDC, LC…
Trao đổi dữ liệu theo tiêu chuẩn ISO 2709
Khả năng tương tác với các hệ thống bên ngoài thông qua Z39.50
1.2.4 Tính tương thích với các chuẩn dữ liệu trong xử lý dữ liệu
C thể khẳng định rằng, tính tương thích đối với các định dạng dữ liệu chuẩn trong xử lý tài liệu là một trong những yếu tố không thể thiếu để đánh giá một phần mềm thư viện hiện đại Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin như hiện nay, ngày càng c nhiều các phần mềm thư viện được ra đời dựa trên những nền tảng lập trình khác nhau; giúp thư viện c thêm lựa chọn giải pháp PM phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan thông tin-thư viện của mình
Mạng lưới các cơ quan thông tin-thư viện Việt Nam đa dạng được phân chia theo nhiều loại hình khác nhau phục vụ cho các đối tượng người dùng tin khác nhau Cùng với đ là việc áp dụng các PM không đồng nhất giữa các cơ quan thông tin-thư viện trong cũng như ngoài hệ thống đã dẫn đến những kh khăn nhất định trong việc liên kết và khai thác dữ liệu Mặt khác, dựa trên nhu cầu, điều kiện của
cơ quan thông tin-thư viện cũng như xu hướng phát triển của mỗi giai đoạn c thể lựa chọn các PM thư viện tiên tiến hơn, hiện đại hơn để thay thế cho PM trước đ Một yêu cầu cần thiết phải đặt ra đối với PM TV đ là phải đảm bảo tính tương thích với các chuẩn dữ liệu trong xử lý dữ liệu mà cụ thể là phải hỗ trợ trích xuất dữ liệu từ hệ thống ra file theo chuẩn ISO2709 đảm bảo tương thích để chuyển đổi sang các phần mềm quản trị thư viện tích hợp khác và ngược lại
Trang 281.2.5 Hỗ trợ đa ngôn ngữ
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá như hiện nay, một trong những yếu tố
để áp dụng hiệu quả PM trên nhiều quốc gia, khu vực đòi hỏi PMTV phải đảm bảo
hỗ trợ đa ngôn ngữ Thực tế cho thấy, mỗi quốc gia c một ngôn ngữ riêng, sẽ rất
kh khăn cho người dùng nếu phần mềm chỉ hỗ trợ ngôn ngữ của quốc gia sản xuất
ra n Mặt khác, các đối tượng người dùng của thư viện không chỉ là những người của một quốc gia, mà là cả những du khách quốc tế hay những du học sinh đang theo học tại khu vực theo các chương trình liên kết Ngoài ra, việc đưa trang web thư viện lên internet làm rút ngắn ngoảng cách không gian giữa thư viện và người dùng, các trang web của cơ quan thông tin-thư viện hỗ trợ đa ngôn ngữ sẽ là công
cụ đặc biệt hữu hiệu giúp bạn bè quốc tế biết đến thư viện Từ đ yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp trong quá trình phát triển PM là cần đặc biệt chú trọng tới tính
đa ngôn ngữ của hệ thống
1.2.7 Tìm tin linh hoạt, trực tuyến
Công cụ tìm tin linh hoạt, trực tuyến (bao gồm cả hai phương thức tìm cơ
bản và nâng cao) là tiêu chí hết sức quan trọng
Suy cho cùng, mọi hoạt động nghiệp vụ thông tin-thư viện với mục đích cuối cùng là đáp ứng được tốt nhất các yêu cầu của người dùng Do đ , ngoài việc chú trọng phát triển nguồn tin đa dạng, chất lượng tốt, các cơ quan thông tin-thư viện cần phải c một công cụ hỗ trợ tìm kiếm linh hoạt, trực tuyến trên internet với nhiều phương thức tìm khác nhau giúp người dùng c thể nhanh ch ng, dễ dàng tìm kiếm được tài liệu theo yêu cầu Ngoài các chỉ mục tìm kiếm cơ bản như nhan đề, tác giả,
Trang 29chủ đề, năm xuất bản…của tài liệu thì hệ thống cần hỗ trợ đánh chỉ mục và thêm các trường dữ liệu khác dựa trên nhu cầu và đặc điểm của từng cơ quan, đơn vị
1.2.8 Bảo mật và an toàn dữ liệu
Bảo mật và an toàn dữ liệu không chỉ là vấn đề quan tâm của một trung tâm, một cơ quan đơn vị mà là của cả quốc gia Trong lĩnh vực thông tin-thư viện, nhất là khi các PM thư viện ngày càng được ứng dụng rộng rãi như hiện nay thì vấn đề bảo mật ngày càng được chú trọng Ngày nay, xuất phát từ tính khoa học và tiện ích của công nghệ thông tin, một số cơ quan thông tin-thư viện của khối các cơ quan ban ngành cũng lưu trữ thông tin, tài liệu mật của quốc gia trên các cơ sở dữ liệu của phần mềm Điều đ đặt ra một yêu cầu đối với các thư viện tiêu chuẩn là phải c các giải pháp kỹ thuật để đảm bảo tính bảo mật và an toàn cho các cơ sở dữ liệu thuộc sở hữu của cơ quan thông tin-thư viện
1.3 Xuất xứ và vai trò của phần mềm Koha
1.3.1 Xuất xứ và các tính năng nổi bật của phần mềm Koha
Koha là phần mềm quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở (PM QTTVTH
MNM) đầu tiên trên thế giới,ban đầu được xây dựng cho Thư viện Horowhenua
Library Trust (HLT), New Zealand vào năm 2000 [27] Tuy nhiên, do tính hữu ích của hệ thống, hiện Koha đã trở thành PM QTTVTH MNM được áp dụng rộng rãi nhất trên thế giới với khoảng 4500 cơ quan thông tin-thư viện đang sử dụng [28]
Koha được là PM c đầy đủ tính năng của một PM QTTVTH hiện đại, các tình năng của PM liên tục được cập nhật để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các
cơ quan thông tin thư viện Là PM c khả năng tuỳ biến một cách linh hoạt và mềm dẻo, thêm vào đ là sự đ ng g p phát triển và kiểm soát chất lượng của cộng đồng Koha trên toàn thế giới, PM Koha đang ngày càng hoàn thiện và trở thành giải pháp
PM thư viện chuẩn, một trong những lựa chọn hàng đầu của các cơ quan thông tin- thư viện ở Việt Nam n i riêng và trên thế giới n i chung Hiện các thông tin về Koha được cập nhật và kiểm soát bởi cộng đồng Koha trên thế giới thông qua website chính thức là www.koha-community.org
Một số đặc điểm nổi bật của Koha
- Về tiêu chuẩn kỹ thuật
Trang 30+ Koha hỗ trợ đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về định dạng trao đổi dữ liệu theo tiêu chuẩn ISO 2709, định dạng dữ liệu Web: HTML/XML, hỗ trợ khổ mẫu biên mục đọc máy MARC21/USMARC/UNIMARC,
+ Hệ thống hỗ trợ đầy đủ các tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu trên Internet như giao thức TCP/IP; chuẩn trao đổi thư điện tử SMTP (Simple Mail Transfer Protocol) và chuẩn trao đổi thư mở rộng MIME (Multipurpose Internet Mail Extension); tiêu chuẩn giao thức truyền siêu văn bản HTTP (Hypertext Transfer Protocol)
+ Hệ thống hỗ trợ các tiêu chuẩn giao tiếp và tương tác với hệ thống bên ngoài như định dạng thông tin thư mục, tiêu chuẩn ANSI/ISO Z39.50 - phiên bản
1995 (ISO 23950) hoặc phiên bản mới nhất cho cả máy chủ và máy khách
+ Koha hỗ trợ xử lý mã số mã vạch trong nhiều định dạng khác nhau, ví dụ: EAN-13 (International Article Numbering Association - EAN), SICI (Serial Item and Contribution Identifier Standard), hệ thống mã h a SISAC (Serials Industry Systems Advisory Committee), Codabar; c khả năng tích hợp với mã vạch đa chiều (QR Code); Hỗ trợ tiêu chuẩn SIP/SIP 2 (Standard Interchange Protocol) cho giao tiếp công nghệ RFID bao gồm cả cổng từ và các thiết bị kiểm soát an ninh khác
- Tính chuẩn quốc tế về thư viện: PM Koha tuân thủ 100% các tiêu chuẩn quốc tế về lĩnh vực thư viện; được thể hiện thông qua việc đáp ứng các tiêu chuẩn
về cú pháp biểu ghi MARC21/USMARC/UNIMARC; quy tắc mô tả AACR2, ISBD, khung phân loại DDC Ngoài ra, trong quá trình phát triển các phiên bản mới của Koha, các tiêu chuẩn mới về thư viện cũng luôn luôn được cập nhật, như RDA
- Tính cập nhật: Sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhân viên lập trình, các thư viện ứng dụng phần mềm và những người yêu thích thư viện đã tạo nên một cộng đồng phát triển Koha mạnh mẽ trên thế giới Chính vì vậy, mà các phiên bản hay tính năng mới của Koha liên tục được cập nhật, vừa đáp ứng nhu cầu ngày một khắt khe của thư viện về mặt tính hữu dụng; mặt khác từng bước bắt kịp với xu hướng phát triển thư viện trên thế giới
- Tính khả thi: Việc triển khai giải pháp PMQLTV mã nguồn mở được thực hiện khá đơn giản và linh hoạt Tùy theo điều kiện và nhu cầu của từng cơ quan,
Trang 31đơn vị mà c thể lựa chọn phương thức khác nhau Đối với các đơn vị c hệ thống máy chủ riêng, các cán bộ c thể tự cài đặt phần mềm Tuy nhiên, đối với một số các thư viện chưa được đầu tư hệ thống máy chủ thì c thể triển khai ứng dụng phần mềm bằng cách sử dụng máy chủ ảo của các nhà cung cấp Một số nhà cung cấp như VDC, Viettel hiện nay đã và đang triển khai rất nhiều g i dịch vụ hosting cho các cơ quan đơn vị với chi phí thấp, đây là điều kiện thuận lợi cho các thư viện c thể dễ dàng ứng dụng PMTV mã nguồn mở mà không cần trang bị máy chủ
Về chi phí triển khai, c thể khẳng định ràng việc ứng dụng PM Koha giúp thư viện giảm thiểu đáng kể chi phí, cụ thể là thư viện không phải trả khoản phí bản quyền mua phần mềm mà chỉ cần phải chi trả cho các dịch vụ triển khai khác như: phí dịch vụ triển khai, phí dịch vụ bảo trì phần mềm hàng năm và dịch vụ nâng cấp
hệ thống Đối với các thư viện không c điều kiện về kinh phí, mặt khác c nguồn nhân lực công nghệ thông tin tốt thì hoàn toàn c thể tự tải bộ phần mềm Koha từ cộng đồng để nghiên cứu, cài đặt và sử dụng
- Tính dễ tuỳ biến và tuỳ chỉnh: Một trong những hạn chế của PM thương mại nhưng lại là điểm mạnh của Koha chính là tính linh hoạt trong việc tùy biến, chỉnh sửa giao diện OPAC Với PM thương mại, thư viện bị phụ thuộc vào các tính năng đã được thiết lập sẵn và giao diện OPAC được cung cấp bởi nhà sản xuất từ màu sắc, bố cục đến thông tin hiển thị Ngược lại, Koha c khả năng dễ dàng tuỳ biến thêm các tính năng mới theo yêu cầu, đ ng g p của Thư viện Đối với giao diện OPAC, PM cho phép thư viện thay đổi logo, banner; tuỳ chỉnh kết cấu, bố cục, thông tin hiển thị, tùy chỉnh màu nền; màu sắc, kích cỡ font chữ…
- Tính linh hoạt, mềm dẻo: Phân hệ Lưu thông của Koha cho phép cán bộ thư viện c thể quản lý và xử lý được tất cả các tình huống trong quá trình lưu thông tài liệu Khi ghi mượn tài liệu cho bạn đọc, hệ thống sẽ tự động hiển thị thông báo nếu như bạn đọc hay tài liệu này c vấn đề cần được xác minh giúp cán bộ thư viện
dễ dàng kiểm soát tình trạng của người dùng Koha cung cấp tính năng đặt mượn offline trên Firefox, tính năng lưu thông offline này được sử dụng trong trường hợp máy chủ hay đường truyền mạng của thư viện gặp sự cố
Trang 32Ngoài ra, Koha còn cung cấp một phân hệ báo cáo thống kê mềm dẻo và linh hoạt Thư viện c thể tự tạo và xác định nội dung báo cáo là bất cứ vấn đề gì liên quan đến quy trình thư viện như ngân sách, bổ sung, bạn đọc hay tài liệu Hệ thống hỗ trợ lập lịch chạy báo cáo tự động mà không cần sự can thiệp của cán bộ quản trị hay các nhà cung cấp dịch vụ về PM
1.3.2 Vai trò của phần mềm Koha
1.3.2.1 Giúp thư viện lưu giữ khối lượng lớn tài nguyên thông tin
Trong xã hội thông tin như hiện nay, c thể n i thông tin là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của mỗi con người, mỗi quốc gia và mỗi dân tộc Lợi thế sẽ thuộc về những người, những quốc gia, những dân tộc sở hữu nguồn tài nguyên thông tin lớn, c giá trị cao Tuy nhiên, tài nguyên thông tin mỗi ngày lại gia tăng một cách nhanh ch ng theo cấp số nhân Vậy làm thế nào để c thể lưu trữ khối lượng tài nguyên thông tin lớn trên hệ thống đồng nhất, đảm bảo một cách khoa học và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tiện ích tra cứu cho người sử dụng
là vấn đề mà những người làm công tác quản lý tài nguyên thông tin và những người làm công tác thông tin thư việc đặt sự quan tâm lên hàng đầu
Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, các vật mang tin hiện đại cũng được ra đời và ngày càng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu lưu trữ thông tin của con người Ngoài các vật mang tin truyền thống như gỗ, đá, giấy, ảnh… ngày nay xuất hiện nhiều vật mang tin hiện đại như vi phim, vi phiếu, các đĩa
CD, ổ cứng, các thẻ nhớ, bộ nhớ trên điện thoại di động và máy tính, hay việc lưu trữ trên các máy chủ ảo… được ứng dụng ngày các phổ biến C thể khẳng định rằng, ngày nay các vật mang tin hiện đại chiếm ưu thế hơn so với các vật mang tin truyền thống, chính là do tính tiện lợi của chúng đã giúp con người tiết kiệm được
cả về thời gian và không gian trong các hoạt động công việc của mình
Trong hoạt động thông tin-thư viện, phần mềm thư viện đ ng vai trò vô cùng
to lớn trong việc lưu trữ các nguồn tài nguyên thông tin, bao gồm cả các dữ liệu thư mục cũng như các tài liệu toàn văn Nếu như việc lưu trữ trên các kho vật lý phải c
sự qua tâm đặc biệt về mặt không gian và bảo quản tài liệu khỏi mối mọt, hoả hoạn…thì việc lưu trữ các nguồn tài nguyên trên phần mềm giúp thư viện hạn chế
Trang 33đáng kể về diện tích lưu trữ, mặt khác dễ dàng hơn cho việc bảo quản cũng như khai thác nguồn tin Với sự bùng nổ về thông tin, đứng trước nhu cầu cần c các công cụ lưu trữ nguồn tài nguyên lớn của các cơ quan thông tin thư viện, hiện này các đơn vị phần mềm, các nhà lập trình viên ngày càng hoàn thiện hơn các giải pháp phần mềm của mình, đặc biệt là cho ra đời các phiên ban phần mềm mới cho phép lưu trữ tài nguyên với số lượng lớn Cụ thể, c những phần mềm thư viện hiện nay cho phép lưu trữ tới con số hàng triệu biểu ghi như phần mềm quả trị thư viện tích hợp như Virtua, Millennium, Sierra (thế hệ tiếp theo của phần mềm Millennium), Koha, Aleph… Trong số đ , nếu như Vitua, Millennium, Sierra hay Aleph được biết đến
là các phần mềm bản quyền được phát triển bởi các công ty phần mềm thư viện hàng đầu thế giới, thì Koha lại là phần mềm quản lý thư viện đáp ứng rất tốt các vấn
đề về mặt lưu trữ Với kiến trúc mở, cơ sở dữ liệu của Koha cho phép người dùng lưu trữ một số lượng lớn các biểu ghi Trên thế giới, đơn vị sử dụng Koha tiêu biểu với số lượng biểu ghi lớn phải kể tới hệ thống thư viện công cộng Thổ Nhĩ Kỳ thuộc Bộ Văn hoá – Du lịch Thổ Nhĩ Kỳ Một dự án đã được thực hiện cho thư viện vào năm 2012 với 1112 chi nhánh thư viện, hơn 800 nghìn người sử dụng và lên tới khoảng hơn 8 triệu biểu ghi
1.3.2.2 Tự động hóa hoạt động nghiệp vụ
C thể n i rằng, công nghệ thông tin, máy m c thiết bị hiện đại…hiện nay đã
và đang làm thay đổi diện mạo của mọi lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội, nhất là trong lĩnh vực lao động sản xuất Nếu như trước kia, đa phần các hoạt động đều phải dựa vào sức lao động của con người, thì hiện nay hầu hết các quy trình công việc đã được tự động hoá giúp giảm thiểu sức lao động, mặt khác đảm bảo các quy trình, sản phẩm được chính xác, tăng hiệu suất lao động Trong hoạt động thông tin – thư viện, việc ứng dụng công nghệ thông tin n i chung và các phần mềm thư viện n i riêng sẽ giúp Thư viện c thể tự động hoá các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của mình với độ chính xác, khoa học cao, giảm hao phí sức lao động cho cán bộ thư viện
Về mặt nghiệp vụ, Koha được xây dựng trên các khung chuẩn chung của thư viện thế giới và đảm bảo khả năng tương thích với các hệ thống khác một cách dễ
Trang 34dàng Koha tự động h a hoàn toàn các chức năng và quy trình nghiệp vụ trong thư viện tương ứng với các phân hệ: Bổ sung, biên mục, ấn phẩm định kỳ, opac, lưu thông, và đặc biệt là phân hệ báo cáo thống kê Các quy trình nghiệp vụ này được kiểm soát một cách chặt chẽ, tạo nên sự tích hợp logic giữa các chức năng Trong đ , mỗi phân hệ c thể tái sử dụng các thông tin, dữ liệu c liên quan từ Koha giúp giảm
thiểu các công việc trùng lặp, tái sử dụng kết quả của các bộ phận khác c liên quan 1.3.2.3 Xây dựng và kiểm soát nguồn tin chuẩn
Xây dựng và kiểm soát nguồn tin là một trong những vai trò quan trọng của quy trình hoạt động nghiệp vụ thư viện, giúp các thư viện và trung tâm thông tin quản lý tài liệu một cách đầy đủ, khoa học và chính xác, mặt khác hỗ trợ hoạt động chia sẻ thông tin được thực hiện nhanh ch ng và dễ dàng
Việt Nam hiện nay đang phát triển trên con đường hội nhập với thế giới, cũng giống như mọi lĩnh vực khác; các sản phẩm của ngành thông tin thư viện cũng đòi hỏi phải được chuẩn h a để c thể trao đổi và chia sẻ nguồn lực thông tin trên phạm vi toàn cầu Để thực hiện được điều đ , những người làm trong công tác thông tin thư viện cần triển khai, áp dụng các chuẩn trong xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin, đặc biệt là 3 vấn đề chuẩn về DDC, MARC 21 và AACR2
Koha được xây dựng dựa trên các chuẩn chung của hệ thống thư viện thế giới nên đảm bảo khả năng tương tác, tương thích giữa koha và các hệ thống khác một cách dễ dàng Koha tự động h a hoàn toàn các chức năng và quy trình nghiệp
vụ trong thư viện Với khả năng đáp ứng các chuẩn về khổ mẫu biên mục đọc máy MARC 21, hỗ trợ khung phân loại DDC, quy tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2; c thể nhận định rằng Koha là công cụ hiệu quả để xây dựng các cơ sở dữ liệu thư mục và kiểm soát chất lượng các biểu ghi theo chuẩn thư viện quốc tế Ngoài ra, Koha cung cấp tính năng tìm kiếm tài liệu qua cổng Z39.50 cho phép cán bộ thư viện c thể tham khảo các biểu ghi chuẩn trên các hệ thống cơ sở dữ liệu từ các thư viện khác, cũng như việc tái sử dụng các biểu ghi tiêu chuẩn trong quá trình biên mục nhằm giảm thiểu thời gian biên mục
1.3.2.4 Khả năng tương tác với các phần mềm thư viện tiêu chuẩn một cách linh
hoạt và dễ dàng
Trang 35Là một hệ quản trị thư viện tích hợp c đầy đủ các tính năng của phần mểm thư viện hiện đại, Koha c khả năng tương tác với các phần mềm thư viện tiêu chuẩn linh hoạt và dễ dàng Điều đ được thể hiện rõ thông qua các yếu tố sau:
Một là, chất lượng của công tác biên mục: C thể khẳng định rằng, công tác biên mục là yếu tố quyết định chất lượng CSDL thư mục và khả năng liên kết chia
sẻ thông tin Phân hệ Biên mục của Koha đáp ứng khắt khe các tiêu chuẩn như MARC21, AACR2 và DDC, cung cấp công cụ để xây dựng và kiểm soát chất lượng
mô tả biểu ghi, bao gồm:
Cung cấp các khung mẫu biên mục để sử dụng cho nhiều loại hình tài liệu khác nhau như sách in, tài liệu điện tử, ấn phẩm định kỳ…
Cung cấp khả năng tự xây dựng form mẫu biên mục theo nhu cầu sử dụng của thư viện
Hoạt động theo mô hình từ điển tham chiếu, cho phép gắn kết các văn bản
c liên quan hoặc đính kèm các file ảnh bìa tài liệu
Hai là, Koha hỗ trợ nhập, xuất tài liệu theo lô với tệp tin theo chuẩn ISO
2709 Đây là một trong những yếu quan trọng giúp việc xuất/ nhập hay chuyển đổi
cơ sở dữ liệu giữa các phần mềm thư viện được thực hiện một cách nhanh ch ng và chính xác
Ba là, Koha hỗ trợ khả năng tìm kiếm và tái sử dụng các biểu ghi thư mục của các cơ sở dữ liệu từ xa qua cổng Z39.50 Từ đ , trong quá trình biên mục, cán
bộ thư viện c thể tham khảo hoặc sử dụng các biểu ghi sẵn c từ các cơ sở dữ liệu khác, rút ngắn thời gian và công sức biên mục cũng như quá trình xử lý tài liệu
1.3.2.5 Hỗ trợ các sản phẩm và dịch vụ thư viện hiện đại không giới hạn về không
gian và thời gian
C thể khẳng định rằng, Internet là công cụ tiện lợi nhất để truyền tải một số lượng thông tin lớn với tốc độ nhanh đến hàng triệu người trên toàn thế giới Chỉ cần một cái máy tính được kết nối Internet, mọi người đều giống như c trong tay mình một quyển bách khoa toàn thư, c thể tìm kiếm những thông tin mà mình cần Cũng chính vì lý do đ , để người dùng c thể nhanh ch ng và dễ dàng tiếp cận
Trang 36được kho tàng tri thức, thì các thư viện hiện nay đã và đang liên tục cập nhật nguồn tài nguyên của mình trên internet để người dùng c thể dễ dàng truy cập và sử dụng
Koha hỗ trợ trích xuất các sản phẩm thông tin một cách nhanh ch ng, đầy đủ
và chính xác bao gồm: danh mục tài liệu của thư viện, các danh mục tài liệu theo chuyên đề, thông báo sách mới Đối với các dịch vụ thư viện hiện đại, Koha hỗ trợ dịch vụ tìm tim trực tuyến, dịch vụ cung cấp thông tin theo chuyên đề, dịch vụ mượn liên thư viện… Người dùng c thể sử dụng các dịch vụ của thư viện tại bất kỳ thời điểm nào, bất cứ nơi đâu mà không bị giới hạn về thời gian và không gian, chỉ cần c một chiếc máy tính hoặc điện thoại thông minh c kết nối mạng internet
1.3.2.6 Tăng cường năng lực phục vụ của thư viện
Kết quả của quá trình xây dựng và cập nhật nguồn tin trên internet đã tạo ra môi trường khai thác thông tin thuận lợi cho người dùng Bằng cách truy cập vào trang Opac của thư viện, bạn đọc c thể nhanh ch ng và dễ dàng tìm kiếm chính xác các tài liệu mà mình cần
Mặt khác, phần mềm Koha hỗ trợ tích hợp với các thiết bị RFID, công nghệ
mã vạch giúp cán bộ thư viện c thể thực hiện các giao dịch lưu thông một cách nhanh ch ng mà không cần phải thực hiện quá nhiều thao tác Ngoài ra, hệ thống còn hỗ trợ đối với các thiết bị mượn trả tự động Đối với các thư viện mở, sau khi tìm được tài liệu mình cần, người dùng hoàn toàn c thể tự chủ động thực hiện các thao tác ghi mượn, ghi trả tài liệu trên hệ thống mà không cần sự trợ giúp của cán
bộ thư viện
1.3.2.7 Không giới hạn số lượng người dùng tin tương tác với thư viện cùng lúc
Được xây dựng trên nền tảng kỹ thuật tiêu chuẩn và ổn định, Koha hỗ trợ số lượng lớn người dùng truy cập sử dụng thư viện đồng thời mà không c bất kỳ ảnh hưởng hay vấn đề gì xảy ra đối với hệ thống Điều đ giup người dùng cảm thấy hài lòng hơn với dịch vụ của thư viện, mặt khác thu hút lượng người dùng sử dụng thư viện nhiều hơn Đ cũng là mộ trong những điểm mạnh của phần mềm Koha so với các phần mềm khác
Trang 371.4 Khái quát về các trung tâm thông tin-thư viện đại học ở Hà Nội đã ứng dụng phần mềm Koha
Được xây dựng dựa trên nền tảng kỹ thuật ổn định, cùng với sự đ ng g p của cộng đồng công nghệ thông tin, cộng đồng thông tin-thư viện cũng như những người yêu thích thông tin-thư viện trên toàn thế giới Do đ Koha nhận được sự quan tâm và tin tưởng của đông đảo người dùng trên mọi quốc gia, khu vực Theo thống kê, hiện trên thế giới c khoảng gần 4500 cơ quan thông tin-thư viện đã và đang áp dụng Koha, trong đ c khoảng 600 trung tâm TTTV của các trường đại học (Đại học) [25] (chỉ thống kê các đơn vị sử dụng Koha đã chính thức đăng ký với cộng đồng) Ở Việt Nam, số lượng các cơ quan thông tin- thư viện áp dụng Koha ngày càng được mở rộng Một số trung tâm thông tin-thư viện ứng dụng PM Koha phải kể đến Thư viện Quốc hội Việt Nam, Thư viện Cục Tài chính Bộ Quốc Phòng, Thư viện Trường ĐH Y tế Kỹ thuật Hải Dương, Thư viện trường Cao đẳng Kinh tế Kế hoạch Đà Nẵng… Đối với TV khối trường ĐH ở Hà Nội, tiêu biểu trong
số đ phải kể đến Trung tâm Thông tin tư liệu trường ĐH NN, ĐHQGHN, Thư viện trường ĐH Thăng Long, Trung tâm TT-TV Trường ĐH Tài chính Ngân hàng…
Với vai trò là giảng đường thứ hai của sinh viên, là nơi cung cấp các tài liệu
c chọn lọc cho việc học tập và nghiên cứu của sinh viên cũng như đội ngũ cán bộ giảng viên… của nhà trường, Trung tâm thông tin tư liệu trường ĐHNN, ĐHQGHN, TV ĐH Thăng Long và TV ĐH Tài chính Ngân hàng đã không ngừng phát triển nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn các yêu cầu của người dùng, g p phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường Một trong những hoạt động tiêu biểu minh chứng cho điều đ là việc ứng dụng phần mềm Koha để tăng cường năng suất chất lượng hiệu quả hoạt động của các cơ quan thông tin - thư viện
1.4.1 Lịch sử ra đời, phát triển và chức năng, nhiệm vụ
a) Trung tâm Thông tin-Thư viện Trường Đại học Thăng Long
Lịch sử hình thành và phát triển của TT TT-TV gắn liền với sự ra đời và
phát triển của trường ĐH Thăng Long “Được thành lập tháng 10 năm 2000, TT
TT-TV trường ĐH Thăng Long - giảng đường thứ hai của sinh viên được xem là trung tâm thông tin, văn h a của Nhà trường, nơi cung cấp nguồn thông tin c chọn
Trang 38lọc, đã và đang không ngừng đầu tư đổi mới, phát triển để đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập, nghiên cứu, giảng dạy của sinh viên, học viên cũng như giảng viên, cán bộ nhà trường Trong nhiều năm liền Thư viện hoạt động với điều kiện kh khăn, thiểu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, sách, báo, tài liệu Phòng đọc chỉ c 70 chỗ
ngồi, tài liệu phải di chuyển nhiều nơi Năm 2008, trường ĐH Thăng Long chuyển
sang địa điểm mới, trường đã ưu tiên xây dựng Thư viện đầu tiên là một tòa nhà 4 tầng với tổng diện tích sàn 3200m2, c vị thế và khuôn viên đẹp và đổi tên phòng
thành Phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện Tháng 9 năm 2009, để đáp ứng với yêu
cầu sự nghiệp đổi mới của một trường ĐH đa ngành, Thư viện tiếp tục được sự quan tâm của Hội đồng quản trị, đầu tư kinh phí lắp đặt trang thiết bị nội thất, mua
phần mềm và bổ sung thêm hàng ngàn đầu sách, tài liệu Năm 2010, Thư viện tiến
hành xây dựng thư viện điện tử Ngoài việc bổ sung sách báo, tài liệu hàng kỳ, hàng năm, Thư viện còn xây dựng ngân hàng tài liệu điện tử bằng cách số h a tài liệu cũng như tìm kiếm các nguồn ebook khác để kịp thời đáp ứng nhu cầu của người
dùng Năm 2012, được sự quan tâm của Hội đồng quản trị và Ban Giám hiệu nhà
trường, diện mạo của Thư viện được hoàn toàn thay đổi, đã c một bước chuyển dài
từ truyền thống, thủ công đến hiện đại h a Đến nay c thể n i Thư viện ĐH Thăng Long là một trong những thư viện đẹp và hiện đại trong hệ thống thư viện các
trường ĐH Việt Nam Với mong muốn mang lại môi trường học tập chất lượng cao
cho sinh viên cùng với những lợi thế ưu việt về thiết kế, tháng 2/2012 nhà trường đã đưa vào sử dụng thêm 5 phòng tự học nằm tại sảnh cong của khu nhà 7 tầng và 9 tầng, với nhiều phong cách khác nhau vừa sang trọng, hiện đại lại vừa trẻ trung, ấm cúng Tháng 9/2013 nhà trường đã đưa vào sử dụng thêm 5 phòng máy tự học được cài đặt các phần mềm tự học tiếng Anh tại sảnh của khu nhà B khu 7 tầng và 3 phòng hội thảo tại sảnh nhà A khu 9 tầng Hệ thống phòng tự học đã g p phần không nhỏ trong việc hỗ trợ cho sinh viên nâng cao khả năng tự học, thúc đẩy tinh thần chủ động, tự giác trong học tập của phần lớn sinh viên, học viên nhà trường và
là nơi giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm trong cuộc sống của các bạn trẻ
Trung tâm TT-TV c chức năng: Đảm bảo việc thu thập, lưu trữ và phổ biến, cung cấp thông tin, hỗ trợ khai thác nguồn thông tin phục vụ cho giảng dạy và
Trang 39nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên nhà trường, cũng
như các bạn đọc bên ngoài c quan tâm Xây dựng thư viện điện tử là ngân hàng tài
liệu đáng tin cậy để cập nhật nhanh nhất, tốt nhất, tra cứu tìm kiếm thông tin
Trung tâm TT-TV c nhiệm vụ: Tạo không gian học tập và môi trường tự
học và tự nghiên cứu, kích thích sự chủ động của người học Tư vấn và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện cho người dùng tin Phục vụ các nguồn
tài liệu trong nước và ngoài nước Số h a các công trình nghiên cứu khoa học, luận
văn thạc sỹ, khoá luận để sinh viên tham khảo Hướng dẫn người đọc cách tìm
kiếm, sử dụng và khai thác các nguồn thông tin,sử dụng hiệu quả nguồn tài liệu, ngân hàng tài liệu điện tử và các hệ thống phòng tự học, tự học Tiếng Anh, phòng hội thảo Phương thức phục vụ: Dùng hệ điều hành mã nguồn mở và các phần mềm
mã nguồn mở để quản lý cơ sở dữ liệu Kho sách và kho báo, tạp chí phục vụ theo
phương thức mở, bạn đọc c thể tiếp cận trực tiếp với vốn tài liệu và nguồn lực
thông tin của thư viện”
b) Trung tâm Thông tin-Thư viện Trường Đại học Tài chính – Ngân hàng Hà Nội
Trường ĐH Tài chính – Ngân hàng Hà Nội được thành lập năm 2010
“Trường ĐH Tài chính – Ngân hàng Hà Nội đã chính thức đi vào hoạt động với sứ
mệnh của một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực tài chính – ngân hàng c chất lượng cao theo hướng Chuyên ngành – Đa cấp – Liên thông- Hội nhập…theo quy chế trường ĐH tư thục, được thành lập theo Quyết định số 2336/2010/QĐ-TTg
ngày 21 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ Trường ĐH Tài chính-Ngân
hàng Hà Nội đã chính thức đi vào hoạt động với sứ mệnh của một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực tài chính – ngân hàng c chất lượng cao theo hướng Chuyên ngành – Đa cấp – Liên thông- Hội nhập và nghiên cứu khoa học kinh tế – tài chính phục
vụ sự phát triển của đất nước” Hiện này Nhà trường đang đào tạo 10 ngành bậc cử nhân chính quy: Tài chính – Ngân hàng; Kế toán; Kiểm toán; Quản trị Kinh doanh; Kinh doanh Thương mại; Tài chính doanh nghiêp, Ngân hàng, Kế toán, Kiểm toán,
Quản trị kinh doanh Hai ngành đào tạo cao đẳng là Tài chính – Ngân hàng và Kế
toán
Trang 40Ra đời cùng với thời điểm Nhà trường được thành lập, Trung tâm TT-TV của Trường c chức năng, nhiệm vụ như sau:
Cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ của nhà trường
Xây dựng đề án phát triển Trung tâm Thông tin -Thư viện theo hướng hiện đại, kết hợp giữa thư viện truyền thống với thư viện điện tử; hướng tới xây dựng thư viện số
Quản lý, bổ sung và cung cấp các nguồn thông tin, tư liệu khoa học và công nghệ trong và ngoài nước thuộc các lĩnh vực hoạt động của trường
Thu thập và bảo quản sách, tạp chí, băng, đĩa, các luận án đã bảo vệ tại trường, các ấn phẩm của trường và các tài liệu lưu trữ khác
Xử lý, phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu, nguồn tin để tạo ra sản phẩm thông tin phong phú nhằm phục vụ người sử dụng thông tin
Hướng dẫn và quản lý công tác quyền sở hữu trí tuệ của trường;
Tổ chức các dịch vụ và sản phẩm thông tin thích hợp nhằm thu hút và phục vụ người dùng tin;
Thiết kế và quản trị trang web của Trường; phối hợp với các tổ chức, đơn
vị trong và ngoài trường để xây dựng nội dung và cập nhật thông tin cho website
c) Trung tâm Thông tin tư liệu trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm Thông tin tư liệu trường ĐH Ngoai ngữ trực thuộc phòng Khoa học - Công nghệ, trường ĐHNN - ĐHQGHN được thành lập năm 2009 trên cơ sở sáp nhập Thư viện khoa Ngoại ngữ & văn h a Pháp và các phòng đọc khoa Sư phạm tiếng Anh, khoa Ngoại ngữ và văn h a Trung Quốc, khoa Ngoại ngữ và văn
h a Nga, khoa Ngoại ngữ và Văn h a Phương Đông, khoa Ngoại ngữ và Văn h a phương Tây, khoa Sau ĐH
Trung tâm c chức năng, nhiệm vụ như sau:
Trung tâm c chức năng quản lý, tổ chức xây dựng hệ thống học liệu phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, phục vụ nhu cầu tự học, tự