1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

So sánh từ láy trong tiếng việt và tiếng trung

85 571 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh từ láy trong tiếng Việt và tiếng Trung
Tác giả Vương Viên Viên
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Chính
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 903,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN MỞ ĐẦU

  • 1.Lý do chọn đề tài

  • 2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • 3.Mục đích nghiên cứu

    • Luận văn tập trung khảo sát và chỉ ra các đặc điểm

    • Từ những điểm giống và khác nhau ấy, người đọc có

    • Ngoài ra, từ những kết quả so sánh chúng tôi nêu r

  • 4.Ý nghĩa nghiên cứu

  • 5.Phương pháp nghiên cứu và tư liệu

  • 6.Bố cục luận văn

  • CƠ SỞ LÝ THUYẾT

  • 1.1. Những nghiên cứu về từ láy trong tiếng Việt

  • 1.1.1. Về tên gọi

    • 1962: Từ phản điệp (Đỗ Hữu Châu)

    • 1963: Từ ghép (Trương Văn Chính, Nguyễn Hiến Lê)

    • 1970: Từ lấp láy (Nguyễn Nguyên Trứ)

    • 1970: Từ láy (Hoàng Văn Hành, Đào Thản)

    • 1972: Từ ngữ kép phản phục (Lê Văn Lý)

    • 1975: Từ láy âm (Nguyễn Tài Cẩn)

    • 1976: Từ lấp láy (Hồ Lê)

    • 1976: từ láy âm (Nguyễn Văn Tu)

    • 1978 đến 1989: Từ láy (Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành,

    • Từ đó đến nay, "từ láy" trở thành tên gọi riêng củ

  • 1.1.2. Cách phân loại từ láy

    • Với số lượng âm đầu, vần và thanh điệu khá nhiều,

    • -Trong cuốn “từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ

    • -Trong cuốn “cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, Ma

    • -Theo quan điểm của GS. Đỗ Hữu Châu: “ Căn cứ vào

    • -Nguyễn Hữu Quỳnh (2001) cho rằng: từ láy có thể c

    • -Lê Trung Hoa (2002) cho rằng: trong tiếng Việt, s

    • Bên cạnh đó còn có rất nhiều nhà ngôn ngữ học đưa

    • Cách 1: Theo mức độ láy lại của ba bộ phận ngữ âm,

    • Cách 2: Theo số lượng âm tiết của từ, có thể chia

    • Cách phân chia thứ nhất dễ nhận biết hơn và thường

  • 1.1.3.Những định nghĩa về từ láy

    • Nói tóm lại, nếu xuất phát từ quan niệm coi láy là

    • - “Từ láy âm là từ ghép mà các thành tố kết hợp vớ

    • - “Từ ghép láy âm được tạo thành bằng việc ghép ha

    • Xuất phát từ quan niệm coi láy là sự hoà phối ngữ

    • - “Từ láy là những từ đa tiết mà giữa các âm tiết

    • - “Từ láy là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi ti

    • - “Từ láy là một kiểu từ phức (từ đa tiết) được tạ

    • - “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thứ

    • - Từ láy là “những cụm từ cố định được hình thành

  • 1.2. Những nghiên cứu về từ láy trong tiếng Trung

    • Trong tiếng Trung, từ láy là một hiện tượng phong

    • Về cách phân loại từ láy, các nhà nghiên cứu đưa r

    • Ngoài ra, 朱德熙(Chu Đức Hi)(1982) từng nhắc đến từ l

    • Từ thế kỷ 21 trở lại đây, những nghiên cứu về từ l

    • Nghiên cứu về từ láy động từ, giới học thuật đưa r

    • Nghiên cứu về từ láy tính từ, 吕叔湘(Lã Thúc Tương)(1

    • + Từ gốc là tính từ đơn âm tiết A, hình thức láy l

    • +Từ gốc là tính từ song âm tiết, có hai hình thức

    • +Từ gốc là tính từ trạng thái song âm tiết, có hìn

    • + Tính từ mang hậu tố láy, có hình thức láy ABB. V

    • Xét về mặt ngữ nghĩa, trong cuốn “形容词重叠的感情色彩”(Sắc

    • Về mặt ngữ âm, 赵元任(Triệu Nguyên Nhậm)(1968) cho rằ

    • Ngoài ra, những nhà ngôn ngữ học nổi tiếng khác củ

  • 1.3. Phân biệt từ láy với từ ghép và các loại từ k

    • Vấn đề nhận diện, phân biệt từ láy với các loại từ

    • Trong “Từ điển từ láy tiếng Việt” của NXBGD Hà Nội

    • Trong thực tế, nếu căn cứ vào hình thức, ý nghĩa v

    • Có những trường hợp, ví dụ như từ “cào cào”, giống

    • Ở đây chúng tôi chủ yếu tập trung phân loại từ ghé

    • Từ láy và từ ghép có nhiều điểm tương đồng, nếu ch

    • Từ ghép nghĩa là kiểu từ phổ biến nhất trong các t

    • Như vậy về cơ bản chúng ta đã nhận thấy rằng từ lá

  • 1.4 Phân biệt phương thức láy và phương thức lặp

    • Như đã nêu ở trên, chúng tôi nhận định từ láy là c

    • Có người cho rằng phương thức láy là phương thức l

    • Vậy, phương thức láy và phương thức lặp giống và k

    • Xét về mặt ý nghĩa, phương thức láy và phương thức

    • Tuy nhiên xét về mặt cấu tạo, hai phương thức này

    • Phương thức láy là việc lặp lại (1 hoặc 2 lần) một

    • Phương thức lặp là việc lặp lại những yếu tố ngữ â

    • Trong các tác phẩm thi ca, các tác giả thường sử d

    • Khăn thương nhớ ai

    • Khăn chùi nước mắt

    • Đèn thương nhớ ai

    • Mà đèn không tắt

    • (Ca dao)

    • Hay :

    • Ngòi đầu cầu nước trong như lọc

    • Đường bên cầu cỏ mọc còn non

    • ( Đoàn Thị Điểm- Chinh phụ ngâm)

    • Hai câu thơ trên tác giả đã sử dụng phương thức lặ

    • Ngoài ra, để kết nối giữa hai phát ngôn khác nhau,

    • “Từng ngày, mẹ thầm đoán con đã đi đến đâu. Từng g

    • “Họ hào phóng, họ thương yêu, họ hiếu khách lạ lùn

    • Họ sôi nổi và lạc quan lạ lùng.”

    • (Chu Cẩm Phong – Mặt biển, mặt trận)

    • Để tăng thêm tính liên kết giữa các câu văn hay cá

    • Từ những phân tích và các ví dụ trên, chúng ta có

    • Chương này đã nêu ra một số nghiên cứu về từ láy,

    • Thông qua so sánh và tổng hợp những quan điểm của

    • Nhìn chung, những nghiên cứu về từ láy trong ngôn

  • CHƯƠNG 2

  • ĐẶC ĐIỂM TỪ LÁY TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TRUNG

  • 2.1. Hệ thống ngữ âm trong tiếng Việt và tiếng Tru

  • 2.1.1. Hệ thống ngữ âm tiếng Việt

    • Thanh điệu là một yếu tố thể hiện độ cao v

    • Về vị trí, thanh điệu nằm trong cả quá trì

    • – Thanh 1: Thanh ngang (không được ghi trên chữ vi

    • – Thanh 2: Thanh huyền [ghi bằng dấu huyền ( ` ) ]

    • – Thanh 3: Thanh ngã [ghi bằng dấu ngã ( ~ ) ] là

    • – Thanh 4: Thanh hỏi [ghi bằng dấu hỏi ( ̉ )] là

    • – Thanh 5: Thanh sắc [ghi bằng dấu sắc ( ´ )] là t

    • – Thanh 6: Thanh nặng [ghi bằng dấu nặng ( . )], l

  • 2.1.2. Hệ thống ngữ âm tiếng Trung

    • Âm tiết của tiếng Trung chủ yếu do ba bộ phận than

    • Vận mẫu là âm tố đứng sau thanh mẫu trong một âm t

    • Thanh điệu trong tiếng Việt và tiếng Trung có tác

    • -Thanh 1: còn gọi là "âm bình", ký hiệu trong bính

    • -Thanh 2: còn gọi là "dương bình", ký hiệu trong b

    • -Thanh 3: còn gọi là "thượng thanh", ký hiệu trong

    • -Thanh 4: còn gọi là "khứ thanh", ký hiệu trong bí

  • 2.2. Đặc điểm từ láy trong tiếng Việt

  • 2.2.1. Phân loại từ láy về kết cấu

    • Là những từ láy có 2 âm tiết, gồm láy toàn phần và

    • Từ láy dạng AA gồm hai âm tiết có âm đầu, vần, tha

    • Dạng láy tính từ, ví dụ: cao cao, nhanh nhanh, xan

    • Dạng láy động từ chỉ hành động, cử chỉ, ví dụ: cào

    • Dạng láy động từ chỉ hoạt động nội tâm và động từ

    • Dạng láy danh từ mang tính chất để chỉ số nhiều, c

    • Khi láy một tiếng gốc thành dạng A'A thì âm tiết s

    • - Âm đầu và vần giữ nguyên, chỉ có thanh điệu bị t

    • Trường hợp này tiếng gốc của từ láy thường mang th

    • Ví dụ: (Tiếng gốc - Từ láy) trắng - trăng trắng, t

    • Có một số từ vừa có thể láy dạng AA vừa có thể láy

    • - Âm đầu giữ nguyên, thanh điệu bị biến đổi làm ch

    • Trường hợp này, thanh điệu của từ láy cũng mang th

    • Tuy nhiên quy tắc biến âm này không phải là tuyệt

    • Dạng này âm tiết phía trước giữ nguyên, âm tiết ph

    • - Âm tiết phía trước mang thanh sắc và có âm cuối

    • - Âm tiết trước mang thanh ngã hoặc mang thanh sắc

    • - Âm tiết trước mang thanh ngang, âm tiết sau mang

    • Những ví dụ trên cũng có dạng A'A và AA, ví dụ như

    • Đây là dạng từ láy bộ phận 2 âm tiết, tức là trong

    • a.4.1. Láy phụ âm đầu dạng aa

    • Là những từ láy có âm đầu giống nhau, vần khác nha

    • - Ồn ào, uể oải, uốn éo,... những từ này đều có ha

    • - Bấp bênh, buồn bã, bí bách,...những từ này hai â

    • - Cau có, cao cả, quẩn quanh, què quặt, quấn quýt,

    • - Chậm chạp, chín chắn, chễm chệ, chen chúc,... nh

    • - Du dương, dễ dãi, giữ gìn, dấm dúi, giòn giã,...

    • - Đau đớn, đủng đỉnh, đùn đẩy, đày đọa, đùng đoàng

    • - Gần gũi, gắt gỏng, gập ghềnh, gọn gàng,... hai â

    • - Hằn học, hắt hủi, hăng hái, hống hách, hớt hải,.

    • - Khập khiễng, khấp khểnh, khờ khạo, khúc khuỷu, k

    • - Ngu ngơ, ngờ nghệch, ngại ngùng, ngang ngạnh, ng

    • - Thảng thốt, thập thò, thút thít, thối tha, thấm

    • - Trơ trẽn, trớ trêu, trọ trẹ, trồng trọt, trơ trọ

    • - Xôn xao, xông xênh, xấu xí, xác xơ, sắc sảo,...

    • a.4.2. Láy vần dạng aa

    • Là từ có hai âm tiết trở lên có âm đầu khác nhau,

    • Ví dụ:

    • - Lã chã, giả lả, la cà,... hai âm tiết đều có vần

    • - Lẩm bẩm, lầm rầm, âm thầm,...hai âm tiết đều có

    • - Lơ ngơ, xớ rớ, lơ mơ, bơ phờ,... hai âm tiết đều

    • - Sạch bách, lách tách, lạch bạch, lạch cạch,...ha

    • - Đàng hoàng, lằn ngoằn, bải hoải,... hai âm tiết

    • Từ láy 3 âm tiết chiếm số lượng ít nhất trong từ l

    • b.1. Dạng AA'A'

    • Dạng này có tiếng gốc A đứng đầu tiên, hai âm tiết

    • Cuống - cuống cuồng - cuống cuồng cuồng

    • Chát - chan chát/ chát chạt - chát chàn chạt

    • Xốp - xốp xộp/ xôm xốp - xốp xồm xộp

    • Sạch - sành sạch - sạch sành sanh

    • Quác - quang quác - quác quàng quạc,...

    • Trong những ví dụ trên, ví dụ đầu tiếng gốc không

    • b.2. Dạng A'A'A

    • Dạng này có đặc điểm là tiếng gốc đứng sau, biến t

    • Ví dụ: (tiếng gốc - dạng AA/A'A/ AA' - dạng A'A'A)

    • Con - con con / cỏn con - cỏn còn con

    • Dưng - dửng dưng - dửng dừng dưng

    • Tưng - tưng tưng - tửng từng tưng

    • Ti - ti ti / tí ti - tị tì ti

    • b.3. Dạng ABB

    • Cấu trúc nội bộ của dạng láy ABB là: âm tiết trước

    • Trường hợp thứ nhất: ABB = AB + B. Dạng từ láy này

    • Ví dụ: (AB - ABB) thơm phức - thơm phưng phức, nón

    • Trong một số trường hợp không thể phân thành AB+B,

    • Trường hợp thứ hai: ABB=A+BB. Động từ đơn âm tiết

    • Ví dụ: cười ha hả, ngã xoành xoạch, khóc ngằn ngặt

    • Động từ cộng thêm từ láy với vai trò là thành phần

    • Dạng ABB=A+BB cũng có thể là tính từ, lúc đó sẽ kh

    • Từ láy tư chủ yếu xây dựng trên cơ sở từ láy đôi

  • 2.2.2. Quy luật ngữ âm của từ láy tiếng Việt

    • a. Nguyên tắc “ngang-sắc-hỏi”

  • 2.2.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của từ láy tiếng Việt

  • 2.3. Đặc điểm từ láy trong tiếng Trung

  • 2.3.1. Đặc điểm về kết cấu

  • 2.3.2. Đặc điểm ngữ âm và ngữ nghĩa của từ láy tiế

  • Ngữ âm tiếng Việt có nhiều đặc điểm tương đồng với

  • Trong chương này, chúng tôi đã giới thiệu về hệ t

  • SO SÁNH TỪ LÁY TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TRUNG TRÊN CÁC

  • 3.1. So sánh từ láy dạng AA trong tiếng Việt và ti

  • 3.1.1. Những điểm tương đồng

  • 3.1.2. Những điểm khác biệt

  • 3.2. So sánh từ láy dạng ABB trong tiếng Việt và t

  • 3.2.1. Những điểm tương đồng

  • 3.2.2. Những điểm khác biệt

  • 3.3. So sánh từ láy dạng AABB trong tiếng Việt và

  • 3.3.1. Những điểm tương đồng

  • 3.3.2. Những điểm khác biệt

  • 3.4. So sánh từ láy dạng ABAB trong tiếng Việt và

  • 3.4.1. Những điểm tương đồng

  • 3.4.2. Những điểm khác biệt

  • 3.5. Đặc trưng tư duy, văn hóa thể hiện qua từ láy

    • 4. Từ những điểm giống và khác nhau ấy, chúng tôi

    • 5. Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc dạy và học

Nội dung

Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát và phân tích các đặc điểm nổi bật của từ láy trong tiếng Việt và tiếng Trung, đồng thời làm rõ những điểm giống nhau và khác biệt về mặt hình thức, kết cấu, ngữ âm và ngữ nghĩa Nghiên cứu này giúp hiểu rõ sự đa dạng và đặc trưng của từ láy trong hai ngôn ngữ, góp phần nâng cao kiến thức về ngôn ngữ học so sánh Các kết quả của luận văn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ học, dịch thuật và giảng dạy tiếng Việt và tiếng Trung hiệu quả hơn.

Người đọc có thể dễ dàng nhận thấy các điểm giống và khác nhau phản ánh đặc trưng văn hóa và tư duy dân tộc ẩn chứa trong nghĩa của các từ láy Điều này giúp nhận diện sự khác biệt về tư duy văn hóa dân tộc giữa hai ngôn ngữ, qua đó hiểu rõ hơn về đặc điểm ngôn ngữ và truyền thống của từng cộng đồng.

Dựa trên các kết quả so sánh, chúng tôi nhấn mạnh những điểm cần chú ý trong quá trình giảng dạy và học tập từ láy tiếng Việt và tiếng Trung Việc nắm vững đặc điểm của từ láy giúp nâng cao hiệu quả dạy học, phát triển tư duy sáng tạo và khả năng vận dụng linh hoạt của người học Đồng thời, phân tích so sánh còn góp phần phát triển phương pháp giảng dạy phù hợp, từ đó thúc đẩy sự hiểu biết sâu rộng về ngôn ngữ và nâng cao năng lực sử dụng từ láy trong thực tiễn giao tiếp.

Ý nghĩa nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu từ láy trong hai ngôn ngữ Việt-Trung, chúng tôi mong muốn góp phần làm phong phú kho tài liệu nghiên cứu về chủ đề "từ láy" Nghiên cứu này còn cung cấp các tài liệu tham khảo quý giá về sự khác biệt và giống nhau của từ láy trong tiếng Việt và tiếng Trung, hỗ trợ các nghiên cứu so sánh ngôn ngữ trong tương lai.

Phương pháp nghiên cứu và tư liệu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu và so sánh đối chiếu để phân tích dữ liệu Ngoài ra, chúng tôi còn áp dụng các phương pháp nghiên cứu khác như miêu tả, thống kê và phân tích quy nạp để nâng cao độ chính xác và toàn diện của nghiên cứu Các phương pháp này giúp đưa ra những nhận định khách quan, chính xác về vấn đề nghiên cứu, phù hợp với các chuẩn SEO liên quan đến nghiên cứu khoa học và phân tích dữ liệu.

Nguồn tư liệu chính của luận văn đến từ các bài báo, tạp chí, truyện ngắn và tác phẩm văn học, đảm bảo đa dạng và phong phú về nội dung Ngoài ra, chúng tôi cũng khai thác các công trình nghiên cứu của các tác giả khác để nâng cao độ tin cậy và chiều sâu cho bài viết Các nguồn này phản ánh rõ nét các phương pháp giao tiếp hàng ngày và giúp làm rõ các yếu tố liên quan đến chủ đề nghiên cứu Việc sử dụng tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau còn giúp đảm bảo rằng luận văn có tính khách quan và có căn cứ vững chắc trong lập luận.

Bố cục luận văn

Các nội dung của luận văn được sắp xếp như sau:

Bài viết này bắt đầu bằng việc giới thiệu lý do chọn đề tài cùng đối tượng và phạm vi nghiên cứu phù hợp, nhằm đáp ứng yêu cầu của ngành học Mục đích nghiên cứu được xác định rõ ràng nhằm nâng cao hiểu biết và ứng dụng thực tiễn, trong khi nhiệm vụ nghiên cứu tập trung phân tích các khía cạnh chính của đề tài Các phương pháp nghiên cứu như phân tích dữ liệu, khảo sát hiện trường và tổng hợp tài liệu đã được áp dụng để đảm bảo độ chính xác và khách quan cho luận văn Đồng thời, nghiên cứu còn nhấn mạnh ý nghĩa của dự án đối với thực tiễn công tác và phát triển kiến thức chuyên ngành Những đóng góp của công trình này góp phần thúc đẩy tiến bộ và nâng cao năng lực ứng dụng trong lĩnh vực nghiên cứu.

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Trong chương này, chúng tôi giới thiệu định nghĩa về từ láy trong tiếng Việt, cùng các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học tại Việt Nam và Trung Quốc về đặc điểm của từ láy Bên cạnh đó, bài viết phân biệt rõ ràng giữa từ láy với từ ghép và các loại từ khác, giúp người đọc nhận diện chính xác các dạng từ này trong tiếng Việt Ngoài ra, chúng tôi cũng trình bày sự khác nhau giữa hình thức láy và hình thức lặp, qua đó làm rõ cách sử dụng và đặc điểm của mỗi dạng trong ngôn ngữ hàng ngày.

Chương 2: Đặc điểm từ láy trong tiếng Việt và tiếng Trung

Hệ thống ngữ âm của tiếng Việt và tiếng Trung đều có đặc điểm riêng biệt thể hiện qua cấu trúc, phát âm và nghĩa của từ láy Trong tiếng Việt, hệ thống ngữ âm nổi bật với các đặc điểm như sự đa dạng của âm vị, sự phối hợp giữa các phụ âm và nguyên âm, và khả năng tạo ra nhiều từ láy phong phú, góp phần làm phong phú ngôn ngữ Trong khi đó, tiếng Trung có hệ thống ngữ âm dựa trên các thanh điệu và âm vị rõ ràng, tạo nên những từ láy mang ý nghĩa cụ thể và truyền tải cảm xúc mạnh mẽ Cả hai ngôn ngữ đều sử dụng từ láy như một phương tiện thể hiện âm điệu, cảm xúc, đồng thời phản ánh đặc điểm ngữ nghĩa và cấu trúc của từng ngôn ngữ, góp phần nâng cao khả năng biểu đạt và giao tiếp hiệu quả.

Chương 3: So sánh từ láy tiếng Việt và tiếng Trung trên các phương diện cấu tạo, ngữ âm và ngữ nghĩa.

Chương này tập trung so sánh đối chiếu s tương đồng và khác biệt của từ láy dạng AA, AAB, AABB và ABAB trong tiếng Việt và tiếng Trung.

Phần kết luận tổng hợp lại thành t u nghiên cứu và đưa ra nhận xét chung và một số kiến nghị cho người học tiếng Việt và tiếng Trung.

Phần cuối cùng là danh sách những tài liệu đã tham khảo.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Những nghiên cứu về từ láy trong tiếng Việt

Trong ngôn ngữ, từ láy đóng vai trò quan trọng bởi vì chúng mang giá trị gợi âm thanh, hình ảnh và biểu cảm trong giao tiếp hàng ngày cũng như trong văn chương Đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra các ý kiến khác nhau về tên gọi, cách phân loại và định nghĩa của từ láy, thể hiện tầm quan trọng của loại từ này trong hệ thống ngôn ngữ.

Tên gọi của từ láy luôn được thay đổi theo thời gian và các nhà ngôn ngữ khác nhau Trước năm 1990 từ láy có những tên gọi như sau:

1962: Từ phản điệp (Đỗ Hữu Châu)

1963: Từ ghép (Trương Văn Chính, Nguyễn Hiến Lê)

1970: Từ lấp láy (Nguyễn Nguyên Trứ)

1970: Từ láy (Hoàng Văn Hành, Đào Thản)

1972: Từ ngữ kép phản phục (Lê Văn Lý)

1975: Từ láy âm (Nguyễn Tài Cẩn)

1976: Từ lấp láy (Hồ Lê)

1976: từ láy âm (Nguyễn Văn Tu)

1978 đến 1989: Từ láy (Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang Ban, )

Từ láy đã trở thành tên gọi chính thức của lớp từ này, phản ánh sự đa dạng trong cách nhìn nhận của các nhà ngôn ngữ học Có hai quan điểm chính về nguồn gốc của từ láy: một số cho rằng láy là dạng từ ghép, trong khi người khác lại xem nó là sự hòa phối ngữ âm, được hình thành từ một phương thức cấu tạo từ đặc biệt Chính sự khác biệt trong cách tiếp cận này đã dẫn đến nhiều tên gọi khác nhau cho từ láy trong lịch sử ngôn ngữ học.

1.1.2 Cách phân loại từ láy

Tiếng Việt sở hữu số lượng âm đầu, vần và thanh điệu phong phú, tạo điều kiện cho sự đa dạng trong các từ láy Nhờ đặc điểm này, từ láy tiếng Việt trở nên vô cùng phong phú và đa dạng về loại hình Điều này góp phần làm cho ngôn ngữ ngày càng sinh động và linh hoạt hơn trong giao tiếp và sáng tác.

Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học,” tác giả nhấn mạnh rằng việc phân biệt các kiểu từ láy dựa trên số lần tác động của phương thức láy, chẳng hạn như từ láy đôi hoặc hai âm tiết như "gọn gàng," "vững vàng," "đỏ đắn," "khấp khểnh," so với từ láy ba hoặc ba âm tiết như "sạch sành sanh," "téo tèo teo," "dửng dừng dưng," và từ láy tư hoặc bốn âm tiết như "nhi nha nhí nhảnh," "kháp kha kháp khểnh," "lam nham lở nhở," "vội vội vàng vàng," "tẩn ngẩn tẩn ngẩn."

Trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” xuất bản năm 1997, Mai Ngọc Chừ khẳng định rằng từ láy trong tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng và tối đa là bốn tiếng, bên cạnh đó còn tồn tại loại từ láy gồm ba tiếng.

Theo GS Đỗ Hữu Châu, các từ láy trong tiếng Việt được phân thành hai loại dựa trên cách hòa phối ngữ âm: loại thứ nhất là từ láy bộ phận như "chúm chím", "đủng đỉnh", "bập bồng", thể hiện sự lặp lại phần âm đầu hoặc phần vần của từ; loại thứ hai là từ láy toàn bộ như "oe oe", "ầm ầm", "lăm lăm", mang đặc điểm lặp lại toàn bộ âm tiết để tạo hiệu ứng âm thanh sống động và sinh động.

-Nguyễn Hữu Quỳnh (2001) cho rằng: từ láy có thể chia làm hai loại: từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận.

Lê Trung Hoa (2002) nhấn mạnh rằng trong tiếng Việt, sự phong phú của các từ láy là đặc trưng nổi bật Các từ láy thường được chia thành hai loại chính: từ láy hoàn toàn, như "ba ba" hay "chuồn chuồn", và từ láy bộ phận, chẳng hạn như "đẹp đẽ" hay "chờn vờn".

Nhiều nhà ngôn ngữ học đồng thuận rằng, cách phân loại từ láy trong tiếng Việt dựa trên các quan điểm nghiên cứu gần giống nhau Các nhà Việt ngữ học thống nhất chia từ láy thành hai nhóm chính dựa trên đặc điểm ngữ pháp và nghĩa Việc phân loại này giúp làm rõ cấu trúc và chức năng của từ láy trong ngôn ngữ tiếng Việt Các phương pháp chia từ láy này đã được xác nhận rộng rãi trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam.

Cách 1: Theo mức độ láy lại của ba bộ phận ngữ âm, có thể chia thành hai loại: Láy hoàn toàn và láy bộ phận (láy không hoàn toàn).

Cách 2: Theo số lượng âm tiết của từ, có thể chia thành ba loại: Láy đôi (láy 2 âm tiết), láy ba (láy 3 âm tiết), láy bốn (láy 4 âm tiết).

Cách phân chia thứ nhất dễ nhận biết hơn và được sử dụng phổ biến hơn trong tiếng Việt Để so sánh từ láy tiếng Việt và từ láy tiếng Trung một cách dễ hiểu, chương hai tập trung vào các phân loại chi tiết của từ láy Đồng thời, chúng tôi sẽ chỉ rõ đặc trưng và cấu trúc của từng loại hình từ láy để giúp bạn nắm bắt rõ hơn về đặc điểm của chúng.

1.1.3.Những định nghĩa về từ láy

Từ xưa, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa về từ láy, tuy nhiên, cho đến hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất và rõ ràng về khái niệm này Các quan điểm của các nhà nghiên cứu về từ láy rất đa dạng, phản ánh sự phong phú và phức tạp của hiện tượng ngôn ngữ này Hiểu biết chính xác về từ láy đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích và giảng dạy tiếng Việt một cách hiệu quả Việc cập nhật các quan điểm mới về từ láy giúp nâng cao nhận thức về đặc điểm ngữ nghĩa và hình thức của từ láy trong ngôn ngữ Việt Nam.

GS Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt - Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ” trình bày quan niệm về từ láy âm như là loại từ ghép trong đó các thành tố tr c tiếp liên kết chủ yếu dựa trên quan hệ ngữ âm Các thành tố này phải phù hợp về mặt yếu tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa vần, âm cuối vần), thể hiện qua việc chúng phải có cùng đặc điểm về cao độ thanh hoặc phụ âm phù hợp Ví dụ, trong từ láy đôi như “làm lụng”, “đất đai”, “mạnh mẽ”, các thành tố tr c tiếp có thể tương ứng về phụ âm đầu hoặc vần, như “lảm nhảm”, “lưa thưa”, “lác đác”, hoặc cả hai yếu tố cùng lúc như “chuồn chuồn”, “quốc quốc”, “đa đa” Ngoài ra, về mặt siêu âm đoạn tính, các thành tố thứ tự phải có thanh thuộc cùng một âm vực, cao hoặc thấp, như thanh ngang, thanh hỏi, thanh sắc (cao), hoặc thanh huyền, ngã, nặng (thấp).

+ Cùng thuộc âm v c cao: hay ho, méo mó, ngay ngắn, bảnh bao, lỏng lẻo, rẻ rúng mê mẩn, sáng sủa.

+ Cùng thuộc âm v c thấp: lụng thụng, dày dạn, rầu rĩ, đẹp đẽ.

Trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, các tác giả nhấn mạnh rằng phương thức tổ hợp các tiếng dựa trên hòa phối ngữ âm tạo thành các từ láy hoặc từ lặp âm Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng và tối đa là bốn tiếng, thậm chí có từ láy ba tiếng Một từ được gọi là từ láy khi các thành tố cấu tạo có thành phần ngữ âm lặp lại, vừa có sự lặp (điệp) vừa có sự biến đổi (đối), ví dụ như “đỏ đắn” với điệp phần âm đầu và đối phần vần.

Theo GS Đỗ Hữu Châu, từ lấp láy được hình thành dựa trên phương thức láy, trong đó ngữ âm được hòa phối bằng cách lặp lại phần hoặc toàn bộ hình thức ngữ âm của tiếng gốc Các từ láy có thể phân thành nhiều kiểu khác nhau dựa vào cách hòa phối ngữ âm và số lần tác động của phương thức láy Có hai kiểu từ láy chính dựa trên cách hòa phối ngữ âm là từ láy bộ phận (như chúm chím, đủng đỉnh) và từ láy toàn bộ (như oe oe, ầm ầm) Trong đó, từ láy bộ phận chia thành lặp lại phụ âm đầu và lặp lại phần vần Ngoài ra, dựa trên số lần tác động, có các loại từ láy đôi, ba, hoặc bốn âm tiết như gọn gàng, sạch sành sanh, nhí nha nhí nhảnh Những từ láy còn mang đặc trưng ngữ nghĩa rõ nét như giá trị biểu trưng, sắc thái hoá và nghĩa chuyên biệt.

Nguyễn Văn Tu (1976) cho rằng, từ láy gồm các âm tiết tương quan hoặc giống nhau về ngữ âm, thường gồm hai từ tố có quan hệ về âm vị Trong tiếng Việt hiện đại, có nhiều dạng từ láy như từ trùng điệp, từ láy âm hoặc từ láy âm ngẫu nhiên (ví dụ: đất đai, tuổi tác, hỏi han) Chúng ta thường gọi chung các từ này là từ láy âm dựa trên mối quan hệ ngữ âm, và thực chất chúng là các từ ghép bởi các từ tố không bị biến âm hoặc bị biến âm Ví dụ điển hình là từ ghép láy “lâng lâng,” gồm hai từ hoàn toàn giống nhau về âm thanh, thể hiện rõ đặc trưng của từ láy trong tiếng Việt.

“Máy móc” là từ ghép kết hợp giữa từ tố “máy” và “móc,” là biến thể ngữ âm của từ “máy.” Từ láy âm được tạo thành bằng cách ghép hai từ tố hoặc hai âm tiết có quan hệ về ngữ âm dựa trên nguyên tắc láy âm, thường dựa vào việc lặp lại chính âm tiết hoặc từ tố chính Các từ láy âm này thường có đặc điểm về mặt phụ âm đầu và các yếu tố ngữ âm khác, giúp tạo ra các từ mang nghĩa phong phú và dễ nhớ trong tiếng Việt.

- Bắt bớ, bàn bạc, bạc bẽo, bụi bặm,…

- Cau có, canh cánh, cào cào, cầm cập, cặm cụi,…

- Chăm chỉ, chắc chắn, chặt chẽ, chạy chọt, chết chóc,…

- Da dẻ, dần dà, dai dẳng,… b) Về vần mà khác nhau về phụ âm đầu:

- Bảng lảng, là đà, lụng thụng,…

- Kè nhè, lè nhè, lè tè, lì xì,… c) Tương ứng hoàn toàn :

- Chuồn chuồn, rầm rầm, lần lần,… d) S tương ứng về thanh điệu

Những nghiên cứu về từ láy trong tiếng Trung

Trong tiếng Trung, từ láy là một hiện tượng phong phú và phức tạp, thể hiện sự đa dạng và tinh tế trong cách truyền tải ý nghĩa Từ láy không chỉ biến hóa theo thời gian mà còn phản ánh nhiều sắc thái cảm xúc khác nhau, giúp ngôn ngữ trở nên sống động và phong phú hơn Đây là một phương pháp cấu tạo từ cực kỳ quan trọng trong tiếng Trung, được nhiều nhà ngôn ngữ học xem trọng và nghiên cứu kỹ lưỡng để hiểu rõ hơn về đặc điểm và chức năng của nó trong hệ thống ngôn ngữ.

Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại từ láy Một số chia từ láy thành các dạng như từ láy hoàn toàn và không hoàn toàn, từ láy cấu tạo và cấu hình, cũng như từ láy biến hình và không biến hình.

Các nhà nghiên cứu như 朱德熙 (1982) đã đề cập đến khái niệm từ láy thuận và từ láy ngược, trong khi 李宇明 (1996) phân loại từ láy thành láy không từ, láy từ và láy câu 孙景涛 (2008) chia từ láy thành từ láy song hướng và từ láy liệt biến, còn 刘丹青 (2012) phân loại thành từ láy nguyên sinh và từ láy thứ sinh, góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc, bản chất hình thái và ý nghĩa ngữ pháp của từ láy.

Từ thế kỷ 21 trở lại đây, các nghiên cứu về từ láy tiếng Trung chủ yếu tập trung vào hai loại từ chính là tính từ và động từ, đồng thời tổng hợp các hiện tượng láy trong hai loại này nhằm làm rõ đặc điểm và quy luật của từ láy trong tiếng Trung Tuy nhiên, các nghiên cứu về từ láy của các loại từ khác thường rất ít, khiến cho hiểu biết về toàn diện các hiện tượng láy trong tiếng Trung còn hạn chế.

Nghiên cứu về từ láy động từ, giới học thuật đưa ra một số quan điểm sau: 李

Theo nhà linguist Lý Nhân Giám (1964), từ láy động từ thường giới hạn ở dạng AA và dạng ABAB, và nhiều sách giảng dạy ngữ pháp hiện nay vẫn giữ quan điểm này Trong khi đó, Phạm Phương Liên (1964), Lưu Nguyệt Hoa (1984) và Phòng Ngọc Thanh (1992) đều chia từ láy động từ thành bốn dạng chính là AA, A-A, A了 Việc phân loại này giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc và cách sử dụng của từ láy động từ trong tiếng Trung, phù hợp với các nguyên tắc ngữ pháp đã được công nhận.

Nhiều nhà nghiên cứu khác nhau, như Trương Tĩnh (1979), Thường Kính Vũ (1996), và Lý Vũ Minh (1996), cho rằng ngoài các dạng láy phổ biến như AA, A-A, A了 A và A了-A, còn có thêm các dạng A着 A着 và AABB Nghiên cứu về từ láy tính từ của Lã Thúc Tương (1999) chỉ ra rằng tính từ đơn âm tiết có thể láy theo các hình thức như AA, ABB và AXYZ (ví dụ: 黑不溜秋), trong khi tính từ song âm tiết có các hình thức láy như AABB, ABAB, A里AB Tuy nhiên, một số nhà ngôn ngữ học như Giang Lam Sinh và Thạch Lược phân loại từ láy tính từ thành 5 loại: AA, AABB, ABB, ABAB và A 里 AB Trong khi đó, Chu Đức Hi (1979) phân loại từ láy tiếng Trung thành hai loại: hoàn toàn và không hoàn toàn Trong cuốn “Giảng nghĩa ngữ pháp” (1982), Chu Đức Hi lại chia từ láy tính từ thành các hình thức khác nhau, phản ánh sự đa dạng trong cấu trúc từ láy tiếng Trung nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ.

Từ gốc là tính từ đơn âm tiết “A”, và dạng láy là “AA儿的” được sử dụng phổ biến trong tiếng Trung Trong dạng từ láy này, âm tiết thứ hai luôn mang thanh bằng để tạo ra hiệu ứng nhấn mạnh hoặc tăng cường tính mô tả Ví dụ điển hình là từ “好 好 儿 的” (Hǎohāor de), trong đó “儿” và “的” là hậu tố được thêm vào phía sau từ láy để làm rõ nghĩa và phong cách ngôn ngữ đời thường Dạng từ láy này thường dùng để biểu đạt cảm xúc, tính chất hoặc nhấn mạnh đặc tính của tính từ gốc trong văn nói hoặc văn viết.

Các từ láy trong tiếng Trung xuất phát từ tính từ song âm tiết, với hai hình thức chính là “AABB” và “A里AB.” Trong cả hai dạng này, trọng âm luôn đặt ở âm tiết đầu tiên, còn âm tiết thứ hai được phát âm nhẹ nhàng, như trong các ví dụ “大大咧咧” (dà da liē liē) và “慢慢悠悠” (màn man yōu yōu), giúp nhấn mạnh đặc điểm của tính từ Bên cạnh đó, từ gốc là tính từ trạng thái song âm tiết có hình thức láy là “ABAB,” với trọng âm tập trung ở âm tiết đầu tiên, ví dụ như “通红,” “碧绿,” và “冰凉,” khi láy sẽ trở thành “通红通红,” “碧绿碧绿,” và “冰凉冰凉,” tạo ra hiệu quả nhấn mạnh và làm phong phú cách diễn đạt trong tiếng Trung.

通红 ”, “ 碧绿碧绿 ”, “ 冰凉冰凉 ”

+ Tính từ mang hậu tố láy, có hình thức láy ABB Ví dụ: 绿油油 , 亮晶晶 , 香

馥馥 , 金灿灿 , 美滋滋

Theo quan điểm của 张拱贵 (Trương Củng Quý) (1997), tiếng Trung có các từ láy âm đặc trưng như 圆圈圈, 黑点点, 树枝枝 nhằm thể hiện tính chất lặp đi lặp lại hoặc mô tả đặc điểm một cách sinh động Ngoài ra, còn có các từ láy âm động từ như 尝尝, 聊, giúp diễn đạt hành động một cách nhân hóa, sinh động hơn, góp phần tăng tính biểu cảm trong ngôn ngữ Những từ láy này không chỉ làm giàu vốn từ vựng mà còn giúp ngôn ngữ Trung Quốc thêm phần nhịp điệu, tinh tế và dễ nhớ.

Trong tiếng Trung, từ láy âm lượng như 一朵朵, 一句句, 一串串 thể hiện rõ cảm xúc và sự cảm nhận của người nói, tạo nên tính sinh động và nhấn mạnh trong câu chuyện Theo nghiên cứu của朱德熙 trong cuốn “形容词重叠的感情色彩”(1979), từ láy tính từ mang ý nghĩa tương tự với từ gốc về mặt nghĩa, nhưng khác biệt ở chỗ nó thể hiện cảm xúc, quan điểm chủ quan của người nói như yêu thích, ghét bỏ hoặc đánh giá cá nhân Khi từ láy dạng AA dùng làm vị ngữ hoặc định ngữ, thường mang ý nghĩa giảm nhẹ về mặt ngữ nghĩa so với từ gốc, còn khi làm trạng ngữ hoặc bổ ngữ, nó thường biểu thị mức độ tăng cường hoặc nhấn mạnh hơn, giúp nâng cao tính mô tả và sắc thái cảm xúc trong câu.

Về mặt ngữ âm, Triệu Nguyên Nhậm (1968) cho rằng từ láy là một dạng biến đổi hoặc từ tố trong tiếng Trung Ông đưa ra ví dụ về cách đọc của âm tiết thứ hai trong từ láy đơn âm tiết, thường đọc âm bình, và âm uốn lưỡi “儿” trong từ láy song âm tiết cũng theo quy tắc này Điều này cho thấy rằng từ láy trong tiếng Trung chịu ảnh hưởng của biến đổi ngữ âm, phản ánh đặc điểm đặc trưng của loại hình từ này.

Ngoài ra, những nhà ngôn ngữ học nổi tiếng khác của Trung Quốc như 邵敬

敏(Thiệu Kính Mẫn), 李宇明(Lý Vũ Minh) cũng đưa ra các quan điểm về từ láy.

Họ chủ yếu tìm hiểu và phân tích từ láy từ phạm trù phân loại, ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp.

Phân biệt từ láy với từ ghép và các loại từ khác

Vấn đề nhận diện và phân biệt từ láy với các loại từ khác là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và tranh luận sôi nổi trong lĩnh vực ngôn ngữ học Việc làm rõ đặc điểm của từ láy giúp nâng cao khả năng phân tích cú pháp và hiểu biết ngôn ngữ chính xác hơn Các ý kiến nghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định rõ đặc điểm hình thái và chức năng của từ láy trong hệ thống từ vựng tiếng Việt Điều này không chỉ hỗ trợ công tác giảng dạy ngôn ngữ mà còn góp phần phát triển các công cụ tự động nhận diện từ láy trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên.

Trong “Từ điển từ láy tiếng Việt” của NXBGD Hà Nội-1995 do Hoàng Văn

Hành chủ biên đã xếp những từ: “cào cào, dành dành, bìm bìm, chuồn chuồn, châu chấu…vào mục từ láy Những từ tương t như trên cũng xuất hiện trong từ điển mở Wiktionary mục từ láy tiếng Việt Tuy nhiên, tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ v ng ngữ nghĩa”-1999 lại cho rằng đây là hiện tượng trung gian giữa từ đơn đa âm tiết và từ láy.

Trong tiếng Việt, việc xác định đơn vị từ láy dựa trên hình thức, ý nghĩa và sắc thái biểu cảm của chúng rất quan trọng Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Đơn vị từ v 狀ng - ngữ nghĩa tiếng Việt” (NXBGD-1999), có nhiều trường hợp từ có hình thức láy cần được phân biệt rõ ràng để hiểu đúng bản chất của chúng Các dạng từ láy thường mang đặc điểm biểu cảm cao, giúp làm cho câu nói sinh động và giàu cảm xúc hơn Việc nhận diện chính xác các từ láy cũng góp phần nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt một cách chuẩn xác và linh hoạt. -🌸 **Quảng cáo** 🌸 Nâng cao kỹ năng tiếng Việt chuẩn xác và sinh động với Talkpal AI – [Tìm hiểu thêm](https://pollinations.ai/redirect/2699274)

Trong tiếng Việt, cần phân biệt rõ các trường hợp từ giống nhau về “vỏ âm thanh” nhưng khác về từ loại và cấu tạo như “cào cào” (danh từ) và “cào cào” (động từ), hay giữa từ đơn đa âm tiết và từ láy Việc phân loại từ ghép và từ láy giúp làm rõ chức năng và phương thức cấu tạo của từ tiếng Việt, từ đó có cái nhìn chính xác về các dạng thức của từ trong ngôn ngữ Khi cần phân biệt từ láy với từ ghép, chúng ta xác định rằng láy không phải là ghép, và phương thức láy khác biệt rõ ràng so với phương thức ghép.

Từ láy và từ ghép có nhiều điểm tương đồng, gây khó khăn trong việc phân biệt chỉ dựa trên mặt ngữ âm Vì vậy, để hiểu rõ sự khác biệt giữa chúng trong tiếng Việt, cần xem xét cả mặt ngữ âm và ngữ nghĩa, từ đó nhận diện chính xác các đặc điểm riêng biệt của từng loại từ.

Trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt của mình, GS Nguyễn Tài Cẩn xem từ láy âm là loại từ ghép trong đó các thành tố liên tiếp được kết hợp chủ yếu theo quan hệ ngữ âm Tiến sĩ ngôn ngữ học Nguyễn Hữu Quỳnh trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (2001) xác định rằng từ ghép là những từ được tạo thành từ hai hình vị trở nên cấu tạo thành, như nước non, ngọt ngào Từ ghép có thể phân loại thành ba nhóm lớn dựa trên phương thức cấu tạo và mối quan hệ giữa các thành phần: từ ghép nghĩa, từ láy và từ ghép t do Trong đó, việc phân biệt giữa từ ghép nghĩa và từ láy là điều cần thiết để hiểu rõ đặc điểm của từng loại từ trong tiếng Việt.

Từ ghép nghĩa là loại từ phổ biến nhất trong các từ ghép tiếng Việt, gồm hai hình vị trở lên kết hợp với nhau Các thành tố tạo nên từ ghép nghĩa phần lớn là các hình vị có ý nghĩa từ v-ng và có khả năng hoạt động độc lập, như nhân dân, bờ bãi, vững chắc, chí khí, dẻo dai Trong khi đó, từ láy có thể bao gồm một thành tố mang ý nghĩa từ v-ng và thành tố không có ý nghĩa từ v-ng, hoặc cả hai thành tố đều không mang ý nghĩa từ v-ng mà chỉ mang ý nghĩa cấu tạo, như chim chóc, hay ho, im lìm, ngậm ngùi, nhấp nhô, đủng đỉnh, lon ton, lóng lánh.

Từ láy và từ ghép không hoàn toàn khác nhau, vì từ láy là một dạng của từ ghép Tuy nhiên, chúng có thể được phân biệt dựa trên khả năng nhận biết nghĩa và đặc điểm cấu tạo.

Phân biệt phương thức láy và phương thức lặp

Các từ láy được tạo thành qua phương thức láy, là sản phẩm của quá trình lặp lại toàn bộ hoặc bộ phận hình thức âm tiết Chúng giữ nguyên hoặc thay đổi thanh điệu theo quy tắc biến thanh, tạo nên các từ đa tiết có mối liên hệ ngữ âm chặt chẽ giữa các âm tiết với nhau.

Phương thức láy là một hình thức lặp lại trong ngôn ngữ, phản ánh qua việc lặp đi lặp lại một bộ phận hoặc toàn bộ từ gốc để tạo thành từ mới, như “tầng tầng” hay “xanh xanh” Đây là một phương pháp tạo từ đặc trưng của tiếng Việt, trong đó “phương thức láy và phương thức lặp đều dựa trên nguyên tắc lặp lại yếu tố gốc theo quy tắc kết hợp và biến đổi ngữ âm” Việc hiểu rõ về phương thức láy giúp nâng cao khả năng sáng tạo và mở rộng vốn từ trong ngôn ngữ, đồng thời phù hợp với các nguyên tắc SEO để tối ưu hóa nội dung.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hiện tượng lặp và từ láy có mối liên hệ chặt chẽ, thường bị nhầm lẫn hoặc không phân biệt rõ ràng trong cách sử dụng Cả phương thức láy và lặp đều mang ý nghĩa tương đối giống nhau, nhưng mỗi phương pháp lại có vai trò và tác dụng riêng biệt Phương thức láy giúp tạo ra các giá trị âm thanh, hình ảnh và biểu cảm sâu sắc, trong khi phương thức lặp góp phần làm cho câu văn trở nên nhịp nhàng, có tính nhạc và thơ mộng hơn.

Tuy nhiên xét về mặt cấu tạo, hai phương thức này lại hoàn toàn khác nhau:

Phương thức láy là kỹ thuật lặp lại một phần hoặc toàn bộ từ gốc (từ căn) một lần hoặc hai lần để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp hoặc tạo ra các đơn vị từ vựng mới Đây là phương pháp phổ biến trong ngôn ngữ nhằm làm tăng tính biểu cảm và làm phong phú vốn từ của người nói hoặc người viết Láy giúp nhấn mạnh ý nghĩa, tạo nhịp điệu cho câu văn, đồng thời thúc đẩy sự sáng tạo trong sử dụng từ ngữ.

Phương thức láy giúp biến đổi các đơn vị từ ngữ gốc thành các dạng mới mang ý nghĩa phong phú hơn, như từ “nhà” thành “nhà nhà” để thể hiện “nhiều nhà” hoặc từ “tím” thành “tim tím” để diễn đạt “hơi tím” Điều này góp phần làm sinh động và đa dạng vốn từ vựng của tiếng Việt Phương thức lặp trong ngôn ngữ là việc lặp lại các yếu tố ngữ âm như âm tiết, phụ âm đầu, vần và thanh điệu trong kết cấu ngôn ngữ để tạo sự liên kết và nhấn mạnh trong lời nói hoặc tác phẩm Trong văn học, đặc biệt là thơ ca, các nhà sáng tác thường sử dụng phương thức lặp ngữ âm để định hình các thể loại thơ khác nhau, như ví dụ đoạn thơ sử dụng lặp số lượng âm tiết và vần để tạo ra nhịp điệu đặc trưng.

Khăn chùi nước mắt Đèn thương nhớ ai

Ngòi đầu cầu nước trong như lọc Đường bên cầu cỏ mọc còn non

( Đoàn Thị Điểm- Chinh phụ ngâm)

Trong bài thơ này, tác giả đã sử dụng phương thức lặp vần để tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các câu thơ, giúp tăng tính nhạc điệu và cảm xúc của tác phẩm Phương pháp lặp vần phổ biến trong thơ ca, có thể gồm việc lặp lại hoàn toàn các vần hoặc chỉ lặp một phần theo nguyên tắc luật hài âm, góp phần làm tăng tính thẩm mỹ và sự hài hòa cho bài thơ.

Trong quá trình kết nối các phát ngôn khác nhau, người ta thường sử dụng phương pháp lặp ngữ pháp để tạo sự liên kết và duy trì sự thống nhất trong văn bản Phương thức này bao gồm lặp từ ngữ pháp và lặp cấu trúc ngữ pháp, giúp làm rõ mối liên hệ giữa các ý và tăng tính mạch lạc cho đoạn văn Việc sử dụng lặp ngữ pháp hiệu quả góp phần nâng cao khả năng truyền đạt thông điệp một cách rõ ràng và thuyết phục hơn.

“Từng ngày, mẹ thầm đoán con đã đi đến đâu Từng giờ, mẹ thầm hỏi con đang làm gì.”( Nguyễn Thị Như Trang- Tiếng mưa)

“Họ hào phóng, họ thương yêu, họ hiếu khách lạ lùng.

Họ sôi nổi và lạc quan lạ lùng.”

Chu Cẩm Phong – Mặt biển, mặt trận nhấn mạnh vai trò của việc sử dụng các biện pháp tu từ để tăng tính liên kết trong văn bản Để làm cho các câu văn hoặc phát ngôn trở nên mạch lạc, người ta thường kết hợp phương thức lặp ngữ pháp với lặp cấu trúc ngữ pháp, nhằm tạo sự nhịp nhàng và nhấn mạnh ý nghĩa Ngoài ra, việc kết hợp cả phương thức lặp ngữ âm cũng góp phần làm cho văn bản trở nên sinh động và dễ ghi nhớ hơn, góp phần nâng cao hiệu quả truyền đạt thông điệp.

Dựa trên các phân tích và ví dụ đã trình bày, chúng ta nhận thấy rõ sự khác biệt giữa phương thức lặp và phương thức láy trong tiếng Việt Việc phân biệt chính xác hai phương thức này giúp nâng cao hiểu biết về cách sử dụng từ láy một cách chính xác và hiệu quả trong ngôn ngữ Hiểu rõ điểm khác biệt giữa phương thức lặp và phương thức láy là chìa khóa để sử dụng từ láy phù hợp và linh hoạt trong các bài viết và giao tiếp hàng ngày.

Chương này trình bày các nghiên cứu về từ láy, sự biến đổi của tên gọi, cách phân loại và định nghĩa từ láy theo các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và Trung Quốc, đồng thời đưa ra các quan điểm đa dạng cũng như điểm thống nhất giữa các học giả Theo Việt ngữ học, việc phân loại từ láy dựa trên tiêu chuẩn về ý nghĩa, khả năng kết hợp và chức năng cú pháp Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu đã phân biệt từ láy với từ ghép và các loại từ khác; đồng thời phân tích hình thức láy so với hình thức lặp, qua đó khảo sát và thống kê số lượng từ láy trong hai ngôn ngữ này.

Qua so sánh và tổng hợp các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và Trung Quốc, chúng tôi xác định rằng "từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, là sản phẩm của phương thức láy, lặp lại toàn bộ hoặc bộ phận hình thức âm tiết với thanh điệu giữ nguyên hoặc biến đổi theo quy tắc biến thanh" Từ láy là những từ đa tiết, trong đó các âm tiết có quan hệ ngữ âm, mang giá trị biểu trưng hóa và góp phần tạo nghĩa rõ ràng Nghiên cứu này tập trung làm rõ đặc điểm và chức năng của từ láy trong ngôn ngữ tiếng Việt, góp phần nâng cao hiểu biết về cấu trúc ngôn ngữ và ứng dụng trong đời sống ileti.

Các nghiên cứu về tiếng Trung đều chủ yếu tập trung vào ngữ pháp và các cấu trúc động từ của từng ngôn ngữ Những so sánh về điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, đặc biệt liên quan đến từ láy, thường chỉ tập trung vào mục đích giảng dạy và học tập cho người học Các nghiên cứu về việc học tiếng Việt của người Trung hoặc học tiếng Trung của người Việt rất ít về mặt so sánh cấu trúc ngữ pháp, ngữ âm, và ngữ nghĩa của từ láy trong hai ngôn ngữ Những công trình nghiên cứu trước đây sẽ cung cấp nền tảng lý luận quan trọng giúp chúng tôi thực hiện các so sánh chi tiết hơn về kết cấu, ngữ âm, và ngữ nghĩa của từ láy trong tiếng Việt và tiếng Trung.

ĐẶC ĐIỂM TỪ LÁY TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TRUNG

Hệ thống ngữ âm trong tiếng Việt và tiếng Trung

Từ láy trong tiếng Việt và tiếng Trung là dạng từ vựng phổ biến, được sử dụng thường xuyên trong ngôn ngữ hàng ngày Các kết cấu và quy luật của từ láy trong hai ngôn ngữ đa dạng và phức tạp, phản ánh nét đặc trưng trong cách tạo lập từ Người Việt và người Trung Quốc đều chú trọng đến sự hài hòa về ngữ âm và nhạc điệu của câu, nhằm tạo ra ngôn ngữ sinh động và có chiều sâu âm nhạc Để hiểu rõ hơn về vai trò và đặc điểm của từ láy, trước tiên cần khám phá hệ thống ngữ âm của tiếng Việt và tiếng Trung, qua đó có cái nhìn tổng thể về nền tảng ngữ âm của các dạng từ láy trong hai ngôn ngữ này.

2.1.1 Hệ thống ngữ âm tiếng Việt m tiết tiếng Việt gồm 3 bộ phận chính: phần đầu, phần sau và thanh điệu. Phần đầu của âm tiết được xác định là m đầu, vì ở vị trí này chỉ có một âm vị tham gia cấu tạo Phần sau của âm tiết được gọi là phần Vần.

2.1.1.1 m đầu m đầu đứng vị trí đầu tiên trong âm tiết, có chức năng mở đầu âm tiết Những âm tiết mà chính tả không có âm đầu như an, ấm, im, được mở đầu bằng động tác khép kín khe thanh, sau đó mở ra đột ngột gây nên một tiếng bật Động tác mở đầu ấy có giá trị như một phụ âm và người ta gọi là âm tắc thanh hầu Như vậy, âm tiết trong tiếng Việt luôn luôn có mặt âm đầu (phụ âm đầu) Trong tiếng Việt có tổng cộng có 22 phụ âm được thể hiện bằng láy từ và một phụ âm không có hình thức biểu hiện (phụ âm tắc thanh hầu).

Trong tiếng Việt có 9 vần đơn, còn số lượng vần phức vẫn chưa có ý kiến thống nhất Theo thống kê của Hoàng Phê, tiếng Việt gồm 148 vần phức và 9 vần đơn, tổng cộng có 157 vần (Hoàng Phê, 1996) Một vần phức hoàn chỉnh gồm ba phần: âm đệm, âm chính và âm cuối; trong đó âm đệm và âm chính đều là nguyên âm, còn âm cuối có thể là bán nguyên âm hoặc phụ âm Trong tiếng Việt, có đến 8 phụ âm làm âm cuối gồm: -n, -ng, -m, -nh, -t, -c, -p, -ch, khác với tiếng Trung chỉ có phụ âm -n và -ng làm âm cuối.

Thanh điệu là yếu tố quyết định độ cao và sự biến đổi của độ cao trong từng âm tiết tiếng Việt Mỗi âm tiết trong tiếng Việt bắt buộc phải có một thanh điệu để thể hiện ý nghĩa chính xác của từ Việc hiểu rõ về thanh điệu giúp người học phát triển khả năng phát âm đúng và nâng cao kỹ năng nghe, nói tiếng Việt Thanh điệu đóng vai trò quan trọng trong việc phân biệt nghĩa của các từ có hình thức gần giống nhau nhưng khác về ý nghĩa Do đó, việc nắm vững các loại thanh điệu là chìa khóa để sử dụng tiếng Việt một cách chính xác và tự nhiên.

Thanh điệu trong tiếng Việt nằm trong toàn bộ quá trình phát âm của âm tiết, nghĩa là chúng liên quan mật thiết đến vị trí và cách phát âm của từng âm tiết Các thanh điệu này đóng vai trò quan trọng trong việc phân biệt nghĩa của các từ khi nói hoặc viết Dưới đây là hệ thống các thanh điệu trong tiếng Việt, giúp người học hiểu rõ hơn về cấu trúc ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp để truyền đạt ý nghĩa chính xác Việc nắm vững các thanh điệu không chỉ nâng cao khả năng phát âm chính xác mà còn giúp nâng cao khả năng giao tiếp trong tiếng Việt hàng ngày.

Thanh ngang, còn gọi là thanh không dấu, xuất hiện trong tất cả các âm tiết trừ âm tiết khép, giúp phân biệt nghĩa và cấu trúc của từ trong tiếng Việt Ví dụ, trong các từ như "cây xanh," "mưa xuân," và "hoa lan," thanh ngang đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện ý nghĩa chính xác của từ Tuy nhiên, thanh ngang không được ghi trên chữ viết, khiến việc nhận diện và học tập trở nên cần thiết để hiểu rõ các quy tắc về thanh điệu trong tiếng Việt.

Thanh huyền (`) là một thanh thấp hơn thanh ngang một bậc, thường xuất hiện trong các âm tiết không phải là âm tiết khép như hoàn, bằng, nhà, tìm Thanh huyền đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nghĩa và cách phát âm của từ Việc nhận biết và phân biệt thanh huyền giúp người học tiếng Việt phát âm chính xác hơn, nâng cao kỹ năng ngôn ngữ Thanh huyền là một phần không thể thiếu trong hệ thống dấu trong tiếng Việt, góp phần định dạng rõ ràng các từ và câu.

Thanh 3, còn gọi là thanh ngã (dấu ngã ~), là thanh điệu thuộc âm v c cao, bắt đầu thấp hơn và kết thúc cao hơn, thêm sự động tắc nghẽn thanh hầu Thanh ngã không xuất hiện trong các âm tiết khép, ví dụ như nhã, mãn nhãn, sừng sững, lã chã.

Thanh 4, hay còn gọi là thanh hỏi (?), là thanh điệu thuộc âm v c thấp, bắt đầu và kết thúc đều ở mức âm thấp khi phát âm Thanh này thường xuất hiện trong các âm tiết không phải là âm tiết khép, như trong các ví dụ: mỏi, chuyển động, thủy sản Thanh hỏi giúp tạo ra sự chuyển đổi âm điệu rõ ràng trong tiếng Việt, góp phần làm bật nghĩa và đặc trưng của câu.

Thanh 5, hay còn gọi là thanh sắc ( ghi bằng dấu sắc ´ ), là một trong các thanh điệu thuộc âm v c cao trong tiếng Việt Khi phát âm, điểm bắt đầu của thanh này thấp hơn thanh ngang một chút và điểm kết thúc ở âm v c cao, kèm theo động tác nghẽn thanh hầu để tạo ra âm điệu rõ nét Thanh sắc có thể xuất hiện trong tất cả các kiểu âm tiết như chó má, nắn nót, chính thức, sáng sớm, giúp phân biệt nghĩa của từ và làm phong phú ngôn ngữ.

Thanh 6, hay còn gọi là thanh nặng, được ký hiệu bằng dấu nặng ( ) và thuộc âm v c thấp trong tiếng Việt Khi phát âm, thanh này bắt đầu gần với độ cao của thanh huyền nhưng kết thúc đột ngột ở độ cao thấp hơn, tạo ra âm điệu đặc trưng Thanh nặng xuất hiện ở tất cả các kiểu âm tiết, góp phần làm nên sự phong phú và đa dạng trong hệ thống thanh điệu của tiếng Việt.

Ví dụ:học tập, chợ xuân, lợi nhuận, nặng nhọc, trục trặc,

2.1.2 Hệ thống ngữ âm tiếng Trung m tiết của tiếng Trung chủ yếu do ba bộ phận thanh mẫu, vận mẫu và thanh điệu tạo nên Thanh mẫu tiếng Trung được sắp xếp theo vị trí phát âm và cách phát âm, nó đứng ở vị trí đầu tiên của một âm tiết, ở vị trí này chỉ có một âm vị tham gia cấu tạo Còn phần sau của thanh mẫu được coi là vận mẫu, trong một âm tiết có thể vắng mặt thanh mẫu, nhưng nhất thiết phải có vận mẫu.

Thanh mẫu đứng ở vị trí đầu tiên của một âm tiết, có chức năng mở đầu âm tiết trong tiếng Trung Thanh mẫu thường do phụ âm đảm nhiệm, được gọi là phụ âm đầu, tương tự như trong tiếng Việt Trong tiếng Trung, có những âm tiết chính tả không ghi âm đầu hoặc ghi bằng bán nguyên âm như ai, an, en, yi, yu, những âm tiết này không được ghi lại trên chữ viết và thể hiện bằng ero, tức là vắng mặt của chữ viết Những thanh mẫu như vậy thường được gọi là thanh mẫu không Trong tiếng Trung, có tổng cộng 21 thanh mẫu cơ bản giúp cấu thành các âm tiết.

Vận mẫu là âm tố đứng sau thanh mẫu trong một âm tiết, có thể là nguyên âm, tổ hợp nguyên âm hoặc tổ hợp của nguyên âm và phụ âm Trong tiếng Trung, có tổng cộng 35 vận mẫu được phân thành 4 nhóm chính dựa trên cấu thành của chúng, gồm vận mẫu đơn, vận mẫu kép, vận mẫu đặc biệt và vận mẫu mũi Hiểu rõ về các loại vận mẫu giúp người học tiếng Trung nắm vững cách phát âm chính xác và nâng cao kỹ năng giao tiếp Việc phân loại các vận mẫu theo đặc điểm cấu trúc giúp dễ dàng tiếp cận và học tập hiệu quả hơn.

Đặc điểm từ láy trong tiếng Việt

2.2.1 Phân loại từ láy về kết cấu

2.2.1.1.Phân loại theo số lượng âm tiết a Từ láy 2 âm tiết

Trong hệ thống từ láy tiếng Việt, các từ láy hai âm tiết đóng vai trò chiếm phần lớn và gồm có hai dạng chính: láy toàn phần (AA) và láy bộ phận (A'A, AA', aa) Các từ láy dạng AA thể hiện sự lặp lại hoàn toàn của âm tiết, góp phần tạo nên sự sinh động và nhịp điệu cho ngôn ngữ.

Từ láy dạng AA gồm hai âm tiết có âm đầu, vần, thanh điệu giống hệt nhau, thường dùng để tạo ra các từ mang ý nghĩa mô tả tình cảm, trạng thái hoặc đặc điểm Dạng láy này thường thuộc từ loại tính từ, trợ động từ, động từ chỉ hoạt động nội tâm, hoặc các động từ nhận biết, góp phần làm phong phú và sinh động ngôn ngữ tiếng Việt Sử dụng từ láy dạng AA giúp câu văn trở nên nhấn mạnh hơn và dễ gây ấn tượng mạnh với người đọc.

Dạng láy tính từ như cao cao, nhanh nhanh, xanh xanh, tròn tròn, êm êm giúp mô tả đặc điểm một cách sinh động và dễ nhớ Trong khi đó, dạng láy động từ như cào cào, chớp chớp, vỗ vỗ, lắc lắc dùng để thể hiện hành động, cử chỉ một cách linh hoạt và sinh động, góp phần làm phong phú câu chuyện và tăng tính lôi cuốn cho bài viết.

Dạng láy động từ chỉ hoạt động nội tâm và động từ nhận biết, ví dụ: thương thương, lo lo, nghi nghi, nhớ nhớ, bực bực,

Dạng láy danh từ mang tính chất để chỉ số nhiều, có tính lặp lại, ví dụ:nhà nhà, ngày ngày, người người, a.2 Dạng A'A

Từ láy dạng A'A trong tiếng Việt giữ nguyên phần từ gốc ở âm tiết sau khi lặp lại, chỉ thay đổi thanh điệu của âm tiết trước (theo giáo sư Hoàng Văn Hành) Dạng từ láy này chủ yếu được sử dụng làm tính từ hoặc động từ thể hiện hoạt động nội tâm, cảm nhận Có hai trường hợp xảy ra khi sử dụng từ láy A'A: một là chỉ thay đổi thanh điệu, và hai là cả thanh điệu lẫn âm cuối của âm tiết sau cũng bị biến đổi theo.

- m đầu và vần giữ nguyên, chỉ có thanh điệu bị thay đổi.

Trong tiếng Việt, từ láy thường có tiếng gốc mang thanh sắc hoặc thanh nặng Khi tạo từ láy, cần tuân thủ quy tắc đồng âm và biến đổi thanh điệu phù hợp Cụ thể, nếu tiếng gốc mang thanh sắc, âm tiết lặp lại sẽ biến đổi thành thanh ngang, còn nếu tiếng gốc mang thanh nặng, âm tiết lặp lại sẽ chuyển thành thanh huyền, đảm bảo tính tiết tấu và âm điệu của từ láy.

Các ví dụ về từ láy trong tiếng Việt bao gồm các cặp như "trắng - trăng trắng", "tím - tim tím", "bé - be bé", "khẽ - khe khẽ", "chậm - chầm chậm", "nặng - nằng nặng", "lạ - là lạ", "ngại - ngài ngại" và "tội - tồi tội" Những từ láy này thường mang ý nghĩa nhấn mạnh, tăng cường cảm xúc hoặc mô tả đặc trưng của sự vật, sự việc, giúp làm phong phú và sinh động ngôn ngữ Việc hiểu và sử dụng đúng các từ láy không chỉ giúp nâng cao khả năng giao tiếp mà còn góp phần nâng cao khả năng sáng tạo trong viết lách.

Trong tiếng Việt, có những từ vừa có thể lặp lại dạng AA như "trăng trắng" hoặc "đo đỏ", vừa có thể láy dạng A'A như "trắng trắng" hoặc "đỏ đỏ", mang ý nghĩa nhấn mạnh hoặc biểu đạt cảm xúc Các ví dụ điển hình gồm có "nằng nặng" và "nặng nặng", "ngượng ngượng" và "ngường ngượng", "tồi tội" và "tội tội", "ngại ngại" và "ngài ngại", cùng "đắng đắng" và "đăng đắng", cho thấy sự linh hoạt trong cách lặp lại từ trong tiếng Việt nhằm tạo nên các sắc thái nghĩa khác nhau Những dạng lặp này không chỉ phong phú về mặt biểu cảm mà còn góp phần làm tăng tính sinh động trong giao tiếp hàng ngày.

Trong quá trình láy từ, nếu đầu giữ nguyên và thanh điệu bị biến đổi theo quy tắc, thì thanh điệu của từ láy vẫn mang thanh nặng và thanh sắc như trong tiếng gốc, nhưng khác ở chỗ tiếng gốc phải có phần âm cuối là âm tắc như -ch, -p, -t, -c Để tránh ngượng khi phát âm, người Việt thường điều chỉnh bằng cách chuyển âm tiết phía trước về thanh bằng Nếu tiếng gốc có thanh sắc, sẽ chuyển về thanh ngang; nếu có thanh nặng, sẽ chuyển về thanh huyền Ngoài ra, âm cuối là âm tắc như -ch, -p, -t, -c sẽ được chuyển sang âm cuối là âm mũ -m, -n / -nh / -ng tùy vào trường hợp Ví dụ minh họa bao gồm: từ "ngọt" thành "ngòn ngọt", "nhạt" thành "nhàn nhạt", "sát" thành "san sát", "phập" thành "phầm phập", "thiếp" thành "thiêm thiếp", "phớt" thành "phơn phớt", "sục" thành "sùng sục", "tiếc" thành "tiêng tiếc".

Quy tắc biến âm dạng láy AA trong tiếng Việt không phải là tuyệt đối, bởi vẫn tồn tại một số từ gồm cả dạng láy như chát chát/chan chát, khác khác/khang khác, đẹp đẹp/đèm đẹp, tiếc tiếc/tiếng tiếc Những trường hợp này thường là tính từ, phản ánh đặc điểm riêng biệt của ngôn ngữ và cách phát âm Ngoài ra, dạng AA' cũng là một dạng biến âm phổ biến trong tiếng Việt, góp phần làm phong phú hệ thống từ vựng và ngữ pháp.

Dạng láy này giữ nguyên âm tiết phía trước và biến đổi thanh điệu của âm tiết phía sau, dựa trên tiếng gốc đứng đằng trước Đây là dạng láy ít gặp hơn so với hai dạng láy khác, chủ yếu là dạng láy tính từ đơn âm tiết Ngữ âm của từ láy này đặc trưng bởi việc thay đổi thanh điệu ở âm tiết phía sau để tạo nên sự nhấn mạnh và phong phú trong cách sử dụng từ.

Trong tiếng Việt, tiết phía trước mang thanh sắc và có âm cuối là -ch, -p, -t hoặc -c, thường gây biến đổi thành thanh nặng trong âm tiết phía sau Ví dụ, từ "sát" khi lặp lại trở thành "sát sạt", "khít" biến thành "khít khịt", "xốp" chuyển thành "xốp xộp" Hiện tượng này góp phần tạo ra âm điệu đặc trưng và phong phú trong ngôn ngữ hàng ngày.

Trong tiết trước, các âm mang thanh ngã hoặc thanh sắc thường có âm cuối không phải là âm tắc, khiến âm tiết sau thường mang thanh huyền để duy trì sự hòa hợp trong phát âm Ví dụ như các từ "cuống - cuống cuồng", "nhũn - nhũn nhộn", và "nhẽo - nhẽo nhèo" thể hiện rõ quy tắc này trong ngôn ngữ Việt Nam.

- m tiết trước mang thanh ngang, âm tiết sau mang thanh hỏi Ví dụ: im - im ỉm, tưng - tưng tửng, lanh- lanh lảnh,

Các ví dụ như đo đỏ, dê dễ, nhùn nhũn, khin khít, rầm rầm, rào rào, xanh xanh, băm băm minh họa cho dạng tố "A'A" và "AA" trong từ láy tiếng Việt, trong đó dạng "aa" là các từ láy bộ phận hai âm tiết với các âm tiết có cùng âm đầu hoặc vần, có thể có hoặc không có sự đổi thay trong thanh điệu Dạng này tương ứng với từ song thanh và điệp vần trong tiếng Trung, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống từ láy của tiếng Việt, giúp tạo ra các từ láy 3 hoặc 4 âm tiết khi dịch sang tiếng Trung Vì vậy, dạng "aa" không thể bỏ qua khi nghiên cứu về từ láy, dù chưa có ký hiệu chính thức phù hợp, hiện tạm thời được ký hiệu là "aa", đặc biệt trong các ví dụ về láy phụ âm đầu dạng "aa".

Các từ láy có âm đầu giống nhau, vần khác nhau và có thể có thanh điệu giống hoặc khác nhau, thể hiện sự phối hợp âm điệu linh hoạt trong tiếng Việt Dạng này tương đương với khái niệm "song thanh" trong tiếng Trung, giúp tạo ra các mô típ âm vang đặc trưng, góp phần làm phong phú ngôn ngữ và nâng cao tính âm nhạc của câu chuyện Việc sử dụng từ láy kiểu này không chỉ làm rõ nghĩa mà còn tăng cường tính nhấn mạnh và thẩm mỹ cho văn bản, phù hợp với các chiến lược tối ưu hóa SEO nội dung sáng tạo và hấp dẫn.

-Ồn ào, uể oải, uốn éo, những từ này đều có hai âm tiết có phụ âm là phụ âm tắc thanh hầu.

-Bấp bênh, buồn bã, bí bách, những từ này hai âm tiết đều có âm đầu là b[b].

- Cau có, cao cả, quẩn quanh, què quặt, quấn quýt, kém cỏi, cáu kỉnh, những từ này hai âm tiết đều có âm đầu là [k](*).

Trong tiếng Việt, các phụ âm c, k, q đều phát âm giống nhau là [k], nhưng cách viết khác nhau dựa trên vần đi sau Phụ âm c chỉ đi kèm với các vần đơn như a, o, ô, ơ, u, ư hoặc các vần phức bắt đầu bằng các nguyên âm này, trừ ue, ví dụ như: an, ăn, ân, ong, ông, ơn, un, ưi Phụ âm k thường đứng trước các vần bắt đầu bằng e, ê, i hoặc các vần phức bắt đầu bằng các nguyên âm này, như en, ênh, iên Trong khi đó, phụ âm q chỉ kết hợp với vần có 3 âm tiết bắt đầu bằng o, viết đều là u, như oanh trở thành quanh, oang thành quang, hoặc các vần bắt đầu bằng uê hoặc u, như uây, uân Việc hiểu rõ các quy tắc này giúp người học phát âm chính xác và viết đúng chính tả tiếng Việt.

- Chậm chạp, chín chắn, chễm chệ, chen chúc, những từ này có hai âm tiết đều có âm đầu là ch[c].

- Du dương, dễ dãi, giữ gìn, dấm dúi, giòn giã, Những từ này có hai âm tiết đều có âm đầu là d/gi[ ](*).

Đặc điểm từ láy trong tiếng Trung

Trong giới ngôn ngữ học Trung Quốc, nghiên cứu về từ láy chiếm số lượng lớn với thành quả chặt chẽ và mức độ sâu, đặc biệt về các dạng “重叠词” Các nghiên cứu này cung cấp dữ liệu quan trọng cho các phân tích và so sánh trong các chương tiếp theo Do định nghĩa từ láy trong tiếng Trung có sự khác biệt so với tiếng Việt, nội dung giới thiệu về “重叠词” tập trung vào khái niệm và đặc điểm của chúng, trong đó các từ tiếng Việt đi kèm trong ngoặc đơn thể hiện nghĩa của ví dụ nhằm làm rõ các nghĩa phổ biến của từ trong ngữ cảnh.

2.3.1 Đặc điểm về kết cấu

Trong tiếng Trung hiện đại, từ láy đa dạng về hình thức, chủ yếu bao gồm các kết cấu như AA, ABB, AAB, AABB, ABAB, AABC, ABAC và ABCC Trong đó, các dạng kết cấu láy AA, ABB, AABB và ABAB được chú trọng giới thiệu để so sánh với từ láy trong tiếng Việt, giúp hiểu rõ hơn về cách sử dụng và đặc điểm của từ láy trong hai ngôn ngữ này.

Kết cấu láy dạng AA là hình thức lặp lại hoàn toàn một từ đơn âm tiết, trong đó từ đứng đầu chính là từ gốc của từ đôi Loại láy này có thể được sử dụng để tạo thành tính từ, động từ, lượng từ hoặc danh lượng từ, góp phần làm tăng tính nhấn mạnh và nhịp điệu cho câu văn Việc sử dụng kết cấu láy dạng AA không chỉ giúp câu văn trở nên sinh động, giàu cảm xúc mà còn nâng cao hiệu quả truyền đạt ý nghĩa trong văn chương Việt Nam.

Kết cấu láy dạng ABB gồm hai loại chính: một loại do một từ đơn âm tiết thêm từ láy hai âm tiết lặp lại phía sau, tạo thành kết cấu ABB, thể hiện dạng láy “kèm theo”; và một loại khác do từ láy hai âm tiết AB qua quá trình lặp không hoàn toàn tạo thành Trong tiếng Trung hiện đại, kết cấu láy dạng AABB là dạng từ láy hoàn toàn của từ hai âm tiết AB Đối với kết cấu ABB, có thể phân chia thành dạng A+BB và dạng AB+B, trong đó dạng AB+B là dạng láy không hoàn toàn của tính từ hai âm tiết.

Trong văn viết, kết cấu láy dạng AABB thường nhấn mạnh âm tiết đầu tiên (trọng âm) để tạo sự chú ý và nhấn mạnh trong câu Cách đọc phần BB trong kết cấu này có thể biến âm thành thanh một hoặc không, tùy thuộc vào cách đọc âm B nhẹ đi trong kết cấu AB Hiểu rõ về cách đọc và nhấn mạnh này giúp nâng cao khả năng sáng tạo và diễn đạt trong viết lách.

Kết cấu láy dạng ABAB được hình thành từ các từ láy hai âm tiết AB, mang ý nghĩa rõ ràng và dễ nhận biết Khi xét về phương diện ngữ âm, cấu trúc láy dạng ABAB không gây ra hiện tượng biến điệu phức tạp, đảm bảo tính chính xác và dễ hiểu trong ngôn ngữ Đây là một kiểu cấu trúc láy phổ biến trong tiếng Việt, góp phần làm phong phú và đa dạng ngôn ngữ.

2.3.2 Đặc điểm ngữ âm và ngữ nghĩa của từ láy tiếng Trung

2.3.2.1 Đặc điểm ngữ âm và ngữ nghĩa của từ láy tiếng Trung dạng AA

Từ láy dạng AA trong tiếng Trung là từ gồm hai âm tiết trùng nhau, phản ánh sự đồng nhất trong âm điệu, thường gặp nhất trong ngôn ngữ Loại từ láy này thường được sử dụng để nhấn mạnh hoặc tạo hình ảnh sống động, đặc biệt trong các từ thuộc nhóm tính từ, động từ, danh từ, số lượng từ và phó từ có đơn âm tiết Những ví dụ phổ biến nhất là các từ tính từ, động từ và danh từ dạng láy AA, góp phần làm phong phú và sinh động vốn từ của tiếng Trung.

Láy từ đơn âm tiếng Trung thường có dạng AA và được phát âm trong khẩu ngữ như các từ đứng sau âm tiết A có thanh nhẹ hoặc thanh 1 Trong đó, tính từ láy là một dạng phổ biến, giúp mô tả đặc điểm của sự vật, hiện tượng một cách sinh động và rõ ràng, đồng thời góp phần nâng cao khả năng diễn đạt trong tiếng Trung Việc hiểu rõ cách sử dụng các láy từ đơn âm sẽ giúp người học nắm bắt tốt hơn về cấu trúc ngữ pháp và mở rộng vốn từ vựng một cách hiệu quả, tối ưu hóa quá trình học tiếng Trung theo chuẩn SEO.

Trong tiếng Trung, khi sử dụng tính từ láy, thường thêm chữ “的” để tạo thành trạng thái mô tả, ví dụ như “甜甜的” (ngọt ngọt), “久久的” (lâu lâu), “长长的” (dài dài), “黑黑的” (đen đen), và “白白的” (trắng trắng) Sau khi thêm “的”, từ láy thường giữ nguyên hình dạng để thể hiện đặc điểm mô tả một cách rõ ràng và sinh động Việc sử dụng cấu trúc này giúp câu trở nên tự nhiên hơn và thể hiện rõ cảm xúc, đặc điểm của đối tượng trong tiếng Trung.

Trong trường hợp đặc biệt, sau khi thêm âm uốn lưỡi 儿 vào cuối từ, vế sau của A sẽ được phát âm thành thanh 1 Ví dụ điển hình là các từ như 悄悄儿 (qiāoqiāor), nghĩa là lặng lẽ, và 慢慢儿 (mànmānr), có nghĩa là chậm chạp Việc thêm 儿 giúp thay đổi cách phát âm và mang lại lưu ý quan trọng khi học tiếng Trung.》

轻轻儿qīngqīngr (nhẹ nhẹ), 满满儿mǎnmānr (đầy đầy),

Khi từ láy dạng AA là tính từ thường biểu thị mức độ cao hơn, ví dụ:“软软 ”

Trong tiếng Trung, các tính từ như “软” (mềm), “大” (to), “高” (cao), “远” (xa), “酸” (chua) khi lặp lại sẽ mang ý nghĩa tăng cường mức độ, như “大大” (to to), “高高” (cao cao), “远远” (xa xa), “酸酸” (chua chua), tương đương với nghĩa “rất” Tuy nhiên, không thể thêm các phó từ chỉ cấp độ đi kèm vì mức độ đã được biểu đạt rõ ràng qua việc lặp lại Đối với các động từ lặp dạng AA như “看看” (nhìn nhìn), “想想” (nghĩ nghĩ), “说说” (nói nói), “瞧瞧” (liếc liếc), “试试” (thử), hoặc “等等” (đợi), phần âm tiết đứng sau thường đọc thanh nhẹ Ngoài ra, có thể chèn các từ khác vào giữa các từ láy dạng AA để tạo các cụm từ phong phú hơn trong giao tiếp hàng ngày.

看一看(nhìn một vài lần), 看了看(nhìn vài lần), 看了又看(nhìn đi nhìn lại),

看看报(đọc báo),

Từ láy dạng AA là động từ thường biểu thị các hành động diễn ra trong thời gian ngắn, số lần ít và động tác nhanh, mang ý nghĩa thử xem hoặc ngẫu nhiên Ví dụ, trong câu “你拿来我看看” (Anh cầm lại đây tôi xem nào), từ “看看” mang nghĩa “xem thử xem” Tương tự, trong câu “那好,你就说说” (Vậy được rồi, bạn cứ nói thử xem), “说说” thể hiện ý muốn thử hoặc nói một chút để xem.

Trong cuộc sống thường ngày, người Trung Quốc thường sử dụng các cụm từ như “看” (vậy được, bạn nói thử xem), “说说” (nói thử xem) để thể hiện sự bình luận hoặc đề nghị thử làm gì đó Khi rảnh rỗi, tôi thường đọc sách, đánh bóng, uống trà và thỉnh thoảng đi dạo phố để thư giãn và tận hưởng cuộc sống Các từ như “看看” (xem thử), “打打” (chơi một chút), “喝喝” (uống chút) và “逛” (dạo phố) thể hiện các hoạt động thường ngày mang tính thư giãn, giúp cân bằng cuộc sống.

逛” biểu thị động tác khi th c hiện rất thư thả, khá tùy ý, không gặp khó khăn hạn chế nào. c Lượng từ hoặc danh lượng từ láy

Trong tiếng Trung, danh từ đơn âm tiết của lượng từ hoặc tính chất lượng từ thường được lặp lại theo dạng AA để nhấn mạnh hoặc chỉ số lượng chính xác Ví dụ, các từ như 页页 (từng tờ), 缕缕 (từng sợi), 瓶瓶 (từng bình) thể hiện việc lặp lại của danh từ để diễn đạt rõ ràng và sinh động hơn trong câu Việc sử dụng dạng AA không những giúp tăng tính mô tả mà còn phù hợp với quy tắc ngôn ngữ Trung Quốc trong việc làm rõ số lượng hoặc tính chất của vật thể.

只(từng cái), 双双(từng đôi), 户户(từng nhà), 面面(từng mặt)v.v Sau khi láy vẫn giữ nguyên từ.

Các từ láy hoặc từ mang tính từ láy đều thể hiện khái niệm về lượng, có nghĩa là “每”/“每一” (mỗi/mỗi một) hoặc “全部”/“所有” (toàn bộ/ tất cả) Ví dụ, câu “我看到了一张张笑颜如花的脸” (Tôi trông thấy từng khuôn mặt nở nụ cười tươi như hoa) mang ý nghĩa “每一张笑脸都如花开” (Mỗi một khuôn mặt đều cười tươi như hoa), còn câu “她穿出来的衣服,件件都很好看” (Quần áo mà chị ấy mặc, chiếc nào cũng đều đẹp) thể hiện ý “她穿的衣服全部都很漂亮” (Tất cả những quần áo mà chị ấy mặc đều đẹp) Từ “天天” (ngày ngày) trong câu “我最近天天都要去学校报到” (Dạo này ngày ngày tôi đều đến trường) mang nghĩa “每一天” (mỗi ngày) Một ví dụ khác là câu “你不知道,我们相爱的那段时间,天天都想在粘一起” (Cậu không biết đấy thôi, khi chúng tôi còn yêu nhau ngày nào cũng ở bên nhau), thể hiện ý “所有的时间” (tất cả thời gian).

间” (tất cả mọi lúc).

2.3.2.2 Đặc điểm ngữ âm và ngữ nghĩa của từ láy tiếng Trung dạng ABB

SO SÁNH TỪ LÁY TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TRUNG TRÊN CÁC PHƯƠNG DIỆN CẤU TẠO, NGỮ ÂM VÀ NGỮ NGHĨA

Ngày đăng: 23/01/2019, 15:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] 常敬宇 . 《论动词的叠用》 [A]. 杭州:杭州大学出版社 , 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 论动词的叠用
Tác giả: 常敬宇
Nhà XB: 杭州大学出版社
Năm: 1996
[3] 房玉清 . 《实用汉语语法》 [M]. 北京 : 北京语言学院出版社 ,1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 实用汉语语法
Tác giả: 房玉清
Nhà XB: 北京语言学院出版社
Năm: 1992
[4] 李人鉴 . 《关于动词重叠》 . 中国语文 , 1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 关于动词重叠
Tác giả: 李人鉴
Nhà XB: 中国语文
Năm: 1964
[5] 李宇明 . 《语法研究录》 . 商务印书馆 , 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 语法研究录
Tác giả: 李宇明
Nhà XB: 商务印书馆
Năm: 2002
[6] 李宇明 . 《论词语重叠的意义》 [J]. 世界汉语教学, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 论词语重叠的意义
Tác giả: 李宇明
Nhà XB: 世界汉语教学
Năm: 1996
[9] 刘月华 . 《动词重叠的表达功能及可重叠动词的范围》 [J]. 中国语文, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 中国语文
Tác giả: 刘月华
Năm: 1983
[10] 刘月华 . 《 动量词 “ 下 ” 与动词重叠比较》 . 汉语学习 , 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 动量词 “ 下 ” 与动词重叠比较
Tác giả: 刘月华
Nhà XB: 汉语学习
Năm: 1984
[11] 吕叔湘 . 《吕叔湘文集》 , 第二卷 . 商务印书馆 , 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 吕叔湘文集
Tác giả: 吕叔湘
Nhà XB: 商务印书馆
Năm: 1990
[12] 吕叔湘主编 . 《现代汉语八百词(增订本)》 . 商务印书馆 , 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 现代汉语八百词(增订本)
Tác giả: 吕叔湘
Nhà XB: 商务印书馆
Năm: 1999
[13] 邵敬敏 . 《现代汉语通论(第二版)》 . 上海教育出版社 , 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 现代汉语通论(第二版)
Tác giả: 邵敬敏
Nhà XB: 上海教育出版社
Năm: 2007
[16] 孙景涛 . 《古汉语重叠构词法研究》 . 上海教育出版社 , 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 古汉语重叠构词法研究
Tác giả: 孙景涛
Nhà XB: 上海教育出版社
Năm: 2008
[17] 张拱贵 . 《 汉语叠音词词典》 [Z]. 南京大学出版社 , 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 汉语叠音词词典
Tác giả: 张拱贵
Nhà XB: 南京大学出版社
Năm: 1997
[19] 赵元任 . 《汉语口语语法》 . 商务印书馆 , 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 汉语口语语法
Tác giả: 赵元任
Nhà XB: 商务印书馆
Năm: 1979
[20] 朱德熙 . 《现代汉语形容词研究》 . 商务印书馆 , 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 现代汉语形容词研究
Tác giả: 朱德熙
Nhà XB: 商务印书馆
Năm: 1979
[21] 朱德熙 . 《形容词重叠式的感情色彩》 . 商务印书馆 , 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 形容词重叠式的感情色彩
Tác giả: 朱德熙
Nhà XB: 商务印书馆
Năm: 1979
[23] 朱德熙 . 《语法讲义》 . 商务印书馆 , 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 语法讲义
Tác giả: 朱德熙
Nhà XB: 商务印书馆
Năm: 1982
[2] 范方莲 . 《试论所谓 “ 动词重叠 ” 》 [J]. 中国语文 , 1964 Khác
[7] 刘丹青 . 《原生重叠和次生重叠 : 重叠式历时来源的多样性》 [J]. 方言 , 2012 Khác
[8] 刘丹青 . 《实词的拟声化重叠及其相关构式》 [J]. 中国语文, 2009 Khác
[14] 石锓 . 《汉语形容词重叠研究概述》 . 武汉理工大学学报 ( 社会科学版 ), 2005 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w