1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của r tagore

118 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn này sẽ ―góp phần‖ tìm ra một câu trả lời tương đối thỏa đáng thông qua đề tài nghiên cứu về Tư tưởng Dân tộc chủ nghĩa của Rabindranath Tagore nghiên cứu những luận điểm cơ bản

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Đỗ Thu Hà – người đã truyền lửa cho tôi theo đuổi đề tài, đồng thời trực tiếp tận tâm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Cám ơn gia đình nhỏ của tôi đã luôn hết lòng ủng hộ và trở thành hậu phương vững chắc để tôi kiên định hoàn thành đến cùng đề tài tâm huyết

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội ngày 27 tháng năm 2018

Học viên

Phạm Ngọc Thúy

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả trong khóa luận chưa được ai công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này

Hà Nội ngày 27 tháng 12 năm 2018

Học viên

Phạm Ngọc Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục tiêu của đề tài 5

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của luận văn 10

4.1 Đối tượng nghiên cứu 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu 10

4.3 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Dự kiến kết quả nghiên cứu: 10

6 Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học của đề tài 11

7 Kết cấu luận văn: 11

Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG DÂN TỘC CHỦ NGHĨA CỦA R TAGORE 12

1.1 Một số khái niệm cơ bản 12

1.1.1 Dân tộc 12

1.1.2 Chủ nghĩa dân tộc 14

1.2 Phong trào dân tộc chủ nghĩa tại Ấn Độ 17

1.3 Quan niệm của Tagore 25

1.3.1 Quan niệm của Tagore về thế giới 25

1.3.2 Quan niệm của Tagore về Dân tộc 30

1.3.3 Quan niệm của Tagore về Chủ nghĩa dân tộc 35

Chương 2 ĐÓNG GÓP CỦA TƯ TƯỞNG DÂN TỘC CHỦ NGHĨA CỦA TAGORE 47

2.1 Phân kỳ trong tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Tagore 47

2.2 Sự biến đổi trong tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Tagore 49

2.2.1 Những xung đột trong tư tưởng về Chủ nghĩa dân tộc của Tagore 49

2.3 Quan điểm của Tagore từ Chủ nghĩa dân tộc đến Chủ nghĩa quốc tế 62

2.4 So sánh tư tưởng về Chủ nghĩa dân tộc của Tagore với M Gandhi 67

Trang 6

Chương 3 SỰ TIẾP NHẬN TƯ TƯỞNG DÂN TỘC CHỦ NGHĨA CỦA

TAGORE TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 79

3.1 Tiếp nhận qua việc thuyết giảng ở nước ngoài 79

3.1.1 Tiếp nhận tại Nhật Bản 89

3.1.2 Tiếp nhận tại Mỹ 93

3.2 Bước phát triển trong tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Tagore 96

3.3 Ảnh hưởng của Tagore với các vĩ nhân và chính khách thế giới 102

3.3.1 Cuộc thảo luận với Einstein về Chân lý 102

3.3.2 Chuyến thăm truyền cảm hứng theo lời mời từ đích thân Reza Shah Pahlavi 105

3.4 Đánh giá tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Tagore 106

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chủ nghĩa dân tộc đề cập đến một hệ tư tưởng, một tình cảm, một hình thức văn hóa, hoặc một phong trào tập trung vào quốc gia hay dân tộc Chủ nghĩa dân tộc

đã trở thành một trong những động lực chính trị và xã hội quan trọng nhất trong lịch

sử Ở một góc độ khác, chủ nghĩa dân tộc là xu hướng tư tưởng tuyệt đối hóa giá trị dân tộc mình, đặt dân tộc mình ở vị trí cao nhất trong toàn bộ hệ thống giá trị, đi đến chỗ khoa trương, bài ngoại, tự phụ, coi dân tộc mình cao hơn tất cả và gây thiệt hại cho dân tộc khác Nó đã giữ vai trò ảnh hưởng chính hay nguyên nhân của chiến tranh, cụ thể nhất là cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945) Tất cả đều liên quan đến những tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cực đoan

Nhà dân tộc học người Mỹ Louis Snyder cho rằng chủ nghĩa dân tộc là trào lưu chính trị bắt nguồn từ Cách mạng tư sản Pháp vào nửa sau thế kỷ 181 Sau cách mạng tư sản Anh, Pháp và cuộc chiến tranh giành độc lập ở 13 bang thuộc địa Bắc

Mỹ, các ―quốc gia dân tộc‖ (nation-state) lần lượt ra đời ở khu vực này Thần quyền

của giáo hội và vương quyền phong kiến được thay thế bằng ―chủ quyền nhân dân‖ (theo khuôn khổ của pháp quyền tư sản) Từ đó, sản sinh tư tưởng tôn sùng dân tộc

và quốc gia dân tộc mình Vì vậy, nhà dân tộc học George Gooch đã nói rằng ―chủ nghĩa dân tộc là con đẻ của Đại cách mạng Pháp‖2 Chủ nghĩa dân tộc tư sản còn đi

1

Louis Leo Snyder (4/7/1907 – 25/11/1993) là một học giả Mỹ, người đã chứng kiến những cuộc mít tinh

đầu tiên của Đức quốc xã được tổ chức từ năm 1923 tại Đứ và đã viết về họ từ New York trong cuốn Chủ nghĩa Hitler của ông: Cuốn The Iron Fist – Bàn tay sắt ở Đức được xuất bản năm 1932 dưới bút hiệu

Nordicus Snyder dự đoán việc lên nắm quyền của Adolf Hitler, liên minh Nazi với Benito Mussolini, và có thể là cuộc chiến tranh giữa Pháp và người Do Thái Cuốn sách của ông là ấn phẩm hoàn chỉnh đầu tiên của Chương trình Quốc gia Xã hội NSDAP bằng tiếng Anh

Snyder là tác giả của hơn 60 cuốn sách Ông biên soạn Encyclopedia of Third Reich (1976), viết về Roots of German Nationalism – Nguồn gốc của Chủ nghĩa dân tộc Đức (1978), và Diplomacy in Iron – Ngoại gia sắt

(1985) trong số các tác phẩm liên quan đến Đế chế thứ ba Ông cũng viết cuốn The Dreyfus Case (1973) về nước Pháp bị chia rẽ qua vụ Dreyfus vào cuối thế kỷ 19

2

George Peabody Gooch, OM, CH, FBA (21/10/1873 – 31/8/1968) là một nhà báo Anh, nhà sử học và nhà chính trị Đảng Tự do Là người theo Lord Acton, giàu có độc lập, ông không bao giờ nắm giữ một vị trí hàn lâm, nhưng biết rất rõ về công việc của các nhà sử học ở lục địa châu Âu

George Peabody Gooch, A History of Modern Europe, 1878–1919 (1923); 2nd ed 1946

Trang 8

đến chỗ bành trướng và xâm lược khắp nơi trên thế giới Giai cấp tư sản nắm quyền thống trị ở Tây Âu lúc ấy cho rằng họ có quyền mở rộng quyền thống trị của mình

để khai hóa các dân tộc khác Đối mặt với cuộc xâm lược của chủ nghĩa dân tộc tư sản Tây Âu, nhân dân các nước Châu Á, Châu Phi và Mỹ Latinh đã anh dũng đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc Phong trào giải phóng dân tộc vì vậy

đã phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 20, điển hình là hai cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ

Đầu xuân 2017, người viết đã có dịp sang thăm đất nước Ấn Độ trong một chuyến công tác nhỏ Cái mà người viết được va vào đầu tiên là việc những con người nơi đây thoải mái thể hiện khí chất tự tin rất riêng có của mình với người nước ngoài trong một cái khung nhất định mà theo người viết là Truyền Thống Một bản sắc được gói trong những bộ Sari, Dhoti và được thể hiện ra một cách mượt mà

và khéo léo bằng một thứ tiếng Anh nhuần nhuyễn đã được bản địa hóa Có lẽ nơi người viết đến là thành phố năng động nhất thế giới, thung lũng Silicon của Ấn Độ, Bangalore, nên đâu đâu cũng thấy họ giao tiếp bằng tiếng Anh, giữa những người bản địa với nhau và giữa người bản địa với du khách nước ngoài Tuy nhiên từ trang phục cho tới ẩm thực, kiến trúc thượng tầng và hạ tầng thì theo phong cách Ấn Độ

Rabindranath Tagore là một cái tên không có gì là xa lạ với độc giả yêu thơ văn Ấn Độ xưa nay Người đã chắp bút cho hai bản quốc ca hào hùng còn vang mãi tới ngày nay của chính Ấn Độ và Bangladesh Mà quốc ca của mỗi quốc gia là lời thề đại đoàn kết của non sông xứ sở sản sinh ra nó Nó cũng chính là tư tưởng dân tộc chủ nghĩa công khai nhất, hùng hồn nhất, được công nhận và cảm nhận chân thật nhất bên cạnh lá quốc kì của quốc gia ấy Và đây cũng chính là lí do tác giả

Trang 9

chọn Rabindranath Tagore mà cụ thể hơn là ― tư tưởng dân tộc chủ nghĩa‖ của ông làm đối tượng nghiên cứu ―Châu Á của chúng ta tự hào vì có một đại thi hào như Tagore Các tác phẩm của ông thể hiện những tư tưởng nhân văn lớn, là sự mẫu mực về kết hợp hài hòa văn hóa Đông - Tây và là cầu nối của quá khứ, hiện tại và tương lai Đó là một kho báu vô giá, hữu ích không chỉ cho công cuộc khẳng định những giá trị dân tộc mà cho cả hành trình duy trì phổ biến các giá trị nhân bản ngày hôm nay‖ – Dịch giả Thúy Toàn trong một bài báo nhân dịp kỉ niệm 150 năm ngày sinh đại thi hào đã từng nhận định như vậy

Luận văn này sẽ ―góp phần‖ tìm ra một câu trả lời tương đối thỏa đáng

thông qua đề tài nghiên cứu về Tư tưởng Dân tộc chủ nghĩa của Rabindranath

Tagore nghiên cứu những luận điểm cơ bản nhất của đại thi hào châu Á đầu tiên

giành được giải Nobel – Rabindranath Tagore, một người con kiệt suất của dân tộc

Ấn Độ_ về một vấn đề mang tính thời đại và chưa lúc nào ngừng gây tranh cãi Ng ười viết nhấn mạnh chữ ― góp phần‖ là bởi không ai có thể đưa ra câu trả lời đơn giản nhất mà lại chuẩn xác nhất về một vấn đề mà họ chỉ là người qua đường Còn thi hào Tagore, dẫu uyên thâm tới mấy thì cũng vẫn đứng trên phương diện soi chiếu của thời đại tác giả, với hệ tư tưởng được định hình từ cái nôi văn hóa mà ông được sinh ra

2 Mục tiêu của đề tài

Tagore là một đại thi hào lỗi lạc của Ấn Độ thời kì cận đại và cũng là của cả

thế giới Không chỉ là một nhà thơ với tập Thơ Dâng đạt được giải Nobel (1913)

ông còn là một nhà soạn kịch, tiểu thuyết gia, nhà báo, họa sĩ, nhà soạn nhạc Quốc

ca đương đại của Ấn Độ và Bangladesh cũng do ông viết ― Đôi khi, Tagore xuất hiện như một nhà chính trị mang xu hướng dân tộc tuy nói chung, ông là một người theo chủ nghĩa quốc tế‖3 Không phải nhà thơ lớn nào trên thế giới cũng đạt được nhiều thành tựu một cách toàn diện như thế

Các tác phẩm của Tagore, đặc biệt là thơ và văn xuôi, là sự kết tụ của những giá trị nhân văn cao đẹp Giá trị toàn nhân loại trong các tác phẩm của ông thể hiện

3

Đỗ Thu Hà, Tagore- văn và người, tr.7, Nxb Văn hóa – Thông tin

Trang 10

ở tư tưởng, khát vọng chống lại sự nghèo đói, chống lại các thế lực đè nặng lên con người; đặc biệt là giải phóng con người và bênh vực quyền sống của con người trên toàn thế giới Từ khoảng giữa thế kỉ trước, nhiều tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Việt và để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng nhiều thế hệ người đọc Việt Nam

Điểm qua các tác phẩm nghiên cứu trong nước và quốc tế, người viết nhận thấy chưa có công trình nào đi sâu phân tích khía cạnh ―chủ nghĩa dân tộc‖ của đại thi hào Tagore nên đã mạnh dạn lựa chọn đề tài với hi vọng khai thác được thêm phần nào chủ đề không phải là mới nhưng lại đang ngày càng nóng trên nhiều diễn đàn, đồng thời góp phần mang tư tưởng của bậc hiền triết tới gần hơn với độc giả đương đại và cũng là trả lời cho những câu hỏi còn trăn trở của bản thân Đây chính là mục tiêu quan trọng nhất của đề tài

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong nỗ lực tìm hiểu cách tiếp cận của Rabindranath Tagore đối với chủ nghĩa dân tộc, người viết nhận ra ba vấn đề có thể cản trở cuộc thảo luận hiện tại về chủ đề này

Thứ nhất, rất nhiều các bình luận về quan điểm của Tagore thường không

mang tính lịch sử khi giả định có sự đồng nhất trong suy nghĩ của Tagore về chủ nghĩa dân tộc, mặc dù từ những năm 1890 đến năm 1941 những luận điểm của Tagore đã phát triển và thay đổi đáng kể Nếu chúng ta không theo sát sự tiến hóa này và xác định các giai đoạn khác nhau cho đến khi tác phẩm nổi tiếng nhất của ông về chủ nghĩa dân tộc ra đời năm 1917, ta có thể sẽ bị nhầm lẫn giữa tổng thể và các ý tưởng của ông về chủ nghĩa dân tộc

Vấn đề thứ hai là nhiều nhà bình luận, như chúng ta sẽ thấy sau này, đã rơi

vào một khuôn mẫu về 'tính quốc tế' của Tagore về chủ nghĩa dân tộc Khi ông viết tác phẩm chính của mình về chủ nghĩa dân tộc vào năm 1917 (thường được sử dụng bởi các học giả vì nó có thể dễ dàng truy cập bằng tiếng Anh), ông cũng nhắc tới nhiều khái niệm về chủ nghĩa quốc tế (ví dụ như phiên bản của Tổng thống Wilson, niềm tin về Liên minh các Dân tộc đầu tiên, chủ nghĩa quốc tế của những người

Trang 11

theo chủ nghĩa hòa bình của Anh… Và ngay cả bản thân ―Chủ nghĩa quốc tế của Nhật Bản" mà ông nói tới thực sự là một sự hợp lý hóa chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản Tagore đã được diễn giải theo những khuôn mẫu hiện có trong chính trị thế giới Chúng ta cần phải kiểm tra xem liệu những khuôn mẫu này có phù hợp với tính chất trong khái niệm chủ nghĩa dân tộc của Tagore hay không Cũng vậy, cần lưu ý áp dụng cách tiếp cận cẩn trọng này trong những nỗ lực của các học giả gần đây như Michael Collins (2013) hoặc Ashis Nandy (1994), những người cố gắng thu hút sự chú ý của Tagore vào phiên bản "hậu thực dân" hoặc "chống chủ nghĩa hiện đại"

Thứ ba, nghiên cứu văn bản về các tác phẩm chính trị của Tagore tỏ ra không

đầy đủ nếu không làm quen với bối cảnh mà ông đã viết, bao gồm cả những tác phẩm báo chí mờ nhạt trong những thời đại đó Thực tế là ngay cả nghiên cứu văn bản, còn hạn chế như hiện nay, bị cản trở bởi thực tế là chỉ không quá 1/10 các tác phẩm chính trị của ông viết bằng tiếng Anh4 Tuy nhiên, trong luận văn này, tôi sẽ chủ yếu rút ra từ các tác phẩm của ông được xuất bản bằng tiếng Anh

Các nghiên cứu bằng tiếng Anh

a Loạt bài viết thứ nhất diễn giải, phân tích về các quan điểm của R Tagore

về chủ nghĩa dân tộc là căm ghét chủ nghĩa dân tộc và nghiêng về chủ nghĩa quốc tế

như các bài: Anthony.D.Smith (1991), National Identity, Penguin Books England, ISBN 0-14-012565-5; Benedict Anderson (1991), Imagines Communities:

Reflection on the Origin and the Spread of Nationalism, Verso, London- Newyork,

ISBN 0-86091-329-5, ISBN 0-86091-546-8(Pbk); Bhattacharya, Sabyasachi 2011a

Talking Back: The Idea of Civilization in the Indian Nationalist Discourse New

Delhi: Oxford University Press; Bhattacharya Sabyasachi 2011b Rabindranath

Tagore: An Interpretation New Delhi: Viking/Penguin; Bhattacharya,

Sabyasachi 2014 The Defining Moments in Bengal 1920–1947 Delhi: Oxford University Press; Collins, Michael 2013 Empire, Nationalism and the Post-

Trang 12

Colonial World: Rabindranath Tagore’s Writings on History, Politics and Society

Oxford: Routledge; Nandy, Ashis 1994 The Illegitimacy of Nationalism New Delhi: Oxford University Press; Radhakrishnan, Sarvepalli 1918 The Philosophy

of Rabindranath Tagore London; Sen, Sachin 1929 The Political Philosophy of Rabindranath Calcutta; Sengupta, Kalyan 2005 The Philosophy of Rabindranath Tagore Burlington: Ashgate; Twain, Mark 1901 To the Person Sitting in Darkness North American Review, February 1901; Thompson, E.P (ed.) 1991 Nationalism by Rabindranath Tagore London: Macmillan

b Loạt bài viết thứ hai nhằm so sánh quan điểm của Tagore về chủ nghĩa dân tộc với quan điểm của những nhà tư tưởng khác trong nước và quốc tế như:

Amartya Sen (1999), Democracy as a Universal Value, Journal of Democracy 10.3 (1999) 3-17; Sarkar, Sumit 2008 Beyond Nationalist Frames New Delhi: Orient

Blackswan;

c Loạt bài thứ ba phân tích quan điểm của Tagore về một số nước như Nhật Bản, Đức, Trung Quốc, Mỹ và ảnh hưởng của quan điểm này đối với các nước khác

như: Mark E Lincicome (1999), Nationalism, Imperialism, and the International

Education Movement in Early Twentieth Century Japan, Source: The Journal of

Asian Studies, Vol 58, No 2 (May, 1999), pp 338-360 Published by: Association

for Asian Studies; Afshin Marashi, University of Kansas, Imagining Hāfez:

Rabindranath Tagore in Iran, 1932, Journal of Persianate Studies 3 (2010) 46-77;

Hay, Stephen H 1970 Asian Ideas of East and West: Tagore and His Critics in

Japan Cambridge, Massachusetts: China and India; Kampchen, Martin 1991 Rabindranath Tagore and Germany: A Documentation Calcutta; Mukherjee, Sujit

1964 Passage to America Calcutta; Hay, Stephen N 1970 Asian Ideals of East

and West: Tagore and His Critics in Japan, China and India Cambridge, MA.:

Harvard University Press; Thompson, E.P 1993 Alien Homage: Edward Thompson

and Rabindranath Tagore New Delhi: Oxford University Press

d Loại tài liệu thứ tư mà luận văn phải sử dụng là những văn bản gốc của chính R Tagore về chủ nghĩa dân tộc để làm cơ sở phân tích, diễn dịch và đối chiếu

Trang 13

như Bhattacharya, Sabyasachi (ed.) 2012 The Mahatma and the Poet: Letters and

Debates between Gandhi and Tagore, 1915–41, 5th ed New Delhi: National Book

Trust; Dutta, K., and A Robinson 1997 Selected Letters of Rabindranath Tagore Cambridge: Cambridge University Press; EW 1994–2007 The English Writings of

Rabindranath Tagore, ed Sisir Kumar Das, vol 1–3 and Nityapriya Ghosh, vol 4

Delhi: Sahitya Akademi; Rabindranath Tagore (1917), Nationalism, Penguin Books India, 2009, ISBN 97801-L4306467-L; SP 2004; Rabindranath Tagore, Selected

Poems, ed Sukanta Chaudhuri Oxford Tagore Translations, Delhi: Oxford

University Press; Tagore, Rabindranath 1902 The History of India, Bangadarshan,

1309 BS (1902), revised and reprinted in 1905; Tagore, Rabindranath 1922

Hindu-Musalman, Kalantar 1993 Calcutta: Visva-Bharati Publications; Tagore,

Rabindranath 1931 ―Hindu-Musalman‖, Pravasee (1338 BS), reprinted in Kalantar

Calcutta: Visva-Bharati Publications, 1993; Tagore, Rabindranath 1937a

Convocation Address at the University of Calcutta Calcutta: Calcutta University

Press; Tagore, Rabindranath 1937b New Age, Kalantar 1993 Calcutta: Bharati Publications; Tagore, Rabindranath 1996a Nationalism (1917); Crisis in

Visva-Civilisation (1941); The Religion of Man (1931) In English Writings of Rabindranath Tagore, vol II, ed Sisir Kumar Das Delhi; Tagore Rabindranath,

1941 Crisis in Civilization Santiniketan: Santiniketan Press; Sen, Amartya 1997

―Foreword,” Selected Letters of Rabindranath Tagore, ed K Dutta and Andrew

Robinson Cambridge: Cambridge University Press;

Các nghiên cứu bằng tiếng Việt

Các nghiên cứu bằng tiếng Việt cho đến nay chưa có bài viết nào đề cập đến quan điểm của Rabindrannath Tagore về chủ nghĩa dân tộc trừ một trường hợp duy

nhất là Chương 6 Tagore- Nhà tư tưởng (tr.323-373) trong cuốn Tagore – Văn và

người của học giả Đỗ Thu Hà, Nxb Văn hóa Thông tin (2005) Đây là những cơ sở

đầu tiên gợi ý các luận điểm để người viết theo đuổi mục tiêu của mình

Có thể nói, luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiên đề cập đến quan điểm của R Tagore về chủ nghĩa dân tộc một cách toàn diện, có hệ thống và có sự đánh giá mang tính cá nhân về vấn đề này

Trang 14

4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của R Tagore

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Về thời gian, đề tài nghiên cứu tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của R Tagore từ 1809

đến 1941

+ Về nội dung, đề tài tập trung vào việc phân kỳ, nghiên cứu đặc điểm, sự biến đổi

và tiến hóa trong tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của R Tagore

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Người viết lựa chọn tiếp cận vấn đề này theo phương pháp nghiên cứu liên ngành và phương pháp nghiên cứu lịch sử để tiếp cận vấn đề theo cách tối ưu nhất Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp nghiên cứu lịch sử vì phương pháp này nghiên cứu bằng cách tìm nguồn gốc phát sinh (nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh nảy sinh), quá trình phát triển và chuyển hóa (điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian… có ảnh hưởng) để phát hiện bản chất và quy luật vận động của đối tượng

Luận văn cũng sử dụng phương pháp liên ngành trong quá trình thực hiện để hoàn thành được những mục tiêu mà người viết đã đặt ra vì đối tượng nghiên cứu – Rabindranath Tagore và tư tưởng của ông – rất phức tạp, đa chiều và có sự bện quyện về nhiều phương diện

Ngoài ra, để tránh đi theo lối mòn, suy nghĩ máy móc một chiều, luận văn sẽ

mở rộng so sánh với những ý kiến trái chiều cùng vấn đề để cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn cho các độc giả quan tâm Vì vậy, phương pháp nghiên cứu so sánh cũng sẽ là phương pháp tiếp cận chủ đạo của luận văn này

5 Dự kiến kết quả nghiên cứu:

 Nghiên cứu về chủ nghĩa dân tộc theo quan điểm của Tagore và những nhắn nhủ của ông với thời đại

 Giải mã thời cuộc Ấn Độ thời cận hiện đại và nguyên nhân cấu thành nên những phát triển bền vững xã hội Ấn Độ

Trang 15

 Từ đó đúc rút một số bài học kinh nghiệm cho dân tộc Việt Nam thời hội nhập đa phương

 Đóng góp thêm một khía cạnh nghiên cứu mới vào gia tài nghiên cứu vốn đã rất đồ sộ về Tagore ở Việt Nam

6 Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học của đề tài

Đóng góp của luận văn Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Rabindranath

Tagore là ở chỗ người viết chứng minh rằng tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Tagore

là một tiến trình có sự tiến hóa và biến đổi, đi từ chủ nghĩa dân tộc sang chủ nghĩa quốc tế (với tư cách một giải pháp cho những bất cập của chủ nghĩa dân tộc) qua nhiều giai đoạn phát triển với những đặc điểm khác nhau Thêm vào đó, luận văn sẽ

so sánh quan điểm về chủ nghĩa dân tộc của Tagore với một lãnh tụ kiệt xuất của nhân dân Ấn Độ đương thời là Mahatma Gandhi để thấy được những điểm tương đồng cũng như những điểm đi trước thời đại trong quan điểm của Rabindranath Tagore

7 Kết cấu luận văn:

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn của tôi sẽ gồm ba chương như sau:

Chương 1 Một số khái niệm cơ bản và bối cảnh lịch sử ra đời tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Tagore

Chương 2 Đóng góp của tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Tagore

Chương 3 Ảnh hưởng của tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Tagore

Trang 16

Chương 1

BỐI CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI

TƯ TƯỞNG DÂN TỘC CHỦ NGHĨA CỦA R TAGORE

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Dân tộc

Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước Trong xã hội nguyên thuỷ đã có thị tộc, rồi bộ lạc Những thành viên trong thị tộc gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống Bộ lạc bao gồm những người cùng họ và những người khác

họ, cùng sinh sống trên một địa bàn Sản xuất phát triển thì bản thân con người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng như ngôn ngữ, văn hoá vật chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hoá tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ý thức) Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hoá: từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên

những tộc người và những dân tộc khác nhau như chúng ta thấy hiện nay Có thể

quan niệm dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử (lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc), nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một lãnh

thổ, có chung một nền văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này là tổng hợp các

giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tiêu biểu cho trình độ văn minh đã đạt được Văn hoá của các dân tộc có những nét chung giống nhau (thí dụ như đều trải qua nền văn minh nông nghiệp tiến lên nền văn minh công nghiệp),

nhưng cũng có những nét đặc thù gọi là tính cách dân tộc hay bản sắc dân tộc (các

phong tục, tập quán sinh hoạt và ứng xử, các nếp tâm lý và tư duy, các ưu thế phát triển về mặt này hay mặt khác) tạo ra tính đa dạng, vô cùng phong phú của văn hoá nhân loại

Về mặt xã hội, khái niệm dân tộc không phải bao giờ cũng trùng hợp với

khái niệm quốc gia theo nghĩa là một cộng đồng chính trị - xã hội được quản lý bằng bộ máy nhà nước Có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (hiếm có, như trường hợp

Triều Tiên trước khi bị chia cắt), song phần lớn là những quốc gia nhiều dân tộc

Trang 17

(nhiều dân tộc nhỏ quy tụ xung quanh một dân tộc chủ yếu, thường là đông hơn và phát triển hơn trong lịch sử) Cũng có trường hợp là những người cùng một dân tộc nhưng sống phân tán ở những quốc gia khác nhau Trong lịch sử, các dân tộc hình thành và phát triển rất không đồng đều cả về thời gian, quy mô, sức sống lẫn trình

độ phát triển Đã có tình trạng nhiều dân tộc tự phát liên kết với nhau, hoà nhập vào nhau hoặc đồng hoá, thôn tính lẫn nhau Xu thế lịch sử của dân tộc là cần có nhà

nước để bảo vệ lãnh thổ của mình Ý thức về chủ quyền lãnh thổ phát triển thành ý

thức quốc gia dân tộc hay chủ nghĩa yêu nước Bản thân nhà nước, đến lượt nó, lại

có tác động trở lại củng cố sự đoàn kết dân tộc, sự thống nhất nhiều dân tộc trong biên giới của mình Bộ máy nhà nước trung ương tập quyền của nhà Tần ở Trung Quốc chẳng hạn, khi ban hành những pháp luật thống nhất trong cả nước, bắt mọi người cùng viết một kiểu chữ, cùng đi một cỡ xe (thư đồng văn, xa đồng quỹ) đã đẩy nhanh sự cố kết của dân tộc Hán ngay từ trước Công nguyên

Trước đây, các học giả phương Tây chưa nghiên cứu nhiều về vấn đề dân tộc nói riêng Các sách báo mácxít cũng dựa chủ yếu vào tình hình của châu Âu mà cho rằng, dân tộc chỉ trở thành dân tộc khi có sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản, khi xuất hiện thị trường dân tộc5 Thực ra, trên thế giới, tính cố kết dân tộc có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân kinh tế, chính trị khác, như nhu cầu có những công trình trị thuỷ lớn ở các vùng trồng lúa nước, nhu cầu chống lại sự xâm lược, đô hộ

và đồng hoá của ngoại tộc Chẳng hạn như Việt Nam đã từng bị ngoại tộc đô hộ hơn một nghìn năm mà không bị đồng hoá, sở dĩ như vậy là vì con người (Việt Nam) đã

có ý thức về bản sắc của dân tộc mình và nổi dậy chống lại sự đồng hoá ấy Ý thức

về quốc gia - dân tộc đã thể hiện rõ trong hành động lịch sử của Lý Bí khi ông tự ưng là Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân thế kỷ thứ VI, hoặc trong câu thơ "Nam

x-quốc sơn hà Nam đế cư" thế kỷ thứ XI, trong áng văn bất hủ Bình Ngô đại cáo thế

kỷ thứ XV Vậy mà cho đến thế kỷ thứ XX, Việt Nam vẫn chưa đạt đến trình độ một nước tư bản chủ nghĩa Rõ ràng là, người Việt Nam đã hình thành nên dân tộc

5

Stalin cho rằng, ―Quá trình thủ tiêu chủ nghĩa phong kiến và phát triển chủ nghĩa tư bản đồng thời cũng là

quá trình người ta kết hợp thành dân tộc‖ Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987,

tr.24

Trang 18

của mình ngay từ thời cổ đại, có thể là ngay từ khi bị ngoại tộc đô hộ mà không sao đồng hoá nổi, chứ không phải đợi đến khi lập ra nhà nước phong kiến độc lập bền vững vào thế kỷ thứ X

Có dân tộc hình thành rồi, sau đó mới có ý thức dân tộc Con người được sinh ra trong cộng đồng, từ cộng đồng Chỉ có thông qua cộng đồng, ở đây là cộng

đồng dân tộc, cá nhân con người mới được xã hội hoá, mới trở thành người Đứa trẻ

sơ sinh chỉ mới là ―con người dự bị‖; nó phải tập ăn, tập nói như người, cảm xúc, ứng xử và suy nghĩ như người Nắm được ngôn ngữ dân tộc - vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là phương tiện nhận thức - đứa trẻ càng nhanh chóng đi vào những khuôn nếp của xã hội, những tục lệ, tín ngưỡng, đạo lý, pháp luật sẵn có của một trình độ văn hoá nhất định Đến tuổi thành niên, nó mới được xã hội công nhận là một thành viên đủ tư cách Một cách rất tự nhiên, mỗi cá nhân con người đều cảm thấy rất rõ, trong cả thể xác và tâm hồn mình, là người của một dân tộc nhất định

Đó chính là ý thức dân tộc, tinh thần dân tộc hay là chủ nghĩa dân tộc

Như vậy, ý thức dân tộc trước hết là ý thức về cội nguồn dân tộc của mỗi con người: mình từ đâu đến? Sau đó là ý thức về quyền dân tộc: quyền làm chủ lãnh thổ

(đất nước), làm chủ đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc mình Đó là tinh thần độc lập, tự chủ của mỗi dân tộc Đó là quyền tự nhiên mà mỗi thành viên của dân tộc đều thấy có nghĩa vụ thiêng liêng phải giữ gìn và bảo vệ Chủ nghĩa dân tộc còn

là ý thức về phẩm giá dân tộc Dân tộc tồn tại và phát triển là thành quả của sức lao

động và đấu tranh sáng tạo của nhiều thế hệ tiền bối Họ đã tạo ra tất cả những giá trị vật chất và tinh thần hợp thành nền văn hoá dân tộc, vừa có bản sắc riêng, vừa là

bộ phận hợp thành nền văn hoá chung của nhân loại

1.1.2 Chủ nghĩa dân tộc

Chủ nghĩa dân tộc (tiếng Anh: Nationalism, còn được dịch thành tư tưởng

dân tộc, chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa quốc dân6) là một khái niệm phức tạp, có

tính đa chiều, liên quan đến nhận biết cộng đồng (communal identification) với dân tộc (nation) của một người Ý thức hệ chính trị này hướng đến việc giành được, và

6 Koln, Hans; Calhoun, Craig The Idea of Nationalism: A Study in its Origins and Background Transaction Publishers Pp 20 University of California 1942 Journal of Central European Affairs Volume 2

Trang 19

duy trì sự tự trị (self-governance), hoặc toàn vẹn lãnh thổ (full sovereignty), trên

một vùng lãnh thổ có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với một nhóm người (như là tổ quốc của họ) Chủ nghĩa dân tộc do đó cho rằng một dân tộc nên tự mình cai trị,

không bị ảnh hưởng từ bên ngoài, và được kết nối với khái niệm

self-determination (quyền tự quyết, tự xác định, tự định hướng) Xa hơn nữa, chủ nghĩa

dân tộc còn hướng đến sự phát triển và duy trì bản sắc dân tộc (national identity)

dựa trên các đặc trưng chung như văn hóa, ngôn ngữ, chủng tộc, tôn giáo, các mục tiêu chính trị và/hoặc niềm tin về tổ tiên chung7 Vì vậy, chủ nghĩa dân tộc tìm cách bảo tồn văn hóa của dân tộc Nó cũng thường liên quan tới cảm giác tự hào về những thành tựu của dân tộc, và có sự liên kết chặt chẽ với khái niệm chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa dân tộc theo các định nghĩa này có thể tích cực hoặc tiêu cực8

Chủ nghĩa dân tộc đã trở thành một trong những động lực chính trị và xã hội quan trọng nhất trong lịch sử Nó đã giữ vai trò ảnh hưởng chính hay nguyên nhân của Chiến tranh thế giới thứ nhất, và đặc biệt là Chiến tranh thế giới thứ hai do

sự nổi lên của chủ nghĩa phát xít), một hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cấp tiến

và độc đoán9

Do trong đa số các quốc gia đa sắc tộc hoặc có nhiều nhóm tự nhận vị thế quốc gia10, trong nhiều trường hợp, sự theo đuổi những ý tưởng chính trị mang hình

7 Triandafyllidou, Anna (1998) ―National identity and the other‖ Ethnic and Racial Studies 21 (4): 593–612

và Smith, A.D (1981) The Ethnic Revival in the Modern World Cambridge University Press

15 " Chủ nghĩa phát xít trên hết là một phong trào dân tộc chủ nghĩa và do đó có thể xuất hiện ở bất cứ nơi

nào mà quốc gia và nhà nước được xác định rõ ràng‖ Laqueur, Walter Fascism: Past, Present, Future

Oxford University Press, 1997 Pp 90 " Niềm tin chung vào chủ nghĩa dân tộc, cấu trúc đẳng cấp, và nguyên tắc lãnh đạo."

"Goebbels on National-Socialism, Bolshevism and Democracy, Documents on International Affairs, vol II,

1938, pp 17-19 Truy cập from the Jewish Virtual Library on 5 tháng 2 năm 2009 Joseph Goebbels mô tả Đức Quốc xã là đồng minh với các quốc gia có hệ tư tưởng độc đoán "dân tộc chủ nghĩa" và quan niệm về nhà nước "Nó cho phép chúng ta ngay lập tức thấy ngay tại sao nền dân chủ và chủ nghĩa Bolshevich, trong mắt thế giới không thể áp đặt cho nhau, Một lần nữa và trên nền tảng chung trong sự thù hận chung của họ và tấn công vào các khái niệm chủ nghĩa dân tộc độc đoán về các hệ thống nhà nước và nhà nước độc đoán về khái niệm chủ nghĩa dân tộc độc đoán của Nhà nước đại diện cho một cái gì đó mới mẻ."

10 Connor, Walker (1994) Ethnonationalism: The Quest for Understanding Princeton, New Jersey:

Princeton University Press tr 29

Trang 20

thức dân tộc chủ nghĩa đã gây ra xung đột giữa nhân dân và nhà nước, trong đó có chiến tranh (cả nội chiến và ngoại chiến), ly khai; và trong những trường hợp cực đoan là diệt chủng

Chủ nghĩa dân tộc là một hiện tượng xã hội mạnh mẽ trên thế giới, khi các quốc kỳ, quốc ca, và những sự phân biệt quốc gia là các ví dụ về chủ nghĩa dân

tộc sáo rỗng (banal nationalism) mà người ta thường thể hiện một cách vô

thức11 Hơn nữa, một số học giả cho rằng chủ nghĩa dân tộc với hình thức tình

cảm hoặc văn hóa, mà đôi khi được miêu tả bằng từ "bản sắc dân tộc" (national

identity) để tránh ảnh hưởng của nghĩa "hệ tư tưởng", là nền tảng xã hội hiện

đại Công nghiệp hóa, dân chủ hóa, và sự ủng hộ đối với sự tái phân bố kinh tế đã phần nào đóng góp cho sự đoàn kết xã hội mà chủ nghĩa dân tộc mang lại12

Chủ nghĩa dân tộc góp phần quan trọng hình thành nên các quốc gia từ các phong trào giải phóng dân tộc hay ly khai, hoặc có ảnh hưởng các chính sách dân tộc của nhà nước Chính sách dân tộc chủ nghĩa có thể biểu hiện qua chính sách kinh tế, văn hóa, ví dụ cấm (hạn chế) nhập một hàng hóa từ bên ngoài vào để bảo vệ hàng nội, hay cấm (hạn chế) các tư tưởng, văn hóa, sản phẩm nghệ thuật từ bên ngoài vào để bảo vệ văn hóa, tư tưởng dân tộc, hay các sản phẩm văn hóa quốc nội, những chính sách mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa này không đồng nghĩa có lợi cho toàn thể dân tộc, mà có khi chỉ cho một nhóm người (ví dụ những người đang sản xuất mặt hàng, sản phẩm đó, ) Chủ nghĩa dân tộc thường được xem là rộng hơn,

có tính chính trị hơn và không hoàn toàn trùng nhau với chủ nghĩa yêu nước, một khái niệm có tính mơ hồ hơn Nó khởi nguồn cho rất nhiều các cuộc chiến tranh hoặc các tư tưởng bài ngoại, đóng cửa, phân biệt chủng tộc (như Đảng Dân tộc ở Nam Phi trước đây), kỳ thị sắc tộc thiểu số hay tôn giáo thiểu số (như ở Myanmar một thời), đối xử tệ với thổ dân (như ở châu Mỹ và Úc một thời), sự xích lại của một dân tộc trong một khu vực không phân biệt lãnh thổ v.v và được xem là đối lập

11

Billig, Michael (1995) Banal Nationalism London: Sage ISBN 0803975252

12

Xem Gellner, Ernest (2005) Nations and Nationalism Blackwell ISBN 1405134429

Canovan, Margaret (1996) Nationhood and Political Theory Cheltenham: Edward Elgar ISBN 1840640111

Miller, David (1995) On Nationality Oxford: Oxford University Press ISBN 0198293569

Trang 21

với chủ nghĩa Marx khi hướng đến một xã hội không có nhà nước, chủ nghĩa đại đồng, cho dù nhiều nhóm cộng sản sau Marx trên thực tế cũng chịu ảnh hưởng chủ nghĩa dân tộc hoặc theo đuổi những mục tiêu chính trị mang tính dân tộc chủ nghĩa

Sở dĩ từ chủ nghĩa dân tộc hay được những người cánh tả sử dụng để phân biệt với

chủ nghĩa quốc gia, vì mục tiêu dân tộc gắn với chủ nghĩa quốc tế, không tách rời

nhau (như giải phóng dân tộc gắn với giải phóng nhân loại), trong khi chủ nghĩa quốc gia do hay xem là gắn với phân biệt, kỳ thị chủng tộc, đế quốc hay nhân danh chủ nghĩa quốc gia để bảo vệ lợi ích những người cai trị Quốc gia gắn liền với cương vực lãnh thổ, địa lý, còn dân tộc là một khái niệm khác

Về cơ bản hầu hết các khuynh hướng chính trị ở các quốc gia đều chịu ảnh hưởng ít nhiều của chủ nghĩa dân tộc nhưng lý giải khác nhau Thông thường chủ nghĩa dân tộc hay gắn bó với cánh hữu hơn vì họ coi trọng đoàn kết dân tộc, bảo vệ quyền lợi quốc gia - dân tộc hơn là tính đến các vấn đề giai cấp,

và ít chịu ảnh hưởng hơn của chủ nghĩa quốc tế Đôi khi chủ nghĩa dân tộc đi kèm với chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa nhà nước, và đối trọng với chủ nghĩa

tự do coi trọng bảo vệ quyền cá nhân hơn Do bản chất dân tộc là một khái niệm tranh cãi, cho nên chủ nghĩa dân tộc cũng hay được xem là mơ hồ, trong một sự cố gắng liên kết của những nhóm người có cùng huyết thống, màu da, hay ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo,

1.2 Phong trào dân tộc chủ nghĩa tại Ấn Độ

Chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ phát triển như là một khái niệm trong phong trào độc lập của Ấn Độ nhằm chiến đấu chống lại chế độ thuộc địa của thực dân Anh Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng có một ý thức quốc gia luôn có mặt tại "Ấn Độ", hoặc rộng hơn nữa là Tiểu Lục địa Ấn Độ, ngay cả khi nó không được nói rõ trong các thuật ngữ hiện đại Chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ là một ví dụ về chủ nghĩa quốc gia lãnh thổ, bao gồm cả toàn thể nhân dân, mặc dù có nhiều nguồn gốc tôn giáo và sắc tộc khác nhau Nó tiếp tục gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính trị Ấn Độ và phản

Trang 22

ánh sự phản đối đối với các nhánh phái của chủ nghĩa quốc gia Hindu và chủ nghĩa dân tộc Islam giáo13

Ý thức quốc gia ở Ấn Độ và Mức độ lan tỏa lớn nhất của Đế chế Gupta

Ấn Độ đã thống nhất dưới nhiều triều đại và các chính phủ trong lịch sử Các văn bản cổ đại đề cập đến Ấn Độ dưới thời hoàng đế Bharata và Akhand Bharat, những vùng này gần như tạo thành các thực thể của Ấn Độ hiện đại ngày nay Đế chế Mauryan là triều đại đầu tiên đoàn kết toàn bộ Ấn Độ, và Nam Á (bao gồm cả phần lớn Afghanistan)14 Ngoài ra, phần lớn Ấn Độ cũng được các đế quốc thống nhất dưới sự quản lý của chính quyền trung ương như Đế chế Gupta, Đế chế Rashtrakuta, Đế chế Pala, Đế chế Mughal, Đế chế Ấn Độ

Quan niệm về Chủ nghĩa Nam Á

Khái niệm về quốc gia của Ấn Độ không chỉ dựa trên mức độ lãnh thổ của chủ quyền Những cảm xúc về dân tộc và biểu hiện bao gồm trong lịch sử cổ đại Ấn

Độ, nơi sinh ra nền văn minh Thung lũng Indus và nền văn minh Veda, cũng như bốn tôn giáo lớn của thế giới - Hindu giáo, Phật giáo, Jain và Sikh Những người

Trang 23

theo chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ nhìn thấy Ấn Độ trải dài dọc theo những đường này trên Tiểu Lục địa Ấn Độ

Thời chiến và xâm lƣợc

Mở rộng đế chế Mughal từ năm 1526 đến năm 1700

sự khoan dung tôn giáo đáng chú ý

15 "Mahrattas, Sikhs and Southern Sultans of India : Their Fight Against Foreign Power/edited by H.S

Bhatia" Vedamsbooks.com Retrieved 2011-11-17

Trang 24

Akbar là một hoàng đế Mughal, được biết là có mối quan hệ tốt đẹp với Giáo hội Công giáo La Mã cũng như với các thần dân của mình – tín đồ Hindu, Phật giáo, Sikhs và Jains16 Ông đã đề cao mối quan hệ gia đình và chính trị với các vị vua Hindu Rajput Mặc dù những Sultan trước đã ít nhiều khoan dung, nhưng Akbar đã nương theo tôn giáo để tiến hành thực hạnh một chính sách cai trị mới Ông đã khai sáng lần đầu tiên ở Ấn Độ Islam một môi trường hoàn toàn tự do tôn giáo, đã giải quyết hầu hết các hình thức kỳ thị tôn giáo và mời các đại thần Hindu

và các vị lãnh chúa khôn ngoan tham gia, và thậm chí mời các học giả tôn giáo tranh luận trong tòa án của ông

Chủ nghĩa dân tộc thời kỳ thuộc địa

Lá cờ được Quốc hội thông qua năm 1931 và được sử dụng bởi Chính phủ lâm thời của Ấn Độ Tự do trong Thế chiến II

Việc củng cố quy tắc của Công ty Đông Ấn Anh tại Tiểu Lục địa Ấn Độ trong thế kỷ 18 mang lại những thay đổi về kinh tế xã hội dẫn đến sự gia tăng tầng lớp trung lưu ở Ấn Độ và liên tục xói mòn các định chế và rào cản tôn giáo và thời

kỳ thuộc địa Sức mạnh kinh tế và tài chính đang nổi lên của các chủ doanh nghiệp

và thương gia Ấn Độ và tầng lớp chuyên nghiệp đã khiến họ ngày càng mâu thuẫn với Vương quốc Anh Một ý thức về chính trị gia tăng ở tầng lớp thượng lưu xã hội

Ấn Độ (bao gồm các luật sư, bác sĩ, sinh viên tốt nghiệp đại học, chuyên viên chính

16 "Mahrattas, Sikhs and Southern Sultans of India : Their Fight Against Foreign Power/edited by H.S Bhatia" Vedamsbooks.com Retrieved 2011-11-17

Trang 25

phủ và các nhóm tương tự) đã tạo ra một bản sắc Ấn Độ17 và nuôi dưỡng tình cảm dân tộc chủ nghĩa ở Ấn Độ trong những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ thứ mười chín18 Sự thành lập Quốc hội Ấn Độ năm 1885 bởi nhà cải cách chính trị A.O Humeintensified càng thúc đẩy quá trình đó bằng cách cung cấp một nền tảng quan trọng nhằm yêu cầu thực hiện tự do hóa chính trị, tăng tự chủ, và cải cách xã hội19

Các nhà lãnh đạo của Quốc hội ủng hộ đối thoại và tranh luận với chính quyền Raj

để đạt được các mục tiêu chính trị của họ Khác với những tiếng nói ôn hòa (hoặc những người trung thành) không nói hay ủng hộ bạo lực là phong trào dân tộc chủ nghĩa, đặc biệt mạnh mẽ, triệt để và bạo lực ở Bengal và Punjab Những phong trào đáng chú ý nhưng nhỏ hơn cũng xuất hiện ở Maharashtra, Madras và các khu vực khác ở phía nam20

Swadeshi

Sự chia cắt năm 1905 gây tranh cãi của Bengal đã làm gia tăng tình trạng bất

ổn, kích thích các quan điểm dân tộc cực đoan và trở thành động lực cho các nhà cách mạng Ấn Độ21

Kỷ nguyên Gandhi

Mohandas Gandhi đi tiên phong trong thực hành Satyagraha22, điển hình với

sự tuân thủ chặt chẽ với ahimsa (không bạo lực), và bất tuân dân sự Điều này cho

Trang 26

phép các cá nhân chống đối người Anh trong cuộc cách mạng, mà không sử dụng bạo lực Gandhi tuân thủ chặt chẽ nền dân chủ, bình đẳng về tôn giáo và sắc tộc và tình anh em, bác bỏ các hoạt động của sự phân biệt đối xử dựa trên giai cấp và người cùng đinh đã thống nhất mọi tầng lớp lần đầu tiên trong lịch sử Ấn Độ Quần chúng tham gia vào cuộc đấu tranh giành độc lập ở Ấn Độ và các thành viên của Đảng Quốc Đại tăng lên hàng chục triệu vào những năm 1930 Thêm vào đó, những chiến thắng của Gandhi ở Champaran và KhedaSatyagraha năm 1918-19, đã đem lại niềm tin cho một thế hệ mới của những người theo chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ rằng Raj Anh Quốc có thể bị đánh bại Các nhà lãnh đạo quốc gia như Sardar Vallabhbhai Patel, Jawaharlal Nehru, Maulana Azad, Chakravarti Rajagopalachari, Mohandas Gandhi, Rajendra Prasad và Badshah Khan đã tập hợp được nhiều thế hệ người Ấn Độ ở các khu vực, đồng thời cung cấp cơ sở lãnh đạo mạnh mẽ đưa ra phương hướng chính trị cho đất nước

Nhiều hơn việc chỉ là “Người Ấn Độ”

Chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ là một sự đa dạng của các quan điểm dân tộc với nhiều sắc dân và tôn giáo đa dạng Do đó, sợi xích ràng buộc họ gây nhiều tranh cãi và tình cảm nhất trong nền dân chủ Ấn Độ là tôn giáo Tôn giáo đóng vai trò quan trọng, và trong nhiều trường hợp, yếu tố trung tâm của cuộc sống Ấn Độ Các cộng đồng sắc tộc

đa dạng về ngôn ngữ học, truyền thống xã hội và lịch sử trên khắp Ấn Độ

Lá cờ Hinđu của Đế chế Maratha với hai màu

James Bevel trong Phong trào Quyền Công dân ở Hoa Kỳ và nhiều phong trào xã hội khác Người thực hành satyagraha là một satyagrahi

Trang 27

Người Hindu Rashtra

Một ảnh hưởng quan trọng đối với ý thức Hindu phát sinh từ thời các đế quốc Islam giáo ở Ấn Độ Bước vào thế kỷ 20, người Hindu chiếm hơn 75% dân số

và do đó không có gì đáng ngạc nhiên là xương sống và nền tảng của phong trào dân tộc chủ nghĩa Tư duy Hindu hiện đại mong muốn đoàn kết xã hội Hindu vượt qua các ranh giới của giai cấp, các nhóm ngôn ngữ và sắc tộc Năm 1925, K.B Hedgewarfounded Rashtriya Swayamsevak Sangh ở Nagpur, Maharashtra, đã trở thành tổ chức dân sự lớn nhất trong nước, và cơ sở chủ đạo của nó rộng hơn chủ nghĩa dân tộc Hindu

Vinayak Damodar Savarkar đặt ra thuật ngữ Hindutva cho ý thức hệ của mình; mô tả Ấn Độ là một Hindu Rashtra, một quốc gia Hindu Tư tưởng này đã trở thành nền tảng của các chương trình nghị sự chính trị và tôn giáo của các cơ quan quốc gia Hindu hiện đại như Đảng Bharatiya Janata và Vishwa Hindu Parishad Các yêu cầu chính trị của Hindutva bao gồm việc huỷ bỏ Điều 370 của Hiến pháp tạo cơ

sở cho một bang Kashmir đặc quyền bán tự trị, thông qua một bộ luật dân sự thống nhất, do đó chấm dứt một khung pháp lý đặc biệt cho Muslim Những yêu cầu cụ thể này dựa trên các đạo luật mà các nhà dân tộc Hindu cho là có quan tâm đặc biệt đối với Muslim

Qaum

Vào năm 1906-1907, Liên minh Islam giáo All India được thành lập, do nghi ngờ của trí thức Muslim và các nhà lãnh đạo tôn giáo đối với Quốc hội Ấn Độ, vốn được coi là bị thống trị bởi ý kiến của các thành viên Hindu Tuy nhiên, Mahatma Gandhi vẫn thu hút được một loạt các Muslim vào cuộc đấu tranh giành độc lập và Đảng Quốc đại Đại học Islam giáo Aligarh và Jamia Millia Islamia đứng tách biệt – Aligarh trợ giúp việc thành lập Liên đoàn Islam giáo, trong khi JMI được thành lập để thúc đẩy nền giáo dục và ý thức Islam giáo theo các giá trị và quan điểm dân tộc và Gandh

Trong khi những Muslim nổi tiếng như Allama Iqbal, Muhammad Ali Jinnah

và Liaquat Ali Khan chấp nhận quan điểm cho rằng tín đồ Hindu và Muslim nên lập

Trang 28

những quốc gia khác biệt, các nhà lãnh đạo lớn khác như Mukhtar Ahmed Ansari, Maulana Azad và hầu hết các giáo sĩ Deobandi ủng hộ mạnh mẽ sự lãnh đạo của Mahatma Gandhi và Ấn Độ đấu tranh độc lập, chống lại bất kỳ khái niệm nào về chủ nghĩa dân tộc Islam giáo và chủ nghĩa ly khai Trường phái Islam giáo của chủ nghĩa quốc gia Ấn Độ không thu hút được quần chúng Muslim và Liên đoàn Islam giáo Quốc gia vốn được hưởng sự hỗ trợ chính trị rộng rãi Tuy nhiên, cuối cùng, Nhà nước Pakistan cuối cùng được hình thành sau chia cắt Ấn Độ

Chủ nghĩa dân tộc và chính trị

Thủ tướng Indira Gandhi đã dẫn Ấn Độ đến chiến thắng năm 1971 chống lại Pakistan, áp đặt tình trạng Khẩn cấp tại Ấn Độ, đưa nó trở thành một quốc gia năng lượng hạt nhân vào năm 1974 và bị đổ lỗi cho cuộc nổi dậy của Khalistan và Operation Blue Star - một sự pha trộn giữa chủ nghĩa dân tộc và chính trị cứng rắn

Danh tính chính trị của Đảng Quốc Đại Ấn Độ, đảng chính trị lớn nhất của

Ấn Độ và chính phủ kiểm soát chính phủ trong hơn 45 năm, phụ thuộc vào mối quan hệ với Mohandas K Gandhi và Jawaharlal Nehru, và gia đình Nehru-Gandhi

đã kiểm soát Đảng Quốc Đại kể từ khi độc lập Sự thành công của Đảng Quốc Đại cho đến những năm 70 được đẩy mạnh bởi di sản của nó với tư cách là đội quân tiên phong của Phong trào Độc lập Ấn Độ, và nền tảng cốt lõi của đảng ngày nay gợi lên quá khứ mạnh mẽ, tự coi mình là người bảo vệ độc lập, dân chủ và thống nhất Ấn

Độ Muslim vẫn là những cử tri trung thành của Đảng Quốc Đại, được coi là người bảo vệ chủ nghĩa thế tục Nehru23 Ngược lại, Đảng Bharatiya Janata sử dụng một cách thể hiện mang tính dân tộc chủ nghĩa tích cực hơn Theo đó BJP tìm cách bảo

23

"Character of Nehruvian Secularism" Bharatvani.org Retrieved 2011-11-17

Trang 29

tồn và truyền bá văn hoá của người Hindu vốn là đa số dân số Nó kết hợp chủ nghĩa quốc gia với việc phòng vệ mạnh mẽ biên giới và lợi ích của Ấn Độ chống lại các đối thủ Trung Quốc và Pakistan, với việc bảo vệ quyền của đại đa số nhân dân

Các đảng theo chủ nghĩa dân tộc tôn giáo bao gồm Shiromani Akali Dal,

được xác định chặt chẽ với việc thành lập bang Sikh ở Punjab và bao gồm nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo Sikh giáo trong tổ chức của họ Ở Maharashtra, Shiv Sena sử dụng di sản của vương quốc Maratha độc lập dưới những hình tượng nổi tiếng như Shivaji để khuấy động sự ủng hộ và cũng ủng hộ Hindutva Ở Assam, Asom Gana Parishad là một đảng tập trung vào nội chính bang hơn, vốn nảy sinh sau sự thất vọng của Mặt trận Thống nhất Giải phóng Asom (ULFA) như một biểu hiện nhân

từ của chủ nghĩa dân tộc Assamese Ở Tamil Nadu là tổ chức đầu tiên là Dravidar Kazhagam (DK) Ngày nay DK là viết tắt của một nhóm các bên24, với Dravida Munnetra Kazhagam (DMK), All India Anna Dravida Munnetra Kazhagam (AIADMK), Pattali Makkal Katchi (PMK) và Marumalarchi Dravida Munnetra Kazhagam (MDMK) Chính trị ở đây dựa trên nền tảng mời tham dự Đảng Bahajan Samaj và đảng của Laloo Prasad Yadav, những người xây dựng dựa trên sự hỗ trợ của người Hindu đẳng cấp thấp và người Dalit Hindus ở miền bắc, và các bang đông dân nhất của Ấn Độ như Uttar Pradesh và Bihar Hầu như tất cả các bang của

Ấn Độ đều có một đảng trong vùng dành riêng cho văn hoá của người bản địa của tiểu bang đó

1.3 Quan niệm của Tagore

1.3.1 Quan niệm của Tagore về thế giới

Tinh thần văn hoá Ấn Độ có hai điểm đặc biệt là Đạo lý tâm linh và Tự do tín ngưỡng Và sợi dây xuyên suốt các tư tưởng triết học và tôn giáo từ khởi điểm của nó qua các thời đại chính là khát vọng Hoà Đồng - khát vọng đi tìm sự đồng nhất tinh thần cá nhân với tinh thần vũ trụ Khẩu hiệu của triết học và tôn giáo Ấn

Độ là “Tat Tvam Asi” - Cái kia là Mày “Cái kia” là đại vũ trụ còn “Mày” là tâm

24 "Tamil Nadu / Madurai News: Vijaykanth slams Dravidian parties" The Hindu 8 January 2009 Retrieved 2011-11-17

Trang 30

hồn cá nhân Nối liền cái Ta này với cái không phải là Ta chính là mục đích cuối

cùng, là lối sống, là sức mạnh cho con người Ấn Độ

Theo tư tưởng Hindu giáo, Brahman được xem là cái bản chất đồng nhất và bất biến đằng sau một vũ trụ thiên biến vạn hoá luôn luôn biến đổi Brahman là ―cái

do đó mọi vật sinh ra, cái nhờ đó mọi vật sinh trưởng, cái trong đó mọi vật nhập vào

khi chết‖, Brahman là ―nguồn sáng của tất cả mọi ánh sáng‖, là thực tại tột cùng của

mọi tạo vật hiện tượng, là duy nhất, tuyệt đối, vĩnh cửu Con người cũng như mọi

vật khác chỉ là biểu hiện của một Brahman duy nhất và được hợp thành từ phần thể xác có thể bị huỷ diệt và phần linh hồn bất diệt (Atman) sinh ra từ Brahman và sẽ trở về với Brahman khi cái vỏ xác của nó mất đi Một điểm nữa của tư tưởng Hoà

Đồng trong triết học và tôn giáo Ấn Độ là luôn luôn lấy Đấng Tối cao làm trung tâm Các tín đồ chỉ cần tin yêu, phụng sự và cầu nguyện Đấng Tối cao của mình

Atman có thể hoà nhập với Brahman trong tình yêu và bằng tình yêu thông qua con

đường sùng tín Hiếm có một dân tộc nào lại sùng đạo và trọng triết học như Ấn Độ Đối với người Ấn Độ, họ thích đi sâu khám phá cõi sâu thẳm của vũ trụ, giải đáp những câu hỏi về nguồn gốc, bản chất và hoạt động của sự sống Đó cũng chính là

những vấn đề, những câu hỏi muôn đời của nhân loại

Như vậy, việc đồng nhất căn bản giữa Atman và Brahman là yếu điểm tâm

linh của triết học và tôn giáo Ấn Độ cả về bản thể luận lẫn nhận thức luận Họ đã thực hiện sự đồng nhất giữa Tâm và Vật, giữa chủ quan và khách quan Sự hiểu biết

viên mãn - Vijnana vượt lên trên hiểu biết trí thức - Jnana để đạt đến trạng thái Lạc

- Ananda, trong đó người biết và vật bị nhận biết đã hợp làm một, không còn chút

nào phân biệt

Cũng như tất cả những người Ấn Độ khác, Tagore rất quan tâm đến mối quan hệ giữa con người và thế giới, với Thiên nhiên nói riêng và vũ trụ nói chung nhưng ông đã phát triển nó lên một mức cao hơn, vượt ra khỏi biên giới quốc gia để

đạt đến một tinh thần quốc tế

Theo như Tagore, toàn bộ vũ trụ chỉ là một Những hiện tượng xảy ra vô tận trước mặt chúng ta chẳng qua chỉ là các hình thức khác nhau của một sự thống nhất

Trang 31

tuyệt đối Vũ trụ của cái đa dạng, theo ông, trong thực tế chỉ là phương diện khác của vũ trụ của cái nhất thể Do đó, mối quan hệ giữa cá nhân và vũ trụ không có tính chất xung đột hay trái ngược mà là hài hoà và tình yêu Tagore viết

trong Sadhana: “Chúng ta được nối kết với vũ trụ bằng một tương quan sâu xa hơn

và cốt yếu hơn [ ] Đó là một tương quan tình yêu.”25

Với Tagore, vũ trụ là một bài thơ lớn của cuộc đời được tình yêu dệt nên vần nên điệu, vừa bình dị gần gũi

vừa cao cả thiêng liêng “Chính cuộc sống cá nhân của chúng ta và xã hội của

chúng ta đã đưa lại sự bộc lộ hoàn hảo cho Cái Nhất thể và Cái vô hạn thông qua

sự hoà hợp với cái đa dạng và cho Tình yêu thông qua sự hy sinh chính mình.”26

Tagore gọi Kinh Veda là " bản di chúc thơ ca về phản ứng quần thể của một

dân tộc trước những điều kỳ diệu và nỗi kinh hoàng cuộc sống" và tiếp thu ở đó tinh

thần “hiểu biết thực sự là hiểu biết có thể đưa ta tới tự do”, ở sự nhấn mạnh vai trò

của nhận thức, ở khía cạnh đồng cảm, tình thương trong mối quan hệ con người - thần linh chứ không phải lòng tin mù quáng, và ở khát vọng to lớn con người được hoà nhập làm một với vũ trụ Tagore chọn lọc ánh sáng khẳng định hành động và

trung hoà Atman - Brahman trong Upanishad, bằng cái Tự ngã Đại ngộ vén mở tấm

màn Ảo hoá – Maya và thổi những tư tưởng thâm trầm ấy bay lên bằng giọng điệu đằm thắm mê ly của riêng ông27

Tiếng vọng ngàn năm trong những kinh kệ, giáo huấn kết tinh trong tư

tưởng của Tagore về cá nhân - vũ trụ: “Thực thể Tối cao là thực thể cá tính, sáng

tạo ra thế giới và con người để biểu hiện bản sắc độc đáo của mình Thực thể Tối cao với con người hoà đồng với nhau trong tinh thần tương ái - bình đẳng”28 Thời đại Phục hưng Ấn Độ tạo nơi hội tụ của những dòng sông tôn giáo, dân tộc và văn học đã góp phần làm nên dòng sông thi ca Tagore, từ mạch sông Hằng vươn ra đại dương nhân loại

Tagore cũng cho rằng thế giới của chúng ta là một vũ trụ có trật tự Ông đã

từng nhận xét: “Có một sự kết hợp hài hoà giữa hai mắt của chúng ta khiến cho

25 R Tagore (1973), Thực hiện toàn mãn (Nguyễn Ngọc Thơ dịch), Nxb An Tiêm, Sài Gòn, tr.93

26 R Tagore, Lời nói đầu cho tác phẩm Creative Unity

27 Nguyễn Đăng Thục (1991), Lịch sử triết học phương Đông, Tập 3, Nxb TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr.8

28

Ian P Mcgreal (2005), Những tư tưởng gia vĩ đại phương Đông, Nxb Lao động, Hà Nội, tr.71

Trang 32

chúng hoạt động thống nhất với nhau Giống như vậy, có một mối liên hệ phát triển liên tục không gì có thể phá vỡ nổi giữa mọi hiện tượng của tự nhiên như nóng và lạnh, ánh sáng và bóng tối, di động và đứng yên, như bè bổng và bè trầm của một chiếc đàn piano Đó là lý do tại sao mà mọi sự đối lập không đem lại sự nhầm lẫn

và hỗn loạn cho thế giới này, ngược lại, chúng đem lại cho chúng ta sự hài hoà đẹp đẽ”29 Tagore thường so sánh thế giới của chúng ta với một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo Ông thường gọi thế giới là một bài hát và coi nó là ―một sự biểu lộ cái đẹp‖ Thế giới có thể được tưởng tượng như một dàn nhạc giao hưởng với các nhạc

cụ khác nhau chơi những giai điệu khác nhau nhưng lại tạo nên một hoà âm du

dương bất tận: “Chúng ta nhận thấy những âm điệu vô cùng vô tận của thế giới

không chỉ ở trong cấu trúc mà còn làm rung động trái tim của chúng ta và sản sinh

ra âm nhạc Thế giới chính là một bản nhạc kiệt tác do nghệ sĩ bậc thầy vĩnh cửu - Đấng Tối cao sản sinh ra”30

Chính vì vậy, theo Tagore sự vĩ đại của một nền văn minh phụ thuộc không phải vào cái gì mà nó có, hay số lượng những gì nó có mà trong việc nó biểu hiện cái gì và bằng cách nào Một nền văn minh không lớn lên nhờ những sản phẩm vật chất của nó và sự tích luỹ những của cải ấy vì vật chất chỉ mang tới cho con người cảm giác về sự tiện nghi chứ không nâng cao mức độ văn minh Một cá nhân đứng một mình thường là ích kỷ và mang tính chất phá hoại nhưng khi chúng được kết hợp lại với nhau theo lý tưởng về tình yêu và sự thống nhất, các cá nhân đó lại biểu hiện các phương diện của chủ nghĩa nhân đạo Chẳng hạn như khi bản năng sinh tồn

tự phát triển thì nó sẽ biến thành lòng tham nhưng khi nó được cổ vũ bởi lý tưởng cộng đồng xã hội thì nó trở thành lễ hội của sự sống Sự say mê sắc dục thì ích kỷ

và mang tính phá hoại nhưng khi được kiểm soát bởi lý tưởng của tình yêu thì nó

trở nên biểu tượng của sự gắn bó về tinh thần của con người với cái vô hạn “Xã hội

loài người chính là sự bộc lộ tốt đẹp nhất của con người và sự bộc lộ đó theo như

Trang 33

sự hoàn hảo của nó, dẫn con người tới sự nhận thức đầy đủ về bản chất thần thánh trong chính con người”31

Một phương diện về tinh thần vũ trụ của R.Tagore thể hiện cụ thể trong tình yêu vô hạn của ông với Thiên nhiên Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng có lẽ

vì Tagore bị Thiên nhiên cuốn hút quá mãnh liệt cho nên ông ít quan tâm đến triết học về thế giới hơn Thiên nhiên hấp dẫn Tagore không chỉ là vì đây là đối tượng

của niềm vui mang tính chất mỹ học mà còn vì nó tràn đầy sinh lực: “Thế giới này

đang sống cùng tôi, gắn bó mật thiết với tôi như thể là người ruột thịt”32

Tình yêu dành cho Thiên nhiên dường như nảy sinh rất sớm trong đời ông và đã ám ảnh ông

suốt đời ―Tuổi mười tám, một thoáng gió mùa xuân đánh động vào tim tôi‖ Với Tagore, thiên nhiên “nói hộ những tiếng thì thầm muôn đời của con người, vũ trụ,

thiên nhiên trong một sự thống nhất vĩnh hằng”33 Thông điệp nào trong chiếc lá cỏ nhỏ nhoi, thông điệp nào trong đoá hoa sen thơm ngát được nhà thơ lắng nghe bằng

cả tim mình: ―Bãi sa mạc hùng vĩ - Đang cháy lên bởi tình yêu của một ngọn cỏ‖

Andreé Carpeles đã tôn xưng cái mộng đẹp tình yêu, cái vĩ đại tự nhiên, cái thanh tĩnh hài hoà ở tâm hồn - vũ trụ Tagore:

Gurudeva 34 ! Người phiên dịch kỳ diệu Của Thiên nhiên còn đầy bí ẩn

Và huyền ảo của Tình yêu

Sự gắn bó của Tagore đối với Thiên nhiên dường như là mang tính tôn giáo

Báo Time đã viết: “Có lẽ không có một thi sĩ nào lại sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo

hơn và không có nhà tôn giáo nào lại thi sĩ hơn người vĩ nhân Ấn Độ ấy!” (The Times Literary Supplement) Tinh thần dấn thân hành động của ông đã mang dấu ấn

tư tưởng ở những nhà huyền học Tây phương, nơi triết lý tình yêu trộn lẫn với tư

tưởng - tín ngưỡng - niềm tin Rất nhiều lần, Tagore đã nói: “Thiên nhiên chính là

nơi thiêng liêng nhất nếu chúng ta muốn hành hương” Chẳng hạn như khi chúng ta

trông thấy một con đường, chúng ta có thể đưa ra hai cách nhìn: hoặc là chúng ta

31 R Tagore, Creative Unity, p.23

32 R Tagore (1953), Religion of Man, lần in thứ tư, p.99

33 Nguyễn Văn Hạnh (2000) ―Thiên nhiên trong Thơ Dâng của Tagore‖, Tạp chí Văn học, 9, tr.67

34

Có nghĩa là Bậc thánh sư

Trang 34

coi con đường như là trở ngại ngăn cản chúng ta tới được đích của mình; hoặc là chúng ta coi con đường như là điểm nối sẽ đưa chúng ta tới đích của chính mình

Do đó, chúng ta cũng có hai cách nhìn Thiên nhiên Chúng ta có thể có sự hoà hợp với Thiên nhiên hoặc là chúng ta chỉ tìm cách thống trị nó Khi con người có thể dùng sức mạnh của Thiên nhiên cho mục đích của chính mình thì hai sức mạnh đó kết hợp với nhau sẽ trở thành vô địch Điều này không chỉ giải thích tại sao Tagore luôn luôn nhấn mạnh quan điểm ―Tình yêu với Thiên nhiên‖ mà còn giải thích quan niệm mang tính triết học của Tagore về Thiên nhiên, trong đó cái nhìn của ông là sự trìu mến của một ―người tình thiên nhiên‖ đã dám dấn sâu vào tình yêu nhân loại

Như A.Schweitzer nhận xét: “Học thuyết do Tagore rao giảng theo đó tất cả thiên

nhiên đều được kích hoạt bởi linh khí vũ trụ không còn là học thuyết trong Upanishad mà là học thuyết của một tư tưởng chịu ảnh hưởng của khoa học hiện đại.”35

1.3.2 Quan niệm của Tagore về Dân tộc

Với Tagore, chúng ta không bao giờ nên quên, rằng ông là một nhà thơ hàng

đầu Do đó ông đã theo đuổi câu châm ngôn: "Không bao giờ chọn một định nghĩa

đơn giản khi chỉ một sự so sánh là đủ" E P Thompson lưu ý xu hướng này trong

phần giới thiệu của ông về ấn bản năm 1991 về chủ nghĩa dân tộc Nhưng trên thực

tế, về vấn đề dân tộc, Tagore đưa ra những tuyên bố rất rõ ràng Một quốc gia, theo ông, được hiểu theo nghĩa của liên minh chính trị và kinh tế của một dân tộc và là "

khía cạnh mà toàn bộ dân số giả định khi được tổ chức vì một mục đích cơ học"36 Ngay lập tức chúng ta chú ý tới ý thức của Tagore trong việc sử dụng chiến lược của thuật ngữ Đối với Tagore, một dân tộc không thể đánh đồng với "các nhóm thiểu số"- ethnic, cũng không đánh đồng với một nhóm văn hoá hoặc ngôn ngữ học

Nó có thể đã được sinh ra từ - và vẫn bao gồm - các hiện tượng như vậy, nhưng đối với Tagore, định nghĩa về dân tộc là đặc biệt hiện đại và độc quyền có tính phương

35 Nguyễn Đức Đàn (1996), Hành trình văn học Mỹ, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.134, 146

36 Rabindranath Tagore, 'The Nation', The Modern Review, 22/1 (1917), p 1 Cf Rabindranath Tagore, 'Creative Unity', in Sisir Kumar Das (ed.), The English Writings of Rabindranath Tagore: Volume Two (New

Delhi: Sahitya Akademi, 1922), p 548

Trang 35

Tây "Mục đích cơ học" của nó liên quan đến tính hợp lý của công cụ trong hình thức tổ chức chính trị Dân tộc là một lực lượng lớn hơn tổng các phần của nó: nó

có một mục đích, và yếu tố mục đích này được tôn trọng dưới hình thức của nhà

nước Do đó, trong bài phê bình của Tagore, dân tộc luôn là ―nhà nước-dân tộc"

Cách tiếp cận này đối với ý tưởng về dân tộc qua các cuộc tranh luận cuối thế kỷ hai mươi về bản chất của các quốc gia và chủ nghĩa dân tộc Nếu chúng ta suy nghĩ về sự trao đổi giữa hai học giả quan trọng nhất của các quốc gia và chủ nghĩa dân tộc, Ernest Gellner và Anthony D Smith, và "nuôi" một quan điểm theo Tagore, chúng ta sẽ thấy Tagore đồng ý, trong một số ý nghĩa, với sự hiểu biết hiện đại của Gellner về đất nước Smith nhấn mạnh tầm quan trọng của "lịch sử, huyền thoại và ký ức" đối với các dân tộc, qua đó nhấn mạnh đến tính hiện đại của chúng,

sẽ đồng nghĩa với cái mà Tagore gọi là "một dân tộc" hay "quốc gia" Sự nhấn mạnh của Gellner là về chính trị tầng cao và hệ tư tưởng của chủ nghĩa dân tộc "tạo

ra các dân tộc " chứ không phải là các dân tộc đã có từ trước sẽ tạo ra chủ nghĩa dân tộc Đây chính là điều mà Tagore coi là cần thiết cho các quốc gia - dân tộc, vốn chỉ

có trong bối cảnh cụ thể của phương Tây hiện đại Các đặc tính của sự hiện đại đặc biệt đó tạo ra các quốc gia - dân tộc là sức mạnh quy định của nhà nước, kết hợp với khoa học, nằm trong khuôn khổ rộng hơn về cạnh tranh thương mại và quân sự giữa các đơn vị quốc gia riêng lẻ37

Giá trị so sánh với các lý thuyết chính trị đương đại của các quốc gia và chủ nghĩa dân tộc không chỉ là ngẫu nhiên Nó nhắc nhở chúng

ta rằng quan điểm của Tagore về quốc gia phương Tây là nó thuộc về một thời kỳ nhất định trong lịch sử phương Tây, nhưng nó không phải là một mô hình phổ quát hay một con đường hội tụ cần thiết và duy nhất

Nhà nước và xã hội

"Khái niệm tương phản" của Tagore, giúp chúng ta đặt ra định nghĩa của mình trong các tham số tranh luận đương đại về các quốc gia và chủ nghĩa dân tộc - cũng như phân biệt một vị trí rõ ràng của Tagore- là "xã hội" Quốc gia được đánh đồng với nhà nước là "tổ chức lợi ích của toàn dân, nơi mà con người ít nhất cũng

37 Anthony D Smith, Nationalism and Modernism: A Critical Survey of Recent Theories of Nations and Nationalism (London: Routledge, 1998) pp 170-198

Trang 36

coi là thiêng liêng" Nhà nước-dân tộc là một "cơ chế thương mại và chính trị xoay chuyển những bước đi của nhân loại có giá trị hữu dụng và giá trị thị trường cao" Ngược lại, xã hội lại "không có mục đích sau cùng", mà là "một sự kết thúc trong chính nó"38 Nói tóm lại, "đó là một biểu hiện tự phát của con người như một hiện tượng xã hội Đó là một quy luật tự nhiên của các mối quan hệ giữa con người, để con người có thể phát triển lý tưởng của cuộc sống hợp tác với nhau " Tagore thay

thế ý thức hệ của quốc gia bằng ý tưởng về swadeshi samaj, về "các mối quan hệ xã

hội không cơ bản và không nhân đạo mà dựa trên tình yêu và sự hợp tác"39 Đặc điểm chính của các quốc gia –dân tộc phương Tây hiện nay là tìm cách thực hiện quyền lực bằng cách điều chỉnh dân cư của mình (Tagore chỉ đơn giản gọi là "người dân") và chỉ đạo các năng lực tập thể của họ hướng tới các mục tiêu bên ngoài Nhà nước-dân tộc, đối với Tagore, là một hệ thống tổ chức và một cấu trúc quyền lực

"Phương pháp cứng rắn về hiệu quả khi quốc gia có được sức mạnh, và ít nhất trong một khoảng thời gian nhất định, nó tự hào chứng tỏ mình có khả năng sống sót cao nhất nhưng đó là sự sống còn của phần người – phần nhân bản sống sót ít nhất"40

Nó tạo ra hiệu quả nhưng cũng đơn điệu và giống nhau, nhờ vậy mà phương Tây hiện đại - ví dụ như ở các thị trấn, thành phố hiện đại, mang lại cho chúng ta "cái nhìn về sự thống trị của quốc gia-dân tộc" kiểu này - "ở mọi nơi từ San Francisco đến London, [và bây giờ] từ London đến Tokyo"41

Do đó, quốc gia-dân tộc kiểu này được mô tả là hung hăng và cạnh tranh bên ngoài, nhưng cũng được đánh đồng với sức mạnh kỷ luật và quy định nội bộ và

sự xói mòn của sự khác biệt Do đó, trong cả định hướng bên trong và bên ngoài, nó

là sự phủ định tự do (được tìm thấy trong thế giới sự sống của "dân tộc": "phong cách sống" tìm thấy biểu hiện của chúng trong "văn học, nghệ thuật, biểu tượng xã hội" và nghi lễ…) Một lần nữa, sự giống nhau giữa "con người" của Tagore và

"quốc gia" của Smith - dựa vào những gì Smith nói đến "biểu tượng tượng trưng

38 Tagore, 'The Nation' p 1 Cf Tagore, 'Creative Unity' p 548

39

Ernest Gellner, Thought and Change (London: Weidenfeld and Nicolson, 1964) p 174 17 Tagore,

Nationalism p 47

40 Sen Gupta, The Philosophy of Rabindranath Tagore p 50

41 Ernest Gellner, Thought and Change (London: Weidenfeld and Nicolson, 1964) p 174 17 Tagore,

Nationalism p 51

Trang 37

ethno" – là thật đáng kinh ngạc Khái niệm tương phản thứ hai được sử dụng bởi Tagore để phân biệt sự khác biệt giữa các hoạt động của quốc gia-dân tộc với thế giới và cuộc sống xã hội là "chính trị" Khi nền văn minh chính trị chiếm ưu thế, Tagore viết:

―Các quốc gia sống trong một bầu khí quyển của sự sợ hãi, tham lam và

hoảng loạn, vì sự lăng mạ của một quốc gia đối với sự giàu có vật chất và tinh thần của dân tộc khác Nền văn minh của nó là động vật ăn thịt và ăn thịt đồng loại, ăn thịt các quốc gia yếu hơn Một ý tưởng của nó là ngăn chặn tất cả sự vĩ đại bên ngoài ranh giới riêng của nó Chưa bao giờ có những sự ghen tị ghê tởm như vậy, những sự phản bội của niềm tin; tất cả điều này được gọi là lòng yêu nước, có tín ngưỡng là chính trị‖42

Có sự nhầm lẫn, Tagore nói, khi đánh đồng ý tưởng "quốc gia" với "con người" Nó dẫn đến "một chứng mù đạo đức vô vọng" "Lý tưởng của con người xã hội là không ích kỷ", trong khi đó lý tưởng của dân tộc là ích kỷ43 Vì thế, tôn vinh các đức tính của dân tộc có nghĩa là "nền tảng đạo đức của nền văn minh con người đang bất biến trải qua sự thay đổi", như "chúng ta thấy con người cảm thấy thuyết phục về các tuyên bố của Cơ đốc giáo, bởi vì các quốc gia Thiên Chúa giáo đang chiếm hữu phần lớn của thế giới Nó giống như hỗ trợ cho tôn giáo của kẻ cướp bằng cách trích số tiền của tài sản bị đánh cắp vậy"44 Tagore tin rằng đó là sự thờ phụng chủ nghĩa dân tộc, cho phép chúng ta thờ phụng quốc gia mặc dù "những gì chúng ta nhìn thấy trên thực tế là mọi quốc gia đã thịnh vượng [vật chất] thông qua

sự nghiệp ích kỷ hung hăng của nó hoặc trong những cuộc mạo hiểm thương mại để cướp lấy tài sản nước ngoài hoặc trong cả hai"45 Quan điểm của Tagore không phải

là cơ chế dân tộc mà ông gọi là "người dân" hoàn toàn vô tội; "Chúng ta phải thừa nhận rằng những tà ác có trong bản chất con người và chúng xuất hiện bất chấp đức tin của chúng ta đối với luật đạo đức", ông nói Nhưng sự xuất hiện của quốc gia

42

E P Thompson, „Introduction‟: Tagore, Nationalism p 38

43 Tagore, 'The Nation' p 1, người viết nhấn mạnh Cf Tagore, 'Creative Unity' p 548

44 Benedict Anderson, Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism (2nd

edn.; London: Verso, 1991) p 10

45

Tagore, 'The Nation' p 3 Cf Tagore, 'Creative Unity' p 551

Trang 38

như được hiểu ở phương Tây hiện đại cung cấp cả phương tiện và hệ tư tưởng cho việc nhấn mạnh và tăng tốc tinh thần tiêu cực, ích kỷ, cạnh tranh của con người "Ý tưởng về Quốc gia/dân tộc này, đã được chấp nhận rộng rãi trong thời đại hiện nay,

cố gắng vượt qua sự sùng bái sự ích kỷ như là một nghĩa vụ đạo đức nó không chỉ cam kết tàn nhẫn mà còn tấn công sinh khí của nhân loại"46

Tagore ngầm chỉ ra sức mạnh của lý tưởng quốc gia để tạo ra hành động và

hy sinh khi ông tuyên bố rằng vấn đề với chủ nghĩa dân tộc là nó dạy rằng "quốc gia lớn hơn người dân"47 Điều này rất thú vị vì Tagore tuyên bố chính xác là "sức mạnh của sự tự hy sinh" và "khoa học đạo đức của sự thông cảm và hợp tác" là

"tinh thần hướng dẫn của sức sống xã hội"48 Một số người theo chủ nghĩa dân tộc -

và thực sự là một số nhà phân tích về chủ nghĩa dân tộc - đã lập luận ngược lại: đó

là lý tưởng của quốc gia có thể truyền cảm hứng cho cá nhân đến những mục đích lớn hơn mà cá nhân mình có thể đạt được Trong ví dụ nổi tiếng của Benedict Anderson, nó là sức mạnh tinh thần quyến rũ của "lăng mộ của người lính vô danh", trong đó nguyên tắc của sự hy sinh - ẩn danh và thay mặt cho tất cả "con người" khác - trở thành một lý tưởng cốt lõi của cộng đồng quốc gia tưởng tượng hiện đại49

Những người khác đã chỉ ra cách mà cộng đồng quốc gia đã tham gia vào các liên kết luân lý và chia sẻ rủi ro trong việc quốc phòng hiện đại50 Nhưng đối với Tagore, ngược lại, việc tôn sùng quốc gia –dân tộc theo quan niệm của ông lại phản đối tinh thần hy sinh như vậy Điều này theo ông là do chủ nghĩa dân tộc đã dẫn dắt người dân "bỏ qua luật luân lý phổ quát và chỉ sử dụng nó trong phạm vi giới hạn

46

Rabindranath Tagore, 'Nationalism', in Sisir Kumar Das (ed.), The English Writings of

Rabindranath Tagore: Volume Two (New Delhi: Sahitya Akademi, 1917), p 1-2 Cf Tagore, 'Creative

Michael Collins, 'History and the Postcolonial: Rabindranath Tagore‟s Reception in

London, 1912-1913', The International Journal of the Humanities, Vol 4, No 9 (2007), pp 71-84

50 Harish Trivedi, 'Nationalism, Internationalism and Imperialism: Tagore on England and the West', in G R

Taneja and Vinod Sena (eds.), Literature East and West: Essays Presented to R K Dasgupta (New Delhi:

Allied, 1995), pp 163-176

Trang 39

của nó"51 Điều này, trong một ý nghĩa quan trọng, là mấu chốt của sự phê bình của Tagore về quốc gia –dân tộc hiện đại Ông là một người theo chủ nghĩa phổ quát, khăng khăng trong niềm tin của mình rằng chân lý và luân lý là một, không thể phân chia và có mặt khắp nơi: vì thế bất kỳ hình thức tổ chức "bên ngoài" nào mâu thuẫn với sự thật đó là một hành vi phạm tội về đạo đức

1.3.3 Quan niệm của Tagore về Chủ nghĩa dân tộc

Phần lớn bài viết của Tagore liên quan đến các vấn đề thuộc về quốc gia –

dân tộc Gora (Fair-Skinned, 1910), được viết trong những năm đầu của chủ nghĩa

thực dân, thể hiện qua nhân vật chính Gora, một đứa trẻ mồ côi được nuôi nấng trong một gia đình Hindu, chỉ để khám phá danh tính thật của mình khi đã là một người lớn Nhưng trong khi chủ nghĩa dân tộc vẫn là một vấn đề mà Tagore trở đi trở lại trong suốt cuộc đời, sự tham gia của ông vào phong trào dân tộc chủ nghĩa ở

Ấn Độ dao động, phần lớn là do những khác biệt ý thức hệ mà ông có so với các nhà lãnh đạo của phong trào này Trong khi Tagore, không nghi ngờ gì, là người rất yêu nước, khái niệm "tự do" của ông không chỉ đơn thuần là sự công bố chính trị của người Anh Ông rất thận trọng với các phong trào công cộng bạo lực, hiểu rõ cách thức của những dân tộc yếu bên lề xã hội trong thời thuộc địa Trong số này, Tagore đặc biệt quan tâm đến hai phong trào là Phong trào Swadeshi, và sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc cách mạng

Phong trào Swadeshi, bắt đầu với chia cắt Bengal vào năm 1905 và tiếp tục cho đến năm 1908, nhằm mục tiêu vào thành trì kinh tế của người Anh ở Ấn Độ Phản ứng với độc quyền sản xuất mà nhờ đó người Anh có thể bán hàng hoá Ấn Độ với giá cao, một nhóm lớn người dân ở Bengal đã chọn cách tẩy chay hàng hóa nước ngoài, thay vào đó muốn mua hàng sản xuất trong nước (swadeshi có nghĩa là của quốc gia, và ở đây là bằng cách mở rộng, đề cập đến tự cung tự cấp) Mặc dù đây dường như là một chiến thuật chống đối hiệu quả, nhưng phong trào đã không tính đến những tổn thất to lớn mà các thương nhân nhỏ, chủ yếu là Muslim, phát

51 Harish Trivedi, 'Nationalism, Internationalism and Imperialism: Tagore on England and the West', in G R

Taneja and Vinod Sena (eds.), Literature East and West: Essays Presented to R K Dasgupta (New Delhi:

Allied, 1995), pp 163-176

Trang 40

sinh từ kết quả này Cuốn tiểu thuyết của Tagore, Ghare Baire (Gia đình và Thế

giới, 1916) đặc biệt xúc động trong việc miêu tả các thương nhân Muslim bị công

chúng đốt cháy hàng hoá (vì là hàng hoá của Anh) theo ―nghi thức cách mạng‖ Khi Nikhil, một zamindar hoặc chúa đất có thế lực, được xem là nhân vật then chốt của Tagore trong cuốn tiểu thuyết, phản đối việc đối xử với các thương nhân Muslim sống trên mảnh đất của mình, ông liền bị buộc tội là không yêu nước

Việc tẩy chay hàng hoá nước ngoài chỉ là một phần nhỏ trong một biến chuyển phức tạp hơn trong công cuộc chính trị chống thực dân, sự nổi dậy của chủ nghĩa dân tộc cách mạng Tagore đã rút khỏi vị trí hàng đầu của phong trào dân tộc sau một năm sau khi Khudiram Bose tình cờ giết chết một phụ nữ và trẻ em khi nỗ lực ám sát thẩm phán Muzzafarpur tại một thị trấn ở bang Bihar Ấn Độ Sự kinh hoàng của sự bạo lực và tính phi lý mù quáng của nó được thể hiện qua nhân vật

phản đề của Nikhil trong Gia đình và Thế giới, Sandip Sandip có sức lôi cuốn phi

thường, quyến rũ mọi người, kể cả vợ của Nikhil, Bimala Trong những khoảnh khắc riêng tư, anh ta tiết lộ là người tự cao tự đại, vô ý thức và ích kỷ Tagore đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ của Sandip với Bimala Nikhil mong muốn cuộc hôn nhân của mình với Bimala là người đồng hành và bình đẳng, khuyến khích cô đọc, giới thiệu cô với bạn bè của mình, nhưng Bimala nhanh chóng bị cuốn hút bởi Sandip, người đặt tên Mẹ Ấn Độ cho cô và tôn thờ cô như một nữ thần Hindu, coi

cô như dấu hiệu của Ấn Độ tự do Cách Sandip đối xử với Bimala có vấn đề nhưng

cô không nhận ra điều này - thay vì giải phóng cô, Sandip không thừa nhận cô làm

gì hơn là biến cô thành một đối tượng tình dục, chỉ là hình ảnh và không gì hơn Cô chỉ nhận ra điều này khi cô đưa mình vào các mối quan hệ khác, Với Amulya – nhà cách mạng trẻ, cô phát triển cảm giác của người mẹ, nhưng đã quá muộn - cuốn tiểu thuyết kết thúc bằng Nikhil, vỡ mộng về Bimala và từ đây, chỉ tập trung chiến đấu

vì cuộc sống của mình Tagore tiếp tục tố cáo chủ nghĩa dân tộc cách mạng và sự lệ

thuộc vào bạo lực và tuyên truyền Cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, Char

Adhyay (Bốn chương 1934) tiếp tục mô tả những hậu quả tai hại của chủ nghĩa dân

tộc cách mạng tại Ấn Độ

Ngày đăng: 23/01/2019, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w