Trường Trung học bảo hộ với một lịch sử tồn tại gần một nửa thể kỉ dưới thời Pháp thuộc chứa đựng rất nhiều điều thú vị cần nghiên cứu để qua đó vừa thấy được những nét chung, phổ quát c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình khoa học của riêng tôi Các tài liệu, số liệu được sử dụng trong luận văn hoàn toàn trung thực, khách quan, khoa học và có xuất xứ rõ ràng Nếu không đúng sự thật tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, 6/2018
Vũ Thị Hạnh Quỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ hết sức tận tình và quý báu của các thầy trong Bộ môn Lịch sử Việt Nam cận hiện đại, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, mà trước hết và nhiều nhất là từ thầy giáo hướng dẫn Nhân đây em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy, đặc biệt là GS.TS Nguyễn Văn Khánh
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi
Trong quá trình sưu tầm, biên dịch tài liệu phục vụ việc hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, hiệu quả của các cán bộ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Cục Văn thư lưu trữ Nhà nước Tôi xin bày tỏ
sự cảm ơn chân thành nhất
Dù đã rất cố gắng, song chắc chắn bản luận văn sẽ không trách khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong sự chỉ bảo, đóng góp của quý thầy cô cùng bạn bè đồng nghiệp
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hạnh Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP TRƯỜNG TRUNG HỌC BẢO HỘ Ở HÀ NỘI 12
1.1 Khái quát về nền giáo dục Pháp - Việt Bắc kì đầu thế kỉ XX 12
1.1.1 Hệ thống giáo dục Pháp - Việt sau hai cuộc cải cách giáo dục năm 1906 và 1917 12
1.1.2 Nội dung học và tài liệu giảng dạy ở các trường tiểu học và trung học Pháp - Việt đầu thế kỉ XX 28
1.2 Thành lập trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội 30
Chương 2: HOẠT ĐỘNG CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC BẢO HỘ Ở HÀ NỘI (1908 - 1945) 38
2.1 Tổ chức hoạt động 38
2.2 Chương trình đào tạo; đội ngũ giáo viên và học sinh của trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội 48
2.2.1.Chương trình đào tạo 48
2.2.2 Đội ngũ giảng viên và học sinh 59
Chương 3: ĐÓNG GÓP CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC BẢO HỘ Ở HÀ NỘI ĐẾN NĂM 1945 72
3.1 Trường Trung học Bảo hộ - một trong những nôi sản sinh trí thức Tây học đầu thế kỉ XX 72
3.2 Trường Trung học Bảo hộ trong phong trào yêu nước và đấu tranh cách mạng Việt Nam 77
3.2.1 Hoạt động ái hữu 77
3.2.2 Tham gia vào phong trào đấu tranh cách mạng 79
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1:Số lượng học sinh nhận học bổng tháng 6/1918 47
Bảng 2.2:Số học bổng được trao cho học sinh của trường Trung học Bảo hộ năm 1920 48
Bảng 2.3:Thời khóa biểu và chương trình học có hiệu lực kể từ năm học 1925 52
Bảng 2.4: Thời gian biểu và chương trình học có hiệu lực từ năm học 1927 đối với năm thứ nhất và năm thứ hai, và năm học 1928 đối với năm thứ 3 53
Bảng 2.5: Chương trình bậc tú tài bản xứ của trường áp dụng từ năm 1926 53
Bảng 2.6: Bảng lương và ngạch bậc giáo viên được quy định tại Học chính tổng quy (năm 1917) 63
Bảng 2.7:Thống kê số lượng học sinh của trường năm học 1917-1918 68
Bảng 2.8: Thống kê số lượng học sinh của trường năm học 1918-1919 68
Bảng 2.9: Thống kê số liệu học sinh của trường năm học 1919-1920 69
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội là một trong những ngôi trường có lịch
sử lâu đời và truyền thống vẻ vang vào loại bậc nhất của Hà Nội cũng như của cả nước Ngày 9 tháng 12 năm 1908, Toàn quyền Đông Dương Klobukowski ra quyết định thành lập Collège du Protectorat (Trường Thành chung Bảo hộ - tương đương trường cấp II theo hệ thống giáo dục phổ thông hiện nay) trên cơ sở sáp nhập Trường Thông ngôn Hà Nội, Trường trung học Jules Ferry Nam Định và trường Sư
phạm Hà Nội (Cours normal) Trong quá trình xây dựng và phát triển hơn 100 năm,
trải qua nhiều lần đổi tên, nhiều lần thay đổi địa điểm đóng trú, thậm chí có lúc gần như ngừng hoạt động, nhưng ngôi trường vẫn tồn tại và đến ngày hôm nay vẫn là trường công lập danh giá hàng đầu của Hà Nội và cả nước, là cái nôi nuôi dưỡng, đào tạo rất nhiều trí thức lỗi lạc trên nhiều lĩnh vực, nhiều lãnh tụ và chiến sĩ cách mạng làm rạng danh cho Tổ quốc Giai đoạn từ khi thành lập cho đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945 dù dưới danh nghĩa là một ngôi trường công lập thuộc hệ thống giáo dục thuộc địa, hoạt động trong sự kiểm soát rất gắt gao của chính quyền thực dân, nhưng lớp lớp các thế hệ thầy trò của trường đã luôn luôn nêu cao tinh thần dân tộc, vừa phấn đấu đạt thành tích cao trong học tập, vừa hòa mình vào các phong trào đấu tranh yêu nước bằng nhiều hình thức khác nhau Bằng chứng là rất nhiều học sinh của trường đã đạt được thành tích cao, đỗ vào trường cao đẳng, đại học trong nước, thậm chí giành được những học bổng tại những trường danh giá của nước Pháp và sau này trở thành những nhà khoa học đầu ngành của Việt Nam và thế giới Và cũng từ ngôi trường này, nhiều thầy, trò đã trở thành những chiến sĩ cách mạng lỗi lạc chiến đấu hết mình cho sự nghiệp giành độc lập tự do của Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Thời kì Pháp thuộc - hơn 80 năm dân tộc Việt Nam dưới ách nô lệ của thực dân Pháp, bên cạnh chính sách bóc lột tàn bạo về kinh tế, hà khắc về chính trị của chính quyền thuộc địa, nhưng trong suốt gần một thế kỉ ấy kinh tế - xã hội Việt Nam lại có những bước biến chuyển lớn mà dấu ấn của những thành tựu ấy vẫn còn
Trang 8lại cho đến tận bây giờ, trong đó không thể không nhắc tới lĩnh vực giáo dục Để có những đánh giá khách quan và xác đáng về một giai đoạn lịch sử đầy biến động ấy cần phải có những nghiên cứu cụ thể (case study) Trường Trung học bảo hộ với một lịch sử tồn tại gần một nửa thể kỉ dưới thời Pháp thuộc chứa đựng rất nhiều điều thú vị cần nghiên cứu để qua đó vừa thấy được những nét chung, phổ quát của nền giáo dục Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, vừa thấy được những đặc điểm riêng của ngôi trường này với này - điều làm nên cái thương hiệu “Trường Bưởi - Chu Văn An” suốt hơn một trăm năm qua
Thêm vào đó, bản thân tác giả là một biên tập viên đang công tác tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, một trong những đơn vị tham gia trực tiếp vào công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay Việc tìm hiểu về chính sách giáo dục, chương trình, mục tiêu đào tạo, đội ngũ giảng dạy, học tập và phương pháp giảng dạy tại một ngôi trường phổ thông tiêu biểu, nổi tiếng bậc nhất của thời kì Pháp thuộc giúp bản thân trau dồi, bổ sung thêm kiến thức chuyên môn, từ đó có những kiến giải xác đáng hơn trong công việc cụ thể của mình Thực tiễn tồn tại, hoạt động gần nửa thế kỉ dưới thời Pháp thuộc của một ngôi trường công lập cũng là những gợi mở có ý nghĩa cho công cuộc đổi mới nền giáo dục Việt Nam hiện nay
Với những lí do trên đây, cũng như sự gợi mở, động viên của thầy hướng dẫn,
tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Trường Trung học bảo hộ ở Hà Nội (1908-1945)” cho
luận văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thời kì Pháp thuộc kéo dài gần một thế kỉ (từ giữa thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX), một giai đoạn không dài so với lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, nhưng lại chứng kiến những biến chuyển, trưởng thành vượt bậc trên mọi lĩnh vực, trong đó có giáo dục Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX nền giáo dục - khoa cử Nho giáo truyền thống đã tồn tại hàng nghìn năm mất dần vị thế và chấm dứt vào năm
1919 Thay vào đó, chính quyền thuộc địa bằng các cuộc cải cách rầm rộ trên toàn Đông Dương dần dần thiết lập và hoàn chỉnh hệ thống giáo dục hiện đại dựa trên chữ Quốc ngữ và chữ Pháp Ra đời trong bối cảnh thực dân, sự hình thành và phát
Trang 9triển của nền giáo dục mới của Việt Nam trong giai đoạn này chứa đựng nhiều điều thú vị, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Sớm nhất phải kể đến một số bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử những năm 1960 của Nguyễn Trọng Hoàng: Chính sách giáo dục của thực dân
Pháp ở Việt Nam (số 96 năm 1967); của Nguyễn Anh: Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất (số 98 năm
1967), Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ sau Đại chiến thế giới lần thứ Nhất đến
Cách mạng Tháng Tám (số 102 năm 1967), Giáo dục vùng dân tộc ít người, giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục tư thục ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc (số 107
năm 1968) Trong các bài viết này Nguyễn Trọng Hoàng đã phân tích khá chi tiết về
số học sinh ở Việt Nam năm 1943 để từ đó đưa ra mô hình phát triển giáo dục theo hình chóp mà thực dân Pháp chủ trương Nguyễn Anh cũng đã đưa ra nhiều số liệu đáng tin cậy liên quan đến giáo dục ở Việt Nam giai đoạn này và là nguồn tài liệu tham khảo của nhiều công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng như nước ngoài Tuy nhiên, cả hai tác giả phê phán mạnh mẽ chính sách giáo dục mà nhà cầm quyền Pháp đã thực hiện ở Việt Nam và cho rằng: “nền giáo dục của thực dân Pháp tổ chức ở Việt Nam không những đã hết sức nhỏ bé mà lại còn có một nội dung nô lệ
và ở một trình độ hết sức thấp kém”
Quan điểm này tồn tại sau đó khá lâu Như trong cuốn Tìm hiểu giáo dục
Việt Nam trước 1945, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh đã viết: “Chính phủ thực dân
theo đà tiến chung của thế giới, theo nhu cầu phục vụ cho quyền lợi của chúng, không thể không cải cách giáo dục… Nhưng mục đích của chúng không thể là để khai hóa, để mở mang dân trí cho người Nam Chỉ có thể cải cách theo kiểu cầm chừng, nhỏ giọt, chế biến và uốn nắn nội dung giáo dục,…Giáo dục thực dân chỉ là một thứ giáo dục ngu dân” [63; 27]…“Nhà trường do bọn thực dân tổ chức cũng vẫn là nơi xa lạ với trẻ con nhà nghèo Chỉ trong mấy chục năm bọn thực dân đã đem đến cho không ít người trí thức việt Nam một số nếp suy nghĩ lệch lạc mà cứ tưởng đó là chân lí Nhà trường trung lập, không quan tâm đến đời sống chính trị bên ngoài, thầy thì chỉ biết dạy, trò chỉ biết học” [63; 174] Còn tầng lớp trí thức tây học theo ông là những người xuất thân từ tầng lớp khá giả, có điều kiện được học ở
Trang 10các trường do Pháp đào tạo nên, trở thành “trí thức mới” thì chấp nhận chính sách giáo dục thực dân Xuất phát từ quan điểm này mà trong công trình của mình, tác giả đề cập nhiều đến những phong trào, những hoạt động chống lại nền giáo dục thực dân; phần viết về hệ thống giáo dục Pháp - Việt rất ít, trong đó lại chủ yếu nêu những mặt tiêu cực trong tổ chức, nội dung, chương trình giáo dục
Sau đó đến những năm 1990 xuất hiện một số công trình nghiên cứu về giáo
dục Việt Nam nói chung trước năm 1945: Nguyễn Q Thắng (1994), Khoa cử và
giáo dục Việt Nam; Nguyễn Đăng Tiến (1996), Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám; Phan Trọng Báu (in lần đầu tiên 1996, in lần thứ hai 2015
có chỉnh lí, bổ sung), Giáo dục Việt Nam thời cận đại; Trịnh Văn Thảo (1996), Nhà
trường Pháp ở Đông Dương Các công trình của Phan Trọng Báu và Trịnh Văn
Thảo, dựa trên khối lượng tư liệu khá phong phú, đã phác thảo khá toàn diện diện mạo về nền giáo dục Việt Nam trong một giai đoạn dài từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam đến trước khi Cách mạng tháng Tám thành công, từ hệ thống giáo dục (gồm các bậc tiểu học, trung học, cao đẳng, đại học) đến chương trình đào tạo, nội dung giảng dạy Các tác giả ngoài việc khẳng định tính chất thực dân, những mặt hạn chế trong chính sách, chương trình giáo dục ở giai đoạn này, vẫn ghi nhận những thành công, đóng góp đáng kể của nền giáo dục Pháp - Việt đặc biệt trong việc gia tăng tỉ lệ trẻ em biết chữ khi đến tuổi đi học ở các vùng nông thôn, hệ thống giáo dục bậc cao (cao đẳng, đại học), giáo dục nghề, góp phần đào tạo thế hệ trí thức tân học tham gia trực tiếp vào tất cả các mặt đời sống, góp phần rất lớn làm thay đổi kinh tế - xã hội Việt Nam Theo Phan Trọng Báu: “Trái với mong muốn của chính quyền thực dân, chữ quốc ngữ thực sự đã trở thành công cụ chuyển tải văn minh phương Tây, văn minh thế giới đến với một bộ phận dân chúng Việt Nam, nhất là giới học sinh, sinh viên của hệ thống giáo dục mới Họ là tầng lớp trí thức Tây học Một bộ phận trong số họ đã tiếp thu những thành tựu khoa học, những tư tưởng dân chủ tiến bộ từ nền văn minh phương Tây và truyền bá lại cho nhân dân, giúp nhận thức ra sự đối xử bất bình đẳng của người Pháp đối với người dân bản
xứ, từ đó góp phần khơi dậy ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước, làm cơ sở cho hoạt động yêu nước và cách mạng Ngoài ra, nhiều môn học mới cũng được đưa vào nhà
Trang 11trường, không chỉ có khoa học xã hội mà có cả khoa học tự nhiên, kĩ thuật, ngoại ngữ Số người biết chữ cũng tăng lên, trình độ dân trí của quần chúng cũng dần được cải thiện, lối sống theo văn hoá phương Tây được hình thành ở những đô thị lớn Tất cả những điều mới mẻ đó được phổ cập đến quần chúng một cách dễ dàng, nhanh chóng là nhờ vào chữ quốc ngữ, ngôn ngữ mới của giáo dục cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Đây là một kết quả “vượt lên hơn hẳn nền giáo dục Nho giáo, đã làm cho bộ mặt xã hội ta thay đổi theo hướng đi lên” [39; 235]
Cùng với quan điểm này, tác giả Trần Phương Hoa đã cho công bố một loạt bài viết trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu Đông Bắc Á về giáo dục Pháp -
Việt: Giáo dục Pháp - Việt ở Việt Nam giai đoạn 1906-1945 và cải cách giáo dục ở
Nhật Bản thời Minh Trị; Sách giáo khoa tiểu học ở Việt Nam trong trường Pháp - Việt giai đoạn 1906-1945 và ở Nhật Bản thời Minh Trị giai đoạn 1872-1890; Giáo dục ở Bắc Kỳ đầu thế kỉ XX đến năm 1915 - Chuyển đổi các trường Nho giáo sang trường Pháp-Việt và đến năm 2012 cho ra mắt chuyên khảo: Giáo dục Pháp - Việt ở Bắc Kỳ (1884-1945)
Cùng quan điểm với các tác giả này, không thể không kể đến công trình của một số chuyên gia về kinh tế - xã hội thời kì Pháp thuộc: Nguyễn Thế Anh (1970),
Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ; Nguyễn Văn Khánh (2004), Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858- 1945); Nguyễn Văn Khánh (2016), Trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc; Trần Viết Nghĩa (2012), Trí thức Việt Nam đối diện với văn minh phương Tây thời Pháp thuộc, …Trong các công trình này, các tác
giả ngoài việc cung cấp những số liệu thống kê đáng tin cậy, cũng đưa ra những đánh giá khách quan về thành tựu, hạn chế của giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc,
về những đóng góp của tầng lớp trí thức trong cuộc canh tân đất nước và giải phóng dân tộc
Giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc cũng được một số học giả nước ngoài quan tâm Đầu tiên phải kể đến Luận văn Thạc sĩ tại Khoa Lịch sử, Đại học
Hongkong của Hoàng Thị Trợ với đầu đề Changements dans la politique scolaire
au Viet-Nam depuis 1906 (Những thay đổi về chính sách giáo dục ở Việt Nam kể từ năm 1906) Luận án này được viết bằng tiếng Pháp, chủ yếu khai thác nguồn tài liệu
Trang 12ở nước ngoài nên đã cho thấy giáo dục Việt Nam (bao gồm cả ba miền Bắc, Trung, Nam) chịu ảnh hưởng rất nhiều của mô hình giáo dục Pháp kể từ giai đoạn hình thành đến giai đoạn sau 1954 Tuy nhiên, do chưa khai thác nguồn tài liệu lưu trữ và báo chí tiếng Việt trước năm 1945 đã khiến cho những đánh giá của tác giả còn khá phiến diện
Năm 1978, Dương Đức Như bảo vệ luận án Tiến sĩ tại Đại học Nam Illinois
tại Carbondale, có tên là Education in Vietnam under the French Domination
1862-1945 (Giáo dục ở Việt Nam thời Pháp đô hộ, 1862-1862-1945) Luận án chủ yếu dựa vào
các tài liệu thứ cấp, các nhận định sẵn có và trình bày vấn đề khá sơ sài, nội dung chính là về các cuộc cải cách giáo dục những cũng chủ yếu là trên văn bản pháp quy chứ không có số liệu thực hiện trên thực tế để so sánh, đối chiếu
Không thể không kể đến Luận án Tiến sĩ của Gail Paradise Kelly
Franco-Vietnamese Schools, 1918-1938 (Trường Pháp Việt, 1918-1938) được bảo vệ tại
trường Đại học Wisconsin-Madison năm 1975 Trong luận án của mình Gail Kelly
đã đưa ra những phân tích cụ thể và chi tiết về thể chế giáo dục tại Việt Nam, đặc biệt mối quan hệ giữa bản chất “chính trị” với tính chất “chuyên môn” của các cơ quan giáo dục, trong đó có Nha Học chính và các Sở học chính ở địa phương Theo Kelly, những chính sách mang nặng tính chất chính trị áp đặt lên giáo dục đã khiến
tư duy giáo dục trở nên méo mó và tác động tiêu cực đến sự phát triển của người dân bản xứ Có thể nói, luận án của Gail Kelly là một trong những công trình đi sâu nhất và chi tiết nhất về các hoạt động của nhà trường Pháp - Việt ở Việt Nam từ
1918 đến 1938 Sau đó bà đã viết nhiều bài báo, được tập hợp in trong hai
tập Education and Colonialism (1978) (Giáo dục và Chủ nghĩa thực dân) và French
Colonial Education: Essays on Vietnam and West Africa (2000) (Chế độ giáo dục thực dân kiểu Pháp: Nghiên cứu ở Việt Nam và Tây Phi)
Trong The Rise of Nationalism in Vietnam, 1900-1941 (Sự trỗi dậy của chủ
nghĩa dân tộc ở Việt Nam, 1900-1941), Duiker đã bàn đến vai trò của những trí thức
Pháp học (Francophile), những người được đào tạo tại các trường Pháp-Việt như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh trong xây dựng văn học Quốc ngữ, dùng Quốc ngữ
Trang 13để đưa văn hóa Việt Nam đến với đông đảo người Việt Nam cũng như với người nước ngoài và qua đó làm giàu có các giá trị văn hóa tinh thần người Việt
Có thể thống kê trên đây của tác giả không thể bao quát hết được những nghiên cứu về giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc của các học giả trong và ngoài nước Tuy nhiên có thể thấy rằng, trong tất cả những nghiên cứu trên về giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc mà tác giả tiếp cận, nhân tố nhà trường Pháp - Việt lại chưa được quan tâm đúng mức Về mặt lí thuyết, một số nhà lí luận giáo dục, trong
đó có Philip Albatch và Gail Kelly cho rằng: “trường học [thực dân] bị tách ra khỏi nền văn hóa bản địa về ngôn ngữ và các giá trị văn hóa khác” Không hiếm trường hợp học sinh đã qua những nhà trường thuộc địa này rơi vào trạng thái mất phương hướng, thiếu lí tưởng, thậm chí đi ngược lại con đường chung của toàn dân tộc Tuy nhiêntheo tác giả nhà trường Pháp - Việt ở Bắc Kỳ lại cho thấy một thực tiễn khác Nhưng rất tiếc, cho đến nay chưa có bất kì một công trình nào khảo sát một cách thật đầy đủ và hệ thống về một trường trường Pháp - Việt cụ thể (case study) với tất
cả các thành tố của nó để minh chứng cho thực tiễn trên Vì vậy, việc nghiên cứu về trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội (dân gian quen gọi là Trường Bưởi) - một ngôi trường tiêu biểu, có nhiều đặc thù riêng đồng thời cũng phản ánh những giai đoạn khác nhau của giáo dục Việt Nam nói chung - chứa đựng rất nhiều thú vị song chắc chắn không ít khó khăn
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Trước khi bắt tay vào thực hiện đề tài này, khi bản thân tác giả tự đặt ra những câu hỏi: Trường Trung học Bảo hộ được thành lập trong bối cảnh nào? Trong suốt gần nửa thế kỉ dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền thực dân ngôi trường này đã tồn tại và hoạt động như thế nào để không những trở thành cái nôi đào tạo nhân tài hàng đầu cả nước, mà còn là nơi rèn luyện và trưởng thành của thế
hệ thanh niên tham gia nhiệt thành vào cách mạng giải phóng dân tộc? Để trả lời cho những câu hỏi trên Luận văn của chúng tôi tập trung làm sáng tỏ sự ra đời, tổ chức và quá trình hoạt động cũng như những đóng góp của Trường Trung học Bảo
Trang 14hộ ở Hà Nội từ khi thành lập đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 thông qua một số nhiệm vụ sau đây:
1- Trình bày một cách hệ thống quá trình hình thành và tồn tại của trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội từ khi thành lập đến trước Cách mạng Tháng Tám năm
1945 thông qua việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chương trình giảng dạy, mục tiêu đào tạo, số lượng giáo viên học sinh của trường giai đoạn 1908 - 1945
2- Nêu bật vị trí, những đóng góp của trường trong nền giáo dục quốc dân cũng như những hoạt động đấu tranh cách mạng của thầy trò trường Trung học Bảo
hộ ở Hà Nội giai đoạn từ khi thành lập cho đến Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945
3- Từ những trình bày cụ thể về một ngôi trường trung học trong hệ thống giáo dục công lập sẽ cung cấp, luận văn thêm những cứ liệu đáng tin cậy về diện mạo của hệ thống giáo dục Pháp - Việt từ lí thuyết cũng như sự vận hành trên thực
tế để có những đánh giá, nhận định khách quan về lĩnh vực quan trọng của lịch sử Việt Nam - văn hóa, giáo dục - trong một giai đoạn lịch sử còn tồn tại nhiều quan điểm chưa thống nhất, thậm chí trái chiều
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội thành lập từ năm 1908 và tồn tại cho đến tận ngày nay, nhưng do trong điều kiện thời gian và khuôn khổ của một bản Luận văn Thạc sĩ, tác giả lựa chọn giai đoạn từ khi thành lập cho đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, mà chủ yếu là từ 1908 đến khoảng năm 1940 Những năm
1940 do Chiến tranh thế giới thứ Hai lan rộng, trường phải sơ tán ra nhiều nơi, hoạt động giáo dục cũng bị gián đoạn, học sinh bỏ trường về quê hoặc tham gia kháng chiến Vì vậy đối tượng nghiên cứu của Luận văn là sự ra đời và hoạt động của trường Trung học Bảo hộ từ khi thành lập (năm 1908) đến Chiến tranh thế giới thứ Hai
Về tên gọi, hiện nay danh xưng Trường THPT Chu Văn An đã trở nên quá quen thuộc và nổi tiếng không chỉ ở Hà Nội mà trong cả nước Tuy nhiên, trước khi chính thức mang tên bậc “Vạn thế sư biểu” Chu Văn An, mọi người thường quen gọi tên là Trường Bưởi Nhưng đó chỉ là tên do thầy, trò cũng như mọi người quen
Trang 15gọi để biểu thị tinh thần dân tộc, chứ không phải tên chính thức của trường Trong
hồ sơ chính thức của Sở Học chính Bắc Kỳ, Trường có tên tiếng Pháp là College du Protectorat (Trường Thành chung Bảo hộ) hay sau năm 1929 là Lycée du Protectorat (Trường Trung học Bảo hộ) Như vậy, tác giả thống nhất lấy tên gọi này
là danh xưng của trường trong toàn bộ nội dung của Luận văn, mặc dù biết rằng có những khi viết về phong trào đấu tranh của thầy trò, nếu dùng từ trường Bưởi nghe
sẽ hợp lí và thân thương hơn nhiều!
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu sự ra đời và quá trình hoạt động của trường Trung học Bảo hộ trong suốt gần 1 nửa thế kỉ, từ khi thành lập cho đến trước Cách mạng Tháng Tám Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tư liệu nên luận văn chỉ tập trung trình bày hoạt động của trường từ khi thành lập đến năm 1930 Đối với những đóng góp của trường, luận văn sẽ đề cập đến hoạt động yêu nước sôi nổi của thầy và trò trường Bưởi từ những năm 1930 đến Cách mạng tháng Tám 1945
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong Luận văn là phương pháp logic, phương pháp lịch sử Tuy nhiên trong quá trình thực hiện tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: thống kê định lượng, so sánh, đối chiếu Các phương pháp được sử dụng linh hoạt để có thể tìm ra những cứ liệu đánh tin cậy, hợp lí, từ đó giúp tác giả có những đánh giá nhận định khách quan, đúng mực, có căn cứ khoa học
6 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở trình bày kết quả nghiên cứu, luận văn có những đóng góp sau:
- Hệ thống hóa quá trình hình thành và hoàn thiện của nền giáo dục Pháp – Việt
ở Bắc kì đầu thế kỉ XX sau hai cuộc cải cách giáo dục 1906 và 1917
- Trình bày quá trình thành lập, hoạt động của trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội từ năm 1908 đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945
- Nêu bật những đóng góp, vị trí của Trường Trung học Bảo hộ trong nền giáo dục quốc dân và trong cuộc vận động giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX
- Từ những nghiên cứu về hoạt động, kết quả đào tạo, vai trò của một cơ sở đào tạo công lập, luận văn cung cấp thêm những dữ liệu khoa học giúp cho việc nhận định, đánh giá những vấn đề lịch sử thuộc thời kì Pháp thuộc được khách quan, xác đáng hơn
Trang 167 Nguồn tư liệu nghiên cứu
7.1 Tư liệu sơ cấp
- Các tài liệu gốc được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Thư viện Quốc gia Việt Nam,…
- Hồi kí, ghi chép của các cựu giáo viên, học sinh của Trường…
7.2 Tư liệu thứ cấp
- Các bài viết tiếng Việt đăng trên báo chí Việt Nam trước 1945: Tạp chí
Nam Phong, Tạp chí Đông Dương, Báo Trung Bắc tân văn,Hà Thành ngọ báo…
- Những công trình nghiên cứu đi trước về giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc
Có thể nói trong quá trình đi tìm tài liệu thực hiện luận văn của mình tác giả gặp rất nhiều khó khăn Trên thực tế, chưa có một công trình nghiên cứu nào trực tiếp viết về ngôi trường này, mặc dù nó là một ngôi trường công lập có bề dày truyền thống và nổi tiếng bậc nhất của Hà Nội và cả nước từ khi thành lập cho đến tận ngày nay Các tài liệu liên quan hoặc hoàn toàn là tài liệu lưu trữ bằng tiếng Pháp, hoặc chỉ là những ghi chép tản mạn ở các công trình nghiên cứu về giáo dục Việt Nam nói chung, hay ở một số tờ báo, tạp chí đầu thế kỉ XX, hoặc một vài hồi
kí của các cựu học sinh của trường Đó là những ghi chép đáng quý của những con người đã được học tập trong những ngày tháng hào hùng dưới ngôi trường này, tuy nhiên thông tin rất tản mạn và có độ chênh lớn giữa các ghi chép khác nhau Hiện nay, tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I có lưu trữ 251 hồ sơ thuộc phông Sở Học chính Bắc Kỳ, Tòa Đốc lí Hà Nội, Phủ Toàn quyền Đông Dương, Phủ Thống sứ Bắc Kỳ có liên quan đến ngôi trường này nhưng chiếm phần lớn trong số đó là các
hồ sơ về nhân sự giảng dạy và quản lí ở trường, hồ sơ xin cấp học bổng,… và rất ít
tư liệu về chương trình đào tạo, tuyển sinh, tài liệu giảng dạy, kết quả đào tạo của trường Chính vì vậy tác giả luận văn đã phải chọn lọc những tư liệu liên quan, dịch
và sử dụng làm chất liệu phục dựng lại bức tranh tương đối hệ thống về trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội gần một nửa thế kỉ hình thành và phát triển Mặc dù tác giả đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những chỗ còn khuyết thiếu, chưa toàn diện
8 Bố cục của Luận văn
Trang 17Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của Luận văn chia làm 3 chương
Chương 1: QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP TRƯỜNG TRUNG HỌC BẢO HỘ Ở HÀ NỘI 1.1 Khái quát về hệ thống giáo dục Pháp - Việt Bắc Kỳ đầu thế kỉ XX
1.2 Thành lập trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội
Chương 2: HOẠT ĐỘNG CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC BẢO HỘ Ở HÀ NỘI (1908 - 1945)
Trang 18Chương 1: QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP TRƯỜNG TRUNG HỌC BẢO HỘ
Ở HÀ NỘI 1.1 Khái quát về hệ thống giáo dục Pháp - Việt Bắc Kỳ đầu thế kỉ XX
1.1.1.Hệ thống giáo dục Pháp - Việt sau hai cuộc cải cách giáo dục năm 1906
và 1917
Trong suốt một quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, nền giáo dục khoa cử Nho học giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo, lựa chọn nhân tài Cũng có thể trong một vài trường hợp những trí thức lỗi lạc tham gia vào hệ thống chính trị thông qua việc tiến cử, tuy nhiên tuyệt đại đa số tuyển dụng quan lại đều thông qua khoa cử Nho học Tất cả các triều đại phong kiến đều rất chú trọng đến việc hoàn thiện hệ thống khoa cử và chế độ tuyển dụng tầng lớp ưu tú
lãnh đạo, đúng như nhận xét của Phan Huy Chú: “Con đường tìm người tài giỏi
trước hết là khoa mục Phàm muốn thu hút người tài năng tuấn kiệt vào trong phạm
vi của mình thì người làm vua một nước không thể nào không có khoa cử” [39; 11]
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX, ở Bắc Kỳ, mặc dù Nho học vẫn phổ biến nhưng ý nghĩa của nó đối với xã hội đã dần mất đi Thậm chí có người nhận xét: “Kể từ đầu thế kỷ, ở nước ta cũng như ở các nước khác ở Á Đông, có cuộc xung đột lớn của hai nền văn hóa cũ mà nền tảng là Nho giáo và văn hóa mới từ Âu châu đưa vào Kết cục của sự xung đột ấy, văn hóa của mình sụp đổ tan tác, rã rời Người mình tựa như ngồi trên con thuyền không lái, về đời tinh thần không biết bấu víu vào đâu Một người An Nam thuộc vào hạng học thức là một môn đồ của Nho giáo, Tứ Thư, Ngũ Kinh thuộc làu làu, nhưng thuộc chưa chắc đã hiểu Thành ra một nhà nho có khi chỉ nho ở cái áo khoác bên ngoài Đến khi thấy một cái áo khoác có cái hình thể khác, mới mẻ hơn, cứ việc cởi cái cũ của mình để khoác cái áo mới vào, không do
dự, không nhớ tiếc” [73; 421] Một số sự kiện diễn ra đầu thế kỉ XX có thể minh chứng rõ hơn cho nhận định này, như sự hưởng ứng nhiệt tình của nhiều nhà Nho khi Hội đồng Hoàn thiện giáo dục Bản xứ năm 1906 ban hành cải cách các trường bản xứ, đưa thêm chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và một số môn khoa học vào trường, cũng như vào các kì thi Hương Năm 1909, năm đầu tiên đưa các môn thi mới vào
Trang 19thi Hương, một số nhà Nho ở Hà Đông, Nam Định đã gửi thư cho Thống sứ Bắc Kỳ: “Những người già không học được chữ Quốc ngữ, những người lười không học được sách tân thư, những người con quan chỉ học lối cũ, không chịu học lối mới, trong ba giống người ấy nếu có đỗ thì cũng vô dụng mà thôi Xin nhà nước nhất định bỏ phép thi cũ mà thi phép thi mới” [56; 56] Khi thiết lập dần nền cai trị thực dân ở Việt Nam, nhận thức được rất rõ thực tế nền giáo dục Nho học tuy đã mất dần vai trò, không đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới nhưng vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong các tầng lớp nhân dân, người Pháp đặt ra mục tiêu là phải nhanh chóng xóa bỏ nền giáo dục Nho học và thay thế bằng một hệ thống giáo dục mới trên cơ sở Pháp ngữ và Quốc ngữ, tạo điều kiện phục vụ tốt hơn cho công cuộc cai trị Năm 1864 là
kì thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ (tổ chức ở ba tỉnh miền Tây trước khi bị Pháp chiếm) Từ năm 1878 chữ Hán trong giấy tờ công văn các cơ quan hành chính được thay thế bằng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ Ở Bắc Kỳ và Trung Kì, chậm chạp hơn rất nhiều: Kì thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ là năm Ất Mão 1915, và ở Huế năm Mậu Ngọ 1918 Chế độ giáo dục và khoa cử Nho học thực sự cáo chung với khoa thi Hội cuối cùng năm Kỷ Mùi 1919 ở Huế1
Khi xây dựng nền giáo dục mới thay thế Nho học, người Pháp có ba mục đích: Mục đích đầu tiên quan trọng nhất nhằm đào tạo lớp người thừa hành chính sách của Pháp cai trị và khai thác ở Việt Nam và cả Đông Dương Tầng lớp này bao gồm các viên chức trong các ngành hành chính, giáo dục, y tế và xây dựng Thứ đến, là truyền bá tư tưởng Pháp, lòng biết ơn sự khai hóa của Pháp và sự trung thành với nước Pháp Cuối cùng với mục đích mị dân, làm người Việt tin rằng hệ thống giáo dục của Pháp ở Việt Nam là văn minh và tiến bộ Hai mục đích đầu là căn bản, mục đích thứ ba chỉ dùng để đối phó với sự đòi hỏi một nền giáo dục tiến
bộ của người Việt trong tương lai Trong tuyên ngôn nhậm chức của các vị toàn quyền cũng “tranh thủ” tuyên truyền cho mục đích đó Phương châm của người Pháp đặt ra chủ yếu là nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nền giáo dục truyền thống của Việt Nam với nền giáo dục hiện đại của Pháp thông qua việc đưa các bộ môn
Pháp hay chữ quốc ngữ Điều này cũng phần nào cho thấy sức sống khá dai dẳng của giáo dục Nho học ở Việt Nam cũng như tính không triệt để của nền giáo dục thời Pháp thuộc
Trang 20khoa học và tiếng Pháp vào giảng dạy ở trường học, để có thể gắn liền lợi ích của người Pháp với người bản xứ, tiến hành trao đổi các ý tưởng nhằm tạo các tiếp xúc cần thiết giữa người Pháp và người Việt”.Năm 1887, trong bài viết về nền giáo dục Pháp ở Bắc Kỳ, Dumoutier - khi đó là người tổ chức và thanh tra các trường học Pháp -Việt - đã nhận thức rất rõ vai trò của giáo dục trong công cuộc bình định và khai thác thuộc địa Đông Dương: “Trường học là công cụ có hiệu lực nhất, vững chắc nhất và có khả năng chinh phục nhất” [56;51] Để hiện thực hóa những mục tiêu trên, chính quyền thuộc địa lần lượt ban hành nhiều chính sách để dần dần xác lập và củng cố hệ thống giáo dục Pháp - Việt trên toàn cõi Đông Dương, nhất là ở Bắc Kỳ - nơi hệ thống giáo dục Nho giáo cho đến đầu thế kỉ XX vẫn còn ảnh hưởng rất sâu đậm
Các nhà nghiên cứu từ trước tới nay thường nhắc đến mốc 1861 với sự ra đời của Trường đào tạo thông ngôn Bá Đa Lộc như là một sự khởi đầu của nền giáo dục Pháp thuộc Cái mốc đó là sự tác động đầu tiên của Pháp vào nền giáo dục Việt Nam, cụ thể là miền Nam Việt Nam Sau đó, Pháp thực hiện nhiều chính sách giáo dục ở miền Nam như đóng cửa các trường chữ Hán, thay thế trường chữ Hán bằng trường Quốc ngữ, dạy chữ Quốc ngữ, một ít chữ Pháp, xóa bỏ hoàn toàn các kì thi Nho học, mở trường sư phạm, ban hành các quy chế giáo dục trong các năm 1874, 1879, Tuy nhiên, người Pháp tỏ ra lúng túng và gặp rất nhiều khó khăn trong việc
tổ chức lại hệ thống giáo dục ở Nam Kỳ, chưa tạo ra những tác động mạnh mẽ vào nền giáo dục cố hữu của người dân Việt Nam Học sinh vẫn theo học chữ Hán ở các trường lớp tư, số học sinh theo học trường của Pháp rất ít ỏi Cho đến năm 1886, số trường học hàng tổng và hàng xã được mở là 343 trường, với 95 giáo viên Pháp,
503 giáo viên Việt và 18.231 học sinh ở tất cả cấp học, các đơn vị hành chính, từ xã đến tỉnh, tỉ lệ người đi học chiếm chưa được 1% dân số Nam Kỳ” [69; 26] Nhân lực vật lực thiếu thốn, số lượng học sinh khiêm tốn, chất lượng giáo dục rất thấp Kết quả giáo dục sau mấy chục năm đánh chiếm Việt Nam học chỉ đào tạo được
“vài trăm người An Nam nói tiếng Pháp, vài ngàn người nói sai tiếng Pháp, đó là những bồi bếp, những người kéo xe… Dân chúng còn lại thì không biết chữ An Nam lẫn chữ Pháp” [69; 26] Có thể thấy, các chính sách giáo dục của người Pháp ở
Trang 21miền Nam chưa tạo ra những thay đổi về chất, chưa phá vỡ được cấu trúc giáo dục truyền thống của Việt Nam, hay nói cách khác là chưa tạo ra được một cuộc cải cách triệt để trong lĩnh vực giáo dục Sau hiệp ước Patenôtre năm 1884, chính quyền bảo hộ Pháp mà đại diện là các quan toàn quyền đến lúc này mới thực sự sát sao với công cuộc cải cách giáo dục tại Việt Nam Trong giai đoạn này, những kinh nghiệm giáo dục ở Nam Kỳ được áp dụng cho cả Trung Kì và Bắc Kỳ Các quan toàn quyền nối tiếp nhau đưa ra các chính sách giáo dục tác động mạnh mẽ đến nền giáo dục truyền thống trên khắp lãnh thổ Việt Nam Sự nghiệp cải cách nền giáo dục ở thuộc địa chỉ bắt đầu với sự vào cuộc của một nhân vật xuất sắc, vị toàn quyền thực sự đầu tiên ở Đông Dương: Paul Bert (1886-1890) Từng giữ hai vị trí cao trong giới hàn lâm (giáo sư ở Collège de France và người kế tục Claude Bernard - người được coi là cha đẻ của Sinh lí học - trên bục giảng môn Sinh lí học), Paul Bert rất hi vọng sau khi được Quốc hội Pháp thông qua luật học đường thì ông sẽ đóng một vai trò lớn ở thuộc địa, làm thay đổi hoàn toàn nền giáo dục Đông Dương Tháng 4-1886, Paul Bert được cử giữ chức Tổng Trú sứ Trung-Bắc
Kỳ Ông đã thi hành các chính sách giáo dục mềm dẻo như mở thêm trường chữ Pháp dạy học sinh Việt Nam với chương trình tinh giản, tiến hành dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho quan chức người Pháp, đưa chữ Hán vào chương trình giảng dạy
ở những trường mới mở (trường Pháp-Việt), duy trì các trường dạy chữ Hán để đi thi Hương, tổ chức trường dạy tiếng Pháp ở Huế cho những người hoàng tộc và con
em quan lại cao cấp trong triều đình, thành lập Bắc Kỳ Hàn lâm viện để tập hợp những người có học vị từ cử nhân trở lên… Paul Bert vừa chú trọng đến việc làm cho các Nho sĩ nhận thức được rằng họ phải biết tiếng Pháp, hiểu người Pháp, nhưng ngược lại người Pháp cũng phải học tiếng người “bản xứ” để hiểu biết người dân mình cai trị Tuy nhiên, cuối năm 1886, Paul Bert qua đời, những dự định về một cuộc cải tổ giáo dục đều phải đình lại Mãi đến năm 1894, sau khi De Lanessan được cử sang làm Toàn quyền Đông Dương, một số chính sách mà Paul Bert đề ra tiếp tục được thực hiện như phục hồi những lớp học chữ Quốc ngữ và chữ Hán cho quan chức người Pháp, mở nhà in, cho ra tờ công báo bằng chữ Hán Sau De Lanessan, Toàn quyền Rousseau cho mở Trường Quốc học Huế với mục đích đào
Trang 22tạo con em tầng lớp trên của triều đình phong kiến thành những quan cai trị có cả cựu học lẫn tân học, học cả ba thứ chữ Pháp, Việt, Hán Năm 1897, Paul Doumer thay Rousseau Tháng 12-1898, ông ra nghị định thành lập Viện Bác cổ tại Đông Dương, sau đổi tên là Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp Đây là cơ quan nghiên cứu khoa học lớn của Pháp tại Đông Dương, có một số đóng góp đáng kể cho việc xây dựng chương trình cải cách giáo dục Tháng 6-1898, Paul Doumer ban hành nghị định về thể thức thi chữ Quốc ngữ và chữ Pháp trong các kì thi Hương, nhưng chưa bắt buộc Khoa cử Nho học của Việt Nam đã chịu những tác động rõ rệt, chuẩn bị cho thời kì cáo chung Năm 1902, Toàn quyền Paul Beau lên thay Paul Doumer, quyết định từ 1903 chữ Quốc ngữ và chữ Pháp bắt buộc phải thi trong các kì thi Hương Nam Kỳ Nhìn chung, cho đến năm 1905, hệ thống giáo dục Việt Nam tồn tại dưới ba hình thức khác nhau: ở Nam Kỳ đa số các tổng xã đều có trường tiểu học Pháp-Việt, dạy chữ Pháp và Quốc ngữ, chữ Hán hầu như bãi bỏ hoàn toàn; ở Bắc
Kỳ và Trung Kì số trường dạy chữ Pháp và Quốc ngữ rất ít ỏi, trường học chữ Hán vẫn tồn tại khắp nơi Thực trạng đó đòi hỏi chính quyền bảo hộ Pháp phải tiến hành một cuộc cải cách giáo dục toàn diện Chính quyền bảo hộ nhận ra rằng không thể đột ngột thay thế chữ Nho trong chương trình bằng chữ Quốc ngữ, cần phải có một
sự thỏa hiệp, tức là đưa các trường dạy chữ Nho xích lại gần các trường Pháp-Việt bằng cách hiện đại hóa việc học chữ Nho và đa dạng hóa chương trình ở các trường Pháp-Việt Giáo dục Việt Nam bước vào giai đoạn cải cách thực sự Những thiết chế cho việc xây dựng chương trình cải cách giáo dục có thể kể đến như sau: Nghị định ngày 27-4-1904, thành lập Nha Học chính Bắc Kỳ; Sắc lệnh ngày 14-11-1905 của Toàn quyền Paul Beau cho thành lập Nha Học chính Đông Dương trực thuộc Phủ Toàn quyền để phối hợp sửa đổi chương trình giáo dục trong toàn xứ Đông Dương; Nghị định ngày 8-3-1906 thành lập Hội đồng cải lương học chính bản xứ.Hội đồng này có nhiệm vụ nghiên cứu cải tổ nền giáo dục cũ, cải cách các kì thi Hương ở Bắc và Trung Kì, đưa tiếng Pháp và khoa học vào nội dung đề thi Hội đồng cũng phải chú ý biên soạn sách giáo khoa, sách tham khảo và các từ điển Nghị định ngày 16-5-1906 cho thành lập ở mỗi xứ Đông Dương một Ủy ban cải lương học chính
Trang 23Trước cải cách giáo dục năm 1906, ngoại trừ Nam Kỳ là xứ thuộc địa (đa số các tổng xã đều có các trường tiểu học Pháp - Việt dạy chữ Pháp và Quốc ngữ, chữ Hán hầu như bãi bỏ hoặc chỉ là môn phụ), còn ở Bắc Kỳ và Trung Kì cấu trúc của nền giáo dục vẫn chủ yếu là hệ thống giáo dục truyền thống được tổ chức lại theo
mô hình Pháp với 3 cấp liên tiếp: Ấu học, Tiểu học và Trung học Mặc dù dã bị thu nhỏ đến mức tối thiểu ở Nam Kỳ, nhà trường Nho giáo vẫn hoạt động rất mạnh và chiếm vị trí áp đảo ở Bắc và Trung Kỳ đặc biệt là ở các làng xã Còn nền giáo dục Pháp - Việt (bản xứ) “tự giới hạn trong một vài trường tiểu học kiêm bị ở các tỉnh lớn, trong việc xây dựng trường Quốc học dành cho việc giảng dạy sau tiểu học đối với những người có bằng tiểu học và đào tạo bổ túc tiếng Pháp cho những người đỗ trong các kì thi Hương và quan lại tập sự” [70; 63] Theo Sanderson Beck trong
cuốn Vietnam and the French: “Trước thời thuộc địa, Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh
mẽ bởi nền văn hóa của Trung Hoa, và bốn phần năm dân số biết đến nền giáo dục Nho học Việt Nam vẫn tiếp tục sử dụng các kì thi Nho học để tuyển dụng công chức cho bộ máy chính quyền đến tận năm 1915 Người Pháp đã cố gắng để dạy ngôn ngữ của họ cho người Việt Nam nhưng cho đến năm 1904, chỉ có khoảng 25.000 học sinh Việt Nam trong các trường Pháp - Việt So với những thuộc địa còn lại của nước Pháp và với các thuộc địa của các quốc gia cạnh tranh với Pháp thì tỉ lệ con em bản xứ đi học ở Bắc và Trung Kỳ những năm đầu thế kỉ XX là thấp nhất, ví
dụ như “tỉ lệ đi học (so với tổng dân số) là 6% ở Algerie, 1/1.000 ở Madagascar, 9/10.000 ở Tây bắc châu Phi thuộc Pháp và ở Bắc Kỳ, 2/1.000 ở Indonesia và 1,4%
ở Ấn Độ (thuộc Anh)” [70; 127]
Như vậy, cho đến đầu thế kỉ XX sau nhiều nỗ lực của chính quyền thuộc địa thì Bắc Kỳ vẫn tồn tại những chế độ giáo dục, hệ thống trường khác nhau đã làm cho người Pháp gặp rất nhiều khó khăn trong việc theo dõi, quản lí và chỉ đạo, số lượng trường Pháp - Việt cũng như tỉ lệ người đi học ở các trường này quá ít ỏi Cộng thêm những biến chuyển của tình hình trong nước và châu Á lúc này đã làm cho nhu cầu cải cách nền giáo dục cho phù hợp được đặt ra bức thiết Toàn quyền P.Beau đã thay Doumer lĩnh nhận trọng trách này Năm 1903, Paul Beau kí nghị định thành lập Hội đồng nghiên cứu cải cách giáo dục Sau ba năm hoạt động, năm
Trang 241906 một nghị định công bố nội dung cải cách đã ra đời (Nghị định cải cách giáo dục ban hành năm 1906 nhưng vì thiếu thầy, thiếu sách giáo khoa nên tới năm 1910 mới chính thức thực hiện) Cùng năm này, ông kí nghị định thành lập Nha Giám đốc học chính (Direction de l'Enseigment) và Hội đồng Hoàn thiện giáo dục bản xứ (Conseil de Perfectionement de l'Enseignement Indigène) Nguyên tắc giáo dục căn bản là “giáo huấn khối quần chúng và trích ra một thiểu số ưu tú”; chủ trương chính
là dân bản xứ phải bắt đầu sự học vấn trong những trường tiểu học dạy tiếng quốc ngữ và chỉ những phần tử thông minh nhất mới lên học những lớp cao đẳng tiểu học trong các trường “franco-annamites” (Pháp - Việt) để sau này có thể theo học những trường trung học mà chương trình giảng huấn hoàn toàn là chương trình Pháp Chế
độ giáo dục này được áp dụng trước tiên ở Bắc Kỳ và Trung kì, rồi mới được phổ biến ở Nam kì kể từ năm 1909 trở đi Tuy nhiên do tình hình lúc bấy giờ, để hạn chế thấp nhất phản ứng của dân chúng và đặc biệt là tầng lớp trí thức Hán học, cải cách của P.Beau bao hàm 2 nội dung: củng cố và mở rộng thêm hệ thống trường Pháp - Việt, đồng thời tổ chức lại hệ thống trường Hán học cho phù hợp Từ năm 1906, việc học chữ quốc ngữ trở thành bắt buộc và được áp dụng cho toàn hệ thống giáo
dục, gồm cả hệ thống trường Pháp - Việt và hệ thống trường chữ Hán: “dân bản xứ
bắt buộc phải học chữQuốc ngữ tại các trường và chỉ những phần tử thông minh nhất mới lên học những lớp cao đẳng tiểu học…” [36; 213]
Với cải cách của Toàn quyền P.Beau, hệ thống trường Pháp - Việt cấp phổ thông được tổ chức lại, chia làm hai bậc: Tiểu học và Trung học
Bậc Tiểu học: có bốn lớp Lớp tư, lớp ba, lớp nhì và lớp nhất Cuối bậc có kì
thi lấy bằng tiểu học Pháp - Việt Chương trình học chủ yếu bằng tiếng Pháp, tiếng Việt và tiếng Hán chỉ chiếm một tỉ lệ rất thấp2 Sở dĩ chương trình tiếng Pháp nặng như thế là vì mục tiêu chính quyền thuộc địa muốn mở rộng ảnh hưởng và vai trò của tiếng Pháp ngay ở năm đầu tiên học sinh đến trường Các môn tiếng Việt và tiếng Hán thời lượng học đã rất ít và nội dung học còn rất sơ sài, chủ yếu là các môn chính tả, luân lí chứ không dạy các môn khoa học khác bằng chữ này
tiếng Pháp, tiếng Việt chỉ có hơn 3 giờ và tiếng Hán chỉ 30 phút Theo Phan Trọng Báu (2015), Giáo dục Việt
Nam thời cận đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.67
Trang 25Bậc Trung học: học sinh được thi vào trung học sau khi đã tốt nghiệp tiểu
học Bậc này chia làm 2: trung học đệ nhất cấp và trung học đệ nhị cấp Trung học
đệ nhất chỉ học có một năm, chia làm hai ban: Ban Văn học (học thêm một ít chương trình của ban tú tài Pháp, nhưng tùy theo hoàn cảnh của địa phương mà thay đổi cho thích hợp, ở đây có thể dạy thêm tiếng Pháp, tiếng Việt và tiếng Hán) Ban Khoa học chia làm ba ngành (nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp), có mục đích đào tạo những nhân viên cho các ngành kinh tế, kĩ thuật Do đó, ở ban này, chương trình văn học sẽ không còn hoặc chỉ dạy rất ít, trái lại việc học những môn khoa học thực hành sẽ được chú ý hơn Ngoài ra, ban Khoa học còn có thể thi vào lớp Sư phạm hoặc Pháp chính
Như vậy, với hệ thống trường Pháp - Việt, nếu như trước kia từ Paul Bert đến Paul Doumer chỉ mới có một vài quy chế cho việc học chữ Pháp, chữ quốc ngữ mang tính chất từng phần thì Paul Beau đã kế thừa những thành quả trên, hệ thống lại cụ thể hơn và bổ sung một số điểm cho phù hợp với tình hình lúc đó Còn đối với nền giáo dục Nho học, lần này họ đã cắt đi một phần chữ Hán để thay vào phần khoa học thường thức như Toán, Vệ sinh Nhưng chính quyền thuộc địa vẫn chưa dám thẳng tay xóa bỏ hoàn toàn nền giáo dục phong kiến và những cơ cấu của nó như nội dung chương trình, sách giáo khoa và tổ chức thi cử Điều đáng chú ý là, trước kia hai nền giáo dục Nho học và Pháp - Việt tồn tại hầu như biệt lập với nhau Còn trong cuộc cải cách giáo dục lần này, chính quyền thực dân Pháp vẫn để tồn tại song song nhưng lại cố làm cho hai nền giáo dục này xích lại gần nhau hơn Do đó,
ở các trường ấu học, tiểu học và trung học của giáo dục phong kiến chương trình cổ điển là phần chữ Hán, có chương trình hiện đại là chữ Pháp, chữ quốc ngữ và chính phần chữ Pháp của các trường này cũng lấy trong sách của trường Pháp - Việt Học sinh sau khi học xong trường ấu học không chỉ có con đường duy nhất là theo học trường tiểu học và trung học để đi thi Hương mà còn có thể học trường tiểu học Pháp - Việt để thi vào các trường trung học Pháp - Việt
Tiến hành cải cách giáo dục lần thứ nhất, với việc mở rộng hệ thống trường Pháp - Việt, nhà cầm quyền Pháp hi vọng trong một thời gian ngắn có thể đào tạo được một số công nhân kĩ thuật và viên chức giúp việc Đối với hệ thống giáo dục
Trang 26phong kiến, sẽ có được một tầng lớp quan lại tuy vẫn lấy cựu học làm chính, nhưng
đã ít nhiều biết đến tân học, có thể làm cầu nối giữa nhân dân và nhà nước bảo hộ Tuy nhiên, các trường Pháp - Việt với 14 môn dạy bằng tiếng Pháp trên tổng số 20 môn ngay từ những lớp đầu tiên của bậc tiểu học, cũng đủ thấy sự mô phỏng hầu như hoàn toàn theo chương trình của bậc tiểu học ở Pháp Do đó vấp phải nhiều khó khăn về giáo viên, sách giáo khoa, tổ chức cơ sở vật chất, chất lượng và hiệu quả không thể cao Còn nội dung giảng dạy chữ Quốc ngữ và chữ Pháp ở hệ thống các trường chữ Hán, người ta đã tập trung nhiều về luật pháp, đơn từ, phong tục là những môn cần thiết cho việc cai trị ở phủ, huyện Trong khi chữ Pháp và chữ Quốc ngữ vốn chưa phải là thứ chữ quen thuộc đối với dân chúng Chỉ riêng chữ Pháp, cách đặt câu, cách đọc, cách viết đã có bao nhiêu thứ rắc rối, muốn tiếp thu học trò phải mất rất nhiều thời gian mới có thể lọt qua kì thi Hương Đến kì thi Hội, sĩ tử phải kiến giải những vấn đề nóng bỏng về kinh tế, chính trị, xã hội mà họ chưa được học hỏi bao nhiêu, nên không có cách nào khác là nói dựa hoặc trình bày, lí giải vấn đề một cách chủ quan, nông cạn và hời hợt Do vậy, tuy công cuộc cải cách giáo dục của Toàn quyền Paul Beau đã cố dung hòa hai nền giáo dục Pháp - Việt và truyền thống nhưng rõ ràng là không thể đáp ứng được yêu cầu như người ta mong muốn Kết quả thực hiện cũng hết sức khiêm tốn: Năm 1907 chỉ có 42 học sinh các trường thuộc địa được tốt nghiệp Cao đẳng tiểu học, đây là con số quá “khiêm nhường” so với nhu cầu của hệ thống hành chính thuộc địa Thậm chí một số cơ quan trong ngành công chính còn tuyển dụng những nhân viên khi họ chưa có bằng trung học Vào năm 1913, số học sinh của trường Pháp - Việt là 49.399 người ở bậc
Sơ đẳng tiểu học, và 12.103 người ở bậc Cao đẳng tiểu học [34;216] Giáo dục Trung học còn ít ỏi hơn nữa Như vậy có thể nói, sau hơn 10 năm tiến hành cải cách nền giáo dục vẫn tỏ ra bất cập, những người đào tạo ra "tân học không dày và cựu học cũng mỏng" khiến cho người Pháp lại phải tiến hành cải cách giáo dục lần thứ hai vào năm 1917
Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai ghi dấu ấn của viên toàn quyền được chính phủ Pháp đặt rất nhiều kì vọng: Albert Sarraut Đầu năm 1917 ông được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương lần thứ hai (lần đầu từ năm 1911-1914) Và
Trang 27ngay cuối năm đó, ngày 21-12-1917 Sarraut đã kí Nghị định ban hành bộ “Học chính tổng quy” (có lẽ giống như “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” trong giai đoạn hiện nay) và năm sau (1918) ban hành thông tri gửi cho tất cả các tỉnh hướng dẫn thực hiện văn bản này Toàn quyền Sarraut cho soạn thảo một pháp chế
giáo dục (Code de l’Instruction publique), nhấn mạnh địa vị quan trọng của Pháp
ngữ; chính phủ bảo hộ muốn áp dụng một chính sách “khứ cựu đồ tân”, bằng cách phổ biến sự giảng dạy Pháp ngữ ngay từ bậc sơ đẳng tiểu học và đem vào nền giáo dục các phương pháp và khoa học phương Tây Có lẽ mục tiêu lớn nhất của chương trình giáo dục lần này chính là xóa bỏ một cách triệt để nhất nền giáo dục Nho học truyền thống, phổ biến và khẳng định vị trí thống trị của nền giáo dục Pháp - Việt, hoàn thiện hệ thống giáo dục từ bậc tiểu học cho đến cao đẳng, đại học nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của công cuộc khai thác thuộc địa quy mô mà chính phủ Pháp thực hiện trên đất Đông Dương sau Đại chiến thế giới thứ Nhất Cũng vì mục tiêu
ấy mà hai vấn đề chính được đề cập trong bộ Học chính tổng quy đó là: Hoàn thiện
hệ thống giáo dục và việc dạy chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp trong các trường học
Bộ Học chính tổng quy bao gồm 7 chương với 558 điều, theo đó hệ thống trường lớp được phân thành 2 loại: giáo dục phổ thông và giáo dục nghề Giáo dục phổ thông được chia làm 3 cấp: Đệ nhất cấp: Tiểu học; Đệ nhị cấp: Trung học; Đệ tam cấp: Cao đẳng hay đại học
Về bậc Tiểu học, Học quy tổng quy quy định là mỗi xã đều phải có một
trường tiểu học, nếu xã nhỏ thì hai xã có thể tổ chức một trường chung để đảm bảo con em trong xã đến tuổi phải được đi học Dựa trên tình hình thực tế, Học quy
cũng có quy định cụ thể bậc tiểu học có hai loại trường: Một là, trường Tiểu học bị
thể gồm 5 lớp: Lớp đồng ấu (7 tuổi), lớp dự bị (8 tuổi), lớp sơ đẳng (9 tuổi), lớp nhì (10 tuổi) và lớp nhất (11 tuổi) Và mỗi tỉnh lỵ hoặc huyện lỵ đều có một trường Tiểu
học bị thể để dạy học trò đi thi lấy bằng tốt nghiệp tiểu học; Hai là, trường sơ đẳng
tiểu học: là những trường chỉ có hai hoặc ba lớp dưới (đồng ấu, dự bị, sơ đẳng) Loại trường này chủ yếu được lập ở các làng xã, học trò chỉ học mấy năm cho biết đọc, biết viết rồi về làm ruộng chứ không có điều kiện hoặc không có ý định thi lấy
Trang 28bằng tốt nghiệp tiểu học để học tiếp lên Nếu học sinh nào có chí sau khi học xong, thì trải qua kì thi lấy bằng sơ cấp và tiếp tục học lớp nhì và lớp nhất tại trường tiểu học kiêm bị Sau khi học xong tiểu học (hết lớp nhất), học sinh phải trải qua một kì thi lấy bằng tiểu học Nếu không đậu kì thi này, học sinh có thể đăng kí học một năm dự bị để chuẩn bị cho kì thi năm sau Sau khi học xong lớp nhì, học sinh trải qua một kì thi lên lớp nhất, nếu không đạt, học sinh sẽ tiếp tục học thêm một năm lớp nhì
Về bậc Trung học: chia làm 2 bậc là Cao đẳng tiểu học và Trung học Đây là
bậc học có sự thay đổi và cải cách nhiều nhất so với chương trình cải cách lần thứ nhất năm 1906 Nếu ở cải cách lần thứ nhất, chương trình trung học chỉ có bậc Cao đẳng tiểu học và một năm chuyên ngành Nhưng trong cải cách của A.Sarraut bậc
Trung học được chia làm hai: Cao đẳng tiểu học gồm 4 năm: Đệ nhất, đệ nhị, đệ
tam và đệ tứ niên; cuối năm thứ tư học sinh được đi thi để lấy bằng Cao đẳng tiểu
học (còn gọi là bằng Thành chung hay “đíp lôm”) và Trung học gồm 2 năm, kết
thúc học sinh thi lấy bằng Tú tài (tú tài bản xứ) Trong thời kì phôi thai, Pháp thiết lập vài trường để làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục phổ thông là các trường trung học Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho (1879) (sau này là trường Nguyễn Đình Chiểu 6), trường Quốc học Huế (1896), trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội (Collège du Protectorat) tức trường Bưởi Hà Nội (1908) - tiền thân của trường Chu Văn An ngày nay Ba trường này khi mới mở chỉ có bậc tiểu học, mấy chục năm sau mới giảng dạy đến các bậc cao hơn Riêng chỉ có hai trường Quốc học Huế và trường Bưởi sau này có đến bậc Tú tài Hệ thống trường trung học Pháp - Việt có các lớp đào tạo sư phạm (trong trường hợp chưa mở được trường sư phạm) Trường sư phạm được thành lập nhằm mục đích đào tạo giáo viên bản địa cho bậc tiểu học Trường sư phạm miễn học phí hoàn toàn cho học sinh theo học, bao gồm 2 cấp: Đệ nhất cấp: gồm 4 lớp (giống như trung học Đệ nhất cấp của hệ thống giáo dục Pháp)
Độ tuổi được nhận vào lớp Đệ nhất cấp trường sư phạm là dưới 18 tuổi, có bằng tiểu học và có học bổng Đệ nhị cấp: gồm 2 lớp, những người theo học lớp này được gọi là giáo sinh Độ tuổi được nhận vào Đệ nhị cấp trường sư phạm là dưới 25 tuổi,
và phải có bằng Thành chung
Trang 29Cấp thứ ba trong hệ thống giáo dục là: Cao đẳng - Đại học Về nguyên tắc tổ
chức, các trường Cao đẳng sẽ do Hiệu trưởng trực tiếp quản lí Hiệu trưởng phải là người có bằng Đại học ở Pháp và đã có 10 năm hoạt động trong lĩnh vực giáo dục Phụ trách việc giảng dạy trong trường phải là giáo sư tốt nghiệp ở Pháp, ngoại trừ một số môn như tiếng Hán thì sẽ sử dụng giáo sư bản địa Để được nhận vào trường Cao đẳng (trừ thí sinh được học bổng), thí sinh tự do phải hội đủ những điều kiện sau: Phải là người Pháp, được Pháp bảo trợ hoặc mang quốc tịch Pháp; Có độ tuổi
từ 18 đến 25 (riêng các trường đào tào ngành Y, Thú y, Dược nhận học sinh có độ tuổi tối đa là 30 tuổi); Phải có một trong những bằng sau: bằng Tú tài, bằng Thành chung, bằng Cao đẳng tiểu học hoặc bằng Cao đẳng giáo dục tiểu học Các học sinh
có học bổng được học nội trú miễn phí, được miễn thuế thân và nghĩa vụ quân sự, đồng thời được trả lộ phí về thăm gia đình vào dịp hè Thí sinh tự do không được học nội trú và phải trả học phí
Song song với các trường dạy văn hóa, ở bậc Tiểu học và Trung học đều có các trường thực nghiệp Ở bậc tiểu học thì có trường dạy nghề: mộc, nề, rèn, trường gia chánh, trường canh nông, trường mỹ thuật công nghiệp và mỹ nghệ Ở bậc Trung học thì có các trường thực nghiệp bị thể, nghĩa là dạy toàn khóa chứ không phải sơ lược như ở bậc tiểu học Sau khi tốt nghiệp các trường dạy nghề, học sinh được nhận vào các cơ sở sản xuất tương ứng với ngành học và bậc học
Như vậy, sau hai cuộc cải cách đến khi hình thành đầy đủ, hệ thống giáo dục
phổ thông Pháp-Việt có 3 bậc với học trình là 13 năm cụ thể như sau:
Bậc Tiểu học gồm 5 hoặc 6 năm: Lớp Đồng ấu (Cours Enfantin); Lớp Dự bị
(Cours Préparatoire); Lớp Sơ đẳng (Cours Élémentaire); Lớp Nhì năm thứ nhất (Cours Moyen 1ère année); Lớp Nhì năm thứ hai (Cours Moyen 2è année)3; Lớp Nhất (Cours Supérieur)
3 Lớp Nhì năm thứ 2 (Cours Moyen 2ème année) này đến niên học 1927-1928 mới phải áp dụng sau Nghị định của Toàn quyền Martial Merlin (1923-26) chia là hai lớp nhì (cours moyen première année và cours moyen deuxième année).Như vậy từ năm 1900 đến 1927 học sinh Tiểu học chỉ học 5 năm (nghị định ngày 18-09-1924 của Toàn quyền Merlin kí sửa đổi một phần Học chính tổng quy của Toàn quyền Albert Sarraut kí ngày 21-12-1917 Có người cho rằng quy định đó
nhằm mục đích như để ngăn chặn bước tiến của thanh thiếu niên nước ta Tham khảo bài viết: Trần Bích San, Thi cử và
nền giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, đăng trên website:
http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=278&Itemid=1
Trang 30Ba lớp đầu còn được gọi là bậc sơ học Học xong lớp Sơ đẳng thì học sinh thi lấy bằng Sơ học yếu lược (Primaire Élémentaire) Bài thi gồm: Thi viết: Một bài dictée (chánh tả) Pháp ngữ, 2 hay 3 bài luận Pháp văn và một bài luận chữ Quốc ngữ; Thi vấn đáp: hỏi về cửu chương (bằng chữ Hán - thất cửu lục tam 7, 9, 63)
Những học sinh được tuyển thẳng lên lớp Nhì năm thứ nhất không bắt buộc phải thi Sơ học yếu lược Học hết lớp Nhất học sinh được thi bằng Tiểu học yếu lược hay Sơ đẳng tiểu học (Certificat d'Études Primaire Franco-Indigène, viết tắt là CEPFI), phải có bằng này mới được dự tuyển học lên lớp trên
Sau sơ cấp (lớp ba), học sinh thi bằng Tuyển sinh (Sơ học yếu lược, Primaire Élémentaire) Các trường ở phủ, huyện chỉ dạy đến lớp ba Đó là trường Sơ học (École élémentaire) Các trường ở tỉnh lị mới có lớp nhì, lớp nhất Đó là trường tiểu học (École primaire)
Bậc tiếp theo là Cao đẳng tiểu học (Primaire, hay còn gọi là bậc Trung học)
4 năm: Học xong 4 năm được thi lấy bằng Cao đẳng tiểu học (Diplôme d'Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène) còn gọi là bằng Thành chung Phải có bằng Thành chung mới được dự thi lên bậc bậc Tú tài Các trường dạy bậc Cao đẳng tiểu học được gọi là Collège Những trường Cao đẳng tiểu học đầu tiên chỉ là trường trung học đệ nhất cấp như: ba trường dành riêng cho học sinh người Pháp và con cái người Việt thân Pháp: (Chasseloup Laubat (Sài Gòn, 1874); Albert Sarraut (Hà Nội, 1919); Lycée Yersin (Đà Lạt, 1935); hay một số trường nổi tiếng: Trường Đồng Khánh Hà Nội (1917), Đồng Khánh Huế (1917), Cần Thơ (1917), Pétrus Trương Vĩnh Ký (Sài Gòn, 1928); Trung học Bảo hộ ở Hà Nội (1908),…
Bậc Trung học (Enseignement Secondaire) 3 năm: là bậc học để thi tú tài,
bao gồm Tú tài Pháp và Tú tài bản xứ
Tú tài Pháp hay Baccalauréat Métropolitain (gọi tắt là Bac Métro) là chương trình áp dụng cho các trường dạy hoàn toàn theo chương trình Pháp, thi bằng Tú tài Pháp Thời kì này ở Việt Nam chỉ có 2 trường: Lycée Chasseloup Laubat ở Sài Gòn
và Lycée Albert Sarraut ở Hà Nội Năm học 1935-1936, có thêm Lycée Yersin ở Đà Lạt Đây là các trường Đệ nhị cấp chỉ dành riêng cho học sinh Pháp và một số con nhà giàu có người Việt, con cháu quý vị Thượng Thư, Tổng Đốc, Tuần Phủ thuộc
Trang 31Triều đình Huế Học xong hai năm (lớp đệ tam, lớp premire đệ nhị) học sinh thi Tú tài I (Baccalauréat Premiere Partie) Đỗ Tú tài phần thứ nhất xong mới được học tiếp năm thứ ba nhưng phải chọn 1 trong 3 ban: Triết (Philosophie), Khoa học thực nghiệm (Science Expérimentales) và Toán (Mathématiques Élémentaires) Học hết năm thứ ba này thì thi Tú tài phần hai
Bậc Tú tài Pháp-Việt hay còn gọi là Tú tài bản xứ (Baccalauréat Local): Đó
là chương trình áp dụng cho những trường Pháp bản xứ (École France - Indigènes) dạy theo chương trình Pháp nhưng thay ngoại ngữ bằng tiếng Việt, và triết học cổ điển Hy Lạp, La Mã bằng triết học Đông Phương (Trung Hoa, Ấn Độ) hay Cận Đông (Do Thái ) Lúc đầu đào tạo cấp Tú tài bản xứ cũng chỉ có 2 trường: Trung học Bảo hộ ở Hà Nội và Pétrus Ký ở Sài Gòn Học xong 2 năm đầu học sinh được thi lấy bằng Tú tài phần thứ nhất (Baccalauréat, 1ère partie) Đậu bằng này được học tiếp năm thứ ba không phải thi tuyển Năm thứ 3 được chia làm 2 ban: ban Triết
và ban Toán Từ niên học 1937-1938 trên toàn cõi Việt Nam đều áp dụng chương trình tú tài Pháp-Việt đủ 3 ban: Toán, Khoa học, Triết Ngoài ban mình học, học sinh được phép thi tốt nghiệp các ban khác nhưng phải tự học thêm những môn mà
ở ban mình theo học không có Học sinh cũng được phép thi bằng Tú tài Pháp Học xong ba năm này thi lấy bằng Tú tài toàn phần (Certificat de Fin d'Études Secondaire Franco-Indigènes) Học sinh tốt nghiệp 2 hoặc 3 ban hoặc thêm bằng Tú tài Pháp được ưu tiên khi thi vào các trường đại học có thi tuyển như các trường Grandes Écoles ở Pháp hoặc các trường cao đẳng chuyên nghiệp ở Hà Nội lúc đó
Theo sắc lệnh của Toàn quyền Đông Dương kí ngày 12-10-1930, bằng Tú tài Pháp - Việt hoặc Tú tài bản xứ có giá trị như bằng Tú tài Pháp Nhưng do chương trình học của Tú tài Pháp-Việt và Tú tài bản xứ nặng hơn chương trình học của Tú tài Pháp nên có nhiều học sinh trường Bưởi và Pétrus Ký một năm đỗ 2 hoặc 3 bằng
Tú tài như một số trí thức: Nguyễn Quang Xước (Luật sư), Nguyễn Hữu (Thạc sĩ Y khoa), Hoàng Cơ Thuỵ (Bác sĩ), Phạm Biểu Tâm (Thạc sĩ Y khoa), Vũ Văn Mẫu (Thạc sĩ Luật), Chương Văn Vĩnh (Dược sĩ)
Có thể nói việc áp dụng chương trình học rất nặng như vậy nên với bằng Tú tài toàn phần, người học có căn bản vững chắc, nói và viết tiếng Pháp rất giỏi, có
Trang 32thể học lên Đại học Đông Dương (đại học duy nhất cho cả 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia) hay đi du học bên Pháp (đương nhiên được ghi danh), hoặc đi dạy học
ở các trường Cao đẳng tiểu học, làm công chức ở Phủ Toàn quyền, Tòa Thống đốc Nam Kỳ, Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, Tòa Khâm sứ Trung Kỳ, Tuy có nhiều con đường để lựa chọn, nhưng thi vào học ở những trường cao đẳng chuyên nghiệp vẫn
là lí tưởng, niềm mơ ước của sinh viên nghèo ở nước ta khi đó (phi cao đẳng bất thành phu phụ) Trước năm 1925, các trường cao đẳng tuyển sinh viên, chỉ cần bằng Thành chung, nhưng từ năm 1925 trở đi thì ứng viên phải có Tú tài toàn phần Đó là các trường cao đẳng chuyên nghiệp ở Hà Nội như: Sư phạm, Công chính, Thú y, Canh nông, Mĩ thuật,
Sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương chương trình giáo dục phổ thông Pháp-Việt bị bãi bỏ ở Bắc và Trung Kỳ năm 1945 và được thay thế bằng chương trình Hoàng Xuân Hãn Riêng miền Nam đến khi quốc trưởng Bảo Đại thành lập chính quyền quốc gia mới chấm dứt áp dụng chương trình giáo dục Pháp-Việt vào năm 1949
Kết quả thực hiện: Về số liệu học sinh ở các cấp học, chính quyền thuộc địa
tiến hành liên tiếp hai cuộc cải cách giáo dục với nhiều tham vọng nhưng kết quả trên thực tế cũng không mấy khả quan Một phần lớn là do chương trình học được thiết kế trải qua nhiều năm học, qua nhiều kì thi, nội dung môn học nhiều, thi cử rất khó khăn, trường ở xa, kinh phí tốn kém nên phần lớn học sinh (nhất là con em gia đình nông dân ở các làng quê) không thể có điều kiện tiếp tục theo học lên lớp trên Trên thực tế, có đến 30% học trò bỏ học và đi làm sau đệ nhất, đệ nhị niên của bậc Cao đẳng tiểu học, phần vì hoàn cảnh gia đình, phần vì bài vở ngày càng khó (đặc biệt là các môn Toán, Lý, Hóa vốn xa lạ lại dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp) Với những học sinh may mắn có được bằng Diplôme, có thể có nhiều lựa chọn: hoặc tiếp tục theo học trường Cao đẳng Đông Dương, làm thầy giáo (dạy lớp nhì, lớp nhất), hay đi làm thông ngôn chánh, thông phán hạng nhất tòa Khâm sứ Lương mỗi tháng là 10 đồng Mặc dù ước mơ của rất nhiều học sinh của Việt Nam thời kì đó là được đỗ vào các trường cao đẳng chuyên nghiệp hoặc Đại học Đông Dương nhưng trên thực tế với các kì thi sát hạch rất khó khăn tỉ lệ đỗ là rất thấp
Trang 33Cho tới những năm đầu thế kỷ XX, trường nhà nước bảo hộ còn ít học trò -
dù nhà trường cung cấp đầy đủ học cụ (bút mực, giấy ) Niên khóa 1909-1910, trường ở tỉnh lị Quảng Ngãi (là một tỉnh trung bình) chỉ có 20 học sinh (lớp năm: 7 trò, lớp tư: 7 trò, lớp ba: 6, lớp nhì và lớp nhất không có học trò) Năm học 1911-
1912, lớp năm có 10 trò (tuổi từ 8 đến 20) Ở Bắc Kỳ, “năm 1910 số trường Pháp Việt là 43, trong đó chỉ có 1 trường cao đẳng tiểu học và 42 trường tiểu học, đến năm 1927 tổng số trường học lên tới 1.445 trong đó có 1 trường trung học, 9 trường cao đẳng tiểu học, 2 trường dạy nghề, 153 trường tiểu học, 1.199 trường sơ học và
81 trường hương thôn” [55; 42] Những năm 1915, đỗ được bằng Diplôme, học xong Trung học Đệ nhất cấp là rất hiếm Uyên bác như Phạm Quỳnh (1892-1945), Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), Phạm Duy Tốn (1883-1924) cũng chỉ có bằng Thành chung (đệ Tứ) Đa số các nhà văn, nhà báo thời kì này cũng chỉ có bằng Diplôme, hiếm hoi lắm mới có người đậu Tú tài Năm 1936-1937 là năm xứ Đông Dương có vẻ thịnh vượng nhất thì tình hình phát triển trường lớp và số học sinh ở bậc sơ học cũng khá khiêm tốn Cả ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ chỉ có
“2.322 trường sơ học, tức là cứ 3.000 người thì có một trường với tỉ lệ 2% người đi học trong toàn dân số Bậc Tiểu học có 638 trường (kể cả trường tư thục) với tỉ lệ là
cứ 29.329 người có một trường và 0,4% dân số được đi học Bậc Cao đẳng tiểu học
có 16 trường, nghĩa là cứ 1.169.519 người dân thì có một trường, tỉ lệ giảm xuống chỉ còn 0,05% dân số được đi học Bậc Trung học còn tồi tệ hơn Cả ba xứ chỉ còn
ba trường do nhà nước mở Số học trò chỉ vẻn vẹn 369 người, tỉ lệ 0,0019%.Một triệu dân thì chỉ có 19 học sinh trung học trường công” [63; 162] Trước Chiến tranh thế giới thứ hai số lượng học sinh cũng tăng lên đôi chút Trước Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) dân số Việt Nam có 35 triệu người thì số liệu học sinh là:
- Bậc Trung học: 4 trường, 553 học sinh
- Cao đẳng tiểu học: 19 trường, 5.637 học sinh
- Sơ đẳng tiểu học: 447 trường, 149.805 học sinh
- Sơ học: 3.521 trường, 236.720 học sinh
- Các loại giáo huấn khác: 3.143 trường, 132.212 học sinh [36; 12]
Trang 34Với tổng số học trò như trên ta có thể tính được: Cao đẳng tiểu học 5.637/35.000.000 (tỉ lệ 0,02%); Sơ đẳng tiểu học: 149.805/35.000.000 (tỉ lệ 0,42%),
sơ học: 236.720/35.000.000 (tỉ lệ 0,67%) Đấy là các bậc học có số lượng học sinh đông nhất Còn với bậc Trung học (tú tài) thì tỉ lệ còn thấp hơn rất nhiều! 553/35.000.000 dân, tương đương: 0,0016%
1.1.2 Nội dung học và tài liệu giảng dạy ở các trường tiểu học và trung học Pháp
- Việt đầu thế kỉ XX
Do tình hình thực tế thiếu thốn cơ sở, tài liệu giảng dạy, giáo viên nên cho đến những năm đầu thế kỉ XX, nội dung giảng dạy ở các trường tiểu học Pháp - Việt còn hết sức tùy tiện Nhưng đến năm 1917, nghị định về giáo dục phổ thông được ban hành, trong đó quy định các môn học cho lớp Tiểu học cụ thể như sau:
Lớp Ấu học học môn Đạo đức gồm bài học về trẻ em trong gia đình, trẻ em ở nhà trường; môn Thể dục, môn tiếng Việt gồm đọc và viết đơn giản, môn tiếng Pháp, môn Hình học và vẽ hình )gồm các hình đơn giản và dạy trẻ vẽ các đường thẳng, đường thẳng song song, ), môn Vạn vật học, môn Địa lí, môn Vẽ, Học nghề (nam học làm quen với các vật liệu như gỗ, sắt, nhôm và các dụng cụ mộc, điện,
nữ làm quen với vải, kim, chỉ), môn chữ Hán Ở lớp này học trò phải thuộc vần Quốc ngữ ngay trong tháng đầu tiên, học làm toán cộng, toán trừ và học cửu chương bằng chữ Hán (cửu cửu bát nhất 9, 9, 81; bát cửu thất nhị 8, 9, 72 ) Học trò còn phải học ngữ vựng (Vocabulaire) tiếng Pháp - học hàng ngày và số giờ là 20% thời lượng mỗi ngày
Lớp Dự bị học môn Đạo đức, chủ yếu ôn lại kiến thức của năm trước, thêm phần trẻ em bên ngoài nhà trường và sau giờ học, giới thiệu những hành vi lễ độ với người nước ngoài, người già, người tàn tật, ngoài các môn học khác tương tự như khóa Dự bị có thêm môn Lịch sử giới thiệu các câu chuyện kể, truyện truyền miệng
về lịch sử địa phương…; chương trình khung được giữ nguyên cho đến lớp Nhất với nội dung tăng cường dần và phức tạp dần ở từng lớp Trừ môn tiếng Việt, môn Đạo đức và môn chữ Hán Phần lớn sách giáo khoa phỏng theo các nội dung sách giáo khoa của Pháp Ở lớp tư thời lượng học chữ Pháp nhiều hơn(50%) Lớp ba (sơ đẳng, cours élémentaire): học tiếng Pháp nhiều hơn nữa (70%)
Trang 35Các môn học của lớp nhì và lớp nhất của bậc tiểu học được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp Mỗi tuần lễ có 2 giờ học chữ Nho Kì thi lấy bằng Sơ đẳng tiểu học là kì thi khó vì giám khảo là người Pháp Nội dung thi gồm: Thi viết: 1 bài chánh tả tiếng Pháp, 2 bài toán đố, 1 bài luận ( dissertation) Pháp và 1 bài luận Việt Ngữ Thi vấn đáp: sử kí, địa lí Thang điểm là cao nhất là 10, và tỉ lệ thi đỗ là 40%
số học sinh của lớp
Bậc tiếp theo là Cao đẳng tiểu học (Primaire) 4 năm: Học xong 4 năm được thi lấy bằng Cao đẳng tiểu học (Diplôme d'Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène) còn gọi là bằng Thành chung Phải có bằng Thành chung mới được dự thi lên bậc Trung học tức bậc Tú tài Các trường dạy bậc Cao đẳng tiểu học được gọi là Collège Chương trình giảng dạy là 4 năm (đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ niên) với nhiều môn học: Toán (Số học, Đại số, Hình học); Vật lí, Hóa học, Địa dư (vẽ bản
đồ 5 châu, 4 biển); Vẽ và Tập viết; Lịch sử nước Pháp (Cách mạng 1789, tự do, bình đẳng, bác ái, chính sách thuộc địa 2 giờ/tuần); Pháp văn (Chánh tả, Văn phạm, Luận văn, bình giảng, học thuộc lòng thơ Pháp .); Luân lí (moral); Sử kí Việt Nam (dạy bằng tiếng Pháp - 1 giờ/tuần); Quốc văn (2 giờ/tuần); Thể dục Thang điểm tối đa bậc học này là 20 Kết thúc mỗi kì học thì đều thi Tam cá nguyệt
và xếp thứ bậc trong học bạ với lời phê của giáo viên chủ nhiệm Và có đánh giá xếp loại học sinh dựa vào kết quả đạt được Nếu không đạt yêu cầu học sinh có thể
bị cắt học bổng hoặc chuyển xuống học ở lớp dưới Sau lớp đệ tứ niên học sinh thi bằng Thành chung hay còn gọi là Đíp Lôm (Diplôme de Fin d'Études Primaires Supérieures Indochinois = DEPSI)
Bậc tiếp theo là bậc Trung học: gồm các môn học: Văn học Pháp (năm thứ nhất 6 giờ, năm thứ hai 4 giờ, năm thứ ba 3 giờ); Triết học (năm thứ nhất 2 giờ, năm thứ hai3 giờ, năm thứ ba 2 giờ), Văn học Việt Nam ( ); Lịch sử (năm thứ nhất và thứ hai 1,5 giờ, năm thứ ba chỉ còn 1 giờ); Địa dư (năm thứ nhất và thứ hai 1,5 giờ, năm thứ ba chỉ còn 1 giờ); Chữ Quốc ngữ và chữ Hán (tại xứ An Nam), các phương ngữ khác; Toán học; Khoa học Vật lí; Hóa học; Lịch sử tự nhiên; Tập viết; Vẽ, Họa hình và Công nghệ [39; 271-286]
Trang 36Như vậy, sau hai cuộc cải cách giáo dục chương trình học cả bậc Tiểu học và Trung học đã khá đa dạng bao gồm cả những môn học khoa học xã hội và khoa học
tự nhiên, nghệ thuật và công nghệ Tuy nhiên nhìn vào thời lượng dành cho các môn học thì thấy rằng mục đích của giáo dục trong các trường công lập chú trọng phổ biến tiếng Pháp và văn hóa Pháp, lịch sử nước Pháp, các môn khác bị xem nhẹ, đặc biệt là các môn về lịch sử, địa lí, văn hóa của các nước phương Đông và Việt Nam Với thời lượng ít ỏi, sách giáo khoa hiếm hoi, học sinh chỉ được trang bị những kiến thức rất sơ sài, đứt quãng và phiến diện về lịch sử, văn hóa bản địa, cội nguồn hình thành dân tộc Việt Nam
1.2 Thành lập trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội
Như phân tích ở trên, cho đến đầu thế kỉ XX, với cải cách năm 1906 chính quyền thuộc địa đã quan tâm đến với củng cố và mở rộng thêm hệ thống trường Pháp - Việt không chỉ là bậc sơ học và tiểu học, mà cả bậc học từ Cao đẳng tiểu học trở lên Điều đó tạo điều kiện cho sự ra đời của các trường trung học công lập và tư thục, trong đó có trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội
Liên quan đến việc thành lập và hoạt động của trường Trung học Bảo hộ ở
Hà Nội trong suốt nửa đầu thế kỉ XX phải kể đến mốc đầu tiên là năm 1886, Pháp
mở Ecole d’Interprètes de Hanoi (Trường Thông ngôn Hà Nội), trường này được coi là khởi điểm của trường Trung học Bảo hộ sau này Trường Thông ngôn khai giảng theo nghị định của Tổng Trú sứ Trung, Bắc Kỳ (Résident général de l’Annam
et du Tonkin) ngày 24-2-1886, tại địa điểm phố Jean Dupuis (nay là phố Hàng Chiếu) Thí sinh ghi tên thi tuyển phải có trình độ lớp nhất, và sau khi đỗ phải học 4 năm Trong 4 năm học sinh theo chương trình tương đương bậc Cao đẳng tiểu học (tức là Trung học đệ nhất cấp) Đến năm 1887, trường dời đến đình làng Yên Phụ,
phía Bắc Hà Nội Năm 1904, Trường Thông ngôn được đổi tên là Ecole
Complémentaire de Hanoi4 (Trường Thành chung Hà Nội) Ngoài ban Thông ngôn, còn mở thêm ban Hành chính và ban Sư phạm Thời hạn học 4 năm Chương trình căn bản ba ban giống nhau, ngoài ra: có Ban Hành chính học thêm việc soạn thảo
Bưởi năm 1908, vậy ông học ban Thông ngôn trường Thành chung Hà Nội (Ecole Complémentaire de Hanoi) từ năm 1904 đến 1908, trước khi trường này được đổi tên là Collège du Protectorat (Thành chung Bảo hộ)
Trang 37giấy tờ hành chính; Ban Thông ngôn học thêm thông dịch Việt - Pháp, Pháp - Việt; Ban Sư phạm học thêm việc dạy học và thực tập tại các trường tiểu học Hà Nội Sau
4 năm, học sinh thi lấy bằng Thành chung (Diplôme d’Etudes Complémentaires) và thi riêng các môn hành chính, thông dịch, sư phạm
Bộ phận thứ hai liên quan trực tiếp đến việc thành lập trường Trung học Bảo
hộ ở Hà Nội chính là trường Trung học Jules Ferry ở Nam Định Theo Địa chí Nam
Định, trường Thành chung được thành lập theo nghị định ngày 27 tháng 4 năm 1904
của Toàn quyền Đông Dương, có tên là CollègeJules Ferry Trường hoạt động được bốn năm thì đóng cửa vì được sát nhập vào trường Trung học Bảo hộ tại Hà Nội Học trò đang theo học tại trường phải lên Hà Nội tiếp tục học tại trường Trung học Bảo hộ
Lớp Sư phạm ở phố Bảo Khánh (cạnh Hồ Gươm) được thành lập từ năm
1905 với mục đích đào tạo những giáo viên cho các trường sơ học tại các địa phương Bắc Kỳ Tuy nhiên thiếu giáo viên, số lượng học sinh tham gia tuyển ít, thiếu thốn về cơ sở vật chất nên năm 1908, lớp Sư phạm sáp nhập với hai trường khác để thành lập trường Trung học Bảo hộ
Hiện nay nhiều tư liệu quý về trường đang lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Cục Lưu trữ Nhà nước, trong đó có bản chụp Nghị định ngày 9 tháng 12 năm 1908 do Toàn quyền Đông Dương Klobukowski kí, thành lập Collège du Protectorat (Trường Thành chung Bảo hộ - tương đương trường THCS hiện nay) trên cơ sở sáp nhập Trường Thông ngôn Hà Nội, Trường trung học Jules Ferry Nam Định và lớp Sư phạm (Cours normal) phố Pottier (nay là phố Bảo Khánh) Trường được xây dựng trên đất làng Thụy Khuê (thời Hậu Lê là nơi đặt điện Thụy Chương)
ở vùng Kẻ Bưởi, ven hồ Tây nên người dân cũng như thầy trò của trường vẫn gọi bằng cái tên thân thương là trường Bưởi Trường Bưởi là cái tên mà các học sinh có tinh thần chống Pháp dùng khi đề cập đến trường nhằm không gọi cái tên chính thức người Pháp đặt
Trường khai giảng niên khóa đầu tiên vào năm 1908 đủ cả bốn lớp, từ première année tới quatrième année (tức từ lớp 6 đến lớp 9), đúng nghĩa là một trường Thành chung (Grand Collège, nay gọi là trường Trung học cơ sở) Nhưng
Trang 38cũng trong năm này (1908) trường Collège Jules Ferry ở Nam Định đóng cửa, nên tất cả các học sinh của trường này được chuyển lên trường Bưởi Do đó trường Bưởi trở thành một trường trung tiểu học, gồm cả hai cấp: cấp Tiểu học (Petit Collège) từ lớp Tư (Cours préparatoire) đến lớp Nhất (Cours supérieur) để thi bằng Tiểu học Pháp Việt; và cấp Trung học (Grand Collège) còn gọi là Cao đẳng tiểu học (Enseignement Primaire Supérieur) học 5 năm Trong 3 năm đầu học trò học chương trình Cao đẳng tiểu học; đến năm thứ 4 mới chia ra 4 ban: Sư phạm, Hành chính-Thông ngôn, Kĩ thuật và Thương mại Học trò thi bằng Thành chung và thi thêm các bài về môn đã chọn Kể từ niên học 1918 trở đi, học trò chỉ học chương trình Cao đẳng tiểu học trong 4 năm, và các môn Sư phạm, Hành chính-Thông ngôn, Kĩ thuật, và thương mại được bãi bỏ, do đã thành lập các trường đào tạo về sư phạm, hành chính, kĩ thuật riêng
Liên quan đến mốc thời gian thành lập trường cũng có thông tin khác Trong một số bài viết của các cựu học sinh trường Bưởi - Chu Văn An có đăng trên Nội san Hội Ái hữu học sinh trường Bưởi thành lập năm 1959 có nhắc đến chi tiết:
“Năm 1905, học sinh cả 4 trường tiểu học ở Hà Nội là Hàng Than, Hàng Bún, Hàng Vôi và Hàm Long thi tuyển vào năm thứ Nhất trường Bưởi Nhóm đầu tiên ấy chỉ
có vài chục người” [80; 4]
Cùng năm 1907, nhà nước Bảo hộ cho các học sinh năm thứ hai trường Trung học Bảo hộ thi nhảy (concours de passage) lên ngay năm thứ tư để thi bằng tốt nghiệp Trung học đầu tiên (Diplôme de fin d’études de l’Enseignement complémentaire indigene) Một số học sinh học 3 năm xong trung học và tốt nghiệp bằng Diplôme đầu tiên, trong đó có Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Ngọc, Lê Đình Trân
Như vậy, có thể trường phải thành lập trước đó ít nhất là 3-4 năm thì mới có thể có học sinh học và tham gia kì thi tốt nghiệp Cao đẳng tiểu học vào năm 1908! Nhưng có lẽ vì năm 1908, trường tuyển sinh đầy đủ học sinh cho các lớp và căn cứ vào Nghị định thành lập của Toàn quyền Đông Dương nên lâu nay giới nghiên cứu
về giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc vẫn coi mốc 1908 là năm thành lập chính thức của trường
Trang 39Đến niên khoá 1924-1925, trường mở thêm cấp Trung học đệ nhị cấp, cho học trò đã có bằng Cao đẳng tiểu học, để thi bằng Trung học bản xứ Muốn thi bằng Trung học bản xứ, học sinh phải học chương trình cả hai ban Toán và Triết của chương trình
Tú tài Pháp, cộng thêm lịch sử, địa lí các nước Viễn Đông Đa số thí sinh thi bằng tú tài bản xứ cũng thi luôn cả bằng tú tài Pháp (Brevet de l’enseignement secondaire local), thường gọi là Tú tài bản xứ hay Ban Trung học bản xứ5
Cũng năm 1926, cấp Tiểu học ở trường bị được bãi bỏ, do đó trường được đổi thành Lycée du Protectorat (từ đây trường chính thức tên Trung học Bảo hộ) Theo hồi kí của các cựu học sinh trường Bưởi, thì từ niên khóa 1924-1925, chương trình học được kéo dài thêm 3 năm nữa, tổng cộng là 7 năm và các môn học không những cũng đầy đủ như ban Tú tài của Pháp mà còn thêm cả phần học về văn hóa Á Đông nữa Việc tổ chức giảng dạy các lớp học bậc tú tài đã tiến hành từ niên khóa 1924-1925 nhưng mãi tới năm 1929 trường mới thực sự được đổi tên thành Lycée
du Protectorat Theo nội dung Nghị định ngày 24-4-1929 của Toàn quyền Đông Dương về việc đổi tên trường Thành chung Bảo hộ thành trường Trung học Bảo hộ trong đó ghi rõ: Trường Cao đẳng tiểu học Pháp - Việt cùng với Ban Trung học bản
xứ, trước đây mang tên trường Thành chung Bảo hộ chuyển thành trường Trung học Bảo hộ6 Như vậy chính thức từ năm học 1930-1931, trường được nâng cấp thành một lycée (tương đương trường cấp III hiện nay), với tên chính thức là Lycée du Protectorat (Trường Trung học Bảo hộ)
Nội (Lycée de Hanoi) - năm 1923 đổi tên là Lycée Albert Sarraut.Đến năm 1937, ban Trung học bản xứ bị bãi bỏ, do chương trình học quá nặng
Kỳ và Lào theo tỉ lệ học sinh đến từ mỗi xứ (TheoGiáo dục Việt nam qua tài liệu lưu trữ, Nxb Thông tin và
truyền thông, Hà Nội 2016, tr 789)
Trang 40Từ niên khóa 1942-1943, ngoài ban Cao đẳng tiểu học, còn mở thêm hai ban: ban Trung học cận đại (Cycle secondaire moderne) và ban Trung học cổ điển Viễn Đông (Cycle secondaire Extrême Oriental), theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 5-5-1942 Cũng từ niên khóa 1943-1944, để tránh oanh tạc của phi cơ đồng minh, trường dời Hà Nội, sơ tán ra ba nơi:
Ban Cao đẳng tiểu học chuyển vào Phúc Nhạc (Ninh Bình), dạy tại Tiểu Chủng viện Phúc Nhạc
Ban Trung học cổ điển Viễn Đông (đệ nhất và đệ nhị cấp), và ban Trung học cận đại (Cycle secondaire moderne) đệ nhị cấp chuyển vào Sầm Sơn, Thanh Hóa
Ban Trung học cận đại đệ nhất cấp được dạy tại Hà Đông, cùng với ban Trung học đệ nhất cấp của trường Albert Sarraut
Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong chính phủ Trần Trọng Kim, đã cho đổi tên thành Trường Trung học Chu Văn An Hiệu trưởng đầu tiên người Việt Nam là Giáo sư Hoàng Cơ Nghị, tốt nghiệp cử nhân Lý Hóa tại Paris Ngày 12-6-1945, Khâm sai Bắc bộ là Phan Kế Toại ban hành quyết định đổi tên trường thành Quốc lập trung học học hiệu Chu Văn An Sau Cách mạng tháng 8-1945, trường chính thức mang tên Trường Trung học Chu Văn An, tên đó tồn tại cho đến tận ngày nay Và cũng từ niên khoá 1945 - 1946, trường bắt đầu áp dụng chương trình giáo dục của Việt Nam, chính thức dùng tiếng Việt khi lên lớp Do điều kiện chiến tranh nên trường phải sơ tán đi nhiều nơi, đến 1950 trường mới chính thức quay về địa điểm cũ
Kiến trúc trường Trung học Bảo hộ
Năm 1893, tại khu vực chùa Châu Lâm bên bờ Hồ Tây về phía đông nam, một nhà tư bản Pháp lập một nhà in lấy tên là Schneider và ở mỏm đất gọi là “Mỏ Phượng” (Phượng chủy) Pháp cho xây dựng một tòa nhà to làm biệt thự cho chủ nhà in (sau này là chỗ ở của các hiệu trưởng của Trường) Năm 1907, chính quyền cho dời nhà in này đi nơi khác nhường lại địa điểm này để xây dựng trường Trường Trung học Bảo hộ
Năm 1908, một số công trình được xây dựng thêm theo thiết kế của kiến trúc
sư Charles Lichtenfelder Những năm sau, nhiều công trình cũng được xây dựng theo thiết kế của kiến trúc sư Aldophe Bussy