1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo đảm quyền được sống trong môi trường tự nhiên trong lành theo hiến pháp năm 2013 trước những thách thức phi truyền thống

119 142 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể, Hiến pháp 2013 đã đưa ra một nguyên tắc Hiến định hoàn toàn mới: Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành Điều 43 [19], đánh dấu sự tiến bộ trong nhận thức về môi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

*** *** ***

HOÀNG VIỆT ANH

BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC SỐNGTRONG MÔI TRƯỜNG

TỰ NHIÊN TRONG LÀNHTHEO HIẾN PHÁP NĂM 2013TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC PHI TRUYỀN THỐNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG(MNS)

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

*** *** ***

HOÀNG VIỆT ANH

BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC SỐNGTRONG MÔI TRƯỜNG

TỰ NHIÊN TRONG LÀNHTHEO HIẾN PHÁP NĂM 2013TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC PHI TRUYỀN THỐNG

Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống

Mã số: Chương trình thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HỮU PHÚC

Hà Nội - 2018

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, trích dẫn trong Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy

và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Quản trị và Kinh doanh xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Việt Anh

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Luận văn là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp với kinh nghiệm trong quá trình thực tiễn công tác, với sự cố gắng nỗ lực của bản thân

Lời đầu tiên tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy TS Nguyễn Hữu Phúc, Chủ nhiệm Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện chính trị - Bộ Quốc phòng là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn cho tôi về phương pháp nghiên cứu và kinh nghiệm trong thời gian thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội và các học viên trong lớp đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, tuy nhiên do chưa có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 4

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

3.1 Mục tiêu tổng quát 5

3.2 Mục tiêu cụ thể 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu: 6

4.2 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 6

5.1 Nội dung nghiên cứu: 6

5.2 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Tính mới và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 7

7 Kết cấu của luận văn 7

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƯỢC SỐNGTRONG MÔI TRƯỜNG TRONG LÀNH 9

1.1 Lý luận chung về quyền được sống trong môi trường trong lành 9

1.1.1 Tổng quan về nội hàm An ninh phi truyền thống 9

1.1.2 Khái niệm về môi trường, môi tường, môi trường trong lành và ô nhiễm môi trường 13

1.1.3 Khái niệm về quyền con người 18

1.1.4 Quyền được sống trong môi trường trong lành và mối quan hệ giữa quyền con người với môi trường trong lành 21

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển lý luận về quyền được sống trong môi trường trong lành tại Việt Nam qua các bản Hiến pháp 26

Trang 6

iv

1.2.1 Quyền con người và vấn đề môi trường qua các bản Hiến pháp trước

Hiến pháp năm 2013 26

1.2.2 Những điểm mới về quyền con người nói chung và quyền được sống trong môi trường trong lành nói riêng theo Hiến pháp năm 2013 31

1.3 Nội dung cơ bản của quyền con người về môi trường 35

1.3.1 Quyền được sống trong bầu không khí không bị ô nhiễm 36

1.3.2 Quyền được tiếp cận nước sạch 37

1.3.3 Quyền tiếp cận đất đai 39

1.3.4 Quyền tiếp cận thông tin về môi trường 41

1.3.5 Quyền tham gia giải quyết vấn đề môi trường 42

1.3.6 Quyền tiếp cận tư pháp về môi trường 44

Chương 2 : THỰC TRẠNG THỰC THI QUYỀN ĐƯỢC SỐNGTRONG MÔI TRƯỜNG TRONG LÀNH THEO HIẾN PHÁP 2013 46

2.1 Thực trạng môi trường hiện nay tại Việt Nam 46

2.1.1 Ô nhiễm môi trường không khí 48

2.1.2 Ô nhiễm môi trường nước 51

2.1.3 Ô nhiễm môi trường đất 55

2.1.4 Các vấn đề môi trường khác 58

2.2 Thực trạng quản lý môi trường 59

2.2.1 Về thành tựu đạt được 60

2.2.2 Về tồn tại, hạn chế 61

2.3 Thực tiễn việc thực thi pháp luật trong bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 64

2.3.1 Khái quát về các văn bản pháp luật về lĩnh vực bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 65

2.3.2 Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 75

Chương 3 : PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG TRONG LÀNH THEO HIẾN PHÁP NĂM 2013 79

Trang 7

v

3.1 Các yếu tố, điều kiện bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 79 3.1.1 Các yếu tố bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 79 3.1.2 Điều kiện bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 81 3.2 Phương hướng bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 82 3.3 Một số giải pháp cơ bản bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 87 3.3.1.Xác định và nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và mọi công dân nhằm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 87 3.3.2.Tăng cường tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật, nâng cao nhận thức

và hình thành đạo đức sinh thái trong các tầng lớp nhân dân nhằm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 89 3.3.3.Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra về môi trường và công tác điều tra,

xử lý vi phạm pháp luật của lực lượng cảnh sát môi trường nhằm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 93 3.3.4.Hoàn thiện chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường ở các cấp theo từng giai đoạn phát triển kinh tế nhằm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 95 3.3.5.Mở rộng quan hệ quốc tế trong hoạt động bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 201398 KẾT LUẬN 102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường tự nhiên (sau đây gọi tắt là môi trường) là nơi cung cấp toàn

bộ những điều kiện thiết yếu và nguồn lực để con người sáng tạo nên tất cả những giá trị cuộc sống và ngược lại, những vấn đề mà con người phải giải quyết để phục vụ cho quá trình tồn tại và phát triển của mình có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường Nếu sự tác động của con người vào môi trường vượt quá giới hạn sẽ dẫn đến những thảm họa về môi trường mà con người phải trả giá với tư cách vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm Trên thực tế điều này không còn

là nguy cơ mà đã và đang diễn ra như một thảm họa mang tính toàn cầu đe dọa

sự tồn tại của loài người Thực trạng môi trường hiện nay đang diễn biến theo chiều hướng ngày càng xấu đi, đuợc biểu hiện rõ qua tình tra ̣ng ô nhiễm môi trường đang ngày càng trầm tro ̣ng, sự suy kiê ̣t nguồn tài nguyên thiên nhiên và các sự cố môi trường ngày càng gia tăng cả về cường độ và tần suất

Trước tình hình đó, nhân loại đã cùng nhau hợp sức hành động để bảo

vệ cuộc sống của thế hệ hiện tại, thế hệ tương lai Lịch sử bảo vệ môi trường thế giới được ghi nhận bắt đầu từ những năm 1970 Hội nghị của Liên Hợp Quốc về con người và môi trường tổ chức tại Stockholm (thủ đô Thụy Điển) trong thời gian từ ngày 05 đến ngày 06/6/1972 là hành động đầu tiên đánh dấu

sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường Theo Tuyên bố của Hội nghị, con người được sống trong một môi trường trong lành là một trong những nguyên tắc trọng tâm của quan hệ giữa các quốc gia Trong đó, nguyên tắc 1 nêu rõ: "Con người có quyền cơ bản được tự do, bình đẳng và được hưởng đầy đủ các điều kiện sống, trong một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm trong bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm nay và mai sau" [29] Đến năm 1992, Tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi

Trang 9

2

trường và phát triển (Rio de Janeiro - 1992) đã một lần nữa khẳng định: "Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hòa với thiên nhiên" [28]

Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam phải đối diện với nhiều vấn

đề môi trường như Bộ Chính trị đã nêu tại Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: "Môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh,

có nơi, có lúc đã đến lúc báo động: Đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng; khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có quy hoạch; đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không bảo đảm" [2], nguyên nhân chủ yếu là do trong suốt một thời gian dài vì ưu tiên cho phát triển kinh

tế nên việc bảo vệ môi trường đã có lúc bị xem nhẹ, là mục tiêu thứ yếu của các nhà lập pháp cũng như hành pháp

Các quy phạm pháp luật trước đây hầu hết mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc chung, chưa chú trọng việc lồng ghép cách tiếp cận quyền con người trong bảo vệ môi trường; chưa làm rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan tới bảo vệ môi trường; chưa chỉ ra bảo vệ môi trường không chỉ thuộc trách nhiệm của Nhà nước mà còn là quyền và trách nhiệm của toàn xã hội, cá nhân; pháp luật chưa quy định cụ thể, rõ ràng cả về quy trình, thủ tục để mọi

cá nhân, công dân có thể tham gia vào việc giám sát bảo vệ môi trường và ban hành các quyết định cũng như tiếp cận tư pháp trong lĩnh vực môi trường Phải đến Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (Hiến pháp 2013) được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013, bảo vệ môi trường mới thực sự được chú trọng, đặt ngang tầm

Trang 10

3

với các lĩnh vực khác Cụ thể, Hiến pháp 2013 đã đưa ra một nguyên tắc Hiến định hoàn toàn mới: Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43) [19], đánh dấu sự tiến bộ trong nhận thức về môi trường.Đây

là lần đầu tiên trong lịch sử lập Hiến,vấn đề môi trường được gắn kết với vấn

đề quyền con người và cũng là lần đầu tiên, trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức, cá nhân được Hiến định cụ thể trong việc bảo vệ môi trường để phát triển bền vững Đồng thời, Hiến pháp 2013 đã nêu những nội dung mới về bảo vệ môi trường như: Điều 63 quy định rất chi tiết và cụ thể về vấn đề bảo

vệ tài nguyên và môi trường và ngay trong tên của Chương III: “Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, xã hội và môi trường” cũng đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vị trí và tầm quan trọng của việc quản lý, khai thác,

sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu Hiến pháp 2013 cũng khẳng định việc khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, đồng thời thể hiện chủ trương áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước ở hiện tại và tương lai, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, phòng chống thiên tai và ứng phó với vấn đề biến đổi khí hậu [11].Như vậy, theo Hiến pháp 2013,quyền được sống trong môi trường trong lành phải được xem là một trong các nguyên tắc trụ cột và cơ bản của pháp luật môi trường Việt Nam Tuy nhiên, nội dung, phạm vi của quyền này cũng như việc thực thi quyền trên thực tế như thế nào để đạt được mục đích cải thiện môi trường sống trong lành cho tất cả mọi người lại là vấn đề khá mới

mẻ Trong bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả mọi người đều sinh ra

có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm

Trang 11

4

được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" Quyền được sống trong môi trường trong lành chính là sự biểu hiện sinh động của quyền được sống và quyền mưu cầu hạnh phúc

Trước thực trạng môi trường nước ta đang bị ô nhiễm trầm trọng, việc bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lànhđã trở thành một trong những vấn đề cấp bách và quan trọng nhất Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề

tài "Bảo đảm quyền được sống trong môi trường tự nhiên trong lành theo

Hiến pháp năm 2013 trước những thách thức phi truyền thống" làm luận

văn nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm gần đây, môi trường và việc bảo đảm quyền về môi trường đã trở thành một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống con người Đây là vấn đề không mới, đã có khá nhiều đề tài của nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên hầu hết mới chủ yếu tập trung nghiên cứu môi trường trong mối quan hệ với pháp luật và kinh tế, chỉ ra việc bảo vệ quyền con người nói chung…, chưa có tầm nhìn tổng quan

về mức độ bảo đảm thực thi quyền con người trong lĩnh vực môi trường, chưa chỉ ranhững vấn đề cốt lõi của việc thực thi quyền con người đối với môi trường trên thực tế Chỉ đến khi Hiến pháp 2013 được ban hành với rất nhiều điểm mới về quyền con người, trong đó đặc biệt là quyền được sống trong môi trường trong lành, vấn đề môi trường trong mối quan hệ trực tiếp với quyền con người mới được quan tâm đúng mức Đây vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam, do đó, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này, mới chỉ có một số công trình,đề tài khoa học, bài báo, tạp chícụ thể như:

- Đề tài khoa học cấp Bộ: Một số vấn đề cơ bản về quyền con người với

môi trường và điều kiện đảm bảo thực thi ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020

vì mục tiêu phát triển con người, do TS Đào Thị Minh Hương, Viện Nghiên

cứu con người, Viện Khoa học xã hội Việt Nam chủ nhiệm, 2012

Trang 12

5

- Thượng tướng, TS Nguyễn Văn Hưởng “An ninh phi truyền thống, nguy cơ, thách thức, chủ trương và giải pháp đối phó ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Đại học quốc gia, 2014

Về các bài báo, tạp chí:

- Phạm Thị Tính (2014), “Tiếp cận bảo vệ môi trường ở Việt Nam từ

góc độ quyền được hưởng môi trường trong lành”, Tạp chí Nghiên cứu Con

người, số 3 Tr.38-51

- Lê Thị Anh Xuân (2014), “Hiến pháp 2013 - Những nguyên tắc nền tảng

cho công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam”, Tạp chí Môi trường, số 3/2014

- TS Nguyễn Hữu Phúc (2016), “ Vai trò của pháp luật trong bảo đảm an ninh phi truyền thống”, tạp chí Pháp lý, Hội Luật gia Việt Nam, số tháng 10/2016

-TS Nguyễn Hữu Phúc (2016), “Mối quan hệ giữa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống ở Việt Nam hiện nay”, tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/2016

-TS Nguyễn Hữu Phúc (2016), “Xử lý thảm họa ở công ty Formosa Hà Tĩnh (FHS) – bài toán của an ninh phi truyền thống”, tạp chí Năng lượng, số 1/2017

Các nghiên cứu trên đã phần nào chỉ ra được tầm quan trọng của quyền được sống môi trường trong lành trong mối quan hệ với các quyền cơ bản khác của con người Tuy nhiên, nhìn chung, tại Việt Nam, chưa có công trình nào phân tích một cách toàn diện về vấn đề bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013, do đó, đây là một đề tài mang tính mới, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng việc thực thi quyền được sống trong môi trường trong lành, luận văn đem lại một cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng môi trường sống Việt Nam; những hành động cụ

Trang 13

6

thể của Nhà nước, tổ chức xã hội và của mỗi cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật, phân tích những tồn tại cũng như thành tựu đã đạt được trong việc thực thi quyền này, trên cơ sở đó đưa ra ý kiến góp phần nâng cao hiệu quả trong bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Các vấn đề lý luận về quyền được sống trong môi trường trong lành, thực trạng thực thi quyền nhằm bảo đảm nguyên tắc Hiến định này

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quy định của hiến pháp, pháp luật, các cam kết chính trị, Điều ước quốc tế liên quan đến bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực môi trường, các quan điểm chính trị, cơ chế, luật pháp quốc gia, các Chương trình, mục tiêu quốc gia liên quan đến bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực môi trường và các điều kiện thực thi ở Việt Nam

5 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nội dung nghiên cứu:

Phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn việc thực thi và bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013

Trang 14

7

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay về chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, bám sát tình hình thực tế và điều kiện tự nhiên, xã hội của Việt Nam

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp thu thập thông tin, phân tích và tổng hợp, thống kê,

so sánh và điều tra tình hình thực tế để đánh giá đúng thực trạng và trên cơ sở

đó nêu ra các giải pháp về bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo tinh thần Hiến pháp năm 2013

6 Tính mới và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Quyền được sống trong môi trường trong lành là một nguyên tắc hoàn toàn mới được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Lần đầu tiên, trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức, cá nhân đã được Hiến định cụ thể trong việc bảo vệ môi trường Nghiên cứu đề tài sẽ góp phần làm rõ hơn và đưa được nguyên tắc Hiến định này vào cuộc sống

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật có liên quan đến lĩnh vực bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành Ngoài ra, luận văn còn có thể dùng làm tài liệu cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu ở các cơ sở đào tạo

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc luận văn bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành

1.1 Lý luận chung về quyền được sống trong môi trường trong lành 1.2 Lịch sử hình thành và phát triển lý luận về quyền được sống trong môi trường trong lành tại Việt Nam qua các bản Hiến pháp

Trang 15

8

1.3 Nội dung cơ bản của quyền con người về môi trường

Chương 2: Thực trạng thực thi quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013

2.1 Thực trạng môi trường hiện nay ở Việt Nam

2.2 Thực trạng công tác quản lý môi trường

2.3 Thực tiễn việc thực thi pháp luật trong bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 và nguyên nhân của thực trạng này

Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013

3.1 Các yếu tố, điều kiện bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013

3.2 Phương hướng bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013

3.2 Một số giải pháp cơ bản bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013

Trang 16

9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƯỢC SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG TRONG LÀNH

1.1 Lý luận chung về quyền được sống trong môi trường trong lành

1.1.1 Tổng quan về nội hàm An ninh phi truyền thống

An ninh phi truyền thống (ANPTT) là một khái niệm mới xuất hiện trong các văn kiện chính trị - pháp lý ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã, đang và sẽ là nội dung “nóng”, là mối quan tâm chung không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia, lãnh thổ Từ năm 1994, trong “Báo cáo phát triển con người” của Chương trình phát triển Liên hợp quốc đã đưa ra tiêu đề “Lĩnh vực mới của an ninh con người” và nêu ra 7 lĩnh vực (những ý tưởng sáng tạo ban đầu về khái niệm an ninh phi truyền thống sau này) gồm: kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, con người, cộng đồng và chính trị Tiếp sau, dưới góc

độ nghiên cứu và quản lý, một số nước/một số nhà quản lý/một số nhà nghiên cứu quan niệm ANPTT bao gồm 5 lĩnh vực cơ bản: kinh tế, môi trường, xã hội, chính trị và văn hóa Một quan điểm khác lại phân chia các vấn đề ANPTT thành 6 nhóm chính : ô nhiễm môi trường , tình trạng thiếu hụt tài nguyên, tội phạm xuyên quốc gia , nạn khủng bố , dịch bệnh truyền nhiễm và thảm họa địa chất

Ngày 01/11/ 2002, lần đầu tiên tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 giữa các nước ASEAN và Trung Quốc tại Phnôm Pênh (Cam-pu-chia) đã ra Tuyên

bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực ANPTT, xác định ANPTT là những vấn đề: tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế, tội phạm công nghệ cao.Năm 2004 trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam lầnđầu tiên đã xác định: "Những vấn đề chưa được giải quyết, liên quan đến tranh chấp biên giới, lãnh thổ trên bộ, trên biển cùng những vấn đề ANPTT

Trang 17

10

khác, như buôn bán và vận chuyển trái phép vũ khí, ma túy, cướp biển, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, khủng bố, nhập cư và di cư trái phép, suy thoái môi trường, sinh thái cũng là những mối quan tâm an ninh của Việt Nam”1 Như vậy, dựa vào những quan điểm, “thái độ” chung của các nhà nước, quốc gia, dân tộc coi an ninh con người là vấn đề hạt nhân nằm trong an ninh xã hội, an ninh cộng đồng, khái niệm ANPTT hiện nay bao gồm những vấn đề chủ yếu là: Ô nhiễm môi trường, thảm họa địa chất, thiếu hụt tài nguyên, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, thiên tai dịch bệnh, biến đổi khí hậu, tội phạm khủng bố, tội phạm công nghệ cao, tội phạm kinh tế quốc

tế, buôn bán ma túy, buôn bán người, buôn lậu vũ khí, tội phạm rửa tiền, cướp biển, nhập cư và di cư trái phép v.v Khái niệm ANPTT với những nội dung

cụ thể của nó, rõ ràng mang tính chất "động”, và, cùng với thời gian, nội hàm của nó có thể còn tiếp tục được mở rộng hơn Do vậy, không phải ngẫu nhiên

mà cách đặt vấn đề ANPTT của các quốc gia, khu vực và cộng đồng có những điểm khác nhau nhất định Việc khuôn những vấn đề cụ thể nào đó trong nội hàm của vấn đề ANPTT như các nhận thức nêu trên đều mang ý nghĩa tương đối, nhằm phục vụ cho việc hoạch định, xây dựng chính sách, pháp luật, chiến lược an ninh của đất nước và những cam kết an ninh song phương, đa phương trong hợp tác quốc tế

Với nội hàm khái niệm trên, nguy cơ đe dọa từ ANPTT ở nước ta có mối quan hệ chặt chẽ với an ninh truyền thống vốn mục đích, tôn chỉ là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Nghiên cứu về mối quan hệ giữa an ninh truyền thống và ANPTT, nhiều quan điểm cho rằng đó là mối quan hệ biện chứng, là hai mặt của đồng xu (2 sides of acoin), đều có mục đích bảo vệ chế

độ, sự tồn tại của Nhà nước, độc lập chủ quyền và toàn vện lãnh thổ, an ninh

1Quốc phòng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2004, tr 11

Trang 18

11

công đồng, an ninh xã hội, trong đó an ninh con người là vấn đề hạt nhân,

“con ngườilà trung tâm của chiến lược phát triển”2 Điều đó đã được minh chứng khi quan điểm của Đảng, Nhà nước ta xác định: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng – an ninh”3, “Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh có nhiều diễn biến phức tạp Cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng và các hình thái chiến tranh kiểu mới”4

Kể từ sau Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trên những lĩnh vực ANPTT, Việt Nam cùng các nước ASEAN đã triển khai với các nước đối thoại, đặc biệt là với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ,

EU, các tổ chức quốc tế trong hợp tác đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia cũng như các lĩnh vực an ninh phi truyền thống khác Mới đây nhất, ngay tại tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 28- 29 tổ chức ngày 7/9/2016 tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, ngoài hai Hội nghị Cấp cao 28 -29 của ASEAN, còn có một số hội nghị cấp cao liên quan gồm Hội nghị cấp cao ASEAN – Trung Quốc lần thứ 19; Hội nghị cấp cao ASEAN – Nhật Bản lần thứ 19; Hội nghị cấp cao ASEAN – Hàn Quốc lần thứ 18; Hội nghị cấp cao ASEAN + 3 lần thứ 19; Hội nghị cấp cao ASEAN – Australia lần thứ 2; Hội nghị cấp cao ASEAN – Liên hợp quốc lần thứ 8; Hội nghị cấp cao ASEAN -

Ấn Độ lần thứ 14; Hội nghị cấp cao ASEAN – Mỹ lần thứ 4; Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ 11; Hội nghị cấp cao Mê Công – Nhật Bản lần thứ 8, các nhà lãnh đạo ASEAN cùng các đối tác“ đã trao đổi về các thách thức khu vực

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H,

Trang 19

12

và quốc tế, trong đó có các hoạt động khủng bố, cực đoan, tội phạm mạng, vấn đề biến đổi khí hậu và bệnh dịch…”, trong đó khẳng định một trong những bảo đảm chính cho ANPTT là sử dụng công cụ pháp luật

Trở lại với pháp luật thực định của nước ta trong bảo đảm ANPTT hiện nay, chúng ta nhận thấy hệ thống pháp luật đã ngày được hoàn thiện, tiêu biểu bao gồm các luật như:Hiến pháp năm 2013, Luật Quốc phòng năm 2005, Luật

An ninh quốc gia năm 2004, Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Luật phòng, chống thiên tai năm 2013, Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm

2010, Luật tài nguyên môi trường và hải đảo năm 2015,Luậtđấtđainăm2013, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật bảo hiểm y tế năm 2008, Luật khám, chữa bệnh năm 2009, Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật phá sản năm

2005, Luật đầu tư năm 2014, Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Luật xử lý vi pham hành chính năm 2012, mới đây nhất, tại Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm 34 tội danh mới, trong đó có các tội danh

đe dọa ANPTT như tội khủng bố, tội cướp biển…đặc biệt theo Bộ luật hình

sự mới sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại Sự hoàn thiện pháp luật trên ở nước ta trong thời gian qua rất đáng ghi nhận, một mặt là thể chế hóa quan điểm của Đảng ta, mặt khác thể hiện những cam kết quốc tế cũng như nội luật hóa những công ước, hiệp ước, hiệp định, nghị định thư mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc phê chuẩn Tuy nhiên trước những diễn biến rất phức tạp, trước những “nhóm” thách thức ANPTT nổi cộm như môi trường, tội phạm công nghệ cao… đang hiện hữu, đe dọa an ninh truyền thống, đòi hỏi bên cạnh những yếu tố bảo đảm ANPTT như thể chế, hợp tác quốc tế, chia sẻ thông tin, tài trợ…thì yếu tố pháp luật cần hết sức chú trọng

Quan niệm về ANPTT tương đối rộng lớn, đang là những thách thức,

đe dọa nghiêm trọng đến ổn định, trật tự xã hội Điều đó đòi hỏi tương ứng với mỗi mảng, mỗi lĩnh vực ANPTT cần hiện diện kịp thời, đầy đủ hệ thống

Trang 20

1.1.2.1 Khái niệm về môi trường

Môi trường có thể định nghĩa rộng hay hẹp Một số nước định nghĩa môi trường chỉ là môi trường tự nhiên bao gồm: đất, nước, không khí, chất hữu cơ, vô cơ và các sinh vật sống Đa số các nước định nghĩa môi trường bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế - xã hội chịu ảnh hưởng của những thay đổi trong môi trường tự nhiên

Theo Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 của Việt Nam: "Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo tác động đối với

sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật" (khoản 1) Theo điều luật này thì thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác (khoản 2)[21]

Như vậy, môi trường là toàn bộ những yếu tố tự nhiên và vật chất bao quanh con người, có quan hệ mật thiết với nhau và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự phát triển kinh tế - xã hội và sự tồn tại, phát triển của con người Hay nói cách khác, đó là hệ thống tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới sự sống, phát triển của các cá nhân và cộng đồng người và các bộ phận của thiên nhiên Dựa trên các tiêu chuẩn khác nhau (theo thành phần, quy mô, mức độ can thiệp của con người, mục đích sử dụng ) để phân loại môi trường, trong đó cách phân loại phổ biến hơn cả đó là phân chia môi trường theo thành phần: môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo

Môi trường tự nhiên là toàn bộ các điều kiện tự nhiên bao quanh con người và các cơ thể sống khác, giữa chúng có những mối quan hệ hữu cơ, tác

Trang 21

14

động qua lại gắn bó và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới đời sống cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội Cấu trúc của môi trường tự nhiên bao gồm: đất, nước, không khí, hệ sinh thái động thực vật và những điều kiện tự nhiên khác có ảnh hưởng tới đời sống con người Môi trường tự nhiên có phạm vi rộng, khi nghiên cứu về môi trường tự nhiên của con người trong phạm vi trái đất, người ta dựa vào các thành phần để phân ra thành: môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí và môi trường sinh vật

Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng

xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác nhưng cũng có thể gây cản trở cho

sự phát triển của cá nhân hoặc cộng đồng con người

Môi trường nhân tạo là toàn bộ các yếu tố do chính con người tạo ra, bao quanh con người, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của con người như: làng mạc, các công trình văn hoá, hệ thống sông ngòi…

do con người tạo nên; là sự tương tác giữa con người với con người trong đời sống và lao động sản xuất Môi trường nhân tạo có liên quan mật thiết gắn bó hữu cơ với môi trường tự nhiên, chịu sự tác động của môi trường tự nhiên

Ba thành phần môi trường này cùng tồn tại, xen lẫn nhau và tương tác chặt chẽ với nhau Các thành phần môi trường luôn chuyển hóa và diễn ra theo chu kỳ Thông thường ở dạng cân bằng động Sự cân bằng này bảo đảm cho sự sống trên trái đất phát triển ổn định

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu về môi trường tự nhiên, do đó, thuật ngữ môi trường sử dụng trong luận văn sẽ được hiểu là môi trường tự nhiên

Trang 22

15

1.1.2.2 Khái niệm về môi trường trong lành

Môi trường trong lànhlà môi trường sạch đẹp, không bị ô nhiễm, suy thoái, cung cấp điều kiện để con người và sinh vật sống khoẻ mạnh và hài hoà với thiên nhiên

Có nhiều tiêu chí đánh giá môi trường trong lành, nhưng về cơ bản, một môi trường trong lành cần đảm bảo các tiêu chí sau: Không khí sạch; Nước sạch và đủ nước; Đất đai không bị ô nhiễm, suy thoái (không gây hại cho con người)

Môi trường trong lành cũng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển bền vững của đô thị và nông thôn Tại châu Âu, dự án đô thị bền vững do Viện Môi trường Đô thị Quốc tế đã xây dựng được 10 chỉ tiêu cốt lõi bao hàm các nội dung bền vững sau đây cho hệ thống đô thị châu Âu: Môi trường trong lành, được đánh giá bằng số ngày trong năm có chất lượng không khí không vượt quá tiêu chuẩn địa phương; Không gian xanh, được đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm số người đến được với vườn cây xanh ở khoảng cách nhất định; Sử dụng hiệu quả tài nguyên, được đánh giá bằng toàn bộ năng lượng; nước tiêu thụ; phế thải đem loại bỏ (không kể số phế thải được tái chế hay sử dụng lại) tính theo đầu người trong một năm Tỷ lệ giữa các nguồn năng lượng có thể tái sinh và không tái sinh; Chất lượng môi trường tin cậy, được tính bằng tỷ lệ không gian mở cho diện tích được dùng ô tô; Khả năng đi lại, được tính bằng số kilomét đi bằng phương tiện giao thông (ô tô,

xe đạp, vận tải công cộng…) tính theo đầu người trong một năm; Nền kinh tế xanh, được đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm số công ty đã kết hợp các phương pháp kiểm toán và quản lý sinh thái (EMAS) hoặc các phương pháp tương tự;

Độ trường tồn, được đánh giá bằng số các hoạt động hoặc phương tiện văn hoá và xã hội (danh mục này còn đang được bổ sung); Sự tham gia của cộng đồng, được xác định thông qua số các nhóm hoặc tổ chức tình nguyện tính trên 1.000 dân và ước chừng số thành viên; Công bằng xã hội, được phản ánh

Trang 23

sở những chỉ tiêu cốt lõi, các thành phố dựa vào đặc điểm địa phương của mình mà bổ sung thêm những chỉ tiêu cơ bản, dựa vào điều kiện vùng mà bổ sung những chỉ tiêu đặc trưng vùng để hoàn thiện chỉ tiêu Đô thị bền vững cho từng đô thị cụ thể [25]

Tại Việt Nam, ngày 14/6/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định

số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, với 19 tiêu chí cụ thể Trong đó, tiêu chí môi trường (tiêu chí số 17) gồm 5 chỉ tiêu: Tỷ lệ

hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia; các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường; không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp; nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch; chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định [24]

1.1.2.3 Khái niệm về ô nhiễm môi trường

Theo quy định tại khoản 8 Điều 1 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014:

"Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật" [21]

Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển của sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học, hóa học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ

Trang 24

17

Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức độ có khả năng tác động xấu đến con ngườivà sinh vật

Có nhiều dạng ô nhiễm môi trường tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, ô nhiễm môi trường được chia ra các dạng chủ yếu sau:

Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của quần xã sống trong đất Môi trường đất là nơi cư trú của con người và hầu hết các sinh vật sống trên cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con người Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất và hoạt động sản xuất nông nghiệp để bảo đảm nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người Nhưng với tốc độ gia tăng dân số và tố độ phát triển của các khu công nghiệp và hoạt động đô thị hóa như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân trên đầu người ngày càng giảm Riêng chỉ ở Việt Nam thực tế cho thấy suy thoái tài nguyên đất là rất đáng báo động và lo ngại

Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi của các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của nước, với sự xuất hiện của các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại đối với con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm môi trường nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm môi trường đất Nước bị ô nhiễm là do sự phủ dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển, vùng biển khép kín Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hóa được Kết quả là làm cho hàm lượng oxi trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoái thủy vực Ở các đại dương nguyên nhân chính gây ô nhiêm môi trường

Trang 25

18

đó la sự cố tràn dầu ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại chất thải và chất thải công nghiệp được thải ra các con sông mà chưa qua khâu xử lý đúng mức, các loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu ngấm dần vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư sống ven sông

Ô nhiễm môi trường không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí mất trong lành hoặc gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do khói bụi Hiện nay, ô nhiễm môi trường khí quyển là vấn đề thời sự rất nóng bỏng của cả thế giới chứ không phải của riêng một quốc gia nào Môi trường khí quyển đang có nhiều biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và hệ sinh vật trên trái đất này Hàng năm con người khai thác và sữ dụng hàng tỉ tấn than đá, đầu mỏ, khí đốt Đồng thời cũng thải ra môi trường một khối lượng rất lớn các chất thải khác nhau như: Chất thải sinh hoạt, chất thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng

Ngoài ra, còn có các dạng ô nhiễm môi trường khác như: Ô nhiễm phóng xạ là ô nhiễm do các chất phóng xạ gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người Ô nhiễm tiếng ồn bao gồm tiếng ồn do xe cộ, máy bay, tiếng ồn công nghiệp và các loại máy móc cơ khí khác Ô nhiễm sóng là ô nhiễm do các loại sóng như sóng điện thoại, truyền hình… tồn tại với mật độ lớn

1.1.3 Khái niệm về quyền con người

Việc đưa ra khái niệm đúng đắn về quyền con người nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, giữa tính nhân loại với tính giai cấp, giữa các giá trị đạo đức với pháp luật và quyền lực, giữa quan hệ quốc tế với lợi ích quốc gia, giữa khả năng và nhu cầu tự nhiên với những nỗ lực chủ quan Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa có thể nêu ra một số thuộc tính cơ bản của khái niệm quyền con người: Một là, quyền con người là những giá trị gắn với mỗi

Trang 26

19

con người vừa với tư cách là cá nhân, vừa với tư cách là một thành viên xã hội

Vì vậy, quyền con người vừa mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng Hai là, quyền con người là những giá trị phải được xã hội hóa bằng cách thể chế hóa thành các quyền năng cụ thể, có tính phổ cập, cần thiết cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, giới tính Ba là, quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là những giá trị sản sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụ thể Ghi nhận quyền con người, pháp luật phản ánh các nhu cầu và khả năng khách quan phù hợp với chế độ chính trị, kinh tế, lịch sử cụ thể Chỉ có thông qua pháp luật thì các giá trị của con người với tư cách là tự nhiên và xã hội mới trở thành quyền được xác định và mới bảo đảm trở thành hiện thực trong thực tiễn Với ba yếu tố trên, quan niệm nhân quyền vừa khẳng định cơ sở tự nhiên, vừa thừa nhận thuộc tính xã hội - chính trị và lịch sử cụ thể của quyền con người thuộc một quốc gia, một dân tộc

Trong khoa học pháp lý, căn cứ vào nội dung, quyền con người được chia thành các nhóm cơ bản: Các quyền chính trị bao gồm quyền tham gia quản lý Nhà nước và thảo luận các vấn đề chung của cả nước, quyền bầu cử và ứng cử, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, quyền lập hội, quyền được thông tin, quyền biểu tình, quyền bình đẳng nam nữ, quyền khiếu nại, tố cáo v.v ; Các quyền dân sự (các quyền tự do cá nhân) bao gồm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về chỗ ở, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, quyền được bảo đảm an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín, quyền tự do đi lại và cư trú v.v ; Các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội bao gồm quyền học tập, lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp, quyền phát minh, sáng chế, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được bảo hộ về hôn nhân, gia đình, các quyền của các đối tượng đặc biệt như thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người già, trẻ em, người tàn tật không nơi nương tựa v.v…

Trang 27

20

Ngoài ra, căn cứ vào mức độ điều chỉnh của pháp luật, quyền con người được phân thành các quyền cơ bản và các quyền pháp lý khác: Quyền cơ bản của công dân (hay quyền hiến định) là các quyền quan trọng nhất, cơ bản nhất thể hiện mối quan hệ cơ bản nhất giữa Nhà nước và công dân được ghi nhận trong Hiến pháp, làm cơ sở cho việc cụ thể hóa các quyền pháp lý khác Quyền pháp lý khác là sự cụ thể hóa các quyền cơ bản của công dân trong các lĩnh vực pháp lý khác nhau được ghi nhận trong các văn bản pháp luật cụ thể

Ví dụ: quyền con người trong lĩnh vực hình sự, quyền con người trong lĩnh vực hành chính, quyền con người trong lĩnh vực lao động Các quyền con người cụ thể này được cụ thể hóa trên cơ sở các quyền cơ bản và không trái với các quyền cơ bản được Hiến pháp quy định, thể hiện sự nhất quán của Nhà nước ta trong ghi nhận và bảo đảm quyền con người, quyền công dân Quyền con người và việc bảo đảm các quyền con người trong các lĩnh vực pháp lý cụ thể được quy định phụ thuộc vào tính chất của ngành luật và chức năng của Nhà nước trong lĩnh vực đó Ví dụ: Quyền con người trong lĩnh vực

tố tụng hình sự được quy định trên cơ sở cân nhắc rằng hoạt động tố tụng hình

sự gắn liền với vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất là tội phạm và chức năng của Nhà nước là phát hiện nhanh chóng, kịp thời và xử lý công minh người phạm tội; nhưng đồng thời hoạt động tố tụng hình sự cũng liên quan rất nhiều tới các quyền cơ bản của con người v.v…

Tóm lại, dưới góc độ ngữ nghĩa, quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lí quốc tế.Hay nói một cách khác, quyền con người là hệ thống giá trị toàn cầu phổ biến nhằm cống hiến cho cuộc sống và sự tự do cơ bản nhất của mỗi con người; từ đó, tạo ra một khuôn khổ để xây dựng hệ thống quyền con người được các quy phạm và tiêu chuẩn quốc tế bảo vệ, được ghi nhận và công nhận trong hầu hết các đạo luật của các quốc gia trên thế giới Theo đó, các quyền cơ bản của con người bao

Trang 28

21

gồm quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật Đặt nền móng cho sự cụ thể hóa các quyền này là Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights 1948); Nghị quyết của đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1962 về sự phát triển kinh tế và bảo vệ thiên nhiên; các Công ước quốc tế về các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 Đến năm 1972, quyền con người được ghi nhận một cách rõ nét thông qua Tuyên bố của Liên hợp quốc tại Stokholm năm 1972 với nội dung: “Con người có quyền cơ bản được tự do, bình đẳng và đầy đủ các điều kiện sống, trong một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi

mà con người có trách nhiệm trong bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm nay và mai sau” [29] Nội dung này được ghi nhận tại Nguyên tắc đầu tiên trong Tuyên bố Tiếp theo đó là sự ghi nhận cụ thể và chi tiết hơn tại hàng loạt các văn bản pháp lý quốc tế có giá trị như: Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (Rio de Janeiro 1992); Tuyên bố Johannesburg năm 2002 về phát triển bền vững

1.1.4 Quyền được sống trong môi trường trong lành và mối quan hệ giữa quyền con người với môi trường trong lành

1.1.4.1 Quyền được sống trong môi trường trong lành

Ngày nay, sống trong môi trường trong lành là quyền quan trọng của con người Quyền con người chứa đựng các giá trị chung được cả thế giới ghi nhận và bảo vệ, là quyền tự nhiên và mang tính lịch sử Cùng với sự phát triển của xã hội, các giá trị của quyền con người ngày càng được mở rộng và bảo vệ Ban đầu, quyền con người gồm những quyền cơ bản như quyền được sống, quyền được tự do sau đó, nhiều quyền quan trọng khác cũng được coi là giá trị chung của nhân loại (quyền con người), trong đó có quyền được sống trong môi trường trong lành (Qua khảo sát trên 100 người ở Hà Nội, có 83% cho rằng con người có quyền được sống trong môi trường tự nhiên trong lành - Phiếu khảo sát)

Trang 29

là nhà nước Nhà nước có trách nhiệm và nghĩa vụ chính trong tôn trọng, bảo

vệ và thực thi Quyền môi trường; Trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà nước với tư cách là quốc gia thành viên của các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, bao gồm Công ước quốc tế về các quyền dân sự-chính trị và Công ước quốc tế về quyền kinh tế-xã hội và văn hóa năm 1966 Trong trường hợp xảy

ra các sai phạm, vi phạm hay xâm phạm quyền về môi trường của người dân, các cơ quan nhà nước (đặc biệt là cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm liên đới) cần phải thực thi tất cả các biện pháp, bao gồm lập pháp, hành pháp,

tư pháp và các biện pháp khác (như giáo dục, phổ biến,tuyên truyền.) để bảo đảm quyền về môi trường cho tất cả mọi cá nhân và nhóm xã hội

Từ những dẫn giải trên, quyền được sống trong môi trường trong lành

là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được sống trong môi trường trong sạch với hệ sinh thái cân bằng, không có ô nhiễm, suy thoái hay sự cố môi trường ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng và hoạt động bình thường của con người được pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ

1.1.4.2 Bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành

Bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành bao gồm: các trách nhiệm chính trị, đạo đức và pháp lý để hiện thực hoá quyền này Có thể chia ra thành hai loại: nghĩa vụ pháp lý chung và nghĩa vụ pháp lý cụ thể

Nghĩa vụ pháp lý chung gồm:

Chuyển hoá các quy định quốc tế vào luật pháp quốc gia: Thực hiện

Trang 30

23

mọi biện pháp lập pháp, hành chính, tư pháp và các biện pháp khác để bảo đảm các cam kết quốc tế được thực thi đầy đủ trên thực tế Các biện pháp khác được nói tới ở đây là nhà nước phải xây dựng các chương trình, mục tiêu quốc gia nhằm thực hiện các cam kết của mình

Trong lĩnh vực bảo đảm các quyền đối với môi trường, nghĩa vụ pháp

lý chung của nhà nước, được thể hiện cụ thể ở từng quyền và từng cấp độ khác nhau Có nghĩa vụ đòi hỏi phải thực hiện ngay tức thì và có những nghĩa

vụ thực hiện dần dần Ví dụ: nghĩa vụ pháp lý chung của nhà nước trong việc thực hiện quyền tiếp cận nước Mặc dù quyền này, trong quá trình thực hiện phụ thuộc vào nguồn lực của từng nước, nhưng theo quy định, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ phải thực hiện ngay như bảo đảm thực hiện quyền này

mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, dựa trên bất kỳ lý do nào Những biện pháp này phải thực sự cụ thể và hướng tới mục tiêu thực hiện đầy đủ quyền được sống trong môi trường trong lành

Các nghĩa vụ pháp lý cụ thể gồm:

Nghĩa vụ tôn trọng: Nghĩa vụ tôn trọng yêu cầu các quốc gia thành viên không được can thiệp một cách trực tiếp hay gián tiếp vào việc hưởng thụ các quyền con người về môi trường Ví dụ: Tôn trọng quyền tiếp cận nước, Nhà nước không được tham gia vào bất cứ một hành động nào để ngăn cản hoặc hạn chế quyền được tiếp cận bình đẳng về nước, không can thiệp tùy tiện vào

cơ chế phân phối nước; không cắt giảm việc cung cấp hay làm ô nhiễm nước một cách bất hợp pháp như việc xả thải của các doanh nghiệp nhà nước, việc

sử dụng và thử vũ khí làm ô nhiễm nguồn nước; không hạn chế sự tiếp cận hoặc có hành động hủy hoại nguồn nước, các dịch vụ và cơ sở hạ tầng về nước như một biện pháp trừng phạt trong các cuộc xung đột vũ trang

Nghĩa vụ bảo vệ: Nghĩa vụ này đòi hỏi nhà nước phải ngăn chặn và trừng trị thích đáng đối với bất kỳ ai có hành vi can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào đến việc hưởng thụ các quyền con người về môi trường Ví dụ:

Trang 31

24

Nghĩa vụ của Nhà nước trong bảo vệ quyền tiếp cận với nước phải có những biện pháp pháp lý, hành chính, thậm chí cả hình sự để xử lý hành vi của cá nhân, nhóm, các công ty, tập đoàn có các hành vi: làm ô nhiễm nguồn nước;

từ chối quyền bình đẳng trong tiếp cận với nước sạch; vi phạm quyền của cá nhân được tiếp cận với nước Ở những nơi có hệ thống dẫn nước, bể chứa nước, sông, giếng do các chủ thể nhà nước hoặc tư nhân điều hành và kiểm soát, thì các quốc gia phải ngăn chặn việc gây tổn hại đến các nguyên tắc tiếp cận bình đẳng, có thể chấp nhận được và có thể tiếp cận với nguồn nước một cách đầy đủ, an toàn

Nghĩa vụ thực hiện: nghĩa vụ này đòi hỏi Nhà nước phải từng bước xây dựng chương trình, chính sách để từng bước hiện thực hóa các quyền con người về môi trường Ví dụ: Để bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận nước, Nhà nước phải thực hiện các biện pháp chủ động như xây dựng chiến lược và chương trình toàn diện để bảo đảm đủ nguồn cung cấp nước sạch không chỉ cho các thế hệ hiện tại mà cả tương lai

Với những nghĩa vụ thực hiện khác, nhà nước chủ động đầu tư trang thiết bị, áp dụng và sử dụng các công nghệ bảo đảm môi trường trong lành;

hỗ trợ các cá nhân và cộng đồng để tiếp cận với môi trường trong lành

Theo Hiến pháp 2013, trách nhiệm của Nhà nước và những bảo đảm của Nhà nước trong việc ghi nhận, tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân được quy định đầy đủ trong các điều luật Ngoài nguyên tắc như: “Quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh

tế, văn hóa xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp

và pháp luật” (Điều 14); ở nhiều điều khác đều quy định trách nhiệm và bảo đảm của Nhà nước như Điều 17: “Nhà nước bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài”; Điều 28: “Nhà nước tạo mọi điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”…

Trang 32

25

1.1.4.3 Mối quan hệ giữa quyền con người vớimôi trường trong lành

Trên thế giới, từ năm 1972, tại nguyên tắc 1 Tuyên bố Stockholm đã thiết lập nền tảng cho mối quan hệ giữa quyền con người với môi trường trong lành: “con người có các quyền cơ bản về tự do, bình đẳng và điều kiện sống tối thiểu trong môi trường trong lành, bình đẳng cho phép con người có cuộc sống trong nhân phẩm và hạnh phúc” Tại Việt Nam, khi ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành trong Hiến pháp 2013, cũng có nghĩa Nhà nước đã khẳng định quyền con người không thể tách rời yếu tố môi trường trong lành, qua đó, đã phản ánh một bước tiến lớn, thể hiện việc mở rộng và phát triển quyền con người Mối quan hệ giữa quyền con người với môi trường trong lành thể hiện qua hai khía cạnh sau:

1.1.4.3.1 Môi trường trong lành là điều kiện để thực hiện quyền con người

Chức năng của môi trường tự nhiên là tạo cân bằng sinh thái nhằm duy trì sự sống và hoạt động bình thường của con người cũng như sinh vật cung cấp không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi; cung cấp các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ cho sản xuất và cuộc sống hiện đại của con người; môi trường cũng là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải của con người và sinh vật Với chức năng đó, một môi trường trong lành, không bị ô nhiễm là cơ sở, nền tảng thiết yếu nhất để thực hiện quyền con người Có thể khẳng định, khi môi trường trong lành không được đảm bảo, thì những quyền con người như quyền sống, quyền về sức khỏe, quyền về nước, quyền làm việc, kiếm kế sinh nhai… khó có thể được thực hiện Bởi vì, khi môi trường ô nhiễm

sẽ làm giảm năng suất và mất an toàn đối với các sản phẩm cây trồng, nhiều bệnh tật xuất hiện do thực phẩm bị nhiễm độc gây ra ví dụ như ung thư và tim mạch Ô nhiễm môi trường cũng cản trở quyền được tiếp cận với nước sạch của con người, bởi sử dụng nước không hợp vệ sinh cũng là mầm mống của dịch bệnh Ô nhiễm không khí là tác nhân nguy hiểm nhất đối với sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh ung thư ở người

Trang 33

26

Việc phá hủy môi trường đồng nghĩa với việc tước đi quyền làm việc của nhiều người, vì ô nhiễm các dòng sông, ngòi, kênh, mương đẩy những người sống bằng nghề đánh bắt cá mất việc làm… Trên thực tế, môi trường bị ô nhiễm đã

và đang gây ra rất nhiều hệ lụy dẫn đến việc thụ hưởng các quyền con người ngay cả những quyền cơ bản nhất là quyền sống, quyền về sức khỏe bị đe dọa, thậm chí, không thể thực hiện được

1.1.4.3.2 Thực hiện tốt quyền con người là điều kiện để có môi trường trong lành

Ngược lại, thực hiện tốt quyền con người cũng là điều kiện để có môi trường trong lành: nếu con người phải sống trong điều kiện các quyền cơ bản không được đảm bảo, phải lo lắng về những vấn đề tối thiểu nhất như cái ăn, cái mặc thì không thể đòi hỏi họ có ý thức bảo vệ môi trường, nói rộng hơn, đối với một quốc gia, khi điều kiện kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, đôi lúc người lãnh đạo của quốc gia đó cũng phải chấp nhận vì lợi ích kinh tế mà bỏ qua các vấn đề về môi trường Thực tiễn cho thấy, khi các quyền con người như quyền có sức khỏe, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị…được đảm bảo, người dân sẽ có điều kiện quan tâm hơn, có ý thức hơnđể nói lên được tiếng nói của mình đối với các quyết định, chính sách của Nhà nước về các vấn đề môi trường,đặc biệt là những người trực tiếp phải gánh chịu sự tác động và ảnh hưởng bởi sự ô nhiễm môi trường; qua đó, tích cực hơn trong việc tham gia và góp phần bảo đảm và giữ gìn môi trường trong lành

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển lý luận về quyền được sống trong môi trường trong lành tại Việt Nam qua các bản Hiến pháp

1.2.1 Quyền con người và vấn đề môi trường qua các bản Hiến pháp trước Hiến pháp năm 2013

Khi lựa chọn định hướng phát triển theo xu hướng tiến bộ, các quốc gia đều cố gắng phấn đấu vì con người Ở Việt Nam, nhất quán với nguyên tắc tất

Trang 34

27

cả vì tự do và hạnh phúc nhân dân, Ðảng và Nhà nước ta vừa không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo tiền đề pháp lý bảo đảm quyền con người, vừa luôn xây dựng các chính sách cụ thể để từng bước cải thiện, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, thể hiện rõ qua nội dung các bản Hiến pháp: Ðạo luật quan trọng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Hiến pháp năm 1946, ra đời sau ngày đất nước giành lại độc lập đã kế thừa truyền thống nhân văn, nhân ái của dân tộc ta, kết hợp truyền thống văn hóa Á Ðông với tinh hoa văn minh phương Tây nhằm mục tiêu giữ vững độc lập cho

Tổ quốc, bảo đảm hạnh phúc cho nhân dân Hiến pháp đầu tiên của đất nước

đã ghi nhận những quyền cơ bản của con người trong chương II "Quy định nghĩa vụ và quyền lợi công dân, xác nhận sự bình đẳng về mọi phương diện của tất cả công dân Việt Nam trước pháp luật.", thể hiện rõ ở các điều: Điều 6: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: Chính trị, kinh tế, văn hóa, Điều 7: Tất cả mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình, Điều 9: Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện, Điều 10: Công dân Việt Nam có quyền:Tự do ngôn luận, Tự do xuất bản, Tự do tổ chức và hội họp, Tự do tín ngưỡng, Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.Như vậy, với Hiến pháp năm 1946, lần đầu tiên trong lịch sử, địa vị pháp lí của công dân được xác lập trên cơ sở dân tộc giành được độc lập Có thể nói rằng, mặc dù ra đời trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận những giá trị quyền con người mà nhân dân ta đã giành được đặc biệtlà sự bình đẳng về quyền lợi trên mọi phương diện.Đây là một nội dung cốt lõi của một Hiến pháp dân chủ

Tiếp tục kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Hiến pháp vì quyền con người,Hiến pháp năm1959 - Hiến pháp đầu tiên của thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội đã quy định chi tiết hơn về quyền con người,

cụ thể Chương III: “Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân" đã bổ sung

Trang 35

28

những quy định mới về quyền con người của công dân như: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở và thư tín (Điều 27, 28),quyền khiếu nại tố cáo đối với bất cứ cơ quan nhà nước nào (Điều 29), quyền làm việc (Điều 30), quyền nghỉ ngơi (Điều 31), quyền học tập (Điều 33), quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành hoạt động văn hoá khác (Điều 34) [16]

Đến Hiến pháp năm 1980, quyền con người được quy định trong Chương V "quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân", theo đó, Hiến pháp năm

1980 một mặt ghi nhận lại quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã quy định trong hai Hiến pháp trước như: Quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân (Điều 55), quyền bầu cử và ứng cử (Điều 57), quyền lao động (Điều 58), quyền nghỉ ngơi (Điều 59), quyền tự do tín ngưỡng (Điều 68), quyền khiếu nại và tố cáo (Điều 73), quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 69) [17].Mặt khác quy định thêm về một số quyền của công dân phù hợp với tình hình mới, cụ thể ở các điều: Điều 56: công dân có quyền tham gia quản lí công việc của nhà nước và xã hội, Điều 61: công dân có quyền được bảo vệ sức khỏe Nhà nước thực hiện chế độ khám và chữa bệnh không phải trả tiền, Điều 63: phụ nữ có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương nếu là công nhân, viên chức, hoặc hưởng phụ cấp sinh

đẻ nếu là xã viên hợp tác xã.Tuy nhiên, một số quyền mới quy định trong Hiến pháp lại không phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước Điển hình là việc quy định "chế độ học không phải trả tiền" (Điều 60) không phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của nước ta Tương tự, việc quy định "chế độ khám bệnh và chữa bệnh không mất tiền" (Điều 61) mang tính chủ quan duy ý chí, không phù hợp với điều kiện kinh tế nước nhà, gây nhiều hậu quả tích cực trong xã hội Nhưng nhìn nhận một cách khách quan vấn đề thì những quy định mới này mang những nét tiến bộ vượt trội thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến mọi mặt cuộc sống của nhân dân

Trang 36

29

Hiến pháp năm 1992 là Hiến pháp quy định đầy đủ và phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước về quyền con người.Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, Hiến pháp năm 1992 đã dành một điều nói về quyền con người với nội dung khẳng định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật" (Điều 50) Việc ghi nhận một điều nói về quyền con người với tư cách là một quy định chung trước khi ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 1992 thể hiện một bước tiến mới về tư duy lý luận

và sự kế thừa một cách sâu sắc giá trị tiến bộ của tư duy chính trị - pháp lý của nhân loại Phải thừa nhận rằng cá nhân con người với tư cách là một thực thể tự nhiên - xã hội, có những quyền cơ bản xác định Việc thừa nhận các quyền này đã được cộng đồng loài người ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế.Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận khái niệm "quyền con người" với nội dung chính trị pháp lý rộng hơn để phản ánh giá trị của cá nhân con người trong mối quan hệ với một nhà nước nhất định, đồng thời là giá trị tổng hợp được cộng đồng quốc tế thừa nhận Cụ thể, tại Chương V Hiến pháp năm 1992đã quy định các nhóm quyền: Các quyền về chính trị; Các quyền về kinh

tế văn hóa xã hội; Các quyền về tự do dân chủ Hiến pháp năm 1992 đã giữ lại

cơ bản những quyền của công dân gắn liền với quyền con người của các bản Hiến pháp trước Ví dụ: Quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 35), quyền được bầu cử và ứng cử (Điều 54), quyền lao động của công dân (Điều 55), quyền tự do tín ngưỡng (Điều 70) Trên cơ sở đó, bổ sung, sửa đổi những quy định để phù hợp và đầy đủ hơn Cụ thể như:Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo (Điều 74), Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo càng nhiều việc làm cho người lao động (Điều 55), Nhà nước quy định bậc tiểu học không phải đóng tiền học phí (Điều 59)[18]…

Trang 37

30

Như vậy, trong cả bốn bản Hiến pháp, vấn đề "quyền cơ bản của con người" đều được ghi nhận và gắn liền với những quyền cơ bản của công dân Hiến pháp sau là sự kế thừa có chọn lọc, bổ sung những quyền con người của Hiến pháp trước Có thể nói vấn đề bảo đảm những quyền cơ bản của con người là một trong những tư tưởng xuyên suốt lịch sử lập hiến của nhà nước ta

Không chỉ quy định về quyền con người, các bản Hiến pháp cũng đã quan tâm đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường: Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, vấn đề bảo vệ môi trường đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm1980, đây là lần đầu tiên trong lập hiến, Việt Nam có quy định về bảo vệ môi trường Cụ thể, Điều 36 Hiến pháp năm 1980 quy định: "Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ và cải tạo môi trường sống" Với quy định này, những quan điểm mới về bảo vệ môi trường đã được hình thành và cùng với đó, các biện pháp bảo vệ môi trường bằng pháp luật đã được đưa ra Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, thời gian này nhiều văn bản pháp luật khác về bảo vệ môi trường được ban hành như: Pháp lệnh về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản (30/6/1989); Pháp lệnh về tài nguyên khoáng sản (28/7/1989); Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 28/HĐBT, ngày 24/01/1991 đều có liên quan đến việc quy định sử dụng các tài nguyên và các thành phần môi trường phải có hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường

Hiến pháp năm 1992 quy định: “Các tổ chức, cá nhân… phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Nghiêm cấm các hành vi làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường” Ngoài ra, Hiến pháp năm 1992 còn quy định các hành vi bị cấm như: cấm "huỷ hoại", hoặc làm "suy kiệt" môi trường… (Điều 29) Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 1992, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (1993) quy định, Hội đồng nhân dân có trách nhiệm:

Trang 38

31

“Quyết định các chủ trương, biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trường ở địa phương theo quy định của pháp luật” (Điều14) Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương (Điều 43) Tiếp đó nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh các yếu tố môi trường được ban hành như: Luật đất đai (1993); Pháp lệnh về Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản (1989); Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân (1989); Pháp lệnh thuế tài nguyên (1990); Luật phát triển và bảo vệ rừng (1991) Đặc biệt, Bộ luật hình

sự năm 1985 đã quy định 04 tội danh có liên quan đến công tác quản lý và sử dụng tài nguyên (Điều 179, 180, 181 và 195, Chương 2, phần Các tội phạm)

1.2.2 Những điểm mới về quyền con người nói chung và quyền được sống trong môi trường trong lành nói riêng theo Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp 2013 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013, Chủ tịch nước công bố ngày 08/12/2013, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế của nước ta trong thời kỳ mới, đồng thời đánh dấu bước phát triển mới của lịch sử lập hiến Việt Nam, đặc biệt là những quy định về quyền con người nói chung cũng như quyền được sống trong môi trường trong lành nói riêng

Về quyền con người nói chung, sự tiến bộ của Hiến pháp năm 2013 thể hiện rõ qua các điểm sau:

Thứ nhất, Chương V Hiến pháp năm 1992 “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” được đổi tên thành “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” và đưa lên vị trí trang trọng của Hiến pháp năm 2013 là Chương II ngay sau Chương I "Chế độ chính trị", đây là chương có số điều quy định nhiều nhất (36/120 điều), có nhiều đổi mới nhất cả về nội dung quy định, cả về cách thức thể hiện

Thứ hai, so với các bản Hiến pháp trước, lần đầu tiên Hiến pháp năm

2013 xác định rõ và quy định ngay tại Điều 3 về Nhà nước có trách nhiệm

Trang 39

32

"công nhâ ̣n , tôn trọng , bảo vệ và bảo đảm quyền con người , quyền công dân" Vì vậy, khi quy định quyền con người, quyền công dân, hầu hết các điều của Hiến pháp 2013 quy định trực tiếp: "mọi người có quyền ", "công dân có quyền " để khẳng định rõ đây là những quyền đương nhiên của con người, của công dân được Hiến pháp ghi nhận và Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền này, chứ không phải Nhà nước “ban phát”, “ban ơn” các quyền này cho con người, cho công dân "Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng" (khoản 2 Điều 14) Đây chính

là nguyên tắc hiến định rất quan trọng về quyền con người, quyền công dân

và theo nguyên tắc này, từ nay không chủ thể nào, kể cả các cơ quan nhà nước được tùy tiện cắt xén, hạn chế các quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong Hiến pháp Cũng từ nguyên tắc này, các quy định liên quan đến các quyền bất khả xâm phạm của con người, của công dân (như quyền được sống, quyền không bị tra tấn, quyền bình đẳng trước pháp luật v.v.) là các quy định có hiệu lực trực tiếp; chủ thể của các quyền này được viện dẫn các quy định của Hiến pháp để bảo vệ các quyền của mình khi bị xâm phạm Các quyền, tự do cơ bản khác của con người, của công dân và quyền được bảo vệ về mặt tư pháp cần phải được cụ thể hóa nhưng phải bằng luật do Quốc hội - cơ quan đại diện quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân ban hành, chứ không phải quy định chung chung “theo quy định pháp luật” như rất nhiều điều của Hiến pháp năm 1992 quy định v.v

Thứ ba, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ quyền nào là quyền con người, quyền nào là quyền công dân và quy định chương này theo thứ tự: đầu tiên là các nguyên tắc hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; tiếp đến là các quyền dân sự, chính trị rồi đến các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội và cuối cùng là các nghĩa vụ của cá nhân, của công

Trang 40

33

dân Hầu hết các điều của chương này trong trong Hiến pháp năm 2013 thay

vì quy định “công dân” như Hiến pháp năm 1992 đã quy định “mọi người”, “không ai” Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới về nhận thức lý luận và giá trị thực tiễn khi không đồng nhất quyền con người với quyền công dân

Thứ tư, Hiến pháp năm 2013 quy định một số quyền mới của con người, quyền và nghĩa vụ mới của công dân, như: Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (Điều 17); Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bi ̣ tước đoa ̣t tính mạng trái luật (Điều 19); Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình (Điều 21); Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42) Điều này thể hiện bước tiến mới trong việc mở rộng và phát triển các quyền, phản ảnh kết quả của quá trình đổi mới hơn 1/4 thế kỷ ở Việt Nam Nội dung của các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong các điều khác của Hiến pháp 2013 phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, nhất là Công ước quyền con người về chính trị, dân sự và Công ước quyền con người về kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 của Liên hợp quốc [22] Đây cũng chính là sự khẳng định cam kết mang tính hiến định của Nhà nước ta trước Nhân dân và trước cộng đồng quốc tế về trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam

Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc và rõ rệt nhất về quyền con người trong lĩnh vực bảo vệ môi trường so với các bản Hiến pháp trước:

Ngày đăng: 20/01/2019, 21:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w