Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tìnhtrạng này là do giáo viên không được chủ động về thời gian, nội dung giảngdạy hoặc chưa tìm được các phương pháp hữu hiệu để chữa các lỗi d
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THU HIỀN
ỨNG DỤNG LÍ THUYẾT NGỮ PHÁP VĂN BẢN
VÀO VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT VĂN CHO HỌC SINH LỚP 3
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THU HIỀN
ỨNG DỤNG LÍ THUYẾT NGỮ PHÁP VĂN BẢN
VÀO VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT VĂN CHO HỌC SINH LỚP 3
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)
Mã số: 60140101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN GIA CẦU
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, đội ngũ giáo viên các trườngQuốc tế Song ngữ Wellspring và trường Phổ thông liên cấp Vinschool, Phònggiáo dục quận Long Biên, quận Hai Bà Trưng, Sở Giáo dục và Đào tạo HàNội, các bạn đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ và giúp đỡ tác giả hoàn thànhluận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn sẽ không tránh khỏi nhữngthiếu sót nhất định, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, phêbình của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2017.
Tác giả
Nguyễn Thu Hiền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan r ng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan
r ng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và cácthông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 10 năm 2017.
Tác giả
Nguyễn Thu Hiền
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐÒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Giả thuyết khoa học 6
8 Đóng góp của luận văn 6
9 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 LÍ THUYẾT NGỮ PHÁP VĂN BẢN VÀ THỰC TRẠNG DẠY TẬP LÀM VĂN Ở LỚP 3 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Một số vấn đề chung về lí thuyết Ngữ pháp văn bản (NPVB) 8
1.1.2 Văn bản 9
1.1.3 Đoạn văn 16
1.1.4 Liên kết và liên kết câu trong văn bản 22
1.2 Khảo sát chương trình sách giáo khoa phân môn Tập làm văn lớp 3 36
1.3 Thực trạng dạy học tập làm văn, viết văn ở tiểu học nói chung và với học sinh lớp 3 nói riêng 41
Trang 71.3.1 Thực trạng tổ chức dạy học tập làm văn viết của giáo viên tiểu học nói
chung và giáo viên lớp 3 nói riêng 41
1.3.2 Thực trạng về nhận thức và thực hành ứng dụng lí thuyết ngữ pháp văn bản của học sinh vào quá trình học tập làm văn ở lớp 3
45 Tiểu kết chương 1 49
Chương 2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT VĂN KỂ CHO HỌC SINH LỚP 3 DỰA TRÊN LÍ THUYẾT NGỮ PHÁP VĂN BẢN 50
2.1 Nguyên tắc chung 50
2.2 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng làm văn 50
2.2.1 Bài tập bồi dưỡng cảm xúc, cung câp vốn sống cho học sinh 51
2.2.2 Bài tập rèn luyện kĩ năng phân tích đề 54
2.2.3 Bài tập rèn luyện kĩ năng tìm ý, lập dàn ý 58
2.2.4 Bài tập rèn luyện kĩ năng liên kết câu thành một đoạn
62 2.2.5 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng xây dựng đoạn 64
2.2.6 Bài tập rèn luyện kĩ năng hoàn thiện bài viết (phát hiện và sửa lỗi) 68
2.3 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu: 69
2.3.1 Bài tập mở rộng vốn từ 70
2.3.2 Bài tập vận dụng 71
Tiểu kết chương 2 75
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76
3.1 Mục đích của dạy học thực nghiệm (DHTN) 76
3.2 Nhiệm vụ của dạy học thực nghiệm 76
3.2.1 Biên soạn tài liệu 76
3.2.2 Tổ chức theo dõi việc dạy học thực nghiệm (DHTN) theo tài liệu đã biên soạn 82
Trang 83.2.3 Tập hợp, phân tích, xử lí kết quả DHTN để rút ra những kết luận về hiệu quả của việc sử dụng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sản sinh văn bản
vào dạy phân môn Tập làm văn ở tiểu học 82
3.3 Nội dung dạy học thực nghiệm 82
3.4 Quy trình thực nghiệm và các tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm 83
3.5 Thực hiện việc dạy học thực nghiệm 84
3.6 Kết quả DHTN và đánh giá kết quả 84
3.6.1 Kết quả lĩnh hội tri thức của HS 84
3.6.2 Đánh giá về kĩ năng sản sinh văn bản của HS 88
3.6.3 Một số nhận xét của Ban giám hiệu và giáo viên ở các trường thực nghiệm 91
3.7.Những kết luận rút ra từ dạy học thực nghiệm 92
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Nhận thức của GV về lí thuyết NPVB 42Bảng 1.2 Khả năng nhận biết của GV trong việc ứng dụng lí thuyết NPVBtrong dạy học Tập làm văn 44Bảng 1.3: Công việc thường làm của HS trong quá trình sản sinh văn bản 46Bảng 1.4: Khó khăn cơ bản của HS trong học Tập làm văn 47Bảng 2.1: Bảng hệ thống hóa các kĩ năng làm văn 51Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả kiểm tra của HS các lớp thực nghiệm và đốichứng 85Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả thống kê các mức độ rèn luyện 90
kĩ năng sản sinh văn bản của HS 90
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐÒ
Biểu đồ 3.1 So sánh tỉ lệ HS yếu kém (theo tỉ lệ %) 87
Biểu đồ 3.2 So sánh tỉ lệ HS chưa hoàn thành (theo tỉ lệ %) 87
Biểu đồ 3.3 So sánh tỉ lệ HS khá (theo tỉ lệ %) 88
Biểu đồ 3.4 So sánh tỉ lệ HS hoàn thành tốt (theo tỉ lệ %) 88
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Với mỗi quốc gia, giáo dục luôn được coi là “quốc sách hàng đầu” Đầu
tư cho giáo dục, là đầu tư lâu dài và có “lãi” nhất Lịch sử đã chứng minh, đấtnước nào đầu tư cho giáo dục, có nền giáo dục phát triển thì đất nước đó cũngphát triển về mọi mặt Ý thức được điều đó, nên ngày 4/11, Tổng Bí thưNguyễn Phú Trọng đã ký ban hành nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấphành Trung ương khóa XI (nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo Trong đó nhấn mạnh việc phải chú trọng chất lượngđào tạo Từ chủ chương đổi mới, nền giáo dục Việt Nam trong những năm gầnđây có nhiều thay đổi trong tất cả các cấp học, các môn học Chính trongguồng quay ấy, việc dạy văn và học văn cũng cần có những bước cải tiến
Trong lịch sử nước ta, Văn học đã từng là một phần rất quan trọng củađời sống xã hội Văn thơ không chỉ tái hiện lại cuộc sống lao động, phản ánhtâm tư tình cảm của con người Việt Nam mà nó còn được sử dụng để tuyểnchọn những hiền tài cho quốc gia Tuy nhiên, do sự phát triển của khoa họccông nghệ, văn học nói chung và môn Ngữ văn, Tiếng Việt nói riêng khôngcòn sức hấp dẫn đối với học sinh như cách đây vài thập kỉ Các học sinh tìmđến các môn Tiếng Anh, Tin học, các môn khoa học tự nhiên như một sự đảmbảo cho tương lai Nhưng đó là một tư tưởng rất sai lầm
Môn Tiếng Việt là một trong những môn học có tầm quan trọng đặcbiệt, có vai trò trọng yếu trong việc giữ gìn và phát huy tiếng nói dân tộc Với
tư cách là một môn học độc lập, môn Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp chohọc sinh những tri thức về ngôn ngữ học, hệ thống tiếng Việt, quy tắc hoạtđộng và những sản phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp Học sinh cũngđược bồi đắp tâm hồn, trang bị những cảm xúc nhân văn, hướng tới cáiCHÂN - THIỆN - MĨ qua những bài tập đọc
Trang 12Tập làm văn là một phân môn mang tính chất thực hành, toàn diện,tổng hợp và sáng tạo Nhiệm vụ chủ yếu của phân môn này là hình thành chohọc sinh kĩ năng sản sinh văn bản - tức là biết diễn đạt những điều mình cảmnhận, suy nghĩ thành văn bản cho người khác hiểu, đồng cảm Muốn có mộtbài văn hay, học sinh không chỉ cần có cảm xúc, kinh nghiệm sống mà cònphải có các kiến thức, kĩ năng tạo lập văn bản Điều đó đòi hỏi các giáo viêntrực tiếp giảng dạy phải am hiểu về các tri thức văn bản và kĩ năng tạo lập vănbản; biết cách tổ chức các hoạt động để học sinh nắm được kiến thức và kĩnăng về lĩnh vực này
Trong thực tế dạy học phân môn Tập làm văn hiện nay chúng ta gặpkhông ít những khó khăn nên nhiều giáo viên “ngại dạy”, nhiều học sinh
“ngại học” phân môn này Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tìnhtrạng này là do giáo viên không được chủ động về thời gian, nội dung giảngdạy hoặc chưa tìm được các phương pháp hữu hiệu để chữa các lỗi diễn đạt,viết câu, viết đoạn, viết bài của học sinh Học sinh thiếu kiến thức thực tế, kĩnăng diễn đạt còn hạn chế
Cùng với các lí thuyết về giao tiếp, hoạt động lời nói, phong cách ngônngữ, Lí thuyết Ngữ pháp văn bản là một trong số những tiền đề líthuyết quan trọng trong việc dạy học phân môn Tập làm văn Lí thuyết ngữpháp văn bản mới được giới thiệu rộng rãi ở nước ta trong những năm gần đâynhưng đã thu được những thành tựu đáng khích lệ Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
có những chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên về vấn đề nàynhưng hiệu quả thu được chưa cao Giáo viên còn lúng túng trong quá trình vậndụng lí thuyết Ngữ pháp văn bản vào dạy học Tập làm văn
Năm học lớp 3 sẽ giúp học sinh hoàn thiện những kiến thức, kĩ nănghọc được từ lớp 2 và chuẩn bị cho năm học lớp 4,5 Những nội dung của mônTập làm văn trong chương trình lớp 3 ở Tiểu học tuy không quá phức tạp
Trang 13nhưng lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện kĩ năng viết bàivăn cho học sinh Tiểu học Vậy nên, nếu các giáo viên và học sinh lớp 3 nắmvững lí thuyết Ngữ pháp văn bản và biết áp dụng vào thực hành viết văn sẽ làđiều kiện thuận lợi để các con yêu thích và học tốt môn học này, tạo tiền đềthuận lời cho những năm học sau
Từ những yêu cầu về khoa học và thực tiễn đó, tôi chọn nghiên cứu đề
tài: “Ứng dụng lí thuyết ngữ pháp văn bản vào việc xây dựng hệ thống bài
tập rèn luyện kĩ năng viết văn cho học sinh lớp 3” Tôi mong r ng, nghiên
cứu của mình sẽ giúp các giáo viên và học sinh lớp 3 có thêm công cụ hỗ trợtrong việc hoàn thiện kĩ năng viết bài văn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trước đây, việc nghiên cứu và giảng dạy cỏc vấn đề về ngôn ngữthường chỉ dừng lại ở đơn vị câu Người ta thường quan niệm r ng câu làđơn vị cao nhất của ngôn ngữ mà với nó con người có thể thực hiện đượcmục đích tư duy và giao tiếp Những gì thuộc vấn đề trên câu (đoạn văn,văn bản) nếu có được sự chú ý nghiên cứu, giảng dạy thường bị gạt sangmôn Tập làm văn
Song càng ngày thực tế càng cho thấy r ng hoạt động tư duy và giaotiếp b ng ngôn ngữ không phải chỉ được tiến hành và đạt được mục đích b ngcâu và các đơn vị dưới câu (âm vị, hình vị, từ) mà trong đại đa số trường hợpchúng ta đều thể hiện trong một chuỗi câu có liên hệ qua lại với nhau Chuỗicâu đó có một tổ chức chặt chẽ về lôgic, ngữ nghĩa và ngữ pháp, Chuỗi câu đóchính là văn bản Bởi vậy, việc nghiên cứu ngôn ngữ từ góc độ giao tiếp, góc
độ chức năng, không thể không nghiên cứu văn bản
Mặt khác, trong lĩnh vực nghiên cứu cũng không thể chỉ giới hạn trongphạm vi câu: nhiều vấn đề thuộc về câu nhưng lại liên quan đến những yếu tố
ở ngoài câu Nếu chỉ giới hạn trong phạm vi câu thì không thể lí giải được các
Trang 14sự kiện của câu Hơn nữa việc nghiên cứu chỉ giới hạn ở câu sẽ không có tácdụng tích cực, giúp ích cho việc sử dụng ngôn ngữ trong lĩnh vực giao tiếp -một hoạt động thường xuyên phải tổ chức các câu thành những đơn vị lớnhơn Đó chính là văn bản
Sự quan tâm và mở rộng nghiên cứu ngôn ngữ ở lĩnh vực trên câu đãbiểu hiện rõ rệt trong thời gian từ những năm năm mươi trở lại đây, ở nước tathì trong khoảng hai mươi năm gần đây Do đó dần dần hình thành một bộmôn mới nghiên cứu những đơn vị trên câu gọi là Ngữ pháp văn bản (NPVB)
Sự ra đời của NPVB không phải là một hiện tượng đột biến trong ngônngữ học Đây là con đường phát triển tất yếu, là kết quả tất yếu của quá trìnhnghiên cứu ngôn ngữ Sự ra đời của NPVB đã đánh dấu một bước chuyển biếnmới, có ý thức của các nhà ngôn ngữ học khi tiếp cận ngôn ngữ từ góc độ giaotiếp
Năm 1985, nhóm tác giả Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh,Trần Ngọc Thêm đã cho ra đời cuốn: “Ngữ pháp văn bản và việc dạy làmvăn” [4] Nội dung cuốn sách đã trình bày một cách tinh giản những vấn đề vàkết quả nghiên cứu thể hiện có trong lĩnh vực Ngữ pháp văn bản - Một bộ mônrất trẻ của Ngôn ngữ học Cuốn sách không trình bày về Ngữ pháp văn bản vàviệc dạy làm văn thành hai vấn đề riêng biệt mà chỉ nhấn mạnh việc dạy làmvăn như ứng dụng quan trọng nhất và thiết thực nhất của lí thuyết Ngữ phápvăn bản, đây chính là một cẩm nang cho giáo viên nói chung và cho GV tiểuhọc nói riêng
Năm 1992, Bộ GD- ĐT, Vụ giáo viên đã đưa nội dung lí thuyết Ngữpháp văn bản vào chương trình bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1992- 1996[25] cho giáo viên tiểu học Đây là một chương trình bắt buộc nh m giới thiệurộng rãi cho giáo viên về các kiến thức cơ bản của Ngữ pháp văn bản và việcvận dụng trong việc dạy Tập làm văn Đến năm 1997 lí thuyết Ngữ pháp vănbản lại là nội dung bắt buộc trong chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáoviên tiểu học chu kì 1997- 2000 [24]
Trang 15Năm 2001, tác giả Nguyễn Trí cho ra đời cuốn sách: “Dạy Tập làm văn
ở trường tiểu học” [20] Trong chương 2, tác giả đề cập đến vấn đề Ngữ phápvăn bản và việc ứng dụng trong dạy học Tập làm văn Trong phần này tác giả
đã nhấn mạnh đến việc vận dụng lí thuyết Ngữ pháp văn bản vào bài văn củahọc sinh, chú trọng đến sự hình thành các kĩ năng liên kết nội dung, liên kếthình thức trong văn bản và việc vận dụng lí luận về quá trình sản sinh văn bảnvào việc xác lập hệ thống kĩ năng làm văn
Trong tạp chí GD số đặc biệt tháng 11/2005, tác giả Chu Thị Hà Thanh
có bài viết “ứng dụng những thành tựu nghiên cứu về Ngữ pháp văn bản vàodạy Tập làm văn ở tiểu học” [16] Bài viết này đặt vấn đề cho việc nghiên cứuứng dụng Lí thuyết Ngữ pháp văn bản để thiết kế hệ thống bài tập rèn luyện kĩnăng sản sinh văn bản trong dạy học Tập làm văn và cũng chính bài viết này
đã gợi ý cho tôi tìm hiểu chuyên sâu vào vấn đề này
Cùng với yêu cầu đổi mới của giáo dục theo hướng phát triển năng lựccho học sinh, lí thuyết ngữ pháp văn bản càng được nhiều học giả đi sâunghiên cứu và tìm cách giúp giáo viên, học sinh nắm vững kiến thức này đểvận dụng vào thực hành Tôi mong r ng, luận văn này sẽ đóng góp được mộtphần nhỏ trong đó
3 Mục đích nghiên cứu
- Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận về việc vận dụng líthuyết ngữ pháp văn bản trong việc rèn luyện kĩ năng năng viết văn bản làmvăn cho học sinh lớp 3
- Xây dựng hệ thống bài tập phù hợp nh m rèn luyện kĩ năng viết văncho học sinh lớp 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Trang 164.2 Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết văn bản làm văncho học sinh lớp 3
4 3 Thực nghiệm sư phạm
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy học phân môn Tập làm văn ở lớp 3
5.2: Phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu lí thuyết ngữ pháp văn bản và đưa ra
hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết văn kể cho học sinh lớp 3
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận nh m phân tích, tổng hợp,khái quát các quan điểm khoa học trong các tài liệu có liên quan để đề ra giảthuyết khoa học của luận văn
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn nh m điều tra thực trạngdạy học Tập làm văn viết ở lớp 3 để phát hiện những vấn đề cần nghiên cứu,cần tìm giải pháp
- Nhóm các phương pháp thống kê nh m xử lí kết quả điều tra, kết quảdạy học thực nghiệm
7 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng viết văn cho học sinh một cách phù hợp trên cơ sở vận dụng lí thuyết ngữ pháp văn bản sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả dạy học phân môn Tập làm văn
ở lớp 3 Từ đó, học sinh tiếp cận môn học này dễ dàng hơn, và thêm yêu thích môn Tập làm văn nói riêng và Tiếng Việt nói chung.
8 Đóng góp của luận văn
- Xây dựng được hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết văn kể chohọc sinh lớp 3
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, phụ lục, tài liệu thamkhảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Trang 18Chương 1
LÍ THUYẾT NGỮ PHÁP VĂN BẢN VÀ THỰC TRẠNG DẠY
TẬP LÀM VĂN Ở LỚP 3 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số vấn đề chung về lí thuyết Ngữ pháp văn bản (NPVB)
NPVB là một bộ môn khoa học độc lập của ngành ngôn ngữ chuyênnghiên cứu những hiện tượng ngôn ngữ thuộc lĩnh vực trên câu NPVB (hiểutheo nghĩa rộng) bao gồm ba bộ phận:
- Lí thuyết văn bản đại cương: Chuyên nghiên cứu những vấn đề líthuyết chung của ngôn ngữ học văn bản
- Phong cách học văn bản: Nghiên cứu các loại hình văn bản thuộcmọi thể loại
NPVB (theo nghĩa hẹp): Nghiên cứu các vấn đề ngữ pháp các đơn vịtrên câu và đơn vị cao nhất là văn bản hoàn chỉnh NPVB có nhiệm vụ nghiêncứu các mối liên hệ của các câu khi chúng cùng nhau hợp thành một đơn vịtrên câu, hợp thành văn bản Bên cạnh đó NPVB còn nghiên cứu cả nhữngphương tiện và phương thức thể hiện các mối liên hệ ấy Hơn nữa khi các câucùng nhau hợp thành một văn bản, chúng còn cấu tạo nên một đơn vị trunggian giữa câu và văn bản, đó là đoạn văn Vì thế NPVB còn có nhiệm vụnghiên cứu cấu tạo của đơn vị này, mối liên hệ của các đơn vị ấy trong lòngcủa một văn bản, và sự chia tách của văn bản thành những đơn vị cấu thành.Cuối cùng, chính văn bản (đơn vị tột cùng của hoạt động giao tiếp b ng ngônngữ) là đối tượng quan trọng của NPVB NPVB có nhiệm vụ khảo sát kết cấubên trong của văn bản cùng những loại hình khác nhau
NPVB là một bộ môn mới trong ngôn ngữ học Sự ra đời của nó là donhững nhu cầu của thực tiễn đòi hỏi và những kết quả tất yếu của sự vận độngnội tại trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ Những vấn đề lí thuyết mà NPVB đặt
Trang 19ta thoát khỏi những lúng túng trong việc giảng dạy phân môn Tập làm văn.Nhữmg vấn đề mà lí thuyết này đặt ra tuy có mới mẻ nhưng không phải làhoàn toàn xa lạ với GV và HS Có điều, những vấn đó đã trở lại với chúng tamột cách hệ thống, đầy đủ, có lí luận và chính xác hơn.
Chương trình phân môn Tập làm văn năm 2000 nhìn chung đã vận dụngnhững thành tựu hệ thống các kiến thức của lí thuyết NPVB một cách tươngđối triệt để HS được làm quen với nhiều thể loại văn bản khác nhau như: miêu
tả, kể chuyện, viết thư và đặc biệt là các loại văn bản thông thường (đơn từ, lập
kế hoạch, bưu thiếp, thời khoá biểu…) Bên cạnh đó các em cũng được học vềkết cấu của một văn bản (mở bài, thân bài, kết bài), cách xây dựng một đoạnvăn (đoạn mở bài, đoạn thân bài, đoạn có câu chủ đề), cách liên kết các câutrong văn bản (phép lặp, phép thế, phép nối), quy trình sản sinh văn bản và các
kĩ năng tương ứng… Việc xây dựng chương trình theo quan điểm này đã tạonhiều điều kiện thuận lợi cho GV và HS trong quá trình dạy học phân môn
1.1.2 Văn bản
1.1.2.1.Khái niệm văn bản.
Cũng như các đơn vị khác trong ngôn ngữ, văn bản là một khái niệm rấtphức tạp Xuất phát từ nhiều góc độ nhìn nhận và quan điểm nghiên cứukhông giống nhau nên đã có nhiều cách hiểu và định nghĩa về văn bản khácnhau Dưới đây chúng ta cố thể hệ thống một số khái niệm về văn bản như sau:
Trang 20- Trong cuốn giáo trình: “Tiếng Việt (dùng cho đại học đại cương)”,tác giả Nguyễn Đức Dân định nghĩa: “Văn bản là kết quả của một quá trìnhtạo lời nh m một mục đích nhất định: chuyển một nội dung hoàn chỉnh cầnthông báo thành câu chữ” [10 243]
- Trong cuốn: “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt”, tác giả TrầnNgọc Thêm cho r ng: “Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống
mà trong đó các câu mới chỉ là phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấutrúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ,liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và toàn bộ văn bản nóichung Sự liên kết là mạng lưới của những mối quan hệ và liên hệ ấy” [22 9]
- Theo quan điểm của Diệp Quang Ban thì: “Văn bản là một loại đơn
vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ,
có cấu trúc, có đề tài… loại nhỏ như một truyện kể, một bài thơ, một đơnthuốc, một bảng chỉ đường…” [3 50]
- Tác giả Phan Mậu Cảnh trong cuốn: “Ngôn ngữ học văn bản” thì cho
r ng: “Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp b ng ngôn ngữ, là đơn vịđược tạo lập bởi sự liên kết các câu, các đoạn văn… tạo thành một thể thốngnhất, một đơn vị hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, mang tính phong cách
và nh m một mục đích nhất định” [9 18]
Mỗi tác giả đều đưa ra quan điểm riêng của mình, nhưng theo tôi cáchđịnh nghĩa như trong Từ điển Tiếng Việt đưa ra là khá rõ ràng và dễ hiểu Từđiển Tiếng Việt định nghĩa như sau: Văn bản là chuỗi kí hiệu ngôn ngữ haynói chung những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó, làm thành một chỉnh thểmang nội dung ý nghĩa trọn vẹn [15 1100]
Dù cách định nghĩa của các tác giả có khác nhau nhưng ta vẫn thấytrong đó đều nêu được các đặc trưng của văn bản là:
1.1.2.2 Đặc trưng của văn bản
Văn bản bao gồm nhiều đặc trưng, nhưng đặc trưng cơ bản nhất đó làtính chỉnh thể Tính chỉnh thể này biểu lộ qua một số phương diện sau:
Trang 21- Mỗi văn bản tập trung vào việc thể hiện một chủ đề Chủ đề này cóthể được phát triển qua một số chủ đề bộ phận, nhưng toàn văn bản luôn đảmbảo tính nhất quán về chủ đề
- Mỗi văn bản thường trình bày trọn vẹn một nội dung thông báo Tấtnhiên tính trọn vẹn này có nhiều mức độ khác nhau, nhưng văn bản thường đạtđến một mức độ trọn vẹn nhất so với các đơn vị thấp hơn nó (câu, đoạn văn)
- Tính nhất quán về chủ đề và tính trọn vẹn về nội dung khiến cho mỗivăn bản dễ dàng được gọi tên b ng một tiêu đề hoặc có thể dễ dàng đặt chomỗi văn bản một tiêu đề,
- Mỗi văn bản có một tổ chức kết cấu bên trong chặt chẽ Đó khôngphải là một tập hợp hỗn độn của các câu Các câu có quan hệ qua lại chặt chẽ
và chiếm giữ một vị trí nhất thích hợp trong văn bản Các mối liên hệ này tạonên kết cấu của một văn bản Đó là kết cấu của một chỉnh thể
1.1.2.3 Kết cấu của văn bản
Kết cấu của văn bản là kết quả của việc sắp đặt, tổ chức các bộ phậnngôn từ có nghĩa của văn bản theo một cấu trúc nhất định Kết cấu của văn bản
là yếu tố quy định tính chất của văn bản cũng như phong cách của kiểu loại vàphong cách của người tạo lập văn bản Một kết cấu văn bản ở dạng đầy đủ nhất,thường dùng gồm có bốn phần: Tiêu đề, phần mở đầu, phần chính, phần kết
a Tiêu đề
Việc đặt tiêu đề cho một văn bản ngày nay đã trở thành một “nghệ
thuật” phức tạp mà yếu tố chi phối là mục đích sử dụng văn bản Có nhiều loại
tiêu đề khác nhau:
- Có loại tiêu đề chỉ ra đối tượng sẽ được trình bày trong nội dung vănbản Ví dụ: Hai Bà Trưng, Người con của Tây Nguyên, Người liên lạc nhỏ…
Trang 22- Có loại tiêu đề bộc lộ quan điểm, nhận thức của tác giả đối với những
sự vật, hiện tượng được trình bày trong văn bản Ví dụ: Tắt đèn, Bước đườngcùng, Trời mỗi ngày lại sáng… Loại tiêu đề này thường của tác phẩm văn học
b Phần mở đầu
Phần mở đầu có nhiệm vụ giới thiệu nội dung hoặc nhận định kháiquát, dẫn dắt người đọc đi dần vào vấn đề cần trình bày Mục đích của phầnnày là thu hút sự chú ý của người đọc, kích thích sự suy nghĩ và lôi cuốnngười đọc vào quá trình tìm hiểu, nhận thức Bởi vậy nó phải được trình bàymột cách ngắn gọn về nội dung nhưng có sự chọn lựa linh hoạt trong cách đưacác yếu tố vào văn bản
Trong văn bản có hai hai cách mở đầu:
- Cách mở đầu trực tiếp: Là lối mở đầu thẳng vào nội dung chính.
- Cách mở đầu gián tiếp: Là cách mở đầu nêu lên các hiện tượng, sự
kiện, suy nghĩ… có liên quan đến nội dung chính
c Phần thân
Phần thân được xem là phần nội dung trọng tâm trong toàn bộ văn bản.Nhiệm vụ trọng tâm nhất của phần này là triển khai đầy đủ đề tài - chủ đề theohướng đã được xác định ở phần mở đầu của văn bản Đây là phần có dunglượng lớn nhất trong văn bản nên nó được phân chia thành từng bộ phận (các ýlớn, các tiểu chủ đề, các luận điểm, luận cứ) nên được trình bày thành cácchương, mục, các đoạn văn Để đáp ứng được nội dung thông tin quan trọngphần thân bao giờ cũng phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức biểu hiện
Cần chú ý r ng, việc phân đoạn trong phần thân là rất cần thiết, đồngthời phải biết liên kết các đoạn để tạo thành một chỉnh thể
d Phần kết
Đây là phần tóm lược, tổng kết, khái quát hoá và nâng cao nội dung đãđược đề cập ở phần thân Phần kết cũng có khi gợi mở ra hướng giải quyết
Trang 23Có hai loại kết thường gặp đó là kết đóng và kết mở.
- Kết đóng: Là sự kết thúc có tóm tắt nội dung chính, hoặc kiểu kết
thúc đồng thời và giải quyết trọn vẹn các bố cục, có kết quả, có nêu nhận xét,cảm tưởng Loại kết này thường dùng cho văn bản khoa học, văn bản chínhluận, văn bản hành chính…
- Kết mở: Là lối kết mà nội dung, vấn đề còn đang gợi mở, tình tiết
câu chuyện chưa có kết quả cuối cùng… Nó có sức khơi gợi để người đọc tựsuy nghĩ, rút ra những kết luận nào đó Các loại văn bản nghệ thuật, nhất làvăn bản có hàm ngôn, các văn bản ngắn người viết có thể sử dụng loại kết này
Ngoài dạng đầy đủ như vậy, còn có những loại văn bản có kết cấukhông đủ các thành phần Có văn bản chỉ có phần mở đầu và phần chính, cóvăn bản chỉ có phần chính và phần kết, lại có văn bản chỉ có phần chính Còntiêu đề của văn bản cũng có thể có, có thể không Song tối thiểu nhất văn bảncũng phải có phần chính; chẳng hạn như các câu tục ngữ, ca dao, các thôngbáo ngắn trên báo, một bức điện…
Ví dụ:
Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ
(Tục ngữ)
1.1.2.4 Các giai đoạn sản sinh văn bản
Theo lí thuyết NPVB quy trình sản sinh một văn bản liên kết gồm bốngiai đoạn: định hướng, lập đề cương, thực hiện và giai đoạn cuối cùng là kiểmtra văn bản
Trang 24a Giai đoạn định hướng
Khi tạo lập một văn bản người viết cần phải có định hướng cho văn bản
đó Hay nói đúng hơn người viết cần phải xác định rõ đối tượng giao tiếp, nộidung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp và cách thức trình bày
- Đối tượng giao tiếp bao gồm: Người tạo lập văn bản (người viết) và
người tiếp nhận (người đọc), nói chung đó là những đối tượng tham gia quátrình giao tiếp Hiệu quả giao tiếp không chỉ phụ thuộc vào người tạo lập mà
nó còn phụ thuộc vào cả người tiếp nhận, việc hiểu biết về người tiếp nhận vềvăn bản là một yêu cầu không thể thiếu đối với người tạo lập văn bản Sự hiểubiết này càng cụ thể, càng phong phú thì hiệu qủa giao tiếp càng cao Đó lànhững hiểu biết về nhu cầu, hứng thú, tâm lí, sở thích, thói quen sử dụng ngônngữ…
- Nội dung giao tiếp: Đó có thể là những sự vật, hiện tượng của tự
nhiên, của xã hội được người phát nhận thức, hay cũng có thể là những tưtưởng, tình cảm, hoặc những câu chuyện tưởng tượng của người phát Giữa ýđịnh của người tạo lập văn bản (nội dung dự kiến) với sản phẩm của việc thựchiện ý định đó (nội dung văn bản) bao giờ cũng có khoảng cách nhất định Nócòn phụ thuộc vào khả năng sử dụng ngôn từ, hoàn cảnh giao tiếp, tình trạngtâm sinh lí… của người phát và khả năng phân tích, khả năng lí giải, nghềnghiệp, quan hệ xã hội, hứng thú, giới tính, điều kiện sống, quan hệ xã hội…của người tiếp nhận văn bản
- Hoàn cảnh giao tiếp: Hoàn cảnh giao tiếp có thể được hiểu rất rộng:
từ hoàn cảnh xã hội đến hoàn cảnh tự nhiên, từ hoàn cảnh tâm lí chung củacộng đồng đến bối cảnh lịch sử… Mặt khác, hoàn cảnh giao tiếp cũng có thểhiểu theo nghĩa hẹp hơn đó là ngữ cảnh giao tiếp: thời gian, địa điểm, hìnhthức giao tiếp, sức khoẻ, những sự việc xảy ra xung quanh…
- Mục đích giao tiếp: Chính là việc trao đổi tư tưởng, tình cảm, tâm tư,
nguyện vọng, ước muốn…để từ đó người phát lựa chọn cách thức tổ chức, thểhiện
Trang 25các kiến thức kĩ năng tạo lập văn bản: lựa chọn ngôn từ, chi tiết, hình ảnh, dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, bài… theo một kiểu nhất định để đạt được đích giao tiếp đặt ra
- Cách thức trình bày: Đây chính là yêu cầu gợi ý về việc lựa chọn
thể loại văn bản
b Giai đoạn lập đề cương (hay làm dàn bài, dàn ý)
Đề cương của văn bản bao gồm nhiều ý chính, luận điểm cơ bản cùngvới những luận cứ cần thiết, nghĩa là những điều cốt yếu trong văn bản.Nhiệm vụ của người tạo tập văn bản là phải sắp xếp các ý chính, luận điểm,luận cứ thành bộ khung cho văn bản Đề cương chính là cơ sở cho việc tiếntới cho việc sản sinh một văn bản hoàn chỉnh
Đề cương văn bản bao gồm hai loại:
- Đề cương sơ lược: Nêu lên nội dung cơ bản của các phần, các
chương, các mục thông qua tên gọi của chúng
- Đề cương chi tiết: Đề cương chi tiết không những chỉ có những ý
lớn, những luận điểm cơ bản mà còn có các ý nhỏ, các dẫn chứng cụ thể Loại
đề cương này thể hiện khá đầy đủ nội dung của văn bản
c Giai đoạn thực hiện văn bản
Từ đề cương đã có, người viết chuyển hoá thành văn bản Vì vậy sau giaiđoạn định hướng và lập đề cương là giai đoạn hoàn chỉnh văn bản Tuy nhiên
để viết được một văn bản hoàn chỉnh, người viết phải trải qua các giai đoạnluyện tập công phu về khả năng dùng từ đặt câu, dựng đoạn, tách đoạn, dùngcác phương tiện liên kết sao cho phù hợp và cuối cùng tiến lên viết một vănbản hoàn chỉnh
d Giai đoạn kiểm tra văn bản
Việc kiểm tra văn bản nh m xem xét lại văn bản đã tạo ra được có phùhợp với các bước đã thực hiện hay không Nếu sai sót cần điều chỉnh lại
Trang 261.1.3 Đoạn văn
1.1.3.1 Khái niệm đoạn văn
a Đơn vị trung gian giữa câu và văn bản
Trong quá trình nghiên cứu về NPVB các nhà ngôn ngữ học đã pháthiện ra từ câu đến văn bản còn có một đơn vị trung gian Đơn vị này có rấtnhiều tên gọi khác nhau như: đoạn văn, chỉnh thể phức hợp, khối liên hợpcâu, chỉnh thể trên câu, thể thống nhất trên câu… Nhưng trong đó có hai têngọi được bàn đến nhiều nhất là đoạn văn và chỉnh thể trên câu (CTTC)
Nhìn chung, khi nói đến CTTC các nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến mặtnội dung CTTC biểu thị một nội dung tương đối trọn vẹn, có thể tách ra khỏimột văn bản mà vẫn hiểu được nội dung đó Còn khi nói đến đoạn văn cácnhà nghiên cứu nhấn mạnh về mặt hình thức, hình thức của đoạn văn luônluôn phải có tính hoàn chỉnh
So sánh kích thước của đoan văn và CTTC, ta có các trường hợp:
- CTTC lớn hơn một đoạn văn
- CTTC nhỏ hơn một đoạn văn
- CTTC b ng một đoạn văn
Khi CTTC b ng một đoạn văn thì đây chính là một kiểu đoạn hoànchỉnh về mặt nội dung đồng thời nó được xem như là một văn bản con Trongnội dung, chương trình SGK ở bậc tiểu học các em thường xuyên tiếp xúc vớiloại đoạn văn này
b Khái niệm đoạn văn
Khi nghiên cứu về đoạn văn, các nhà ngôn ngữ học luôn có một sựquan tâm đặc biệt Đây là một vấn đề còn gây nhiều tranh cãi Hiện đang cónhiều quan niệm khác nhau về đoạn văn
Có ý kiến cho r ng: Đoạn văn là một tập hợp nhiều câu, diễn tả tươngđối trọn vẹn một ý và có quan hệ với nhau về ngôn ngữ và tư duy Theo quanniệm này chúng ta không thể bao quát hết được các loại đoạn văn đang tồntại trong
Trang 27Ở đây, chúng tôi thống nhất hiểu khái niệm về đoạn văn theo quan
điểm của tác giả Phan Mậu Cảnh: “Đoạn văn là một bộ phận của văn bản do câu tạo thành theo một cấu trúc nhất định, được tách ra một cách hoàn chỉnh,
rõ ràng về mặt hình thức” [9 117]
- Về mặt nội dung: Đoạn văn có thể hoàn chỉnh hoặc không hoàn
chỉnh Khi đoạn văn hoàn chỉnh về mặt nội dung thì mỗi đoạn văn sẽ là đoạn
ý, còn khi đoạn văn không hoàn chỉnh về mặt nội dung thì mỗi đoạn văn sẽ làmột đoạn lời Đoạn ý là loại đoạn được sử dụng nhiều nhất trong quá trìnhdạy học Tập làm văn ở bậc tiểu học
- Về mặt hình thức: Đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh Những dấu hiệu
dễ nhận thấy của tính hoàn chỉnh là: lùi đầu dòng, viết hoa, dấu kết đoạn…Đây là những dấu hiệu cần thiết giúp chúng ta nhận diện chính xác đoạn văntrong mọi trường hợp
Ví dụ:
Em bé mới mười tuổi Bữa cơm, bé nhường hết thức ăn cho em Hàngngày, Bé đi câu cá bống về băm sả, hoặc đi lượm vỏ đạn giặc ở ngoài gò vềcho mẹ Thấy cái thau, cái vung rỉ người ta vứt, Bé đem về cho ông Mườiquân giới
Những hôm mẹ đi đánh bốt, Bé thường leo lên cây dừa để ngóng tin Hôm nay gió ngoài sông Hậu vẫn thổi vào lồng lộng Nắng lên làm chotrời cao và trong xanh Bé lại leo lên cây dừa Đứng trên đó, Bé trông thấycon đò, xóm chợ, rặng trâm bầu, cả những nơi mà ba má Bé đang đánh giặc
(Nguyễn Thi)
Trang 28Phần trích trên gồm có ba đoạn văn Đoạn một có nội dung giới thiệu
về Bé, đoạn ba có nội dung Bé leo lên cây dừa quan sát, đây là những đoạn ý.Đoạn hai có một câu, nội dung chưa hoàn chỉnh, đây là đoạn lời
1.1.3.2 Câu chủ đề
Câu chủ đề của đoạn văn là câu mang nội dung thông tin chính, lời lẽngắn gọn, thường đủ hai thành phần chủ ngữ, vị ngữ và phần lớn đứng ở đầuđoạn văn
Trong quá trình tạo lập văn bản, câu chủ đề giúp cho người viết thể hiệnđược nội dung tập trung, thống nhất hơn Câu chủ đề là hạt nhân nghĩa của cảđoạn nên các câu khác trong đoạn nhờ xoay quanh hạt nhân nghĩa này mà liênkết chặt chẽ được với nhau Còn đối với người tiếp nhận văn bản, câu chủ đềgiúp họ tiếp nhận chính xác, nhanh chóng nội dung thông tin chính của đoạnnhờ đó phát hiện ra thông tin chính của toàn bộ văn bản Hơn nữa lượng thôngtin hiện nay tăng như vũ bão, việc đọc văn bản thông qua việc nắm bắt các câuchủ đề là một cách đọc phổ biến Câu chủ đề giúp cho người đọc có khả năngbao quát những nét cơ bản nhất, những nội dung thông tin cần thiết trong toàn
bộ văn bản
Ví dụ:
Cuối buổi chiều, Huế thường trở về trong vẻ yên tĩnh lạ lùng… Phía
bên sông, xóm Cồn Hến vừa nấu cơm chiều sớm nhất trong thành phố, thả khói nghi ngút cả một vùng tre trúc trên mặt nước Đâu đó, từ sau khúc quanh vắng lặng của dòng sông, tiếng lanh canh của thuyền chài gõ những mẻ cá cuối cùng, khiến mặt sông nghe như rộng hơn
(Chiều trên sông Hương, TV 3 - tập 1, tr96)
Câu chủ đề thường đứng ở đầu đoạn văn, nó có thể còn đứng ở giữahoặc cuối đoạn, nhưng ít khi gặp
Trong nhà trường, khi dạy HS xây dựng đoạn văn, người ta rất chú ýtới việc luyện viết theo câu chủ đề Việc xác định câu chủ đề không những có
Trang 29lợi cho việc dựng đoạn, sản sinh văn bản mà còn giúp cho việc đọc và tiếpnhận văn bản một cách dễ dàng
1.1.3.3 Các loại đoạn văn
Đoạn văn được phân loại theo những tiêu chí khác nhau Người ta cóthể phân loại đoạn văn theo kết cấu, theo nội dung, theo câu chủ đề… Ở đâychúng tôi thống nhất phân loại đoạn văn theo kết cấu Bao gồm:
a Đoạn diễn dịch: Là đoạn văn có câu (hoặc một số câu) chứa đựng
nội dung thông tin khái quát đứng ở vị trí đầu đoạn, các câu còn lại mang ýnghĩa cụ thể, minh hoạ
Ví dụ:
Cuộc sống quê tôi gắn bó với cây cọ Cha làm cho tôi chiếc chổi cọ để
quét nhà, quét sân Mẹ đựng hạt giống cây đầy móm lá cọ Chị tôi đan nón lá
cọ lại biết đan cả mành cọ và làn cọ xuất khẩu Chúng tôi rủ nhau đi nhặtnhững trái cọ rơi đầy quanh gốc về om, ăn vừa béo vừa bùi
( Theo Nguyễn Thái Vận TV 3 - tập 1, tr 90)
b Đoạn quy nạp: Là đoạn văn có cấu trúc ngược lại với đoạn diễn
dịch Các câu diễn đạt ý cụ thể đứng trước, câu (hoặc một số câu) mang nộidung thông tin khái quát đứng ở vị trí cuối đoạn
(Theo Trường Chinh)
c Đoạn song song: Các câu trong đoạn văn đều có tầm quan trọng như
nhau trong việc biểu đạt nội dung của toàn đoạn Không câu nào mang ý chính
và có thể khái quát được ý câu khác Loại đoạn văn này không có câu chủ đề
Trang 30Ví dụ:
Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù Tre xung phongvào xe tăng đại bác, tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúachín Tre hi sinh để bảo vệ con người! Tre, anh hùng lao động! Tre, anhhùng chiến đấu!”
(Cây tre Việt Nam - Thép Mới)
d Đoạn móc xích: Trong loại đoạn này, các câu được nối tiếp với nhau
viết theo kiểu chuỗi xích: ý câu sau nối tiếp, phát triển ý câu trước và cứ thếnối tiếp nhau đến hết
Ví dụ:
Muốn tăng gia sản xuất phải làm thuỷ lợi để chống thiên tai Muốn làmthuỷ lợi phải có nhiều người có sức lớn Và muốn như vậy phải xây dựng hợptác xã
Trước ngưỡng cửa của trường tiểu học, tôi đã may mắn có ông ngoại người thầy giáo đầu tiên của tôi.
-(Ông ngoại, Theo Nguyễn Việt Bắc, SGK TV 3 - Tập 1 - tr 35)
f Đoạn phối hợp:
Ngoài các loại đoạn có kết cấu theo các kiểu kể trên trong thực tế còn
có nhiều đoạn văn phối hợp những kết cấu trên Thường gặp là sự phối hợpgiữa kết cấu diễn dịch và kết cấu song song: Câu đầu của đoạn nêu ý khái
Trang 31quát, các câu sau cụ thể ý khái quát này nhưng phát triển nó một cách song song ở các phương diện khác nhau
Ví dụ:
Chợ Hòn Gai buổi sáng la liệt tôm cá Những con tôm khoẻ, vớt lên
hàng giờ vẫn giãy đành đạch, vảy xám hoa đen lốm đốm Những con cá chimmình dẹt như hình con chim lúc sải cánh bay, thịt ngon vào loại nhất nhì.Những con cá nhụ béo núc, trắng lốp, bóng mượt như được quét một lớp mỡngoài vậy Những con cá song tròn, thịt căng lên từng ngấn như cổ tay của trẻlên ba, da xanh ánh, hàng chân choi choi như muốn bơi
(Theo Thi Sảnh)
Cũng có những loại đoạn văn kết hợp kết cấu song song với kết cấuquy nạp: Các câu đầu đoạn biểu hiện ý cụ thể và phát triển chúng song songvới nhau, câu cuối cùng nâng lên thành ý khái quát
Ví dụ:
Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh năm đói rách Làng xóm ngày naybốn mùa nhộn nhịp cảch làm ăn tập thể Đâu đâu cũng có trường học, nhà gửitrẻ, nhà hộ sinh, câu lạc bộ, sân và kho của hợp tác xã, nhà mới của xã viên
Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng tiến bộ.
(Hồ Chí Minh)
Bên cạnh đó cũng có những đoạn văn phối hợp cấu trúc diễn dịch vớicấu trúc quy nạp, kết quả là các câu văn trong đoạn phát triển tiểu chủ đề củađoạn theo hướng tổng - phân - hợp
Ví dụ:
Ông tôi vốn là thợ gò hàn loại giỏi Có lần, chính mắt tôi đã trông thấy
ông tán chiếc đinh đồng Chiếc búa trong tay ông hoa lên, nhát nghiêng, nhátthẳng, nhanh đến mức tôi chỉ cảm thấy trước mặt ông phất phơ những sợi tơ
mỏng Ông là niềm tự hào của cả gia đình tôi.
(Theo Trần Nhuận Minh)
Trang 32Ngoài những loại văn bản được phân theo kết cấu như đã nêu ở trênchúng ta còn gặp những đoạn văn với những tên gọi khác nhau Cách gọi tênnhư vậy tuỳ thuộc vào tiêu chí phân loại mà người tạo lập văn bản sử dụng.Chúng ta sẽ gặp đoạn giải thích, đoạn chứng minh… khi đoạn được phân chiatheo tiêu chí nội dung; sẽ gặp đoạn mở bài, đoạn kết luận… khi đoạn đượcphân theo tiêu chí chức năng
1.1.3.4 Tách đoạn trong văn bản
Tách đoạn là xếp một hay một số câu vào một đoạn văn, b ng cách đótách nó ra khỏi phần văn bản trước nó và sau nó, nh m những mục đích diễnđạt nhất định
Chúng ta có thể dựa vào hai căn cứ chung nhất để tách đoạn:
a Dựa vào vai trò và nhiệm vụ của đoạn văn trong cấu tạo chung của văn bản Trong văn bản, theo cách tách đoạn này, chúng ta có thể tách:
- Đoạn văn làm phần mở bài
- Đoạn văn làm phần thân bài (đối với các văn bản ngắn)
- Đoạn văn làm phần kết bài
b Dựa vào những biến đổi trong quan hệ nội dung giữa các đoạn văn
- Tách thành đoạn văn sau mỗi vật, mỗi việc, mỗi hiện tượng khác nhau
- Tách thành đoạn văn sau mỗi thời điểm, thời hạn khác nhau
- Tách thành đoạn văn sau mỗi điểm, mỗi hướng không gian khác nhau
- Tách thành đoạn văn sau mỗi mặt, mỗi địa điểm, mỗi tác dụng khácnhau của một vật, hiện tượng
1.1.4 Liên kết và liên kết câu trong văn bản
1.1.4.1 Khái niệm về tính liên kết
Liên kết chính là mạng luới các mối quan hệ về ngữ nghĩa, logic và ngữpháp giữa các thành tố trong văn bản, đồng thời đó cũng là mối quan hệ giữavăn bản và các nhân tố n m ngoài văn bản
Trang 33Quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu thể hiện tập trung nhất ở việc chúngcùng thể hiện một chủ đề thống nhất, xoay quanh một hạt nhân nghĩa nhấtđịnh Các câu n m trong văn bản sẽ cùng tham gia vào việc liên kết nghĩa chophép từ trong câu bộc lộ hết nội dung và thể hiện hết giá trị cua mình Khimột chuỗi câu không quy về một chủ đề chung thì bản thân chuỗi câu ấy sẽkhông có sự liên kết về nghĩa
Bên cạnh mối quan hệ ngữ nghĩa, giữa các câu còn có mối quan hệlôgic Thể hiện tập trung nhất ở mối liên hệ này giữa các câu là sự kế thừa cácthông báo Trong văn bản, câu đứng trước làm tiền đề cho sự xuất hiện câuđứng sau Câu đứng sau lại làm tiền đề cho sự xuất hiện câu kế tiếp Hìnhthức này được lặp lại cho tới khi kết thúc văn bản Những thông tin xuất hiện
ở phần trước bao giờ cũng trở thành thông báo nền và đi kèm theo tất cả cácthông tin khác từ khi chúng xuất hiện cho tới khi chúng kết thúc văn bản.Không có những thông báo nào đột nhiên xuất hiện mà không có những tiền
đề đứng trước Đây chính là tính lôgic trong việc xây dựng văn bản
Tính lôgic của văn bản không phải chỉ thể hiện ở sự kế thừa các thôngbáo mà còn đòi hỏi các ý không mâu thuẫn, nội dung không trùng lặp nhau…Nghĩa là chuỗi câu phải đảm bảo theo đúng các quy luật của quá trình nhậnthức lôgic như: quan hệ thời gian, quan hệ không gian, quan hệ nhân quả… Phá
vỡ mối quan hệ này, chuỗi câu không bao giờ có thể liên kết, tạo thành vănbản
Song song với hai mối quan hệ ngữ nghĩa và quan hệ logic trong vănbản còn có mối quan hệ ngữ pháp Trong văn bản có thể có những câu nếuđứng độc lập sẽ sai về cấu tạo ngữ pháp, không hợp lí, thậm chí “vô nghĩa” vềnội dung, nhưng ở trong một văn bản nhờ có những mối liên hệ với các câukhác, được các câu khác hỗ trợ nên vẫn đứng vững được, vẫn chấp nhận được
Trang 34Ví dụ:
Cán bộ Đảng và Chính quyền từ trên xuống dưới đều phải hết sức quan
tâm đến đời sống của nhân dân Phải lãnh đạo, tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm.
(Hồ Chí Minh)
Ở ví dụ này câu thứ hai không đủ thành phần Nhưng nhờ có mối liên
hệ ngữ nghĩa phát sinh khi đứng cạnh câu thứ nhất, nên nó vẫn thể hiện đượcmột nội dung rõ ràng, do đó nó vẫn “đứng vững” được trong văn bản Bởi vậychúng ta có thể nói r ng, trong văn bản nhờ có mối quan hệ ngữ pháp, ngữnghĩa và lôgic, câu mới có thể đứng vững và có giá trị
1.1.4.2 Các mặt liên kết câu
Như chúng tôi đã trình bày liên kết chính là một mạng lưới, nó đượctạo nên bởi nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài văn bản Sau đây chúng ta
sẽ tìm hiểu các mặt liên kết ấy
a Liên kết nội dung trong văn bản
Văn bản là một tổ chức ngữ nghĩa Nội dung của văn bản là một kháiniệm rộng bao gồm nhiều yếu tố tạo thành Trong đó nổi lên hai phương diện
cơ bản là:
* Liên kết chủ đề: Là cách thức làm cho phần trong văn bản hướng vào
chủ đề, xoay quanh chủ đề chung Các câu được xem là có liên kết chủ đề khichúng đề cập đến một đối tượng chung hoặc các đối tượng có quan hệ mậtthiết với nhau
Nội dung của văn bản trước hết biểu hiện ở chủ đề của nó Chủ đềchính là hạt nhân nghĩa, là nội dung cô đúc và khái quát nhất của văn bản.Văn bản có tính nhất quán về chủ đề, điều đó các câu trong văn bản phải tậptrung thể hiện một chủ đề nhất định Chúng cần phải được xoay quanh mộtchủ đề và phải duy trì chủ đề này của văn bản
Trang 35Ví dụ:
Một con quạ khát nước Nó tìm thấy một cái lọ có nước Song nướctrong lọ có ít, cổ lọ lại cao, nó không sao thò mỏ vào uống được Quạ liềnnghĩ ra một kế Nó lấy mỏ gắp từng hòn sỏi bỏ vào lọ Nước dâng lên dầndần Thế là quạ tha hồ uống
(Con quạ thông minh, TV 1 - tập 2, tr 79)
Ở ví dụ trên, chúng ta thấy văn bản có chủ đề là nêu lên sự thông minhcủa con Quạ Các câu trong văn bản đều hướng về chủ đề này Chính chủ đềnày cũng được bộc lộ một cách khái quát ở phần tiêu đề của văn bản: “Conquạ thông minh”
Mặt khác, chủ đề của một văn bản không chỉ được duy trì, mà còn phảiđược phát triển qua các câu trong văn bản Nếu chỉ có duy trì mà không có sựphát triển chủ đề thì văn bản sẽ không phát triển được, nội dung văn bản sẽnghèo nàn, nông cạn Ngược lại, nếu chúng ta chỉ chú trọng đến việc pháttriển chủ đề qua các câu mà không duy trì sự nhất quán chủ đề thì dễ làm chovăn bản đi lan man, xã đề, thậm chí lạc đề Như thế sự liên kết của các câutrong văn bản xoay quanh một chủ đề cần phải đảm bảo được nguyên tắc vừaduy trì vừa phát triển chủ đề
* Liên kết lôgic: Là sự tổ chức, sắp xếp nội dung và các thành tố sao
cho phù hợp với nhận thức khách quan và với nhận thức của con người
Liên kết lôgic trong văn bản chính là sự tổ chức các câu, các đoạnvăn… sao cho giữa chúng có sự phù hợp về nội dung với nhau, không mâuthuẫn, loại trừ nhau
Cũng ở ví dụ trên, chúng ta thấy các câu trong câu chuyện trên được sắpxếp hợp lí, lôgic vì chúng theo một trình tự hợp với quy luật nhận thức của conngười: Con quạ khát nước (nó) tìm thấy (nó) nghĩ (nó) gắp (nó) uống
Trang 36b Liên kết hình thức trong văn bản
Sự liên kết về nội dung của các câu được biểu hiện về mặt hình thức.Nghĩa là trong văn bản, giữa các câu với nhau có những phương tiện hìnhthức để biểu hiện sự liên kết về nội dung Những phương tiện này đều đượcxét theo các mức độ khác nhau của hệ thống ngôn ngữ thì có thể thuộc về cả
ba lỉnh vực: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Thuộc về lĩnh vực ngữ âm lànhững phương tiện như lặp lại âm tiết, lặp lại vần, lặp lại số lượng âm tiếthoặc nhịp điệu của các câu trong văn bản (rõ nhất là trong văn vần) Thuộc vềlĩnh vực từ vựng là việc dùmg các câu kế tiếp trong văn bản những từ ngữ gầnnghĩa, đồng nghĩa, đối nghĩa, những từ ngữ thay thế hoặc dùng lặp lại các từngữ của câu đi trước… Thuộc về lĩnh vực ngữ pháp là việc dùng các từchuyên biểu hiện các mối quan hệ (các quan hệ từ) là việc lặp lại các kết cấungữ pháp của các câu, việc tỉnh lược các thành phần câu và cả việc sắp xếpcác câu theo một trật tự nhất định
Nếu xét các phương tiện hình thức để liên kết câu theo phạm vi các đơn
vị mà chúng liên kết thì thấy: có những phương tiện chỉ dùng để liên kết cáccâu với nhau và những phương tiện dùng để liên kết trong nội bộ câu, vừadùng để liên kết các câu với nhau; hơn nữa có những phương tiện chuyêndùng để liên kết các kiểu câu này, lại có những phương tiện chuyên dùng đểliên kết các câu khác…
Trang 37Cuối cùng có thể xem xét các phương tiện liên kết câu theo mộtphương thức chung: phương thức lặp, phương thức thế, phương thức nối,phương thức tỉnh lược…
Dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt trình bày về các phương tiện hình thức
để liên kết các câu trong văn bản theo nhóm các phương thức chung
1.1.4.3 Các phương thức liên kết câu
Như chúng tôi đã trình bày liên kết hình thức là một phương diện quantrọng của liên kết nh m thể hiện nội dung, chủ đề của văn bản
Để tiện việc trình bày vấn đề này chúng tôi quy ước trong hai câu liênkết với nhau, có một câu gốc làm cơ sở gọi là câu chủ ngôn và câu sau liênkết với câu chủ ngôn gọi là câu kết ngôn Các phép liên kết câu cơ bản baogồm:
a Phương thức lặp: Là phép liên kết câu thể hiện việc dùng đi dùng lại
nhiều lần các yếu tố của câu chủ ngôn ở câu kết ngôn trong văn bản
Trong liên kết văn bản b ng phép lặp có các kiểu:
- Lặp từ vựng: Lặp các từ ngữ ở câu chủ ngôn và câu kết ngôn.
Ví dụ:
Giặc Minh xâm lược nước ta Chúng làm nhiều điều bạo ngược
khiến lòng dân vô cùng căm giận Bấy giờ ở Lam Sơn, có ông Lê Lợi phất
cờ khởi nghĩa Trong những năm đầu, nghĩa quân còn yếu, thường bị giặc
vây Có lần giặc vây rất ngặt, quyết bắt b ng được chủ tướng Lê Lợi Lê Lai đem một toán quân phá vòng vây Giặc bắt được ông, nhờ vậy mà Lê Lợi và số quân còn lại được cứu thoát.
(Lê Lai cứu chúa, TV 3 - tập 2, tr 17)
Lặp từ vựng rất phù hợp với sự liên kết chủ đề của các câu, vì các từngữ được lặp lại chính là nhiệm vụ duy trì chủ đề của văn bản
Trang 38- Lặp ngữ âm: Các bộ phận ngữ âm trong tiếng (âm tiết, vần, số lượng
âm tiết, nhịp điệu…) được lặp lại ở những câu khác nhau trong đoạn văn haytrong văn bản Điều này thường xuyên thấy xuất hiện ở văn bản văn vần
Ví dụ:
Trang 39Tiếng chim vách núi nhỏ dần Rìrầm tiếng suối khi gần khi xaNgoài thềm rơi chiếc lá đaTiếng rơi rất khẽ như là rơi nghiêng
(Trần Đăng Khoa)
Trong văn bản văn xuôi, phương thức lặp ngữ âm phổ biến hơn cả về
số lượng âm tiết Phương thức này trong văn xuôi thường đi kèm với dạngthức lặp ngữ pháp
Ví dụ:
Từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ Hàng ngàn bông hoa là hàng ngàn ngọn lửa hồng tươi Hàng ngàn búp nõn là hàng ngàn ánh nến trong xanh.
(Theo Vũ Tú Nam)
Trang 40Lặp là một biện pháp liên kết có các chức năng: liên kết, duy trì chủ
đề, đề tài, đồng thời có tác dụng nhấn mạnh, khắc sâu một nội dung, ý nghĩanào đó Trong nhiều trường hợp nó còn có tác dụng biểu cảm Nhưng chúng
ta cần chú ý r ng lặp là một biện pháp tu từ, một phương thức liên kết vănbản, cần phân biệt với một số dạng lặp khác không có các chức năng này Đó
là loại lặp do nghèo nàn vốn từ, không biết dùng câu chữ cho uyển chuyển,sinh động Đây cũng là một loại lỗi mà các em HS thường hay mắc phải Đểkhắc phục loại lặp này người ta dùng phép thế
b Phương thức thế: Là phép liên kết câu dùng những từ ngữ khác nhau
trong các câu kết ngôn nhưng có cùng nghĩa với yếu tố trong câu chủ ngôn.Nhờ đó các câu này liên kết được với nhau Có thể phân biệt thành một sốloại nhỏ như sau:
- Thế đại từ: Dùng đại từ để thay thế cho một yếu tố từ, ngữ đã được
nói đến ở câu chủ ngôn
Ví dụ:
Tên chúa tàu ấy cao lớn, vạm vỡ, da lưng sạm như gạch nung Trên má hắn có một vết sẹo chém dọc, trắng bệch Hắn uống lắm rượu đến nỗi nhiều
đêm như lên cơn loạn óc, ngồi hát những bài ca man rợ
(Khuất phục tên cướp biển, TV 4 - tập 2, tr 66)
Thế đại từ có tác dụng không chỉ làm tăng quan hệ chặt chẽ giữa cácyếu tố trong văn bản mà còn rút gọn độ dài, tiết kiệm lời, độ thông tin đượcdồn nén tốt hơn, súc tích hơn Các đại từ thường được sử dụng nhiều trongphép thế là: nó, chúng, họ, này, đây, đó… Ngoài ra còn một số đại từ hoácũng được dùng với chức năng thế là: anh, chị, chú, bác, ông, ngài…
- Thế đồng nghĩa: Phương thức liên kết thể hiện ở việc sử dụng trong
câu chủ ngôn và kết ngôn các từ hoặc cụm từ khác nhau có cùng một nghĩa(chỉ cùng một đối tượng)