ĐA DẠNG SINH HỌC, TÁC ĐỘNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU KHU VỰC THỊ TRẤN TRÀM CHIM VÀ LÂN CẬN HUYỆN TAM NÔNG, ĐỒNG THÁP Phan Văn Mạch Viện Sinh thái và Tài nguyên S
Trang 1ĐA DẠNG SINH HỌC, TÁC ĐỘNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU KHU VỰC THỊ TRẤN TRÀM CHIM VÀ LÂN CẬN HUYỆN TAM NÔNG, ĐỒNG THÁP
Phan Văn Mạch
Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
Đỗ Thị Thu Hiền
Công ty Tư vấn Phát triển Xã hội Việt Nam
Lê Xuân Tuấn
Viện Nghiên cứu Quản lý Biển và Hải đảo,
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Tóm tắt
Thị trấn Tràm Chim, huyện Tam Nông, Đồng Tháp là nơi tập trung hệ sinh thái khá đa dạng và phong phú, nhất là hệ sinh thái đất ngập nước với 328 thực vật bậc cao có mạch, phân bố trong các kiểu thảm thực vật như: Đầm Sen, đồng lúa Ma, đồng cỏ Năng, đồng cỏ Mồm, Lác nước, thảm rừng Tràm, thảm cây lương thực, thực phẩm, thảm cây ăn quả, cây bóng mát khu dân cư 231 loài Chim phân bố phân bố khắp các sinh cảnh, trong đó có tới
18 loài chim quý hiếm; 17 loài Thú, trong đó có 4 loài thú quý hiếm; 50 loài Bò sát, Ếch nhái với 10 loài quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 Chúng phân bố rải rác tại những khu vực không có hoặc tập trung dân cư thưa thớt trong khu vực, nhất là tại Vườn Quốc gia Tràm Chim Có 96 loài Thực vật nổi, 58 loài Động vật nổi, 41 loài và nhóm loài Động vật đáy và 197 loài Cá, trong đó có 4 loài cá quý hiếm
Thị trấn Tràm chim nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung là khu vực dễ tổn thương nhất trên Trái đất, do biến đổi khí hậu, những diễn biến thời tiết ngày càng xấu đi,
đã và đang tác động ngày càng nặng nề lên khu vực này Biến đổi khí hậu làm cho mực nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt xảy ra với tần suất ngày càng lớn hơn Những yếu tố đó sẽ làm gia tăng ngập lụt, xâm nhập mặn, lan tràn chua phèn… và dẫn tới những hệ lụy khác Khắc phục những vấn đề này chính là giải quyết được một phần rất lớn ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Đồng Tháp nói riêng Việc triển khai hệ thống đê bao khu dân cư thị trấn Tràm Chim nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ đời sống của người dân tại thị trấn, bảo vệ các công trình công cộng, tạo
mỹ quan đô thị, mở rộng mặt bằng bố trí dân cư tránh lũ là rất cần thiết và cấp bách, góp phần quan trọng trong chiến lược phát triển nông nghiệp - nông dân - nông thôn của tỉnh
Hệ thống đê bao cũng sẽ giải quyết được một phần rất lớn ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với khu vực thị trấn Tràm Chim, phù hợp với phương hướng kế hoạch thủy lợi, nông nghiệp và nông thôn giai đoạn 2000-2020 của huyện Tam Nông và tỉnh Đồng Tháp
Trang 21 MỞ ĐẦU
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong ba đồng bằng dễ tổn thương nhất trên trái đất
do biến đổi khí hậu, những diễn biến thời tiết ngày càng xấu đi đã và đang tác động ngày càng nặng nề lên khu vực này Đối với ĐBSCL, biến đổi khí hậu làm cho mực nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt xảy ra với tần suất ngày càng lớn hơn Những yếu tố đó sẽ làm gia tăng ngập lụt, xâm nhập mặn, lan tràn chua phèn… và dẫn tới những hệ lụy khác Khắc phục những vấn đề này chính là giải quyết được một phần rất lớn ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Đồng Tháp nói riêng Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nếu nước biển dâng cao thêm 1m thì khoảng 70% diện tích đất ở ĐBSCL bị xâm nhập mặn, mất khoảng hai triệu ha đất trồng lúa Theo kịch bản này, thời gian ngập úng ở ĐBSCL có thể kéo dài từ 4 đến 5 tháng, 38% diện tích đồng bằng bị nhấn chìm, 90% diện tích đồng bằng có thể bị nhiễm mặn Kinh tế-xã hội sẽ có biến động trong sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng, phân bố dân cư,
đô thị và các trung tâm, cơ sở kinh tế
Những biến động về môi trường tự nhiên và kinh tế-xã hội nêu trên sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bềm vững của khu vực nếu không kịp thời có sự ứng phó thích hợp Đứng trước tình hình
đó, nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) tới ĐBSCL nói chung
và khu vực Đồng Tháp nói riêng, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ đời sống của người dân tại thị trấn Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp là việc làm cấp bách nhằm nâng cao khả năng thích ứng, ứng phó biến đổi khí hậu, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo phát triển bền vững; phòng chống và giảm thiểu hiểm họa của thiên tai do ảnh hưởng biến đổi khí hậu, bảo vệ cuộc sống người dân; góp phần tích cực vào Chương trình Mục tiêu quốc gia Ứng phó với biến đổi khí hậu
2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian khảo sát
Khảo sát, thu mẫu được thực hiện tháng 3/2012 Khu vực khảo sát bao gồm thị trấn Tràm Chim, các xã lân cận như xã Phú Đức, xã Tân Công Sinh, xã Phú Cường xã Phú Thọ và xã Tân Mỹ bao gồm khu dân cư, đất lâm nghiệp, nông nghiệp, các thủy vực sông, kênh, hồ trong khu vực Vị trí
dự án có tọa độ từ 10o39’ đến 10o41’ vĩ độ Bắc và từ 105o33’ đến 105o35’ kinh độ Đông
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thực vật
Các tuyến khảo sát được thiết kế qua các sinh cảnh khác nhau (chủ yếu theo các tuyến đường giao thông và khu dân cư) trong khu vực để thấy được sự phân bố của hệ thực vật Các loài cây thông thường được ghi chép để xây dựng danh lục, thu thập mẫu một số loài chưa biết hoặc có nghi vấn trong phân loại học Giám định tên được tiến hành theo phương pháp so sánh hình thái (Phạm Hoàng Hộ, 2000) Điều tra trong nhân dân về việc sử dụng, khai thác, sự phân bố, công dụng của một số loài thực vật có giá trị Tham khảo các tài liệu về đa dạng sinh học của khu vực
từ nhiều nguồn khác nhau
Trang 32.2.2 Động vật trên cạn
Chim:
Quan sát trực tiếp trên thực địa ở từng sinh cảnh khác nhau trong các thời gian khác nhau qua ống nhòm Thu thập và quan sát các di vật về chim như lông đuôi, lông cánh, giò, mỏ và các loài nuôi trong nhà dân địa phương Điều tra qua những người dân thường xuyên đi rừng để thu thập dẫn liệu cho việc xác định loài Tên phổ thông, tên khoa học, phân bố theo Võ Quý (1975, 1981);
Võ Quý và Nguyễn Cử (1999) Tham khảo tài liệu về chim khu vực dự án và lân cận (Lê Xuân
NM1 Kênh Phú Hiệp, cạnh trạm xăng Vườn Sếu 10o40'49’’ N 105o33'24" E
NM2 Kênh Phú Hiệp gần BQL Tràm Chim 10o40'49’’ N 105o33'33" E
NM3 Kênh Cà Dâm 10o43'34’’ N 105o36'24" E
NM4 Kênh Cà Dâm 10o41'54’’ N 105o35'01" E
NM5 Kênh Đồng Tiến, ấp Phú Thọ 10o40'39’’ N 105o31'42" E
NM6 Kênh Đồng Tiến, cầu Tổng đài 10o40'30’’ N 105o32'33" E
NM7 Kênh Đồng Tiến, nhà thờ Thiên Phước 10o40'27’’ N 105o33'8" E
NM8 Kênh Đồng Tiến, cầu Tràm Chim 10o40'26’’ N 105o33'22" E
NM9 Ngã ba kênh Đồng Tiến, Phú Hiệp, Cà Dâm 10o40'22’’ N 105o33'40" E
NM10 Kênh Đồng Tiến, cầu đang làm 10o40'22’’ N 105o34'5" E
NM11 Kênh Đồng Tiến, cầu Đốc Binh Kiều 10o40'17’’ N 105o35'9" E
NM12 Kênh Đồng Tiến gần cầu kênh Ông Sáu 10o40'14’’ N 105o35'23" E
NM13 Kênh cụt gần cầu Tổng đài 10o40'27’’ N 105o32'33" E
Trang 4Ký hiệu Địa điểm Tọa độ địa lý
NM14 Kênh cụt gần BCHQS Tam Nông 10o40'16’’ N 105o33'15" E
NM15 Kênh Đường Gạo, cầu TT Tràm Chim 10o40'11’’ N 105o34'26" E
NM16 Kênh Đường Gạo 10o39'52’’ N 105o33'24" E
NM17 Kênh Đường Gạo, cầu Kênh Ranh 10o39'14’’ N 105o32'55" E
NM18 Kênh cầu Phèn 1 10o40'12’’ N 105o34'28" E
NM19 Hồ Điều hòa 10o40'11’’ N 105o34'27" E
NM20 Hồ cạnh Tràm Chim 10o40'49’’ N 105o33'24" E
Phương pháp thu mẫu, phỏng vấn:
+ Thu mẫu sinh vật nổi (thực vật nổi và động vật nổi) bằng lưới kéo hình chóp nón kiểu Juday Kích thước mắt lưới số No75 (75 sợi/cm) với thực vật nổi và số No45 (45 sợi/cm) với Động vật nổi và Động vật đáy Mẫu định lượng sinh vật nổi tính bằng lượng nước lọc qua lưới
+ Thu mẫu Sinh vật đáy và Côn trùng nước bằng lưới kéo đáy và vợt cầm tay Mẫu Động vật đáy được tính qua diện tích thu mẫu bằng cào đáy
+ Thu thập mẫu cá qua dân khai thác cá bằng các ngư cụ như lưới, chài, câu, kích điện, tại các nhà hàng, chợ trong khu vực
+ Mẫu thủy sinh vật được cố định trong formol 5% và đưa về phòng thí nghiệm phân tích + Thu thập các số liệu về cá qua phỏng vấn người dân địa phương, các nhà hàng, chợ trong khu vực
Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm: Đa phần các kết quả thu được dựa trên phân
tích mẫu trong phòng thí nghiệm trên kính hiển vi và kính lúp soi nổi, bao gồm xác định thành phần loài, mật độ số lượng các nhóm thủy sinh vật tại các trạm khảo sát trong các dạng thủy vực Tài liệu phục vụ cho nghiên cứu chủ yếu dựa trên tài liệu định loại của các tác giả Việt Nam (Dương Đức Tiến, 1996 ; Dương Đức Tiến và Võ Hành, 1997; Đặng Ngọc Thanh và nnk., 1980; Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải, 2001; Mai Đình Yên và nnk., 1992) Ngoài ra, tham khảo thêm tài liệu trong nước và nước ngoài như: Hoàng Đức Đạt và Thái Ngọc Trí, 2001; Jonh và nnk., 1994; Lê Xuân Cảnh và nnk., 2007 Mật độ Thực vật nổi được tính theo buồng đếm Goriaev, mật độ Động vật nổi được tính theo buồng đếm Bogorop với thể tích mẫu nhất định, sau đó tính toán trên thể tích nước lọc qua lưới đối với Sinh vật nổi (SVN) và diện tích đáy đối với Động vật đáy (ĐVĐ) Đơn vị tính là tế bào/lít đối với Thực vật nổi (TVN), con/m3 đối với Động vật nổi (ĐVN) và con/m2 đối với Động vật đáy (ĐVĐ)
Phương pháp tính chỉ số đa dạng sinh học: Công cụ cho việc sử dụng các chỉ thị sinh học là các
chỉ số chị thị Chỉ số đa dạng (D) được sử dụng trong báo cáo là dễ tính toán và có thể áp dụng cho tất cả các nhóm sinh vật và thuận tiện cho việc so sánh để đánh giá sự biến động chất lượng nước của thủy vực Chỉ số này được dựa trên mối quan hệ giữa tính đa dạng của quần xã và trạng thái ô nhiễm Khi dòng chảy bị ô nhiễm, số lượng loài bị giảm xuống, trong khi số lượng cá thể
Trang 5của một số loài tăng lên Ngược lại, ở vùng không ô nhiễm, số lượng loài rất phong phú nhưng
số lượng cá thể ít Xếp hạng chất lượng nước theo chỉ số đa dạng được trình bày trong bảng sau:
ni H
1
ln
Trong đó: H – Chỉ số đa dạng; S – Số lượng loài trong mẫu vật hoặc quần thể; n – Tổng số lượng
cá thể trong toàn bộ mẫu; ni – Số lượng cá thể loài chỉ thị i trong mẫu
Chỉ số này dùng tính cho Thực vật nổi
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đa dạng sinh học
3.1.1 Thực vật
Trên cơ sở khảo sát kết hợp với tài liệu tham khảo (Lê Xuân Cảnh và nnk., 2007), thống kê được
328 loài thuộc 81 họ trong 3 ngành Thực vật bậc cao có mạch tại khu vực thị trấn Tràm Chim và lân cận huyện Tam Nông, bao gồm các ngành sau: ngành Dương xỉ Polypodiophyta, ngành Hạt trần Gymnospermae và ngành Hạt kín Angiospermae (Magnoliophyta) với lớp Hai lá mầm Dicotyledoneae và lớp Một lá mầm Monocotyledoneae Trong thành phần thực vật, ngành Hạt kín có số loài phong phú nhất (với 309 loài trong 68 họ, chiếm 84% số họ và 94% tổng số loài với các họ phong phú nhất là họ Cúc Asteraceae, họ Lúa Poaceae, họ Cói Cyperaceae, họ Thủy
thảo Hydrocharitaceae, họ Đậu Fabaceae, họ Thầu dầu Euphorbiaceae Ngành Dương xỉ là
ngành đứng thứ 2 với 11 họ và 15 loài, chiếm 14% số họ và 5% số loài Lớp Thực vật một lá mầm có số loài không nhiều, nhưng lại tạo thành thảm với diện tích lớn, đó là thảm cây trồng
lương thực (lúa) và thảm cỏ Trong thành phần thực vật, cây Mai dương (Mimosa pigra) là loài
ngoại lai xâm hại (được IUCN xếp trong 100 loài ngoại lai xâm hại) Hiện nay, Vườn Quốc gia
Trang 6(VQG) Tràm Chim cũng như một số khu vực đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự xâm lấn khá mạnh của loài thực vật này
Dựa vào Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, không bắt gặp loài thực vật quý hiếm có giá trị bảo tồn nào trong khu vực khảo sát
Thị trấn Tràm Chim được đặc trưng bởi kiểu rừng kín lá rộng thường xanh ngập nước theo mùa trên đất phèn với các kiểu thảm thực vật như:
+ Đầm sen (Nelumbo nucifera) xuất hiện tại các khu vực đất thấp ngập nước quanh năm Loài
ưu thế là Sen (Nelumbo nucifera), có sự tham gia của Súng (Nymphaea pubessens, Nymphoides tetragona) Đôi chỗ xuất hiện các loài Năng (Eleocharis atropurpurea, Eleocharis dulcis), Dừa nước (Ludwigia adscendens) và các loài thuộc họ Poaceae
+ Đồng Lúa ma (Oryza rufipogon) phân bố khá rộng, chiếm diện tích khoảng 824 ha tại khu vực VQG Tràm Chim Tuy nhiên, cánh đồng Lúa ma (Oryza rufipogon) đơn thuần có diện tích
khá nhỏ, khoảng 33 ha, diện tích còn lại có sự hiện diện của Lúa ma là sự kết hợp với những loài thực vật khác, tạo thành những quần xã thực vật đặc trưng cho vùng đất ngập nước: Lúa ma – cỏ
Ống (O rufipogon – Panicum repens), khoảng 544 ha; Lúa ma – cỏ Bắc (Oryza rufipogon – Leersia hexandra), khoảng 160 ha; Lúa ma – cỏ Ống – cỏ Chỉ (O rufipogon – P repens – C dactylon), khoảng 83 ha Hầu như tất cả các loài chim trong Tràm Chim đều thích với đồng Lúa
ma, kể cả Sếu đầu đỏ (Grus antigone) Sinh cảnh này đa dạng sinh học rất cao
+ Đồng cỏ Năng (Eleocharis sp.) chiếm diện tích khá lớn nhất là tại khu vực VQG Tràm Chim, tạo thành một trong những thảm cỏ rộng lớn Các loài cỏ Năng kim (Eleocharis atropurpurea), Năng ống (Eleocharis dulcis) với các loài thực vật khác tạo thành các quần xã thực vật: Năng kim – Năng ống (Eleocharis atropurpurea – Eleocharis dulcis), một số khu vực có sự xuất hiện của Hoàng đầu Ấn (Xyris indica); năng Kim – cỏ Ống (Eleocharis atropurpurea – Panicum repens); năng Ống – cỏ Ống (E dulcis – Panicum repens); năng ống - cỏ ống - lúa ma (Eleocharis dulcis – Panicum repens – O rufipogon; năng Ống – cỏ Ống – cỏ Chỉ (Eleocharis dulcis – Panicum repens – Cyperus dactylon) Những nơi có địa hình thấp và ngập nước quanh
năm, xen lẫn trong quần xã Năng là những loài Thực vật thủy sinh như Nhĩ cán vàng
(Utricularia aurea), Súng ma (Nymphaea indicum), Rong đuôi chồn (Ceratophyllum demersum)…
+ Đồng cỏ Mồm (Ischaemum spp.) chiếm diện tích không nhiều và phân bố rải rác trên những
dải liếp, bờ đất có địa hình cao cục bộ trong một vùng địa hình thấp hoang hóa, bao gồm cỏ
Mồm đơn thuần và quần xã cỏ Mồm – cỏ Ống (Ischaemum spp – Panicum repens)
+ Lác nước (Cyperus malaccensis) và các loài thuộc họ Cói Cyperaceae phân bố rải rác dọc
theo kênh đào và dọc theo đường rạch, vùng thấp trũng trong khu vực
+ Thảm rừng Tràm (Melaleuca cajuputi) là thảm thực vật thân gỗ có diện tích đáng kể, nhất là
tại khu vực VQG Tràm Chim (diện tích khoảng 2.968 ha) Do tác động con người, hầu hết những cánh rừng Tràm nguyên sinh đã biến mất và hiện nay chỉ còn lại là những cánh rừng Tràm trồng,
thuộc loài Melaleuca cajuputi, nhưng do được bảo tồn nhiều năm, nên có những cụm Tràm phân
bố theo kiểu tự nhiên Hai kiểu phân bố rừng Tràm được ghi nhận là rừng Tràm tập trung và rừng Tràm phân tán Tràm phân tán có sự hiện diện thảm cỏ xen kẽ gồm các loài năng Ống
Trang 7(Eleocharis dulcis), cỏ Mồm (Ischaemum rugosum và I indicum), Hoàng đầu Ấn (Xyris indica), Nhĩ cán vàng (Utricularia aurea), cỏ Ống (Panicum repens), Súng (Nymphaea lotus)
+ Thảm cây lương thực, thực phẩm như Lúa (Oryza sativa), Ngô (Zea mays), đậu đỗ các loại,
nhất là Lúa được trồng với diện tích khá lớn trong khu vực
+ Thảm cây khu dân cư như cây bóng mát (Bàng Terminalia catappa, Phượng Delonix regia, Trứng cá Muntingia culabura ), vật liệu xây dựng (Xoan Melia azedarach, Keo tai tượng Acasia magnum, Keo lá chàm Acacia auriculaeformis, Bạch đàn cầu Eucalyptus globulus, Bạch đàn mít Eucalyptus robusta), cây cảnh các loại được trồng khá nhiều tại khu vực dân cư như Ngâu Aglaia duperreana, Hoa giấy Bougainvillea brasiliensis, Cau Areca catechu, Si Ficus benjamina, Đa Ficus elasticai và cây ăn quả (Vú sữa Chrysophyllum cainito, Xoài Mangifera indica, Mít Artocarpus heterophyllus, Mận Syzygium jambos, Hồng Xiêm Manilkara achras, Đu
đủ Carica papaya, Dừa Cocos nucifera )
3.1.2 Chim
Qua khảo sát, thẩm định danh sách chim có tại VQG Tràm Chim và tài liệu khảo sát đa dạng sinh học hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên khu vực đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Xuân Cảnh và nnk (2007), thống kê, xác định được 231 loài chim thuộc 48 họ, 15 bộ, bao gồm các bộ: bộ Bồ nông Pelecaniformes, bộ Hạc Ciconiiformes, bộ Ngỗng Anseriformes, bộ Cun cút Turniciformes, bộ Gõ kiến Piciformes, bộ Sả Coraciformes, bộ Cu cu Cuculiformes, bộ Yến Apodiformes, bộ Cú Strigiformes, bộ Bồ câu Columbiformes, bộ Sếu Gruiformes, bộ Choi choi Charadriformes, bộ Cắt Falconiformes, bộ Chim lặn Podicipediformes và bộ Sẻ Passeriformes Trong thành phần chim, bộ Sẻ có số lượng họ và loài đông nhất, với 93 loài thuộc 15 họ (chiếm 32% số họ và 39% số loài trong khu vực), tiếp đến là bộ Hạc (38 loài, chiếm 16%), bộ Choi choi (20 loài, chiếm 9%), bộ Cắt (16 loài, chiếm 7%), bộ Sếu (11 loài, chiếm 5%), bộ Sả (14 loài, chiếm 6%), bộ Ngỗng (12 loài, chiếm 5%) Các bộ còn lại, mỗi bộ có từ 1 đến 6 loài, chiếm từ 1% đến 3%
Có 18 loài chim quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Nghị định 32/2006 ở các bậc quý hiếm cần bảo tồn khác nhau, bao gồm 4 loài bậc EN (Endangered) – Nguy cấp (Bồ nông
chân xám Pelecanus philippensis, Cốc đế, Bạc má Phalacrocorax carbo sinensis, Cò thìa Platalea minor, Le khoang cổ Nettapus coromandelianus), 9 loài bậc VU (Vulnerable) – Sẽ nguy cấp (Cổ rắn, Điêng điểng Anhinga melanogaster, Cò trắng Trung Quốc Egretta eulophotes,
Cò lạo Ấn Độ, Giang sen Mycteria leucocephala, Cò nhạn, Cò ốc Anastomus oscitans, Già đẫy Java, Già đẫy nhỏ Leptoptilos javanicus, Cò quăm đầu đen Threskiornis melanocephalus, Bói cá lớn Megaceryle lugubris, Cú lợn lưng nâu Tyto capensis, Sếu cổ trụi, Sếu đầu đỏ Grus antigone),
2 loài bậc DD (Data Deficient) – Thiếu dữ liệu (Cò Á châu (Hạc cổ đen) Ephippiorhynchus asiaticus, Già đẫy lớn Leptoptilos dubius) và hai loài bậc CR (Critically Endangered) – Rất nguy cấp (Ô tác, Công đất, Công sấm Houbaropsis bengalensis, Chích chòe lửa Copsychus malabaricus) Trong Nghị định 32/2006 có 3 loài bậc IB (Cò thìa Platalea minor, Già đẫy Java, Già đẫy nhỏ Leptoptilos javanicus, Sếu cổ trụi, Sếu đầu đỏ Grus antigone) và 4 loài bậc IIB (Cú lợn lưng nâu Tyto capensis, Ngan cánh trắng Cairina scutulata, Ô tác, Công đất, Công sấm Houbaropsis bengalensis, Chích chòe lửa Copsychus malabaricus) Các loài này hiếm gặp và
phân bố rải rác trong các sinh cảnh rừng còn ít bị tác động xa khu dân cư, chủ yếu tâp trung tại
Trang 8VQG Tràm Chim Đặc biệt là loài Sếu đầu đỏ (Grus antigone), số lượng thay đổi giảm dần qua
Đồng ngập nước theo mùa: Khu vực đồng cỏ năng (Eleocharis sp.) là bãi ăn của loài chim Sếu (Grus antigone) Những loài chim thường gặp tại đây có: Sếu (Grus antigone), Cò trắng (Egretta garzetta), Cò bợ (Ardeola bacclus), Trích cồ, Trích đất, Vịt trời (Anas poecilorhyncha), Le khoang cổ (Nettapus coromandelianus), Diệc lửa (Ardea purpurea), Diệc xám (Ardea cinerea),
Cò lửa (Ixobrychus sinensis), Cò lép
Khu vực đồng cỏ Mồm (Ischaemum spp.) thường gặp các loài chim: Cồng cộc (Pharacrocorax niger), Chiền chiện (Prinia flaviventris), Cò bợ (Ardeola bacclus), Cò lửa (Ixobrychus sinensis), Cút nhỏ (Turnix syluatica), Diệc lửa (Ardea purpurea), Diệc xám (Ardea cinerea), Cú (Tyto capensis), Giang sen (Mycteria leucocephala), Già đẫy (Leptoptilos dubius)
Khu vực đồng cỏ Ống (Panicum repens) gặp những loài chim như: Công đất (Houbaropsis bengalensis), Chiền chiện (Prinia flaviventris), Sơn ca (Alauda gulgula), Sẻ bụi (Saxicola caprata), Trảu đầu hung (Merops superciliosus), Cú (Tyto capensis), Trích, Cò (Ardeola bacclus), Giang sen (Mycteria leucocephala), Già đẫy (Leptoptilos dubius), Chích đầm lầy (Locustella certhiola)
Khu vực đồng lúa Ma (Oryza rufipogon) hầu như tất cả các loài chim trong khu vực đều thích với đồng lúa Ma, kể cả Sếu đầu đỏ (Grus antigone), sinh cảnh này đa dạng sinh học rất cao Tại khu vực hệ sinh thái đầm lầy bắt gặp các loài như: Le hôi (Tachybaptus raficollis), Le khoang cổ (Nettapus coromandelianus), Vịt trời (Anas poecilorhyncha), Trích cổ, Trích ré, Gà lôi nước (Hydrophasianus chirurgus), Gà nước vằn (Rallus striatus), Cuốc ngực nâu (Porzana fusca), Mòng két (Anas crecca), Bói cá (Ceryle rudis) Tại khu vực dân cư, bắt gặp các loài trong
Trang 9(8 loài trong 1 họ, chiếm 47% số loài và 14% số họ), tiếp đến là bộ Ăn thịt (6 loài trong 3 họ, chiếm 35% số loài và 44% số họ) Các bộ còn lại, mỗi bộ chỉ có 1 loài, chiếm 6% trên tổng số loài Đa phần các loài thú phân bố ở những khu vực ít bị tác động, xa khu dân cư, chủ yếu trong khu vực VQG Tràm Chim
Trong 17 loài Thú ghi nhận được, có 4 loài thú quý hiếm cần được bảo tồn có tên trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Nghị định 32/2006 Trong đó, có 2 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam năm
2007 (Rái cá vuốt bé (Rái cá cùi) Aonyx cinerea bậc VU (Vulnerable) – Nguy cấp, Mèo cá (Cáo cộc) Prionailurus viverrinus bậc EN (Endangered) – Nguy cấp); có 4 loài ghi trong Nghị định 32/2006 (Rái cá vuốt bé (Rái cá cùi) Aonyx cinerea, Mèo cá (Cáo cộc) Prionailurus viverrinus bậc IB – Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và Cầy giông (Cáo ngựa) Viverra zibetha, Cầy hương Viverricula indica bậc IIB – Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích
thương mại) Các loài thú quý hiếm đa phần phân bố tại khu vực rừng còn chưa bị tàn phá nhiều
do các hoạt động của con người, xa khu dân cư và cũng rất hiếm gặp
3.1.4 Bò sát, Lưỡng cư
Trên cơ sở tài liệu thu thập được (Lê Xuân Cảnh và nnk., 2007) cộng với khảo sát, phỏng vấn thực tế, thống kê được 50 loài thuộc 16 họ, 4 bộ trong hai 2 lớp Ếch nhái Amphibia và lớp Bò sát Reptilia (Bảng 4 Phụ lục) Lớp Bò sát với 2 bộ có số loài đông nhất (41 loài trong 11 họ, chiếm 82% số loài và 69% số họ) Trong thành phần nhóm Bò sát, Lưỡng cư thì nhóm các loài trong bộ
Có vảy có số loài đông nhất (35 loài, chiếm 70%), tiếp theo đến nhóm Không đuôi (có 8 loài, chiếm 17%), nhóm các loài trong bộ Rùa (6 loài, chiếm 12%), cuối cùng là nhóm Không chân (có 1 loài, chiếm 2%)
Có 10 loài Bò sát, Lưỡng cư quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Nghị định 32/2006, phân bố rải rác khắp nơi trong khu vực, chủ yếu tại nơi rừng còn tốt, chưa bị tàn phá, xa khu dân cư, nhất là tại khu vực VQG Tràm Chim Trong đó, theo Sách Đỏ Việt Nam (có
4 loài xếp bậc VU (Vulnerable) – Nguy cấp gồm Tắc kè Gekko gecko, Rắn sọc dưa Elaphe radiata, Cua đinh Amyda cartilaginea, Ếch giun Ichthyophis bannanicus; 4 loài xếp bậc EN (Endangered) – Nguy cấp, gồm Rắn ráo thường Ptyas korros, Rắn ráo trâu Ptyas musosus, Rắn cạp nong Bungarus fasciatus, Rắn hổ mang thường Naja naja; 2 loài bậc CR (Critically Endangered) – Rất nguy cấp, gồm Rắn hổ chúa (Hổ đước) Ophiophagus hannah và Trăn đất Python molurus Các loài này rất hiếm gặp và thường phân bố tại khu vực không có các hoạt
động của con người, xa khu dân cư như khu vực VQG Tràm Chim
Phân bố các nhóm Bò sát, Ếch nhái tại các sinh cảnh:
+ Hệ sinh thái rừng tự nhiên thường xuyên ngập nước: Đây là nơi cư trú chính của loài Tắc kè
(Gekko gecko), Thằn lằn bóng hoa (Mabuya multifasciata), Ngóe (Limmonectes limnocharis) Ở vũng nước trong rừng còn có cả Ếch đồng (Holopbatrachus rugulosus) Đôi khi tại đây còn gặp Rắn cạp nong (Bungarus fasciatus), Rắn hổ mang (Naja naja), Rắn ráo thường (Ptyas korros), Rắn ráo trâu (Ptyas mucosus), Rắn sọc dưa (Elaphe radiatai)
+ Trảng cỏ: Đây là vùng hoạt động kiếm ăn của một số loài: Ngóe (Limnonectes limnocharis), Ễnh ương thường (Kalvula pulchra)
Trang 10+ Hệ sinh thái nông nghiệp: Có các loài như Thằn lằn bóng hoa (Mabuya multifasciata), Ngóe (Limnonectes limnocharis) Ở những nơi có nước, nhiều bụi cây, cỏ rậm rạp, gặp Ếch đồng (Holopbarachus rugulosus), Ngóe (Limnonectes limnocharis)
+ Khu dân cư: Tại đây có các loài Thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus), Thạch sùng đuôi dẹp (Hemidactylus garnoti), Cóc nhà (Bufo melanostictus) Quanh nhà, vườn cây, còn gặp
số loài như Tắc kè (Gekko gecko), hoặc ở trong khe kẽ trong nhà hay những cây lâu năm quanh nhà Trên những cây quanh nhà, có Thằn lằn bóng (Mabuya multifasciata), ở những bụi cỏ có Rắn mống (Xenopeltis unicolor) Ở những đám lá cây, cỏ ẩm, mục nát có Rắn sọc dưa (Elaphe radiata) Ở vực nước (ao) còn có Ếch đồng (Holopbatrachus rugulosus), Ngóe (Limnonectes limnocharis) Nơi có cỏ cây rậm rạp, ẩm có Ễnh ương thường (Kaloula pulchra)
+ Sông, suối và đầm, ao: Tại khu vực có nhiều cây thực vật thủy sinh, bán thủy sinh sinh sống Lượng nước thường xuyên thay đổi tùy mùa, ven bờ có nhiều hang hốc Đây là nơi sống, hoạt
động của Cua đinh (Mabuya multifasciatai), Rắn nước (Xenochrophis piscator), Éch đồng (Holopbatrachus rugulosus), ven bờ có Ngóe (Limnonectes limnocharis)
3.1.5 Thực vật nổi
Kết quả phân tích mẫu thu được trong đợt khảo sát 3/2012, xác định được 96 loài TVN thuộc 4 ngành tảo là tảo Silic Bacillariophyta, tảo Lam Cyanobacteria, tảo Lục Chlorophyta và tảo Mắt Euglenophyta Trong 4 ngành tảo xác định được, thì tảo Silic có số lượng loài nhiều hơn cả (41 loài, chiếm 42%), sau đến tảo Lục (29 loài, chiếm 30%), tảo Mắt (14 loài, chiếm 15%), tảo Lam (12 loài, chiếm 13 %) Các nhóm TVN xác định được đa phần là các loài thường có mặt tại các thủy vực tự nhiên khắp nơi Tuy nhiên, tại các trạm khảo sát, đã xuất hiện một số nhóm loài TVN chỉ thị cho thủy vực bị nhiễm bẩn hữu cơ trong chi Euglana thuộc tảo Mắt và một số loài trong chi Scenedesmus thuộc tảo Lục, chi Oscillatoria thuộc tảo Lam Mật độ của các loài tảo này không lớn, nên có thể nói các thủy vực này mới bắt đầu có biểu hiện ô nhiễm hữu cơ dạng nhẹ Trong thành phần TVN, đáng kể là các nhóm tảo Silic đơn bào kích thước nhỏ (thuộc các chi Synedra, Cyclotella, Navicula), tảo Lục, tảo Lam dạng sợi (các chi Spirogyra, Mougeotia, Oscillatoria)
Mật độ số lượng TVN các trạm khảo sát dao động từ 1.190,7 Tb/l đến 4.422.6,6 Tb/l, trung bình
là 2.599,7 Tb/l Mật độ trung bình TVN tại khu vưc này cao nhất thuộc nhóm tảo Silic (43%), sau đến nhóm tảo Lam (29%), tảo Lục (23%) Nhóm tảo Mắt không thể hiện mật độ hoặc mật độ không đáng kể tại các trạm khảo sát (Bảng 3.1)
Chỉ số đa dạng (H) TVN các trạm khảo sát dao động từ 3,22 đến 4,39, trung bình là 3,76 thể hiện chất lượng nước tại khu vực ở dạng sạch (Bảng 3.1)
3.1.6 Động vật nổi
Xác định được 58 loài ĐVN thuộc các nhóm Chân mái chèo Copepoda, Râu ngành Cladocera,
Trùng bánh xe Rotatoria và các nhóm khác như ấu trùng Thân mềm Mollusca, ấu trùng Côn
trùng (Insect Larvae), ấu trùng Giáp xác (Crusstacea) và ấu trùng Ostracoda Trong thành phần ĐVN, nhóm Giáp xác Râu ngành Cladocera có số loài đông nhất (25 loài, chiếm 42%), sau đến nhóm Giáp xác Chân chèo Copepoda (17 loài, chiếm 29%), nhóm Trùng bánh xe (13 loài, chiếm 22%) và cuối cùng là các nhóm khác (4 loài, chiếm 7%) Tại các khu vực, đã xuất hiện nhóm
Trang 11Trùng bánh xe là nhóm chỉ thị cho thủy vực giầu dinh dưỡng (nhiễm bẩn hữu cơ) Tuy nhiên, mật độ của nhóm này không nhiều nên các thủy vực này mới biểu hiện mức độ nhiễm bẩn hữu
cơ dạng nhẹ
Bảng 3.1 Mật độ Thực vật nổi các trạm thu mẫu thị trấn Tràm Chim và lân cận,
huyện Tam Nông, Đồng Tháp (3/2012)
609,5 (23)
756,9 (29)
138,9 (5) Mật độ số lượng ĐVN các trạm khảo sát dao động từ 29 con/m3 đến 12.571 con/m3, trung bình là 2.004,9 con/m3 Mật độ trung bình ĐVN tại khu vực này cao nhất thuộc nhóm Giáp xác Chân chèo (58%), sau đến nhóm Giáp xác Râu ngành (20%), nhóm Trùng bánh xe (18%) và cuối cùng
là các nhóm khác (4%) (Bảng 3.2)