Sự xuất hiện đa dạng các trào lưutư tưởng cho thấy những tương tác đa dạng trong quá trình tiếp xúc với phương Tây.Tuy nhiên, một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ nhất tới triết học H
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO VŨ VŨ
TƯ TƯỞNG NHÂN BẢN TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG HÀN
QUỐC CUỐI THẾ KỶ 19 ĐẦU THẾ KỶ 20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO VŨ VŨ
TƯ TƯỞNG NHÂN BẢN TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG HÀN
QUỐC CUỐI THẾ KỶ 19 ĐẦU THẾ KỶ 20
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 92 29 001
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS LÊ THỊ LAN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 6
1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan tới bối cảnh Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 6
1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan tới tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 23
1.4 Những vấn đề nghiên cứu đặt ra 39
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN BẢN HÀN QUỐC CUỐI THẾ KỶ 19 ĐẦU THẾ KỶ 20 42
2.1 Bối cảnh xã hội Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 42
2.2 Tiền đề lý luận của tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 49
2.3 Về thuật ngữ “tư tưởng nhân bản” trong luận án 67
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ TƯ TƯỞNG NHÂN BẢN TIÊU BIỂU Ở HÀN QUỐC CUỐI THẾ KỶ 19 ĐẦU THẾ KỶ 20 72
3.1 Tư tưởng nhân bản của Choe Je U 72
3.2 Tư tưởng nhân bản của Ham Seok Heon 89
CHƯƠNG 4 ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG NHÂN BẢN HÀN QUỐC CUỐI THẾ KỶ 19 ĐẦU THẾ KỶ 20 110
4.1 Đặc điểm của tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 110
4.2 Giá trị và hạn chế của tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 113
4.3 Ý nghĩa của tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 120
KẾT LUẬN 131
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 136 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN.141
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người là một trong những vấn đề trọng tâm của các nền triết học Sự thayđổi trong cách hiểu về con người kéo theo sự thay đổi toàn bộ cách thức nhìn nhậncác vấn đề khác của con người Những câu hỏi và trả lời về con người vẫn thường làtiêu chí để phân định các thời kì triết học cho lịch sử mỗi nền triết học
Trong một thời gian dài, triết học Hàn Quốc chịu ảnh hưởng của triết họcTrung Quốc với ba hệ thống cơ bản là Nho, Phật, Lão, trong đó vấn đề con ngườicũng không là ngoại lệ Chỉ tới khi tiếp xúc với làn sóng phương Tây với tri thứckhoa học kĩ thuật và tôn giáo, cùng tác động của khủng hoảng và biến động trongnội tại xã hội Jo Seon, triết học Hàn Quốc mới buộc phải mở rộng và đứng trước bàitoán cởi mở thế giới tinh thần của chính mình Sự gặp gỡ, va chạm với phương Tâydiễn ra mạnh mẽ vào giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Trong quá trình đó, thếgiới quan tam giáo lung lay trước sự biến đổi của xã hội, bộc lộ hạn chế trong việcgiải thích thế giới cũng như thiết lập trật tự cho các mối quan hệ trong xã hội đangđược mở rộng và trở nên phức tạp hơn Đó cũng là thời kỳ tinh thần khoa học kỹthuật phương Tây và Ki tô giáo du nhập vào lịch sử tư tưởng triết học tam giáotruyền thống
Chính trong cuộc gặp gỡ đầy biến động và bạo lực này cùng những hệ quả của
nó mà việc định hình lại chính mình đã diễn ra trong tư tưởng triết học Hàn Quốc.Câu hỏi “ta là gì?” một lần nữa được các triết gia đặt ra trong quá trình suy tưởng vàphản tư trước thời cuộc để từ đó hình thành một diện mạo mới cho thế giới tinh thầncủa người Hàn Quốc Nghiên cứu chủ đề tư tưởng nhân bản của Hàn Quốc tronggiai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là để tìm câu trả lời cho câu hỏi trên, từ đógiúp ta hiểu thêm về thế giới tinh thần Hàn Quốc, cách người Hàn Quốc hiểu về tồntại người qua triết học của họ
Sự tiếp xúc với phương Tây của Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 vừa làquá trình tan rã thế giới quan mang tính đẳng cấp của văn hóa Nho giáo đi cùng vớiquá trình phản tư lại triết học truyền thống của dân tộc, vừa là quá trình “Tây hóa”
Trang 5của xã hội và tiếp nhận Ki tô giáo vào lịch sử tư tưởng triết học vốn có Hệ quả củaquá trình này là sự hình thành bốn trào lưu tư tưởng lớn: trào lưu Vệ chính xích tàđược giới trí thức Tính lý học triển khai, trào lưu Khai hóa của giới trí thức Tây họcmới, trào lưu tôn giáo bản địa của giới trí thức bình dân và trào lưu Ki tô giáo HànQuốc của giới trí thức thuộc hệ thống Ki tô giáo Sự xuất hiện đa dạng các trào lưu
tư tưởng cho thấy những tương tác đa dạng trong quá trình tiếp xúc với phương Tây.Tuy nhiên, một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ nhất tới triết học Hàn Quốcgiai đoạn này là ý niệm về tồn tại tuyệt đối đến từ Thiên Chúa giáo phương Tây.Trong bốn trào lưu tư tưởng, trào lưu tôn giáo bản địa mới và trào lưu Ki tô giáoHàn Quốc là hai trào lưu hình thành từ sự tác động của tư tưởng về tồn tại tuyệt đối.Nếu như trào lưu Vệ chính xích tà có thái độ bài trừ và phê phán, trào lưu Khai hóa
có thái độ tiếp nhận Thiên Chúa giáo vô điều kiện, thì hai trào lưu này có thái độdung thông và thu dụng ý niệm này Quá trình thu dụng và dung thông ý niệm vềtồn tại tuyệt đối đã giúp triết học Hàn Quốc hình thành nên quan niệm mới về thếgiới và con người, đây là điểm mấu chốt tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức vềthế giới quan và nhân sinh quan của triết học Hàn Quốc giai đoạn này Đó là việchình thành ý niệm về con người với tư cách là một sinh mệnh tinh thần và nhâncách sáng tạo lịch sử Do đó, khảo sát quá trình phản tư, xác lập lại chính mình vàtiếp biến ý niệm về tồn tại tuyệt đối trong hai trào lưu này giúp ta có cái nhìn rõ hơn
về quá trình hình thành ý niệm mới về con người hình thành trong giai đoạn này
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, triết học phương Tây hiện đạiphải đối mặt với sự xuất hiện con người đại chúng, nó là sự giải phóng con ngườikhỏi ràng buộc duy lý sau khi nó được giải phóng khỏi ràng buộc của Ki tô giáo [7].Trong khi đó, triết học phương Đông, trong đó có triết học Việt Nam, sau khi vachạm, tiếp xúc, tiếp nhận triết học và văn minh phương Tây cũng đã hình thành conngười cá thể, nhưng tính chất của mẫu hình này chưa thật đã định hình rõ nét Trongbối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và sự giao lưu và dịch chuyển conngười đầu thế kỷ 21, vấn đề con người một lần nữa cần phải được đặt ra Bởi với
Trang 6quá trình tìm và hiểu về thế giới tinh thần của các nước khác cũng giúp ích cho quátrình đưa ra mẫu hình con người Việt Nam trong bản thân triết học Việt Nam.Nghiên cứu kinh nghiệm của triết học Hàn Quốc qua các triết gia Hàn Quốc giaiđoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 vừa là nghiên cứu cần thiết để trang bị tri thứctriết học về đất nước và con người Hàn Quốc, vừa cung cấp tri thức để so sánh vớitriết học Việt Nam, vừa để trang bị thêm một kinh nghiệm tham khảo cho việc địnhhình mẫu hình con người Việt Nam trong thế kỷ 21.
Như vậy, (1) vấn đề bản thể người là một vấn đề trọng tâm của triết học; (2)sáng tạo tinh thần của triết học Hàn Quốc trong quá trình tiếp xúc với ý niệm về tồntại tuyệt đối qua Thiên Chúa giáo phương Tây giúp hình thành nên ý niệm mới vềthế giới và con người trong trào lưu tôn giáo mới và Ki tô giáo Hàn Quốc như thếnào; (3) nhu cầu nhận thức về con người ở cấp độ cá nhân trong bối cảnh toàn cầu
thế kỷ 21, là ba lý do để chúng tôi chọn Tư tưởng nhân bản trong lịch sử tư tưởng
Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 làm chủ đề nghiên cứu trong luận án này.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng nhân bản Hàn Quốccuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20; phân tích nội dung của một số tư tưởng nhân bản HànQuốc tiêu biểu trong giai đoạn này; nêu đặc điểm, đánh giá giá trị, hạn chế và ýnghĩa của tư tưởng nhân bản Hàn Quốc giai đoạn này
Theo đó, nhiệm vụ của luận án là:
- Làm rõ bản chất của bối cảnh chính trị, xã hội, tư tưởng Hàn Quốc cuối thế
kỷ 19 đầu thế kỷ 20 trong đó tư tưởng nhân bản được định hình
- Phân tích và luận giải nội dung tư tưởng nhân bản của một số nhà tư tưởngtrong trào lưu tôn giáo mới và Ki tô Hàn Quốc giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
- Khái quát đặc điểm, phân tích và làm rõ những giá trị, hạn chế, ý nghĩa của tưtưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Trang 73 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và cơ sở tư liệu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư tưởng nhân bản Hàn Quốc giai đoạncuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, thể hiện qua một số nhà tư tưởng tiêu biểu là Choe Je
U - đại diện cho trào lưu tôn giáo mới và Ham Seok Heon - đại diện cho trào lưu tưtưởng Ki tô Hàn Quốc
Phạm vi nghiên cứu của luận án là bốn trào lưu tư tưởng xuất hiện trong giaiđoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, cụ thể hơn nữa là trào lưu Vệ chính xích tà, tràolưu Khai hóa, trào lưu tôn giáo bản địa mới và trào lưu Ki tô Hàn Quốc
Cơ sở tư liệu của luận án là các công trình nghiên cứu của học giả Hàn Quốc
về lịch sử nói chung về giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, lịch sử tư tưởng triếthọc Hàn Quốc giai đoạn này; về hệ thống tư tưởng của các nhà tư tưởng tiêu biểu vàtrước tác của các nhà tư tưởng tiêu biểu giai đoạn này
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án sử dụng phương pháp luận của triết học Marx và các phương phápnghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp, quy nạp, khái quát hóa, lịch sử, thốngnhất giữa logic và lịch sử, văn hóa, thông diễn, v.v
5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án khảo sát bối cảnh thời đại, tiền đề ra đời của tư tưởng nhân bản HànQuốc và chứng minh đây là sự “chủ động đối mặt với khủng hoảng và thể
nghiệm cái mới” của người Hàn Quốc
- Luận án hệ thống và khái quát hóa tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ
19 đầu thế kỷ 20 theo ba phương diện: quan hệ với cái tuyệt đối / vô hình, quan hệvới tha nhân / xã hội, quan hệ với chính mình
- Luận án chỉ ra những nội dung cụ thể của tư tưởng nhân bản của hai nhà tưtưởng tiêu biểu cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là Choe Je U và Ham Seok Heon.Trong đó lần đầu tiên nhìn nhận tư tưởng Ki tô giáo của Ham Seok Heon theo mạchtiến trình lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc
- Luận án khái quát năm đặc điểm, nêu ra hai giá trị, phê phán hai hạn chế,luận giải hai ý nghĩa của tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Trang 8đối với lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc, một ý nghĩa lịch sử và một ý nghĩa hiệnthời của tư tưởng này.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Hệ thống hóa quan niệm về tồn tại người và nội dung tư tưởng nhân bản của một số nhà tư tưởng Hàn Quốc tiêu biểu cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
- Khái quát đặc điểm, làm rõ giá trị, hạn chế và ý nghĩa của tư tưởng nhân bảnHàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 trong lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc vàlịch sử Hàn Quốc
- Cung cấp hiểu biết chuyên sâu về triết học Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế
kỷ 20
- Đóng góp tri thức về triết học Hàn Quốc, phương pháp tư duy của người HànQuốc, về thế giới quan, nhân sinh quan và giá trị quan trong tư tưởng triết học HànQuốc
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho ngành Hàn Quốc học nói riêng, nghiên cứu triết học Hàn Quốc và triết học nói chung
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần Mở đầu, bốn chương nội dung, Kết luận, Danh mục các công trình đã công bố, Danh mục tài liệu tham khảo và Mục lục
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan tới bối cảnh Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
* Liên quan tới chính trị - ngoại giao Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Về tình hình chính trị Hàn Quốc giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 có:
Lịch sử Hàn Quốc (2005) của Ban biên soạn Giáo trình Hàn Quốc Học, Bài giảng
về lịch sử cận đại Hàn Quốc (2007) của Hội [nghiên cứu] lịch sử cận đại Hàn Quốc.
Các công trình này đã chỉ ra tiến trình diễn ra các sự kiện chính trong lịch sử cận đạiHàn Quốc Đó là những biến động của xã hội Jo Seon với các nội dung về nền chínhtrị bằng đảng, chính trị thế đạo, các phong trào nông dân cuối thế kỷ 19 Tiếp theo lànhững sự kiện như Điều ước Gang Hwa do (1876) đánh dấu mốc mở cửa cho nướcngoài xâm nhập; Nhâm ngọ quân loạn (1882) của Heung Seong Đại viện quân vàphái bảo thủ tiến hành để giành quyền kiểm soát quyền lực; Chính biến Giáp thân(1884) của những người chủ trương khai hóa và cải cách; Cách mạng nông dânĐông học năm 1894 Sau khi cách mạng nông dân Đông học bị dập tắt, hai thế lựcnước ngoài là nhà Thanh và Nhật Bản đụng độ với nhau trong cuộc chiến Thanh -Nhật cùng năm Nhà Thanh thất bại, Nhật Bản ám sát hoàng hậu Myong Seong đểchấm dứt sự ảnh hưởng của nhà Thanh tới Jo Seon Tháng 2/1896, vua Go Jongchạy sang Đại sứ quán Nga để tránh quân Nhật Bản Vua đổi tên nước thành ĐạiHàn đế quốc, kêu gọi Nga gửi quân tới Jo Seon Năm 1904, cuộc chiến Nga - Nhậttiếp tục nổ ra trên đất Jo Seon Nhật Bản tiếp tục giành thắng lợi và từng bước tiếnhành hợp bang với Hàn Quốc qua con đường ngoại giao Đến năm 1910, Hàn Quốcchính thức trở thành thuộc bang và chịu sự cai trị của đế quốc Nhật Bản Ngày1/3/1919, nổ ra phong trào biểu tình đòi độc lập trên toàn Jo Seon Phong trào nàythất bại Bước sang những năm 1920, đế quốc Nhật Bản gia tăng khai thác thuộcđịa, biến Jo Seon thành bàn đạp xâm nhập Đại lục Các phong trào xã hội phát triểnmạnh như phong trào báo chí và xuất bản cổ xúy cho tinh thần dân tộc và củng
Trang 10cố dân tộc tính Năm 1945, sau khi Nhật Bản thua trong thế chiến thứ 2, Hàn Quốcđược giải phóng.
Về quan hệ giữa Jo Seon và các nước phương Tây, các nước phương Tây và Jo
Seon trong giai đoạn này có các công trình: Phương Tây và Jo Seon - lịch sử đối
đầu của hai nền văn hóa lạ (1997) của Gang Je Eon; Tiếp nhận văn hóa phương Tây và cải cách cận đại (2004) của Viện nghiên cứu Quốc học, Đại học Yon Sei; Cuộc gặp với văn hóa phương Tây (2010) của Ủy ban biên soạn Quốc sử, Văn minh
và dã man - Jo Seon thế kỷ thứ 19 qua nhãn quan của tha nhân (2008) của Jo Hyon
Beom, v.v Quá trình Jo Seon tiếp xúc với phương Tây được các công trình trên
mô tả có thể đúc kết trong các từ khóa như: Tây học, Ki tô giáo và văn minh vậtchất phương Tây Trong giai đoạn này, mối quan hệ ban đầu là sự tiếp xúc của JoSeon với phương Tây qua sách về khoa học được các nhà Thực học mang về từ nhàThanh hồi thế kỷ 18, sau đó là sự phê phán, bài trừ Thiên Chúa giáo từ phía Nho sĩ
và chính quyền Jo Seon vào thế kỷ 19 [41] Sau khi mở cửa năm 1876, đặc biệt làsau khi tiến hành cải cách Giáp ngọ, việc tiếp nhận văn minh vật chất phương Tây,khoa học, lối sống, báo chí và đạo Tin lành diễn ra tích cực hơn [40] Các tư tưởngnhư tư tưởng Ki tô giáo, hệ thống vạn quốc công pháp, thuyết Tiến hóa xã hội, tưtưởng nhân quyền là những khía cạnh tư tưởng được tiếp nhận trong quá trình tiếpxúc với phương Tây [63]
Jo Seon trong con mắt của người phương Tây có thể được tổng kết qua các nộidung: chế độ chính trị bị lũng đoạn bởi tham ô, chính sách bế quan tỏa cảng, mê tín,lối tư duy chưa phân hóa, người dân có ý thức cộng đồng nhiều hơn châu Âu nhưngmất vệ sinh, lười biếng, thiếu tính chính xác, v.v , Jo Seon hiện ra là một nước bánkhai và cần phải được văn minh hóa trong mắt của các nhà truyền giáo ngườiphương Tây [78] Đặc biệt, về tôn giáo tại Jo Seon, các nhà truyền giáo nhận thấycác hình thức tôn giáo của người Hàn Quốc chủ yếu là tín ngưỡng dân gian như thờthần tự nhiên, Lên Đồng, cầu phúc, phong thủy, ma quỷ, v.v người Jo Seon được
mô tả là có thái độ dựa dẫm vào tồn tại siêu việt và xuất chúng hơn mình, tin vàoquan hệ tương thông giữa thần và người, muốn giải thoát tâm hồn khỏi đau khổ và
Trang 11phiền não [63, tr 224] Người phương Tây cũng đánh giá người Jo Seon là nhữngngười “tự trọng và thấp kém” [95, tr 141], họ cho rằng Jo Seon là nước của nhữngngười ở ẩn - tức là khá “đóng” về mặt văn hóa và bất lực trước nền chính trị bóc lộtdân chúng [95, tr 142] do thiếu năng lực tham gia vào chính trị [95, tr 143].
Trình bày về quan hệ giữa Jo Seon và Nhật Bản, Nhật Bản và Jo Seon có các
công trình: Thuyết tiến hóa xã hội và tư tưởng xã hội thực dân (2003) của Park Seong Jin, Biến chuyển khuôn thức tư duy (paradigm) của Đông Á thế kỷ 19 và đế
quốc Nhật Bản (2007) của Gang Sang Gyu; Nhận thức về ‘phương Đông’ của người Đông Á (2010) của Choe Won Sik, Paek Young Seo; Giáo trình Lịch sử Hàn Quốc cận hiện đại của Kim Kwang Nam chủ biên v.v Từ những năm cuối của thế
kỷ 19, Nhật Bản đã lấy nhiều cớ để tiến quân vào Jo Seon hay dùng nhiều thủ đoạnngoại giao để yêu cầu Jo Seon mở cửa Sau khi ép Jo Seon mở cửa, Nhật Bản dựavào các hiệp ước đã ký kết để cùng triều đình Jo Seon đàn áp các cuộc nổi dậy trênđất Jo Seon, tranh giành quyền kiểm soát Jo Seon với nhà Thanh, sau đó là với Nga.Vào giai đoạn sau đó, khi Nhật Bản chiếm Jo Seon (1910) và xây dựng cơ sở vậtchất cho quá trình xâm lược các nước khác, chính sách thống trị thực dân nhưthuyết ‘Nhật Tiên đồng hóa’ với nội dung về phương pháp đồng hóa được đăng
công khai trên tờ Nhật báo hàng ngày, các cuộc triển lãm thể hiện một Nhật Bản
vượt trội, nội dung về thuyết ‘Nội Tiên nhất thể’ và mâu thuẫn của nó được các nhànghiên cứu Hàn Quốc phân tích, phê phán và lên án khá chi tiết [58]
Cụ thể hơn về tình hình đô hộ của đế quốc Nhật Bản, Giáo trình Lịch sử Hàn
Quốc cận - hiện đại (Kim Kwang Nam chủ biên) chỉ ra các giai đoạn của quá trình
đô hộ: Giai đoạn thứ nhất (1910~1919),1 Nhật Bản tập trung vào xây dựng chính
1Giai đoạn cai trị thứ nhất (1910~1919): thực dân Nhật Bản xác lập cơ quan chính quyền thống trị là Tổng đốc phủ, xây dựng hệ thống hành chính, quân sự, trường học và tiến hành các hoạt động kinh tế Tổng đốc phủ Jo Seon thực thi các chính sách đàn áp, cấm lập hội chính trị, đóng cửa các tòa báo xuất bản bằng chữ Hangul, bắt học sinh mặc đồng phục kiểu Nhật Bản Về mặt kinh tế, thực dân Nhật Bản bắt đầu tổ chức lại thị trường lương thực và nguyên liệu nhằm độc chiếm và độc quyền thị trường, đồng thời cho xây dựng đường ray, cảng biển, đường xá và mạng thông tin phục vụ cho việc bòn rút thuộc địa Chúng cũng cho điều tra đất đai và cướp trắng ruộng của nông dân hay buộc nhiều công ty của người Hàn phải đóng cửa Những hành động này của chính quyền thực dân đã khiến cho người dân Jo Seon vô cùng khổ cực và kiệt quệ để rồi
Trang 12quyền thực dân, hệ thống hành chính, kinh tế, trường học Giai đoạn thứ hai(1920~1936) tập trung vào chính sách văn hóa;2 Giai đoạn thứ ba (1936~1945), đếquốc Nhật Bản huy động người Hàn Quốc vào cuộc chiến tại lục địa và đồng hóatinh thần.3 Theo các tác giả của 100 năm qua chúng ta đã sống ra sao tập 3, võ sĩ
đạo người Nhật có tên là Saiko là tác giả của thuyết Chinh Hàn xuất hiện năm 1873,sau đó được hai phái là phái dùng Vũ lực và phái dùng Văn trị tiếp tục áp dụng [95,
tr 126-127] Phái Văn trị chủ trương thành lập chính quyền khai hóa thân Nhật, xâydựng hệ thống cơ sở vật chất bóc lột kinh tế trong khi đó phái Vũ lực chủ trươngdùng chiến tranh, ám sát hay bạo động để xâm lược Cuộc chiến Nga - Nhật nổ ratrên đất Jo Seon do phái Vũ lực gây ra, dẫn tới việc hợp nhất Jo Seon vào Nhật Bảnnăm 1910 Luận thuyết trong chủ trương xâm lược Hàn Quốc của Nhật Bản dựa trênhai thuyết, thứ nhất là thuyết ‘Thoát Á luận’ với nội dung văn minh hóa Nhật Bản vàxâm lược châu Á như các nước phương Tây, thứ hai là thuyết ‘Hưng Á luận’ vớiquan điểm phải đoàn kế những nước châu Á có cùng văn hóa, trong đó Nhật Bản làmãnh chủ đánh đuổi phương Tây và làm cho châu Á trở nên phú cường Sau khi đãchiếm Jo Seon, Nhật Bản thống trị bằng chính sách mở rộng lãnh thổ với hai mụcđích là bóc lột kinh tế trên danh nghĩa xây dựng đường sắt, cảng biển, khai khẩn, xâydựng quân đội [95, tr 131] và chính sách văn hóa như nêu cao chủ nghĩa
2Giai đoạn thứ hai (1920~1936) là giai đoạn Nhật Bản tiến hành chính sách văn hóa chủ yếu bằng các hoạt động mua chuộc, nuôi dưỡng phái thân Nhật với các nội dung cụ thể: 1- Lấy người trung thành tuyệt đối với Nhật Bản làm quản lý; 2- Lựa chọn những nhân vật ‘thân Nhật’ dám hi sinh tính mạng để trà trộn vào giới quý tộc, lưỡng ban, Nho sinh, các nhà tiểu tư sản, nhà giáo dục hay giáo chủ để chuyển hướng tổ chức thành
tổ chức thân Nhật; 3- Biến giáo chủ của các tổ chức tôn giáo thành người thân Nhật và đặt các cố vấn người Nhật vào tổ chức; 4- Tài trợ cho người thân Nhật và giáo dục “tài năng” cho giới trí thức thân Nhật; 5- Bày sinh kế cho giới lưỡng ban thất nghiệp bằng cách cho họ vào đội tuyên truyền hay đội do thám; 6- Lấy vốn Nhật Bản “giúp đỡ”, mua chuộc các tiểu tư sản Jo Seon để lôi kéo họ chống lại nông dân và người lao động
Jo Seon; 7- Thành lập các tổ chức thân Nhật trên toàn quốc để kiểm soát hoạt động của nông dân Jo Seon.
3Giai đoạn thứ ba (1936~1945) bắt đầu từ khi Nhật Bản chủ trương xâm lược Đại lục Jo Seon bị biến thành căn cứ địa tham chiến Năm 1936, ngay sau khi nhậm chức Tổng đốc phủ, Tổng đốc Minami đã ban bố Lệnh kiểm soát công nghiệp, lấy phát triển công nghiệp quân đội làm trọng tâm cho kinh tế chiến tranh Công nghiệp nặng và công nghiệp hóa học, hạ tầng giao thông, thông tin được đầu tư xây dựng Lệnh giam cầm dự
bị và lệnh bảo hộ tội phạm chính trị người Jo Seon được ban bố cùng với các hoạt động lùng sục và đàn áp phong trào đấu tranh tư tưởng của người Hàn Quốc Chính sách đồng hóa học sinh Jo Seon với các khẩu hiệu như “Nội Tiên nhất thể”, “Hoàng quốc đồng dân”, giáo dục sai lạc lịch sử, địa lý Hàn Quốc, giải tán các học hội của người Hàn Quốc, bắt người Hàn Quốc thực hiện các nghi lễ Thần đạo theo tín ngưỡng của Nhật Bản Thực dân Nhật Bản bắt thanh niên Hàn Quốc làm binh lính tham chiến, tổ chức các đội lao động “bảo quốc”
để ép người Hàn Quốc lao động trong xưởng sản xuất vũ khí và quân bị Chúng tuyển chọn phụ nữ, thành lập đội “Úy an phụ” trong quân đội để mua vui cho binh lính Nhật Bản Phải đến khi thua cuộc trong Thế chiến thứ hai và hứng chịu hai quả bom nguyên tử, Nhật Bản mới chấm dứt dã tâm đế quốc của mình và Hàn Quốc
Trang 13châu Á trong lực lượng lục quân với những luận điệu như ‘đồng văn đồng tổ’ hay
‘môi hở răng lạnh’, nhấn mạnh tới việc đề cao tính mệnh và lợi ích trước hết [95, tr.132] Chính sách đồng hóa về mặt tinh thần cũng đồng thời được thực dân Nhật Bảntuyên truyền trên đất Jo Seon, đặc biệt là từ sau chiến tranh Trung - Nhật năm 1937:
từ việc triệt để xóa bỏ ý thức dân tộc, văn hóa dân tộc, họ tên, ngôn ngữ và lịch sử,cho tới việc nhấn mạnh dân tộc Hàn Quốc và dân tộc Nhật Bản là một, việc NhậtBản hóa Hàn Quốc là một ân huệ đặc biệt của Thiên Hoàng để cứu tế dân tộc Hàn[95, tr 133-134]
Sự khác nhau trong nhận thức về phương Đông thời cận đại của Nhật Bản,Trung Quốc, Hàn Quốc do hai tác giả Choe Won Sik và Pek Young Seo khảo cứu,cho thấy những phản ứng khác nhau về vấn đề cải cách để từ đó hình thành quanniệm về Đông Á khác nhau của mỗi nước Cụ thể, với Nhật Bản - nước đã khai hóathành công thì quan niệm về Đông Á chuyển từ ‘khu vực lạc hậu’ sang ‘Đông Ásánh ngang với phương Tây’, nhất là sau khi giành chiến thắng trong cuộc chiếnNga - Nhật Quan điểm này sau đó chuyển thành quan điểm ‘Đông Á là một’, NhậtBản khẳng định vị trí vượt trội của chính mình, rồi chuyển dần sang mâu thuẫn ‘hôvang khẩu hiệu độc lập cho châu Á, cộng đồng hợp tác châu Á nhưng lại xâm chiếm
và đô hộ Hàn Quốc’ [80, tr 17-20] Trung Quốc vốn nhận thức phương Đông nhưkhu vực có mình làm trung tâm, nhưng sau khi nhận thấy dã tâm của Nhật Bản,Trung Quốc chủ trương chủ nghĩa Tân châu Á với nội dung giải phóng các dân tộcnhược tiểu bị áp bức và phương pháp là thành lập một liên bang Á Châu để tham giacác diễn đàn thế giới, nơi có sự tham gia của các đoàn thể khu vực khác [80, tr 20-22] Với Hàn Quốc, sau khi nhận thấy trật tự địa chính trị Đông Á có Trung Quốc làtrung tâm sụp đổ, Hàn Quốc đã công nhận Nhật Bản là mãnh chủ của châu
Á Nhưng sau khi Nhật Bản hiện thực hóa ý đồ trở thành nước bảo trợ, các phongtrào đấu tranh tại Hàn Quốc rẽ sang hai hướng Một là đi theo chủ nghĩa dân tộc vàphát triển tư tưởng xây dựng đất nước dân tộc độc lập, tự cường Hai là hướng thuầntúy phê phán Nhật Bản là kẻ đã phá vỡ liên minh Đông Á Vào thời kỳ bị đế
quốc Nhật Bản đô hộ, trào lưu tìm lại đặc trưng của văn hóa châu Á phát triển cùng
Trang 14với quá trình phê phán, bài trừ những điểm khác biệt của văn hóa châu Á với vănhóa phương Tây Một trào lưu khác là phát hiện lại phương Đông để xác định sứcmạnh dân tộc trong bối cảnh mới của lịch sử [80, tr 23-26].
* Liên quan tới tình hình xã hội Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Các công trình nghiên cứu về tình hình xã hội Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu
thế kỷ 20 có thể kể ra đây: Một trăm năm qua chúng ta đã sống ra sao tập 1 & 2 (2008) của Hội nghiên cứu lịch sử Hàn Quốc; Cuộc gặp với văn hóa phương Tây (2010) của Ủy ban biên soạn Quốc sử; Văn minh và dã man - Jo Seon thế kỷ thứ 19
qua nhãn quan của tha nhân (2008) của Jo Hyon Beom; Bài giảng về lịch sử cận đại Hàn Quốc (2007) của Hội [nghiên cứu] lịch sử cận đại Hàn Quốc; Tranh luận cận đại Hàn Quốc và cận đại hóa thực dân (2012) của Jeong Yeon Tae.
Giai đoạn cuối thế kỷ 19, xã hội Hàn Quốc được khắc họa là một xã hội chìmđắm trong bệnh tật, hạn hán mất mùa, dân trí thấp, đời sống vệ sinh bất cập, tâm lý
mê tín dị đoan lan tràn Hạn hán năm 1877, mất mùa những năm 1882, 1885, 1888,
1892, 1893 Công trình 100 năm qua chúng ta đã sống ra sao tập 1 cho biết hiện
trạng bệnh tật, dân trí thấp và mê tín dị đoan trong xã hội qua ghi nhận về dịch tả:
“Căn bệnh truyền nhiễm xuất hiện nhiều nhất trên bán đảo Hàn vào thời điểm đầuthế kỷ 19 là bệnh tả Bệnh này chính thức được phát hiện lần đầu vào năm 1821, sau
đó 3~4 năm thì truyền vào Jo Seon và là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 5% dân
số Jo Seon lúc bấy giờ Người Jo Seon khi đó cho rằng có một con ma chuột chuivào người mình khiến họ bị mắc bệnh tả Thế nên người ta đã lấy hay vẽ những bứchình của mèo - kẻ thù không đội trời chung của chuột, rồi dán lên trước cửa nhà làmbùa xóa tà ma” [93, tr 33-34]
Sau khi nhận thấy xu thế tất yếu cần mở cửa để chủ động thay đổi hệ thốngcho phù hợp với thời đại cũng như nhận thấy sức uy hiếp của dân chúng sau cuộccách mạng nông dân Đông học, triều đình Jo Seon đã tiến hành cải cách Giáp Ngọ4
4Cuộc cải cách 3 đợt, kéo dài từ 1894 ~ 1896, được tiến hành trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội Về
Trang 15để chấn chỉnh đất nước và củng cố lại vương quyền Đô thị hóa, xây dựng cơ sở hạtầng như hệ thống điện, giao thông, thông tin, hệ thống giáo dục, báo chí được triểnkhai nhanh chóng Sự thay đổi trong nhận thức về văn minh cận đại của người HànQuốc còn khiến cho người phương Tây ngạc nhiên Theo Jeong Yeon Tae, “Helbertthấy chính việc người Hàn Quốc tiếp cận với tiến bộ vật chất đã chấp nhận thay đổi
và tận dụng chúng một cách tự do là nguyên nhân chính thúc đẩy sự thay đổi NgườiHàn Quốc nhanh chóng nhận ra và sử dụng cái lợi của giao thông và thông tin, họcũng không ngần ngại công nhận tính hữu dụng của cả Ngân hàng đệ nhất Nhật Bản
và sử dụng hệ thống này Họ nhanh chóng nhận thức được giá trị của thương mạivới nước ngoài, họ cải tiến tình trạng sinh hoạt của mình bằng các sản phẩm nhậpkhẩu như may mặc, xăng dầu và diêm, thay vào đó, nhận thấy việc xuất khẩu ngũcốc sẽ làm tăng giá ngũ cốc, họ bắt tay vào khai khẩn, cải thiện hệ thống thủy lợi đểtăng việc sản xuất gạo” [75, tr 200] Nhận định này cho thấy chủ trương mở cửacủa triều đình Jo Seon và tâm lý đón nhận thời đại mới của người dân Jo Seon đãbắt đầu thay đổi diện mạo xã hội Jo Seon
Trong bối cảnh bị đế quốc đô hộ sau Điều ước hợp bang với Nhật Bản, cáchoạt động khải mông diễn ra sôi nổi trong lĩnh vực giáo dục và báo chí Từ đầunhững năm 1880, triều đình Jo Seon đã cử các đoàn thị sát tới Nhật Bản, TrungQuốc để học hỏi mô hình giáo dục ở hai nước này Năm 1883, trường học đầu tiêntheo lối giáo dục mới được thành lập ở Won San Đến Cải cách Giáp Ngọ thì hệthống giáo dục cận đại chính thức được phổ biến Đến năm 1909, trên cả Hàn Quốc
lý các vấn đề về chế độ, hành chính, tư pháp, giáo dục, xã hội ở trung ương và địa phương bằng hình thức trao đổi, thảo luận; chuyển hình thức Lục tào thành Bát a môn, phân định quan chế của trung ương thành hai
cơ quan riêng là Nghị chính phủ và Cung nội phủ Đây là những cơ quan mới, độc lập giải quyết các vấn đề của đất nước Niên hiệu được chuyển tên thành Khai quốc kỉ nguyên Đến lần thứ hai, Nghị chính phủ được chuyển tên thành Nội các, tám a môn chuyển thành bảy bộ, niên hiệu một lần nữa được đổi tên thành Kiến dương Sau sự kiện sát hại hoàng hậu Myong Seong (1895), dưới sức ép của Nhật Bản, Go Jong tiến hành cải cách lần thứ ba, mà cơ bản là thiết lập chính phủ nội các với các nhân sự thân Nhật.
Trong cải cách Giáp Ngọ do nhà nước Đại Hàn đế quốc tiến hành này, tiền tệđược thống nhất, thuế được chuyển thành hình thức nộp tiền thay cho vật phẩm như trước kia, nhà nước tiến hành đổi tiền được làm bằng bạc sang tiền giấy tại các ngân hàng, các hình thức đo đạc cũng được quy định thống nhất trên toàn Đại Hàn Chế độ mua bán nô dịch, chế độ đẳng cấp và khoa cử được phế bỏ, thay vào đó là hệ thống trường học Nhiều
hủ tục (như tảo hôn, cấm tái giá) được phế bỏ hay điều chỉnh Đến lần cải cách thứ ba, thái độ mở cửa và tích cực tiếp nhận văn minh, vật chất phương Tây thể hiện rõ như việc ban bố lệnh cắt tóc ngắn, sử dụng Tây lịch,
mở trường tiểu học, thiết lập hệ thống bưu điện
Trang 16đã hình thành 2.250 trường học tư với quy mô lớn nhỏ khác nhau [93, tr 46-47].Mục tiêu tập trung vào phát triển con người dân tộc với nội dung giáo dục chủ yếu
là để khai minh, phú cường và phát triển con người kiêm bị trí dục, đức dục, thể dục
và cổ xúy cho tình yêu nước, khôi phục lại quốc quyền đang lung lay trước thế lựcnước ngoài Trong nền giáo dục do đế quốc Nhật Bản kiểm soát, người Jo Seon chỉhọc chương trình phổ thông và nghề nghiệp chứ không được học tới bậc đại học.Mục tiêu của nền giáo dục này là biến người Jo Seon thành những quốc dân trungthành của Hoàng quốc Nhật Bản, dần xóa đi cảm thức dân tộc và chuẩn bị tinh thầnchiến đấu để sẵn sàng trở thành quân nhân của Nhật Bản Theo Hội nghiên cứu lịch
sử Hàn Quốc, “bất chấp sự gia tăng nền giáo dục Hoàng dân hóa, người Jo Seon vẫnrất nhiệt tình với giáo dục [ ] Bởi nền giáo dục vốn chỉ tập trung vào tầng lớp tinhhoa đã mở rộng ra tầng lớp người Jo Seon có thân phận thấp kém trong xã hội [ ]Nhiệt huyết với giáo dục vẫn duy trì trong cảnh bị thực dân thống trị với cấu trúc ápbức là bởi giáo dục là cách duy nhất để người Jo Seon vươn lên cảnh bị dịch chuyển
xã hội và chuyển đổi thân phận” [93, tr 50-51]
Trong giai đoạn từ 1896 là năm tờ báo Độc lập số đầu tiên được xuất bản, tới
năm 1910 khi chủ quyền Jo Seon bị thực dân Nhật Bản tước đoạt, đã có khoảng 20
tờ báo các loại được ấn hành, mặc dù phần lớn các báo này không tồn tại lâu dài dothiếu kinh phí hoạt động Số lượng tạp chí cũng là khoảng 50 tờ Báo chí được inlẫn cả tiếng Hán và tiếng Hangul, nội dung chủ yếu liên quan tới việc khai môngdân chúng, cổ xúy cho tinh thần cứu quốc, độc lập dân tộc, xây dựng quốc dân cótinh thần tự do, bình đẳng Tên báo, tạp chí cùng các cơ quan và học hội phát hành
đa dạng, cho thấy hoạt động báo chí diễn ra sôi nổi: Nguyệt báo của Học hội Đại
Hàn tự cường, Nguyệt báo của Học hội Đại Hàn, Học báo vùng Ho Nam, Nguyệt báo của Học hội vùng Tây Bắc, Nguyệt báo của Học hội Gi Ho hưng học là báo của
các tổ chức ở các thành phố hay địa phương Các tạp chí: Nữ giới chỉ nam, Hội phụ
nữ từ thiện là của các tổ chức phụ nữ; Học báo Thái cực, Học báo Hội du học sinh Đại Hàn, Nguyệt báo Học hội Đại Hàn, Báo Đại Hàn hưng học là đầu báo do các tổ
chức du học sinh tại Nhật Bản phát hành [88, tr 305] Các tổ chức tôn giáo cũng
tham gia hoạt động xuất bản: Báo Vạn tuế của Thiên đạo giáo, Thánh thư Jo Seon
Trang 17là tờ báo của giới trí thức Ki tô giáo du học từ Nhật Bản về, Báo Hội thánh Jesus,
Ki tô tân báo, Giáo hội chỉ nam, Tân dân, Tân nữ giới, Tân gia đình, Thanh niên, Đời sống nông dân, v.v là báo và tạp chí của các tổ chức thuộc cộng đồng Ki tô
Hàn Quốc xuất bản [90, tr 309-332]
Sách lịch sử, sách ngữ văn cũng được tập trung biên soạn và xuất bản làm sáchgiáo khoa trong nỗ lực tiếp nối tri thức truyền thống, cùng với việc tiếp nhận các trithức khoa học từ phương Tây, cổ xúy tinh thần dân tộc, khai sáng người dân và pháttriển đời sống sinh hoạt văn hóa mới Có một số công trình điển hình về ngữ văn
như: Văn phạm quốc ngữ Đại Hàn (1906), Âm học văn điển quốc ngữ (1908), Đại
cương quốc văn (1909), Văn phạm quốc ngữ (1910), Bài giảng về cách đánh chữ Jo Seon (1920), Cách dùng đúng chữ Hangul (1936), v.v Một số cuốn sách về lịch sử
Hàn Quốc cũng đã ra đời như: Hàn Quốc thông sử của Park Eun Sik, Lịch sử Hàn
Quốc nhìn từ ý Chúa của Ham Seok Heon, v.v các cuốn sử này vừa phải khắc
phục quan điểm lịch sử phong kiến lấy vương triều làm trung tâm, đồng thời thểnghiệm lịch sử quan mới dưới sự kiểm duyệt nghiêm ngặt của thực dân Nhật Bản,
* Liên quan tới tình hình tôn giáo Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Một số công trình nghiên cứu về tôn giáo Hàn Quốc giai đoạn này có: Một
trăm năm qua chúng ta đã sống ra sao tập 1 (2008) của Hội nghiên cứu lịch sử Hàn
Quốc; Phong trào tôn giáo Hàn Quốc (2006) của Noh Gil Myong; Lịch sử Ki tô
giáo tập 2 (2012) của Hội lịch sử Ki tô giáo Hàn Quốc; Tự chủ tiếp nhận Ki tô giáo phương Tây - Ryu Yeong Mo, Kim Gyo Shin, Ham Seok Heon (2004) do Park
Gyong Mi chủ biên; Ki tô giáo trong lịch sử quan hệ Hàn - Nhật cận đại (2009) của
Yang Hyun Hae
Tình hình tôn giáo Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 qua tổng hợp cáccông trình trên có thể được đúc kết trong các từ khóa: sự trỗi dậy của các tín ngưỡngdân gian, tôn giáo bản địa mới, Thiên Chúa giáo - Tin lành
Theo Noh Gil Myong trong Các phong trào tôn giáo Jo Seon, từ nửa sau
vương triều Jo Seon, hệ thống xã hội phong kiến đã bắt đầu thay đổi [47, tr 23-26],
Trang 18chức năng thống nhất xã hội của hệ giá trị Nho giáo ngày một suy yếu Mâu thuẫn
và phân biệt trong xã hội vốn tồn tại trong hệ thống vương triều Jo Seon dần trở nêngay gắt và bộc lộ ra ngoài xã hội Những phản ứng đối phó với khủng hoảng giá trị
xã hội thể hiện ở ba dạng thức: thứ nhất là phản ứng của giới trí thức là tầng lớp tinhhoa của xã hội với phong trào Thực học và phong trào Bảo Nho Thứ hai là phảnứng của người dân với phong trào tôn giáo dân chúng, ở đây tác giả đề cập tới tínngưỡng Thiên Chúa giáo và các tôn giáo bản địa Thứ ba là phản ứng của giới
cầm quyền trong xã hội Jo Seon với phong trào Vệ chính xích tà (衛正斥邪) [47, tr.27-29]
Noh Gil Myong cho rằng các hình thức tôn giáo có mục đích cứu rỗi con ngườikhỏi mâu thuẫn và bất công trong xã hội hiện thực, khỏi đau khổ và tội ác để hướngtới một thế giới lý tưởng nơi con người được bình đẳng, hòa bình và sung sướng.Theo đó, trong bối cảnh các giá trị của Tính lý học Jo Seon không còn đóng vai trògiữ gìn trật tự và gắn kết xã hội, tư tưởng về Di lặc và Sấm vĩ5 là hai tư tưởng phổbiến kể từ đầu thế kỷ 19, nó phản ánh khát vọng phá bỏ cái cũ, mưu cầu trật tự xãhội mới và mong muốn xuất hiện thánh nhân hay anh hùng cứu thế Hai tư tưởngnày cũng tác động tới sự ra đời của tôn giáo mới hay tín ngưỡng dân gian ở ý tưởng
về thế giới Long hoa, Địa thượng thiên quốc hay thế giới Hậu thiên, v.v với việcnhấn mạnh rằng thế giới ấy sẽ được thực hiện trên đất Jo Seon [47, tr 58] Noh GilMyong kết luận về giai đoạn này: “Vào hậu kỳ Jo Seon, với dân chúng [ ] cần mộtkhải thị mang tính tận thế và tiên tri, có cách lý giải đơn giản và rõ ràng, vừa tố cáo
sự chấm dứt của trật tự vốn có đã lỗi thời, vừa báo hiệu một thế giới mới đang tới,cứu rỗi họ khỏi sự áp bức và khuất phục, hỗn loạn và đau khổ” [47, tr 60]
5Tư tưởng Di lặc: Tư tưởng khải thị của Phật giáo dựa vào cuốn Kinh Di lặc tam bộ, cho rằng đệ tử của
Thích Ca Mâu Ni là Di Lặc sẽ thành Phật sau 5, 67 tỉ năm, sau khi phật Thích ca nhập tịch Phật Di Lặc từ thế giới Đạo thuật giáng hạ, thuyết giáo ba lần dưới cây Long Hoa (龍華樹)để cứu chúng sinh khỏi bể khổ
Tư tưởng Sấm vĩ (秘訣):Bí quyết là từ để chỉ những phương pháp bí mật không được phổ biến rộng rãi như
bí dược (秘藥), bí yếu (秘要) nhưng thường được hiểu là các bí quyết đắc đạo chỉ dạy cách trở thành thần
Trang 19Nếu như trong dân gian xuất hiện không khí mê tín thì cùng với sự chủ độngtiếp nhận Thiên Chúa giáo phương Tây, các cộng đồng tín ngưỡng Ki tô đã hìnhthành xuất phát nhu cầu tự thân của người Jo Seon [47, tr 63] Các phong tràoThiên Chúa giáo thời kỳ đầu hồi thế kỷ 17-XVIII tập trung vào việc biên dịch vàhọc tập các sách dịch từ tiếng Trung Quốc để tìm hiểu khoa học kỹ thuật và tưtưởng tôn giáo Đến năm 1784, [với nỗ lực của nhân vật Kwang Am Lee Byok]Giáo hội Jo Seon thành lập không với bất cứ sự tác động hay giúp đỡ nào từ phíacác nhà truyền giáo phương Tây, cho thấy sự chủ động tiếp nhận Ki tô giáo củangười Jo Seon như một nhu cầu tự thân Các phong trào sử dụng báo chí cũng pháttriển mạnh trong cộng đồng Ki tô hữu Trải qua khoảng 100 năm bị bức hại, Ki tôgiáo Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 chuyển từ hình thức báo chí sang phong trào tôn giáochống phong kiến với các nội dung đề cao tự do tôn giáo, tính bình đẳng và tônnghiêm của tồn tại người theo hướng thoát tục, lai thế, hơn là theo hướng đấu tranhtại thế [47, tr 85-87].
Đến cuối thế kỷ 19, cùng với việc mở cửa, kí kết các hiệp định thông thươngvới nước ngoài và cho phép truyền giáo vào những năm 1880, đạo Tin lành du nhậpvào Jo Seon trong bối cảnh dễ dàng hơn so với Thiên Chúa giáo trước đây Xã hội
Jo Seon tích cực tiếp nhận Ki tô giáo hơn, hoạt động của các nhà truyền giáo cũngmạnh mẽ hơn rất nhiều Noh Gil Myong tổng kết: “động cơ của phần lớn trí thứctham giao vào phong trào Tin lành thời kỳ đầu là vấn đề khai hóa và độc lập mà dântộc đang phải đối mặt, hơn là tính tôn giáo thuần túy Nhưng [ ] lại đối lập vớichính sách của các nhà truyền giáo Nhu cầu cải đạo của họ mang tính chính trị, dântộc, kinh tế, xã hội và văn hóa trong khi của các nhà truyền giáo lại là tính linh, tínhlai thế, phân tách chính giáo, theo chủ nghĩa Phúc âm và chủ nghĩa cứng nhắc Theo
đó không thể không dẫn tới va chạm và mâu thuẫn” [47, tr 119] Kết quả dẫn tớihiện tượng bài xích các nhà truyền giáo nước ngoài, việc các trí thức hướng về dântộc tách khỏi Giáo hội và hình thành các phái khác nhau trong Giáo hội, thành: phái
dị đoan Thần học, phái chống lại các nhà truyền giáo rồi phái chủ trương quyền lựcGiáo hội, phái theo chủ nghĩa phi Giáo hội, phái theo chủ nghĩa thần bí, phái yêu
Trang 20nước hoang tưởng, v.v trong nội bộ Giáo hội Hàn Quốc [47, tr 123] Mặc dù vậy,các trí thức có đức tin Ki tô hướng về dân tộc sau những năm 1920 đã phát triển cácphong trào giáo dục, thể dục thể thao, kinh doanh, xuất bản, văn hóa, phát triểnnông thôn và tiếp tục hoạt động khai hóa xã hội.
Kể từ năm 1920, đế quốc Nhật Bản đưa ra luận điệu ‘Nội Tiên nhất thể’ nhấnmạnh: “dân tộc Hàn Quốc và dân tộc Nhật Bản là một phần trong dân tộc Nhật Bản,
có chung vận mệnh chứ không phải là đối tượng giải phóng, nên cùng với dân tộcNhật Bản trở thành chủ thể giải phóng tất cả các dân tộc châu Á khác khỏi sự áp bứccủa chủ nghĩa đế quốc phương Tây” [89, tr 250] Với ý đồ trên, Nhật Bản đã thihành chính sách hòa hữu với Ki tô giáo Hàn Quốc, yêu cầu sự hợp tác và kết hợp với
Ki tô giáo Nhật Bản, đồng thời bài trừ ảnh hưởng của các nhà truyền giáo phươngTây Bởi xét về logic, luận điệu “cộng đồng chung vận mệnh” để hợp nhất dân tộcNhật Bản và dân tộc Hàn Quốc với nhau là luận điệu xuất phát từ Ki tô giáo, do đó
nó dễ dàng được cộng đồng Ki tô giáo tiếp nhận hơn cả Nhật Bản còn áp dụngchính sách phải hành lễ thờ Thần đạo trong các trường học - trong đó có trường họccủa các nhà truyền giáo và lấy đó làm cớ để bài trừ các nhà truyền giáo phương Tây
ra khỏi hệ thống giáo dục Đến năm 1940, những nhà truyền giáo người nước ngoàitrong hệ thống y tế và giáo dục cũng là đối tượng bị trục xuất Đồng thời với quátrình đó là các chính sách thống trị và ép buộc Giáo hội Hàn Quốc, tiếp đó thu nhậncác lãnh đạo Giáo đoàn Ki tô Hàn Quốc có ý thân Nhật thông qua luận điệu ‘tôngiáo vệ quốc’ để thúc đẩy sự tham gia và hợp tác với Nhật Bản [89, tr 253-257]
Sự biến chất của Ki tô giáo Hàn Quốc bắt đầu bằng thái độ ủng hộ cho cuộcchiến mà Nhật Bản tiến hành ở lục địa Năm 1937, khi cuộc chiến Trung - Nhậtđang diễn ra, đế quốc Nhật Bản đã dùng nhiều cách lôi kéo người Hàn Quốc và các
tổ chức tôn giáo Hàn Quốc vào cuộc, theo tinh thần ‘Nội Tiên nhất thể’ “Trong một
bộ phận Hội Trưởng lão đã quyết định mở ‘Hội cầu nguyện và thuyết giáo về thờicuộc’ tại nhà thờ Seung Dong để nhận thức lại chủ trương ‘Nội Tiên nhất thể’ vàcầu nguyện vào các buổi sáng cho sự toàn thắng của Nhật Bản” [89, tr 270] Dần
Trang 21dần không khí hợp tác với Nhật Bản của Giáo hội ngày một rõ, cụ thể là việc tổchức các ‘liên minh nhà thờ’ từ phía Giáo hội Hàn Quốc và Ủy ban Thường trịtrung ương của Nhật Bản, hay hợp nhất và biến các tổ chức của Giáo hội Hàn Quốcthành tổ chức cấp dưới của Nhật Bản Hội Lịch sử Ki tô giáo Hàn Quốc nhận định:
“từ sau năm 1938, các tổ chức Ki tô giáo phần lớn đều có tính chất ‘phò trợ’ đếquốc Nhật dẫu mức độ là khác nhau” [89, tr 276]
Tuy nhiên, trong nội bộ Ki tô giáo cũng nảy sinh xu thế xây dựng Ki tô giáoHàn Quốc, thoát khỏi ảnh hưởng của phương Tây cũng như không thỏa hiệp vớichính quyền thực dân Trong lĩnh vực tư tưởng triết học, ba nhân vật điển hình đãxây dựng nền móng cho Ki tô giáo dân tộc trong thế kỷ 20 được các nhà nghiên cứu
Ki tô giáo Hàn Quốc lựa chọn là Ryu Young Mo, Kim Gyo Shin và Ham SeokHeon [50] Họ đều là những người sống trọn trong thế kỷ 20 Trong ba người nàythì Ryu Yong Mo phát triển Ki tô giáo theo hướng đa nguyên khi ông tích hợp Ki tôgiáo với các tư tưởng truyền thống khác nhằm thống nhất các tôn giáo qua ý niệm
về vị thần độc nhất ban sinh mệnh vĩnh cửu cho con người Kim Gyo Shin là người
lập nên tạp chí Thánh kinh Jo Seon, chủ trương chủ nghĩa phi nhà thờ trong Ki tô
giáo Hàn Quốc Còn Ham Seok Heon là người tiếp nhận lịch sử quan của Ki tô giáo
để từ đó giải nghĩa cho những khó khăn mà dân tộc Hàn đang phải đối mặt qua cuốn
sách về lịch sử Hàn Quốc có tên là Lịch sử Hàn Quốc nhìn từ ý Chúa Ông hình
thành nên một lịch sử quan độc đáo trong quá trình kết hợp nhãn quan Ki tô giáovào phân tích lịch sử của dân tộc Hàn, từ đó tích hợp tư tưởng Ki tô giáo vào lịch sử
tư tưởng triết học Hàn Quốc
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 còn xuất hiện một dạng thức tôn giáo mới là cáctôn giáo mới nội sinh của Hàn Quốc Các tôn giáo nội sinh mới này bắt đầu từ Đônghọc (東學) của Choe Je U năm 1860, sau đó hình thành nhiều tổ chức tôn giáo khác,
có tổ chức còn tồn tại tới ngày nay Các tôn giáo này đều có đặc điểm chung là xuấtphát từ trải nghiệm tôn giáo nhập thần và tư tưởng Cách thế Các phong trào tôngiáo nội sinh mới xuất hiện vào giai đoạn này có Đông học của Choe Je U, Jeung
Trang 22San giáo (甑山敎) thành lập 1902 năm của Gang Il Sun (1871-1909), Đại tông giáo(大琮敎) của Na Cheol (1863-1916) thành lập năm 1909, Giác thế đạo (覺世道)thành lập năm 1915 của Lee Seon Pyong (1882-1956), Phật giáo Viên (圓佛敎)thành lập năm 1916 của Park Jung Bin (1891-1943), Canh định Nho đạo (更定儒道)thành lập năm 1928 của Gang Dae Seong (1889-1954), Vật pháp giới (勿法系)
thành lập năm 1943 của Kim Bong Nam (1898-1950), v.v [47, tr 138] Noh GilMyong cho rằng trục tư tưởng chính của các tôn giáo mới này là tư tưởng Khai tịchvới những nội dung về Tiên thiên, Hậu thiên và tư tưởng chủ thể dân tộc với quanniệm tuyển dân (選民) và lập trường kế thừa văn hóa dân tộc [47, tr 151-156] Vớiđặc trưng là tôn giáo dân tộc, các tổ chức này tiến hành các hoạt động đa dạng, từviệc thành lập các cộng đồng sinh hoạt, học tập, cải tạo xã hội, hoạt động giáo dục,báo chí, v.v cho tới các hoạt động vũ trang (Cách mạng nông dân Đông học năm
1894, hoạt động của Đại tông giáo thành lập năm 1909) hay thị uy biểu tình đòi độclập (Phong trào ngày 1/3/1919) hay tham gia hoạt động chính trị như Thiên Đạogiáo Chính vì thế, kể từ khi trở thành thuộc địa của Nhật Bản, các tôn giáo này bịthực dân Nhật Bản quy là tôn giáo phi pháp hoặc bị các trí thức mới phê phán là mêtín dị đoan trong không khí khai hóa theo văn minh phương Tây [95, tr 205-218].Trong việc luận giải về tính chất của bối cảnh Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế
kỷ 20, không thể không nhắc tới phân tích của các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởngtriết học Hàn Quốc giai đoạn này Hai công trình điển hình nhất cho nghiên cứu lịch
sử tư tưởng triết học Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là Lịch sử tư tưởng cận
đại Hàn Quốc của Park Jeong Sim và Luận về lịch sử triết học hiện đại Hàn Quốc Đứt đoạn với thế giới và ý niệm Tự do của Lee Gyu Seong.
-Trong công trình Lịch sử tư tưởng cận đại Hàn Quốc, tác giả Park Jeong Sim
phân chia thời kỳ cận đại của Hàn Quốc từ năm 1876 đến năm 1945 thành ba giaiđoạn: Giai đoạn 1876~1894 - thời kì mở cảng với trào lưu tư tưởng Vệ chính xích tà,
Trang 23tư tưởng Khai hóa, tư tưởng Đông học và phong trào nổi dậy của nhân dân; giaiđoạn 1894~1910 - thời kì tự cường với các xu hướng khôi phục lại quyền lực quốcgia bằng việc tiếp nhận chủ nghĩa Darwin về xã hội, thuyết tự cường theo logic đấutranh sinh tồn, trào lưu phục hưng cựu học (Nho học) với hướng khám phá tồn tạingười qua việc luận giải quan hệ giữa Tâm và Thân, chủ trương khôi phục văn minhNho học qua thuyết Chân ngã hay ‘Jo Seon chân chính’ Giai đoạn thứ ba là giaiđoạn thực dân từ 1910~1945 - với các luận thuyết liên quan tới ý niệm Dân tộc.
Park Jeong Sim đặt vấn đề triết học thời đại trong ba nội dung là khắc phục văn
minh mang tính bạo lực từ phương Tây, xác lập dân tộc tính và nhận thức về chính mình từ con mắt tha nhân Tác giả cho rằng ba từ khóa miêu tả bài toán của lịch sử
tư tưởng Hàn Quốc giai đoạn này là Văn minh, Dân tộc và Chủ thể Cụ thể: (1) Hàn
Quốc tiếp nhận ý niệm về ‘văn minh’ nhưng lại từ một phương Tây bạo lực nên tưtưởng triết học Hàn Quốc giai đoạn này phải giải quyết được vấn đề ‘cái văn minhđích thực là gì?’; (2) xác lập tính dân tộc trong bối cảnh bị thực dân Nhật Bản đô hộđồng thời xác nhận vị trí ‘dân tộc Hàn Quốc’ trong cộng đồng thế giới; (3) nhìn lạichính mình - ý niệm về chủ thể hay ý thức phản tư về chính mình trong bối cảnh bịtha nhân hóa [đồng nhất với Nhật Bản] hay bị áp đặt tiêu chuẩn ‘văn minh hơn’ từnhãn quan phương Tây [53]
Tương tự như vậy, công trình Luận về lịch sử triết học hiện đại Hàn Quốc
-Đứt đoạn với thế giới và ý niệm Tự do của tác giả Lee Guy Seong luận về tư tưởng
triết học hiện đại Hàn Quốc qua ý niệm Tự do, có thể nói là công trình tiếp nối côngtrình trên của Park Jeong Shim, cả về mặt lịch đại cũng như về mặt phương pháptiếp cận lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc Tác giả Lee Guy Seong nêu ra vấn đề
phải giải quyết của triết học Hàn Quốc hiện đại trong hai từ khóa là Cái tự do và
Cái hiện thực Trong công trình này, bối cảnh xã hội được tiếp cận qua hai từ khóa
này Tác giả cho rằng nhận thức về tự do của các giai tầng trong xã hội Jo Seon xuất
phát từ sự bất lực và thất bại của tầng lớp nắm thực quyền trong công cuộc cận đạihóa và sự lung lay của họ trước các thế lực nước ngoài đang cố gắng gây ảnh hưởng
lên vùng bán đảo Cái hiện thực mà tác giả Lee Guy Seong nói tới chính là cái ác
Trang 24hay tính bạo lực trong thế giới rộng mở mà người Jo Seon đang trải nghiệm, là tìnhtrạng nô lệ về mặt tinh thần của cộng đồng thế giới Do đó, tác giả này cho rằng, đặctrưng của triết học hiện đại Hàn Quốc - nền tảng được các triết gia Hàn Quốc giaiđoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 xác lập, đồng thời là bài toán cần giải cho triếthọc Hàn Quốc hiện nay, là: “Ngày nay, bài toán về cách hiểu và giải quyết vấn đề
về nhân tính nội tại và vấn đề xã hội ngoại tại vẫn còn đó Hiểu một cách thống nhấtcác vấn đề nội - ngoại và giải quyết bằng thực tiễn là để khắc phục sự phân rã vàyếu thế trong quan hệ giữa thế giới và con người, giữa con người với con người,giữa con người với chính bản thân nó [ ] Sự hòa giải đích thực giữa thế giới vàcon người cùng quan hệ liên đới bình đẳng giữa con người với con người là nộidung bản chất của ý niệm tự do Đấy là cái ẩn giấu không trông thấy Nhưng chínhbằng nỗ lực giành lấy tự do mới thúc đẩy ta xây dựng một đời sống mới Cái có khảnăng [thực hiện] là cái mang tính hiện thực” [66, tr 32-33]
Như vậy, qua tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan tới bối cảnh HànQuốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, chúng tôi thấy rằng, bối cảnh Hàn Quốc cuối thế
kỷ 19 đầu thế kỷ 20 nói chung là bối cảnh khủng hoảng và vận động thể nghiệm cáimới Khủng hoảng xảy ra trong tình hình chính trị, là biểu hiện đỉnh điểm của xuhướng đối đầu, phân chia bè phái trong nội chính Jo Seon Nó kéo theo sự phá sảncủa hệ thống chính trị, sự lệ thuộc vào thế lực nước ngoài và cuối cùng là đánh mấtchủ quyền dân tộc Khủng hoảng trong xã hội thể hiện ra là sự tan rã của trật tự luân
lý đạo đức xã hội cũ, sự nghèo nàn, lạc hậu và bần cùng trong đời sống sinh hoạtcủa người dân Jo Seon Nhưng cũng trong khủng hoảng, khi xét tới lĩnh vực xã hội,
ta lại thấy một sự vận động tự thân trong việc đón nhận thời đại mới và thể nghiệmcái mới trong sự tiếp xúc với nước ngoài Sự vận động ấy trước hết xuất phát từ việctìm đường mưu sinh của người dân trong bối cảnh xã hội hỗn loạn, tiếp nữa là sựthâm nhập bất khả tránh của người nước ngoài và Nhật Bản vào Jo Seon Tâm thếthể nghiệm ở đây xuất phát từ bối cảnh thiếu thốn tri thức về thế giới, bởi người JoSeon nhận ra thế giới rộng lớn hơn rất nhiều so với trước đây, nó đòi hỏi một sự tìmtòi và học hỏi từ tha nhân Sự vô minh về thế giới chính là yếu tố quy định nên thái
Trang 25độ chủ động tiếp nhận theo hướng thể nghiệm và thực hiện cái mới của Hàn Quốcđầu thế kỷ 20.
Nhận định này khác với nhận định của các nhà nghiên cứu tư tưởng triết họcHàn Quốc giai đoạn này Park Jeong Sim đặt vấn đề thời đại của triết học Hàn Quốccuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là văn minh đích thực, tính dân tộc và phản tư từ conmắt tha nhân Nhưng cách đặt vấn đề này thực chất chưa luận giải được việc xác lậpdân tộc tính trong các tôn giáo mới, sự chủ động tổ chức cộng đồng, cải biến đờisống xã hội mà các tôn giáo này tiến hành khi đã nhận thức được khủng hoảng củachính mình và chủ động khắc phục khủng hoảng bằng việc khơi ra sức mạnh nội lựccủa bản thân Cách đặt vấn đề này cũng chưa giải thích được tính tự chủ trong việcTây hóa một cách chủ động của Hàn Quốc, đặc biệt là qua sự tiếp nhận Ki tô giáocủa Hàn Quốc đầu thế kỷ 20 Với nhận định về bối cảnh thời đại của Lee GuySeong, tác giả luận án cho rằng, đúng là sự rộng mở của thế giới, sự phá sản của chế
độ đẳng cấp đã cởi trói cho tinh thần Hàn Quốc vốn bị lệ thuộc vào thế giới tinhthần có Trung Quốc làm trung tâm và chế độ xã hội do Tính lý học thiết lập Đúng
là thế giới rộng mở ấy là một hiện thực mang tính bạo lực và chứa đầy cái ác để tinhthần Hàn Quốc phải khắc phục bằng những phương thức hòa giải giữa thế giới vàcon người Theo đó, việc tiếp nhận Ki tô giáo tích cực, lấy phương Tây làm hìnhmẫu để khai hóa là có thể giải thích được Nhưng trong giai đoạn thực dân Nhật Bản
đô hộ, Ki tô giáo được coi là tôn giáo hợp pháp Nó cũng có những biểu hiện ủng hộthực dân Nhật Bản và phản bội lại dân tộc Nhìn từ khía cạnh này, việc coi bối cảnhHàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là tự do và hiện thực bạo lực sẽ không nhìn
ra những nhà tư tưởng Ki tô vì dân tộc, không phản bội lại dân tộc Nói cách khác,tinh thần Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 quả là phải đối mặt với một hiệnthực bạo lực, nhưng không hẳn nó đã tự do Bởi trong rất nhiều phản ứng tư tưởnggiai đoạn này, có phản ứng chủ động đối mặt với khủng hoảng của chính mình vàđồng thời chủ động thể nghiệm cái mới
Trang 261.2 Các công trình nghiên cứu liên quan tới tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
* Liên quan tới tư tưởng nhân bản Hàn Quốc đến nửa đầu thế kỷ 19
Có thể điểm danh một số công trình về lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc
như sau: Lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc (1997) của Hội nghiên cứu lịch sử triết học Hàn Quốc; Lịch sử triết học Hàn Quốc (1999) của Kim Seung Dong; Tài
liệu và giải nghĩa - Tư tưởng triết học Hàn Quốc (2004) của Viện nghiên cứu văn
hóa dân tộc, Đại học Goryo; Lịch sử triết học Hàn Quốc - Mâu thuẫn và dung hợp
của tư tưởng ngoại lai và tư tưởng bản địa (2011) của Lee Jong U; Dẫn nhập lịch
sử tư tưởng Hàn Quốc (2011) của Kim Seong Beom chủ biên, v.v Các công trình
này đều đưa ra các dòng tư tưởng lớn trong lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc gồm
Tư tưởng bản địa, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, các dòng tư tưởng trong Nho giáonhư Tính lý học, Dương Minh học, Thực học, tiếp đó là các trào lưu tư tưởng triếthọc thời cận đại như tư tưởng Vệ chính xích tà, tư tưởng Khai hóa, tư tưởng Khaiminh ái quốc, tư tưởng tôn giáo dân tộc
Trong các công trình này, một số công trình có bàn tới triết học ‘Hàn’ - cái bảnthể trong triết học Hàn Quốc, xuyên suốt lịch sử tư tưởng triết học các thời kỳ Cụthể:
Kim Seung Dong trong Lịch sử triết học Hàn Quốc(1999) cho rằng Hàn Quốc
có nền tảng tư duy triết học trước khi có sự du nhập của các tư tưởng ngoại lai Quakhảo cứu văn bản, ông nhận thấy tư tưởng vốn có của Hàn Quốc gắn với tín ngưỡng
về Thiên, ý niệm về Thiên được dung hợp với các tư tưởng ngoại lai khác và khoáclên mình nhiều khái niệm khác nhau Kim Seung Dong đặt tên cho tư tưởng vốn cónày là tư tưởng Hàn (韓) và xác lập hệ thống tư tưởng Hàn Quốc với ba nội dung:bản thể luận Nhất nguyên với các nội dung liên quan tới Trời, Thiên, Nhất, Đại;nhận thức luận với phương thức tư duy bất nhị, không phân cực và trực quan thầnbí; giá trị quan đặt tiêu chuẩn giá trị của hành vi con người vào cái Một lớn Nói
Trang 27cách khác, tư tưởng Hàn này chính là triết học thống nhất thành một trục tương thíchgiữa thế giới quan và nhân sinh quan (nhận thức luận, giá trị luận) [44, tr 48-51].
Theo Kim Seung Dong, ý niệm về Thiên chính là cái bản thể của lịch sử tưtưởng triết học Hàn Quốc qua các thời kỳ Ông cho rằng từ thời thượng cổ dân tộcHàn đã có tư tưởng về Thiên, từ đó hình thành nên nguyên lý tồn tại người đồngthời coi đó là cội nguồn của vạn vật và nhận thức Nói cách khác, ý niệm về Thiên
là căn cứ cho ý niệm về con người trong triết học ‘Hàn’ Từ thời đá cũ cho tới thờiđại kim khí, tín ngưỡng về Thiên này chỉ thần mặt Trời, tới thời ba bộ tộc Tam Hàn,qua các nghi lễ tế Thiên, thái độ kính Thiên của người Hàn vẫn được tiếp nối vàothời bấy giờ Thiên khi đó được gọi là Ha nal, Ha nul, Ha neul, tức là Trời Tới thờiTam quốc, bắt đầu có sự du nhập của Tam giáo, Ha neul được đồng nhất với Thiên
đế, Thượng đế hay Thiên Thiên được gọi với nhiều tên khác nữa như Phong lưu
-âm phát ra là ‘buru’, gần với chữ ‘burk’ - gắn với màu đỏ của mặt trời, rồi các chữ
‘kan’ hay ‘han’ thì mang nghĩa ‘to’, ‘cao’, ‘một’, dùng để chỉ các thủ lĩnh hay vuacủa một nước Thời Goryo, nhiều hình thức khác nhau về ý niệm Ha neu nim nhưChủ tể (主宰), Vận mệnh (運命), Nhiếp lý (攝理), Đạo đức (道德), hay âm dương ngũhành (陰陽五行的) được phát triển, làm phong phú thêm nghĩa cho khái niệm này
Dẫn chứng về mặt văn bản được Kim Seung Dong phát hiện trong Thập huấn điều
của Thái tổ Wang Geon từ ‘Thiên linh’ chỉ Thần thái dương - vị thần mang lại ánhsáng, nhiệt độ và ánh hào quang là Trời Tới thời Jo Seon, quan niệm về Thiêntruyền thống của Hàn Quốc mang nặng dấu ấn Nho giáo do chính sách bài xích Đạo
và Phật Thiên được biến dụng thành các nghĩa như Thiên mang tính vận mệnh chủthể của Khổng tử, Thiên mang tính nghĩa lý của Mạnh tử, mang tính chất âm dươngngũ hành của khái niệm Thiên trong quan niệm của Đổng Trọng Thư và Thiên vớinghĩa là nguyên lý trong Trình Chu học [44, tr 19-23]
Một công trình khác bàn về lịch sử của cái bản thể từ khía cạnh tôn giáo là
công trình của tác giả Lee Gyong Won có tiêu đề Tư tưởng tôn giáo của Hàn Quốc
- Lật lại vấn đề thực tại cùng cực Trong công trình này, tác giả cho rằng tư tưởng
tôn giáo về bản chất là tư tưởng thể hiện tâm lý hướng tới cái vô hạn của con người,
Trang 28là năng lực đặc biệt, khác với con vật - chỉ có con người mới là tồn tại mang tínhtôn giáo.Chủ đề triết học tương ứng là quan niệm về Thực tại cùng cực [62, tr 7- 8].Theo tác giả, trong thế giới tinh thần của người Hàn Quốc, tính bản sắc của triết họcHàn Quốc có trong khái niệm ‘Hàn’ với nhiều ý nghĩa khác nhau, ngày nay đượcgọi là Ha na nim và vẫn thường được hiểu là ‘Một’ (trong tiếng Hàn, Ha na là Một).
Từ khía cạnh triết học là nhất nguyên luận, từ thần luận là tính thần nhân bất ly,nhấn mạnh tới tính chủ thể của con người với tinh thần đề cao tồn tại người có LinhNhục hợp nhất [62, tr 20] Trong công trình này, tác giả đã khảo sát và đưa ra
những khái niệm được dùng để chỉ Thực tại cùng cực trong lịch sử tư tưởng triết
học Hàn Quốc Cụ thể như sau:
Trong phần về Phật giáo Hàn Quốc, tác giả đưa ra ý niệm Tâm thể (心體) của
sư Won Hyo và sư Ji Nul: “Tâm không chỉ đơn thuần là tác động của tinh thần màđiểm đặc biệt của nó là, nó là cái bản thể của thế giới, nên là Tâm thể Với conngười thì nó là một thực thể có thể dấy lên sự sáng tạo đạo đức còn với thế giới, nó
là đại chủ tể siêu việt” [62, tr 35]
Trong phần về Nho giáo Hàn Quốc, tác giả đưa ra hai thuật ngữ là Thiên (天)
và Thái cực (太極) để chỉ ý niệm về Thực tại cùng cực Theo tác giả, Thiên vốnđược phân tích với nhiều ý nghĩa như Thiên nhân cách, Thiên định mệnh, Thiên lýpháp mang tính hình nhi thượng nhưng tựu chung có hai nghĩa: Thiên là đối tượngcủa tín ngưỡng và Thiên là lý pháp chỉ nguyên lý của vũ trụ [62, tr 127] Ý niệm vềThiên trong Nho giáo qua kinh điển được tác giả tổng hợp trong một số nội dung:Thiên là tồn tại chủ quản Mệnh, là tồn tại gốc của giá trị; tồn tại chủ tể hiện tượng tựnhiên và thưởng phạt [62, tr 149-154] Thái cực trong Nho học chính là ý niệm về
Lý với nghĩa là nguyên lý
Cụ thể hơn, tác giả đưa ra kiến giải về khái niệm này trong tư tưởng Chủ Khícủa Hwa Dam với nghĩa là ‘cái bản thể của thế giới thái hư, không thanh nhưng khảthính, không mùi nhưng khả khướu’ và nhấn mạnh tới tính chỉ thị của Lý với Khí -cái được chỉ thị - với tính tự động và tự giác [62, tr 168] Khái niệm Lý trong tư
Trang 29tưởng Chủ Lý của Toe Gye được phân tích là tồn tại siêu vượt và không nội tạitrong sự vật, mang tính năng phát và năng sinh, là tồn tại ra lệnh cho vật [62, tr.171] Ý niệm về quan hệ giữa Lý và Khí trong tư tưởng của Yul Gok được tác giảluận giải là quan hệ tổng thể và quan hệ toàn thể, nhấn mạnh sự bất khả phân vàdiệu hợp của cả hai trong việc sinh thành vạn vật [62, tr 173-174].
Trong phần về học phái Thực học Hàn Quốc, tác giả cho rằng tư tưởng ThiênNhân tương cảm là chiều kích của tính tôn giáo trong Nho giáo Tác giả Lee GyongWon đưa ra dẫn chứng là nhân vật Mi Su Hoe Mok (1595-1682) với quan niệm vềThiên với những nội dung: Thiên là tồn tại khởi nguồn của phán đoán về giá trịhướng tới cái Thiện Thiên nhân cách hiện diện thông qua việc cảnh tỉnh, giám sáthành vi của con người Con người có quan hệ với Thiên qua năng lực cảm ứng, đó
là quan hệ chủ thể tác động và ứng đáp thông qua hành vi của con người Phươngtiện cảm ứng giữa con người và Thiên là Quỷ thần với nghĩa là sự tác động của Khívận Sự tác động thông thường của quỷ thần là dấu hiệu cho thấy con người đanghành Thiện một cách đúng đắn [62, tr 194-202] Tác giả dẫn ra một nhà tư tưởngkhác có cùng quan điểm Thiên nhân cảm ứng là Paek Ho Yun Huy (1617-1680).Ông cũng có quan điểm coi Thiên là tồn tại mang tính tự nhiên Vũ trụ, con người
và sự vật đều chịu sự chăm sóc và chủ tể cũng như ý chí của Thiên Sự cảm ứnggiữa con người và Thiên dựa vào tiền đề cho rằng con người là cái Tâm của Thiênđịa, là nơi quỷ thần tụ họp Sự cảm thông giữa con người và Thiên được hiển hiệnthông qua họa và phúc mà con người hưởng, ngược lại con người cũng có thể cảmứng được Thiên qua Khí hóa [62, tr 207-215] Khái niệm Thiên trong tư tưởng củaSeong Ho Lee Ik là khái niệm chỉ tính Lý pháp (quy luật) và nhân cách
Bước sang thế kỷ 18, tư tưởng về Thiên được tiếp nối trong tư tưởng Thực họccủa Da San Jeong Yak Yong (1762~1836) Thiên trong tư tưởng của Jeong YakYong là Thiên linh minh và chủ tể Thiên linh minh là Thiên mang tính vật lý với tưcách là hiện tượng tự nhiên, Thiên chủ tể là Thiên nhân cách có ý chí và chủ quảnthế giới này Jeong Yak Yong dùng từ ‘Thượng đế Thiên’ để chỉ đặc tính nhân cáchcủa Thiên - vị thần tối thượng có quyền uy, là đối tượng của nghi thức cầu tế mang
Trang 30tính tôn giáo Thượng đế Thiên là tồn tại cực cao lớn, là vị độc thần, có tính duynhất, siêu việt và linh minh [62, tr 244-245].
Thiên Chúa trong Thiên Chúa giáo Hàn Quốc được Lee Gyong Won khảo cứuqua tư tưởng Thiên Chúa của Kwang Am Lee Byok (1754-1789) Thiên trong tưtưởng của Kwang Am có một số nghĩa: thứ nhất, nó là ý niệm chỉ sự điều hòa tựnhiên và tồn tại Thiên Chúa; thứ hai, Thiên Chúa là cội nguồn của trật tự lý tính.Con người theo đó là tồn tại có linh hồn, hưởng cái phúc vĩnh cửu thông qua hệ giátrị được nội diên hóa trong tâm linh của chính nó, con đường hướng tới vĩnh phúc làtìm hiểu ý chí và sự tồn tại của Thiên Chúa trong linh hồn và bằng việc thực hiệnThánh đạo với tâm thế luôn chăm chỉ, phản tư về hành động của bản thân và biết sợcuộc sống sau cái chết [62, tr 298- 323]
Có thể nói rằng, công trình của Kim Seung Dong và Lee Gyong Won đã khảoluận khá đầy đủ và chi tiết ý niệm về Thiên trong triết học Hàn Quốc qua các trào lưu
tư tưởng trong lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc Qua các khảo luận này, ta nhậnthấy một sự liên tục trong việc phát triển ý niệm về Thiên, sự biến dụng của ý niệm nàysau quá trình tương tác với các hệ ý thức ngoại lai của nền triết học này Qua đây có thểthấy ý niệm về Thiên với tư cách là cái bản thể trong triết học Hàn Quốc, là một trụckhông thể thiếu trong việc định hình ý niệm về con người của triết học Hàn Quốc Vớitruyền thống ý niệm về Thiên nói trên, đến giai đoạn cuối thế kỷ 19, hẳn nhiên triết họcHàn Quốc không thể không có những phản ứng trong quá trình tiếp xúc với ý niệm vềThiên của phương Tây nói chung và Ki tô giáo nói riêng
* Liên quan tới tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Các công trình nghiên cứu liên quan tới tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế
kỷ 19 đầu thế kỷ 20 có: Lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc (1997) của Hội nghiên cứu lịch sử triết học Hàn Quốc; Lịch sử triết học Hàn Quốc (1999) của Kim Seung Dong, Tư tưởng tôn giáo của Hàn Quốc của Lee Gyong Won; Lịch sử tư tưởng cận
đại Hàn Quốc của Park Jeong Shim; Luận về lịch sử triết học hiện đại Hàn Quốc
Trang 31-Đứt đoạn với thế giới và ý niệm Tự do của Lee Gyu Seong, v.v Đây là những công
trình tổng hợp và khái quát tình hình tư tưởng triết học Hàn Quốc giai đoạn này.Các công trình tập trung vào phân tích sâu tư tưởng với các khái niệm triết học
trong tư tưởng triết học Hàn Quốc giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 có: Lịch
sử tư tưởng triết học Hàn Quốc (1997) của Hội nghiên cứu lịch sử triết học Hàn
Quốc; Lịch sử triết học Hàn Quốc (1999) của Kim Seung Dong; Phê phán dị đoan
trong Nho học Jo Seon (qua tác phẩm Dị học tập biện) của Bộ phận phát triển Quốc
học Hàn Quốc lên kế hoạch thực hiện (2016); Tâm học trong Tính lý học Hàn Quốc của Kim Sei Jeong; Tư tưởng tôn giáo của Hàn Quốc của Lee Gyong Won, v.v
Liên quan tới vấn đề bản thể người của trào lưu Vệ chính xích tà, công trình
Phê phán dị đoan trong Nho học Jo Seon (qua tác phẩm Dị học tập biện) và Tâm học trong Tính lý học Hàn Quốc là hai công trình tương đối công phu.
Trong công trình Phê phán dị đoan trong Nho học Jo Seon (qua tác phẩm Dị
học tập biện), các tác giả đi vào xác lập và luận giải nội dung ‘phê phán dị đoan,
khẳng định chính học’ là một truyền thống của dòng tư tưởng Nho giáo Đạo thống
là một chủ đề triết học mang tính siêu thời gian, lịch sử của vấn đề song hành cùng
sự phát triển của tư tưởng Nho học Mỗi thời kỳ phương thức phê phán cái dị đoan,bảo vệ cái đạo thống thể hiện thành những dạng thức khác nhau [70, tr 289] Cuốn
Dị học tập biện của Ryu Geon Hyu là tập sách tập hợp các luận biện phê phán, bài
xích các học phái khác, từ Đạo gia, Phật giáo Thiền, Dương minh học và sau này làTây học Việc phê phán Tây học - khởi nguồn lý luận của trào lưu Vệ chính xích tàtrong giai đoạn cuối thế kỷ 19 - bắt đầu từ khi Tây học được tiếp thu mạnh mẽ và cóđộng cơ phân biệt rõ ràng Thiên Chúa trong Thiên Chúa giáo với Thiên trong Chu
tử học.6 Đằng sau nó còn là động cơ bảo vệ địa vị học thuật của các học phái trongnội bộ giới lý luận Tính lý học Jo Seon
6Việc truyền bá Ki tô giáo vào Trung Quốc gặt hái nhiều thành công sau khi Matteo Ricci (1552-1610) cho
xuất bản cuốn Thiên Chúa thực nghĩa Trong cuốn sách này, Matteo Ricci đã luận giải Thiên Chúa chính là Thiên, Thượng đế xuất hiện trong các tác phẩm kinh điển của Nho gia như Thi kinh, Thư kinh.Theo đó, để
Trang 32Liên quan tới cái bản thể, qua những phê phán của Ryu Geon Hyu - tác giả của
cuốn Dị học tập biện, tác giả Kim Seon Hee đã đưa ra những luận giải và so sánh
khái niệm Thiên trong Nho giáo với khái niệm Thiên Chúa của các nhà Chu tử học
Jo Seon Khác biệt cơ bản trong luận giải về Thiên mà các nhà Chu tử học chỉ ra làtính tôn giáo của Thiên tại thế trong Thiên Chúa giáo Tức là, với tinh thần thực tế,các Nho sĩ không công nhận sự tồn tại của Thiên trong bản thân tồn tại người màThiên Chúa giáo nói tới Theo đó, các nhà Chu tử học giải thích ‘Thiên chủ tể tồntại’ trong Thiên Chúa giáo là ‘Thái cực’ hay ‘Lý pháp’, tức là sự vận động, biến đổi
và quy luật biến đổi của vạn vật, chứ không phải là một vị thần sinh ra và tồn tại nơicon người Thiên với nghĩa là ‘tính Linh’ trong Thiên Chúa giáo thì được họ luậngiải là Hồn và Phách của con người sau khi chết Nói cách khác, vấn đề linh hồn bất
tử của Thiên Chúa giáo được các nhà Chu tử học “hóa giải” thành vấn đề tế lễ, thờcúng sau khi chết [70, tr 297-314]
Liên quan tới vấn đề bản tính người trong học thuyết Nho giáo, công trình
Tâm học trong Tính lý học Hàn Quốc của Kim Sei Jeong đã tổng hợp tư tưởng của
các nhà Tính lý học Hàn Quốc về vấn đề Tâm học Tính lý học là học thuyết Tân
Nho học, trong đó cái thiên tính của con người được gói gọn trong khái niệm Tính.Tính là cái Lý trong tồn tại người hay là những quy luật vận động của vũ trụ trongcon người Sau khi Lục Cửu Uyên phát triển Tâm học và trở thành một nhánh độclập mới trong Nho học, chủ đề Tâm học được nhiều Nho sĩ tiếp tục suy tưởng, trong
đó Vương Dương Minh là đỉnh cao nhất Nhưng Tâm học Lục Vương vẫn bị nhiềuNho sĩ phê phán là ngoại đạo, không phải là Nho học chính thống vì chịu ảnh hưởngcủa đạo Lão và đạo Phật Hiện tượng này cũng diễn ra trong Tính lý học Jo Seon.Trong phần chương 7 của cuốn sách, tác giả Kim Sei Jeong đã cho thấy đặctrưng này trong tư tưởng của một Nho sĩ chủ trương Vệ chính xích tà là Gan JaeJeon U (1841-1922) Dựa vào phân tích các khái niệm căn bản trong tư tưởng Tâmhọc của Gan Jae, tác giả Kim Sei Jeong nhận thấy Gan Jae đặt Thiên - trong tương
Thiên Chúa giáo và Thiên trong Nho học để luận biện và bảo vệ đạo thống.Về sau, trong quá trình phê phán Tây học, các nhà Chu tử học Jo Seon dùng phương pháp chứng minh ngược lại, rằng Thiên Chúa của phương
Trang 33quan với Tâm - để phân định một học phái là dị đoan hay chính thống Theo đó, họcthuyết đặt Thiên làm cái bản thể mới là chính thống Thiên được hiểu là Thái cực, là
Lý, trong con người là Tính, chứ không phải là Tâm Bởi Tính là Lý còn Tâm đượchiểu là Khí Trong khi đó, Tính lý học vốn đặt quan hệ của Lý và Khí là quan hệ Lýchủ Khí - cái toàn thiện, bất động (Lý) chủ tể, điều khiển, quyết định cái biến đổi(Khí) Các học thuyết lấy Tính làm chính là Chính học còn học thuyết lấy Tâm làmchính là dị đoan [43, tr 315-326] Qua đây có thể thấy được lập trường bài ngoạicủa Tính lý học Jo Seon có căn cứ lý luận chắc chắn dựa trên luận đề Thiên Tính là
Lý, Lý chủ Khí, mọi sự biến đổi, xuống cấp, không chính đúng đều thuộc phạm trùKhí, do Nhân dục làm lu mờ Thiên lý Theo đó, mọi học thuyết khác, nằm ngoàilogic này đều bị quy là học thuyết dị đoan
Liên quan tới ý niệm về Thiên trong trào lưu tư tưởng tôn giáo mới có Lịch sử
tư tưởng triết học Hàn Quốc (1997) của Hội nghiên cứu lịch sử triết học Hàn Quốc
và Lịch sử triết học Hàn Quốc (1999) của Kim Seung Dong Hai công trình này đều
cho rằng, trong số các trào lưu tư tưởng triết học xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 đầuthế kỷ 20, tư tưởng Đông học của Choe Je U khởi đầu cho các trào lưu tôn giáo bảnđịa mới là tư tưởng tự phát sinh của Hàn Quốc, có ý thức cộng đồng dân tộc và kếthừa, phát huy phần hồn vốn có của dân tộc Hàn và đưa ra phương án giải phóngdân tộc khỏi khổ nan [97, tr 383] Tín ngưỡng Thiên và ý niệm về Thiên trong tưtưởng này đã khơi lại tư tưởng vốn có của Hàn Quốc với các mệnh đề như Sự nhânnhư Thiên (事人如天) hay Nhân nãi Thiên (人乃天) trong đó phổ dụng và hội dungnhiều tư tưởng khác nhau [44, tr 35] Kim Seung Dong cho rằng Thiên trong tưtưởng của Choe Je U là tư tưởng tôn giáo được phát hiện từ tín ngưỡng dân gian
“Đó là tồn tại toàn tri toàn năng và chân thành Ở điểm là tồn tại thành thật, cóthểgiúp đỡ con người, Thiên ấy mang tính nhân cách Đấy cũng là tồn tại tối cao,duy nhất ở điểm cai trị toàn bộ giới tự nhiên và thống trị mọi sinh mệnh” [44, tr.403-404]
Ý niệm về Thiên - thực tại vĩnh hằng - trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế
kỷ 20 được Lee Gyong Won tiếp tục khảo cứu trong công trình Tư tưởng tôn giáo
Trang 34của Hàn Quốc Tác giả này khảo sát ý niệm này qua tư tưởng của Choe Je U và
Jeung San Gan Il Sun Ý niệm về Thực tại vĩnh hằng trong tư tưởng của Choe Je U
có tên là Han ul rim Đây là một tồn tại mang tính nhân cách, chữ ‘Han ul’ chỉ tồntại tối cao và tuyệt đối, kết hợp với chữ ‘nim’ mang nghĩa ‘đấng’ để nhân cách hóatồn tại này Lee Gyong Won tổng kết ra năm đặc trưng của ý niệm Thiên trong tưtưởng của Choe Je U: Thứ nhất, Thiên mà Su Un chứng nghiệm là Chủ điều hòa, làHan ul nim được gọi là Thiên chủ với tư cách là tồn tại chủ tể tối cao Thiên chủkhiến cho mọi vật sinh thành và biến đổi theo một trật tự nhất định Thứ hai, Thiênmang tính thần bí, hiển hiện ở dạng chí khí và tiếp xúc với con người Thứ ba, conngười tu dưỡng bằng Thành, Kính, Tín và chú văn để tiếp xúc với Thiên Thứ tư,Thiên nhân cách trực tiếp đến gần với con người và lựa chọn Su Un để chuyển tải ýmình Thứ năm, trong quan hệ hợp nhất với Thiên, con người đạt được cảnh trí bìnhđẳng mang tính tôn giáo [62, tr 425-427]
Một nhà tư tưởng của hệ thống tôn giáo mới là Jeung San Gang Il Sun(1871~1909) cũng có ý niệm về Thần với tư cách là tồn tại giáng lâm Thượng đế làtồn tại chủ tể tối cao và có thể giáng thế thành con người để cùng tiến hành Thiênđịa công sự với quy mô toàn nhân loại Trong quan hệ giữa con người với Thần thì
ý nghĩa tồn tại của Thần là khuôn mẫu cho sự tồn tại của con người Thần đạo đượcGang Il Sun hình dung là trật tự và phép tắc mang tính thần bí, là nền tảng dựng lênlịch sử của con người và dẫn dắt lịch sử ấy theo hướng đúng đắn [62, tr 395-395].Với căn cứ đó, con người là chủ thể thực hiện giá trị của Thần trong đời sống củamình Nó là tồn tại thần nhân (神人) mang tính Thần và quyền năng trong tôn giáo.Thế giới của Thần và xã hội con người có quan hệ tương phản và tương hỗ Khẳngđịnh đây là thời đại nhân tôn - đề cao con người, Gang Il Sun cho rằng nếu trước kiađối tượng của tín ngưỡng là Thần, thì nay đã chuyển sang con người và công việc
mà trước kia Thần đảm nhận thì nay do con người đứng ra làm chủ thể thực hiện.Gang Il Sun cho rằng Thần và người có quan hệ tương cảm, tương tác, rằng hành vicủa con người có tác động tới thế giới của Thần Ông lý giải là tranh chấp của conngười dấy lên tranh chấp của Thần và kết quả của cuộc chiến trong thế giới Thần sẽ
Trang 35quyết định lịch sử của thế giới con người Lee Gyong Won tổng kết mấy đặc điểmtrong ý niệm về Thực tại vĩnh hằng của Gang Il Sun: Thứ nhất, Thần là tồn tại cóquyền năng (權化的), gần gũi với thế giới con người, giáng lâm để giúp đỡ conngười Lee Gyong Won cho rằng quyền năng của Thần trong tư tưởng của Gang IlSun xuất phát từ tư tưởng bồ tát cứu độ chúng sinh trong kinh Pháp hoa của Phậtgiáo Thứ hai, Thần là tồn tại trực tiếp và có thể thực hiện quyền năng mạnh mẽtrong hình dạng của con người Thứ ba, về phương pháp tu dưỡng, do Thần trực tiếp
hạ giáng xuống thân thể con người và thực hiện quyền năng tuyệt đối nên trước hếtcon người phải tin vào sự giáng thế của Thần, sau đó là sự phổ đức của Thần tronghình hài con người Thứ tư, là tính uy nghi của Thần Thượng đế là vị thần tối caotrong các hình hài khác của thần và tự do thực thi quyền năng của mình [62, tr 429-435]
Các công trình nghiên cứu về trào lưu tư tưởng Khai hóa và tư tưởng Ki tô
giáo Hàn Quốc có thể kể ra đây: Thuyết Tiến hóa xã hội và tư tưởng xã hội thực dân của Park Seong Jin; Tư tưởng chính trị và văn minh: Yu Gil Jun và Hàn Quốc thời
cận đại của Jeong Yong Hwa; Ki tô giáo trong lịch sử quan hệ Hàn - Nhật thời cận đại của Yang Hyun Hae; Triết học và tư tưởng của Ham Seok Heon của Park Je
Sun; v.v Tuy nhiên, các công trình này đều chưa khảo cứu tới ý niệm về Thiênhay vấn đề bản thể người
Qua các công trình trên có thể thấy rằng tư tưởng luận giải về cái bản thể đãđược các nhà tư tưởng Hàn Quốc bàn luận trong lịch sử và được tiếp tục phát triểntrong giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Tuy nhiên, điểm cần lưu ý trong giaiđoạn này là sự có mặt của Tây học với ý niệm về Thiên Chúa đã trở thành chất xúctác để Thiên với tư cách là nguồn gốc của con người và bản tính người trở thànhmối quan tâm về mặt học thuật cũng như thực tiễn Qua sự xuất hiện của ThiênChúa và các vấn đề đời sống xã hội, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc phát hiện ra rằng
ý niệm về Thiên này là hạt nhân trọng tâm quy định nên tính dân tộc của người HànQuốc Từ khía cạnh nghiên cứu triết học, ý niệm về Thiên về bản chất là cách nhìn
Trang 36nhận về thế giới, cách vận hành của thế giới hay chính là thế giới quan của ngườiHàn Quốc Nó cũng là yếu tố quy định nên cái bản tính của người Hàn Quốc.
1.3 Về giá trị, hạn chế và ý nghĩa liên quan tới tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
* Liên quan tới giá trị và hạn chế
Giá trị và hạn chế của tư tưởng Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đượccác nhà nghiên cứu Hàn Quốc đánh giá riêng biệt, theo từng trào lưu tư tưởng xuấthiện trong giai đoạn này, với tiêu chí là trào lưu tư tưởng đó đã giải quyết và chưagiải quyết được vấn đề gi mà thời đại đặc ra Cụ thể:
Về trào lưu tư tưởng Vệ chính xích tà (衛正斥邪), cuốn Lịch sử tư tưởng triết
học Hàn Quốc của Hội nghiên cứu lịch sử triết học Hàn Quốc cho rằng trào lưu này
đã nhận định đúng nguy cơ của việc mở cửa, đề cao ý thức tự cường dân tộc trongtương quan với phương Tây Tuy nhiên, trào lưu tư tưởng này chưa thoát khỏithuyết danh phận do thế giới quan Nho học quy định, chưa thoát khỏi chủ nghĩaHoa Di lấy Trung Quốc làm trung tâm Theo đó, trong xu thế đề cao quyền lợi cánhân và các nhu cầu - dục vọng của con người, tư tưởng lấy nền tảng đạo đức Nhogiáo vốn coi cơ thể con người là nguồn gốc của cái ác, coi đạo đức tiên thiên là yếu
tố quyết định, dẫn tới chủ trương bế quan tỏa cảng, củng cố quan điểm dưỡng dânđức trị, lại mang tính bảo thủ và có hạn chế [97, tr 343]
Về trào lưu Khai hóa (開化), Hội nghiên cứu lịch sử triết học Hàn Quốc chorằng lập trường phú quốc cường binh trên quan điểm độc lập tự chủ của các nhàKhai hóa là đúng đắn, quan điểm cần cải cách để khắc phục bệnh phế trong đời sống
xã hội cũ là phù hợp Nhưng có một số điểm hạn chế của trào lưu tư tưởng này là:Thứ nhất,trào lưu này đề cao tư tưởng công lý qua phương thức bài trừ tư tưởngnghĩa lý [trào lưu Vệ Chính xích tà], rồi dựa dẫm vào quan hệ đối ngoại với thế lựcnước ngoài là nhà Thanh và Nhật Bản, thực chất là một sự ‘tự hợp thức hóa bảnthân’, lấy mục đích biện minh cho phương tiện [97, tr 363]; thứ hai, thuyết Tam
Trang 37quốc công doanh [Trung Quốc, Nhật Bản, Jo Seon] của trào lưu này với nội dunghợp tácba nước Đông Á không hề lưu tâm tới chủ đích xâm lược của Nhật Bản; thứ
ba, chủ trương cải tổ dân tộc, khai hóa văn minh theo phương Tây có nguy cơ vàthực chất đã trở thành công cụ lý luận để chính đáng hóa, hợp thức hóa sự thống trịcủa thực dân Nhật Bản
Bước sang đầu thế kỷ 20, trào lưu Khai hóa chuyển thành trào lưu Khai minh
ái quốc, tập trung vào phát triển giáo dục, hưng nghiệp thông qua đại chúng hóatrường học, hoạt động báo chí và hoạt động kinh doanh Chủ trương khai minh áiquốc này được Hội nghiên cứu lịch sử triết học Hàn Quốc đánh giá là có giá trị cổxúy cho tinh thần và ý thức dân tộc, cận đại hóa đời sống sinh hoạt của nhân dân.Tuy nhiên, hạn chế của trào lưu này là (1) chỉ tập trung vào lĩnh vực văn hóa, không
có đối sách với hiện thực bị trị của Hàn Quốc, cũng như đường lối đấu tranh chốnglại chủ nghĩa đế quốc (2) Nhận thức về thế giới của các nhà tư tưởng Khai minh áiquốc chưa thoát khỏi thế giới quan Nho giáo (3) Họ chịu ảnh hưởng lớn của thuyếttiến hóa xã hội, do đó không mâu thuẫn với sự xâm lược của Nhật Bản [97, tr 382]
Park Jeong Sim trong cuốn Lịch sử tư tưởng cận đại Hàn Quốccũng có những
đánh giá tương tự về giá trị của trào lưu tư tưởng Vệ chính xích tà như của Hộinghiên cứu lịch sử triết học Hàn Quốc, nhưng về hạn chế cũng như giá trị của tràolưu tư tưởng này, tác giả đưa ra những luận giải chi tiết hơn Cụ thể, Park Jeong Simcho rằng trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc và quá trình xâm lược là không thể đảochiều thì chủ trương chống ngoại bang xâm lược của trào lưu Vệ chính xích tà lạimang tính tự chủ và tính chất của chủ nghĩa dân tộc Bên cạnh đó, nhìn từ khía cạnhĐạo học, tư tưởng Vệ chính là tư tưởng khẳng định nền văn hiến và lòng tự tôn dântộc Tuy nhiên, có hai điểm hạn chế của tư tương này, thứ nhất là chủ trương duy trìquyền lực vương triều [53, tr 85-86], thứ hai là thái độ bài ngoại và phản kháng vớitha nhân [53, tr 89]
Park Jeong Sim không bàn về giá trị của trào lưu tư tưởng Khai hóa cuối thế
kỷ 19 mà phê phán một số điểm hạn chế của trào lưu này: Thứ nhất, tác giả này cho
Trang 38rằng việc các nhà tư tưởng Khai hóa chủ trương phải giống với phương Tây đã tạo
ra tâm lý bài trừ, chối bỏ cái truyền thống, bởi càng chủ trương giống phương Tâycàng rơi vào cái bẫy của chủ nghĩa đế quốc Lí do là bởi văn minh cận đại phươngTây bao hàm cả tính văn minh và tính dã man trong nó Theo đó, các nhà tư tưởngKhai hóa đã không có cái nhìn phê phán với vấn đề khai hóa, sau đó là không có đốisách với sự xâm lược của Nhật Bản, thậm chí trở thành thế lực thân Nhật [53, tr.135]
Tác giả này đưa ra nhận định về giá trị của tư tưởng Tự cường là tư tưởng tiếpnối của trào lưu Khai hóa khi bước sang đầu thế kỷ 20 Park Jeong Sim chorằng,dựa trên nền tảng nhận diện tính dân tộc phi bạo lực trong tương quan khắcphục tính bạo lực của văn minh phương Tây và quan điểm tiến hóa xã hội với logic
“nhược dục cường thực”, “đấu tranh sinh tồn”, tư tưởng Tự cường đã chủ trươngkhôi phục lại Nho giáo Dương Minh học như một giải pháp mang tính tiến bộ hơn -tức là vừa mang tính đạo đức (qua khái niệm Lương tri linh minh của Park Eun Sik:năng lực phán đoán thị phi và hiện thực hóa cái đạo đức) [53, tr 282], vừa chủtrương văn minh hóa qua học tập Giá trị thứ hai của trào lưu tư tưởng Tự cườngtrong việc phát triển giáo dục và hoạt động báo chí là đã cổ xúy, đề cao và nuôidưỡng lòng tự hào, tự tôn dân tộc qua lịch sử, văn hóa của dân tộc Hàn
Tác giả cũng đưa ra một số điểm hạn chế của trào lưu tư tưởng Tự cường nhưsau: Thứ nhất là với các nhà tư tưởng Tự cường chấp nhận logic của thuyết Tiếnhóa xã hội, việc nhận diện dân tộc Hàn là kẻ yếu đứng trước kẻ mạnh (phương Tây,Nhật Bản) không thể tránh khỏi sự chi phối của tư tưởng coi cạnh tranh sinh tồn làlogic vận động cơ bản của thế giới Theo đó, mặc dù họ chủ trương cải cách (Cảicách Giáp Ngọ) nhưng lại không bài trừ thế lực Nhật Bản và có thái độ coi thườngsức mạnh của nhân dân, không cho rằng nhân dân là chủ thể chính trị có thể làmthay đổi xã hội trong khi cốt lõi tư tưởng là đề cao sinh mệnh, quyền tài sản và conngười cá nhân [53, tr 187]
Trang 39Về giá trị của trào lưu tôn giáo mới, Hội nghiên cứu lịch sử triết học Hàn Quốccho rằngtư tưởng Đông học trong trào lưu tôn giáo mới đã cổ xúy cho ý thức chủthể của dân tộc bằng việc tiếp nối mạch tư tưởng vốn có của Hàn Quốc.Các tôn giáobản địa mới đều mang tính nhân bản và bình đẳng, đề cao tính tôn nghiêm của tồntại người khi cho rằng thế giới hậu thiên là thế giới nhân tôn, nơi con người làm chủthiên địa Tư tưởng về khai tịch hậu thiên và giải oán tương sinh trong các tôn giáomới là hi vọng về một thế giới hòa bình và tương sinh trong bối cảnh hỗn loạn vàgiải thể về thế giới quan Theo đó, các tư tưởng này đều trở thành nguồn động lựcbất khuất trước chủ nghĩa đế quốc và trở lực để gánh vác ách áp bức và bóc lột củathực dân [97, tr 385].
Về hạn chế tư tưởng trong các tôn giáo mới,nhiều tác giả đưa ra ba điểm: Thứnhất là tính tôn giáo của các tư tưởng này chưa đưa ra một mô hình tổ chức hay chế
độ để từ đó thay đổi được cơ tầng xã hội [44, tr 128] Thứ hai là trào lưu tư tưởngnhân dân chưa hình thành tổ chức nên chưa thể xây dựng được một quốc gia dân tộclấy nhân dân làm trung tâm [53, tr 147]
Tư tưởng Ki tô giáo Hàn Quốc chưa được các nhà nghiên cứu đặt vào lịch sử
tư tưởng triết học Hàn Quốc, giá trị và hạn chế của tư tưởng này cũng chưa được đềcập
* Liên quan tới ý nghĩa
Ý nghĩa của các trào lưu tư tưởng Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cũngđược đánh giá theo phương cách riêng lẻ từng trào lưu tư tưởng, chưa được đặttrong tổng thể lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc giai đoạn cận đại cũng như trong
sự liên hệ với lịch sử của vấn đề tồn tại người
Từ khía cạnh bản thể luận triết học, ý nghĩa của trào lưu tư tưởng Khai hóa
được cuốn Lịch sử tư tưởng cận đại Hàn Quốc của tác giả Park Jeong Sim cho rằng
thuyết này đã định hình chủ đề cái “ngã”, cái “tôi” dân tộc Hàn dưới nhiều hìnhthức khác nhau [53]
Trang 40Tư tưởng của Choe Je U được các nhà nghiên cứu đánh giá là tư tưởng đã (1)hội thông tam giáo - tiếp nối mạch nguồn của tư tưởng dân tộc Hàn Quốc và mangtrong nó khuôn thức hình nhi thượng có thể hòa hợp mọi tôn giáo, (2) là tư tưởngkhơi dậy tính chủ thể của nhân dân và tư tưởng bình đẳng Có thể kể ra đây một sốcông trình: Kim Yong Huy cho rằng ý nghĩa của tư tưởng của Choe Je U nằm ở chỗ
nó đã tái hiện lại tư tưởng Kính Thiên truyền thống Sự tái hiện này trong mệnh đề
‘Thị Thiên chủ’ giúp hiện thực hóa ý thức đạo đức luân lý mang tính hình thức vàngoại tại thành cái đạo đức nội tại Cũng bằng việc ‘Thị Thiên chủ’, quan hệ giữaThiên và Nhân vốn được xác lập từ trục dọc - Thiên quyền uy,chuyển thành trụcngang - luân lý với tha nhân, từ đó xác chứng tính tôn nghiêm và bình đẳng giữacon người với nhau Ý nghĩa thứ hai của Đông học qua ‘Thị Thiên chủ’ nằm ở chỗ
nó đặt trọng tâm vào cơ thể con người Tác giả này cho rằng, thể nghiệm ‘thị ThiênChủ’ của Su Un là ‘bằng cơ thể, trong cơ thể, với cơ thể’ nên nó mang tính thốngnhất giữa cơ thể và tinh thần Thứ ba, tác giả này đánh giá tư tưởng Đông học đềcao con người đại chúng [45] Nó khác với Nho giáo mang tính đẳng cấp trên dưới.Một điểm nữa là Đông học với tư tưởng Khai tịch (開闢) được đánh giá là tư tưởngkhởi đầu cho mọi tư tưởng bản địa thời cận đại của Hàn Quốc, bắt đầu cho phươngthức sống và sinh hoạt mới [45, tr 18, tr 154-158]
Về giá trị của tư tưởng Đông học, trong cuốn Lịch sử triết học Hàn Quốc
-Mâu thuẫn và dung hợp của tư tưởng ngoại lai và tư tưởng bản địa,Lee Jong U
đánh giá tư tưởng Khai tịch với nghĩa là sự lặp đi lặp lại của tự nhiên trong tư tưởngcủa Choe Je U xuất hiệnlần đầu tiên trong giai đoạn này Về sau tư tưởng này đượcgiáo chủ thứ hai là Choe Shi Hyong tiếp nối với nghĩa là thiên địa vạn vật; đượcgiáo chủ thứ ba là Son Byong Hee tiếp nối với nghĩa khai minh tinh thần con người
và thiên địa Tư tưởng Khai tịch này cũng ảnh hưởng tới tư tưởng của Jeung Sangiáo hay Phật giáo Viên [71, tr 363] Theo đó, nó là một dấu mốc để phân biệt vớitriết học thời kì trước đó [71, tr 359]
Nhận định Đông học là tư tưởng hội thông các giáo được tác giả luận án phân
tích và đánh giá bước đầu trong cuốn Dẫn nhập tư tưởng Donghak, qua nội dung