Câu 1: Tóm tắt bài viết “Về khái niệm của nguồn pháp luật” của tác giả Nguyễn Thị Hồi trong khoảng 1200 từ ( không quá 3 trang ) Câu 2: Cho biết quan điểm về nguồn của pháp luật của tác giả bài viết có điểm gì giống và khác so với cách hiểu về nguồn của pháp luật mà em đã được học trong môn học Lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Câu 3: Cho biết vị trí, vai trò của từng loại nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay
Trang 1Mục lục
Trang 2Mở đầu
Nghị quyết số 48/NQ-TW của Bộ Chính trị đã xác định mục tiêu của công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luậy; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lí xã họi giữ vững ổn định chính trị phát triển kinh tế, hội nhập quốc té,xây dựng nhà nước trong sạch, vững manh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của nhân dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” Đây là định hướng chung cho công tác xây dựng pháp luật trong giai đoạn hiện nay nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật Nhìn ở một lăng kính gần hơn, ngay trong thực tiễn nước ta, lí luận về pháp luật vẫn còn nhiều vấn đề chưa được hiểu một cách thấu đáo, rõ ràng Trong đó phải kể tới vấn đề về “Khái niệm nguồn của pháp luật” Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, quản lí xã hội bằng pháp luật thì vị trí, vai trò của từng loại nguồn càng được đề cao, chú trọng hơn Vì thế, để làm rõ vấn đề trên, em xin chọn chủ đề số 9 – Quan điểm
về nguồn của pháp luật để làm bài tập lớn học kì
Bài làm của em có thể còn nhiều thiếu sót, rất mong các thầy các cô góp ý để em
có thể hoàn thiện bài làm của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Nội dung Câu 1: Tóm tắt bài viết “Về khái niệm nguồn của pháp luật” của tác giả Nguyễn Thị Hồi trong khoảng 1200 từ ( không quá 3 trang )
Bài viết “Về khái niệm nguồn của pháp luật” , TS.Nguyễn Thị Hồi đã nêu lên
quan điểm nguồn của pháp luật Tác giả cho rằng nguồn của pháp luật là một trong những khái niệm cơ bản của lí luận chung về nhà nước và pháp luật, đây cũng là vấn đề gây nhiều tranh luận giữa các nhà khoa học TS Nguyễn Thị Hồi có ý kiến rằng việc nghiên cứu nguồn của pháp luật có ý nghĩa lí luận và thực tiễn to lớn bởi vì xác định đầy đủ, chính xác và sử dụng dúng đắn các lại nguồn của pháp luật sẽ góp phần tích cực vào công cuộc hoàn thiện hệ thống pháp luật để nâng cao hiệu quả của nó Có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này nên hiện tại vẫn chưa có định nghĩa về nguồn pháp luật được đa số các nhà nghiên cứu và thực hành pháp luật thừa nhận Để làm rõ điều này, tác giả đã đưa ra một số quan điểm của các tác giả khác về nguồn của pháp luật
Trước tiên, TS Nguyễn Thị Hồi nói tới từ điển Black Law Dictionary thì nguồn của
pháp luật là khái niệm rộng, có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau
- Theo nghĩa hẹp, nguồn của pháp luật là khái niệm dùng để chỉ những nơi có chứa đựng các qui định mà các thẩm phán có thể dựa vào đó để giải quyết các vụ án
-Theo nghĩa rộng, nguồn của pháp luật là nói đến nguồn gốc của các khái niệm các tư tưởng pháp lí; nói đến các chủ thể có thẩm quyền ban hành pháp luật; nói đến nơi chứa đựng các qui định của pháp luật nói chung và các qui định về hiệu lực của các đạo luật
và các quyết định của tòa án nói riêng…
Hay một số Học giả Pháp thì họ lại cho rằng trong thực tế, có hai nguồn pháp luật đó
là nguồn nội dung và nguồn hình thức.
- Nguồn nội dung là nguồn quan trọng nhất vì là nguồn cơ bản nhất, nó giúp cho việc lí
giải các câu hỏi tại sao Ví dụ như tại sao người ta lại ban hành qui phạm này mà không ban hành qui phạm khác? Tại sao lại ấn định thời hạn này hay thời hạn khác?
- Nguồn hình thức được Michel Virally định nghĩa là: “Các phương pháp thiết lập các quy phạm pháp luật, tức là các cách thức và văn bản thông qua đó các quy phạm này
có thể tồn tại về mặt pháp lí, trở thành bộ phận của pháp luật thực định và phát huy
Trang 4hiệu lực” Chúng là nguồn bởi vì chúng đã được ban hành bởi các cơ quan quyền lực
nhà nước duy nhất có thẩm quyền làm luật và làm cho luật trở nên bắt buộc
Có thể kể đến Hans Kelsen - học giả người Đức cho rằng nguồn của pháp luật là khái
niệm không rõ ràng và có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
- Nguồn của pháp luật có thể biểu thị hai phương pháp khác nhau để tạo nên các quy phạm chung - sự ban hành, một sự sáng tạo có mục đích được tiến hành bởi các cơ quan trung ương và tập quán - những quy định bất thành văn được các bên chủ thể pháp luật tạo nên Hoặc nguồn của pháp luật có thể biểu thị cơ sở pháp lí cơ bản của hệ thống pháp luật, mà được thể hiện dưới khái niệm quy phạm cơ bản
Tiếp theo, TS.Nguyễn Thị Hồi đã đưa ra dẫn chứng Ở Việt Nam, vấn đề nguồn của
pháp luật được đề cập trong các giáo trình, sách tham khảo và các tạp chí về pháp luật từ các góc độ và với các mức độ khác nhau Nhiều nhà nghiên cứu, giảng dạy và
thực hành pháp luật sử dụng hai thuật ngữ “nguồn của pháp luật” và “hình thức của pháp luật” với nghĩa như nhau Trong một số sách và giáo trình lí luận về nhà nước và pháp luật có ý kiến cho rằng hình thức của pháp luật gồm có hình thức bên trong và hình thức bên ngoài của pháp luật
- Hình thức bên trong của pháp luật bao gồm các nguyên tắc chung của pháp luật, hệ thống pháp luật, ngành luật, chế định pháp luật và quy phạm pháp luật,
- Hình thức bên ngoài của pháp luật là sự biểu hiện ra bên ngoài của nó, bao gồm tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật, luật tôn giáo
Một số học giả khác cho rằng tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp
luật là những hình thức pháp luật với quan niệm rằng “Hình thức pháp luật là cách thức
mà giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của giai cấp mình lên thành pháp luật” Đây
là một quan niệm cũ và không hoàn toàn chính xác về hình thức của pháp luật bởi vì, chúng ta quan niệm pháp luật là do nhà nước ban hành ra và bảo đảm thực hiện thì nội dung của pháp luật là ý chí của nhà nước, còn hình thức của pháp luật sẽ là cách thức
mà nhà nước sử dụng để chuyển ý chí đó thành pháp luật mà trong ý chí của nhà nước thì vừa có ý chí của giai cấp thống trị vừa có ý chí chung của toàn xã hội
Hay có tác giả cho rằng nguồn của pháp luật bao gồm: Tôn giáo, tập quán, luật công
bằng, quyết định của toà án, sự sáng tạo pháp luật của các luật gia, sự ban hành luật của lập pháp Bên cạnh các loại nguồn trên, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, pháp luật
Trang 5của đa số các nhà nước đương đại đều có thêm các nguồn mới là những tập quán và điều ước quốc tế mà nhà nước đó công nhận hoặc phê chuẩn
Sau khi đánh giá các quan điểm trên và từ phương diện lí luận, thực tiễn pháp lí, TS Nguyễn Thị Hồi cũng cho rằng nguồn và hình thức của pháp luật là những khái niệm khác nhau, không thể đồng nhất với nhau, mặc dù chúng có mối liên hệ gắn bó với nhau Theo tác giả, nguồn của pháp luật là khái niệm dùng để chỉ tất cả những gì mà các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để
áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc pháp lí xảy ra trong thực tế
Nguồn của pháp luật gồm có nguồn nội dung và nguồn hình thức:
- Nguồn nội dung của pháp luật là xuất xứ, là căn nguyên của pháp luật bởi vì nó được các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để xây dựng, ban hành và giải thích pháp luật
- Nguồn hình thức của pháp luật được hiểu là phương thức tồn tại của các quy phạm pháp luật trong thực tế hay là nơi chứa đựng, nơi có thể cung cấp các quy phạm pháp luật, là những căn cứ mà các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để giải quyết các vụ việc pháp lí xảy ra trong thực tế
Đến với cái kết cuối cùng, tác giả đưa ra kết luận trong các công trình nghiên cứu luật học thì các nguồn hình thức thường được quan tâm nghiên cứu và được đề cập nhiều hơn các nguồn nội dung của nó
Câu 2: Cho biết quan điểm về nguồn của pháp luật của tác giả bài viết có điểm gì giống và khác so với cách hiểu về nguồn của pháp luật mà em đã được học trong môn học Lý luận chung về nhà nước và pháp luật.
Sau khi nghiên cứu tạp chí Luật học số 2/2008 của TS Nguyễn Thị Hồi và tiếp thu những kiến thức mà em được học trong môn Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, em nhận thấy có những điểm giống và khác nhau sau đây:
- Về điểm giống nhau:
Thứ nhất, về khái niệm nguồn của pháp luật :“ Nguồn của pháp luật là tất cả các yếu tốchứa đựng hoặc cung cấp căn cứ pháp lí cho hoặt động của cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền cũng như các chủ thể khác trong xã hội”
Thứ hai, nguồn của pháp luật bao gồm cả “nguồn nội dung” và “nguồn hình thức Nguồn nội dung của pháp luật là xuất xứ, là căn nguyên của pháp luật bởi vì nó được
Trang 6các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để xây dựng, ban hành và giải thích pháp luật Nguồn hình thức của pháp luật được hiểu là phương thức tồn tại của các quy phạm pháp luật trong thực tế hay là nơi chứa đựng, nơi có thể cung cấp các quy phạm pháp luật, là những căn cứ mà các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để giải quyết các vụ việc pháp
lí xảy ra trong thực tế.Tuy nhiên, trong khoa học pháp lí cũng như trong thực tiễn, vấn
đề nguồn nội dung ít được đề cập, còn nguồn hình thức của pháp luật luôn được quan tâm cả trên bình diễn nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn
Thứ ba, bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hồi và giáo trình Lí luận chung về nhà nước
và pháp luật cung cấp các loại nguồn khác trên thế giới như điều ước quốc tế, chuẩn mực đạo đức của xã hội, các quan điểm, tư tưởng học thuyết của các nhà khoa học pháp
lí Đó đều là các loại nguồn phổ biển trên thế giới
Thứ tư, quan điểm của cô Hồi và các tác giả viết giáo trình đều cho rằng giữa nguồn của pháp luật và hình thức bên ngoài của pháp luật có liên quan chặt chẽ với nhau Tuy nhiên đó là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, không thể đồng nhất với nhau
- Về điểm khác nhau:
Thứ nhất ,dựa vào bài viết “Về khái niệm nguồn của pháp luật” – TS Nguyễn Thị Hồi, tác giả có đề cập một cách rộng hơn quan điểm về nguồn của pháp luật trên thế
giới thông qua Từ điển Blacks Law Dictionary, của một số học giả Pháp, Michel Virally, hay định nghĩa của Hans Kelsen – học giả người Đức… Không chỉ dừng lại ở
đó, tác giả còn nhắc tới định nghĩa về nguồn của pháp luật ở Việt Nam, như là trong
một số sách và giáo trình Lí luận về nhà nước và pháp luật, sách chuyên khảo Những vấn đề lí luận cơ bản về nhà nước và pháp luật, định nghĩa của một số học giả khác…
Sau cùng, TS Nguyễn Thị Hồi mới trực tiếp đưa quan điểm của mình vào, đó là nguồn của pháp luật có 2 loại nguồn nội dung và nguồn hình thức Nguồn nội dung của pháp luật là xuất xứ, là căn nguyên, chất liệu làm nên các quy định cụ thể của pháp luật Nguồn hình thức của pháp luật được hiểu là phương thức tồn tại của các quy phạm pháp luật trong thực tế hay là nơi chứa đựng, nơi có thể cung cấp các quy phạm pháp luật, tức là những căn cứ mà các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để giải quyết các vụ việc pháp lí xảy ra trong thực tế
Còn đối với cách hiểu của em sau khi được học môn Lí luận, em mới chỉ được tiếp cận một cách chi tiết về nguồn hình thức vì trong giáo trình không nêu rõ ràng quan điểm về
Trang 7nguồn nội dung như bài viết của TS Nguyễn Thị Hồi Bởi theo như giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật, các tác giả cho rằng vấn đề nguồn hình thức của pháp luật luôn được quan tâm nhiều hơn trên bình diện nhận thức cũng như trong hạt động thực tiễn
Thứ hai, bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hồi có cung cấp một số dẫn chứng về nguồn của pháp luật trong hệ thống pháp luật trên thế giới Có thể kể đến như là tập quán quốc
tế, các nguyên tắc chung của pháp luật, nhu cầu quản lí kinh tế - xã hội, hay thực tiễn xét xử của tòa án, học thuyết và lí trí, những quy tắc trong nếp sống cộng đồng xuất hiện trong hệ thống pháp luật Roman - Giecman, Anh, Mĩ, XHCN,
Trong khi đó, giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật đưa ra các nguồn khác của pháp luật như là điều ước quốc tế, hợp đồng, đường lối chính sách của lực lượng cầm quyền, các tư tưởng, học thuyết, tín điều tôn giáo, hương ước hay pháp luật nước ngoài Ở đây, em được hiểu rõ hơn về khái niệm của các loại nguồn khác trên thế giới cũng như được cung cấp kiến thức về vị trí, vai trò của từng loại nguồn này đối với các quốc gia
Thứ ba, về quan điểm nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay, so với những gì em tiếp thu trong suốt quá trình học môn Lí luận, thì Việt Nam có 3 loại nguồn pháp luật chủ yếu đó là tập quán pháp, tiền lệ pháp, và văn bản quy phạm pháp luật Trong đó, văn bản quy phạm pháp luật có vai trò quan trọng bậc nhất Các văn bản được đề cập đến nhiều nhất đó là Hiến pháp; Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc Hội; Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước …
Còn theo như bài viết của TS Nguyễn Thị Hồi, tác giả chỉ đề cập một cách chung chung đến một số loại nguồn nội dung và nguồn hình thức quan trọng như là Đường lối, chính sách của Đảng, các nguyên tắc chung của pháp luật, các điều ước quốc tế, nhu cầu quản lí kinh tế - xã hội, các học thuyết khoa học pháp lí, Tuy nhiên, ở đây tác giả
đã đưa ra các nguồn rộng hơn, đặc trưng chủ yếu đó là đường lối chính sách của Đảng, nhu cầu quản lí kinh tế - xã hội
Câu 3: Cho biết vị trí, vai trò của từng loại nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay.
Sau đây, em xin trình bày vị trí, vai trò của từng loại nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay
Trang 81, Một số nguồn nội dung của pháp luật Việt Nam
a, Đường lối, chính sách của Đảng:
Đường lối, chính sách của Đảng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vì theo Điều 4 HIến pháp 2013 đã nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đường lối, chính sách của Đảng được coi là nguồn nội dung của pháp luật vì chúng có vai trò định ra mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong một giai đoạn nhất định cũng như những phương pháp, cách thức cơ bản để thực hiện những mục tiêu, phương hướng này Bên cạnh đó, nội dung các qui định trong các văn bản qui phạm pháp lật, từ Hiến pháp, luật cho đến các văn bản dưới luật đều phải phù hợp, không được trái với đường lối, chính sách của Đảng Nhờ có những đường lối, chính sách đó, góp phần làm chuyển biến tích cực trong công tác củng cố, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng nói riêng và đất nước nói chung trong giai đoạn hiện nay
b, Nhu cầu quản lý kinh tế - xã hội:
Đây là một trong những nguồn nội dung đóng vai trò thiết yếu của pháp luật Phấp luật
và kinh tế có mối quan hệ biện chứng vơi snhau, kinh tế đóng vai trò quyết định đói với pháp luật, kinh tế thay đổi thì pháp luật cũng phải thay đổi theo Ngược lại, nếu pháp luật không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế Nhu cầu quản lý kinh tế
-xã hội là cơ sở để xây dựng, ban hành pháp luật sao cho phù hợp thực tiễn, khả thi, dễ thực hiện, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế có tính đồng nhất, hiệu quả cao Để tổ chức, quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, nhà nước buộc phải ban hành các qui định pháp luật cụ thể nhằm xât dựng các loại thị trường lao động, thị trường hàng hóa, cụ thể hóa các chính sách tài chính, thuế, tiền tê, giá cả, Qua đó nhà nước có thể điều chỉnh các quan hệ kinh tế theo
ý chí, mong muốn của mình, vừa thúc đầy sự tăng trưởng song vừa đảm bảo sự cân đối,
ổn định của nền kinh tế - xã hội
c, Các tư tưởng, học thuyết pháp lý:
Các tư tưởng, học thuyết pháp lý cũng trở thành một trong số nguồn nội dung có vị trí, vai trò to lớn, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay Dựa vào học thuyết phân chia quyền lực nhà nước, các tư tưởng chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các tư tưởng chủ quyền nhân dân, tư tưởng nhà nước pháp quyền, đã góp phần tạo nên một hệ thống pháp luật văn minh, tiến bộ, phù hợp thực
Trang 9tiễn Các quan điểm, học thuyết của các nhà khoa học pháp lí không chỉ là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, bộ luật, mà trong nhiều trường hợp khi gặp phải những sự việc chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật,
để có cơ sở giải quyết chúng, nhà chức trách phải dựa vào các quan niệm, lập luận của các nhà khoa học, giáo sư danh tiếng ở các trường đại học luật
2, Các loại nguồn hỗn hợp
Bên cạnh các nguồn nội dung kể trên, còn có các nguồn vừa là nguồn nội dung, vừa là nguồn hình thức của pháp luật Đó là các nguồn cơ bản sau:
a, Các nguyên tắc chung của pháp luật:
Các nguyên tắc chung của pháp luật giữ vị trí quan trọng, bởi chúng thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước phục vụ cho sự phát triển tự do, toàn diện cho mỗi cá nhân, đảm bảo công bằng xã hội Các nguyên tắc chung của pháp luật không chỉ được thể hiện qua các quy định của pháp luật mà đôi khi chúng còn được sử dụng để giari quyết các vụ việc phát sinh Bên cạnh đó, chúng còn có vai trò phản ánh một cách trực tiếp chế đỗ xã hội hiện hữu và được đăt ra nhằm xác định rõ những nguyên lí, tư tưởng chỉ đạo để giải đáp một vấn đề lớn là hệ thống pháp luật hiện hữu củng cố và bảo vệ chế
độ nào
b, Văn bản qui phạm pháp luật:
Đây là nguồn pháp luật cơ bản, có vai trò và vị trí chủ yếu và quan trọng nhất của
hệ thống pháp luật Các cơ quan nhà nước ở Việt Nam khi giải quyết các vụ việc pháp
lý thực tế thuộc thẩm quyền của mình đều chủyếu dựa vào các VBQPPL Đó là văn bản
do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bản hành, chứa qui tắc xử sự chung được nhà nước bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.VBQPPL có vai trò to lớn bởi nếu xét về nội dung thì các quy định trong các văn bản có giá trị pháp lý cao hơn lại có thể trở thành nguồn nội dung cho các văn bản
có giá trị pháp lý thấp hơn Ví dụ như các quy định của Hiến Pháp là nguồn nội dung của tất cả các VBQPPL khác
c, Các điều ước quốc tế:
Đối với pháp luật quốc gia, vai trò của điều ước quốc tế ngày càng quan trọng và
có vị thế ngày càng cao hơn, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay Điều đó được thể hiện rõ trong nhiều VBQPL hiện hành là “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà
Trang 10CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của văn bản này thì tuân theo các quy định của điều ước quốc tế đó” Điều ước quốc tế trở thành nguồn của pháp luật trong trường hợp nó được áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần vào giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế Nhiều quy định của các điều ước quốc tế khác đã được nhà nước nội luật hóa thành các quy định trong các đạo luật của Việt Nam
d, Phong tục tập quán:
Giữa pháp luật và phong tục tập quán có những quan hệ nhất định Những phong tục tập quán tiến bộ, tốt đẹp, phù hợp với ý chí của Nhà nước, được Nhà nước thừa nhận sẽ trở thành nguồn nội dung của pháp luật Ngoài ra, các quy tắc và quan niệm đạo đức chính thống, các truyền thống tốt đẹp của đan tộc cũng có thể trở thành nguồn nội dung của pháp luật Điều đó được thể hiện trong các quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con cái, của vợ và chồng, Ngược lại, có nhũng phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu khiến nhà nước bàn hành các VBQPPL nhằm xóa bỏ, loại trừ dần chúng khỏi đời sống xã hội Mọi phong tục tập quán đều có thể áp dụng tuy nhiên không được trái với những nguyên tắc chung của pháp luật
e, Án lệ hay các quyết định, bản án của tòa án:
Án lệ là loại nguồn rất quan trọng của pháp luật ở các nước thuộc hệ thống thông luật Án lệ đề cập dến các vụ việc đã xảy ra trong thực tế mà không phải là những giả thuyết có tính lý luận về những tình huống có thể xảy ra trong tương lai Vì vậy án lệ có vai trò góp phần bổ sung cho những thiếu sót, những lỗ hổng của pháp luật thành văn, khắc phục được tình trạng thiếu pháp luật, tạo điều kiên cho việc áp dụng pháp luật được dễ dàng, thuận lợi hơn
g, Quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp:
Loại nguồn này dường như chưa có tiền lệ ở Việt Nam và cũng chưa được thừa nhận chính thức về mặt Nhà nước Chỉ mới có quy định của các tổ chức chính trị- xã hội là đã được thừa nhận một cách gián tiếp trong một số văn bản Đối vơi những quy tắc của các hiệp hộp này, vấn đề cần làm sang tỏ về mặt lý luận và thực tiễn là các quy tắc ấy điều chỉnh những qua hệ xã hội nào, về vấn đề gì Qua đó ta thấy, vị trí và vai trò của quy tắc tắc các hiệp hội nghề nghiệp còn khá mờ nhạt, chưa có chỗ đứng cao trong nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay