Hệ thống thuế hiệu lực và hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào hệ thống chínhsách thuế hợp lý mà còn phụ thuộc vào hoạt động quản lý thuế của Nhà nước.Trong quá trình phát triển kinh tế đất
Trang 1NGUYỄN THỊ HỒNG THẢO
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 2NGUYỄN THỊ HỒNG THẢO
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ NGỌC MỸ
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
6 Kết cấu của luận văn 6
7 Tài liệu nghiên cứu chính 6
8 Tổng quan tài liệu 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ CÁ THỂ 14
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ 14
1.1.1 Khái niệm, bản chất, chức năng của thuế 14
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, tầm quan trọng của hộ kinh doanh 20
1.1.3 Khái niệm quản lý thuế 22
1.1.4 Tầm quan trọng của việc quản lý thuế đối với hộ cá thể 23
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ CÁ THỂ 24
1.2.1 Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế 24
1.2.2 Quản lý đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế đối với hộ cá thể 25
1.2.3 Quản lý miễn thuế, giảm thuế đối với hộ cá thể 28
1.2.4 Quản lý thông tin người nộp thuế đối với hộ cá thể 29
1.2.5 Quản lý nợ thuế đối với hộ cá thể 30
1.2.6 Kiểm tra thuế đối với hộ cá thể 30
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ CÁ THỂ 32
Trang 51.3.3 Các nhân tố khác 34
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂKTÔ, TỈNH KON TUM 36
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ THUẾ 36
2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
2.1.2 Tình hình hoạt động của hộ cá thể trên địa bàn huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum 39
2.1.3 Giới thiệu về cơ quan thuế 40
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ CÁ THỂ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM 43
2.2.1 Thực trạng công tác tuyên truyền hỗ trợ Người nộp thuế 43
2.2.2 Thực trạng quản lý đăng ký thuế, khai thuế và nộp thuế 46
2.2.3 Thực trạng quản lý thông tin người nộp thuế 51
2.2.4 Thực trạng quản lý nợ thuế 54
2.2.5 Thực trạng công tác kiểm tra thuế, quản lý miễn giảm thuế 57
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ CÁ THỂ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN ĐĂK TÔ TỈNH KON TUM 60
2.3.1 Những mặt đạt được 60
2.3.2 Những tồn tại và hạn chế 62
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế 63
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK TÔ TỈNH KON TUM ĐẾN NĂM 2020 66
Trang 6TUM ĐẾN NĂM 2020 66
3.1.1 Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với hộ cá thể phải gắn với cải cách hệ thống thuế và quản lý thuế nói chung 66
3.1.2 Quản lý thu thuế đối với hộ cá thể ở địa phương theo hướng tuân thủ nghiêm pháp luật, chính sách của Nhà nước 67
3.1.3 Tăng cường quản lý thu thuế đối với hộ cá thể theo hướng hiện đại hóa 68
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ CÁ THỂ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN ĐĂK TÔ TỈNH KON TUM 69
3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện theo nội dung 69
3.2.2 Một số giải pháp khác 88
KẾT LUẬN 92 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)
BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ CỦA PHẢN BIỆN 1 VÀ PHẢN BIỆN 2 (Bản sao)
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN (Bản chính)
Trang 7Ký hiệu Nghĩa Tiếng Việt
CNTT Công nghệ thông tin
UNTT Uỷ nhiệm thu thuế
Trang 8Số hiệu Tên bảng Trang bảng
2.1 Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền 432.2 Kết quả thực hiện lấy ý kiến đánh giá của hộ cá thể 44
về công tác tuyên truyền
2.3 Số lượng hộ cá thể đang quản lý thuế 472.4 Tổng hợp kết quả điều tra hộ kinh doanh cá thể đã lập 47
bộ quản lý
2.7 Kết quả xử lý dữ liệu nhận, trả hồ sơ thuế 52
2.10 Kết quả miễn, giảm đối với hộ cá thể 58
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một phần thu nhập của xã hội được tập trung vào quỹ NSNN đểphục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trongNSNN và là công cụ quan trọng quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước; gópphần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khuyếnkhích đầu tư trong và ngoài nước, điều tiết toàn bộ nền kinh tế, điều chỉnh cơcấu kinh tế có hiệu quả Để đảm bảo được yêu cầu trên thì Nhà nước phải xâydựng một hệ thống thuế hiệu lực và hiệu quả phù hợp với từng thời kỳ pháttriển của Nhà nước, của nền kinh tế và đây cũng mục tiêu của mọi quốc gia
Hệ thống thuế hiệu lực và hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào hệ thống chínhsách thuế hợp lý mà còn phụ thuộc vào hoạt động quản lý thuế của Nhà nước.Trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh, đặc biệt là hộ cá thể (bao gồm hộ cá thể, nhóm hộ cá thể và hộ giađình) đã thể hiện vai trò đối với nền kinh tế về số lượng tham gia, hoạt độngsản xuất kinh doanh ở nhiều lĩnh vực ngành nghề, kinh doanh ở hầu hết cácvùng địa lý trong cả nước và tạo ra nhiều việc làm cho người lao động
Trên thực tế, các dạng thức của hộ cá thể phải quản lý thuế cũng rất phứctạp: có dạng hộ cá thể chưa đến mức phải nộp thuế GTGT chỉ phải thu thuếmôn bài; có hộ cá thể đến mức phải nộp thuế, hộ cá thể ngừng nghỉ ( có hoặckhông có thông báo với cơ quan thuế) không nộp thuế, hộ cá thể không cóđăng ký kinh doanh, kinh doanh theo mùa vụ, không thường xuyên, không cóđịa điểm kinh doanh cố định… Chính vì vậy mà dù tỷ lệ đóng góp trong tổngthu Ngân sách nhà nước không cao ( khoảng 2%), song do số lượng khá đông,phạm vi phủ sóng rộng khắp các địa bàn, nên việc quản lý thuế đối với hộ cáthể thường tốn nhiều chi phí hơn so với các nhóm đối tượng khác, nhất là về
Trang 10nguồn nhân lực Theo đó, ngoài số lượng cán bộ thuế trực tiếp quản lý chiếmkhoảng 21% tổng số cán bộ công chức toàn ngành thuế, công tác quản lý hộ
cá thể còn phải huy động sự tham gia của đại diện các ban, ngành, chínhquyền địa phương (Hội đồng tư vấn thuế xã, phường) và của cả người dântrong việc xác định doanh thu khoán và mức thuế khoán đảm bảo sát với thực
ở địa phương và của người dân chưa được tạo điều kiện thực hiện…
Sau hơn một năm từ thời điểm ban hành cho đến nay, do sự phát triểnkhông ngừng của các hoạt động kinh doanh cũng như trong quá trình áp dụng
Trang 11thực hiện vào thực tiễn đã bộc lộ không ít vướng mắc cũng như nhiều quyđịnh của pháp luật về thuế cho hộ kinh doanh chưa thực sự chi tiết dẫn đếntình trạng còn nhiều lỗ hỏng trong công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinhdoanh hiện nay, trình độ năng lực của cán bộ quản lý chưa đáp ứng, ý thứcchấp hành nghĩ vụ của người nộp thuế (NNT) còn thấp Một số vướng mắccòn xảy ra cần hoàn thiện hơn trong thời gian tới như: Tình trạng chênh lệchgiữa số hộ kinh doanh đăng ký kinh doanh và số hộ đăng ký thuế; Bỏ sót hộkinh doanh ngoài quản lý thu; … cho nên gây thất thu trong quản lý thu thuế
hộ cá thể
Huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum là huyện thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn, nguồn thu chủ yếu là từ khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh, tỷ trọng số thuế từ khu vực này chiếm từ 80% đến 90%, trong đó từ hộkinh doanh cá thể chiếm từ hơn 50% đến 60% trong tổng số thu từ khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Trong bối cảnh phát triển, các hộ kinhdoanh gia tăng về số lượng cũng như quy mô Việc đẩy mạnh hiệu quả công tácquản lý thu thuế đặt ra yêu cầu đổi mới hơn nữa cơ chế chính sách cũng như cảitiến công cụ quản lý thuế Điều đó đưa ra yêu cầu hoàn thiện chính sách và công
cụ quản lý để nâng cao hiệu lực của công tác quản lý thu thuế đối với hộ cá thể
trở nên rất bức xúc Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với hộ cá thể trên địa bàn huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum” được chọn nghiên cứu nhằm đáp
ứng đòi hỏi bức xúc đó của thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý thuế đối với hộ cá thể kinhdoanh
2.2 Mục tiêu cụ thê
- Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận về quản lý thu thuế
Trang 12- Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ cá thể trên địa bànhuyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, chỉ ra được những hạn chế và nguyên nhân củahạn chế đó.
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ cá thể trên địa bàn huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý
thuế đối với hộ cá thể, bao gồm các vấn đề chủ yếu như: Tổ chức bộ máyquản lý thuế, triển khai chính sách thuế, quy trình và giải quyết thủ tục hànhchính thuế, kiểm tra thuế, quản lý thu nợ thuế đối với hộ cá thể
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn nghiên cứu vấn đề quản lý thuế đối với
hộ cá thể trên địa bàn huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum Đề tài tập trung đi sâuphân tích thực trạng phân tích thực trạng quản lý thu thuế hộ kinh doanh cáthể nộp thuế theo phương pháp khoán có sử dụng hoá đơn trên địa bàn
+ Về không gian: Địa bàn huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, có tham khảo
kinh nghiệm một số huyện và tỉnh khác trong nước
+ Về thời gian: Giai đoạn từ 2011-2016, và tác động của các giải phápđến năm 2025
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các giáo trình, tài liệu, các công trình nghiên cứu trước đâyliên quan đến vấn đề Quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh Cùng với đó làchiến lược giai đoạn 2011-2020 của Thủ tướng Chính phủ và kế hoạch giaiđoạn 2016-2020 của Bộ Tài chính về cải cách hệ thống thuế Từ đó khái quát
và hệ thống lại các cơ sở lý luận của Quản lý thuế cũng như quản lý thuế đốivới cá nhân kinh doanh để làm cơ sở lý luận cho công tác Quản lý thuế đốivới hộ cá thể trên địa bàn huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum
Trang 13Phương pháp tổng hợp và phân tích
Phân chia công tác Quản lý thuế đối với hộ cá thể ra thành các mảng nhỏ
để nghiên cứu Từ đó đi sâu nghiên cứu tìm hiểu từng mảng của công tác quản
lý thuế đối với hộ cá thể trên địa bàn huyện Đăk Tô Tỉnh Kon Tum và tổnghợp lại những mặt mạnh, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của nhữngtồn tại hạn chế đó để có cái nhìn tổng thể về thực trạng công tác Quản lý thuếđối với hộ cá thể trên địa bàn huyện Đăk Tô Tỉnh Kon Tum
Phương pháp phân tích dãy số thời gian.
Sử dụng các dãy số thời kỳ với khoảng cách giữa các thời kỳ trong dãy
số là 1 năm Các chỉ tiêu phân tích biến động của giá trị về các số liệu liênquan thu thập được, phân tích sự biến động của chỉ tiêu về quản lý thuế đốivới hộ cá thể trên địa bàn huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum từng năm từ năm 2011đến nay
Các phương pháp thu thập tài liệu, thông tin, được sử dụng trong nghiên cứu:
- Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó
- Tổng hợp các nguồn số liệu thứ cấp thông qua các báo cáo thống kê, dựtoán… đã được cơ quan Thuế
- Tìm thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: Báochí, internet
- Kết hợp các phương pháp thu thập thông tin, tài liệu, số liệu để có dữ liệu nghiên cứu, phân tích đầy đủ
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận: hệ thống hoá những đặc trưng cơ bản quản lý thuế đối
với cá nhân kinh doanh, làm rõ các quan hệ trong quy trình quản lý thuế vàứng dụng vào tiễn trong hoạt động quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh Phân tích và luận bàn về mặt lý luận và thực tiễn
Trang 14-Về mặt thực tiễn: ngoài những đề xuất, kiến nghị, biện pháp quản lý
thích hợp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ cá thể trên địa bànhuyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum, góp cách phần mang lại kết quả tốt hơn trongcông tác quản lý thuế cũng như công cuộc cải cách hệ thống thuế
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục cácbảng, hình vẽ, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với hộ cá thể.
Chương 2: Thực trạng quản lý thuế đối với hộ cá thể trên địa bàn huyện
Đăk Tô, tỉnh Kon Tum
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ cá
thể trên địa bàn huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum
7 Tài liệu nghiên cứu chính
[1] Đỗ Đức Minh và nhóm tác giả (2010), Giáo trình Lý thuyết thuế,
NXB Tài chính, 2010
Lý thuyết thuế là môn khoa học có nghiên cứu những vấn đề lý luận cơbản nhất về thuế, qua đó người học và độc giả có thể tìm thấy ở môn học nàynhững nguyên lý chung của việc đánh thuế, tác động kinh tế của thuế khóa,nguyên lý chung của việc đánh thuế, tác động kinh tế của thuế khóa, nguyên
lý xác lập các loại thuế khác nhau, những quy tắc đối xử về thuế trong quan
hệ kinh tế quốc tế… Đây là là cơ sở cho việc nghiên cứu, hoạch định chínhsách thuế, quản lý thuề và tìm hiểu chính sách thuế Vì vậy đây là tài liệuchính cho nghiên cứu
[2] Lê Xuân Trường (2002), Giáo trình quản lý thuế, NXB Tài
chính, 2010
Giáo trình Quản lý thuế tập trung giới thiệu các nội dung về quản lý thuế có liên quan trực tiếp đến người nộp thuế như kê khai thuế, nộp thuế,
Trang 15quyết toán thuế… được giới thiệu ở các giáo trình về Thuế thu nhập, Thuếtiêu dùng, và Thuế tài sản Trong giáo trình này, chúng tôi giới thiệu nhữngnội dung lý luận cơ bản về quản lý thuế của cơ quan thuế như: Tổng quan vềthuế, tổ chức bộ máy và quy trình quản lý thuế Giáo trình cũng giới thiệunhững vấn đề lý luận và quy trình nghiệp vụ thực hiện các chức năng quản lýthuế như: Quản lý kê khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế; tuyên truyềnthuế; dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế; thanh tra, kiểm tra thuế; quản lý nợ vàcưỡng chế thuế; dự toán thu thuế Giáo trình cũng giới thiệu một nội dungquan trọng là ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế.
Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu (2005), Giáo trình nghiệp vụ thuế, NXB Tài chính, 2005
Mai Văn Bưu và Đoàn Thị Thu Hà (1999), Giáo trình quản lý Nhà nước về kinh tế, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà nội.
PGS.TS Nguyễn Thị Bất, TS Vũ Duy Hào (Đồng chủ biên), Giáo trình quản lý thuế, NXB Thống kê, 2002
Nghị quyết số 19/NQ-CP nhày 18/3/2014 về những nhiệm vụ, giải phápchủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnhtranh quốc gia hai năm 2014-2015 cùng với chiến lược cải cách hệ thông thuếgiai đoạn 2011-2020 ở Việt Nam với mục tiêu cải cách chính sách thuế vàquản lý thuế theo hướng phù hợp với thể chế thị trường, tạo điều kiện thuậnlợi cho Người nộp thuế
Ngoài ra, để thực hiện đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với
hộ cá thể trên địa bàn huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum”, bản thân tác giả đã tham
khảo một số tài liệu có liên quan như: Các văn bản chính sách pháp luật vềthuế, về quản lý thuế đối với hộ cá thể, Chiến lược cải cách hệ thống thuế giaiđoạn 2011-2020, Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015; Kếhoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2016-2020; và các Thông tư, Quy
Trang 16Bộ Tài chính, Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 của BộTài Chính về việc sửa đổi, bổ sung về chính sách và quản lý thuế đối với cánhân kinh doanh
Tổng cục Thuế, Quy trình quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh banhành kèm theo Quyết định số 2371/QĐ-TCT ngày 18/12/2015
8 Tổng quan tài liệu
Quản lý quản lý thuế đối với hộ cá thể là một trong những chức năngquan trọng trong công tác quản lý Nhà nước, được thực hiện bởi hệ thống thuthuế Nhà nước dựa trên hệ thống chính sách thuế, tạo môi trường bình đẳng,nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển kinh doanhnhằm đảm bảo nguồn thu ổn định, lâu dài Thuế là nguồn thu chủ yếu củangân sách Nhà nước (NSNN) và là công cụ quan trọng điều tiết vĩ mô nềnkinh tế, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, kích thích sản xuất phát triển
Do có vai trò rất quan trọng nên các quốc gia đều quan tâm đến thuế và đưa ranhiều biện pháp để quản lý và thu thuế có hiệu quả hơn
Thuế đối với hộ cá thể không chỉ là loại thuế đem lại nguồn thu lớn hàngnăm cho NSNN, nó còn là công cụ để Nhà nước thực hiện chính sách côngbằng xã hội và điều tiết các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường Đây cũng là loại thuế khó quản lý và dễ gây thất thu lớn.Làm thế nào để quản lý thuế đối với hộ cá thể vừa đảm bảo thu ngân sách,
Trang 17thực hiện công bằng giữa các chủ thể kinh doanh, vừa kích thích phát triểnsản xuất kinh doanh đang là bài toán khó Có nhiều công trình nghiên cứu vềquản thuế có liên quan như sau:
[1] Trương Quốc Thắng (2008), “Tăng cường quản lý thu thuế Giá trị gia tăng và thuế Thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường đại học kinh tế Huế.
Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý thu thuế Giá trị gia tăng(GTGT) và thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) Phân tích, đánh giá thựctrạng quản lý thu thuế GTGT và thuế TNDN tại Chi Cục thuế huyện QuảngTrạch giai đoạn 2005-2007, chỉ ra được những tồn tại trong công tác quản lýthu thuế Giá trị gia tăng (GTGT) và thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN)trên địa bàn huyện Quảng Trạch Từ đó tác giả đã đề xuất các giải pháp khảthi, nhằm tăng cường quản lý thu thuế GTGT và thuế TNDN góp phần tăngnguồn thu ngân sách của huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình trong thời giantới
[2] Nguyễn Khắc Luyện (2008), “Tăng cường kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế Quảng Bình”, Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh
doanh, Đại học Đà Nẵng
Tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận về kiểm soát thuếThu nhập doanh nghiệp, trình bày được cách thức tổ chức kiểm soát thuếTNDN theo mô hình quản lý chức năng Tìm hiểu thực trạng kiểm soát thuếTNDN tại Cục thuế Quảng Bình và nêu lên những mặt hạn chế trong công táckiểm soát thuế TNDN Từ đó, tác giả đã đưa ra được một số giải pháp tăngcường kiểm soát thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh Quảng Bình như: Bộ máy kiểmsoát và chính sách cán bộ, hệ thống thông tin kiểm soát, các thủ tục kiểm soát.Đồng thời đề xuất một số kiến nghị liên quan đến công tác kiểm soát thuếTNDN nói riêng và quản lý thuế nói chung
Trang 18[3] Trần Văn Hùng (2008), “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế tỉnh Quảng Bình”, Luận
văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Tác giả đã hệ thống hoá lý luận về công tác quản lý thuế nói chung vàcông tác quản lý thuế đối với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng.Đồng thời tác giả cũng đã đi sâu phân tích thực trạng công tác quản lý thuếđối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mà chủ yếu tập trung phân tíchquy trình quản lý thuế đang áp dụng hiện tại mà chủ yếu là mô hình ”tự khai,tự nộp”, trong đó đi sâu phân tích từng công đoạn trong cả quá trình quản lý
Từ đó, rút ra những ưu điểm, tồn tại và vướng mắc cần phải tháo gỡ để đápứng yêu cầu quản lý thuế trong giai đoạn mới
Thông qua đánh giá tồn tại, khó khăn Luận văn đã kiến nghị, đề xuấtmột số giải pháp vừa mang tính tổng thể, vĩ mô vừa kiến nghị một số giảipháp mang tính chất trước mắt và mang tính địa phương nhằm hoàn thiệncông tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại CụcThuế tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới
[4] Vương Đình Chinh (2011), “Quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường đại học Kinh tế
Quốc dân Hà Nội
Tác giả đã hệ thống hóa lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp, từ đótrình bày khái quát về công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp, gồm mụctiêu, nguyên tắc và nội dung quản lý thuế TNDN Tác giả đã mô tả, phân tích
và đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp trên địabàn tỉnh Nghệ An theo các chức năng quản lý thuế hiện hành và đã chỉ ranhững hạn chế của công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bảntỉnh Nghệ An trong thời gian vừa qua Đồng thời tác giả cũng chỉ ra nhữngnguyên nhân cụ thể dẫn đến những hạn chế đã nêu Từ đó, đưa ra phương
Trang 19hướng và những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế thu nhậpdoanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong thời gian tới.
[05] Đỗ Thiên Anh Tuấn (2010), Thời báo kinh tế Sài Gòn Bài báo “Đòi hỏi cải cách thuế ở Việt Nam hiện nay” Bài báo phân tích sự cần thiếtphải tiến hành cái cách thuế, những trở ngại trong việc cải cách thuế ở ViệtNam hiện nay; đưa ra những nguyên lý cơ bản của cải cách thuế và một số bàihọc kinh nghiệm Tác giả cho rằng: Hệ thống quản lý thu thuế ở Việt Namđược đánh giá là kém hiệu quả, trong hi mức độ tuân thủ của người nộp thuếthấp Do vậy, khía cạnh hành chính thuế ở Việt Nam vừa mang tính mục tiêu,vừa mang tính hỗ trợ cho các cuộc cải cách thuế Cải cách hành chính thuếphải tập trung vào ba lĩnh vực bao gồm giảm sự quá tải của hệ thống quản lýthuế, giảm chi phí tuân thủ thuế và giảm chi phí quản lý thu thuế Chiến lượccải cách vội vã thường dẫn đến thất bại, gây khó khăn hơn cho những đợt cảicách trong tương lai
[6] Lê Bá Tiến (2012), “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Đà Nẵng.
Tác giả đã hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận về QLT đối với DN cóvốn FDI, về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ đó vận dụng để phântích, đánh giá thực trạng công tác QLT đối với DN có vốn FDI trên địa bàn TP
Đà Nẵng giai đoạn 2007-2011, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế
và nguyên nhân của hạn chế đó Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằmhoàn thiện công tác QLT đối với DN có vốn FDI trên địa bàn TP Đà Nẵnghướng đến mục tiêu chung đó là tăng mức độ tuân thủ pháp luật của DN vànâng cao chất lượng QLT
[7] Bùi Văn Nam (2015), Tạo chí Tài chính số 8, Kỳ 1 Bài báo: “Cảicách, hiện đại hoá hệ thống thuế: Dấu ấn hội nhập và đổi mới” Nội dung bài
Trang 20báo đã nêu được những thành công một số nội dung cải cách lớn của NgànhThuế dựa trên ba nền tảng cơ bản: thể chế chính sách thuế minh bạch, quytrình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học theo thông lệ quốc tế; nguồnnhân lực có chất lượng, liên chính và ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại,
có tính liên kết, tích hợp, tự động hoá cao Các cải cách lớn như: Mở rộngviệc kết nối thông tin tích hợp tự động Kho bạc - Thuế - Hải quan – Tài chính,trong đó đang tổ chức triển khai áp dụng chữ ký số vào việc trao đổi thông tin,
dữ liệu điện tử về thu NSNN; xây dựng, hoàn thiện áp dụng quản lý rủi rotrong quản lý thuế, đặc biệt trong công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý nợ vàcưỡng chế nợ thuế, giám sát sự tuân thủ NNT; xây dựng cơ sở dữ liệu NNTtheo hướng tập trung, đầy đủ, chính xác, thống nhất trên phạm vi cả nước.[8] ThS Ngô Thị Thu Hà, ThS Đinh Văn Linh (2016), Tạp chí tàichính số 5, Kỳ 1 Bài báo: “ Hoàn thiện hành lang pháp lý về thuế đối với hộkinh doanh ở Việt Nam” Nội dung bài báo đã nêu lên được tác động ban đầucủa Thông tư 92/2015/TT-BTC về hướng dẫn thực hiện thuế giá trị gia tăng
và thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh.Chính sách này đã thay đổi cơ bản về chính sách thuế đối với cá nhân kinhdoanh có hoạt động kinh doanh, mang lại được hiệu quả tăng cường sự minhbạch khi xác định doanh thu khoán, số thuế phải nộp hướng tới quản lý chặtchẽ hơn việc sử dụng hoá đơn và hạn chế tình trạng sử dụng hoá đơn để doanhnghiệp trốn thuế, lậu thuế Đồng thời tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinhdoanh có quy mô kinh doanh lớn nhằm tăng khả năng tuân thủ pháp luật thuế
và tạo ra sự bình đẳng đối với chủ thể kinh doanh có quy mô
Tuy một số nghiên cứu trên không tập trung vào quản lý thuế đối với hộ
cá thể nhưng đây vẫn là những tài liệu để nghiên cứu chủ đề này ở Đắk TôKon Tum
Ngoài ra để thực hiện đề tài “ Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối
Trang 21với hộ cá thể trên địa bàn huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum”, bản thân đã thamkhảo thêm một số tài liệu có liên quan như: các văn bản chính sách, pháp luật
về thuế, quản lý thuế hộ kinh doanh, Chiến lược cải cách hệ thống thuế giaiđoạn 2011-2020, Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015, Kếhoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2016-2020
Trang 22CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI
HỘ CÁ THỂ
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ
1.1.1 Khái niệm, bản chất, chức năng của thuế
a Khái niệm về thuế
Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa
vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản phápluật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếpcho đối tượng nộp thuế Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà làmột hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trùNhà nước và pháp luật
Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội,không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp Do đó, tại thời điểm nộpthuế, người nộp thuế không được hưởng bất kỳ lợi ích nào mà xem như đó làtrách nhiệm và nghĩa vụ đối với Nhà nước Như vậy, thuế mang tính cưỡngchế và được thiết lập theo nguyên tắc luật định
Bằng quyền lực chính trị của mình, Nhà nước đã ban hành các loại thuế
để tạo lập nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các khoản thu này được bố trí
sử dụng theo dự toán ngân sách nhà nước đã được phê duyệt cho tiêu dùngcông cộng và đầu tư phát triển nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhànước Như vậy, Thuế phản ánh quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội,thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xãhội
b Bản chất của thuế
- Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các
Trang 23giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước - pháp luật.
Sự xuất hiện Nhà nước đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chicho hoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho Nhànước tồn tài, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội củamình Trong điều kiện có các giai cấp, tồn tại chế độ tư hữu cùng với phạm vihoạt động của Nhà nước ngày càng mở rộng thì chế độ đóng góp theo phươngthức tự nguyện của dân cư trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ không còn phùhợp nữa Để có được lượng của cải cần thiết, Nhà nước đã sử dụng quyền lựccủa mình ban hành pháp luật, ấn định bắt buộc các thể nhân và pháp nhânphải đóng góp cho Nhà nước một phần của cải mà họ làm ra và hình thànhquỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Ban đầu những của cải vật chất này đượcthu nộp dưới hình thức hiện vật, dần dần thuế được chuyển sang hình thứctiền tệ Đồng thời, với việc ấn định nghĩa vụ thu nộp của cải vật chất đối vớidân cư, Nhà nước đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ đó bằng bộ máy cưỡngchế của Nhà nước
- Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành
Ở các quốc gia do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thànhquỹ ngân sách nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sông kinh tế
- xã hội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc cơquan lập pháp Đây là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật của cácnước Chẳng hạn như nước Anh đạo Luật về dân quyền năm 1688 quy định:cấm mọi sự thu thuế để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước nếu không đượcQuốc hội chấp nhận Ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: bất cứ một khoản thuếnào nếu không được Quốc hội chấp thuận thì không đuợc áp dụng Hiến phápcủa nước Cộng hoà Pháp năm 1791 quy định Quốc hội Pháp có quyền biểuquyết và định đoạt các Luật thuế
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc
Trang 24hội có nhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luật thuế.Tuy vậy, do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốc hội có thểgiao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ một sốloại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế.
- Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các pháp nhân và thể nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá hoàn trả trực tiếp
Thuế là nghĩa vụ thanh toán mà các thể nhân và pháp nhân khi có cácdấu hiệu và điều kiện được quy định cụ thể trong Luật thuế thì phải thực hiệnđối với Nhà nước và được đảm bảo thực hiện đối với Nhà nước và được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của Nhà nước
- Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội
Nhà nước thu thuế làm phát sinh quan hệ phân phối giữa Nhà nước vớicác thể nhân và pháp nhân trong xã hội Đối tượng của quan hệ phân phối này
là của cải vật chất được biểu hiện dưới hình thức giá trị
Sự tồn tại và phát triển của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử, đặcđiểm của phương thức sản xuất, kết cấu giai cấp là những nhân tố chủ yếu ảnhhưởng đến vai trò, nội dung, đặc điểm của thuế Do đó, cơ cấu và nội dungcủa cả hệ thống pháp luật thuế và từng Luật thuế phải được nghiên cứu, sửađổi bổ sung, cải tiến và đổi mới kịp thời nhằm thích hợp với tình hình, nhiệm
vụ của từng giai đoạn Đồng thời phải tổ chức bộ máy phù hợp, đủ sức đảmbảo thực hiện các quy định pháp luật về thuế đã được Nhà nước ban hànhtrong từng thời kỳ
Hệ thống pháp luật thuế được coi là phù hợp không chỉ nhìn một cáchphiến diện vào số lượng các Luật thuế nhiều hay ít, vào mục tiêu đơn thuần làđộng viên tài chính vào ngân sách Nhà nước mà phải được phân tích một cáchtoàn diện, chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế, với đời sống xã hội, không
Trang 25đối lập với quyền lợi và khả năng đóng góp của nhân dân.
Ở nước ta cải cách chế độ thu ngân sách Nhà nước, Luật thuế chỉ ápdụng đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tập thể
và cá thể Để thực hiện chế độ thu ngân sách Nhà nước phù hợp với cơ chế thịtrường, phát huy vai trò của các hình thức thu ngân sách Nhà nước được thựchiện trên cơ sở Nghị quyết Quốc hội khoá VIII kỳ họp thứ IV năm 1989 Kếtquả của cuộc cải cách này đưa đến việc áp dụng thống nhất chế độ thu thuếđối với tất cả các thành phần kinh tế, không phân biệt hình thức sở hữu, hìnhthức kinh doanh Từ đây thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của ngânsách Nhà nước và thuế chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn thu ngân sáchNhà nước
c Chức năng của thuế
Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn
có của các quan hệ tài chính Tuy nhiên thuế cũng có những đặc trưng, hìnhthức vận động và các chức năng riêng biệt bắt nguồn từ tổng thể các mối quan
Trang 26thu nhập quốc dân trong xã hội Chức năng phân phối và phân phối lại thunhập của thuế là sự huy động một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thứctiền tệ vào ngân sách Nhà nước Phần lớn thuế đánh trên hàng hoá và thunhập Người có thu nhập cao và sử dụng nhiều hàng hoá, dịch vụ là người nộpthuế nhiều hơn Số tiền này sau đó lại được Nhà nước chi nhằm thực hiệnchính sách kinh tế - xã hội, tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội Trongmột chừng mực nhất định, chức năng phân phối và phân phối lại đã tạo điềukiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết của thuế.
Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng quan trọng.Điều này được giải thích bởi sự phát triển, mở rộng các chức năng của Nhànước và việc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệpcủa Nhà nước vào các quá trình kinh tế
- Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế.
Chức năng điều tiết của thuế được nhận thức và sử dụng rộng rãi từnhững năm đầu của thế kỷ XX và gắn liền với vai trò điều chỉnh của Nhànước đối với nền kinh tế Việc tăng cường vai trò kinh tế - xã hội của Nhànước dẫn đến tốc độ chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên và hậu quả tấtyếu là đòi hỏi Nhà nước phải mở rộng quỹ tài chính Nhà nước, hình thành chủyếu từ việc thu thuế Nhu cầu về nguồn tài chính càng lớn thì Nhà nước cầnphải tăng cuờng các chức năng của thuế để tác động một cách có hiệu quả đếnnền kinh tế quốc dân Chính trong quá trình đó chức năng phân phối và phânphối lại và chức năng điều chỉnh của thuế đã được sử dụng một cách hiệnthực
Điều đó có nghĩa là nội dung điều tiết theo một mục tiêu nào đó đã đượcdự liệu trước vào trong quá trình huy động tập trung nguồn tài chính Bằngcách sử dụng nó để kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng, tăng cườnghoặc làm yếu đi sự tích luỹ tiết kiệm, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khả
Trang 27năng thanh toán của dân cư, đẩy nhanh hoặc làm chậm lại chu kỳ khủnghoảng kinh tế, Nhà nước đã thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hộitrong phạm vi quốc gia.
Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định cáchình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đốitượng nộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tínhđến khả năng của người nộp thuế Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạtđộng kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợiích của toàn xã hội Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai tròkích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng được nâng cao Nhà nước sửdụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nềnkinh tế quốc dân Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mangtính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinhdoanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh
Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết vớinhau Chức năng phân phối và chức năng phân phối lại của thuế là nguyênnhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết Nhưngchức năng điều tiết của thuế cũng có tác động ngược lại đến chức năng phânphối và phân phối lại thu nhập Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung đượcdưới dạng thuế là tiền đề của sự can thiệp của Nhà nước trên diện rộng vàtheo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngượclại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc đẩynhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của cáctầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tácđộng của chức năng phân phối và phân phối lại
Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ cácmâu thuẫn nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng Sự tăng cường
Trang 28chức năng phân phối và phân phối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tănglên Điều đó có nghĩa là mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiệncác chương trình kinh tế xã hội Mặt khác, việc tăng cường chức năng phânphối và phân phối lại một cách quá mức làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả
là làm giảm động lực phát triển kinh tế, trong nhiều trường hợp làm hạn chếvai trò của chức năng điều tiết Đó là tính hai mặt của thuế, nó có khả nănglàm ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tích cực, những cũng có thể ảnhhưởng một cách tiêu cực Tính hai mặt của sự tác động đó cần phải được xemxét nghiêm túc kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định, xây dựng, ban hành cácchính sách pháp luật về thuế của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triểnkinh tế - xã hội nhất định
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, tầm quan trọng của hộ kinh doanh cá thể
a Khái niệm hộ kinh doanh cá thê
Theo Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính Phủ
về đăng ký doanh nghiệp:
“Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân
là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng kýkinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.”
Theo Thông tư 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 hướng dẫn thực hiệnthuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có hoạtđộng kinh doanh
“Người nộp thuế hướng dẫn tại Chương I Thông tư này là cá nhân cư trú bao gồm cá nhân, nhóm cá nhân và hộ gia đình có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất,
Trang 29kinh doanh theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là cá nhân kinh doanh)”
Như vậy, hộ kinh doanh cá thể theo pháp luật hiện hành có hình thức là: một
cá nhân; một nhóm người (gồm các công dân Việt Nam, đủ 18 tuổi, cónăng lực hành vi dân sự đầy đủ); một hộ gia đình Đây là đối tượng phải nộpthuế môn bài, thuế giá trị gi tăng và thuế thu nhập cá nhân cho các hoạt độngsản xuất kinh doanh
b Đặc điêm của hộ kinh doanh cá thê
- Đặc điểm về sở hữu: Hộ kinh doanh cá thể mang tính chất của một hộgia đình, hoạt động dựa vào vốn, tài sản và sức lao động của những ngườitrong gia đình Hộ kinh doanh cá thể hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vàovốn và sức lao động của bản thân mình là chính Cùng với sự phát triển củanền kinh tế, hộ kinh doanh cá thể phát triển rất nhanh trong cả nước, hoạtđộng trong mọi ngành sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống,dịch vụ Dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người chủ kinh doanh tựquyết định từ quá trình sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm
- Về quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ; trình độ chuyên môn, quản lý chủyếu từ kinh nghiệm Hoạt động của hộ kinh doanh mang tính tự chủ cao, tựtìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động Thành phần kinh tế này rất nhạy béntrong kinh doanh, dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợpvới yêu cầu của thị trường và nền kinh tế
- Số lượng hộ cá thể lớn, đa dạng về đối tượng, hình thức, ngành nghề, địa bàn và thời gian hoạt động
- Về trình độ kinh doanh, ý thức tuân thủ pháp luật nói chung và phápluật về thuế còn chưa cao do hầu hết các hộ kinh doanh ở quy mô nhỏ, pháttriển kinh tế gia đình nhằm tăng thu nhập, kinh doanh theo kinh nghiệm,không thực hiện chế độ sổ sách kế toán, không thực hiện khai và nộp thuếtheo thu nhập (doanh thu trừ chi phí) mà chủ yếu nộp thuế theo phương pháp
Trang 30khoán (nộp theo tỷ lệ án định trên doanh thu)…
c Tầm quan trọng của hộ kinh doanh cá thê
- Hộ kinh doanh ở các địa phương, tạo ra các chủng loại sản phẩm hànghoá dịch vụ đa dạng, phong phú Hộ kinh doanh cá thể có một tiềm năng tolớn về trí tuệ, sáng kiến, được phân bố rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc Nhờ đó hộkinh doanh có thể phát huy được sáng kiến của mình vào việc sản xuất và tìmtòi ra những hình thức kinh doanh phù hợp với điều kiện địa bàn sinh sống,kinh doanh
- Hộ kinh doanh cá thể không những giải quyết việc làm, tăng thu nhập
mà còn là mạng lưới rộng lớn, phát triển về những vùng xa, vùng khó khăn
mà các lĩnh vực kinh doanh khác không đáp ứng được Đây là kênh phân phối
và lưu thông hàng hoá quan trọng, giúp cân đối thương mại và phát triển kinh
tế địa phương
- Hộ kinh doanh cá thể thường kinh doanh dựa trên bí quyết sản xuấttruyền thống được tích luỹ từ nhiều thế hệ Điều này cho phép phát huy nhữngngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm dịch vụ phục vụ cho nhucầu và xuất khẩu Nó có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện đất nước cònthiếu vốn như hiện nay Trong khi nguồn vốn Nhà nước và tập thể còn hạnhẹp thì nguồn vốn tiềm năng trong dân lại rất lớn Do đó nếu có chính sáchkinh tế hợp lý sẽ mở đường cho các hộ kinh doanh cá thể có khả năng bỏ vốnvào sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng để tích luỹ, mở rộng tái sản xuất gópphần thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh chóng
1.1.3 Khái niệm quản lý thuế
a Khái niệm quản lý thuế
Quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế, bao gồm việc tổchức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế, hay nói cách khác đó hoạtđộng chấp hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà cụ thể là hệ thống
Trang 31cơ quan quản lý thuế từ trung ương đến địa phương trong quản lý thu, nộpthuế cho nhà nước từ các tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế đã được xácđịnh trong các Luật thuế.
Quản lý thuế có vai trò đảm bảo cho chính sách thuế được thực thinghiêm chỉnh trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội Chính sách thuế thườngđược thiết kế nhằm thực hiện những chức năng cao cả của thuế như điều tiếtkinh tế vĩ mô phục vụ mục tiêu tăng trưởng của đất nước hay phân phối thunhập nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các tầng lớp dân cư trông xã hội Tuynhiên, các mục tiêu này chỉ trở thành hiện thực nếu quản lý thuế thực hiệnđiều hành, giám sát tốt để ai là NNT thì phải nộp thuế đúng, nộp thuế đủ vànộp thuế đúng hạn số thuế phải nộp vào NSNN Vì vậy có thể khẳng địnhQLT có vai trò Quyết định cho sự thành công của từng chính sách thuế
b Sự cần thiết phải tăng cường quản lý thuế
Thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế có vai trò rất quan trọng trongviệc đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước; tạo điều kiện thuận lợi chongười nộp thuế nộp đúng, đủ, kịp thời tiền thuế Chính sách thuế là công cụthực sự có hiệu lực quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thuế hoạt động cóhiệu quả là chủ trương giải phóng mọi tiềm năng sản xuất kinh doanh, đảmbảo sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy tổ chức sắp xếp lạiSXKD nâng cao chất lượng kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêuhoạt động của các chủ thể kinh tế là lợi nhuận, vì vậy các chủ thể kinh tếthường dùng nhiều thủ đoạn, tiểu xảo để trốn thuế hoặc “lách luật” Vì vậy đòihỏi ngành thuế phải tăng cường quản lý thu thuế để phát huy những yếu tốtích cực và hạn chế, ngăn ngừa biểu hiện tiêu cực trong việc chấp hành phápluật thuế
1.1.4 Tầm quan trọng của việc quản lý thuế đối với hộ cá thể
Đối với hộ kinh doanh cá thể thì hầu hết đều có quy mô nhỏ, sản xuất
Trang 32kinh doanh nhiều mặt hàng, hay thay đổi địa điểm và ngành nghề kinh doanh.Hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ còn mang tính tự phát có thể bỏqua nhiều quy định để thu về lợi nhuận Trình độ am hiểu và chấp hành ý thứcpháp luật của người dân không cao nên đã làm cho công tác quản lý thu thuếgặp nhiều khó khăn Hơn nữa, hộ kinh doanh cá thể lại hoạt động trong phạm
vi dàn trải, địa bàn rất rộng gây không ít khó khăn trong công tác quản lý Ngoài ra, đa số các hộ kinh doanh vẫn chưa thực hiện tốt chế độ sổ sách
kế toán, hoá đơn chứng từ để làm cơ sở xác định số thuế phải nộp Nhiều hộkinh doanh chưa tự nguyện, tự giác đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế vànhiều hộ chây ỳ không nộp thuế, nợ đọng thuế, Nhiều trường hợp hộ kinhdoanh cá thể cá thể khai tạm nghỉ kinh doanh nhưng thực tế vẫn hoạt độngbình thường mà cán bộ thuế không phát hiện ra hoặc không phát hiện đượcnên số lượng xử lý vẫn còn ít so với thực tế cần xử lý
Xét trên khía cạnh chủ quan, trong thực trạng công tác quản lý thuế đốivới hộ kinh doanh cá thể, khi cán bộ thuế không đủ năng lực hoặc không đủlực lượng hoặc nghiêm trọng hơn là lợi dụng sự lỏng lẻo trong quy định quản
lý thuế mà cố tình cấu kết với các đối tượng nộp thuế làm thất thu NSNN.Như vậy, việc tăng cường công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cáthể là công tác cần thiết và hết sức quan trọng, không chỉ phục vụ riêng chocông tác thu ngân sách mà còn thực hiện kiểm tra, kiểm soát đảm bảo côngbằng xã hội nói chung Chính vì vậy, từng cấp cơ sở quản lý thuế cần cónhững biện pháp quản lý riêng cho phù hợp với thực trạng thu thuế ở khu vực
đó, góp phần chóng thất thu thuế, ngăn chặn sự thất thu NSNN
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ CÁ THỂ
1.2.1 Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế
Nhà nước quản lý xã hội bằng hệ thống pháp luật Pháp luật về thuế làmột bộ phận của hệ thống pháp luật Hiện nay, tình trạng trốn thuế, sai phạm
Trang 33về thuế vẫn còn phổ biến Bên cạnh đó, chính sách thuế thường xuyên thayđổi và rất nhiều NNT chưa có điều kiện nắm bắt kịp thời các luật thuế Chính
vì vậy, công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT sẽ tăng cường tính thực thi củapháp luật Thuế nói riêng và pháp luật của Nhà nước nói chung
Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế là khâu đầu của công tác quản lýthuế theo chức năng Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế có tác dụng khôngchỉ đối với người nộp thuế, nhằm ngăn ngừa giảm dần các sai phạm, việc làmnày còn thuận lợi ngay cả cho cơ quan thuế trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ của mình Tuyên truyền hỗ trợ cho người nộp thuế sẽ tạo ra mối quan hệthân thiện giữa cơ quan thuế và người nộp thuế Người nộp thuế sẽ nhận đượcnhững thông tin, kiến thức về thuế, tiết kiệm thời gian và tiền của cho quátrình thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Đối với cơ quan thuế sẽ làm tăng số thu,giảm chi phí, tăng mức độ chấp hành và tăng độ tin cậy của NNT Nếu làm tốtcông tác tuyên truyền hỗ trợ thì số thuế do NNT chủ động thực hiện nộp vàongân sách tăng lên mà chưa cần phải tổ chức thanh tra, kiểm tra Để làm tốtcông tác hỗ trợ người nộp thuế, cơ quan thuế phải thật sự coi người nộp thuế
ký thuế, người nộp thuế kê khai những thông tin của mình theo mẫu quy định
và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế và được cấp một mã số thuế để thựchiện quyền và nghĩa vụ về thuế
+ Người nộp thuế chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất để sử dụngtrong suốt qua trình hoạt động từ khi đăng ký thuế cho đến khi không tồn tại
Trang 34Người nộp thuế phải ghi mã số thuế được cấp vào hóa đơn, chứng từ, tài liệu,
tờ khai thuế để kê khai thuế và khi thực hiện các giao dịch
+ Hộ cá thể thực hiện đăng ký thuế cùng với thời hạn nộp hồ sơ khaithuế lần đầu Trường hợp được cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứngnhận đăng ký hộ kinh doanh thì hộ gia đình, nhóm cá nhân, cá nhân kinhdoanh phải thực hiện đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế trong thời hạn
10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký hộkinh doanh
+ Hộ cá thể và cá nhân khác đã đăng ký thuế với cơ quan thuế, khi cóthay đổi một trong các thông tin trên tờ khai đăng ký thuế, bảng kê kèm theo
tờ khai đăng ký thuế phải thực hiện thủ tục thay đổi thông tin đăng ký thuếvới cơ quan thuế quản lý trực tiếp trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể
từ ngày phát sinh thông tin thay đổi
Đối với người nộp thuế là hộ cá thể có thay đổi thông tin đăng ký thuếthông qua hồ sơ khai thuế thì khai báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp Cơquan thuế căn cứ vào hồ sơ khai thuế của hộ gia đình, cá nhân để thực hiệncập nhật các thông tin thay đổi cho người nộp thuế
+ Khi chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc bị thu hồi Giấy chứng nhậnđăng ký hộ kinh doanh do vi phạm pháp luật, hộ cá thể phải thực hiện thủ tụcchấm dứt mã số thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp
+ Cơ quan thuế có trách nhiệm việc cấp mã số thuế, cập nhật các thôngtin thay đổi vào hệ thống dữ liệu đăng ký thuế của ngành Thuế; thực hiệnđóng mã số thuế thuế và thông báo chấm dứt hiệu lực mã số thuế trên cácphương tiện thông tin đại chúng
Khai thuế, tính thuế:
- Khai thuế là việc NNT tự xác định số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ
kê khai thuế theo quy định của từng Luật thuế, Pháp lệnh thuế NNT sử dụng
Trang 35hồ sơ khai thuế của từng loại thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế để kêkhai số thuế phải nộp với cơ quan thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chínhxác của các số liệu trong hồ sơ khai thuế.
+ Đối với Cá nhân nộp thuế khoán khai thuế khoán một năm một lần tạiChi cục Thuế nơi cá nhân có địa điểm kinh doanh và không phải quyết toánthuế Cá nhân nộp thuế khoán sử dụng hoá đơn của cơ quan thuế thì ngoàiviệc khai doanh thu khoán, cá nhân tự khai và nộp thuế đối với doanh thu trênhoá đơn theo quý
+ Cá nhân nộp thuế từng lần phát sinh khai thuế giá trị gia tăng, thuế thunhập cá nhân theo từng lần phát sinh nếu có tổng doanh thu kinh doanh trongnăm dương lịch trên 100 triệu đồng
+ Cá nhân cho thuê tài sản trực tiếp khai thuế thực hiện khai thuế giá trịgia tăng, thuế thu nhập cá nhân nếu có tổng doanh thu cho thuê tài sản trongnăm dương lịch trên 100 triệu đồng Cá nhân lựa chọn khai thuế theo kỳ thanhtoán hoặc khai thuế một lần theo năm Trường hợp có sự thay đổi về nội dunghợp đồng thuê tài sản dẫn đến thay đổi doanh thu tính thuế, kỳ thanh toán,thời hạn thuê thì cá nhân thực hiện khai điều chỉnh, bổ sung Cá nhân khaithuế theo từng hợp đồng hoặc khai thuế cho nhiều hợp đồng trên một tờ khainếu tài sản cho thuê tại địa bàn có cùng cơ quan thuế quản lý
- CQT tôn trọng việc tự tính thuế và khai thuế của NNT, đồng thời cócác biện pháp giám sát hiệu quả, vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tựnguyện của NNT, vừa bảo đảm phát hiện, ngăn ngừa những trường hợp viphạm pháp luật thuế
Ấn định thuế:
Về nguyên tắc, người nộp thuế phải tự xác định số thuế phải nộp, kê khai
và nộp số thuế kê khai vào NSNN theo đúng thời hạn Tuy nhiên, trường hợp
hộ cá thể không xác định được doanh thu khoán, không nộp hồ sơ khai
Trang 36thuế hoặc doanh thu tính thuế khoán xác định không phù hợp với thực tế kinhdoanh thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu tính thuế khoán theoquy định của pháp luật về quản lý thuế Đây là cơ sở pháp lý để cơ quan thuếthực hiện quyền ấn định thuế cũng như hạn chế tình trạng lạm dụng khi thựchiện ấn định thuế, đảm bảo công bằng trong công tác quản lý thuế.
Ấn định thuế là việc cơ quan thuế xác định số thuế phải nộp và yêu cầuNNT chấp hành nộp thuế theo quyết định ấn định thuế của cơ quan thuế khiNNT không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ, trung thực
Căn cứ ấn định thuế:
+ Cơ quan thuế căn cứ vào cơ sở dữ liệu thu thập được từ NNT khai báo
về doanh thu, chi phí, thu nhập, số thuế phải nộp trong các kỳ khai thuế trước;
Tổ chức, cá nhân có liên quan đến NNT; các cơ quan quản lý Nhà nước khác.+ Tham khảo, đối chiếu số thuế phải nộp của cơ sở kinh doanh cùng ngành nghề, cùng mặt hàng, cùng qui mô tại địa phương
+ Tài liệu và kết quả kiểm tra, thanh tra còn hiệu lực Tuỳ theo mức độ
vi phạm, cơ quan quản lý thuế ấn định số thuế phải nộp (ấn định toàn bộ) hoặc ấn định từng yếu tố liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp
Nộp thuế:
Người nộp thuế có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn vào ngânsách Nhà nước Trường hợp người nộp thuế tính thuế, thời hạn nộp thuế chậmnhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế Trường hợp cơ quanthuế tính thuế hoặc ấn định thuế, thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thôngbáo của cơ quan thuế
1.2.3 Quản lý miễn thuế, giảm thuế đối với hộ cá thể
Cơ quan quản lý thuế thực hiện miễn thuế, giảm thuế đối với các trườnghợp thuộc diện miễn thuế, giảm thuế được qui định tại các văn bản pháp luật
về thuế
Trang 37Trường hợp cá nhân nộp thuế khoán ngừng/nghỉ kinh doanh thì thôngbáo ngừng/nghỉ kinh doanh đến cơ quan thuế chậm nhất là một ngày trước khingừng/nghỉ kinh doanh Cơ quan thuế căn cứ vào thời gian ngừng/nghỉ kinhdoanh của cá nhân nộp thuế khoán để xác định số tiền thuế khoán được giảmTrường hợp cá nhân nộp thuế khoán bị thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, bệnhhiểm nghèo thì gửi văn bản đề nghị miễn (giảm) thuế Cơ quan thuế căn cứ hồ
sơ miễn (giảm) thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bảnhướng dẫn hiện hành để xét giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại nhưngkhông vượt quá số thuế phải nộp
1.2.4 Quản lý thông tin người nộp thuế đối với hộ cá thể
Hệ thống thông tin về người nộp thuế là tất cả các thông tin tài liệu liênquan đến nghĩa vụ thuế của Người nộp thuế, bao gồm các thông tin địnhdanh, thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh, kê khai, nộp thuế, tình hìnhtuân thủ pháp luật thuế, giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế và các thông tinkhác do người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân khác tự nguyện cung cấphoặc cung cấp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thông tin về người nộp thuế được thu thập từ các nguồn: Thông tin, tàiliệu do NNT hoặc tổ chức, các nhân được NNT uỷ quyền kê khai, cung cấp;thông tin, tài liệu do cơ quan quản lý thuế thu thập trong quá trình theo dõiđăng ký, kê khai, nộp thuế; giải quyết hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoánợ; kiểm tra, thanh tra, điều tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm vềthuế; và quản lý sử dụng hoá đơn của người nộp thuế; thông tin, tài liệu liênquan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của NNT; thông tin về chính sách vàtình hình phát triển kinh tế; đặc thù ngành sản xuất kinh doanh của NNT hoặcnhóm NNT do bên thứ ba là các cơ quan, tổ cức, cá nhân cung cấp; thông tin,tài liệu mua từ tổ chức, cá nhân (nếu có)
Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm xây dựng hệ thống thông tin NNT
Trang 38thống nhất từ trung ương đến địa phương; đảm bảo cơ sở dữ liệu tập trung vềtrung ương; xây dựng chế độ thông tin, báo cáo thường xuyên, định kỳ giữa
cơ quan quản lý thuế các cấp
1.2.5 Quản lý nợ thuế đối với hộ cá thể
Thực hiện nội dung của Luật Quản lý thuế, công tác quản lý nợ và cưỡngchế nợ thuế là một trong những chức năng có vị trí, vai trò quan trọng trong
hệ thống quản lý thuế Điều này được thể hiện:
Một là, việc quản lý nợ đọng thuế là một khâu trong hệ thống quản lý
thuế, một trong những chức năng chính và cơ bản của mô hình quản lý thuếtheo chức năng trong cơ chế tự tính, tự khai - tự nộp thuế được sử dụng nhằmquản lý hệ thống thuế
Hai là, đôn đốc người nộp thuế nộp các khoản thuế còn nợ thuế vào ngân
sách theo quy định của pháp luật Đảm bảo công bằng xã hội khi người nộpthuế cùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì phải nộp vào ngân sách đúng hạn Thựchiện công bằng xã hội thông qua việc cơ quan thuế có tác động can thiệp kịpthời và xử lý nghiêm túc các trường hợp có hành vi vi phạm về chậm nộp thuếnhằm nâng cao ý thức tuân thủ của NNT
Ba là, quản lý nợ đọng thuế và kết quả đem lại từ việc đôn đốc nợ và
cưỡng chế nợ thuế là một phần thước đo để đánh giá và nâng cao hiệu quả củacông tác quản lý thuế của ngành thuế Số thuế nợ đọng không kiểm soát được
sẽ dẫn đến khả năng phát sinh các khoản thuế không có khả năng thu hồi.Chỉ tiêu nợ đọng thuế đánh giá việc thu, nộp thuế chưa kịp thời và đúngquy trình Mục tiêu của của công tác quản lý nợ thuế là xử lý các cá nhân kinhdoanh dây dưa, chây ì tiền thuế, tiền phạt, nhằm thu kịp thời các khoản thuvào ngân sách nhà nước
1.2.6 Kiểm tra thuế đối với hộ cá thể
Công tác kiểm tra thuế nhằm ngăn chặn, phát hiện những hành vi vi
Trang 39phạm pháp luật thuế có thể xảy ra hoặc đã xảy ra, là một trong các chức năng
cơ bản của quản lý thuế theo mô hình chức năng Kiểm tra là một biện pháphữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp người nộp thuế nhận thấyluôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành
vi vi phạm của NNT Ngoài ra, công tác kiểm tra còn phát hiện những nộidung không phù hợp trong các văn bản pháp qui về thuế với thực tiễn đờisống, kinh tế, xã hội của đất nước, những điểm không phù hợp về công tác tổchức hệ thống bộ máy ngành thuế, về các vấn đề nghiệp vụ của công tác hànhthu, từ đó kiến nghị các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung kịp thời để khôngngừng hoàn thiện hệ thống thuế
Khác với công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp, công tác kiểm tra hộ
cá thể chủ yếu là kiểm tra hộ cá thể có đơn xin nghỉ kinh doanh, đặc biệt là số
hộ cá thể có đơn xin nghỉ tạm thời có đơn xin miễn, giảm Khi đó Đội KTT phối hợp với Bộ phận QLN thực hiện xác nhận nợ thuế của HKD, dựthảo Quyết định miễn/giảm thuế hoặc dự thảo Thông báo không đượcmiễn/giảm thuế theo mẫu quy định trình lãnh đạo Chi cục Thuế phê duyệt khihọp duyệt Bộ Thuế phát sinh hằng tháng Trường hợp cần yêu cầu kiểm tra,làm rõ thêm thông tin để xác định số thuế được miễn, giảm thì lập Phiếu đềnghị giải quyết theo mẫu ban hành kèm theo quy trình khai thuế, nộp thuế và
KK-kế toán thuế hiện hành chuyển Đội kiểm tra thuế để thực hiện kiểm tra, xácminh thông tin về tiền thuế được miễn, giảm của HKD
Công tác giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận nội dungkhiếu nại, ban hành, gửi, công khai quyết định giải quyết khiếu nại đối vớiquyết định hành chính, hành vi hành chính của CQT đối với quyết định kỷluật cán bộ, công chức
Công tác giải quyết khiếu nại phải đảm bảo Nguyên tắc giải quyết khiếunại: Việc giải quyết khiếu nại phải bảo đảm chính xác, khách quan, công khai,
Trang 40dân chủ, kịp thời và đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn theo quy địnhcủa pháp luật; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp phápcủa cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ CÁ THỂ
1.3.1 Nhân tố thuộc về cơ quan thuế
Các nhân tố thuộc về nội bộ cơ quan thuế, bao gồm:
Tổ chức bộ máy: Là tổng thể các đơn vị, các bộ phận cấu thành dựa trên
chức năng nhiệm vụ được giao Để một tổ chức hoạt động tốt, tổ chức bộ máycần đáp ứng được các yêu cầu như: tinh gọn, hiệu quả, hiệu lực; đúng chứcnăng nhiệm vụ; phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận; vận hành một cách nhịpnhàng Tổ chức bộ máy tuy đã được thực hiện theo mô hình chức năng, phùhợp với tiến trình cải cách và hiện đại hóa của ngành thuế; nhưng vẫn còncồng kềnh tỷ lệ cán bộ bố trí ở các chức năng chưa hợp lý
Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong cơ quan thuế tuy đã đượckiện toàn một bước, nhưng thực trạng vẫn còn chồng chéo, chưa chuyên sâu,chuyên nghiệp Cơ quan thuế chưa được giao điều tra, khởi tố các vụ vi phạm
về thuế, chức năng cưỡng chế thu nợ thuế chưa được quy định rõ nên việc xácđịnh và xử lý chưa kịp thời các gian lận lớn về thuế và xử lý nợ đọng gặpnhiều khó khăn
Con người: Đây là yếu tố quan trọng nhất, quyết định đến việc thành
công hay thất bại của công tác quản lý thu thuế, những người trực tiếp thựcthi công vụ về thuế Trình độ và kỹ năng cũng như khả năng phát triển của họtrong tương lai, tập quán, phong thái và thái độ trong quá trình làm việc sẽ tácđộng trực tiếp đến hiệu quả của công tác quản lý thuế
Phẩm chất cách mạng và năng lực toàn diện của các cán bộ quản lý thuthuế phải được nâng cao về quan điểm, lập trường, đạo đức, về trình độ