1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hoạt động bán lẻ mặt hàng thực phẩm tại đà nẵng

52 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 432,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng hoạt động bán lẻ mặt hàng thực phẩm tại đà nẵng

Trang 1

KHOA THƯƠNG MẠI

Đề án môn học THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁN LẺ MẶT HÀNG THỰC PHẨM TẠI ĐÀ NẴNG

GVHD: Trương Thị Vân Anh

Đà Nẵng, tháng 11 năm 2014

Trang 2

MỤC LỤC CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ BÁN LẺ VÀ BÁN LẺ MẶT HÀNG THỰC

PHẨM 4

1.1 Cơ sở lý thuyết chung về bán lẻ 4

1.1.1 Khái niệm bán lẻ 4

1.1.2 Vai trò của hoạt động bán lẻ 4

1.1.3 Chức năng của hoạt động bán lẻ 6

1.1.4 Đặc điểm của bán lẻ 8

1.1.5 Phân loại các hình thức bán lẻ 9

1.2 Những vấn đề cơ bản về bán lẻ mặt hàng thực phẩm 15

1.2.1 Tổng quan về mặt hàng thực phẩm 15

1.2.2 Đặc điểm chung của bán lẻ mặt hàng thực phẩm 17

1.2.3 Các hình thức bán lẻ thực phẩm trên thế giới và Việt Nam 17

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁN LẺ MẶT HÀNG THỰC PHẨM TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 27

2.1 Khái quát chung về thị trường bán lẻ tại Đà Nẵng 27

2.2 Thực trạng hoạt động bán lẻ mặt hàng thực phẩm tại Đà Nẵng 28

2.2.1 Hoạt động bán lẻ thực phẩm tại các chợ 29

2.2.2 Hoạt động bán lẻ thực phẩm tại các siêu thị 35

2.2.3 Hoạt động bán lẻ thực phẩm tại trung tâm thương mại 39

2.2.4 Hoạt động bán lẻ tại các cửa hàng tiện ích 40

2.2.5 Hoạt động bán lẻ tại các cửa hàng gia đình 41

2.3 Đánh giá chung về hoạt động bán lẻ thực phẩm tại Đà Nẵng 42

2.3.1 Những điểm đạt được 42

2.3.2 Những điểm hạn chế 43

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BÁN LẺ THỰC PHẨM TẠI ĐÀ NẴNG 45

3.1 Quy hoạch lại hệ thống bán lẻ truyền thống 45

3.2 Mở rộng mạng lưới và quy mô của hình thức bán lẻ hiện đại 45

3.3 Phát triển các cửa hàng tiện ích và cửa hàng thực phẩm sạch 45

3.4 Thay đổi tư duy kinh doanh 46

3.5 Kết hợp giữa chợ truyền thống và các trung tâm thương mại 46

3.6 Hoàn thiện khung pháp lý 48

3.7 Các chính sách hỗ trợ, khuyến khích cho doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam 49

3.8 Đẩy mạnh mối liên kết với các doanh nghiệp 49

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài

Từ sau năm 1986, Việt Nam chuyển mạnh từ nền kinh tế hàng hóa sang nền kinh

tế thị trường và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới Thị trường bán lẻ là một trongnhững thị trường có nhiều thay đổi sâu sắc nhất trong toàn bộ nền kinh tế

Bán lẻ hàng hóa là hoạt động kinh tế quan trọng, là cầu nối giữa sản xuất và tiêudùng Vì thế hoạt động kinh doanh này có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống kinh tếcủa tất cả mọi người

Thực phẩm là mặt hàng thiết yếu có vai trò quan trọng trong cuộc sống của conngười Hiện nay ngành thực phẩm đã phát triển và hệ thống phân phối bán lẻ ngày càngtrở nên rộng rãi hơn Người tiêu dùng có thể mua thực phẩm một cách dễ dàng Tuynhiên thực tế hoạt động bán lẻ thực phẩm vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế, đặc biệt làvấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Ngày 11/1/2015 sẽ là năm mở cửa ngành bán lẻ củaViệt Nam và sẽ có rất nhiều các công ty, tập đoàn nước ngoài đầu tư kinh doanh vào ViệtNam Để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệpphải có các chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình thực tiễn, đồng thời phải biếtnắm bắt cơ hội cũng như hạn chế, những rủi ro mà công ty có thể gặp phải trong hoạtđộng kinh doanh của mình

Đà Nẵng hiện nay là một trong những thành phố phát triển của Việt Nam Thịtrường bán lẻ Đà Nẵng hoạt động sôi nổi và có tính cạnh tranh cao với sự xuất hiện củanhững tập đoàn bán lẻ nước ngoài Thực phẩm là mặt hàng thiết yếu trong đời sống củangười dân và hiện nay hoạt động phân phối bán lẻ mặt hàng thực phẩm phát triển rộngrãi, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Tuy nhiên hoạt động bán lẻthực phẩm còn tồn tại nhiều hạn chế, đặc biệt là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Xuất

phát từ đó em xin chọn đề tài: “Thực trạng hoạt động bán lẻ mặt hàng thực phẩm tại

Đà Nẵng” nghiên cứu về thực tế hoạt động của các mô hình bán lẻ thực phẩm trên cơ sở

đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hoạt động bán lẻ thựcphẩm tại Đà Nẵng

Trang 4

2 Mục tiêu nghiên cứu

 Làm rõ một số vấn đề lý luận về bán lẻ và bán lẻ mặt hàng thực phẩm, nghiêncứu một số hình thức bán lẻ mặt hàng thực phẩm của một số nước trên thế giới và củaViệt Nam nói chung

 Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động bán lẻ mặt hàng thực phẩm trên địabàn thành phố Đà Nẵng những năm qua

 Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động bán lẻ tronggiai đoạn tới khi Việt Nam mở cửa ngành bán lẻ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Các hình thức bán lẻ mặt hàng thực phẩm

4 Phương pháp nghiên cứu

 Nghiên cứu tài liệu, vận dụng phân tích, so sánh, tổng hợp và thống kê

 Khảo sát thực tế tại một số cửa hàng, chợ, siêu thị và trung tâm thương mại tại

Đà Nẵng

5 Cấu trúc của đề tài

Chương 1 Cơ sở lý thuyết chung về bán lẻ và bán lẻ mặt hàng thực phẩm

Chương 2 Thực trạng hoạt động bán lẻ mặt hàng thực phẩm tại Đà Nẵng

Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bán lẻ mặt hàng thực phẩmtại Đà Nẵng

Trang 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ BÁN LẺ VÀ BÁN

Trong chuỗi giá trị, nhà bán lẻ là mắt xích cuối cùng nối nhà sản xuất với ngườitiêu dùng Vai trò của nhà bán lẻ là cực kỳ quan trọng bởi vì chính ngay tại điểm bán lẻ,người tiêu dùng có cơ hội chọn mua sản phẩm và thương hiệu mà mình ưa chuộng Nhàbán lẻ là người am hiểu nhất nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời nhà bán lẻ cũngchính là người nắm bắt được những thay đổi trong xu hướng tiêu dùng của khách hàng

Hình 1.1 Chuỗi giá trị

Mặc dù hầu hết hoạt động bán lẻ diễn ra tại các cửa hàng bán lẻ song trong nhữngnăm gần đây hình thức bán lẻ không qua cửa hàng như bán hàng qua thư, catalogue, điệnthoại, Internet, máy bán hàng tự động ngày càng phát triển và trở nên phổ biến

1.1.2 Vai trò của hoạt động bán lẻ

1.1.2.1 Trong hệ thống phân phối sản phẩm trên thị trường

a Bán lẻ là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng

Bán lẻ có vai trò quan trọng đối với cả lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng

Vai trò của bán lẻ đối với lĩnh vực sản xuất: Thông qua sự phát triển mạng lưới và

hoạt động của mình, bán lẻ đã trở thành lực lượng tiên phong quyết định đến sự phát triểncủa lĩnh vực sản xuất, cụ thể:

Nhà sản xuất

Nhà sản xuất Nhà bán buôn Nhà bán buôn Nhà bán lẻ Nhà bán lẻ Người tiêu dùng

cuối cùng Người tiêu dùng cuối cùng

Trang 6

- Tiêu thụ hàng hóa của sản xuất và thúc đẩy quá trình sản xuất tiếp theo.

- Góp phần đưa sản phẩm của sản xuất đến với thị trường

- Góp phần phát triển thương hiệu của nhà sản xuất và sản phẩm sản xuất

- Tạo cơ sở và mạng lưới cho quá trình thường trú và phân phối hàng hóa củanhà sản xuất

Vai trò của bán lẻ đối với lĩnh vực tiêu dùng: Bán lẻ gắn bó mật thiết với thị

trường tiêu dùng và dân cư trong các thị trường, do đó đã ảnh hưởng tích cực đối với đờisống và tiêu dùng của cư dân, đóng góp vào sự phát triển của tiêu dùng trên các phươngdiện như:

- Đưa hàng hóa đến tận địa chỉ tiêu dùng của khách hàng

- Tạo cơ sở cho quá trình lựa chọn và mua sắm của khách hàng

- Cung cấp đa dạng các hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng

- Giảm thiểu thời gian và chi phí tiêu dùng của khách hàng

- Phát triển mặt hàng kinh doanh đáp ứng nhu cầu khách hàng

Hàng hóa được sản xuất ra có thể được phân phối trực tiếp đến tay người tiêudùng hoặc thông qua trung gian Hình thức phân phối qua trung gian gọi là phân phốigián tiếp

Trong nền sản xuất chuyên môn hóa hiện nay thì kênh phân phối trực tiếp ngàycàng ít phổ biến Hình thức này không phù hợp với các doanh nghiệp có quy mô vừa vànhỏ Trong khi đó, phương thức phân phối gián tiếp lại thể hiện rõ ưu thế của mình bằngviệc đưa hàng hóa do doanh nghiệp mình sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùngthông qua các trung gian, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí và thời gian Nhàbán lẻ đóng vai trò là trung gian cuối cùng trong khâu phân phối hàng hóa đến tay ngườitiêu dùng Tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của sản phẩm, quy mô của doanh nghiệp,nhà bán lẻ có thể đóng vai trò là trung gian duy nhất hay là một trong các trung giantrong quá trình phân phối hàng hóa từ khi xuất kho nhà sản xuất đến khi bán được chongười tiêu dùng cuối cùng

b Bán lẻ giúp cung cấp thông tin từ người tiêu dùng đến nhà sản xuất và ngược lại.

Trên thị trường bán lẻ, người bán và người mua có quan hệ trực tiếp Họ gặp gỡ vàgiao dịch với nhau vì vậy mà người bán lẻ thu được những thông tin sơ cấp từ kháchhàng qua đó có cơ hội tìm hiểu và nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng và có thể đáp

Trang 7

ứng khách hàng một cách tốt nhất Trong quá trình tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùngcuối cùng, nhà bán lẻ hoàn toàn có khả năng tìm hiểu các nhu cầu có thể xuất hiện trongtương lai và giúp nhà sản xuất bắt kịp những xu hướng thị trường để lên chiến lược mởrộng sản xuất Ngược lại, nhà sản xuất cũng có thể thông qua nhà bán lẻ để nghiên cứuthị trường từ đó sản xuất ra các sản phẩm mới phù hợp nhất với nhu cầu khách hàng.

Tóm lại, thông tin chính là chìa khóa dẫn đến thành công cho bất cứ doanh nghiệptrong tất cả các lĩnh vực Nhờ những thông tin trên thị trường bán lẻ, nhà sản xuất có thểđiều chỉnh kế hoạch sản xuất, cải tiến sản phẩm theo hướng thỏa mãn tối đa thị hiếungười tiêu dùng Người tiêu dùng nhờ vào việc nghiên cứu những biến động trên thịtrường cũng có thể điều chỉnh hành vi mua sắm của mình theo hướng có lợi nhất với chiphí thấp nhất

1.1.2.2 Trong nền kinh tế quốc dân

Bán lẻ là một lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, có ảnh hưởng quantrọng đến sự phát triển kinh tế Suy cho cùng, một sản phẩm có được thực hiện không vàthực hiện như thế nào được thể hiện ở hoạt động bán lẻ Hoạt động sản xuất và thươngmại bán buôn sẽ bị đình trệ nếu hoạt động bán lẻ có vấn đề và điều đó sẽ tạo ra một vòngluẩn quẩn của suy thoái kinh tế Có thể coi thị trường bán lẻ như bộ mặt của một nền kinh

tế quốc gia Đây là lý do mà chúng ta thường thấy một trong những chính sách của cácchính phủ để thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế quốc gia là các giải pháp kích cầu, thúc đẩy

sự phát triển của thị trường bán lẻ trong nước

1.1.2.3 Trong cơ cấu của một quốc gia

Bán lẻ là một lĩnh vực hoạt động quan trọng trong cơ cấu kinh tế của một quốcgia, có những đóng góp đáng kể trong GDP, tạo việc làm, thu hút số lượng lao động lớn.Thực tiễn kinh tế thế giới cho thấy, ở các nước kinh tế phát triển thì các ngành kinh tếdịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP của một quốc gia, có sự chuyểndịch đáng kể lao động từ ngành sản xuất công - nông nghiêp sang các nền kinh tế dịch

vụ, trong đó có thương mại mà chủ yếu là hoạt động bán lẻ

1.1.3 Chức năng của hoạt động bán lẻ

1.1.3.1 Tập hợp và cung cấp một chuỗi các hàng hóa, dịch vụ

Nếu nhiệm vụ chính của các nhà sản xuất là sản xuất ra sản phẩm tốt thì cửa hàngbán lẻ là lực lượng giúp tiếp thị những sản phẩm này đến người tiêu dùng Nhà bán lẻ sẽgom sản phẩm từ các nhà bán buôn và bán lại cho người tiêu dùng Sản phẩm mang nhãn

Trang 8

hiệu khác nhau với số lượng, chủng loại, kích cỡ, màu sắc đa dạng Cho dù các nhà sảnxuất tự đứng ra tổ chức cửa hàng bán lẻ để phân phối sản phẩm của mình thì cũng khólòng để người tiêu dùng có thể chấp nhận bỏ thời gian đi đến hàng chục cửa hàng khácnhau để mua cho đủ những thứ mà mình cần dùng trong ngày Đó là lý do vì sao cửahàng bán lẻ là trở thành một điểm mua sắm được người tiêu dùng trên thế giới ưachuộng.

Tuy tất cả các cửa hàng bán lẻ đều cung cấp rất nhiều mặt hàng và thương hiệukhác nhau nhưng mỗi cửa hàng đều có một xu hướng tập trung vào một lĩnh vực nhấtđịnh và có một nhóm sản phẩm làm nòng cốt

1.1.3.2 Chia những lô hàng lớn thành nhứng đơn vị nhỏ

Từ retailler bắt nguồn từ tiếng Pháp mang nghĩa là cắt nhỏ, chia nhỏ Chúng ta đềubiết rằng bán sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng là điều không hề đơn giản đối với

đa số các nhà sản xuất và các nhà bán sỉ Do đó các nhà bán buôn phân phối sản phẩmtheo từng lô hàng hay kiện hàng với số lượng lớn Nhà bán lẻ có nhiệm vụ phân chiahàng hóa thành các lô nhỏ phù hợp với quy cách mua và tiêu dùng của khách hàng, đảmbảo trạng thái lô hàng sẵn sàng cho việc mua hay sử dụng của khách hàng

1.1.3.3 Lưu trữ hàng hóa

Một trong những chức năng chính của nhà bán lẻ là lưu trữ hàng hóa nhằm làmcho hàng hóa lúc nào cũng có sẵn mỗi khi người tiêu dùng cần đến Tổ chức lưu trữ hànghóa đảm bảo tính liên tục và ổn định của việc bán hàng, đảm bảo hàng hóa có đủ ở các vịtrí không gian phù hợp với tập quán mua hàng của khách hàng Người bán lẻ thôngthường không chỉ lưu trữ một vài mặt hàng với khối lượng lớn, ngược lại họ lưu trữ nhiềumặt hàng với khối lượng nhỏ vì như thế khách hàng có nhiều sự chọn lựa hơn Hưởng lợi

từ chức năng này của người bán lẻ, khách hàng không phải mua trữ nhiều sản phẩm trongnhà mà họ chỉ mua đủ dùng vì sản phẩm lúc nào cũng có sẵn ở cửa hàng bán lẻ và do đócác nhà bán lẻ giúp người tiêu dùng giảm chi phí dự trữ hàng hóa

Không những thế, người bán lẻ còn dự đoán nhu cầu của khách hàng khi lên kếhoạch dự trữ hàng Đây là một lợi ích mà người bán lẻ tạo ra cho khách hàng bởi khi nhucầu phát sinh thì khách hàng luôn dễ dàng tìm thấy thứ mà mình cần

Trang 9

1.1.3.4 Trưng bày hàng hóa và cung cấp dịch vụ hỗ trợ

Các nhà bán lẻ tạo ra một không gian rộng lớn có thể trưng bày hàng hóa một cách

đa dạng và phong phú, giúp khách hàng thoải mái xem, thử, chọn lựa trước khi quyếtđịnh mua

Bên cạnh việc hình thành danh mục hàng hóa, từ nghiên cứu nhu cầu mua và sửdụng hàng hóa của khách hàng, người bán lẻ còn phải có một danh mục các dịch vụ bổsung cung cấp cho họ Đây là một yếu tố rất quan trọng trong điều kiện kinh doanh cạnhtranh hiện nay, để vừa làm tăng thêm giá trị cho hàng hóa, vừa tạo được lợi thế cạnh tranh

so với đối thủ Khách hàng hiện nay đi mua hàng không chỉ đòi hỏi được thỏa mãn vềhàng hóa mà còn đòi hỏi được phục vụ trong những điều kiện tiện nghi và thuận tiệnnhất Theo quan điểm về chuỗi cung ứng giá trị và giá trị dành cho khách hàng, nhữngdịch vụ được cung cấp phải theo hướng làm thuận lợi cho quá trình mua và sử dụng hànghóa của khách hàng, tiết kiệm được chi phí cho họ

Với việc thực hiện chức năng này, người bán lẻ đã làm gia tăng giá trị mà kháchhàng nhận được từ hàng hóa và dịch vụ của họ Đây cũng là một trong những vấn đề cốtlõi của người kinh doanh nói chung, người bán lẻ nói riêng Đạt được điều đó không chỉlàm gia tăng lơi ích cho khách hàng mà còn là điểm then chốt để doanh nghiệp tăngtrưởng được doanh thu, thị phần và lợi nhuận, phát triển thị trường, nâng cao năng lựccạnh tranh

1.1.4 Đặc điểm của bán lẻ

Bán lẻ có những đặc điểm cơ bản sau:

 Đối tượng tác động chủ yếu là người tiêu dùng cuối cùng với quy mô giao dịchkhông lớn nhưng với tần số cao Các đối tượng khách hàng này có sự đa dạng, phức tạp

và thường xuyên biến động về nhu cầu mua hàng

 Phạm vi không gian thị trường hoạt động không rộng song số lượng các mối quan

hệ giao dịch (số lượng khách hàng) lại lớn và tính ổn định không cao

 Đối tượng khách hàng của nhà bán lẻ là người tiêu dùng cuối cùng Các nhà cungcấp cho các nhà bán lẻ thường là các nhà bán buôn

 Các loại trung gian bán lẻ khác nhau có quy mô, phương thức kinh doanh và sứcmạnh chi phối thị trường khác nhau, tất nhiên họ cũng có khả năng điều khiển hệ thốngphân phối khác nhau

Trang 10

 Trong hệ thống các kênh phân phối hàng hóa từ nhà sản xuất đến tay người tiêudùng cuối cùng thì hoạt động bán lẻ chỉ thực hiện ở ba kênh đó là kênh ngắn, kênh trungbình và kênh dài Đối với kênh trung bình và kênh dài thông thường nhà bán lẻ phải muahàng hóa của các nhà bán buôn và từ đó bán trực tiếp cho người tiêu dùng.

1.1.5 Phân loại các hình thức bán lẻ

Các hình thức bán lẻ rất phong phú và đa dạng Dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau

mà người ta có thể phân chia ra nhiều hình thức bán lẻ khác nhau.

Phân loại theo cơ sở bán lẻ:

- Bán lẻ thông qua cửa hàng: tại chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàngtiện ích, cửa hàng bách hóa, …

- Bán lẻ không có cửa hàng: bán lẻ qua điện thoại, catalog, internet, qua máy bánhàng tự động,…

Phân loại theo chủ thể tham gia bán lẻ:

- Hình thức bán lẻ có chủ thể là các doanh nghiệp bán lẻ

- Hình thức bán lẻ có chủ thể là các hợp tác xã bán lẻ

- Hình thức bán lẻ có chủ thể là các cá nhân hay hộ gia đình

- Hình thức bán lẻ nhượng quyền thương mại

Ngày nay người ta thường phân loại hình thức bán lẻ dựa theo mô hình kinh doanh

GVHD: TR ƯƠ NG TH VÂN ANH Ị Page 9

Bán lẻ truyền thống

Chợ truyền thốngCửa hàng gia đình

Bán lẻ hiện đại

Đại siêu thịSiêu thịTrung tâm thương mạiCửa hàng chuyên doanhCửa hàng tiện íchCửa hàng hạ giá

Trang 11

Khái niệm chợ

Theo định nghĩa ở các từ điển tiếng Việt đang lưu hành: “Chợ là nơi công cộng đểnhiều người đến mua bán vào những ngày nhất định Chợ là nơi gặp gỡ giữa cung và cầucủa hàng hóa, dịch vụ, là nơi tập trung hoạt động mua bán hàng hóa giữa người sản xuất,người buôn bán và người tiêu dùng”

Theo khái niệm dùng trong lĩnh vực thương mại: “Chợ là loại hình thương nghiệptruyền thống phát triển khá phổ biến ở nước ta, chợ là hiện thân của hoạt động thươngmại, là sự tồn tại của không gian thị trường mỗi vùng, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu,vùng xa, vùng biên giới và tập trung nhiều nhất ở các vùng đô thị các thành phố lớn”

Khái niệm chợ theo quy định của nhà nước, theo thông tư 15-TM/CSTTTN ngày16/10/1996 của bộ thương mại: “Chợ là mạng lưới thương nghiệp hình thành và pháttriển cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội”

Trong các mô hình bán lẻ truyền thống, chợ là hình thức sơ khai nhất, tồn tại từkhi loài người thoát khỏi thời kỳ tự cung tự cấp và bắt đầu biết trao đổi những thứ mìnhsản xuất thừa, không dùng đến Trong xã hội hiện đại ngày nay thì chợ vẫn tồn tại ở cácquốc gia phát triển nhất tới quốc gia kém phát triển

Cửa hàng gia đình

Cửa hàng gia đình, hay còn gọi là cửa hàng tạp hóa, là một cửa hàng nhỏ do các

hộ kinh doanh cá thể làm chủ Cửa hàng gia đình bán các loại hàng hóa phục vụ nhu cầuthiết yếu hằng ngày của người dân Từ sau khi mở cửa trở lại và thành phần kinh tế tưnhân xâm nhập vào nước ta thì hình thức kinh doanh này khá phổ biến, đang dần chiếmmột ưu thế trong kinh doanh bán lẻ, mang lại cho người tiêu dùng sự tiện lợi tối đa Tuynhiên các cửa hàng gia đình thường có quy mô nhỏ khối lượng hàng hóa không nhiều nênchưa thể phục vụ nhu cầu phong phú của người tiêu dùng

Trang 12

1.1.5.2 Hình thức bán lẻ hiện đại

Trung tâm thương mại (Department store)

Trung tâm thương mại là một tổ hợp thương mại lớn bao gồm các gian hàng bán lẻhàng hóa hay cung cấp dịch vụ Tất cả những gian hàng này được bố trí dưới cùng mộtmái vòm, cung cấp đa dạng các chủng loại mặt hàng từ các mặt hàng tiêu dùng thiết yếutới các hàng hóa lâu bền bao gồm: quần áo, sản phẩm dệt may, giày dép, đồ điện tử, đồchơi, nội thất, phần mềm máy tính, trang sức…

Tiêu chuẩnDiện tích

(nghìn m2) Số lượng mặt hàngHạng I

Hạng II Siêu thị tổng hợpSiêu thị chuyên doanh 2000500 100001000

Hạng III Siêu thị tổng hợpSiêu thị chuyên doanh 500250 4000500

Bảng 1.1 Phân loại siêu thị theo Quy chế siêu thị hiện hành

Các siêu thị bắt đầu xuất hiện trên thị trường bán lẻ Việt Nam từ những năm đầucủa thập niên 80, chúng được xây dựng từ những cửa hàng bách hóa tổng hợp nhưng đãđược mở rộng về quy mô, có cơ sở vật chất hiện đại, số lượng sản phẩm bày bán nhiều.Các sản phẩm trong siêu thị được sắp xếp theo từng gian hàng, mỗi gian hàng là mộtchủng loại hàng hóa với cách bài trí rất bắt mắt Chất lượng phục vụ trong siêu thị ngàycàng được cải thiện Ngay từ khi ra đời các siêu thị đã thu hút được sự chú ý của người

Trang 13

tiêu dùng và hình thức kinh doanh này ngày càng được nhân rộng, làm xuất hiện thêmnhiều loại siêu thị mới.

Đại siêu thị (Hypermarket)

Đại siêu thị là hình thức bán lẻ kết hợp giữa siêu thị và trung tâm thương mại Đạisiêu thị có diện tích kinh doanh và số lượng các loại mặt hàng rất lớn (bao gồm cả mặthàng thực phẩm và phi thực phẩm) dựa trên nguyên tắc bán hàng tự phục vụ và quy môlớn hơn nhiều so với siêu thị, thường nằm ở ngoại ô các thành phố lớn có bãi đỗ xe rộng.Đại siêu thị có nguồn gốc ra đời tại châu Âu sau đó lan sang châu Mỹ vào những năm 60của thế kỷ XX Đại siêu thị ở Pháp và Hoa Kỳ có diện tích lên tới 100.000 bộ vuông, đạisiêu thị ở Anh có diện tích 50.000 bộ vuông

Sản phẩm trong các đại siêu thị là sự kết hợp của hai hình thức bán lẻ quy mô lớnnên hàng hóa bán trong đại siêu thị là sự cộng lại của hai mô hình này đồng thời còn cóthêm những loại hàng hóa, dịch vụ khác như trạm xăng, cửa hàng thuốc, dịch vụ sửa chữaxe… Về giá cả thì tại các đại siêu thị cũng tương tự như siêu thị và trung tâm thương mại

Cửa hàng tiện ích (Convinence store)

Cửa hàng tiện ích là một cửa hàng nhỏ, chuyên bày bán các mặt hàng thiết yếuphục vụ nhu cầu hằng ngày cho người tiêu dùng một cách nhanh chóng và tiện lợi nhất

Đặc trưng của cửa hàng tiện ích:

- Diện tích nhỏ, đặt gần khu dân cư, ở nơi tiện đường giao thông

- Mặt hàng bày bán đa dạng phục vụ những nhu cầu thiết yếu của người dân

- Cách trưng bày hàng hóa hiện đại, khoa học, tiện lợi cho người mua

- Mở cửa thời gian tối đa trong ngày, có thể mở cửa 24h vào tất cả các ngày trongtuần

- Cách phục vụ hiện đại, thuận tiện bất kể thời gian, phục vụ cả việc giao hàng tậnnhà cho khách hàng

- Giá cả thường cao hơn so với kênh truyền thống do cộng thêm các yếu tố tiện ích

- Đối tượng phục vụ: phục vụ cho khách hàng có ít thời gian, có thu nhập tương đối,

có nhu cầu mua sắm nhanh, tốn ít thời gian mà vẫn đảm bảo số lượng, chất lượng,

an toàn và vệ sinh

Cửa hàng hạ giá (Discount store)

Khái niệm: Cửa hàng hạ giá bán những hàng hóa tiêu chuẩn với giá thấp hơn dochấp nhận mức lời thấp hơn và bán với những khối lượng lớn hơn

Trang 14

Hình thức hoạt động: Cửa hàng hạ giá đích thực thường xuyên bán hàng với giáthấp hơn và bán phần lớn là các sản phẩm có thương hiệu Các cửa hàng hạ giá bán bằngcách nhập hàng trực tiếp từ các nhà sản xuất và cắt giảm chi phí thuê mặt bằng Việc sửdụng biện pháp giảm giá từng đợt hay vào những dịp đặc biệt không làm cho một cửahàng trở thành cửa hàng hạ giá.

Xu hướng phát triển: Cạnh tranh về giá luôn là một công cụ cạnh tranh hiệu quảnhất là đối với các sản phẩm hàng tiêu dùng Các cửa hàng hạ giá đã khai thác được tâm

lý thích hàng rẻ của người tiêu dùng để tiêu thụ hàng hóa với số lượng lớn từ đó thu đượcmức lợi nhuận cao Một số cửa hàng hạ giá sau một thời gian kinh doanh hiệu quả đã tiếnhành đầu tư trang trí nội thất cho cửa hàng của mình, bổ sung thêm các chủng loại hàngmới, mở thêm các chi nhánh…Tuy nhiên, hoạt động đó lại làm tăng chi phí bán hàng vàdẫn đến giá bán tăng Vì vậy khi các cửa hàng bách hóa tổng hợp cùng cắt giảm giá bán

để cạnh tranh với các cửa hàng hạ giá thì sự khác biệt giữa các cửa hàng này là rất mờnhạt

Cửa hàng chuyên doanh (Specialty store)

Cửa hàng chuyên doanh là một loại cửa hàng chuyên kinh doanh một hoặc mộtnhóm mặt hàng nhất định theo hai hướng chuyên doanh hẹp (là loại cửa hàng chỉ bán mộtnhóm sản phẩm của một nhà cung cấp) hay chuyên doanh rộng (là loại cửa hàng báncùng một lúc một loại sản phẩm của nhiều nhà cung cấp)

Đến cửa hàng chuyên doanh người mua sẽ được lựa chọn nhiều sản phẩm cùngchủng loại được bày bán với số lượng phong phú, nhiều mẫu mã Ngoài ra khách hàng sẽđược cửa hàng tư vấn, hướng dẫn tận tình Tuy nhiên giá bán sẽ cao hơn những cửa hàngbán lẻ khác Những cửa hàng chuyên doanh dễ thu hút khách hàng nhờ hình ảnh thươnghiệu cộng với đội ngũ nhân viên bán hàng chuyên nghiệp

Bán lẻ điện tử (E-retailer)

Bán lẻ điện tử là việc phân phối hàng hóa, dịch vụ tới tay người tiêu dùng thôngqua hệ thống internet Khách hàng sẽ đặt hàng online hoặc mua hàng qua catalogue vàsau đó hàng hóa sẽ được gia tới tận nơi Quy trình thanh toán được thực hiện online hoặc

sẽ thanh toán trực tiếp khi nhận hàng Ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tinthì hình thức bán lẻ điện tử ngày càng trở nên phổ biến Hình thức bán lẻ này sẽ giúp chokhách hàng có thể tiết kiệm được chi phí và thời gian, đặc biệt khách hàng có thể muahàng ở những khu vực địa lý cách xa mà không cần phải tới tận cửa hàng Với ưu điểm

Trang 15

đó nên ngày càng có nhiều công ty áp dụng hình thức này trong hoạt động bán hàng củamình.

Các thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật, động vật, vi sinh vật hay các sản phẩmchế biến từ phương pháp lên men như rượu, bia Mặc dù trong lịch sử thì nhiều nền vănminh đã tìm kiếm thực phẩm thông qua việc săn bắn và hái lượm, nhưng ngày nay chủyếu là thông qua gieo trồng, chăn nuôi, đánh bắt và các phương pháp khác

1.2.1.2 Phân loại mặt hàng thực phẩm

Có nhiều cách phân loại mặt hàng thực phẩm khác nhau nhưng thông thường dựavào hai cách phổ biến nhất:

 Căn cứ vào nguồn gốc thực phẩm:

 Thực phẩm bắt nguồn từ thực vật như các loại rau củ, trái cây, ngũ cốc…

 Thực phẩm có nguồn gốc từ động vật như các loại thịt, cá, trứng, sữa…

 Căn cứ vào mức độ chế biến của thực phẩm:

 Thực phẩm nguyên xơ: là các loại thực phẩm chưa trải qua quá trình chế biến nhưthịt cá tươi sống, rau xanh, trứng…

 Thực phẩm đã chế biến là các loại thực phẩm đã trải qua quá trình chế biến, tácđộng của con người như thực phẩm đóng hộp, thực phẩm đông lạnh, nước ép trái cây, sữađóng hộp…

1.2.1.3 Đặc điểm của mặt hàng thực phẩm

Mỗi loại thực phẩm đều có những đặc điểm riêng nhưng chúng đều có một số đặcđiểm chung sau đây:

Trang 16

 Thứ nhất, tất cả các loại thực phẩm con người đều ăn được Thực phẩm chính làthứ không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày như thịt, cá, rau củ, hoa quả, sữa…

 Thứ hai, thực phẩm chứa các chất dinh dưỡng, vitamin, các chất cần thiết giúp conngười có thể tồn tại và phát triển Cơ thể chúng ta cần thiết phải có đa dạng các loạivitamin, chất dinh dưỡng, chất khoáng Các loại thực phẩm khác nhau đã đáp ứng nhucầu đó của cơ thể

 Thứ ba, cần phải có một quá trình để tạo ra một lượng thực phẩm cụ thể nào đó Ví

dụ để tạo ra được gạo thì cần có thời gian gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch; để có sữathì cần có thời gian nuôi bò, vắt sữa và chế biến… Đặc điểm này đòi hỏi con người phải

có kế hoạch trong việc sản xuất và tiêu dùng thực phẩm

 Thứ tư, khác với các vật phẩm tiêu dùng khác, thực phẩm có thời gian sử dụngtương đối ngắn đặc biệt là các loại thực phẩm tự nhiên chưa qua chế biến Chính vì vậy,vấn đề chế biến thực phẩm và bảo quản thực phẩm là hết sức quan trọng

1.2.1.4 Vai trò của mặt hàng thực phẩm

Từ những phân tích khái niệm đặc điểm của thực phẩm ta thấy được vai trò quantrọng của thực phẩm

 Vai trò chủ yếu nhất của thực phẩm đó là cung cấp các chất dinh dưỡng, vitamin

và các dưỡng chất cần thiết cho cơ thể con người có thể tồn tại và phát triển Thực tếkhoa học nghiên cứu cho thấy con người không thể tồn tại và phát triển bình thường nếukhông có các loại thực phẩm mặc dù có các loại dinh dưỡng hay vitamin nhân tạo

 Thực phẩm là sản phẩm của quá trình sản xuất nông nghiệp, việc phát triển mặthàng thực phẩm có vai trò thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp phát triển Khi nền kinh tếphát triển thì yêu cầu về mặt hàng thực phẩm càng cao Điều này đòi hỏi các ngành sảnxuất thực phẩm phải có sự cải tiến về kĩ thuật, công nghệ giúp nâng cao năng suất và chấtlượng sản phẩm, điều đó giúp thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất thực phẩm

 Thực phẩm với tư cách là nguyên liệu có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cácngành công nghiệp chế biến Do thời hạn sử dụng của mặt hàng thực phẩm tương đốingắn và nhu cầu đa dạng về sản phẩm mà các doanh nghiệp đã đầu tư phát triển côngnghệ chế biến thực phẩm để giúp bảo quản lâu hơn và đa dạng hóa mặt hàng Thực tế cácquốc gia phát triển trên thế giới cho thấy ngành công nghiệp chế biến thực phẩm pháttriển và đóng góp một phần đáng kể trong cơ cấu GDP

Trang 17

 Thực phẩm là mặt hàng đặc biệt trong quá trình lưu thông, giữ vai trò quan trọngđối với sự ổn định của một quốc gia Tình hình Việt Nam những năm đầu thập niên 80 làmột ví dụ điển hình Trong giai đoạn đó nước ta thiếu hụt thực phẩm và chất lượng thấpdẫn tới tình trạng khủng hoảng trầm trọng Sau đó chính phủ đã có những cải cách kịpthời giúp nền kinh tế phát triển, đáp ứng được nhu cầu thực phẩm của người dân Đấtnước ta đã thoát khỏi khủng hoảng và đi vào phát triển.

1.2.2 Đặc điểm chung của bán lẻ mặt hàng thực phẩm

Do mặt hàng thực phẩm có những tính chất, đặc điểm riêng nên việc phân phốibán lẻ thực phẩm ngoài các đặc điểm chung của hệ thống phân phối bán lẻ nói chung thìcòn có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, hệ thống phân phối bán lẻ thực phẩm phải đáp ứng được yêu cầu bảoquản thực phẩm Các cửa hàng bán lẻ thực phẩm đặc biệt là các siêu thị bán thực phẩmtươi sống luôn có hệ thống máy lạnh, hệ thống sục khí trong bể nước để đảm bảo chấtlượng của thực phẩm

Thứ hai, mức độ lưu chuyển hàng hóa đối với mặt hàng thực phẩm là tương đốinhanh, thời gian ngưng đọng ngắn Do thực phẩm có thời gian sử dụng ngắn nên các chủcửa hàng phải luôn nỗ lực đẩy nhanh việc tiêu thụ hàng hóa Vì vậy mà các chính sáchxúc tiến bán là rất quan trọng, đặc biệt đối với các loại thực phẩm sản xuất trong ngàyhoặc thực phẩm nhanh hư hỏng

Thứ ba, thực phẩm có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của người tiêu dùng do đótâm lý người tiêu dùng luôn luôn chú ý tới vệ sinh an toàn Điều này khiến cho các cửahàng bán lẻ phải quan tâm tới môi trường trong và ngoài cửa hàng, đảm bảo sạch sẽ, vệsinh thì mới có thể thu hút người tiêu dùng

1.2.3 Các hình thức bán lẻ thực phẩm trên thế giới và Việt Nam

1.2.3.1 Hình thức bán lẻ thực phẩm trên thế giới

Các hình thức bán lẻ thực phẩm trên thế giới rất phong phú, đa dạng Theo cơ sởbán lẻ có thể chia thành hai hình thức chính đó là bán lẻ qua cửa hàng và bán lẻ khôngqua cửa hàng

Trang 18

a Bán lẻ thực phẩm qua cửa hàng

Hình thức bán lẻ

thực phẩm Đại siêu thị

Siêu thịthông thường

Siêu thị vớiphổ hànghạn chế

Trung tâm thương mại

Cửa hàngtiện ích

Chiều sâu

Trang 19

- Tại Hoa Kỳ, siêu thị là “cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhucầu tiêu dùng phổ biến của người dân như thực phẩm, đồ uống, dụng cụ gia đình và cácloại vật dụng cần thiết khác.”

- Tại Anh người ta định nghĩa siêu thị là cửa hàng bách hóa bán thực phẩm, đồ uống

và các loại hàng hóa khác Siêu thị thường đặt tại thành phố hoặc dọc đường cao tốctrong khu vực buôn bán có diện tích từ 4000 đến 25000 bộ vuông

- Ở Pháp siêu thị được định nghĩa là cửa hàng bán lẻ theo phương thức tự phục vụ

có diện tích từ 400 m2 đến 2500 m2 chủ yếu bán hàng thực phẩm và vật dụng gia đình

Những năm đầu của thế kỷ XX siêu thị xuất hiện là các cửa hàng có diện tích nhỏ.Những năm 30 của thế kỷ XX thì các siêu thị lớn lần lượt ra đời, tiêu biểu là Kroger,Ralphs Grocery Company, A&P, Safeway tại Mỹ, Tesco tại Anh Hiện nay thì siêu thị đãphát triển mạnh mẽ tại tất cả các quốc gia trên thế giới

Siêu thị thông thường là một cửa hàng bán lẻ thực phẩm tự phục vụ có diện tíchlớn, bán các loại hàng tạp hóa, thịt và hàng nông sản bên cạnh đó còn bán một số loạihàng hóa phi thực phẩm như các loại sản phẩm chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp và hànghóa thông thường khác Các loại thực phẩm tươi sống và hàng nông sản chiếm 4% doanh

số bán của siêu thị thông thường và có lợi nhuận cao hơn so với thực phẩm đóng gói

Siêu thị với phổ hàng hạn chế

Siêu thị với phổ hàng hạn chế là hình thức bán lẻ thực phẩm phổ biến tại Mỹ trong

đó Save A Lot, Aldi và Grocery Outlet là các siêu thị tiêu biểu hoạt động dưới hình thứcnày Các siêu thị này thường bán một số lượng hạn chế các mặt hàng và 80% - 90% làthực phẩm Bằng các biện pháp cắt giảm chi phí và phát triển nhãn hàng riêng, các siêuthị này cung cấp thực phẩm cho khách hàng với mức giá thấp hơn khoảng 40% so với cáchình thức bán lẻ thực phẩm khác

Hình thức bán lẻ này được người tiêu dùng tại Mỹ ưa thích vì thực phẩm có giá rẻ

và tươi ngon hơn so với các siêu thị truyền thống khác

Trung tâm thương mại

Trung tâm thương mại là một cửa hàng có diện tích rất lớn, khoảng 185 nghìn m2,bao gồm siêu thị và cửa hàng giảm giá, cung cấp các loại hàng hóa rất đa dạng bao gồmthực phẩm và phi thực phẩm

Trung tâm thương mại hoạt động mạnh mẽ tại các nước phát triển như Mỹ, Anh,Pháp… Tại Mỹ có các trung tâm thương mại lớn như Walmart, SuperTarget (Target),

Trang 20

Fred Meyer (Kroger), Super Kmart Center (Sears Holding) trong đó Walmart là thươnghiệu lớn nhất với chuỗi gồm 2700 trung tâm thương mại, chiếm 81% tổng doanh số củatrung tâm thương mại tại Mỹ.

Những mặt hàng phi thực phẩm trong trung tâm thương mại thường có tỷ suất lợinhuận cao hơn do đó có thể cho phép các trung tâm thương mại cung cấp thực phẩm vớigiá rẻ Tuy nhiên trung tâm thương mại có diện tích rất lớn nên khách hàng thường cảmthấy bất tiện khi phải mất nhiều thời gian để tìm ra món hàng mà họ muốn mua

Đại siêu thị

Đại siêu thị hình thành đầu tiên tại Pháp sau chiến tranh thế giới thứ hai, sau đóphát triển nhanh sang vùng châu Âu và trở nên phổ biến tại Nam Mỹ như Argentina vàBrazil Tập đoàn Carrefour của Pháp hiện đang là tập đoàn kinh doanh dưới hình thức đạisiêu thị lớn nhất thế giới

Đại siêu thị có diện tích khoảng 100 – 300 nghìn m2 và mặt hàng thực phẩm chiếmkhoảng 60% – 70% Chiều sâu của hàng hóa thấp hơn trung tâm thương mại, khoảng 40– 60 nghìn Về hình thức thì Đại siêu thị và trung tâm thương mại nhìn chung là giốngnhau tuy nhiên đại siêu thị có tỷ lệ mặt hàng thực phẩm lớn hơn, tập trung hơn vào cácloại thực phẩm tươi sống, thịt, cá, bánh mỳ… trong khi trung tâm thương mại chú trọnghơn vào các loại mặt hàng đóng hộp, thực phẩm khô

Đại siêu thị và trung tâm thương mại cung cấp sự tiện lợi cho người tiêu dùng bởi

họ có thể mua tất cả các loại sản phẩm tại một địa điểm Tuy nhiên để xây dựng được cáctrung tâm thương mại và đại siêu thị thì cần có một diện tích rất lớn Tại Nhật Bản vàchâu Âu thì diện tích để xây dựng các cửa hàng lớn thường bị hạn chế Do đó hình thứcbán lẻ này ít phát triển hơn các siêu thị thông thường

Cửa hàng tiện ích

Cửa hàng tiện ích có nguồn gốc từ Hoa Kỳ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Đây

là một cửa hàng bán lẻ có diện tích từ 3 – 5 nghìn m2, cung cấp một số lượng hạn chế cácmặt hàng tại một vị trí thuận tiện Cửa hàng tiện ích có thể mang lại cho người tiêu dùngmột sự nhanh chóng trong việc mua và thanh toán Các mặt hàng thực phẩm trong cửahàng tiện ích chiếm khoảng 90%, chủ yếu là các loại thực phẩm tươi sống, rau củ, trứng,sữa… Các loại thực phẩm ở đây thường tươi ngon hơn và có giá cao hơn so với siêu thịhay trung tâm thương mại

Trang 21

Cửa hàng tiện ích chịu sức cạnh tranh mạnh mẽ của các siêu thị và trung tâmthương mại Để tăng tính tiện lợi và sức cạnh tranh thì các cửa hàng tiện ích đã xây dựngcác cửa hàng của mình tại các sân bay, các khu văn phòng, trường học đồng thời cungcấp thêm các dịch vụ mới Tại các chuỗi cửa hàng tiện ích lớn trên thế giới như 7-Eleven,BP’s Wild Bean Café, Wawa phục vụ các loại thức ăn nhanh như gà rán, pizza, bánh mỳsanwhich, bánh mỳ Ý…được chế biến ngay tại quầy Trong cửa hàng tiện ích còn cóthêm các dịch vụ khác như trạm xăng, quầy thuốc tây… và khách hàng có thế tận dụngthời gian trong lúc chờ đợi đổ xăng dầu để mua thực phẩm Các dịch vụ tài chính chophép khách hàng có thể kiểm tra tiền mặt, thanh toán hóa đơn và mua thẻ điện thoại, vé

xe phim, thẻ quà tặng

Hiện tại thì Seven and I Holdings của Nhật Bản là tập đoàn sở hữu chuỗi cửa hàngtiện ích lớn nhất trên thế giới với thương hiệu 7-Eleven có hơn 50.000 cửa hàng tại 16quốc gia Cửa hàng tiện ích ngày càng phát triển và được người tiêu dùng lựa chọn bởitính tiện lợi và chất lượng thực phẩm cao

b Bán lẻ thực phẩm không qua cửa hàng

Bán lẻ điện tử xuất hiện từ những năm 80 của thế kỷ XX và đang ngày càng pháttriển bởi tính tiện lợi và tiết kiệm chi phí cho cả người bán và người mua Các doanhnghiệp không cần phải đầu tư nhiều vào cơ sở vật chất, không gian, cửa hàng và ngườimua thì được giao hàng tận nơi mà không phải đến tận cửa hàng, đặc biệt họ có thể muahàng tại bất cứ đâu trên thế giới

 Quá trình xử lý bán hàng diễn ra nhanh chóng: Đó là ưu điểm của Internet, với sự

hỗ trợ của mạng Internet các nhà bán lẻ có thể dễ dàng thực hiện được đơn hàng củakhách hàng một cách nhanh chóng và chính xác

 Khả năng nhận diện thương hiệu trong mắt người dùng: Internet giúp định hướngcửa hàng một cách vô nhanh chóng nhờ tốc độ lan truyền mạnh mẽ của nó

Trang 22

 Mang lại lợi thế cho khách hàng lẫn chủ tiệm trong giao dịch: Với sức mạnh số,quản lí trong bán hàng trực tuyến được diễn ra dễ dàng, bên cạnh đó khả năng thanh toáncủa khách hàng cũng được thực hiện một cách đơn giản và không mất nhiều thời gian.

Nhược điểm

 Sự tin tưởng của người dùng còn thấp: Vấn đề lớn nhất trong rào cản thương mại

là sự tin tưởng của người dùng vào thị trường mua bán trực tuyến vẫn còn khá thấp, hiệntượng lừa đảo qua mạng làm mất lòng tin người tiêu dùng vào mua bán hàng trực tuyến

 Độ bảo mật của mạng Internet: Độ bảo mật của Internet ở nhiều nước còn thấp, tộiphạm mạng có thể dễ dàng thâm nhập vào hệ thống mạng và gây bất lợi cho hệ thốngmua bán hàng trực tuyến và các trang web bán hàng online

 Các quy đình về thương mại điện tử: Các quy định và văn bản liên quan về việchướng dẫn và quy định về phát triển thương mại điện tử chưa thực sự đầy đủ

Bán lẻ điện tử thường được áp dụng đối với các mặt hàng phi thực phẩm, tuynhiên trong những năm gần đây thì bán lẻ thực phẩm cũng ngày càng trở nên phổ biếnkhi công nghệ thông tin phát triển Các mặt hàng thực phẩm khá phong phú, đa dạng, baogồm từ thực phẩm tươi sống tới thực phẩm khô, đóng hộp hay chế biến sẵn Các nhà bán

lẻ điện tử thực phẩm hàng đầu thế giới phải kể đến Amazon.com, Mysupermarket,FreshDirect, AllSuperSoter, NetGrocer… cung cấp một danh mục đa dạng các loại hànghóa cho người tiêu dùng tại khắp nơi trên thế giới

1.2.3.2 Hình thức bán lẻ thực phẩm tại Việt Nam

Tại Việt Nam các hình thức bán lẻ mặt hàng thực phẩm rất phong phú, đa dạng,bao gồm cả hình thức bán lẻ truyền thống và hiện đại Theo số liệu thống kê của Bộ CôngThương thì đến cuối năm 2013, cả nước có khoảng 724 siêu thị và 132 trung tâm thươngmại các loại, khoảng vài trăm cửa hàng tiện ích, 8.546 chợ các loại, khoảng 1 triệu cửahàng quy mô nhỏ của hộ gia đình

Các hình thức bán lẻ tại thực phẩm Việt Nam bao gồm năm hình thức chính

Trang 23

Hình 1.3 Các hình thức bán lẻ thực phẩm tại Việt Nam

a Chợ

Tại Việt Nam thì chợ truyền thống là hình thức bán lẻ thực phẩm phổ biến và tiệnlợi nhất được người tiêu dùng lựa chọn nhiều khi có nhu cầu mua thực phẩm Chợ pháttriển ở cả thành thị và nông thôn, đồng bằng và vùng núi Các chợ có thể có quy mô lớnnhư chợ Bà Chiểu, chợ Đồng Xuân ở Hà Nội, chợ Bến Thành ở thành phố Hồ Chí Minhhoặc những chợ có quy mô nhỏ, chợ cóc Ngoài ra ở vùng núi còn có chợ phiên là hìnhthức chợ truyền thống nhưng chỉ họp chợ từ một đến hai lần trong một tuần Chợ phiên làmột đặc trưng của văn hóa Việt Nam, không chỉ có ý nghĩa về kinh tế - thương mại màcòn là nơi thu hút khách du lịch tới tham quan mua sắm

Phân loại chợ Việt Nam

Nghị định 02/2003/NĐ-CP và nghị định 114/2009/NĐCP xác định chợ truyềnthống được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng các nhu cầu mua bán, traođổi hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư Theo nghị định trên, chợ đượcphân loại như sau:

- Phân loại theo mặt hàng kinh doanh: chợ đầu mối, chợ chuyên doanh, chợ tổng

hợp, chợ dân sinh Các loại chợ trên đều có trong thành phố, nhưng tập trung vào chợtổng hợp và chợ dân sinh

- Phân loại theo kiến trúc chợ: chợ kiên cố (có thời gian sử dụng trên 10 năm); chợ

bán kiên cố (thời gian sử dụng từ 5-10 năm); chợ tạm là chợ nằm trong quy hoạch nhưng

Trung tâm thương mại

Cửa hàng tiện ích

Trang 24

chưa được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố; điểm kinh doanh tại chợ bao gồm quầyhàng, sạp hàng, ki-ôt, cửa hàng có diện tích quy chuẩn tối thiểu là 3m2/điểm.

- Phân loại theo vùng địa lý: chợ biên giới, chợ nông thôn, chợ miền núi, chợ cửa

khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu

- Phân loại tổng hợp:

Chợ loại 1: là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố,

hiện đại theo quy hoạch, được đặt ở vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng củatỉnh, thành phố

Chợ loại 2: là chợ có trên 200 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố

hoắc bán kiên cố theo quy hoạch; được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực vàđược tổ chức thường xuyên hay không thường xuyên

Chợ loại 3: là các chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu

tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hóa củanhân dân trong xã, phường và địa bàn lân cận

b Cửa hàng gia đình

Các cửa hàng gia đình ở Việt Nam thông thường được gọi là cửa hàng tạp hóa làhình thức bán lẻ mặt hàng thực phẩm khá phổ biến Cả nước hiện có khoảng hơn 1000cửa hàng tạp hóa quy mô lớn và vừa, các cửa hàng tạp hóa quy mô nhỏ thì rất nhiều, phân

bố rải rác trong các khu dân cư Các cửa hàng tạp hóa thường bán các loại thực phẩm đãqua chế biến sẵn như thực phẩm khô, đóng hộp, thực phẩm ăn liền, trứng, sữa, rau củhay các loại thực phẩm tươi sống như thịt, thủy hải sản,… phục vụ cho nhu cầu mua nhỏ

lẻ của các cá nhân, hộ gia đình sống xung quanh

Các quầy hàng di động cũng khá phổ biến Đó là các quán bán hàng di động tại vỉa

hè hay các xe bán hàng rong, gánh hàng rong cung cấp thực phẩm len lỏi vào từng ngócngách trong các khu dân cư Thực phẩm cung cấp thường là các món ăn được chế biếnsẵn, rau củ quả… Ưu điểm của hình thức này là mang lại sự tiện lợi cho người tiêu dùng

vì họ có thể được cung cấp thực phẩm tận nhà Tuy nhiên quy mô và số lượng thực phẩmrất hạn chế và không xác định được nguồn gốc chính xác do đó có thể không đảm bảo vệsinh an toàn thực phẩm

c Siêu thị

Trang 25

Siêu thị xuất hiện lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1993 khi công ty Vũng TàuSinhanco khai trương siêu thị Minimart tại thành phố Hồ Chí Minh và hiện nay cả nước

có khoảng 724 siêu thị tổng hợp và chuyên doanh trong đó có các siêu thị nội địa nhưchuỗi siêu thị của Saigon Coopmart, Intimex, Citimart và Fivimart, Vinatexmart…Hiệnnay thị trường bán lẻ Việt Nam đang bị chiếm lĩnh bởi các siêu thị nước ngoài như tậpđoàn Lotte Mart của Hàn Quốc, Big C của Pháp, Aeon của Nhật Bản Các siêu thị củaViệt Nam còn chưa phát triển mạnh, sức cạnh tranh với các siêu thị nước ngoài còn chưacao

d Trung tâm thương mại

Các trung tâm thương mại tại Việt Nam chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn vàngày càng phát triển Điển hình là các trung tâm thương mại của Việt Nam tại Hà Nộinhư Tràng Tiền Plaza, Vincom Plaza, Mê Linh Plaza, Bourbon Thăng Long… hayCrescent Mall, Unionsquare, Intimex, trung tâm thương mại Sài Gòn tại thành phố HồChí Minh Sức hấp dẫn lớn của thị trường bán lẻ khiến cho ngày càng có nhiều tập đoànnước ngoài đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại lớn tại Việt Nam như tập đoànAeon của Nhật Bản, Parkson của Malaysia, Roubins của Thái Lan…

Các trung tâm thương mại là nơi tập trung bán lẻ nhiều loại sản phẩm và dịch vụ,

cả mặt hàng thực phẩm và phi thực phẩm Trung tâm thương mại cung cấp những sảnphẩm, dịch vụ phục vụ đối tượng khách hàng chủ yếu là những người có thu nhập khá trởlên

e Cửa hàng tiện ích

Hình thức bán lẻ thực phẩm tại các cửa hàng tiện ích phổ biến nhất tại thành phố

Hồ Chí Minh Các công ty Saigon Co.op, Big C, Tổng công ty TM Sài Gòn, Citimart đềutriển khai những cửa hàng tiện ích bán lẻ quy mô vừa và nhỏ, len lỏi trong các khu dân cưnhằm khuếch trương thương hiệu, giảm hàng tồn kho và mở rộng độ bao phủ thị trường,gia tăng sức cạnh tranh

Theo Nielsen Việt Nam, hiện nay TP.HCM có 500 cửa hàng tiện ích, trong đó,60% số cửa hàng này thuộc về doanh nghiệp nước ngoài Các chuỗi cửa hàng tiện ích củanước ngoài như Family Mart, của Nhật Bản, Circle K của Mỹ, Shop & Go của Singapore,Big C Express của Pháp Tuy nhiên, nếu nói về mô hình cửa hàng thực phẩm quy mô nhỏ(Food Stores) thuộc hệ thống các siêu thị lớn thì chỉ có: Co.op Food, Satrafoods, NewChợ và Vissan Trong đó, Co.opFood, SatraFoods, Minimart chủ yếu kinh doanh thực

Trang 26

phẩm tươi sống (chiếm 30% - 40% tổng lượng hàng), kế đến là một số mặt hàng hóa mỹphẩm, thực phẩm công nghệ, đồ dùng thiết yếu… Cách thức bán hàng gần giống cửahàng tạp hóa truyền thống: Thực phẩm tươi sống (thịt, cá, rau củ quả, trái cây) được bàybán cho khách hàng lựa chọn.

Tại các cửa hàng New Chợ, ngoài các mặt hàng hóa phẩm và đồ dùng, còn có cácmặt hàng tươi sống được đóng vỉ sẵn Các cửa hàng của Công ty Mỹ Đức – Bình Điền(đường Cống Quỳnh - quận 1) bày bán các loại thủy hải sản lấy từ chợ Bình Điền, thịtheo của Vissan và một số loại rau an toàn đóng gói, thực phẩm chế biến Các cửa hàngcủa Vissan, Sagrifood tận dụng lợi thế là bán thịt heo của đơn vị…Trong tình hình thịtrường hiên nay thì hình thức kinh doanh nhỏ linh hoạt như siêu thị mini, cửa hàng tiệních sẽ hợp lý hơn Sức mua giảm, chi phí mặt bằng tăng khiến người tiêu dùng chuyểndịch từ những đại siêu thị sang cửa hàng tiện ích, siêu thị mini với số lượng tăng nhanh

Theo Hãng nghiên cứu thị trường Kantar Worldpanel thì năm 2014, cửa hàng tiệních và siêu thị mini đang có mức tăng trưởng tới 74% so với cùng kỳ năm ngoái, trongkhi mức tăng trưởng ở các siêu thị và đại siêu thị chỉ khoảng 6% Theo thống kê, mỗitháng có thêm từ 2 - 3 cửa hàng tiện ích mới được thành lập

Các cửa hàng tiện ích chủ yếu bán các mặt hàng thực phẩm tươi sống (chiếm 40%

- 45%), các loại rau củ quả tươi, các mặt hàng thiết yếu Cách thức bán tương tự như cáccửa hàng tạp hóa truyền thống tuy nhiên cửa hàng tiện ích có cách trưng bày hàng hóakhoa học, cách thức phục vụ hiện đại, thời gian mở cửa có thể là 24/7 Giá bán trong cáccửa hàng tiện ích cao hơn so với cửa hàng tạp hóa truyền thống và khách hàng mục tiêuchủ yếu là những người có thu nhập tương đối, có nhu cầu mua sắm nhanh, tốn ít thờigian mà vẫn đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh

Ngày đăng: 23/01/2019, 12:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w