Phạm vi nghiên cứu của luận án là bốn trào lưu tư tưởng xuất hiện trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, cụ thể hơn nữa là trào lưu Vệ chính xích tà, trào lưu Khai hóa, trào lưu t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LÊ THỊ LAN
Phản biện 1: GS.TS Đỗ Quang Hưng Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Minh Tường
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Bá Cường
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ
Họp tại: Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam giờ phút
ngày tháng năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Con người là một trong những vấn đề kinh điển và cơ bản của triết học Theo đó, nghiên cứu về những hiện tượng xảy ra ở con người, lấy con người làm đối tượng nghiên cứu, trong đó lấy nguồn gốc của tồn tại người và bản tính người được là nội hàm của tư tưởng nhân bản là một nghiên cứu căn bản
Giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 của Hàn Quốc là giai đoạn lịch sử biến động, quá trình khủng hoảng và tan rã của xã hội cũ
đi cùng với quá trình tiếp nhận cái mới và định hình xã hội mới Một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ nhất tới triết học Hàn Quốc giai đoạn này là ý niệm về tồn tại tuyệt đối đến từ Thiên Chúa giáo phương Tây Trong bốn trào lưu tư tưởng, trào lưu tôn giáo bản địa mới và trào lưu Ki tô giáo Hàn Quốc là hai trào lưu hình thành từ sự tác động của tư tưởng về tồn tại tuyệt đối Quá trình thu dụng và dung thông ý niệm về tồn tại tuyệt đối đã giúp triết học Hàn Quốc hình thành nên quan niệm mới về thế giới và con người, đây là điểm mấu chốt tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức về thế giới quan và nhân sinh quan của triết học Hàn Quốc giai đoạn này
Giai đoạn này cũng là giai đoạn khởi đầu cho quan niệm về con người cá nhân trong xã hội phương Đông Theo đó, những căn
cứ tồn tại người cho con người cá nhân được hình thành như thế nào, gồm những giá trị gì, v.v là một kinh nghiệm tham khảo cho vấn đề con người trong thế kỷ 21
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20; nêu nội dung của một số
tư tưởng nhân bản tiêu biểu của Hàn Quốc giai đoạn này; nêu đặc điểm, đánh giá giá trị, hạn chế và ý nghĩa của tư tưởng nhân bản Hàn Quốc giai đoạn này
Theo đó, nhiệm vụ của luận án là:
Trang 4- Làm rõ bản chất của bối cảnh chính trị, xã hội, tư tưởng Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 trong đó tư tưởng nhân bản được định hình
- Phân tích và luận giải nội dung căn bản của một số tư tưởng nhân bản ở Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ
- Khái quát đặc điểm, phân tích và làm rõ những giá trị, hạn chế, ý nghĩa của tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế
kỷ 20
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và cơ sở tư liệu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư tưởng nhân bản (thought on humanity) Hàn Quốc giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ
20, thể hiện qua một số nhà tư tưởng tiêu biểu là Choe Je U - đại diện cho trào lưu tôn giáo mới và Ham Seok Heon - đại diện cho trào lưu tư tưởng Ki tô Hàn Quốc
Phạm vi nghiên cứu của luận án là bốn trào lưu tư tưởng xuất hiện trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, cụ thể hơn nữa là trào lưu Vệ chính xích tà, trào lưu Khai hóa, trào lưu tôn giáo bản địa mới và trào lưu Ki tô Hàn Quốc
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án sử dụng phương pháp luận nghiên cứu lịch sử triết học, duy vật lịch sử; Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: Phân tích, tổng hợp, quy nạp, khái quát hóa, lịch sử, logic - lịch sử, văn hóa, phương pháp thông diễn trong diễn giải nội dung tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án khảo sát bối cảnh thời đại, tiền đề ra đời của tư tưởng nhân bản Hàn Quốc và chứng minh đây là sự “chủ động đối mặt với khủng hoảng và thể nghiệm cái mới” của người Hàn Quốc
- Luận án hệ thống và khái quát hóa tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 theo ba phương diện: quan hệ với cái tuyệt đối / vô hình, quan hệ với tha nhân / xã hội, quan hệ với chính mình
Trang 5- Luận án chỉ ra những nội dung cụ thể của tư tưởng nhân bản của hai nhà tư tưởng tiêu biểu cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là Choe
Je U và Ham Seok Heon Trong đó lần đầu tiên nhìn nhận tư tưởng
Ki tô giáo của Ham Seok Heon theo mạch tiến trình lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc
- Luận án khái quát năm đặc điểm, nêu ra hai giá trị, phê phán hai hạn chế, luận giải hai ý nghĩa của tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đối với lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc, một ý nghĩa lịch sử và một ý nghĩa hiện thời của tư tưởng này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Hệ thống hóa quan niệm về tồn tại người và nội dung của tư tưởng nhân bản trong tư tưởng của một số nhà tư tưởng Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
- Khái quát đặc điểm, làm rõ giá trị, hạn chế và ý nghĩa của tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 trong lịch sử
tư tưởng triết học Hàn Quốc và lịch sử Hàn Quốc
- Cung cấp hiểu biết chuyên sâu về triết học Hàn Quốc nói chung, triết học Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 nói riêng
- Đóng góp tri thức về triết học Hàn Quốc, phương pháp tư duy của người Hàn Quốc, về thế giới quan, nhân sinh quan và giá trị quan trong tư tưởng triết học Hàn Quốc
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho ngành Hàn Quốc học nói riêng, nghiên cứu triết học Hàn Quốc và triết học nói chung
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần Mở đầu, bốn chương nội dung, Kết luận, Danh mục các công trình đã công bố, Danh mục tài liệu tham khảo, Mục lục
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI
LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan tới bối cảnh Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Các công trình nghiên cứu liên quan tới chính trị - ngoại giao Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đều đã nêu ra diễn biến của các sự kiện lịch sử chính trong nền chính trị đầy mâu thuẫn của Jo Seon, cùng các hoạt động ngoại giao đa nguyên cho thấy động thái chi phối chính trị Jo Seon của các thế lực nước ngoài Kết cục tình hình này dẫn tới sự lệ thuộc về mặt chính trị, tranh giành quyền kiểm soát và chiến tranh của nước ngoài trên đất Jo Seon và kết cục là cảnh mất chủ quyền vào tay Nhật Bản
Các công trình khảo cứu tình hình xã hội Hàn Quốc cuối thế kỷ
19 đầu thế kỷ 20 cho thấy thực trạng xã hội nghèo nàn, bệnh tật, dân trí thấp, đời sống vệ sinh bất cập Trong xu thế cứu vãn quyền lực vương triều và áp lực mở cửa khai hóa, triều đình Jo Seon đã áp dụng chính sách khai hóa để thay đổi toàn diện đời sống xã hội bất cập nói trên Đặc biệt là các hoạt động liên quan tới giáo dục phổ cập, báo chí, xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị và cho phép Ki tô giáo được hoạt động công khai Sau khi rơi vào cảnh mất chủ quyền đất nước, hoạt động khai hóa với tinh thần tự cường càng diễn ra mạnh mẽ dưới chính sách đô hộ đồng hóa của Nhật Bản Điều này cho thấy một sự năng động và chủ động thay đổi của xã hội Hàn Quốc
Về tình hình tôn giáo cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu chỉ ra rằng ngay từ thế kỷ 18 đã có sự trỗi dậy của các tín ngưỡng dân gian, báo hiệu một nhu cầu xây dựng đời sống xã hội mới, tiếp đó là sự ra đời của các tôn giáo bản địa vào cuối thế kỷ
19 dưới tác động và thâm nhập ngày một thâm sâu của đạo Thiên Chúa và Tin lành
1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan tới tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Trang 7Có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học Hàn Quốc nói chung Tuy nhiên liên quan tới tư tưởng nhân bản của luận án, có
công trình Lịch sử triết học Hàn Quốc của Kim Seung Dong và công trình Tư tưởng tôn giáo của Hàn Quốc - lật lại vấn đề thực tại cùng
cực của Lee Gyong Won là đáng lưu ý hơn cả Hai tác giả này đã
luận giải truyền thống triết học Han - ý niệm về Thiên qua các trào lưu tư tưởng trong lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc nửa trước thế
kỷ 19 Qua các khảo luận này, ta nhận thấy một sự liên tục trong việc phát triển ý niệm về Thiên, sự biến dụng của ý niệm này sau quá trình tương tác với các hệ ý thức ngoại lai của nền triết học này Qua đây có thể thấy ý niệm về Thiên với tư cách là cái bản thể trong triết học Hàn Quốc, là một trục không thể thiếu trong việc định hình ý niệm về con người của triết học Hàn Quốc
Các công trình nghiên cứu liên quan tới tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 của Hội nghiên cứu lịch sử triết học Hàn Quốc, Kim Seung Dong, Lee Gyong Won, chứng thực một
sự tiếp nối mạch tư tưởng về cái bản thể - ý niệm về Thiên Từ khía cạnh triết học, ý niệm về Thiên chính là cách nhìn nhận về thế giới, cách vận hành của thế giới
1.3 Các đánh giá về giá trị, hạn chế và ý nghĩa của các tư tưởng liên quan tới tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế
Thứ nhất, trong bối cảnh khủng hoảng của nền chính trị và lạc
hậu của kinh tế xã hội, sự xuất hiện của phương Tây phá vỡ thế giới quan coi Trung Quốc là trung tâm đồng thời dấy lên nhu cầu học hỏi
từ phương Tây để thay đổi, v.v vấn đề con người là gì, con người
Trang 8Jo Seon là gì phải được đặt ra Theo đó, phải có một sự thay đổi về cái bản thể trong tư tưởng triết học Hàn Quốc Để phản ánh tư tưởng
về con người hình thành trong giai đoạn lịch sử biến động này, cần đưa ra một khái niệm về nhân bản phù hợp với điều kiện lịch sử Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Thứ hai là vấn đề tiếp nối về mặt lịch sử của cái bản thể trong
lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc Qua khảo sát các công trình về
tư tưởng nhân bản Hàn Quốc nửa trước thế kỷ 19, chúng tôi thấy rằng có một sự liên tục trong ý niệm về Thiên của lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc Ý niệm về Thiên này mang tính chất tôn giáo và
là cái bản sắc của dân tộc Hàn Trong giai đoạn này xuất hiện bốn dạng thức phản ứng tư tưởng là trào lưu tư tưởng Vệ chính xích tà của giới trí thức Tính lý học, trào lưu Khai hóa của giới trí thức mới, trào lưu tôn giáo dân tộc của giới trí thức bình dân và trào lưu tư tưởng Ki tô giáo của giới trí thức tân học thuộc Ki tô giáo Trong bốn trào lưu này, trào lưu Vệ chính xích tà có nền tảng tư tưởng là Tính
Lý học, trào lưu Khai hóa chịu ảnh hưởng lớn của thuyết tiến hóa xã hội đang thịnh hành ở phương Tây lúc bấy giờ Trào lưu tôn giáo mới
và Ki tô giáo là hai trào lưu có tính mới và có liên hệ trực tiếp tới ý niệm về Thiên - ý niệm về cái bản thể trong lịch sử triết học Hàn Quốc Theo đó, việc khảo cứu tư tưởng nhân bản qua hai trào lưu này giúp ta hình dung ra sự tiếp biến ý niệm về Thiên vào lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc Bằng việc phân tích tồn tại người trong các trào lưu của lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 theo ba chiều cạnh: với cái tuyệt đối, với tha nhân và với chính mình, chúng ta sẽ hiểu hơn về cái bản thể xuyên suốt và tiếp dụng của lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc, đồng thời hiểu hơn
về khuôn thức tư duy của người Hàn Quốc về tồn tại người
Thứ ba là xét trong bối cảnh xã hội cũng như yêu cầu thời đại
lúc bấy giờ cũng như hiện nay, hệ thống quan niệm về tồn tại người trong tư tưởng nhân bản Hàn Quốc có giá trị, hạn chế và ý nghĩa gì
Trang 9Để làm sáng tỏ những vấn đề trên, chúng tôi phân tích và luận giải bối cảnh xã hội Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, từ đó đưa ra tiền đề cho sự hình thành tư tưởng nhân bản Hàn Quốc giai đoạn này Tiếp đó, chúng tôi luận giải những nội dung cụ thể trong tư tưởng nhân bản của một số nhà tư tưởng tiêu biểu Cuối cùng chúng tôi khái quát một số đặc điểm, đánh giá giá trị, hạn chế và ý nghĩa của tư tưởng nhân bản giai đoạn này với lịch sử, hiện tại và lịch sử tư tưởng triết học Hàn Quốc
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN BẢN HÀN QUỐC
CUỐI THẾ KỶ 19 ĐẦU THẾ KỶ 20 2.1 Bối cảnh xã hội Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Chúng tôi nhận thấy rằng, bản chất của tình hình chính trị Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là khủng hoảng, tan rã của ý thức
hệ Tính lý và chủ trương khai hóa Nền chính trị cạnh tranh giữa các phe phái kết cục là nguyên nhân đầu tiên dẫn tới sự sụp đổ của triều đình Jo Seon, xung đột của các thế lực nước ngoài trên đất Jo Seon
và sự thống trị của đế quốc Nhật Bản Sự chấm dứt vương triều Jo Seon còn đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của hệ ý thức Tính lý học chính thống trong lĩnh vực chính trị tại Jo Seon, đồng thời đánh dấu
sự tách biệt giữa chính trị với triết học vốn vẫn luôn là căn cứ khi hình thành một quốc gia mới trong lịch sử dân tộc Hàn Hệ ý thức Tính lý học không còn là yếu tố xác lập nên cái dân tộc cho người dân Jo Seon từ khía cạnh chính trị, thông qua vương triều Jo Seon, theo đó, người Jo Seon buộc phải tìm ra yếu tố khác để xác lập nên tính dân tộc và lấy đó làm sợi dây gắn kết cộng đồng
Mặt khác, sau khi không còn có thể đóng cửa trước sức ép từ nhiều phía, triều đình Jo Seon chuyển sang chiến lược tích cực thay đổi Kể từ năm 1876, Jo Seon đã bắt đầu mở cửa cho nước ngoài thông thương Kể từ năm 1884, các nhà truyền giáo được công khai truyền giáo vào Jo Seon Cùng với không khí chủ động khai hóa, Ki
Trang 10tô giáo được xã hội Jo Seon tích cực tiếp nhận và nó đã thổi một làn gió mới cho xã hội Jo Seon
Chấp nhận thi hành chính sách khai hóa để thay đổi toàn diện đời sống xã hội Jo Seon, mở cửa và chủ động khai hóa không giúp Đại hàn đế quốc tránh khỏi số phận trở thành thuộc địa của Nhật Bản
về mặt chính trị Tuy nhiên, những thử nghiệm để hình thành nên ý thức cộng đồng mới và ý thức về con người dân tộc vẫn tiếp tục diễn
ra trong nhân dân dưới nhiều hình thức, bởi sự vận động tự thân của
xã hội này
Cuối thế kỷ 19, khi triều đình Jo Seon còn dè dặt với việc mở cửa, đã xuất hiện những yếu tố mới cho phương thức gắn kết cộng đồng trong lòng xã hội vốn được quy định bằng giá trị đạo đức và hệ thống thân phận, xuất phát từ chính sự chủ động của người Hàn Quốc
Có hai cộng đồng hình thành quan hệ bề ngang - bình đẳng - là Thiên Chúa giáo và Đông học, trong đó việc sử dụng chữ Hangul giúp văn hóa đại chúng phát triển là môt yếu tố quan trọng hình thành nên ý thức về một cộng đồng mới [80, tr 92] Yếu tố mới ấy có sức uy hiếp tới sự tồn tại của hệ thống cũ và đã trở thành mục tiêu thanh chừng của triều đình Jo Seon Sự năng động của xã hội Jo Seon phát triển thành hai chiều hướng, một là hình thành ý thức về con người và cộng đồng mới từ truyền thống dân tộc, hai là từ sự tiếp nhận tư tưởng phương Tây, trong đó có Ki tô giáo
Không khí tích cực thực nghiệm văn minh hóa theo phương Tây của Đại Hàn đế quốc đã gặp phải một vấn đề khác, đó là kế hoạch xâm chiếm và biến Jo Seon thành bàn đạp chiến lược của đế quốc Nhật Bản Hàn Quốc rơi vào “cái bẫy của khai hóa” Đó là sự ngộ nhận trong công cuộc khai hóa: hình mẫu và chuẩn mực để thực hiện khai hóa là phương Tây trong khi thực tế lại là hoạt động văn minh hóa dựa vào sức của Nhật Bản cũng như phải phục vụ đế quốc Nhật Bản trong cảnh nô lệ mất chủ quyền Chủ động thay đổi trong khủng hoảng và chủ động tiếp nhận cái mới nhưng quá trình khai hóa văn minh của người Hàn Quốc vẫn diễn ra trong cảnh bạo lực, mâu
Trang 11thuẫn với dân tộc và ở thế nô lệ Bạo lực do thực dân Nhật Bản mang lại trong quá trình bòn rút thuộc địa và xây dựng Jo Seon thành căn
cứ quân sự khi vươn sang Trung Quốc Mâu thuẫn nằm trong sự chủ động khai hóa dân tộc nhưng lại trong trạng thái mất quyền tự chủ, là
nô lệ của Nhật Bản Mâu thuẫn trong cảm thức về dân tộc phát sinh trong quá trình đồng hóa do chính sách cai trị của thực dân Nhật Bản
áp dụng, khi vừa xây dựng cơ sở hạ tầng, vừa đặt ra vấn đề Hàn Quốc
và Nhật Bản là một nước về mặt dân tộc Mâu thuẫn này thể hiện khá gay gắt trong giới tư tưởng Ki tô giáo Hàn Quốc
Như vậy, giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là giai đoạn khủng hoảng, tan rã của cái cũ, tiếp nhận cái mới và định hình lại chính mình trong cảnh mất chủ quyền của lịch sử Hàn Quốc
2.2 Tiền đề lý luận của tư tưởng nhân bản Hàn Quốc cuối thế kỷ
19 đầu thế kỷ 20
Các phản ứng về mặt tư tưởng của Hàn Quốc giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 có thể chia thành ba dạng thức dựa vào tính chất của các trào lưu tư tưởng này Đầu tiên là phản ứng của giới trí thức chính thống trong triều đình Jo Seon Trong giới trí thức đương
thời hình thành hai phong trào là Vệ chính xích tà và Khai hóa Tiếp
theo là phản ứng của giới trí thức bình dân phát triển tư tưởng có
thêm màu sắc tôn giáo Bắt đầu từ Đông học của Choe Je U, sau đó là
Jeung San giáo, Đại tông giáo rồi Phật giáo Viên Cuối cùng là phản
ứng của giới trí thức theo Ki tô giáo
Đầu tiên là phong trào Vệ chính xích tà Đây là phong trào của
các Nho sĩ Jo Seon tiến hành trong bối cảnh bị uy hiếp bởi thế lực phương Tây và Nhật Bản Vệ chính tức là bảo vệ Chính, xích tà tức
là bài trừ, bài xích cái được coi là Tà Đối tượng bài xích cụ thể trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 là thế lực phương Tây và Nhật Bản, thể hiện
tư tưởng trong sự bài xích này là tinh thần Đạo học tịch dị đoan (闢異端), là chủ trương kế thừa đúng đắn Nho học truyền thống Sau
khi Jo Seon bị đô hộ, phong trào Vệ chính xích tà phát triển một
hướng thành phong trào nghĩa binh, một hướng thành phong trào thủ
Trang 12tiết để mài rũa và kế truyền Đạo học bằng các hình thức viết sách hay giảng dạy Tư tưởng Vệ chính xích tà dựa trên nền tảng tư tưởng Tính lý học là tư tưởng Nho học chính thống ở Jo Seon lúc bấy giờ Hai chủ đề cơ bản được các nhà Tính lý học đặt ra trong tương quan
với Tây học, thứ nhất là vấn đề bài xích Tây học là tà đạo từ giá trị quan chủ Lý và thứ hai là vấn đề khẳng định đạo đức Nho giáo là giá
trị của tồn tại người Nhưng trong khi các mối quan hệ giữa người với người bị biến đổi do những yếu tố như sự sụp đổ của vương triều
và hệ thống chính trị, yếu tố bình đẳng và tình yêu của Thiên Chúa trong Ki tô giáo, yếu tố người nước ngoài với sự mở rộng của thế giới ra khỏi tầm Trung Quốc, nhu cầu học hỏi tri thức mới từ Tây học, rồi những vấn đề thực tế như sự bóc lột và tha hóa đạo đức của tầng lớp quan lại, dân trí thấp, bệnh tật, mất mùa, đói kém , những chuẩn mực của đạo đức Nho giáo không còn đủ sức để ràng buộc con người trong các mối quan hệ xã hội đương thời
Thứ hai là phong trào tôn giáo bản địa mới như Đông học, Phật
giáo Viên, Đại tông giáo, Jeung San giáo Phong trào này bắt đầu từ
sự chứng nghiệm và niềm tin vào chân lý của những người khởi xướng Tư tưởng của họ được hình thành sau khi “ngộ Đạo” qua quá trình tu niệm hay thiền định, hơn là do tổng hợp kinh điển, phản tư tư tưởng hay luận biện logic Đạo ấy thường được họ nhận thức như Đại Đạo, tức một chân lý quán triệt thế giới, có khi được mường tượng thành một vị thần tuyệt đối có tên là Thiên Con người được coi như tồn tại biểu hiện của Đại Đạo linh thiêng Nhìn vào sách do những nhà tư tưởng này viết, ta thấy xuất hiện các phạm trù khái niệm trong dòng tư tưởng truyền thống đã từng có trong lịch sử tư tưởng Hàn Quốc như Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo Nhưng ý nghĩa hay nội hàm của các thuật ngữ này thì không còn là nguyên gốc, chúng chứa thông tin mang tính hỗn dung tam giáo Trong bối cảnh nhà nước phong kiến phá sản và xã hội đang mở rộng, các tôn giáo này là một kênh để người ta tụ tập và hình thành các cộng đồng mới Các tôn giáo mới này cũng tổ chức và tham gia các hoạt động đấu tranh biểu
Trang 13tình đòi độc lập dân tộc như Cách mạng nông dân Đông học, phong trào ngày 1/3/1919 hay thành lập tổ chức sản xuất, báo chí, viết sách, v.v trong không khí khai hóa chung của xã hội Jo Seon
Thứ ba là phong trào tư tưởng Khai hóa Phong trào Khai hóa
có gốc từ những người có điều kiện đi ra ngoài Jo Seon và được tiếp cận với các tri thức mới và về sau có chủ trương cải cách Trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, có nhiều từ tương tự như khai hóa được nhắc tới như: khai tịch, khai hóa, khai minh, khải mông, cải tổ, v.v đều được dùng để chỉ nhu cầu thay đổi để bớt u tối, mông muội
Có thể chia thành ba giai đoạn phát triển của phong trào Khai hóa:
thời kỳ chủ động tiếp nhận văn vật phương Tây nhằm mục đích tự cường Thời kỳ kết hợp với thế lực nước ngoài để chính sách hóa phong trào khai hóa Thời kỳ phát triển các phong trào cải cách xã hội bằng cách thâm nhập vào dân chúng trong bối cảnh chủ quyền quốc gia bị xâm phạm Tư tưởng ảnh hưởng tới nhận thức của các trí thức tân học Jo Seon khi đó là quan điểm về tiến hóa xã hội Thuyết tiến hóa xã hội được du nhập vào Jo Seon khoảng những năm 1870, qua con đường Trung Quốc và Nhật Bản, nó nhanh chóng được giới trí thức cấp tiến tiếp thu làm công cụ lý luận nhằm thúc đẩy triều đình thực hiện chủ trương cải cách Ở khía cạnh tích cực ý thức về tiến hóa đã khiến các nhà tư tưởng nảy sinh tinh thần trách nhiệm và xông xáo thực hiện các chính sách cải cách như chủ động tiếp nhận khoa học kĩ thuật, văn minh vật chất phương Tây, tôn giáo phương Tây rồi khai hóa về ý thức chính trị và giáo dục dân chúng Tới đầu thế kỷ 20, những nhận thức về thuyết tiến hóa ở trên phát triển thành tư tưởng
tự cường dân tộc, giúp hình thành tư tưởng về nhà nước và tư tưởng dân quyền Tuy nhiên ở khía cạnh tiêu cực, nó trở thành công cụ để hợp thức hóa chủ nghĩa đế quốc và sự xâm nhập của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản Các nhà Khai hóa đã không tập trung vào phong trào dân tộc chống Nhật mà nhấn mạnh tới nhiệm vụ cận đại hóa bán đảo Hàn hơn là độc lập dân tộc, từ đó tự hợp thức hóa sự bành chướng