báo cáo của sinh viên sau một thời gian thực tập tại các địa điểm mà nhà trường quy định hoặc do sinh viên tự liên hệ thực tập nhằm giúp nhà trường quản lý được từng sinh viên thông qua quá trình thực tập. Để có thể làm được một bài báo cáo thực tập tốt bạn cần có những kiến thức cũng như kinh nghiệm chuyên sâu
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
- o0o - NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NHUNG
ĐẾN NĂM 2020 Chuyên ngành: KINH DOANH QUỐC TẾ
GVHD: Ths KHƯU MINH ĐẠT
TP HCM, 2014
Trang 2BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
- o0o - NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NHUNG
ĐẾN NĂM 2020 Chuyên ngành: KINH DOANH QUỐC TẾ
GVHD: Ths KHƯU MINH ĐẠT
TP HCM, 2014
Trang 3Nhận xét của giáo viên hướng dẫn
TP.Hồ Chí Minh, ngày……tháng… năm………
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh hàng hóa trên thị trường 4
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh 4
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh 6
1.1.2.1 Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân: 6
1.1.2.2 Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng: 7
1.1.2.3 Vai trò của cạnh tranh đối với doanh nghiệp: 7
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh hàng hóa trên thị trường 9
1.1.3.1 Các đối thủ cạnh tranh hiện tại 9
1.1.3.2 Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn 10
1.1.3.3 Khách hàng (Người mua) 12
1.1.3.4 Người cung ứng 13
1.1.3.5 Sản phẩm thay thế 14
1.1.3.6 Các nhân tố bên trong 14
1.1.4 Tính tất yếu của nâng cao sức cạnh tranh 17
1.2 Giới thiệu tổng quan về sản xuất nông sản tại Việt Nam 18
1.2.1 Sự hình thành và phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam 18
1.2.2 Năng lực sản xuất hiện tại nền nông nghiệpViệt Nam 26
1.2.2.1 Nông nghiệp 26
1.2.2.2 Lâm nghiệp 27
1.2.2.3 Thủy sản 28
Trang 51.3 Bài học kinh nghiệm về năng lực cạnh tranh của các nước trên thế giới 30
1.4 Bài học rút ra cho Việt Nam 31
1.5 Tóm tắt chương 1 34
CHƯƠNG 2.TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN 35
2.1 Phân tích tình hình thị trường 35
2.1.1 Tình hình cung cầu các mặt hàng nông sản trên thế giới qua các năm 35
2.1.1.1 Nguồn cung nông sản chính trên thế giới 35
2.1.1.2 Nhu cầu nông sản tại các thị trường chính trên thế giới 37
2.1.2 Tình hình cạnh tranh hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới 39
2.2 Các quy định pháp lý đối với hàng nông sản xuất khẩu trên thị trường thế giới 41 2.2.1.1 Thị hiếu tiêu dùng các mặt hàng nông sản tại các nước trên thế giới 44 2.3 Giới thiệu tổng quan về hàng nông sản Việt Nam 46
2.3.1 Lực lượng lao động trong ngành nông nghiệp tại Việt Nam 46
2.3.2 Quy mô sản xuất hàng nông sản Việt Nam những năm qua 47
2.4 Thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam những năm qua 51
2.4.1 Kim ngạch xuất khẩu 51
2.4.1.1 Tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản qua các năm 51
2.4.1.2 Tổng kim ngạch xuất khẩu từng mặt hàng nông sản chủ yếu 53
2.4.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu 59 2.4.3 Khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới
61
Trang 62.4.4 Những lợi thế, điều kiện thuận lợi ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu
nông sản Việt Nam 66
2.4.4.1 Hoạt động xúc tiến thương mại: 66
2.4.4.2 Việt Nam có thế mạnh về sự đa dạng hóa các mặt hàng nông sản 66
2.4.5 Đánh giá các rủi ro, trở ngại liên quan đến hoạt động xuất khẩu nông sản 67 2.4.6 Đánh giá khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam 69
CHƯƠNG 3.CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM 72
3.1 Cơ sở đề ra giải pháp 72
3.2 Xu hướng của thế giới 76
3.3 Các giải pháp cụ thể 77
3.4 Tóm tắt chương 3 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Chi tiết tiêu chuẩn gạo Xuất khẩu 42
Bảng 2.2 Nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng nông sản trên thế giới 44
Bảng 2.3 Lực lượng lao động Việt Nam qua các năm 46
Bảng 2.4 Quy mô sản xuất hàng nông sản giai đoạn 2011 – 2013 47
Bảng 2.5 Kim ngạch xuất khẩu nông sản giai đoạn 2011 – 9 tháng 2014 51
Bảng 2.6 Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản giai đoạn 2011 – 2014 53
Bảng 2.7 Nhập khẩu gạo của một số nước Châu Phi năm 2013 64
Trang 8
LỜI NÓI ĐẦU
0.1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa, các quốc gia luôn phải cạnh tranh với nhau để tự khẳng định mình cũng như để có đủ khả năng tồn tại và phát triển trong điều kiện kinh tế khốc liệt và khó khăn như hiện nay
Việt Nam là một nước nông nghiệp có những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp nói chung cũng như sản xuất ra nhiều loại nông sản có giá trị lớn Xuất khẩu nông sản từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nước ta, là một trong những nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước, tạo ra nhiều công ăn việc làm và thu nhập cho người dân Hơn nữa, xuất khẩu nông sản còn thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến, tạo động lực quan trọng cho việc phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại khác phát triển, đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Vì vậy đẩy mạnh xuất khẩu nông sản là một trong những mũi nhọn nhằm phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Trong bối cảnh hiện nay xu thế hội nhập hóa thương mại đang diễn ra mạnh mẽ trong mỗi khu vực và trên toàn thế giới Cùng với xu thế đó, những năm gần đây Việt Nam cũng đang tích cực hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới Quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu đã và sẽ đem lại nhiều cơ hội cho nước ta nhưng chúng ta cũng sẽ gặp phải những thách thức lớn hơn Việt Nam muốn hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới thì tất yếu phải đưa ra những sản phẩm có năng lực cạnh tranh hay có lợi thế so sánh đối với các mặt hàng nông sản khác từ các quốc gia trên thế giới
Vì vậy việc nghiên cứu, đánh giá năng lực cạnh tranh hàng Việt Nam , đặc biệt
là hàng nông sản để tăng năng lực xuất khẩu nông sản từ Việt Nam với các nước khác
là vấn đề mà tác giả đề cập trong bài viết này Trên cơ sở phân tích đặc điểm thị trường
Trang 9nông sản thế giới nói chung cũng như khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam nhằm đưa ra các đánh giá, những giải pháp nâng cao hơn nữa khả năng canh tranh của hàng nông sản Việt Nam, đồng thời góp phần tích cực vào sự phát triển kinh
tế toàn cầu
Hàng nông sản của Việt Nam rất đa dạng và phong phú, trong phạm vi đề tài tác
giả tìm hiểu đề tài: ―khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trong
những năm qua và các giải pháp thúc đẩy khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam đến năm 2020”
0.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và sức cạnh tranh của hàng nông sản, làm rõ sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập chung với nền kinh tế toàn cầu Trên cơ sở đó phân tích và đánh giá khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản chủ yếu, chỉ rõ những điểm mạnh, yếu so với các đối thủ cạnh tranh và nguyên nhân gây những điểm yếu đó, đồng thời đề ra những giải pháp góp phần thúc đẩy khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam
0.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tập trung chủ yếu vào phân tích năng lực, khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới giai đoạn 2011 – 6 tháng đầu năm 2014 để đưa ra các giải pháp cho khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam đến năm 2020; trong đó tập trung đánh giá năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm chủ yếu là gạo, chè, cà phê, điều, hồ tiêu, cao su
Trang 100.4 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, nhằm đưa ra cái nhìn khách quan về ngành nông nghiệp Việt Nam, cụ thể ở đây là nông sản
- Phương pháp thống kê, so sánh và phân tích để thu thập những thông tin, phân tích những yếu tố tác động đến khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam
- Phân tích kết hợp với lý luận và thực tiễn để đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong thời gian tới
0.5 Bố cục của đề tài
Bố cục đề tài gồm 3 chương
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh hàng hóa trên thị trường
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh hàng hóa trên thị trường
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp đó có thể sản xuất được sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình của nó thấp hơn các sản phẩm cùng loại trên thị trường
Theo cách hiểu này thì doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm tương tự sản phẩm của doanh nghiệp khác trên thị trường thì có khả năng cạnh tranh cao hơn
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm chính là yếu tố đảm bảo sự tồn tại của sản phẩm trên thị trường, đặt biệt là sự phát triển của một quốc gia trên thị trường thế giới Sản phẩm có sức cạnh tranh tức sản phẩm có thể đứng vững khi có mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượng hay mức giá cân bằng sản phẩm có sức cạnh tranh sẽ tạo được mặt vượt trội hơn về giá cả, chất lượng và cơ chế vận hành của nó trên thị trường, tạo nên sức hấp dẫn đối với khách hàng trong quá trình sử dụng
Theo Randall: khả năng cạnh tranh là khả năng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định
Cạnh tranh là sự ganh đua, giành giật để chiếm lĩnh thị phần, thị trường và khách hàng giữa các đối thủ với nhau
Cạnh tranh là việc sử dụng các mưu mô, thủ đoạn, chiến lược, chiến thuật để đạt được ưu thế cao hơn so với đối thủ
Trang 12 Cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của các thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế của nhân dân nước đó
Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà
phân phối, bán lẽ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành…
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phi giá cả (khuyến mãi, quảng cáo) Hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế
Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vì nó xuất phát
từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá Trong sản xuất hàng hoá, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần
Trang 13thiết để thu được nhiều lãi Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn
có cạnh tranh
Cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hoá để đạt được lợi nhuận cao nhất Câu nói cửa miệng của nhiều người hiện nay "thương trường như chiến trường", phản ánh phần nào tính chất gay gắt khốc liệt đó của thị trường cạnh tranh tự do
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào
sự phát triển kinh tế
1.1.2.1 Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân:
Canh tranh là động lực phát triển kinh tế nâng cao năng suất lao động xã hội Một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế mà các tế bào của nó là các doanh nghiệp phát triển có khả năng cạnh tranh cao Tuy nhiên ở đây cạnh tranh phải là cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để cùng phát triển, cùng
đi lên thì mới làm cho nền kinh tế phát triển bền vững Còn cạnh tranh độc quyền sẽ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, nó tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn về quyền lợi và lợi ích kinh tế trong xã hội, làm cho nền kinh
tế không ổn định Vì vậy, Chính phủ cần ban hành lệnh chống độc quyền trong cạnh tranh, trong kinh doanh để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh Cạnh tranh hoàn hảo
sẽ đào thải các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả Do đó buộc các doanh nghiệp phải lựa chọn phương án kinh doanh có chi phí thấp nhất, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Như vậy cạnh tranh tạo ra sự đổi mới mang lại sự tăng trưởng kinh tế
Trang 141.1.2.2 Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng:
Trên thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng diễn ra gay gắt thì người được lợi nhất là khách hàng Khi có cạnh tranh thì người tiêu dùng không phải chịu một sức ép nào mà còn được hưởng những thành quả do cạnh tranh mang lại như: chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá bán thấp hơn, chất lượng phục vụ cao hơn Đồng thời khách hàng cũng tác động trở lại đối với cạnh tranh bằng những yêu cầu về chất lượng hàng hoá, về giá cả, về chất lượng phục vụ Khi đòi hỏi của người tiêu dùng càng cao làm cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt hơn để giành được nhiều khách hàng hơn
1.1.2.3 Vai trò của cạnh tranh đối với doanh nghiệp:
Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển
Cạnh tranh là điều bất khả kháng đối với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Cạnh tranh có thể được coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệp không thể tránh khỏi mà phải tìm mọi cách vươn nên để chiếm ưu thế và chiến thắng Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch
vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã đáp ứng nhu cầu của khách hàng Cạnh tranh khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ mới, hiện đại , tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao
Trang 15Cạnh tranh khốc liệt sẽ làm cho doanh nghiệp thể hiện được khả năng ― bản lĩnh‖ của mình trong quá trình kinh doanh Nó sẽ làm cho doanh nghiệp càng vững mạnh và phát triển hơn nếu nó chịu được áp lực cạnh tranh trên thị trường
Chính sự tồn tại khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranh đối với nền kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói riêng nên việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường
Cạnh tranh là quy luật khách quan của kinh tế thị trường, mà kinh tế thị trường
là kinh tế TBCN Kinh tế thị trường là sự phát triển tất yếu và Việt Nam đang xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN có sự quản lý vĩ
mô của nhà nước, lấy thành phần kinh tế nhà nước làm chủ đạo Dù ở bất kỳ thành phần kinh tế nào thì các doanh nghiệp cũng phải vận hành theo qui luật khách quan của nền kinh tế thị trường Nếu doanh nghiệp nằm ngoài quy luật vận động đó thì tất yếu sẽ
bị loại bỏ, không thể tồn tại Chính vì vậy chấp nhận cạnh tranh và tìm cách để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình chính là doanh nghiệp đang tìm con đường sống cho mình
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn
về mặt xã hội Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước
Cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại, ) hoặc những hành vi cạnh tranh làm phân hóa giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái
Trang 16Trong xã hội, mỗi con người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích hơn cho mọi người và cho cộng đồng, xã hội
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh hàng hóa trên thị trường
1.1.3.1 Các đối thủ cạnh tranh hiện tại
Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng vì các đối thủ cạnh tranh sẽ quyết định tính chất và mức độ tranh đua Nếu các đối thủ này yếu doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá bán và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Ngược lại,khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh về giá là không đáng kể, mọi cuộc cạnh tranh về giá cả đều dẫn tới tổn thương
Bàn về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong một ngành sản xuất ta thường nói tới những nội dung chủ yếu như: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cầu của ngành và các hàng rào lối ra
Cơ cấu cạnh tranh của ngành dựa vào số liệu và khả năng phân phối sản phẩm của doanh nghiệp trong ngành sản xuất Cơ cấu cạnh tranh thay đổi từ ngành sản xuất phân tán tới ngành sản xuất tập trung Bản chất và mức độ cạnh tranh đối với các ngành tập trung là rất khó phân tích và dự đoán
Tình trạng cầu của một ngành là một yếu tố quyết định khác về tính mãnh liệt trong cạnh tranh nội bộ ngành Thông thường, cầu tăng tạo cho doanh nghiệp một cơ hội lớn để mở rộng hoạt động Ngược lại, cầu giảm dẫn đến cạnh tranh khốc liệt để các doanh nghiệp giữ được phần thị trường đã chiếm lĩnh
Hàng rào lối ra là mối đe doạ cạnh tranh nghiêm trọng khi cầu của ngành giảm mạnh Đó là kinh tế, chiến lược và là quan hệ tình cảm giữ doanh nghiệp trụ lại Nếu hàng rào lối ra cao, các doanh nghiệp có thể bị khoá chặt trong một ngành sản xuất
Trang 17không ưa thích Hàng rào lối ra thường bao gồm: Đầu tư nhà xưởng và thiết bị, chi phí trực tiếp cho việc rời bỏ ngành là cao, quan hệ chiến lược giữa các đơn vị chiến lược kinh doanh, hay đó là chi phí xã hội khi thay đổi như khó khăn về sự sa thải nhân công, chi phí đào tạo lại
Do vậy nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giá chính xác khả năng của những đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là những đối thủ chính
để xây dựng cho mình chiến lược cạnh tranh thích hợp với môi trường chung
1.1.3.2 Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một ngành sản xuất, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành Đây là đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại Các doanh nghiệp hiện tại cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn ra nhập ngành vì càng nhiều doanh nghiệp có trong một ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn Với
sự mong muốn chiếm lĩnh một thị phần nào đó các đối thủ mới có thể làm giá bán bị kéo xuống hoặc chi phí của các công ty đi trước có thể bị tăng lên và kết quả làm giảm mức lợi nhuận Sự xâm nhập vào một ngành, với dự định xây dựng một vị trí trên thị trường kiểu đó có lẽ cần được coi như một sự nhập cuộc của đối thủ mới Việc tạo ra hàng rào hợp pháp ngăn cản sự xâm nhập từ bên ngoài hoặc sự phản ứng khôn khéo của các doanh nghiệp đang cạnh tranh sẽ làm giảm bớt mối hiểm hoạ hoặc do doanh nghiệp mới xâm nhập gây ra Những rào cản chủ yếu được xác định là:
Những ưu thế tuyệt đối về chi phí: Có thể đó là ưu thế về các sáng chế, việc làm chủ một công nghệ riêng đặc thù hoặc có một nguồn nhân lực chuyên tinh, làm chủ được nguồn nguyên vật liệu cũng như kinh nghiệm cho phép có được các chi phí thấp hơn Hoặc đó có thể là lợi thế về chi phí cố định vì các đối thủ cạnh tranh hiện tại thường có những lợi thế chi phí mà các đối thủ mới không thể nào có được, lợi thế này
Trang 18không phụ thuộc vào quy mô doanh nghiệp như: Bản quyền về công nghệ và sản phẩm, lợi thế về nguồn cung cấp nguyên vật liệu, lợi thế về vị trí địa lý, hay kinh nghiệm và
kĩ năng trong sản xuất
Ngoài ra có thể kể đến những loại chi phí khác như chi phí đặt cọc, tiền cược Đây là một khoản tiền lúc đầu buộc khách hàng mua sản phẩm của một doanh nghiệp lúc đầu phải trả nếu họ không mua sản phẩm của ngành đó nữa và chuyển sang mua sản phẩm của một doanh nghiệp khác hay là chi phí phạt do thay đổi hãng hợp đồng tiêu thụ hoặc cung cấp vật tư Hầu hết các khách hàng đều phải thực hiện việc bồi thường trừ phi các nhà cung cấp mới những cải tiến có lợi về chi phí và thực hiện
Sự khác biệt hoá của sản phẩm khiến cho khách hàng trung thành với nhãn hiệu sản phẩm của các doanh nghiệp có vị thế uy tín vững vàng hoặc đã đứng vững.Thường các doanh nghiệp này có ưu thế cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, về dịch vụ hậu mãi hoặc về khả năng chuyên biệt hoá sản phẩm Sự trung thành với nhãn hiệu là nguồn rào cản khiến cho các doanh nghiệp mới tham gia khó lòng giành giật thị phần trên thương trường Các doanh nghiệp có tiềm năng hẳn phải tốn kém rất nhiều để bẻ gãy lòng ưu ái đã được củng cố của khách hàng với các nhãn hiệu đã có uy tín trước đó
Kinh tế quy mô hay còn gọi là kinh tế bậc thang: Các chi phí về sản xuất, phân phối, bán, quảng cáo, dịch vụ nghiên cưú sẽ giảm bớt với sự gia tăng của số lượng bán Hay nói cách khác số lượng sản xuất và bán tăng lên thì chi phí cho một đơn vị sản phẩm càng giảm đi
Kênh phân phối chủ yếu đã được thiết lập của các doanh nghiệp hiện tại cũng là một vật cản đối với các doanh nghiệp muốn nhảy vào chia sẻ thị trường Để tham gia vào mạng lưới phân phối đã được thiết lập các doanh nghiệp mới thông thường phải chia sẻ các chi phí quảng cáo hoặc hỗ trợ bán hàng Mọi chi phí này sẽ làm giảm lợi nhuận của các đối thủ mới; Trong khi đó các đối thủ cạnh tranh hiện tại có thể giữ chặt
Trang 19các các kênh phân phối dựa trên cơ sở các mối quan hệ lâu dài, chất lượng phục vụ cao Như vậy buộc doanh nghiệp mới phải tạo ra một mạng lưới phân phối mới và đó
là một cản trở đáng kể
Phản ứng lại của các doanh nghiệp hiện tại trong lĩnh vực kinh doanh Nếu việc phản ứng lại tích cực và khôn khéo một lối vào trong lĩnh vực đó là có thể được Nhưng nếu phản ứng lại bằng một cuộc chiến tranh giá cả thì cái giá phải trả là quá đắt
để nhập ngành bởi các đối thủ cạnh tranh hiện tại phản ứng quyết liệt, liên kết lại với nhau để đối phó
1.1.3.3 Khách hàng (Người mua)
Khách hàng hay người mua hàng là một bộ phận không thể tách rời trong môi trường cạnh tranh Khách hàng tác động đến doanh nghiệp thể hiện mối tương quan về thế lực nếu nghiêng về phía nào thì phía đó có lợi Các doanh nghiệp cần phải làm chủ mối tương quan này, thiết lập được mối quan hệ với khách hàng để giữ khách hàng (thông qua số lượng, chất lượng, giá cả, điều kiện giao nhận và dịch vụ sau bán hàng) Khách hàng có ưu thế là có thể làm cho lợi nhuận của ngành hàng giảm bằng cách ép giá xuống hoặc đòi hỏi chất lượng cao hơn và phải làm nhiều công việc dịch vụ hơn
Khách hàng có thể được xem như một sự đe dọa cạnh tranh khi họ buộc doanh nghiệp phải giảm giá hoặc có nhu cầu chất lượng cao và dịch vụ tốt hơn Ngược lại khi người mua (khách hàng) yếu sẽ mang đến cho doanh nghiệp cơ hội để tăng giá kiếm được lợi nhuận nhiều hơn Người mua gồm: Người tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân phối (bán buôn, bán lẻ) và các nhà mua công nghiệp áp lực của họ thường được thể hiện trong những trường hợp sau:
o Nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp Trong khi đó người mua là số ít và có quy mô lớn, nó cho phép người mua chi phối các công
ty cung cấp
Trang 20o Khách hàng mua một khối lượng lớn sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp và
sử dụng đó làm lợi thế để mặc cả cho sự giảm giá không hợp lý
o Khách hàng có thể vận dụng chiến lược liên kết dọc, tức là họ có xu hướng khép kín sản xuất, tự sản xuất, gia công các bộ phận chi tiết, bán sản phẩm cho mình
o Khách hàng có đầy đủ các thông tin về thị trường như nhu cầu, giá cả của các nhà cung cấp thì áp lực mặc cả của họ càng lớn
Để nâng cao khả năng cao khả năng cạnh tranh thì doanh nghiệp phải giảm tối
đa sức ép trên và tạo môi trường với các khách hàng qua các chính sách giá, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, biến họ trở thành người cộng tác tốt
1.1.3.4 Người cung ứng
Đó là những nhà cung cấp nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, tiền vốn,lao động đôi khi gây đe doạ khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào hoặc giảm chất lượng các sản phẩm dịch vụ mà họ cung cấp Qua đó làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Họ thường gây sức ép trong những tình huống như:
o Họ độc quyền cung cấp vật tư
o Khi các vật tư được cung cấp không có khả năng thay thế
o Không có điều khoản ràng buộc hoặc bảo đảm trong các hợp đồng kinh tế đã kí kết
o Khi vật tư đó quan trọng, quyết định trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
o Khi họ có khả năng khép kín sản xuất
Trang 21Vì vậy doanh nghiệp cần thiết lập quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp và đưa ra các biện pháp ràng buộc với nhà vật tư để giảm bớt các ràng buộc họ có thể gây nên với mình
1.1.3.5 Sản phẩm thay thế
Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự biến động của nhu cầu thị trường theo hướng ngày càng đa dạng hơn, phong phú và cao cấp hơn,
và chính nó lại làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bị thay thế
Một doanh nghiệp có thể hoạt động thu được nhiều lợi nhuận khi trong ngành kinh doanh đó có các các cản trở xâm nhập cao, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có là thấp, không có sản phẩm thay thế, thế lực khách hàng yếu và thế lực nhà cung cấp cũng yếu Ngược lại, một doanh nghiệp tiến hành kinh doanh trong một ngành hàng có các cản trở xâm nhập thấp, cạnh tranh mạnh mẽ, có một số sản phẩm thay thế, thế lực và của khách hàng và nhà cung cấp mạnh thì kinh doanh của doanh nghiệp sẽ chật vật và lợi nhuận thấp Các nhà quản lý cần phải phân tích và hiểu rõ được các thế lực trong môi trường cạnh tranh, từ đó tận dụng cơ hội và tìm vị trí có lợi nhất cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.3.6 Các nhân tố bên trong
Trang 22năng đánh giá và quan hệ đối ngoại tốt thì doanh nghiệp đó sẽ có sức cạnh tranh cao và ngược lại
o Quản trị viên cấp trung gian: Đây là đội ngũ trực tiếp quản lý phân xưởng sản xuất sản phẩm đòi hỏi phải có có kinh nghiệm công tác, khả năng ra quyết định
và diều hành công tác
o Đội ngũ quản trị viên cấp cơ sở: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp phần nào cũng chịu sự chi phối của đội ngũ này thông qua các yếu tố như: năng suất lao động, trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động và sự sáng tạo của họ bởi vì các yếu tố này chi phối việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm cũng như tạo thêm tính ưu việt, độc đáo mới lạ của sản phẩm
Nguồn lực về tài chính
Khả năng tài chính có ảnh hưởng rất lớn tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Khả năng tài chính được hiểu là quy mô tài chính của doanh nghiệp và tình hình hoạt động, các chỉ tiêu tài chính hàng năm như tỷ lệ thu hồi vốn, khả năng thanh toán Nếu một doanh nghiệp có tình trạng tài chính tốt, khả năng huy động vốn
là lớn sẽ cho phép doanh nghiệp có nhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị, đồng thời tăng khả năng hợp tác đầu tư về liên doanh liên kết.Tình hình sử dụng vốn cũng sẽ quyết định chi phí về vốn của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh
Nguồn lực về vật chất kỹ thuật:
Thông thường nguồn lực vật chất kỹ thuật thể hiện ở:
o Trình độ kỹ thuật công nghệ hiện tại của doanh nghiệp và khả năng có được các công nghệ tiên tiến
Trang 23o Quy mô và năng lực sản xuất: Quy mô và năng lực sản xuất lớn giúp doanh nghiệp tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn, nhờ đó hạ được giá thành sản phẩm, hơn nữa nó tạo ra nhiều cơ hội tiếp xúc với khách hàng hơn,giúp doanh nghiệp hiểu rõ khách hàng từ đó có thể chiếm lĩnh hoặc giữ vững thị trường trên nhiều lĩnh vực khác nhau, tránh sự xâm nhập của đối thủ cạnh tranh
Tuy nhiên để đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải
có quy mô sản xuất và mức sử dụng công suất ít nhất phải gần bằng công suất thiết kế Nếu sử dụng công suất thấp sẽ gây lãng phí và lúc đó chi phí cố định vào giá thành sản phẩm cao làm cho khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp giảm
Trình độ tổ chức quản lý
Trình độ tổ chức quản lý được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí và đặc biệt là nề nếp hoạt động của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp biết tập hợp sức mạnh đơn lẻ của các thành viên và biến thành sức mạnh tổng hợp thông qua tổ chức doanh nghiệp đó sẽ tận dụng được những lợi thế tiềm ẩn của tổ chức mình Đây là một đòi hỏi đối vớic các nhà quản trị cấp cao Không thể nói doanh nghiệp có được một cấu trúc tốt nếu không có một sự nhất quán trong cách nhìn nhận về cơ cấu doanh nghiệp
Một cơ cấu tốt đồng nghĩa với việc có được một cơ cấu phòng ban hợp lý, quyền hạn và trách nhiệm được xác định rõ ràng Bên cạnh đó ở mỗi phòng ban việc thực hiện tốt nề nếp tổ chức cũng ảnh hưởng rất lớn tới phương thức thông qua quyết định của nhà quản trị, quan điểm của họ đối với các chiến lược và điều kiện môi trường của doanh nghiệp Một nề nếp tốt có thể dẫn dắt mọi người tích cực hơn trong công việc và lôi cuốn họ vào quá trình đạt tới những mục tiêu chung của doanh nghiệp
Trang 24 Hoạt động Marketing
Ngày nay Marketing là một hoạt động không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp ở đây nhiệm vụ chính là phân tích các nhu cầu thị hiếu, nhu cầu thị trường và hoạch định các chiến lược hữu hiệu về sản phẩm, giá cả, giao tiếp và phân phối phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp đang vươn tới từ đó xây dựng mạng lưới phân phối với số lượng, phạm vi và mức độ kiểm soát phù hợp đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng nhanh nhất Có thể nói để tạo ra sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hoạt động Marketing là một yếu tố không thể thiếu
1.1.4 Tính tất yếu của nâng cao sức cạnh tranh
Ở nước ta trước đây với cơ chế tập trung bao cấp, nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong tất cả mọi vấn đề, từ cấp vốn, nguyên vật liệu cho tới phân phối và tiêu thụ Như vậy các doanh nghiệp Nhà nước không phải lo cạnh tranh với một đối thủ nào bởi khi
đó các thành phần kinh tế khác chưa được phát triển rộng raĩ Vì các nguyên nhân trên
mà trong thời kỳ bao cấp cạnh tranh hầu như không có, các doanh nghiệp Nhà nước thì rất thụ động Chuyển sang nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển sản xuất kinh doanh, mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng với nhau trước pháp luật thì phần lớn các doanh nghiệp này đều không thích nghi nổi với môi trường mới, không cạnh tranh nổi với các thành phần kinh tế, làm ăn thua lỗ và đi vào phá sản Điều này cho thấy khi bước sang một cơ chế mới: cơ chế thị trường thì các doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế đều phải tìm mọi cách để cạnh tranh nhằm tồn tại Có thể nói cạnh tranh là một tất yếu của nền kinh tế thị trường, là áp lực buộc các doanh nghiệp phải tìm giải pháp
để nâng cao năng suất lao động, đưa ra thị trường những sản phẩm có chất lượng và giá
cả hợp lý Do đó cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ ngày càng mạnh mẽ và khốc liệt hơn
Trang 25Và trong cơ chế thị trường, cùng với việc các quốc gia trên thế giới đang dần khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế thì sự cạnh tranh giữa các quốc gia lại càng diễn ra khốc liệt hơn Các nước trên thế giới phải tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình với các quốc gia trên thế giới, điều này được thể hiện trong việc các quốc gia nâng cao năng lực xuất khẩu của mình qua các sản phẩm, mặt hàng xuất khẩu chủ lực của quốc gia mình Và cạnh tranh là một tất yếu khách quan
Mỗi doanh nghiệp hay một quốc gia khi tham gia vào thị trường cần phải chấp nhận cạnh tranh, tuân theo quy luật cạnh tranh cho dù đôi khi cạnh tranh cũng trở thành con dao hai lưỡi Một mặt nó đào thải không thương tiếc các doanh nghiệp có chi phí cao, chất lượng sản phẩm tồi, tổ chức tiêu thụ kém, mặt khác nó buộc các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu giảm chi phí để giảm giá bán sản phẩm, hoàn thiện giá trị
sử dụng của sản phẩm, tổ chức hệ thống tiêu thụ sản phẩm
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển, kinh tế phát triển trên nhu cầu tiêu dùng nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều, để đáp ứng kịp thời nhu cầu này các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua các yếu tố trực tiếp như giá cả, chất lượng, uy tín Hay các yếu tố gián tiếp như hoạt động quảng cáo, hội chợ, các dịch vụ sau bán Hơn nữa trong một nền kinh tế mở như hiện nay các đối thủ cạnh tranh không chỉ là các doanh nghiệp trong nước mà còn là các doanh nghiệp, công ty nước ngoài có vốn đầu tư cũng như trình độ công nghệ cao hơn hẳn thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam là một tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển
1.2 Giới thiệu tổng quan về sản xuất nông sản tại Việt Nam
1.2.1 Sự hình thành và phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam
Sản xuất nông lâm, là lĩnh vực sản xuất quan trọng nhất đối với sự phát triển của Việt Nam, nhiều biến đổi thăng trầm từ những năm tháng thống nhất đất nước vào năm
Trang 261975 Sự tăng trưởng mạnh được ghi nhận vào năm 1976—tăng đến 10% so với năm 1975—nhưng sản xuất lại giảm khoảng đến còn 95% trong những năm 1976, 1977 và
1978 và sự phục hồi đáng kể trong năm 1979
Trồng trọt và chăn nuôi đã bù đắp lại sự thiếu hụt của nông nghiệp trong thời kỳ này Ví dụ, khoảng 8% tăng trong sản lượng gia súc trong năm 1977 làm cân bằng 8% sụt giảm của sản lượng cây trồng (chủ yếu là kết quả của 1 triệu tấn sụt gạo giảm trong các vụ mùa) Trong năm 1978 kết quả đã đảo ngược: hiện tượng sản lượng gia súc sụt giảm mạnh đi với dấu hiệu sản lượng của thóc lúa bắt đầu tăng Giá trị sản lượng cây trồng đã vượt hơn gấp bốn lần so với sản lượng gia súc lúc bấy giờ
Trên hết vấn đề khó khăn nhất đối với ngành nông nghiệp Việt Nam là thời tiết thất thường, như trận hạn hán diễn ra năm 1977 và những trận bão và lũ lụt trong những năm 1978 Trận hạn hán làm lượng nước vượt quá tiêu chuẩn cần thiết cây trồng, điều đó làm chúng chết dần Và thêm những trận lũ lụt giảm số lượng gia súc xuống tới 20% Các thống kê của Việt Nam không được công bố rộng rãi về báo cáo số lượng gia súc giảm cho với mục tiêu chỉ định đặt ra những năm 1978 và 1980 Qua những kế hoạch sai lầm nghiêm trọng vào khoảng cuối năm 1970s đã làm chậm và suy giảm ngành nông nghiệp Và còn vấn đề phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, và một số dụng cụ
cơ khí vẫn còn thiếu ở Việt Nam
Bỏ mặc sự thiếu lương thực lẫn vật liệu trong những thời kỳ đầu chính phủ vẫn quyết định thi hành những chính sách đã dự kiến, với niềm hy vọng sản xuất lương thực đủ để dùng (đủ lương thực cho cần thiết cho mỗi người) không được khả thi cho lắm trong những thập niên 1980 Năm 1980, dự kiến sẽ đạt khoảng trên 15 tấn nhưng không quá 21 triệu tấn, nhưng sản lượng đã không đạt được như mong muốn
Chính sách nông nghiệp được công bố từ năm 1976 đến 1980 đã có những kết quả tốt, xấu Dựa trên tiêu chuẩn khuyến khích trồng trọt thêm những loại cây lương
Trang 27thực có năng suất cao như (cà chua, sắn, đậu, và bắp) dẫn tới số lượng tăng trưởng thấp hơn 10% trong năm 1975 và tiếp tục tăng đến thêm 20% vào cuối thập niên 1970 Những kế hoạch khuyến khích nông nhân trong những năm 1978 và 1979 bao gồm cố gắng tăng số lượng người tiêu dùng vật phẩm trong các vùng nông thôn và cố gắng năng giá thành Chính phủ đã thi hành chính sách bằng cách lập nhiều hợp đồng hứa hẹn chắc chắn có lợi nhuận cho những người tham gia sản xuất đầu tư nông nghiệp Tuy nhiên, các quan chức cao không có khả năng và còn thiếu nguồn cung cấp cho nông nghiệp nên chính sách đã bị thất bại
Thất bại từ việc không thể hợp nhất nông nghiệp dẫn tới phương án mới là dùng
vũ lực để cưỡng ép nông dân phải hợp tác.Chính sách đó dường như làm phản tác dụng Vào cuối những năm 1978 và 1979 những nhà lãnh đạo chính quyền đã làm chủ được tình hình nông nghiệp dẫn tới tăng sản lượng còn thiếu
Trong miền Bắc, dạng làm việc chung (hợp tác) bởi các nông dân đã được hình thành vào khoảng năm 1959 và 1960, và vào năm 1965 khoảng 90% tài sản của nông dân đã trở thành của chung Năm 1975, hơnn 96% tài sản của nông dân đã thuộc về chính quyền nhà nước dùng để chia đều cho người dân, đồng nghĩa nông dân đã đóng góp đất, của cải, đồ dùng,gia súc để có được thu nhập
Khoảng năm 1976 và 1980, chính sách nông nghiệp ở miền Bắc được thi hành bởi chính quyền mới trong sự nỗ lực làm chủ kế hoạch trồng trọt và nông nghiệp Sự kiểm soát không chặt chẽ của các chính sách trong những năm chiến tranh đã dẫn tới
sự chặt chẽ hơn để nhằm tăng số lượng nhân công để nhận làm các nghĩa vụ khác Dẫn tới năng suất nhân công giảm Một người Việt ở nước ngoài khảo sát 10 hợp tác xã sản xuất gạo thì thấy rằng, mặc dù tăng nhân công và diện tích gieo trồng trong những năm
75, 76 và 77, nhưng sản lượng lại giảm trong khi chi phí lại tăng so với những các năm
72 đến 74 Mặc dù không tính đến thời tiết và các yếu tố khác, nhưng những phát hiện
Trang 28trên phù hợp với những kết luận của những người nghiên cứu về những ảnh hưởng của
mô hình tập thể hóa ở các quốc gia khác
Vốn đầu tư từ quốc gia cho nông nghiệp trong năm thứ ba của kế hoạch 5 năm vẫn ở mức độ thấp, và các quận huyện gặp phải khó khăn lớn trong thời gian kế hoạch
5 năm và cho đến những 1986 và 1987 Chỉ có duy nhất thóc tăng 5% hàng năm Tuy
số lượng lương thực đủ để đáp ứng nhu cầu tăng dân số 2,3% trong những năm của thập niên 1980, nó vẫn không đủ để tăng số lượng trung bình tiêu thụ mỗi năm cho từng người là cao hơn nhiều so với số lượng 300 kg Theo nguồn của chính quyền Việt Nam vào năm 1986 các gia đình nông dân phải cống hiến 80% thu nhập của họ để đổi lấy lương thực họ cần
Kết luận năm thứ ba trong quá trình kế hoạch 5 năm, sản lượng nông nghiệp vẫn còn thấp hơn mức cần thiết vì thế chính quyền Việt Nam chuyển sang hướng khai thác các tài nguyền khác để hỗ trợ thêm cho công nghiệp Trong năm 1986, nông nghiệp thu nhập vững ở khoảng 44% của lợi tức quốc gia (số tiền dùng để cho tăng trưởng quốc gia cần gần tới 10%) Nền nông nghiệp chiếm khoảng 66% nhân công toàn nước—cao hơn những năm 1976 và 1980 Tệ nhất vẫn là sản lượng trung bình mỗi nông nhân (thuộc nông nghiệp) sụt giảm trong thời gian đổi mới, xuống thấp hơn nhiều so với sự tăng trưởng của công nhân (thuộc công nghiệp)
Đến nay, nền nông nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể Cụ thể: Sản lượng lúa cả năm 2013 ước tính đạt 44,1 triệu tấn, tăng 338,3 nghìn tấn so với năm trước (Năm 2012 tăng 1,3 triệu tấn so với năm 2011), trong đó diện tích gieo trồng ước tính đạt 7,9 triệu ha, tăng 138,7 nghìn ha, năng suất đạt 55,8 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha Nếu tính thêm 5,2 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm nay ước tính đạt 49,3 triệu tấn, tăng 558,5 nghìn tấn so với năm trước (Năm 2012 tăng 1,5 triệu tấn so với năm 2011)
Trang 29Trong sản xuất lúa, diện tích gieo trồng lúa đông xuân đạt 3140,7 nghìn ha, tăng 16,4 nghìn ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 20,2 triệu tấn, giảm 54,4 nghìn tấn do năng suất đạt 64,4 tạ/ha, giảm 0,5 tạ/ha Diện tích gieo trồng lúa hè thu đạt 2146,9 nghìn ha, tăng 15,1 nghìn ha so với vụ trước; sản lượng đạt 11,2 triệu tấn, giảm 81,6 nghìn tấn do năng suất chỉ đạt 52,2 tạ/ha, giảm 0,8 tạ/ha
Một số địa phương có sản lượng lúa hè thu giảm nhiều là: Sóc Trăng giảm 86,4 nghìn tấn; Trà Vinh giảm 16,7 nghìn tấn; Bến Tre và Thừa Thiên - Huế cùng giảm 17,3 nghìn tấn; Quảng Trị giảm 10,7 nghìn tấn; Cà Mau giảm 9,8 nghìn tấn; An Giang giảm 8,9 nghìn tấn Riêng vụ thu đông 2013 ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng Diện tích gieo trồng đạt 626,4 nghìn ha, tăng 99 nghìn ha, năng suất đạt 51,7 tạ/ha, tăng 1,3 tạ/ha; sản lượng đạt 3,2 triệu tấn, tăng 578,8 nghìn tấn
Diện tích gieo trồng lúa mùa đạt 1985,4 nghìn ha, tăng 7,6 nghìn ha so với vụ mùa năm 2012 nhờ chủ động trong luân canh trồng lúa Tuy nhiên, sản lượng lúa mùa ước tính đạt gần 9,4 triệu tấn, giảm 104,4 nghìn tấn do năng suất chỉ đạt 47,3 tạ/ha, giảm 0,7 tạ/ha Sản lượng lúa mùa của các địa phương phía Bắc đạt 5677,2 nghìn tấn, giảm 181,3 nghìn tấn; năng suất đạt 47,9 tạ/ha, giảm 1,6 tạ/ha Sản lượng lúa mùa của các địa phương phía Nam đạt 3706,3 nghìn ha, tăng 76,9 nghìn tấn, riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng 67,6 nghìn tấn
Sản xuất cây vụ đông ở các tỉnh phía Bắc tăng so với năm trước, trong đó lạc đạt 492,6 nghìn tấn, tăng 5,2%; vừng đạt 33,2 nghìn tấn, tăng 9,9%; rau các loại đạt 14,6 triệu tấn, tăng 5,2%, chỉ có đậu tương đạt 168,4 nghìn tấn, giảm 3%
Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa phục
vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu nên cơ cấu cây trồng được thay đổi phù hợp với điều kiện canh tác của từng vùng Diện tích cho sản phẩm và sản lượng một số cây chủ
Trang 30yếu tăng so với năm 2012, trong đó diện tích chè ước tính đạt 114,1 nghìn ha, bằng cùng kỳ năm trước, sản lượng đạt 921,7 nghìn tấn, tăng 1,3%; cà phê diện tích đạt 584,6 nghìn ha, tăng 2,1%, sản lượng đạt 1289,5 nghìn tấn, tăng 2,3%; cao su diện tích đạt 545,6 nghìn ha, tăng 7%, sản lượng đạt 949,1 nghìn tấn, tăng 8,2%; hồ tiêu diện tích đạt 51,1 nghìn ha, tăng 6%, sản lượng đạt 122,1 nghìn tấn, tăng 5,3%
Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá, trong đó sản lượng cam năm 2013 ước tính đạt 530,9 nghìn tấn, tăng 1,7% so với năm 2012; chuối đạt 1,9 triệu tấn, tăng 5,6%; bưởi đạt 449,3 nghìn tấn, tăng 2,2% Tuy nhiên, một số cây khác do ảnh hưởng của thời tiết và một phần diện tích đang được cải tạo, chuyển đổi nên sản lượng giảm như: Sản lượng vải, chôm chôm đạt 641,1 nghìn tấn, giảm 1,1% so với năm 2012; quýt đạt 177,7 nghìn tấn, giảm 2,4%
Chăn nuôi gia súc, gia cầm những tháng cuối năm cũng có những mặc thuận lợi
về thị trường tiêu thụ do giá bán các sản phẩm có xu hướng tăng nhưng nhìn chung tình hình chăn nuôi chưa thật ổn định Đàn trâu cả nước năm 2013 có 2,6 triệu con, giảm 2,6% so với năm 2012; đàn bò có 5,2 triệu con, giảm 0,7%, riêng nuôi bò sữa vẫn phát triển, tổng đàn bò sữa năm 2013 của cả nước đạt 186,3 nghìn con, tăng 11,6%; đàn lợn
có 26,3 triệu con, giảm 0,9%; đàn gia cầm có 314,7 triệu con, tăng 2,04%, trong đó đàn
gà 231,8 triệu con, tăng 3,6% Sản lượng thịt hơi các loại năm 2013 ước tính đạt 4,3 triệu tấn, tăng 1,5% so với năm trước, trong đó sản lượng thịt trâu giảm 3,5%; sản lượng thịt bò giảm 2,9%; sản lượng thịt lợn tăng 1,8%; sản lượng thịt gia cầm tăng 2,4%
Tính đến ngày 18/12/2013 cả nước không còn địa phương nào có dịch lợn tai xanh và dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày, dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày còn có ở tỉnh Hòa Bình
Trang 31Lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng tập trung năm 2013 ước tính đạt 205,1 nghìn ha, tăng 9,7%
so với năm 2012 Một số địa phương có diện tích rừng trồng mới tập trung nhiều là: Nghệ An 15,3 nghìn ha; Yên Bái 14,9 nghìn ha; Tuyên Quang 13,2 nghìn ha; Quảng Nam 12 nghìn ha; Bắc Kạn 11,4 nghìn ha; Thanh Hóa 10,7 nghìn ha Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 182,2 triệu cây, tăng 1,6% so với năm trước
Sản lượng gỗ khai thác cả năm đạt 5608 nghìn m3, tăng 6,8% so với năm 2012 Nguyên nhân chủ yếu do tiêu thụ sản phẩm gỗ nguyên liệu năm nay có nhiều thuận lợi, kim ngạch xuất khẩu gỗ vả sản phẩm gỗ tăng khá Sản phẩm gỗ tiêu thụ tăng một mặt giải quyết được lượng gỗ thương phẩm đến kỳ khai thác của người sản xuất, mặt khác góp phần thúc đẩy hoạt động trồng rừng phát triển tại nhiều địa phương
Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác lớn và tăng nhiều so với năm trước là: Quảng Nam 410 nghìn m3, tăng 81%; Yên Bái 390 nghìn m3, tăng 15,5%; Quảng Ninh 348,5 nghìn m3, tăng 16,3%; Quảng Ngãi 310 nghìn m3
, tăng 42,7%; Quảng Trị 295,3 nghìn m3, tăng 77%; Thanh Hóa 278 nghìn m3
, gấp hai lần; Quảng Bình 251,2 nghìn m3, tăng 21,7%; Hà Tĩnh 224,3 nghìn m3, tăng 36,9% Sản lượng củi khai thác đạt 28 triệu ste, tăng 2,2%
Thủy sản
Sản lượng thuỷ sản năm 2013 ước tính đạt 5918,6 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 4400 nghìn tấn, tăng 1,3%; tôm đạt 704 nghìn tấn, tăng 11,7% Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 1037 nghìn ha, giảm 0,2% so với năm
2012, trong đó diện tích nuôi cá tra 10 nghìn ha, giảm 7,2%; diện tích nuôi tôm 637 nghìn ha, tăng 1,6%
Trang 32Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng cả năm ước tính đạt 3210 nghìn tấn, tăng 3,2% so với năm trước, trong đó cá 2407 nghìn tấn, tăng 0,2%; tôm 544,9 nghìn tấn, tăng 15% Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng có xu hướng phát triển mạnh thay cho nuôi tôm sú vì loại tôm này cho năng suất cao, thời gian nuôi ngắn và ít bị bệnh hơn Năm 2013, diện tích thả nuôi tôm thẻ chân trắng là 65,2 nghìn ha, gấp gần 2 lần so với năm trước; sản lượng đạt 230 nghìn tấn, tăng 56,5%
Sản lượng cá tra cả năm ước tính đạt 1170 nghìn tấn, giảm 6% so với năm 2012 Sản lượng cá tra giảm do sản xuất gặp khó khăn trong thời gian dài do giá bán cá tra nguyên liệu giảm trong khi giá chi phí đầu vào tăng Tuy nhiên, nuôi cá tra đang có những chuyển dịch khá mạnh theo hướng tăng diện tích thả nuôi ở khu vực doanh nghiệp và giảm diện tích thả nuôi ở khu vực hộ gia đình
Diện tích nuôi cá tra của các doanh nghiệp tại một số địa phương như sau: Bến Tre 1823 ha, tăng 50% so với năm trước; Đồng Tháp 1080 ha, tăng 20%; An Giang
538 ha, tăng 70%; Tiền Giang 127 ha, tăng 40% Nhiều cơ sở nuôi cá tra đang từng bước nâng cao kỹ thuật, áp dụng các quy trình chuẩn nuôi thủy sản an toàn nhằm tạo ra sản phẩm đảm bảo chất lượng, nâng cao giá trị xuất khẩu Nuôi cá và các loài thủy sản khác phát triển mạnh, tập trung vào các loài đặc sản có giá trị kinh tế cao, phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước như: Cá diêu hồng, rô phi, trắm đen, cá sấu, ba ba, nghêu
Thời tiết không thuận lợi, nhiều mưa bão, giá xăng dầu tăng làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động khai thác thủy sản Tuy nhiên, được sự quan tâm, tạo điều kiện của chính quyền địa phương nên sản lượng thủy sản khai thác năm nay vẫn tăng, ước tính đạt 2709 nghìn tấn, tăng 3,3% so với năm trước, trong đó khai thác biển đạt 2519 nghìn tấn, tăng 3,5% Sản lượng khai thác cá ngừ đại dương có xu hướng giảm nhiều, chỉ đạt 13 nghìn tấn, giảm 15% so với năm 2012, chủ yếu do chất lượng cá không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và giá tiêu thụ giảm mạnh
Trang 331.2.2 Năng lực sản xuất hiện tại nền nông nghiệpViệt Nam
1.2.2.1 Nông nghiệp
Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm nay ước tính đạt 3116,3 nghìn ha, tăng 10,7 nghìn ha và bằng 100,3% vụ đông xuân năm 2013, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1161,4 nghìn ha, bằng 100,3%; các địa phương phía Nam đạt 1954,9 nghìn ha, bằng 100,4% Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân cả nước năm nay ước tính đạt 66,9 tạ/ha, tăng 2,4 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước; sản lượng đạt 20,8 triệu tấn, tăng 812,2 nghìn tấn
Tính đến ngày 15/6, các địa phương phía Bắc thu hoạch được 995,3 nghìn ha lúa đông xuân, mặc dù chỉ bằng 91,5% so với cùng kỳ năm trước nhưng nhờ năng suất ước tính đạt 62,6 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha nên sản lượng đạt 7,3 triệu tấn, tăng 119,5 nghìn tấn Riêng vùng đồng bằng sông Hồng do diện tích gieo cấy giảm và chịu ảnh hưởng của thời tiết nên năng suất lúa ước tính đạt 65,7 tạ/ha, bằng cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 3,6 triệu tấn, giảm 24 nghìn tấn Các địa phương phía Nam đã cơ bản thu hoạch xong lúa đông xuân, sản lượng ước tính đạt 13,6 triệu tấn, tăng 692,7 nghìn tấn
so với vụ đông xuân 2013, riêng vùng trọng điểm lúa đồng bằng sông Cửu Long đạt khá với 11,2 triệu tấn, tăng 546 nghìn tấn
Cùng với việc thu hoạch vụ đông xuân, tính đến trung tuần tháng Sáu, các địa phương trên cả nước đã xuống giống được 1977,9 nghìn ha lúa hè thu, bằng 103,3% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 1876,3 nghìn ha, bằng 98% Diện tích lúa hè thu sớm được thu hoạch đạt 205,6 nghìn ha, bằng 63,9% cùng kỳ năm trước
Một số cây trồng khác của vụ đông xuân năm nay đã cơ bản thu hoạch xong Do ảnh hưởng của thời tiết không thuận lợi nên sản lượng giảm: Sản lượng ngô đạt 2,5 triệu tấn, giảm 28,8 nghìn tấn so với năm trước; khoai lang đạt 843 nghìn tấn, giảm
Trang 3427,8 nghìn tấn; đậu tương đạt 83,6 nghìn tấn, giảm 7 nghìn tấn; lạc đạt 351,9 nghìn tấn, giảm 32 nghìn tấn
Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm và cây ăn quả đạt khá so với cùng kỳ năm trước: Sản lượng chè tăng 5%; cao su tăng 1,2%; hồ tiêu tăng 7%; cam tăng 5,1%; chuối tăng 4,1%; đặc biệt sản lượng nho năm nay đạt khá cao với 11,7 nghìn tấn, tăng 10,7%
1.2.2.2 Lâm nghiệp
Trong 6 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 71,4 nghìn ha, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước Một số tỉnh có diện tích rừng trồng mới tập trung đạt cao: Tuyên Quang 10,8 nghìn ha, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước; Yên Bái 10,4 nghìn ha, tăng 15,6%; Quảng Ninh 10,1 nghìn ha, tăng 12,8%; Phú Thọ 6,2 nghìn ha, tăng 16,8%
Khai thác lâm sản tăng khá so với cùng kỳ năm trước Sản lượng gỗ khai thác 6 tháng đạt 2616 nghìn m3
, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2013; củi đạt 15,4 triệu ste, tăng 3,2% Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Quảng Ngãi đạt 296 nghìn m3, tăng 41%; Quảng Nam đạt 240 nghìn m3, tăng 14,3%; Bình Định đạt 176 nghìn m3, tăng 19,8%; Phú Thọ đạt 164,7 nghìn m3
, tăng 11,5%; Nghệ An đạt 152 nghìn m3, tăng 18,8%; Quảng Bình đạt 130 nghìn m3, tăng 66,6% Sản lượng gỗ khai thác tăng do nguồn cung và thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước ổn định Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 6 tháng đầu năm tăng 16% so với cùng kỳ năm 2013
Thời tiết trong năm có những diễn biến phức tạp gây nguy cơ cao cho cháy rừng Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 05/3/2014 về việc tăng cường các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng Các địa phương đã tích cực, chủ động triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy rừng ngay từ đầu năm Tuy nhiên, trong kỳ do thời tiết nắng nóng và khô hạn kéo dài nên tại nhiều vùng trên cả nước đã xảy ra tình
Trang 35trạng cháy rừng, nhất là các tỉnh vùng Trung bộ và Trung du miền núi phía bắc Trong
6 tháng đầu năm, diện tích rừng thiệt hại trên cả nước là 2154 ha, tăng 59% so với cùng
kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy 1734 ha, gấp 2 lần; diện tích rừng bị chặt phá 420 ha, giảm 17,6% Một số địa phương có diện tích rừng bị cháy nhiều: Yên Bái 692,2 ha; Lai Châu 171 ha; Nghệ An 115 ha; Quảng Trị 99,3 ha Một số địa phương có diện tích rừng bị chặt phá nhiều: Đắk Nông 89,3 ha; Bắc Giang 89,2 ha; Lâm Đồng 56,7 ha; Kon Tum 54,8 ha
1.2.2.3 Thủy sản
Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước tính đạt 2866,5 nghìn tấn, tăng 4,4%
so với cùng kỳ năm 2013, trong đó cá đạt 2128,3 nghìn tấn, tăng 1,9%, tôm đạt 312,9 nghìn tấn, tăng 20,8%
Diện tích nuôi trồng thủy sản trong kỳ ước tính đạt 933 nghìn ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá đạt 286 nghìn ha, xấp xỉ cùng kỳ; diện tích nuôi tôm đạt 601 nghìn ha, tăng 1,1% Sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng ước tính đạt 1453 nghìn tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1090,3 nghìn tấn, giảm 1%; tôm đạt 229,5 nghìn tấn, tăng 26,2%; thủy sản nuôi trồng khác đạt 133 nghìn tấn, tăng 9,2%
Nuôi cá tra tiếp tục gặp khó khăn do giá thức ăn tăng cao, giá tiêu thụ sản phẩm giảm, các thị trường xuất khẩu lớn như: Mỹ, EU bị thu hẹp Diện tích nuôi thả cá tra công nghiệp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến giữa tháng Sáu ước tính đạt 3500
ha, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước Sản lượng cá tra thu hoạch 6 tháng ước tính đạt 55 nghìn tấn, giảm 1,6%, trong đó một số tỉnh giảm nhiều: Cần Thơ đạt 57 nghìn tấn, giảm 7,5%; An Giang đạt 126 nghìn tấn, giảm 3,6%; Vĩnh Long 51 nghìn tấn, giảm 1,7%
Trang 36Nuôi tôm tiếp tục chuyển dịch mạnh cơ cấu từ nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng do tôm thẻ chân trắng có thời gian nuôi ngắn, năng suất cao nên hiệu quả kinh tế hơn Diện tích thu hoạch tôm sú 6 tháng ước tính đạt 495 nghìn ha, giảm 10%
so với cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 106 nghìn tấn, giảm 5,5% Trong khi đó, tôm thẻ chân trắng có diện tích và sản lượng tăng mạnh với diện tích đạt 53 nghìn ha, tăng 111% và sản lượng ước đạt 117 nghìn tấn, tăng 105% so với cùng kỳ năm 2013 Một
số tỉnh có sản lượng tôm thẻ chân trắng tăng cao: Bến Tre đạt 18,3 nghìn tấn, tăng 9,7 nghìn tấn; Trà Vinh 8,9 nghìn tấn, tăng 7,9 nghìn tấn; Bạc Liêu 8,2 nghìn tấn, tăng 7,1 nghìn tấn; Tiền Giang 5,3 nghìn tấn, tăng 3,7 nghìn tấn Tuy nhiên, do sự chuyển dịch
cơ cấu còn mang tính tự phát ở hầu hết các địa phương, cùng với việc không tuân thủ đúng lịch thả nuôi và điều kiện kỹ thuật nên dịch bệnh phát sinh, dẫn đến một số địa phương phải thu hoạch sớm khi tôm chưa đạt chất lượng thương phẩm Trong thời gian tới, cần có kế hoạch đầu tư cụ thể và khoa học đối với loại tôm thẻ chân trắng tại các địa phương để tránh tình trạng nguồn cung dư thừa, dẫn đến giá giảm và thua lỗ Nuôi thủy sản trên biển phát triển khá với chủng loại ngày càng đa dạng, sản lượng 6 tháng ước tính đạt 170 nghìn tấn, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước
Sản lượng thuỷ sản khai thác 6 tháng ước tính đạt 1413,5 nghìn tấn, tăng 5,5%
so với cùng kỳ năm 2013, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 1328,7 nghìn tấn, tăng 5,6% Sản lượng khai thác tăng cao chủ yếu do thời tiết trong 6 tháng đầu năm tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác hải sản, các loại cá nổi trong vụ cá Bắc xuất hiện nhiều nên ngư dân tranh thủ ra khơi đánh bắt Nghề câu cá ngừ đại dương ở một số địa phương hiện nay chưa đạt hiệu quả cao Nguyên nhân do ngư dân khai thác chưa áp dụng đúng kỹ thuật nên chất lượng cá không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, dẫn đến giá bán
ở mức thấp và sản lượng khai thác giảm Sản lượng cá ngừ đại dương trong 6 tháng ước tính đạt 10,4 nghìn tấn, giảm 16% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó Bình Định
Trang 37đạt 5,7 nghìn tấn, giảm 12,3%; Phú Yên 3,2 nghìn tấn, giảm 22,1%; Khánh Hòa 1,5 nghìn tấn, giảm 21%
1.3 Bài học kinh nghiệm về năng lực cạnh tranh của các nước trên thế giới
Gạo
Là một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, đặc biệt là xuất khẩu gạo, Thái Lan đã có những biện pháp gia tăng khả năng cạnh tranh của mặt hàng gạo trên thị trường:
- Trong lĩnh vực sản xuất: Thái Lan đầu tư khá mạnh vào quá trình sản xuất, đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện đại giúp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa mà vẫn đạt hiệu quả chất lượng cao, nâng cao năng suất cũng như chất lượng gạo phục vụ cho việc xuất khẩu
- Hiệp hội các nhà xuất khẩu Thái Lan là bộ phận tư nhân làm việc để giúp
đỡ và ủng hộ những nhà xuất khẩu gạo của Thái Lan Nhiệm vụ chính của Hiệp hội này là nghiên cứu và thu thập dữ liệu và thông tin liên quan đến xuất khẩu gạo và gởi cho các thành viên của Hiệp hội Do những tin tức, thời sự và thông tin thay đổi nhanh chóng về các sản phẩm hàng hóa như gạo Nhà kinh doanh gạo Thái lan cấn cập nhật thương mại lúa gạo ở cả lĩnh vực trong nước và tất cả các nước trên thế giới ở mọi thời điểm Do vậy, Thái Lan luôn cập nhật được những thông tin về tình hình gạo trên thế giới để có hướng phát triển phù hợp
- Chiến lược áp dụng cho việc kinh doanh xuất khẩu cần sự hợp tác giữa
Bộ Thương mại với Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Hai Bộ này sẽ giúp đỡ nghiên cứu
và triển khai để tìm giải pháp nhằm hạ chi phí, giảm giá thành sản xuất lúa và gia tăng năng suất trên đơn vị diện tích Và làm thế nào để giảm chi phí hậu cần xuất khẩu gạo,
Trang 38chẳng hạn như thay thế chi phí cao do vận chuyển bằng xe tải thay bằng tàu thủy sẽ rẻ hơn nhiều
- Việc giảm chi phí nói chung sẽ giúp các nhà xuất khẩu của Thái Lan dẽ dàng cạnh tranh trên thị trường thế giới Vì thế Thái Lan không thắc mắc các nước khác cũng phát triển chiến lược để cạnh tranh với gao Thái Lan trên thị trường thế giới Trong những năm gần đây, cuộc khủng hoảng lương thực dẫn đên không ổn định sản xuất lương thực thế giới và tạo sự gia tăng giá gạo cao hơn trước đây Kết quả làm cho nhiều nước khác cũng muốn gia tăng gieo trồng nhiều lúa gạo cho xuất khẩu ra thị trường thế giới Vì thế Thái Lan cần phát triển một cách nghiêm ngặt chiến lược của mình để duy trì là một nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới
Cà phê:
Brazin có thế mạnh về khí hậu cũng như điều kiện đất đai để có ddieuf kiện gia tăng sản xuất, nâng cao năng suất, góp phần tăng sản lượng cà phê xuất khẩu ngoài ra Brazin còn có các tổ chức tư nhân hoạt động hiệu quả và cạnh tranh (cảng, hợp tác xã, máy móc công nghiệp hiện đại) góp phần tăng năng suất cũng như chất lượng cho cà phê xuất khẩu
Brazin cũng áp dụng công nghệ nông tô tiên tiến phục vụ sản xuất nông nghiệp
1.4 Bài học rút ra cho Việt Nam
Là một nước nông nghiệp, Việt Nam vẫn là quốc gia xuất khẩu chủ yếu các sản phẩm từ nông nghiệp, gạo cũng là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Từ những kinh nghiệm rút ra từ Thái Lan ta rút ra được những bài học cho xuất khẩu gạo Việt Nam trong quá trình thâm nhập vào thị trường thế giới
Nông nghiệp Việt Nam vừa qua có một bước tiến bộ như tăng trưởng về diện tích, qui mô, sản lượng, v v… thậm chí nhiều nông dân đã làm ra các nông sản xuất
Trang 39khẩu sang thị trường các nước nhưng về cơ bản thì các cơ cấu nông nghiệp Việt Nam vẫn chưa đổi về chất, nông dân ta vẫn xuất khẩu dưới dạng thô hoặc sơ chế, hàm lượng dinh dưỡng thấp, giá trị hàng hóa vẫn còn bị thua thiệt Do vậy, bài học là tới đây chúng ta cần phải chuyển dịch cơ cấu theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, giá trị cao, cần phải chú trọng đầu tư nghiên cứu và khuyến khích chuyền giao sử dụng các kết quả khoa học công nghệ trong nông nghiệp, nhất là công nghệ sinh học (Thái Lan làm rất tốt hướng hỗ trợ này)
Để thực hiện bài học này thì chính phủ, bộ và các ngành có liên quan phải hổ trợ nông dân cách sử dụng công nghệ sinh học từ những nguyên liệu sẵn có như mía, sắn, ngô, khoai dùng cho công nghệ sinh học, thậm chí là các chất tưởng như
bỏ đi cũng có thể dùng vi sinh vật tạo ra năng lượng rơm, rạ, lau sậy, mùn cưa, v v
Trước mắt chúng ta cần tập trung nghiên cứu chọn lọc và hoàn thiện bộ giống chuẩn quốc gia về các cây lượng thực chủ yếu như lúa cao sản, ngắn ngày, các giống cây ăn trái Nam bộ, chè, cao su, càfê và thủy hải sản thế mạnh của Việt Nam Ở đây chính phủ có trách nhiệm chuẩn bị tốt tri thức nhiều mặt để nông dân bắt kịp với nền nông nghiệp hiện đại
Chính phủ phải có bước đột phá về thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản, hoàn thiện thể chế lưu thông, nhất là lưu thông hàng nông sản: lúa gạo,cà phê, cao su, hồ tiêu,…
Việc gia nhập WTO là thách thức lớn nhất với nông dân và hàng hóa nông sản Việt Nam Ở đây, phương thức canh tác nông nghiệp còn lạc hậu, năng xuất thấp và chi phí cao, chất lượng và qui cách sản phẩm không đồng đều, v v… đang là khó khăn cho việc cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam Để khắc phục tình trạng trên Việt Nam cần có bước đột phá thị trường để xa thương hiệu, quảng bá sản phẩm, chiếm lĩnh thị phần ở thị trường EU, Úc, Nhật, Hoa Kỳ, v v… Trách nhiệm này
Trang 40không thề phó thác cho nông dân hay một doanh nghiệp cụ thế nào mà đó phải là trách nhiệm của chính phủ và các bộ chuyên nghành, các cơ quan hoạch định chiến lược quốc gia cùng chung tay phối hợp thực hiện thì mới đem lại hiệu quả được
Cú sốc giá lúa gạo vừa qua đã cho ta thấy hệ thống các thể chế điều hành
vĩ mô và điều hành thể chế thương mại cần thiết của chúng ta còn rất yếu và thiếu, chưa bắt kịp yêu cầu hội nhập thị trường hiện đại Chính sách và phản ứng còn thiếu nhạy bén và thiếu chính xác từ chính phủ đã gây tổn thất nặng nề cho nông dân, chúng
ta đã chậm chạp và lạc hậu trước diễn biến của thị trường
Không điều hành thống nhất được kênh thu mua phân phối thâm chí bỏ trống cho tư thương lũng đoạn, tùy tiện gây bất lợi cho nông dân là người sản xuất, họ là
―gốc‖ nhưng luôn phải chịu thiệt thòi và rủi ro Điều đáng chú ý hiện nay là đầu cơ, lạm phát và chỉ số CPI tăng cao trong thời gian qua đã và đang tác động mạnh đến các
hộ nông dân nghèo, thu nhập thấp, họ chịu thiệt thòi nhất bởi nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng khá cao chiếm tới 70% cơ cấu tiêu dùng của các hộ nông dân nghèo Mặt khác, tăng giá bình quân đầu vào của các vật tư sản xuất nông nghiệp cao hơn đầu
ra của sản phẩm nông sản từ 20 đần 25% đang đặt ra bài toán cho chính sách hỗ trợ nông dân hiện nay như thế nào?
Nông dân trồng lúa, cà phê nên tương tác với nhau trong quá trình thu mua nông sản để điều hành, kiểm soát sản lượng nông sản đáp ứng nhu cầu xuất khẩu nông sản cũng như mức sinh lợi cho nông dân
Sau khi xác định tư duy sản xuất theo nhu cầu thị trường, nhà nước và doanh nghiệp phối hợp trên cơ sở nguồn vốn chủ động từ các ngân hàng nhằm giúp nông dân tìm được sự an tâm trong sản xuất Áp dụng các giải pháp ứng dụng giảm thiểu hao phí trong thu hoạch cho từng sản phẩm cụ thể Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham