1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nội dung Xã hội học Chính trị

131 335 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 624 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với chính trị học, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chính trị học chủ yếu "nghiên cứu lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội như là một chỉnh thể để làm sáng tỏ những quy luật và tính quy

Trang 1

MỤC LỤC

Tr Lời nói đầu 02 Chương 1

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của xã hội học chính trị 05 chương 2

lịch sử tư tưởng xã Hội Học Chính Trị 25 Chương 3

Một số phương pháp và các bước tiến hành điều tra xã hội học chính trị 82 Chương 7

Một số vấn đề xã hội - chính trị Trong xã hội việt nam hiện nay 110

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Xã hội học chính trị là một môn khoa học đặc thù và phức tạp từ đối tượngđến phương pháp nghiên cứu, từ việc xác định khái niệm, phạm trù đến nội dung vànhững đặc điểm của nó Nằm trong một tập hợp các khoa học xã hội và nhân văn, xãhội học chính trị có chức năng, vị trí và tầm quan trọng riêng, góp phần vào việc

nghiên cứu các vấn đề xã hội cũng như nghiên cứu phương diện xã hội của chính trị

trong quá trình vận động, phát triển

Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay, xã hội học chính trị càng trở nên vôcùng cần thiết hơn bao giờ hết Khi đất nước ta vận động và phát triển dưới tác độngmạnh mẽ của những cải cách và đổi mới, của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá để chuyển mình từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp,

từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, từ mô hình phát triển đơn tuyến và đơntrị.(1), đóng cửa và khép kín sang mô hình phát triển mới với mở cửa, hội nhập, hợptác song phương và đa phương, hợp tác và cạnh tranh để phát triển Đây chính làphương thức phát triển đất nước dựa trên tiền đề ổn định các yếu tố, đặc biệt là ổnđịnh chính trị qua việc tổng hợp cả các yếu tố nội lực và ngoại lực, chú trọng giảiquyết các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời chú trọng cả môi trường sinhthái - tự nhiên lẫn môi trường xã hội - nhân văn

Xã hội học chính trị là một môn khoa học mới mẻ và đầy triển vọng không chỉ

ở nước ta mà cả trên thế giới Ở Việt Nam, chính trị học là một ngành khoa học đang

ở những bước hình thành, nó dần dần đáp ứng được những đòi hỏi của việc đổi mới

hệ thống chính trị, dân chủ hoá đời sống chính trị và đời sống xã hội nói chung.Đồng thời việc đổi mới kinh tế - xã hội và đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta đãkhách quan hoá vai trò, tầm quan trọng và triển vọng của xã hội học chính trị

Mục đích của Đổi mới là tìm kiếm con đường, giải pháp để vượt qua sự trì trệ,khủng hoảng, nhằm đưa đất nước từng bước phát triển Nước ta đang ở trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, với nền kinh tế đang có

sự chuyển đổi sâu sắc cả mô hình phát triển, cơ cấu, lẫn cơ chế quản lý và các chínhsách điều tiết Trong xã hội cũng đang diễn ra những biến đổi về cơ cấu giai cấp,tầng lớp, nhóm xã hội, sự phân hóa trong cộng đồng dân cư Do đó, việc điều tiết,

Trang 3

điều chỉnh các đối tượng và các quan hệ xã hội bằng cơ chế và chính sách tác độngtheo nguyên lý công bằng xã hội đang trở nên rất cần thiết, bức xúc.

Lý luận cũng như thực tiễn đã cho thấy, tác động qua lại giữa yếu tố kinh tế vàyếu tố xã hội tất yếu phải đi qua vòng khâu của chính trị

Chính trị tham dự vào đời sống xã hội, định ra phương hướng phát triển kinh

tế và quản lý xã hội như thế nào cho hợp lý, đúng đắn, để chính trị trở thành lực đẩychứ không phải là lực cản đối với phát triển - đó là vấn đề mà các khoa học xã hội -nhân văn phải nghiên cứu, đưa ra câu trả lời Trách nhiệm ấy trước hết thuộc về các

khoa học chính trị, trong đó không thể thiếu vắng xã hội học chính trị.

Thực tiễn chính trị Việt Nam rất phong phú Dân tộc Việt Nam qua trảinghiệm lịch sử đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm chính trị và có sự nhạy cảm sâusắc về chính trị nhưng vì sao chính trị học, lý luận khoa học về chính trị lại chậmphát triển? Chính trị học hiện đại ở Việt Nam là một khoa học non trẻ mới chỉ bắtđầu hình thành từ đổi mới đến nay, và trên thực tế, nó còn chưa trưởng thành

Xã hội học chính trị quan trọng và cần thiết như vậy, nhất là đối với nhận thức

xã hội và tư duy lãnh đạo, quản lý, vậy mà trên thực tế nó cũng ra đời muộn màng,muộn màng hơn cả xã hội học và chính trị học

Tình hình phát triển hiện nay của xã hội ta cùng với xu thế và bối cảnh quốc tếđang tạo ra cơ hội cho sự phát triển xã hội học chính trị Mặt khác cũng có không ítnhững khó khăn và thách thức đối với sự phát triển của nó, nhất là đặt trong tươngquan so sánh với thành tựu xã hội học chính trị của các nước trong khu vực và trênthế giới

Trang 4

CHƯƠNG 1

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC CHÍNH TRỊ

I ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC CHÍNH TRỊ

Chính trị là một trong những lĩnh vực mà nhiều khoa học xã hội nghiên cứu

Xã hội học nghiên cứu về con người với những quan hệ xã hội của họ nên cũng coichính trị là một lĩnh vực cần nghiên cứu Song xã hội học nghiên cứu chính trị lànghiên cứu gì? Đối tượng cụ thể của xã hội học chính trị ra sao? Xã hội học chính trịtiếp cận với quan hệ chính trị của con người thế nào, bằng phương pháp nào? Xã hộihọc chính trị khác gì với các khoa học đang nghiên cứu về chính trị, nhất là vớichính trị học? Đây là những vấn đề cần phải tập trung làm rõ

1 Các khoa học chính trị và xã hội học chính trị

Cho đến ngày nay, chính trị luôn được mọi người hiểu là quyền lực Tiếp cận

ở những góc độ khác nhau của mối quan hệ quyền lực này, chúng ta có những khoahọc khác nhau:

- Triết học tiếp cận với quyền lực chủ yếu từ góc độ của quan hệ giữa cơ sở hạtầng và kiến trúc thượng tầng Ở đây, theo các nhà triết học duy vật biện chứng: cơ

sở hạ tầng nào có kiến trúc thượng tầng ấy Nghĩa là, trình độ phát triển của lựclượng sản xuất, kiểu quan hệ sản xuất giữa người với người, giữa các nhóm xã hộivới nhau sẽ quyết định chủ yếu kiểu tổ chức nhà nước, pháp quyền, đạo đức, tưtưởng, tôn giáo Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng

- Kinh tế chính trị học thì bàn đến mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Ởđây, kiểu tổ chức sản xuất thế nào, cơ cấu kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế nào

sẽ có cơ cấu xã hội như thế Và chính cơ cấu xã hội này sẽ quyết định cơ cấu quyềnlực xã hội Ai nắm kinh tế, người đó sẽ nắm quyền lực Quyền lực chính trị thực chất

là sự phản ánh quyền lực về kinh tế Tất cả các xã hội đã tồn tại đều như vậy

- Tôn giáo học, văn hoá học cũng ít nhiều nghiên cứu về chính trị Ở đây,quan niệm tôn giáo cũng nhiều khi được phản ánh trong hệ thống luật pháp hoặctrong các thể chế xây dựng nhà nước ở nhiều quốc gia Cũng như vậy, văn hoá họcnghiên cứu về văn hoá chính trị, về những tương tác của hệ thống chuẩn mực và giátrị xã hội với cách thức tổ chức, thực hiện quyền lực xã hội

Trang 5

- Chủ nghĩa xã hội khoa học thì nghiên cứu có tính đặc thù hơn Nó nghiêncứu quyền lực chỉ trong xã hội xã hội chủ nghĩa - xã hội mà quyền lực nhà nước chỉtồn tại như điều kiện cho cuộc cải tạo kinh tế xã hội rộng lớn, cơ bản, toàn diện để điđến thủ tiêu mọi quyền lực nhà nước, thực hiện một xã hội công bằng bình đẳng,tiến bộ cho tất cả mọi người - xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Như vậy là ở những góc độ khác nhau, các khoa học nghiên cứu về nhữngkhía cạnh khác nhau của quyền lực xã hội Rất nhiều khoa học đã ra đời và nghiêncứu như thế Vấn đề đặt ra là xã hội học chính trị đã nghiên cứu gì, đối tượng cụ thểcủa nó ra sao? và xã hội học chính trị khác gì với chính trị học?

Nhận biết về những mối liên hệ giữa xã hội học và chính trị học với xã hộihọc chính trị

Trước hết, phải khẳng định rằng, đã là khoa học nghiên cứu về chính trị thìkhoa học nào cũng lấy quyền lực là phạm trù cơ bản, xuất phát Từ những góc độkhác nhau, các khoa học chính trị đều góp phần tìm hiểu những quy luật và tính quyluật chi phối quyền lực giữa người với người và giữa các nhóm, tập đoàn xã hội vớinhau Trên cơ sở này góp phần hoàn thiện hệ thống quyền lực xã hội, làm cho hệthống này vận hành tốt hơn, phục vụ tốt hơn mục tiêu quản lý xã hội

Với chính trị học, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chính trị học chủ yếu

"nghiên cứu lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội như là một chỉnh thể để làm sáng

tỏ những quy luật và tính quy luật chung nhất trong các mối quan hệ giai cấp, dântộc, quốc gia cũng như trong mối quan hệ qua lại giữa các tổ chức liên quan tới việchình thành, phát triển của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước"1

Quan niệm trên cho thấy, chính trị học chủ yếu nghiên cứu quyền lực giữa cáctập đoàn giai cấp xã hội, nghĩa là quyền lực giữa con người với con người hoặc giữacác nhóm xã hội với nhau dựa trên mối quan hệ của họ với những tư liệu sản xuấtchủ yếu Nghĩa là ai nắm giữ tư liệu sản xuất chính yếu trong xã hội, người ấy nắmquyền lực xã hội Quyền lực này chỉ tồn tại trong những xã hội có giai cấp mà sự thểhiện của nó phải được thực hiện thông qua thiết chế nhà nước

V.I Lênin khi bàn về vấn đề này, khẳng định: "chính trị, thực chất là quyềnlực của một giai cấp được thực hiện thông qua nhà nước" Ở đây nhà nước với tất cả

1 Viện Khoa học chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, tập b i gi ài gi ảng chính trị học, Nxb chính trị quốc gia, H ài gi

Trang 6

hệ thống đồ sộ của nó như hệ thống luật pháp, hệ thống thực thi luật pháp, hệ thốngbảo vệ luật pháp, hệ thống tuyên truyền luật pháp đều chỉ là công cụ của một giaicấp nhằm thực hiện ý chí của một giai cấp, bảo vệ quyền lợi của chính giai cấp ấy.

Chính trị với nghĩa này chỉ là một phạm trù lịch sử Nghĩa là chính trị học chỉnghiên cứu quyền lực trong những xã hội có phân chia giai cấp mà thôi Khi giai cấpkhông còn, nhà nước mất đi, quyền lực giữa các nhóm xã hội phân chia thành giaicấp cũng không tồn tại nữa chính trị học với việc nghiên cứu quyền lực theo nghĩanày, rõ ràng cũng không cần thiết nữa

Xã hội học, tuy cũng nghiên cứu về quyền lực xã hội song nó nghiên cứuquyền lực ở phạm vi rộng lớn hơn Quyền lực mà xã hội học nghiên cứu không chỉ

là quyền lực giữa các tập đoàn giai cấp xã hội mà là quyền lực hiệu hữu trong mọinhóm, mọi tập đoàn, mọi tầng lớp xã hội Nghĩa là ở đâu tồn tại sự thống trị, sự ápđặt ý chí của người này với những người khác và ngược lại là sự phục tùng củanhững người này với một hoặc một số những người khác thì ở đấy hiện diện mốiquan hệ về quyền lực mà xã hội học nghiên cứu

Điều này cho thấy, xã hội học nghiên cứu không chỉ bó hẹp trong thiết chếnhà nước mà trong nhiều thiết chế và tổ chức xã hội, chính trị khác Ví dụ, trongthiết chế gia đình, dòng tộc, nhóm ngang hàng, nhóm sở thích, nhóm xã hội nghềnghiệp Tuy không hề tồn tại mối quan hệ quyền lực dựa trên cơ sở giai cấp songdưới góc độ tổ chức, những nhóm hoặc thiết chế xã hội này đã hình thành mối quan

hệ giữa người nắm quyền lực ở trên với những người không có quyền lực ở dưới.Trong đó, con người được phân chia hết sức rõ ràng (theo những quy chuẩn xã hội)thành những lớp, những tầng xã hội xác định mà ở đó, người trên có quyền áp đặt ýchí với người dưới còn người bên dưới phải phục tùng, thực hiện ý chí của ngườitrên

Trong gia đình, kể cả những gia đình hiện đại, quan hệ giữa các thành viênkhá dân chủ, bình đẳng, song do những quy chuẩn xã hội, người chủ gia đình vẫn cóquyền áp đặt ý chí của mình lên những người khác, buộc những người khác thựchiện ý chí của mình Xây dựng và thực hiện một kế hoạch lao động, xác định nghềnghiệp, chọn hướng học hành của cháu con; quyết định sinh con, kế hoạch hoá giađình, làm nhà hoặc mua sắm đồ dùng có giá trị cao Người chủ gia đình thường là

Trang 7

người quyết định Các thành viên phải chấp hành Ở đây, quyền lực phân chia khôngphải theo địa vị giai cấp xã hội mà theo vị thế mà người ta được sắp xếp vào tronggia đình dựa trên cơ sở của tuổi tác, thứ bậc huyết thống, quan hệ về hôn nhân

Cũng như vậy, với dòng họ, quyền lực của người trưởng họ cũng không dođịa vị giai cấp của người đó quy định mà chủ yếu do những quy chuẩn xã hội có tínhthứ bậc mà tôn ti, trật tự từ trong quá trình xác lập một dòng họ nào đó đã tạo ra.Chính vì vậy, nhiều khi, trong dòng họ, người trưởng họ tuy không thuộc giai cấpcầm quyền, song khi ra một quyết định nào đó cho dòng họ của mình, thì mọi thànhviên thuộc dòng họ phải thực hiện cho dù thành viên trong dòng họ có được xếp ở vịtrí cao đến đâu trong thang bậc quyền lực nhà nước Đấy là những lĩnh vực mà xãhội học tiếp cận nghiên cứu

Ngoài ra, xã hội học còn nghiên cứu mối tương tác giữa hệ thống quyền lựcnhà nước với những hệ thống quyền lực xã hội khác tồn tại ngoài quyền lực nhànước Chính điều này khiến cho quyền lực được xã hội học nghiên cứu rộng hơn,bao trùm hơn, toàn diện hơn quyền lực mà chính trị học nghiên cứu Theo cách tiếpcận này, xã hội học khi nghiên cứu quyền lực xã hội trong xã hội nông thôn ViệtNam hiện nay không chỉ nghiên cứu về hệ thống chính trị hiện tại với các thành tố làĐảng, Chính quyền nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội mà còn nghiên cứu cácloại hình quyền lực khác đang tồn tại trong những thiết chế xã hội như gia đình,dòng tộc, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tôn giáo Từ hướng tiếp cận này xã hội họcxác định mẫu hình hành vi chính trị của các cá nhân trong những điều kiện và hoàncảnh xác định Đây là điểm khác biệt giữa xã hội học và chính trị học

Xã hội học chính trị có mối liên hệ như thế nào với chính trị học và xã hội học? Xã hội học chính trị nằm ở đâu, thuộc về cái gì? Thuộc về xã hội học hay chính

trị học? ở một cách nhìn khác, lại không thể không thấy, chính trị là đối tượngnghiên cứu của nhiều khoa học Vậy giữa chính trị học và xã hội học, đâu là những

điểm khác biệt trong tiếp cận - nghiên cứu và trình bày về chính trị? Nhận biết

những mối liên hệ này sẽ có thể tìm thấy quan niệm và những đặc điểm của xã hộihọc chính trị

Có thể có những nhận xét sau đây:

Trang 8

Thứ nhất, xã hội học chính trị là một phân hệ, một chuyên ngành của xã hội

học Nó có thể được nhìn nhận như một xã hội học chuyên biệt nằm trong cơ cấutổng thể của xã hội học, là phái sinh của xã hội học đại cương

Hình dung cụ thể hơn, xã hội học chính trị là khoa học nghiên cứu mặt xã hộicủa chính trị, của đời sống chính trị dựa trên các quan điểm, nguyên lý và phươngpháp xã hội học Nếu xã hội học đại cương vạch ra lý luận và phương pháp nghiêncứu về tổ chức và cơ cấu xã hội, các quan hệ xã hội giữa người và người trong hoạtđộng - hành vi, giao tiếp - ứng xử, các động thái và xu hướng biến đổi của xã hội,của các tập hợp xã hội (nhóm lớn và nhóm nhỏ), của các cộng đồng, tính cơ động xãhội, các chuẩn mực đánh giá xã hội, các diễn biến về dư luận và phản ứng xã hộiđối với các sự kiện xã hội và hành vi con người (người cầm quyền và dân thường)thì các xã hội học chuyên biệt (xã hội học lao động, xã hội học gia đình, xã hội họcnông thôn, xã hội học đô thị…) dựa trên lý luận và phương pháp xã hội học đi sâunghiên cứu các vấn đề hay khía cạnh xã hội của từng lĩnh vực hoạt động, từng đốitượng - chủ thể trong các lĩnh vực hoạt động đó, từ đó đưa ra những đề xuất, khuyếnnghị hay những dự báo về quản lý, về chính sách, về tổ chức hoạt động và đời sốngcủa con người và xã hội

Xã hội học chính trị là một kiểu, một dạng cụ thể - đặc thù trong cái chung,phổ biến của xã hội học Đó là xã hội học chuyên biệt về chính trị

Có những chuyên biệt xã hội học tương ứng với từng lĩnh vực hoạt động củađời sống mà cũng có những chuyên biệt xã hội học nghiên cứu về cơ cấu, hình tháihoạt động lao động đặc thù: xã hội học văn hoá, xã hội học khoa học, xã hội họcnghệ thuật, xã hội học tôn giáo, xã hội học chính trị vừa nghiên cứu lĩnh vực hoạtđộng chính trị vừa nghiên cứu các quan hệ xã hội trong tổ chức - thiết chế - thể chếchính trị, con người và nhân cách chính trị

Ngành xã hội học ở nước qua nhiều thập kỷ hoạt động đã bắt đầu định hình và

phát triển, tuy vẫn muộn và chậm.

Dường như chưa có sự quan tâm đầy đủ, thường xuyên hoặc chưa đẩy mạnhnghiên cứu cả lý thuyết cơ bản lẫn ứng dụng - thực hành và dự báo những xã hội họcchuyên biệt như xã hội học giáo dục, xã hội học khoa học, xã hội học văn hoá, xã

hội học chính trị Như đã nói, chậm nhất ở nước ta là xã hội học chính trị.

Trang 9

Thứ hai, xã hội học chính trị không chỉ là một nhánh của xã hội học mà còn

liên hệ mật thiết, tất yếu với chính trị học Sẽ không thể hình thành xã hội học chínhtrị như một khoa học nếu thiếu chính trị học

Chính trị học là một khoa học lý thuyết, phổ quát về chính trị, quá trình chínhtrị và hoạt động chính trị Chính trị học được ví như triết học xã hội học của chínhtrị, nó đem lại những phân tích và khái quát lý luận về bản chất, cấu trúc, đặc trưng,

xu hướng vận động và phát triển của chính trị theo các lớp quan hệ chủ yếu sau đây:

- Quan hệ lợi ích và quyền lực chính trị

- Quan hệ thiết chế và thể chế chính trị

- Quan hệ hoạt động và vận động chính trị

- Quan hệ thời gian và không gian chính trị (tạo thành quá trình chính trị)Các lớp quan hệ nêu trên thể hiện trong đời sống chính trị đều liên hệ mậtthiết và xác định với các chủ thể và đối tượng chính trị, sự kiện và tình huống chínhtrị, mục đích và phương tiện, động cơ và hành vi chính trị với những hình thái lịch

sử - cụ thể Những nội dung và những tri thức của chính trị học đó là cơ sở lý luận –

tư tưởng của xã hội học chính trị Nó được xem như cái cốt vật chất của xã hội họcchính trị Dựa trên “nguồn lực” này, xã hội học chính trị bằng phương pháp, thủpháp xã hội học, tạo dựng và thiết kế nên nội dung nghiên cứu, tìm ra cái lô gíchnghiên cứu thuộc về đối tượng nghiên cứu của mình

Mặt xã hội, phương diện xã hội, các yếu tố, khía cạnh, vấn đề xã hội của đờisống chính trị, của hoạt động chính trị, của con người và tổ chức chính trị chính làmiền hoạt động của xã hội học chính trị

Vậy là, xã hội học chính trị ra đời như là một tái cấu trúc từ xã hội học vàchính trị học tạo thành một cấu trúc riêng của mình Xã hội học chính trị là một tổnghợp liên ngành những tri thức lý luận và phương pháp của chính trị học và xã hộihọc Nó là một tổng hợp, tích hợp chứ không phải là một tổng số số học, một phépcộng giản đơn, cơ giới giữa xã hội học với chính trị học

Xã hội học chính trị sử dụng, vận dụng các quan điểm, nguyên tắc, phương

pháp xã hội học để đi sâu nghiên cứu, làm sáng tỏ bản chất xã hội của chính trị, đời

sống chính trị, hoạt động chính trị của con người và của các tổ chức, lực lượng chínhtrị trong một cơ cấu xã hội chỉnh thể

Trang 10

Quan hệ giữa xã hội học chính trị với chính trị học là một quan hệ tác độngtương hỗ biện chứng, nhân quả xét về mặt nội dung lý luận Chính trị học cung cấpcho xã hội học chính trị những kiến giải về bản chất của chính trị và quyền lực chínhtrị, những tính quy luật của sự xuất hiện, phát triển, biến đổi của quyền lực chính trị,

từ đó xã hội học chính trị xem xét những tác nhân xã hội, sự biểu hiện về mặt xã hộicủa chính trị và quyền lực chính trị đó, làm sâu sắc hơn những đảm bảo xã hội củaviệc thực thi, giữ vững quyền lực của chủ thể quyền lực Nhờ có xã hội học chính trị

mà chính trị học có thêm những cơ sở sinh động về mặt xã hội để làm sâu sắc hơn lýluận của mình

Quan hệ này không phải là quan hệ phái sinh của xã hội học đối với xã hộihọc chính trị

Cả chính trị học và xã hội học chính trị đều nằm trong tập hợp của các khoa

học chính trị Từ những khoa học độc lập mà hợp thành hệ thống.

Quan niệm này có cơ sở của nó, bắt đầu từ một tiền đề: phải phân biệt và phânđịnh chính trị - chính trị học và khoa học chính trị, chúng thống nhất mà không đồngnhất

Hệ luận rút ra ở đây là gì? là với các vấn đề của chính trị, việc nghiên cứu nóvới tư cách là nghiên cứu khoa học sẽ không dừng lại ở nghiên cứu chuyên biệt,chuyên ngành mà tất yếu phải mở rộng theo hướng liên ngành, theo quan điểm phứchợp, hệ thống, nhiều chiều

Xã hội học chính trị với tư cách là một khoa học mang tính liên ngành (xã hộihọc, chính trị học), nó vừa thực hiện những nghiên cứu cơ bản vừa hướng tới mụcđích thực tiễn là nghiên cứu ứng dụng Nó nghiên cứu cơ sở xã hội, tính liên kết xãhội, năng lực xã hội của hoạt động chính trị của con người, cá nhân, tổ chức và cộngđồng

Những nghiên cứu về đoàn kết dân tộc, đồng thuận xã hội, giải quyết mâuthuẫn, xung đột xã hội, phát triển dân chủ xã hội, phát huy nguồn lực xã hội củachính trị đó là những vấn đề mà xã hội học chính trị có lợi thế và ưu thế để giảiquyết

2 Những vấn đề nghiên cứu của xã hội học chính trị

Trang 11

Với tư cách là một khoa học, xã hội học chính trị cũng mọi các khoa học khácđều có nội dung nghiên cứu của mình trên hai phương diện: lịch sử và lý luận.

Xã hội học chính trị có cơ sở phương pháp luận chung, đó là chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học và trong chủ nghĩa Mác-Lênin Nó cũng đồng thời dựa trên cơ sở phương pháp luận ngành và chuyên ngành,chung đúc từ xã hội học và chính trị học

Đối tượng nghiên cứu của xã hội học chính trị là điểm giao nhau, là chỗ giao

thoa giữa xã hội học và chính trị học.

Xã hội học chính trị phải khai thác triệt để từ xã hội học những tư tưởng về xãhội và cơ cấu xã hội, hoạt động, hành vi của chủ thể con người xã hội, từ cá nhân tớicộng đồng

Xã hội học chính trị đồng thời tựa vào chính trị học trên những vấn đề vềquyền lực, cầm quyền và thực thi quyền lực của chủ thể được uỷ quyền cũng nhưthái độ và hành vi xã hội của số đông dân chúng khi uỷ quyền, giao quyền chonhững người cầm quyền và tổ chức thực thi quyền lực của chính mình

Theo đó, nói tới nghiên cứu lý luận của xã hội học chính trị không thể khôngnói tới việc nghiên cứu tập hợp chính trị, hành vi chính trị, sự kiện và quá trìnhchính trị, tác động của các nhân tố xã hội tới tổ chức và hoạt động của chính trị, của

hệ thống chính trị trong xã hội, trong đời sống chính trị của xã hội

Diện mạo xã hội học chính trị như vậy sẽ được hình dung như thế nào? Nóimột cách khác, xã hội học chính trị nghiên cứu cái gì và nghiên cứu như thế nào từnhững mối quan hệ nêu trên giữa xã hội học chính trị với xã hội học và chính trị học

Các vấn đề mà xã hội học chính trị nghiên cứu đều xoay quanh hoạt độngchính trị của những cá nhân, nhóm, lực lượng xã hội với những thúc đẩy từ động cơ

và lợi ích khác nhau, do đó cũng khác nhau về thái độ và hành vi, những phản ứng

và hiệu quả xã hội khác nhau đối với chính trị

Trong những vấn đề ấy nổi lên mối quan hệ giữa chính trị và xã hội

Giải quyết mối quan hệ này là chỗ đến của các vấn đề nghiên cứu đặt ra từchỗ đứng của xã hội học chính trị Dù rất quan trọng nhưng chính trị không phải làtất cả xã hội, nó chỉ là một lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội

Trang 12

Dù chính trị, từ chủ thể quyền lực đến hệ thống tổ chức bộ máy và thể chế của

nó có thể tác động tới các lĩnh vực của đời sống nhưng chính trị không phải là duynhất

Các nhà lãnh đạo nói chung, dù là tinh hoa, ưu tú, đặc sắc được xã hội lựachọn ra nhưng bộ phận này của nguồn nhân lực cũng chỉ có thể tác động, dẫn dắt tổchức hành động chứ không thể làm thay dân chúng trong cộng đồng xã hội Nhànước dù là một nhà nước mạnh, thực quyền cũng không trùm lên xã hội, không ởbên ngoài xã hội mà ở trong, là một bộ phận của xã hội Thể chế luật pháp có thểhoàn thiện và giả định rằng, nó đạt tới sự tối ưu đi nữa thì chỉ riêng luật pháp cũngkhông đủ để giải quyết mọi vấn đề, mọi quan hệ xã hội trong xã hội Cùng với luậtpháp, xã hội cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ của đạo đức, của dư luận xã hội Pháp luậtchỉ trừng trị được hành vi phạm tội chứ không xét xử được cái xấu, cái ác trong đờisống Phải dùng đạo đức để phòng chống và sự lên án của dư luận xã hội đối với cáixấu, cái ác để tăng cường cái thiện, cái nhân tính

Chính trị không chỉ cần đến sức mạnh quyền lực, quyền uy và sự bảo vệ củapháp luật Nó còn cần được nhân văn hoá, văn hoá hoá bằng cách làm cho đạo đứcthấm vào trong chính trị, trong khi sức mạnh vật chất của chính trị, trước sau vẫn là

xã hội chứ không tự lấy mình làm cứu cánh

Xu hướng phát triển dân chủ và tăng cường hiệu lực pháp luật của nhà nướcpháp quyền đặt ra một đòi hỏi khách quan là hoạt động chính trị của con người và tổchức phải chịu sự ràng buộc, điều tiết của luật Theo ý nghĩa thể chế, một cơ chế dânchủ phải đồng thời là cơ chế lấy luật làm chuẩn mực, lẽ dĩ nhiên đó phải là luật phápdân chủ, tiến bộ Hợp pháp, hợp hiến, có cơ chế bảo hiến và có các chế tài xử lý vi

Trang 13

hiến là yêu cầu thường trực đối với hành vi chính trị Chỉ có thể xã hội hoá chính trị

chứ không thể chính trị hoá xã hội.

Đây là vấn đề rất đáng phải nghiên cứu từ góc nhìn xã hội học chính trị, nhất

là xã hội học chính trị nghiên cứu dân chủ và pháp quyền trong xã hội đương đại Xã

hội học chính trị cũng có thể và cần phải làm sáng tỏ quan niệm và quan hệ giữa xã

hội hoá chính trị với xã hội học chính trị.

Các vấn đề đã nêu trên, từ tập hợp chính trị - hành vi chính trị đến sự kiện vàquá trình chính trị đều liên quan tới xã hội hoá chính trị Tính tích cực chính trị - xãhội của mỗi công dân với tư cách con người chính trị tuỳ thuộc vào mức độ và hiệuquả giải quyết vấn đề xã hội hoá chính trị như thế nào cho phù hợp với các nguyêntắc, giá trị, chuẩn mực dân chủ, tự do, bình đẳng

Dân chủ hoá xã hội gắn liền mật thiết với xã hội hóa chính trị, nó thực sự làđiều kiện đảm bảo cho quá trình xã hội hoá chính trị một cách lành mạnh, tích cực.Chỉ như vậy, phương châm “nhà nước nhỏ hơn, xã hội lớn hơn”, nhà nước ít hơn, xãhội nhiều hơn mới được thực hiện Và, xã hội công dân, đời sống xã hội dân sự là cơ

sở xã hội của nhà nước pháp quyền, của sự phát triển dân chủ và nâng cao tính chủđộng, quyền tự quyết, tự quản của dân và cộng đồng dân cư Đó là những vấn đề mà

xã hội học chính trị phải quan tâm nghiên cứu một cách thực chất, thấu đáo

3 Đối tượng nghiên cứu cụ thể của xã hội học chính trị

Đối tượng cụ thể của xã hội học chính trị là gì? Đây là vấn đề còn không còn

ít tranh cãi

Theo Gaston Bouthoul trong cuốn: "Xã hội học chính trị" xuất bản ở Parisnăm 1967, thì xã hội học chính trị là khoa học: "Nghiên cứu các chế định và các hiệntượng chính trị có liên quan đến các hiện tượng xã hội khác, coi đó như những sángtạo của những hành vi chính trị đặc trưng có thể quan sát được ở xã hội loài ngườinhư sự phát sinh các nguồn dư luận, các hiện tượng lây lan về tinh thần, các xungđột tập thể, các tín ngưỡng tôn giáo và các dạng thức về tư tưởng"1

Theo quan điểm này, xã hội học chính trị là chuyên ngành xã hội học nghiêncứu thiết chế chính trị và các sự kiện, hiện tượng chính trị trong mối liên quan đếncác thiết chế và các hiện tượng xã hội khác Trên cơ sở này mà làm rõ những hành vi

Trang 14

chính trị đặc trưng ở con người Từ đó giải thích chính xác hơn về những sự kiện vàquá trình chính trị thực tế.

Theo từ điển tóm tắt xã hội học phương Tây hiện đại thì xã hội học chính trịđược coi là ngành xã hội học chuyên biệt nghiên cứu về các quan hệ qua lại giữachính trị với những lĩnh vực xã hội khác, giữa thiết chế chính trị với những thiết chế

xã hội khác Đây là quan niệm chỉ nhấn mạnh chiều cạnh quan hệ giữa thiết chếchính trị với các thiết chế khác như thiết chế kinh tế, thiết chế văn hoá, thiết chế tôngiáo và thiết chế gia đình Nội hàm cụ thể hơn của xã hội học chính trị, vì vậy,chưa được làm rõ, nhất là những vấn đề liên quan đến các mô hình hành vi chính trịcủa người ta - cái mà xã hội học thường coi là vấn đề cơ bản, cần tập trung nghiêncứu

Ngoài ra, tập thể tác giả do Tony Bilton đứng đầu, trong cuốn nhập môn xãhội học do nhà xuất bản Macmillan ấn hành năm 1981 đã đưa và định nghĩa về xãhội chính trị như sau: Xã hội học chính trị là "sự nghiên cứu hành vi chính trị bêntrong một bối cảnh xã hội, mối quan hệ của chính trị với toàn bộ cấu trúc xã hội mà

nó bị gắn vào trong đó Hành vi chính trị chủ yếu là hành vi quyền lực, nó không

hề bị bó hẹp trong các thiết chế hoặc hình thức chính phủ đặc biệt mà hiện diệntrong bất cứ tình huống xã hội nào"1

Theo định nghĩa này, xã hội học chính trị là chuyên ngành xã hội học nghiêncứu về hành vi chính trị của con người Hành vi này được quy định bởi kết cấu xãhội và kết cấu quyền lực xã hội cũng như tương tác của con người trong hệ thống kếtcấu xã hội này Đây là định nghĩa có nhiều hạt nhân hợp lý hơn cả vì nó đã đề cậpđến vấn đề chính yếu nhất của xã hội học chính trị - hành vi chính trị

Tiếp thu tư tưởng của những tác giả đã nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa sau

đây về xã hội học chính trị: Xã hội học chính trị là một chuyên ngành của xã hội học

nhằm nghiên cứu hành vi chính trị của người nắm quyền lực và người không nắm quyền lực trong mối quan hệ tương tác của các nhóm và giai tầng xã hội mà trong

đó hành vi chính trị của người ta được xác lập trên cơ sở người ta hội nhập thế nào vào cấu trúc quyền lực dưới sự tác động tương hỗ của các thiết chế nhà nước với các thiết chế xã hội khác như: văn hoá, giáo dục, tôn giáo, gia đình

Trang 15

Định nghĩa này cho thấy không chỉ đối tượng chính yếu của xã hội học chínhtrị là hành vi chính trị có tính khuôn mẫu của con người mà còn cho thấy những đốitượng cụ thể mà xã hội học chính trị cần đi sâu nghiên cứu Ở đây, hành vi chính trị

có tính khuôn mẫu của người ta chính là cách thức tư duy và hành động của họ trongcuộc đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực xã hội Hành vi chính trị khuôn mẫunày thường được hình thành từ việc người ta đang hội nhập vào nhóm xã hội này,hay nhóm xã hội khác, nhóm nắm quyền lực và nhóm không nắm quyền lực xã hội?

Với nhóm nắm quyền lực xã hội, thường người ta có hai loại hình hành vi làdân chủ hoặc độc tài Với nhóm không nắm quyền lực xã hội, thường có hai loạihành vi là phục tùng hoặc chống đối Như vậy, nghiên cứu về quyền lực dưới gócnhìn xã hội học là nghiên cứu bốn loại hành vi chính trị có tính khuôn mẫu của conngười: dân chủ và độc tài, phục tùng và chống đối

Tuy nhiên, để làm rõ bốn loại hành vi có tính khuôn mẫu này, xã hội họcchính trị phải đi sâu nghiên cứu về hệ thống xã hội và hệ thống quyền lực xã hộicũng như mối tương quan giữa chúng Đây là cách tiếp cận điển hình mà xã hội họcthường sử dụng Theo hướng này, xã hội học chính trị nghiên cứu những vấn đề cụthể sau đây:

Thứ nhất: Các tập hợp chính trị Đây chính là những nhóm xã hội mà sự liên

kết của các thành viên trong nhóm chủ yếu dựa trên một hệ thống quyền lực xácđịnh Thông thường quyền lực xã hội được thực thi dưới ba dạng: bạo lực, quyền lựckinh tế và sự áp chế về tinh thần Các tập hợp chính trị, vì vậy, cũng có thể đượcphân loại dựa vào phương thức thực thi quyền lực này Ví dụ một đơn vị quân độicần tổ chức hệ thống quyền lực dựa trên những mệnh lệnh hành chính và sức mạnh.Còn một tập thể lao động (đội sản xuất) lại dựa vào áp lực kinh tế như điều tiết hành

vi chính trị của người ta thông qua tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi xã hội Riêngvới tổ chức Đảng chính trị thì quyền lực được duy trì thông qua sự giác ngộ lý tưởng

và thông qua những nguyên tắc tổ chức mà mọi thành viên đã cam kết thực hiện.Điều này cho thấy, nghiên cứu các tập hợp chính trị, xem xét kiểu kết cấu và phânchia quyền lực trong chúng là bộ phận quan trọng đầu tiên của xã hội học chính trị

Thứ hai: Hệ thống chính trị Xã hội học nghiên cứu về hệ thống xã hội, do

vậy, xã hội học chính trị phải nghiên cứu về hệ thống chính trị Ở đây, hệ thống

Trang 16

chính trị phải được xem xét dưới hai góc độ: một là, các yếu tố cấu thành cơ bản và

hai là, các kiểu quan hệ và liên hệ giữa các thành tố trong hệ thống chính trị Đây là

những yếu tố quan trọng của xã hội học chính trị Bởi lẽ, nghiên cứu hệ thống chínhtrị suy cho cùng là làm rõ đặc trưng của hệ thống ấy và chỉ rõ được những loại hành

vi chính trị mà hệ thống ấy tạo ra Đây là những cơ sở quan trọng để phán xét hành

vi hợp chuẩn hay không hợp chuẩn của các vị trí xã hội khác trong hệ thống quyềnlực xã hội mà xã hội học chính trị phải hướng tới làm rõ

Trong xã hội hiện nay, hệ thống chính trị mà xã hội học chính trị nghiên cứukhông chỉ gồm các thành tố như đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị xãhội mà còn gồm cả những tổ chức kinh tế - xã hội mà trong đó có hiện diện mốiquan hệ và quyền lực như các công ty, tập đoàn kinh tế, những tổ chức xã hội nghềnghiệp, các tổ chức tôn giáo, dòng tộc Cao hơn nữa, để xem xét những loại môhình hành vi chính trị tiêu biểu cho một nhóm, một cộng đồng xã hội, xã hội họcchính trị còn nghiên cứu sự tương tác các quan điểm tư tưởng chính trị, các hệ thốnggiá trị và chuẩn mực xã hội mà trên đó hình thành những cách thức hành động trongcuộc đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực xã hội Nghĩa là xã hội học chính trịphải nghiên cứu mối tương quan giữa cơ cấu xã hội với hệ thống quyền lực xã hội đểlàm rõ quy luật và tính quy luật chi phối hệ thống quyền lực xã hội cũng như nhữngsai lệch mà nó đang có Đây cũng là yếu tố quan trọng để xét đoán về những hành vichính trị của cả người nắm quyền lực và người không nắm quyền lực trong xã hội

Thứ ba: Mẫu hình hành vi chính trị của con người cũng là vấn đề mà xã hội

học chính trị nghiên cứu Ở đây, ngoài việc làm rõ những khuôn mẫu hình vi dânchủ hoặc độc tài ở những người nắm quyền lực và hành vi phục tùng hoặc chống đối

ở những người không nắm quyền lực, xã hội chính trị còn đi sâu nghiên cứu nhữngđiều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá, tâm lý, gia đình tác động tạo nên mẫu hành vichính trị ở mỗi người, mỗi nhóm người, mỗi cộng đồng người Ví dụ: Khi nghiêncứu về hành vi chính trị của người phương Đông và những người phương Tây, cácnhà xã hội học chính trị thường quy về hai mẫu bình hành với cơ bản: Pháp trị vớiphương Tây và Đức trị với phương Đông Ở đây, yếu tố duy lý trong tư duy củangười phương Tây cộng với yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường từ sớm khiếnpháp trị là yêu cầu tất yếu ở phương Tây Còn phương Đông sự phát triển của lịch sử

Trang 17

khá chậm chạp, cộng với yếu tố cộng đồng cao với sự tác động của yếu tố dòng tộc,gia đình khiến cho mẫu hình "đức trị" chiếm ưu thế Ngoài ra, những yếu tố kháctrong văn hoá gia đình, ảnh hưởng của nhóm ngang hàng, của ý thức hệ dân tộc, tôngiáo khác nhau cũng tạo nên những sắc thái khác nhau trong hành vi chính trị ởnhững con người mà xã hội học chính trị rất cần tiếp cận nghiên cứu.

Thứ tư: Sự kiện và quá trình chính trị cũng là đối tượng quan trọng của xã hội

học chính trị Đây là yếu tố tạo nên những biến đổi chính trị quan trọng trong xã hội.Nghiên cứu về vấn đề này, ngoài việc phân chia các sự kiện theo những đối tượngkhác nhau, quy mô khác nhau, mức độ và ảnh hưởng khác nhau, xã hội học chính trịcòn phải nghiên cứu làm rõ những yếu tố kinh tế, xã hội, tác động làm sự kiện nảysinh, phát triển Ngoài ra, nghiên cứu về các sự kiện và quá trình chính trị, xã hộihọc chính trị còn phải nghiên cứu xu hướng phát triển của nó để có những dự báocần thiết về khả năng diễn biến và ảnh hưởng của các sự kiện với quá trình chính trị

xã hội Chính trên cơ sở này mà có những khuyến nghị và giải pháp chính xác để đốiphó kịp thời khi các sự kiện diễn ra, làm giảm tối đa những hiệu quả mà các sự kiệnchính trị có thể mang lại

Ngoài ra, khi nghiên cứu về hành vi chính trị có tính khuôn mẫu của conngười, xã hội học chính trị còn đi sâu vào phân tích, so sánh mối quan hệ tương hỗgiữa thiết chế chính trị với những thiết chế xã hội khác Đây là những cơ sở kháchquan, khoa học để xét đoán hành vi chính trị ở người này hay người khác trong cáctập hợp chính trị hay trong một cộng đồng xã hội xác định

Ở đây tương tác giữa thiết chế nhà nước trong những xã hội có phân chia giaicấp và thiết chế văn hoá, giáo dục, tôn giáo, gia đình, có vai trò quan trọng tạodựng những mô hình hành vi của con người trong cuộc đấu tranh giành, giữ và thựcthi quyền lực xã hội: dân chủ hay độc tài, phục tùng hay chống đối Đó là những yếu

tố quan trọng nhất hợp thành đối tượng cụ thể mà xã hội học chính trị nghiên cứu:

4 Chức năng, nhiệm vụ của xã hội học chính trị

a) Chức năng của xã hội học chính trị

Cũng như các ngành khoa học xã hội khác, xã hội học chính trị có những chứcnăng của nó Có thể kể tới một số chức năng sau:

Trang 18

+ Chức năng nhận thức: Đây là chức năng quan trọng đầu tiên của tất cả các

khoa học nghiên cứu về chính trị Với xã hội học chính trị, chức năng này liên quanđến việc xã hội học thông qua điều tra, khảo sát mà cung cấp những thông tin thực tế

và hệ thống quyền lực xã hội, mối quan hệ của những thành tố trong hệ thống quyềnlực này Trên cơ sở đó mà xác định chính xác các mô hình hành vi chính trị mà mỗichủ thể xã hội hay cộng đồng phải có trong cuộc đấu tranh giành, giữ và thực thiquyền lực Những thông tin mà điều tra xã hội học cung cấp thường là những thôngtin đầy đủ, có tính đại diện, phản ánh các mặt khác nhau của đời sống chính trị xãhội Thông tin có được từ khảo sát điều tra cũng là những thông tin kịp thời, chínhxác, được phản ánh từ quảng đại quần chúng Chính vì vậy xã hội học chính trị giúpnhìn nhận rõ ràng hơn, chính xác hơn cả bản chất, kết cấu và những biểu hiện củaquyền lực xã hội, góp phần làm rõ những quy luật và tính quy luật chi phối hành vichính trị của mỗi chủ thể cũng như của cả cộng đồng xã hội

Xã hội học, với hệ thống những lý thuyết của mình như lý thuyết hành vi, lýthuyết hành động, lý thuyết hệ thống, lý thuyết cơ cấu chức năng, lý thuyết xungđột đã cung cấp những tri thức và cách thức tiếp cận để phân tích và làm rõ các sựkiện và quá trình chính trị diễn ra trong xã hội Đây là cơ sở quan trọng để đi sâuphân tích bản chất của quyền lực xã hội, giúp người ta nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủhơn về những mẫu hình hành vi chính trị mà người ta thường thực hiện trong quátrình đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực xã hội

+ Chức năng thực tiễn: Chức năng này liên quan đến vai trò của xã hội học

chính trị trong việc quản lý các quá trình xã hội - chính trị hiệu quả hơn Ở đây, quaviệc điều tra, khảo sát, xã hội học chính trị sẽ cung cấp cho các nhà quản lý, lãnh đạonhững thông tin nhanh chóng, kịp thời, chính xác để có những tri thức đúng đắn, đầy

đủ về thực trạng hệ thống chính trị, tâm tư nguyện vọng của các chủ thể xã hội vànhững khuôn mẫu hành vi chính trị mà mỗi chủ thể thường có Đây là cơ sở quantrọng để các nhà lãnh đạo quản lý đưa ra những biện pháp quản lý phù hợp

Cũng nhờ những thông tin thu được từ khảo sát điều tra, nhất là những điềutra có tính cắt dọc, xã hội học chính trị giúp cho việc dự báo chính xác các sự kiện

và quá trình chính trị với cả quy mô, mức độ, xu hướng biến đổi của chúng Đây

Trang 19

cũng là cơ sở quan trọng để các nhà lãnh đạo quản lý có thể chủ động, tích cựcchuẩn bị các phương án giải quyết kịp thời.

+ Chức năng giáo dục tư tưởng: Ở đây, xã hội học chính trị cùng các khoa

học chính trị khác cung cấp không chỉ thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác về các sựkiện, hiện tượng, quá trình chính trị - xã hội mà nó còn giúp các chủ thể chính trịnhất là các nhà lãnh đạo, quản lý có cách tiếp cận và phân tích một cách khoa họccác vấn đề chính trị - xã hội đã, đang và sẽ có thể diễn ra Đây là cơ sở quan trọnggiúp mỗi người, mỗi nhóm người, mỗi chủ thể có nhận thức, thái độ và cả hành viđúng đắn hơn với những vấn đề xã hội - chính trị đang đặt ra

Ngoài ra, trong quá trình điều tra, khảo sát, xã hội học chính trị khi công bốkết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các chủ thể xã hội hiểu rõ hơn những vấn đề chính trị

- xã hội đang đặt ra và thái độ của các chủ thể xã hội khác Tỷ lệ đồng tình hay phảnđối của mỗi nhóm xã hội hay của cộng đồng xã hội được nghiên cứu sẽ là yếu tố tácđộng không nhỏ đến tư tưởng, thái độ của các nhóm người trong xã hội Nó giúp choviệc giải quyết về tư tưởng các vấn đề nhất là vấn đề mà các chủ thể còn phân vân,chưa biết giải quyết theo hướng nào Rõ ràng, xã hội học chính trị có chức năngquan trọng trong giáo dục chính trị tư tưởng cho cộng đồng xã hội

b Nhiệm vụ của xã hội học chính trị

Từ những chức năng đã được xác định trên, có thể cụ thể hơn thành nhữngnhiệm vụ mà xã hội học chính trị phải thực hiện như sau:

Thứ nhất, cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác nhiều chiều, cạnh, có tính

đại diện cao góp phần làm rõ bản chất các hiện tượng quá trình chính trị và hành vichính trị của các chủ thể Đây là nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của xã hội học chínhtrị Nó bắt nguồn từ cách tiếp cận đặc thù của xã hội học chính trị, đó là điều tra,khảo sát bằng cả định tính lẫn định lượng các sự kiện, quá trình chính trị

Thứ hai, xã hội học chính trị góp phần làm rõ quy mô, mức độ, biểu hiện của

những sự kiện và quá trình chính trị Ở đây, nhờ có các cuộc khảo sát, điều tra, xãhội học chính trị sẽ cung cấp cho xã hội những số liệu thống kê cụ thể và những vấn

đề chính trị cần nghiên cứu thông qua ý kiến đánh giá của từng nhóm xã hội, từngtầng lớp dân cư Nhờ vậy, các nhà lãnh đạo quản lý và cả cộng đồng sẽ thấy rõ thực

Trang 20

trạng những vấn đề xã hội chính trị cần nghiên cứu qua những lăng kính đánh giácủa mỗi chủ thể.

Thứ ba, xã hội học chính trị cùng các khoa học chính trị khác vạch rõ những

quy luật và tính quy luật chi phối các quá trình xã hội - chính trị và chi phối hành vi

xã hội của con người Đây tuy không phải là nhiệm vụ trực tiếp của xã hội học chínhtrị song là vấn đề mà xã hội học chính trị có những đóng góp quan trọng Ở đây, nhờnhững lý thuyết xã hội học mà xã hội học chính trị dựa vào, xã hội học chính trị sẽcung cấp cách thức phân tích, tiếp cận để làm rõ bản chất những vấn đề chính trị,đồng thời giải thích rõ ràng nguồn gốc những loại khuôn mẫu hành vi chính trị màcon người đã, đang hoặc sẽ thực hiện Đây là nhiệm vụ thứ ba của xã hội học chínhtrị

Thứ tư, xã hội học chính trị tham gia dự báo và thực hiện các dự báo về các sự

kiện và quá trình chính trị cũng như khả năng biến đổi về hành vi chính trị của chủthể này hay chủ thể khác Đây cũng là một trong những nhiệm vụ mà xã hội họcchính trị phải thực hiện Ở đây, nhờ những lý thuyết mà xã hội học dựa vào, nhờnhững thông tin thu được có tính hệ thống trong quá trình điều tra khảo sát, xã hộihọc chính trị tham gia vào quá trình phân tích và dự báo Thông thường những dựbáo mà các nhà xã hội học đưa ra là có độ chuẩn xác cao

Thứ năm, cũng như những khoa học khác, xã hội học chính trị dựa trên những

thông tin thu được và dựa vào những lý thuyết xã hội học đã được xây dựng sẵn đểđưa ra các giải pháp và khuyến nghị nhằm cải tạo thực tiễn, đáp ứng những nhu cầuquản lý các quá trình xã hội - chính trị một cách hợp quy luật Giải pháp và khuyếnnghị mà các nhà xã hội học chính trị đưa ra thường rất sát hợp với tình hình thực tếnhất là phù hợp với những ý kiến đã được đòi hỏi ở từng chủ thể Đây có thể coi lànhiệm vụ thứ năm của xã hội học chính trị

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC CHÍNH TRỊ

1 Chủ nghĩa Mác-Lênin, nền tảng lý luận của bộ môn xã hội học chính trị

Là một bộ môn khoa học, xã hội học chính trị cũng như các khoa học khácđều có nội dung nghiên cứu của mình trên hai phương diện: Lịch sử và lý luận

Xã hội học chính trị có cơ sở phương pháp luận chung, đó là chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học và trong chủ nghĩa Mác -

Trang 21

Lênin Nó cũng đồng thời dựa trên cơ sở phương pháp luận ngành và chuyên ngành,chung đúc từ xã hội học và chính trị học.

Nếu xã hội học chính trị được coi là ngành xã hội học chuyên biệt nghiên cứu

về hệ thống chính trị và hành vi chính trị, có tính khuôn mẫu của con người thì xãhội học chính trị phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng lý luận của mình

Trước hết phải khẳng định rằng, tuy các nhà kinh điển của chủ nghĩa Lênin chưa bao giờ coi mình là các nhà xã hội học, song trong nhiều tác phẩm củamình, các ông luôn đề cập và lý giải khá rõ ràng đến cả hai vấn đề cơ bản của xã hộihọc: đó là vấn đề cơ cấu xã hội, hệ thống xã hội và vấn đề biến đổi xã hội với nhữngkiểu mẫu hành vi xã hội của từng nhóm người, từng cộng đồng người Trên nhữngvấn đề nghiên cứu này, các ông đã đề cập đến cơ cấu quyền lực xã hội và hành vichính trị của các nhóm, các tầng lớp xã hội hiện tồn trong đó

Mác-Với hệ thống quyền lực xã hội, các ông đã chứng minh rằng lịch sử xã hội loàingười là lịch sử thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội Mỗi hình thái kinh tế

- xã hội tồn tại trong sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trình

độ và tính chất của lực lượng sản xuất thế nào thì sẽ có những quan hệ sản xuất đặctrưng như thế Và điều này có nghĩa là ai nắm được những tư liệu sản xuất chínhyếu, người đó sẽ nắm được nền sản xuất xã hội và nắm luôn cả quyền lực xã hội Ởđây cơ cấu kinh tế và cơ cấu thành phần thế nào thì sẽ có cơ cấu xã hội và cơ cấuquyền lực xã hội tương ứng C Mác đã rất có lý khi khẳng định rằng: "Toàn bộnhững quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thưc

mà điều đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hìnhthái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó"1 Đây là cơ sở quantrọng để giải thích một cách khoa học theo quan điểm duy vật biện chứng về tất cảnhững hiện tượng xã hội diễn ra ở kiến trúc thượng tầng như quan điểm chính trị,pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cùng với những thiết chế xãhội tương ứng như nhà nước, đảng phái, các tổ chức chính trị-xã hội

Dựa trên những quan điểm lý thuyết này, các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác- Lênin đã chỉ rõ nguồn gốc những hành vi chính trị có tính khuôn mẫu mà mỗingười, mỗi chủ thể phải có khi hội nhập vào xã hội Hành vi này được quy định chủyếu do họ hội nhập vào những nhóm, những tầng của xã hội nào Các ông cắt nghĩa,

Trang 22

sở dĩ xã hội cộng sản nguyên thuỷ, con người sống hoà đồng trong tự do vì xã hộiđược tổ chức trên nền tảng chế độ công hữu với lực lượng sản xuất còn hết sức thấpkém Chế độ dân chủ chủ nô, chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa thì xãhội phân chia thành hai cực đối lập - thống trị và bị trị Hành vi có tính khuôn mẫucủa những giai cấp thống trị chỉ có thể là dân chủ hoặc độc tài còn hành vi chính trịcủa người bị trị chỉ có thể là phục tùng và chống đối Dân chủ hay độc tài, phục tùnghay chống đối phụ thuộc vào hoàn cảnh điều kiện về cả kinh tế, văn hoá, tư tưởng,tôn giáo và thậm chí cả nhóm xã hội gia đình mà người ta được hội nhập vào Nghĩa

là, hành vi chính trị của người ta thế nào về cơ bản, phụ thuộc chủ yếu vào nhữngnhóm và cộng đồng xã hội mà người ta hội nhập Trong đó họ giữ vị thế xã hội nào

và đóng những vai trò nào trong đó có ý nghĩa quan trọng Đây là những quan điểm

có tính nền tảng mà xã hội học chính trị tiếp thu để tiếp cận và phân tích hệ thốngchính trị, hành vi chính trị và các sự kiện quá trình chính trị trong đời sống xã hội

2 Một số lý thuyết xã hội học - cơ sở nghiên cứu của xã hội học chính trị

Ngoài lý luận Mác - Lênin, xã hội học chính trị còn được xây dựng trên cơ sởvận dụng một số lý thuyết cơ bản của xã hội học vào việc phân tích thực tiễn Những

lý thuyết đó là thuyết hành vi, thuyết hành động, thuyết hệ thống, thuyết cơ cấu chứcnăng

Thực tế chứng minh rằng, để làm rõ hành vi độc tài hay dân chủ ở nhữngngười nắm quyền lực cũng như hành vi phục tùng hay chống đối ở những ngườikhông nắm quyền lực, cần phải dựa chắc vào cả lý thuyết hành vi lẫn lý thuyết hànhđộng Ở đây, lý thuyết hành vi sẽ cho phép nhà nghiên cứu đi sâu phân tích những gìchi phối hoạt động chính trị của con người từ trong tiềm thức và đặc biệt nhấn mạnhnhững hệ thống giá trị chuẩn mực xã hội đã được người ta lĩnh hội, tiếp thu và biến

nó thành hệ chuẩn mực, giá trị của cá nhân để hành động Ngược lại lý thuyết hànhđộng lại giúp nhà nghiên cứu hiểu rõ những nhu cầu, động cơ mà mỗi cá nhân haymỗi chủ thể khi thực hiện những hành động chính trị của mình đã tuân theo Đây là

cơ sở quan trọng để chúng ta phân tích, tìm hiểu, điều tra, khám phá những yếu tốbên trong và bên ngoài thúc đẩy người ta hoạt động chính trị Nhiều khi phân tíchchỉ một sự kiện, một hiện tượng hay một hành động chính trị của người ta, chúng taphải kết hợp cả hai lý thuyết này để làm rõ trong sự kiện, hiện tượng hay hành động

Trang 23

nào đó thì phần nào thuộc yếu tố tự giác bên trong, phần nào do sự thúc đẩy từ bênngoài.

Cũng như vậy, với lý thuyết hệ thống và lý thuyết cơ cấu chức năng, xã hộihọc chính trị khi nghiên cứu, tìm hiểu về hệ thống chính trị và hành vi chính trịkhông thể không dựa vào hai lý thuyết này Ở đây, lý thuyết hệ thống sẽ cho ta cáchnhìn toàn diện, biện chứng về những cấu thành và cách thức quan hệ, liên hệ củanhững cấu thành này trong một hệ thống chính trị xác định Đây là cách tiếp cận mà

xã hội học chính trị sử dụng để góp phần tìm hiểu làm rõ những đặc trưng của hệthống quyền lực xã hội

Lý thuyết cơ cấu chức năng thì dựa vào sự phân tích và vị thế, vai trò của từngthành tố trong hệ thống xã hội để xem xét cơ cấu quyền lực xã hội được phân bố thếnào giữa các chủ thể của hệ thống Trên cơ sở này mà xét đoán những hành vi cótính chức năng của từng chủ thể trong hệ thống kết cấu đó Đây cũng là một cáchtiếp cận đặc thù mà xã hội học chính trị sử dụng để phân tích hành vi có tính đặctrưng của mỗi chủ thể trong mối liên hệ và quan hệ biện chứng mà hệ thống quyềnlực xã hội xác định đã tạo ra

Hai lý thuyết, hệ thống và cơ cấu chức năng, vì vậy, trở thành những cơ sởquan trọng về mặt lý luận để xã hội học chính trị đi sâu tìm hiểu sự vận động biếnđổi của các loại hệ thống quyền lực xã hội cũng như những loại mô hình hành vichính trị mà mỗi hệ thống chính trị đã tạo ra

3 Những phương pháp nghiên cứu của xã hội học chính trị

Là một khoa học, xã hội học chính trị cũng như các khoa học khác đều có nộidung nghiên cứu của mình trên hai phương diện lịch sử và lý luận

+ Phương pháp luận chung

Xã hội học chính trị có cơ sở phương pháp luận chung, đó là chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin Nó cũngđồng thời dựa trên cơ sở phương pháp chuyên ngành, chung đúc từ xã hội học vàchính trị học

+ Phương pháp chuyên ngành

Trang 24

Phương pháp phân tích tài liệu (bao gồm phương pháp phân tích định tính và

phương pháp phân tích định lượng); phương pháp quan sát; phương pháp phát vấn;phương pháp thực nghiệm…

Trang 25

CHƯƠNG 2

LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG XÃ HỘI HỌC CHÍNH TRỊ

Là một chuyên ngành của xã hội học, xã hội học chính trị ra đời do yêu cầu củabản thân sự vận động xã hội Với vai trò, chức năng nghiên cứu xã hội trong tínhchỉnh thể và hệ thống, xã hội học chính trị đi sâu nghiên cứu quan hệ quyền lực giữacon người và con người, giữa các nhóm xã hội Bắt đầu từ thế kỷ XIX, xã hội họcvới tư cách là một khoa học được ra đời và phát triển mạnh mẽ Xã hội học chính trịđược ra đời muộn hơn, ở đầu thế kỷ XX Tuy vậy, những tư tưởng xã hội học chínhtrị thì đã xuất hiện từ rất sớm nhằm để tìm hiểu, khám phá bí mật của các hiện tượng

và các quá trình chính trị; làm rõ thực chất của quyền lực chính trị và phương thứcthực hiện nó Sau đây, chúng ta tìm hiểu lịch sử của tư tưởng xã hội học chính trịcùng với những đóng góp của một số nhà tư tưởng tiêu biểu

I TƯ TƯỞNG XÃ HỘI HỌC CHÍNH TRỊ THỜI KỲ CỔ ĐẠI …)

Những tư tưởng xã hội học chính trị được hình thành gắn liền với hệ thống cácquan điểm: triết học, chính trị, tôn giáo… của các nhà tư tưởng Tuy tiếp cận các sựkiện và quá trình chính trị bằng phương pháp của xã hội học một cách không tự giác,song những tư tưởng của các đại biểu này đã đặt cơ sở đầu tiên cho việc nghiên cứu

xã hội học chính trị

1 Khổng Tử (551 – 479 TCN)

Là nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại, người khởi xướng học thuyết chính trị Đức

trị nổi tiếng Sinh ra và chứng kiến thời kỳ lịch sử có nhiều biến động (thời Xuân

thu- Chiến quốc) nên Khổng Tử rất quan tâm tới những vấn đề xã hội cơ bản như:thiết chế xã hội, phương pháp cai trị (để đảm bảo sự bình ổn xã hội), tư cách củangười cầm quyền…

Nghiên cứu cơ cấu xã hội đương thời, Khổng Tử đã chia các thành viên xã hội

thành hai hạng người là quân tử và tiểu nhân và ông cũng xác định chuẩn giá trị cho hai hạng người đó Quân tử là những người có đủ các phẩm chất về Nhân- Trí –

Dũng Nhân là lòng nhân ái (tình yêu thương con người với nhau) Trí là trí tuệ, hiểubiết của con người Dũng là dũng cảm, không chùn bước trước khó khăn, thử thách

Còn tiểu nhân thì ngược lại, là những kẻ thấp hèn, không có hiểu biết và tư cách đạo

đức tầm thường (chỉ nhân dân lao động thời bấy giờ)

Trang 26

Nói tóm lại, quân tử – tiểu nhân là những mẫu người đối lập về nhân cách, và

do đó dẫn đến đối lập về vị thế và chức năng xã hội: Quân tử là hạng người lao tâm(lao động trí óc), cai trị người và được người cung phụng Tiểu nhân là hạngngười lao lực (lao động chân tay), bị cai trị và phải cung phụng người quân tử.Khổng Tử đã xem đức Nhân là nền tảng của xã hội vì nó là cơ sở để tạo nên sựđồng cảm giữa mọi người với nhau cũng như sự quy phục của người này đối vớingười khác Ông cho rằng: để xã hội có kỷ cương, phép tắc, thì lòng nhân ái là mộttrong những phẩm chất cơ bản của người quân tử, chính nhờ phẩm chất này mới cóthể thuyết phục, cảm hoá người khác, làm cho người khác phục tùng Vì vậy, Khổng

Tử đã xem đức Nhân như là phẩm chất cao nhất của người quân tử và là điều kiệncăn bản để người họ hoàn thành được vai trò chức năng xã hội của mình Theo đó,nhà vua cũng phải trở thành tấm gương và sự mẫu mực trong thi hành đức Nhân(đức của quân tử như gió bão; đức của tiểu nhân như cỏ Gió thổi thì cỏ rạp ngãtheo- Luận ngữ)

Điều Nhân được biểu hiện qua Lễ - những chuẩn mực đạo đức, quy định bổn

phận và cách thức giao tiếp giữa con người với nhau phù hợp với vai trò và địa vị xãhội của họ Theo Khổng Tử, Lễ rất quan trọng vì nó giúp cho người ta biết phân biệt

người trên kẻ dưới, biết xử sự đúng với vai trò, địa vị của mình trong xã hội Lễ cũng giúp con người ta biết làm theo điều lành (thiện) và tránh xa điều ác Như vậy, Lễ là

khuôn mẫu cho mọi hành vi của cá nhân và tầng lớp trong xã hội Nói cách khác,

hành vi hợp lễ là hành vi chuẩn mực trong xã hội

Cũng từ quan niệm này Khổng Tử đã đề ra thuyết Chính danh định phận

khuyên con người ta phải ứng xử đúng với cương vị, quyền hạn và nghĩa vụ củamình trong xã hội Theo ông, để có được “thái bình, thịnh trị” thì xã hội phải đượcsắp đặt theo một trật tự thứ bậc chặt chẽ, ai ở địa vị nào phải xử sự đúng với bổnphận và địa vị của mình Trong con mắt của Khổng Tử, lòng nhân ái là chất keo gắnliền con người lại với nhau Thế nhưng xã hội được gắn lại bằng chất keo nhân ái đólại là xã hội có trên có dưới (trật tự đẳng cấp)

2 Mặc Tử (479 –381 TCN)

Còn gọi là Mặc Địch (người nước Tống) - là người sáng lập ra trào lưu tư

tưởng Mặc gia Tư tưởng chính trị của ông được thể hiện trong sách Mặc Tử Nếu

Trang 27

Khổng Tử đại diện cho những người quý tộc ở bên trên thì Mặc Tử đại diện chonhững người bình dân bên dưới (tư tưởng của Mặc Tử đối lập với Khổng Tử)

Ông cho rằng, trong xã hội mọi người có quyền ngang nhau (quyền tự nhiên) vàquyền lực (ngôi vua- thiên tử) là của chung mọi người trong thiên hạ, vì vậy, tiêu chí

để nắm giữ quyền lực trong xã hội là người có Tài- Đức (người Hiền) Từ quan niệm

đó, ông quan tâm đến xác lập một cơ chế tuyển lựa đội ngũ những người cai trị cókhả năng điều hành đất nước và đại diện cho ý chí đại đa số nhân dân? Theo ông, đểxây dựng được một nhà nước mạnh phải tạo ra một cơ chế tuyển lựa người có tàikhông phải xuất phát từ sự giàu sang, nguồn gốc xuất thân, quan hệ họ hàng với nhàVua mà từ thi tuyển (Thượng hiền) Tư tưởng của Mặc Tử gợi mở cho ta sự nghiêncứu về cơ chế dân chủ, để con người hình thành nên hệ thống quyền lực xã hội.Mặc Tử cũng là người rất coi trọng đức trị Đức trị ở đây là sự phù hợp củalòng người với ý trời, nhưng ý trời lại được thể hiện ở người cầm quyền Thực chất,

đây chính là yêu cầu, đòi hỏi về đồng thuận, thống nhất giữa người cầm quyền và

người không cầm quyền theo nguyên tắc Thượng đồng.

3 Platôn (427 – 347 TCN)

Ông là nhà triết học duy tâm khách quan, đồng thời là nhà tư tưởng chính trịxuất sắc của Hy Lạp- La Mã cổ đại Những công trình xã hội học của ông đều hướng

về chính trị, tiêu biểu nhất là các tác phẩm Cộng hoà, Quy luật và Nền chính trị;

đồng thời, những quan điểm chính trị – pháp lý của ông luôn thay đổi trong suốtcuộc đời sáng tạo của ông

Platon là tác giả của đề án về Xã hội lý tưởng với ba tầng lớp xã hội cơ bản: 1/ Pháp quan: những nhà triết học thông thái, người nằm trong bộ máy quyền

lực nhà nước

2/ Chiến binh: sĩ quan, tướng lĩnh, người có trong quân đội, có nhiệm vụ bảo

vệ an ninh trật tự xã hội

3/ Nông dân, thợ thủ công: những người lao động sản xuất ra của cải vật chất

để nuôi sống toàn bộ xã hội

Theo mô hình này, xã hội tồn tại dựa trên cơ sở lao động của nông dân, thợthủ công; lãnh đạo xã hội là các nhà triết học- quý tộc; bảo vệ xã hội là công việccủa các chiến binh; còn nô lệ không được xếp vào trong nhà nước này- thứ công cụ

Trang 28

biết nói chứ không phải là người Là người chống lại truyền thống dân chủ của Aten,Platon nhìn thấy sự giải thoát trong việc trở lại các thành ấp nhỏ cổ xưa xây dựngtrên chế độ đẳng cấp, khổ hạnh và quân sự hoá; nói tóm lại, ông ta ưa thích kiểuquốc gia của người Spáct, kẻ thù không đội trời chung của tổ quốc ông Ông lập

luận: để duy trì trật tự xã hội, người ta phải sống và hoạt động theo đúng chức

phận, vị trí của mình C Mác nhận xét: Platon hiểu sâu sắc vai trò của phân công lao

động trong việc hình thành các quốc gia - đô thị Hy Lạp cổ đại

Ngoài ra, Platon còn nghiên cứu hệ thống xã hội liên quan đến việc hình thànhcác thiết thế chính trị (quyền lực xã hội và nguyên tắc tổ chức, vận hành…; phápluật của các nhà nước Hy Lạp – La Mã cổ đại…) Với những cống hiến đó, Platonđược xem là một trong những người đặt nền móng cho khoa học nghiên cứu vềchính trị – xã hội học chính trị

4 Arixtốt (384 –322 TCN)

Nhà tư tưởng xuất sắc ở nhiều lĩnh vực Ông được C.Mác đánh giá là Nhà tư

tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại Aritxtốt là người kế tục phát triển các tư tưởng

chính trị cổ đại sau Platon, là học trò và là người phê phán những quan điểm, tưtưởng của Platon Ông có nhiều tác phẩm nổi tiếng, trong đó đáng chú ý là các tác

phẩm Chính trị và chính thể Aten Trong tác phẩm của mình, Arixtốt đã khảo cứu

158 thành bang của Hy Lạp cổ đại, trong đó ông tập hợp, phân loại nguồn gốc các

thiết chế Aten, các thời kỳ lịch sử của nó Đặc biệt, tác phẩm Chính trị của ông là

công trình khảo luận cổ nhất về hiến pháp, trong đó ông liệt kê tất cả các hiến pháp

và các chính thể chẳng những của các đô thị Hy Lạp mà còn của các đô thị chính lúcbấy giờ ở vùng Địa Trung Hải Tư tưởng của ông đã đề cập đến những vấn đề sau:

- Cơ cấu quyền lực của chính quyền nhà nước: Ông nghiên cứu người đứng đầu

cơ quan quyền lực (đại diện cho ai?) mối quan hệ giữa người sáng tạo ra luật vàngười thi hành luật

- Cách thức mà người ta tấn phong người đứng đầu: Nghiên cứu khảo sát các

mô hình tổ chức nhà nước Hy Lạp -La Mã cổ đại, ông rút ra kết luận: nhà nước dânchủ chủ nô bầu ra người đứng đầu thông quy chế dân chủ (Nhưng cách thức bầu cửthế nào là vấn đề mà Arixtốt chưa đề cập đến)

Trang 29

- Khi nghiên cứu, khảo sát 158 thành bang, Aritxtốt đã sử dụng phương pháp

so sánh Xét trên phương diện này, Aritxtốt là người đặt nền móng cho phương pháp

nghiên cứu xã hội học so sánh (về mặt phương pháp luận)

Arixtốt là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên bàn về xã hội một cách có hệthống Chính ông đã đưa ra định nghĩa con người như một “động vật xã hội” Mặc

dù trong học thuyết của ông, các quan hệ chiến hữu nô lệ của xã hội đương thời như

đã có gốc rễ từ trong tự nhiên, nhưng ông coi những hình thức cao nhất của quyềnlực nhà nước là những hình thức loại bỏ được khả năng lợi dụng quyền lực một cáchích kỷ, là những hình thức trong đó quyền lực phục vụ cho toàn xã hội

Mặc dù có những quan điểm chính trị trái ngược nhau, nhưng trong quá trìnhnghiên cứu chính trị pháp lý, cả Platôn và Aritxtốt đều sử dụng phương pháp xã hộihọc (mặc dù trong thời kỳ đó các ông vẫn chưa ý thức được xã hội học) Tuy nhiênPlatôn thiên về nghiên cứu những quy tắc điều chỉnh quyền lực xã hội để tìm kiếmmột chế độ cộng hoà lý tưởng; còn Aritxtốt thiên về cách quan sát, so sánh để tìm rađặc điểm của cơ cấu chính trị, hệ thống chính trị; so sánh đối chiếu hệ thống cácHiến pháp, các chỉnh thể của các đô thị Hy Lạp và của các quốc gia lân cận (ĐịaTrung Hải) để tìm ra nguyên tắc chung cho chính thể nhà nước dân chủ Có thể nói,Platôn và Aritxtốt đã trở thành những nhà tư tưởng xã hội học chính trị tiền bối

Có thể khẳng định: trong thời kỳ Cổ đại, xã hội học chính trị là một thứ triếthọc về xã hội mà người ta chỉ chú ý đến những tiêu chuẩn về tổ chức xã hội nhằmphục vụ lợi ích của các giai cấp thống trị, duy trì bóc lột giai cấp trong xã hội, bấtchấp thực tế như thế nào

II TƯ TƯỞNG XÃ HỘI HỌC CHÍNH TRỊ THỜI KỲ TRUNG ĐẠI

Trong thời kỳ này, Châu Âu bị chia cắt thành các lãnh địa phong kiến, kinh tếtrì trệ Tôn giáo phát triển và Thiên chúa giáo trở thành hệ tư tưởng xã hội chínhthống chi phối toàn bộ hành vi hoạt động của con người Các tư tưởng tiến bộ tráivới quan niệm của nhà thờ đều bị cấm đoán, lên án, thậm chí truy bức Thần quyềncâu kết chặt chẽ với thế quyền kìm hãm sự phát triển của xã hội Mặc dù hiện thựcchính trị diễn ra đen tối như những tư tưởng xã hội học chính trị vẫn tiếp tục bổ sungqua những đại biểu sau đây:

1 Saint Ôguytxtanh (354-430)

Trang 30

Là nhà văn, giáo sư tu từ học, nhà tư tưởng khởi thuỷ của Thiên chúa giáo - tácgiả của 232 cuốn sách lớn nhỏ, trụ cột trong việc khẳng định chân lý đạo Cơ đốc,được Giáo hoàng suy tôn suốt thời Trung cổ

Trong tác phẩm của ông, cuốn “Thành bang của Thượng đế” (The City of God)

là một tổng hợp về lịch sử của nền văn minh cổ đại và một cái nhìn toàn bộ về lịch

sử LaMã Trong tác phẩm này, Ôguytxtanh chia xã hội ra 2 khu vực: đô thị trần gian

(quyền lực nhà nước) và vương quốc chúa trời (quyền lực giáo hội) Theo ông,quyền lực nhà nước phải thống nhất với quyền lực của chúa trời (là sự thể hiện vàphụ thuộc ý chí của Chúa), điều này cũng có nghĩa là nhà nước phải lệ thuộc vào hệ

thống tôn giáo nhà thờ Tác phẩm của Ôguytxtanh giống như một cái cầu chuyển từ

nền văn minh cổ đại sang nền văn minh công giáo

Ngoài ra, ông cũng nghiên cứu nguyên nhân sự sụp đổ của đế chế La Mã vàthắng lợi của những bộ tộc “dã man”, kém phát triển hơn về kinh tế Khi thành La

Mã bị các người man rợ (người Hy lạp và người La Mã gọi các dân tộc ở ngoài nềnvăn minh của họ như thế) chiếm đóng thì không ít người đương thời cho rằng sự sụp

đổ kỳ lạ đó có nghĩa là sự báo thù của các thần linh xưa đã bị các tín đồ từ bỏ Xúcđộng trước dư luận dễ gây hoang mang này, ông quyết định bác bỏ dư luận này.Theo ông, những lý do dẫn đến sự sụp đổ của đế chế La Mã là:

Thứ nhất, đế chế La Mã vào những thế kỷ đầu Công nguyên đã trở nên già cỗi,

gần như kết thúc vai trò lịch sử của nó Đó là sự già cỗi của chế độ chiếm hữu nô lệkhi có yêu cầu giải phóng người nô lệ, biến họ thành nông dân tự do, nông nô

Thứ hai, trên cơ sở đó, sự nổi dậy của các tộc người ở đây và sự xâm lược của

các tộc người bên ngoài làm cho đế chế La Mã sụp đổ

Có 2 vấn đề cần xem xét dưới góc độ xã hội học:

Một là, hành vi của những bộ lạc là hết sức dã man, phá tan tất cả những gì đế

chế La Mã đã dựng lên Lý do dẫn đến hành vi: những hành động này liên quan đếnmột thể chế chính trị lạc hậu hơn thể chế chính trị của đế quốc La Mã (thể chế chínhtrị này quy định các hành vi, hành động như vậy);

Hai là, sau khi các bộ tộc này đã làm sụp đổ đế chế La Mã, họ phát triển thế

nào? kết hợp với cư dân La Mã ra sao? Họ buộc những bộ tộc này sống theo thiếtchế, quan điểm của mình hay họ tiếp thu nền văn minh đó?

Trang 31

2 Abdel Rahman Ibn Khaldun (1332-1406)

Sinh ở Tunis (Bắc Phi) trong một gia đình có truyền thống về giáo dục ông

được dạy các môn kinh Koran (thánh kinh của đạo Hồi), toán và lịch sử Cả cuộc đời

ông đã phục vụ cho nhiều triều đại vua chúa ở Tunis, Morocco, Tây Ban Nha vàAlgeria với nhiều chức vụ khác nhau (đại sứ, tuỳ thần, thành viên của Hội đồng họcgiả) Sau khoảng hai thập kỷ hoạt động chính trị, Ibn Khaldun trở về Bắc Phi, tiếnhành các hoạt động nghiên cứu và viết sách Các công trình này đã nâng cao danhtiếng cho ông và dẫn ông tới chức vụ Giáo sư ở trung tâm nghiên cứu Hồi giáo,Trường đại học Al Azhar Moque (Cairo) Trong các bài giảng thu hút nhiều sinh

viên các môn xã hội, Ibn Khaldun đã nhấn mạnh đến sự quan trọng của việc kết hợp

các tư duy xã hội học và quan sát lịch sử.

Tuy Ibn Khaldun không tạo nên một ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội học cổđiển nhưng các học giả đã phát hiện ra trong tác phẩm của ông các tư tưởng về xãhội học Nhiều nhà xã hội học hiện đại đã đánh giá cao tầm quan trọng các công

trình của ông, trong đó đáng chú ý là Toàn tập (Prologomena - còn gọi là Tổng luận)

được Ibn Khaldun viết vào năm 1406 Tác phẩm là một công trình nghiên cứu xã hộimột cách khoa học, bằng khảo sát thực nghiệm và phân tích xã hội học để tìm hiểunguyên nhân của các hiện tượng xã hội, trong đó có nhiều ý tưởng được xã hội họchiện đại kế thừa Trong tác phẩm này, Ibn Khaldun đã dành sự quan tâm lớn cho cácthể chế xã hội khác nhau, xem xét tất cả các mặt của xã hội (chính trị, kinh tế, địa lý,tôn giáo, pháp luật) và các mối tương quan chặt chẽ giữa chúng Ông cũng dành sựquan tâm đến việc so sánh giữa xã hội sơ khai và hiện tại Từ đó, Ibn Khaldun nêulên quan điểm gần như có tính chất quyết định luận về xã hội loài người Kết luậnđược rút ra từ những trường hợp mà ông xem xét là: lịch sử vận động theo nhữngchu kỳ đều đặn từ một sự đoàn kết mạnh đến một sự đoàn kết yếu và ngược lại.Cũng theo lý luận của ông thì tình đoàn kết có được là do những mối liên hệ bộ lạc

và huyết tộc tạo ra, được tăng cường bởi một niềm tin tôn giáo cuồng nhiệt, là sứcmạnh lớn nhất có thể vượt lên những sức mạnh quân sự cao hơn về số lượng

Sau Ôguytxtanh gần một thiên niên kỷ nhưng cùng chung mối quan tâm nhưÔguytxtanh, Ibn Khaldun đã cố gắng đi tìm câu trả lời về nguyên nhân sụp đổ của

Trang 32

nền văn minh Ai Cập và chiến thắng của những bộ tộc đã chinh phục được nền vănminh này (người Thátđát, người Tuyếc-cô-man và người Boc-ke).

Theo ông, có hai lý do dẫn đến sự sụp đổ của Ai Cập: Một là, Nhà nước Ai Cập

cổ đại ấy đã già cỗi Sự xâm lăng chỉ là cú huých cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ; Hai

là, hành vi bị đồng hoá trở lại về mặt văn hoá của bộ tộc kém văn minh hơn trong

quá trình xâm lăng

Ngoài ra, ông còn bàn về tính chất ăn bám của Nhà nước phương Đông cổ đại:nhà nước dựa trên cơ sở của quyền lực hành chính đơn thuần, dựa trên quyền sở hữuđất đai, do các Hoàng đế nắm giữ Có thể nói, truyền thống xã hội học đã bị giánđoạn từ thời Ôguytxtanh, mà ông là người có công nối lại Ibn Khaldun có một địnhnghĩa đầy tính chất xã hội học cho lịch sử: Lịch sử có đối tượng là làm cho người tahiểu được tình trạng xã hội của con người, nghĩa là nền văn minh, và biết được cáchiện tượng gắn bó một cách tự nhiên với nó, tức là đời sống man rợ, việc làm mềmdịu bớt các tập quán, tinh thần gia đình và thị tộc, nhưng sự khác nhau về tầm caothấp dẫn đến sự ra đời của các đế chế và các triều đại, sự phân biệt về cấp bậc, cáccông việc và sự cố gắng của con người, như là các nghề kiếm được nhiều tiền, cácnghề giúp cho người ta sống, các khoa học, nghệ thuật Tóm lại, tất cả những sự thayđổi mà bản chất của các sự vật có thể thực hiện được trong xã hội cho phép

Song, Ibn Khaldun vẫn là một người có đầu óc Trung cổ bởi trong nhữngnghiên cứu của ông, khái niệm về sự tồn tại của một quyền lực chính đáng, về sự tổchức xã hội một cách hợp lý không được đặt ra Ông cũng mô tả một hiện tượng chu

kỳ của sự hưng thịnh và suy vong của các quyền lực chính trị theo quan điểm địnhmệnh chủ nghĩa, khi cho rằng chu kỳ này không phụ thuộc vào ý chí con người cũngnhư không bao giờ những nghiên cứu khách quan có thể đem lại một sự cải thiệnthực tế

Kết luận: Những tư tưởng xã hội học chủ yếu của thời kỳ Trung đại đều đề cập

tới một hiện tượng hết sức đặc biệt của lịch sử: sự sụp đổ của các nền văn minh và

chiến thắng của các bộ tộc kém văn minh hơn Qua đó, các nhà tư tưởng đã đề cập ít

nhiều đến các hành vi của những người đi chinh phục và mối tương tác của các kiểu

loại hành vi này, nhóm xã hội này với hành vi và nhóm xã hội khác.

III TƯ TƯỞNG XÃ HỘI HỌC CHÍNH TRỊ THỜI KỲ CẬN- HIỆN ĐẠI

Trang 33

Từ thế kỷ XVIII trở đi ở Tây Âu đã có những bước phát triển mới trong đờisống xã hội, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và khoa học tự nhiên đã tạonên những thay đổi quan trọng về nhận thức xã hội và các cá nhân trong xã hội Xãhội tư bản đòi hỏi sự tự do của con người phải được đặt trong khuôn mẫu, trong thiếtchế xã hội và tuân thủ pháp luật Nhu cầu nghiên cứu về vai trò của cá nhân trongcác tương quan xã hội đặt ra cho xã hội học những vấn đề cụ thể, bức thiết Tưtưởng xã hội học nói chung và xã hội học chính trị nói riêng tách dần ra khỏi triếthọc với các mức độ và quan điểm khác nhau và có sự phát triển mạnh mẽ với sựxuất hiện của hàng loạt các trường phái và đại biểu nổi tiếng

1 S.L Môngtéckiơ (1689-1775):

Nhà tư tưởng chính trị xuất sắc người Pháp, đại biểu tiêu biểu của dòng tư tưởngchủ nghĩa Tự do Một số luận điểm tư tưởng của ông đã trở thành nền tảng, cơ sởcho nền móng Nhà nước pháp quyền sau này

Tác phẩm chính của ông: Thư Ba Tư (1721), Nhận định về nguyên nhân thịnh đạt

và sự suy thoái của Roma (1734), và Tinh thần pháp luật (1768)

Ông phân tích lịch sử phát triển của các loại hình nhà nước trong lịch sử, trong

đó có cả nhà nước dân chủ chủ nô ở Hy Lạp- La Mã để xác định mẫu hình của nhànước dân chủ tư sản có thể thiết lập, đó là: nhà nước chuyên chế độc tài, nhà nướcquân chủ lập hiến, nhà nước cộng hoà đại nghị Ông cho rằng trong ba loại hình nhànước kể trên thì nhà nước cộng hoà đại nghị là dân chủ nhất và cách mạng tư sảnPháp nổ ra trên thực tế là muốn xây dựng kiểu nhà nước này

Cách phân chia của Môngtéckiơ dựa trên hai cơ sở: mỗi một loại nhà nước cómột kiểu cơ cấu tổ chức và phương thức thực thi quyền lực riêng

Theo ông: kiểu tổ chức của nền kinh tế quyết định cơ cấu xã hội, đến lượt nó,

cơ cấu xã hội này quyết định cơ cấu quyền lực xã hội Nói cách khác: tính chất của

hệ thống quyền lực xã hội phụ thuộc vào tính chất của nền kinh tế và do đó nó chi

phối cả cách thức tổ chức quyền lực lẫn mẫu hình hành vi chính trị của con người.

Ông còn cho rằng: các hệ thống chính trị có quan hệ với các yếu tố địa lý tự nhiên và

địa lý văn hoá (quan điểm địa chính trị) Trong tác phẩm Tinh thần pháp luật,

Môngtéckiơ đã phân tích sự ảnh hưởng của khí hậu đối với chế độ nô lệ, đối vớiquan hệ nam nữ, phong tục tập quán của một dân tộc, mối liên hệ giữa thương

Trang 34

nghiệp, đạo đức và sự nghèo khổ, tiền tệ, dân số và tôn giáo (chẳng hạn: thường ởcác vùng khí hậu nóng thì chế độ chính trị là độc tài chuyên chế, còn ở vùng khí hậulạnh là chế độ dân chủ ) Những tư tưởng này của ông đã đặt cơ sở, nền tảng cho sựphát triển hoàn thiện tư tưởng xã hội học chính trị về Lý thuyết cơ cấu xã hội vàHành vi chính trị (độc tài, dân chủ).

Đặc biệt, Môngtéckiơ đã có công phát triển và hoàn thiện học thuyết Tamquyền phân lập – học thuyết phân chia quyền lực nhằm khắc phục sự tha hoá quyềnlực nhà nước Dưới ảnh hưởng của học thuyết này, phân chia quyền lực đã trở thànhmột nguyên tắc quan trọng của tổ chức bộ máy nhà nước tư sản

4 Herbert Spencer (1820 - 1903)

Nhà triết học và xã hội học người Anh được mệnh danh là cha đẻ của triết

học tiến hoá Tư tưởng của Spencer phản bác sự phân chia khoa học về sự sống và

các khoa học về con người và ông muốn xây dựng xã hội học như một sự tổng hợptất cả các khoa học Trên cơ sở đó, Spencer đã cố gắng xây dựng một hệ thống lýluận thống nhất sang đa dạng phức hợp, hội nhập bằng phân hoá nhưng ông vẫn thừanhận trong một số trường hợp riêng biệt có sự vận động ngược lại

Những tác phẩm chính của ông là: Nghiên cứu xã hội học (1837); Tĩnh học xã

hội (1850); Những nguyên lý của Xã hội học (1876-1896); Diễn tả Xã hội học

(1873-1881)

Spencer chủ trương phân loại các xã hội thành Xã hội quân sự và Xã hội công

nghiệp dựa vào kiểu hợp tác giữa các tác nhân xã hội Theo ông, các xã hội quân sự

là những xã hội độc tài, trong đó sự ganh đua và gây hấn luôn luôn ngự trị; còn các

xã hội công nghiệp là các xã hội tự do Quá trình tiến hoá xã hội diễn ra từ kiểu này

sang kiểu kia, tuỳ thuộc vào thời kì chiến tranh hay hoà bình Hoà bình có lợi cho xuhướng tự nhiên chuyển từ các xã hội quân sự sang các xã hội công nghiệp, còn chiếntranh thì cản trở và xoá bỏ sự tiến hoá ấy, tạo điều kiện cho phản cách mạng xuấthiện

Lý thuyết tiến hoá xã hội của Spencer có lúc đã được giới khoa học thừa nhận

nhưng sau đó bị bác bỏ và ông đã phục hưng chúng bằng những thay đổi nhất định

Là người đã áp dụng thuyết tiến hoá của Đác Uyn vào đời sống xã hội, ông tin rằng

xã hội loài người tiến hoá từng bước một, đi từ xã hội nguyên thuỷ sơ khai tiến dần

Trang 35

đến xã hội công nghiệp hiện đại Đó là một quá trình tự nhiên và sự tiến hoá nàykhông cản trở bước tiến của nhân loại.

Xã hội đơn giản: là những thực thể duy nhất, không tuân thủ bất kỳ một cái gì

khác và từng phần của nó tương tác với nhau nhằm đạt tới các mục tiêu chung Xãhội đơn giản phân thành bốn nhóm: nhóm xã hội không có thủ lĩnh; nhóm xã hội vớithủ lĩnh có tính chất ngẫu nhiên; nhóm xã hội có thủ lĩnh không thường xuyên;nhóm xã hội với thủ lĩnh thường xuyên Bốn nhóm này tiếp tục chia nhỏ hơn tuỳthuộc vào lối sống: du mục, định cư hay nửa định cư Quyền lực ổn định là đặc trưngcho các xã hội đơn giản và sự phát triển tất yếu dẫn tới việc thay đổi lối sống từ dumục sang định cư

Xã hội phức hợp: là nơi người lãnh đạo nhóm chỉ phục tùng một thủ lĩnh

chung Vai trò của người thủ lĩnh ngày càng tăng lên do nhóm chuyển dần sangtrạng thái định cư

Những bộ lạc định cư tạo thành một cấu trúc ba tầng, ở đấy từng nhóm đơngiản có người thủ lĩnh của nó và vị thủ lĩnh này tới lượt mình, lại tuân thủ một thứquyền lực cao hơn Loại xã hội này tổ chức hoàn thiện hơn và có tôn ti về tôn giáo;chúng trở nên phức tạp do phân công lao động và sự phát triển của công nghiệp.Phong tục trở thành luật, các tín điều tôn giáo ngày càng nghiêm ngặt; thành thị vàđường xá phát triển khắp nơi, khoa học và nghệ thuật phát triển rất nhanh Một loại

xã hội cao hơn là các dân tộc văn minh và cả những nền văn minh cổ Mecxic, AiCập và đế quốc La Mã Đặc tính chung của các xã hội này là tổ chức chính trị bềnvững

Quá trình tiến hoá đồng thời tiếp nhận cả sự hỗn tạp và sự hoà hợp đượcSpencer chia thành tiến hoá vô cơ (sự hình thành vũ trụ và trái đất), tiến hoá hữu cơ(tiến hoá sinh học) và tiến hoá siêu hữu cơ, chỉ sự phát triển xã hội và hình thành đạo

lý và nhân cách (trong đó có cả xã hội học) Tiến hoá xã hội là một quá trình mâuthuẫn nhưng về cơ bản là tuần tự và tự động Nhìn chung, xã hội học của Spencergắn liền với trạng thái chính trị ở nước Anh vào nửa sau thế kỷ XIX và trở thành mộthọc thuyết chính trị Đó là sự biện luận trực tiếp cho tính phát triển tự phát của xãhội tư bản; ý tưởng này thể hiện tinh thần lạc quan chung của xã hội tư sản và giaicấp tư sản Anh đang phấn khích trước sự phát triển Mặt khác, do nhấn mạnh tính

Trang 36

hữu chất hữu cơ của tiến hoá xã hội và khẳng định nhiều nét tương tự giữa xã hội và

tự nhiên, nên Spencer lên án gay gắt bất kỳ mưu toan nào nhằm cải tạo xã hội bằngcách mạng

Tuy các quan điểm của Spencer bị phê phán khá gay gắt nhưng nhìn chung,đối với tiến trình phát triển của xã hội vẫn có những ảnh hưởng sâu sắc và được ghinhận

5 Emile Durkheim (1858 - 1917)

Nhà triết học, kinh tế học, giáo dục học người Pháp nổi tiếng Ông được coi là

người làm cho Xã hội học thực sự trở thành một khoa học độc lập Những tác phẩm

chính của ông gồm: Phân công lao động xã hội (1893), Các quy tắc của phương

pháp xã hội học(1897), Tự sát (1897), Các hình thức sơ khai của đời sống tôn giáo

(1912)

Khác với Comte đã sáng lập ra xã hội học trên cơ sở “tách” tri thức xã hội học

ra khỏi triết học xã hội, Durkheim cũng là nhà khoa học đã sáng lập ra xã hội họctrên cơ sở “tách” tri thức xã hội học ra khỏi tâm lý học cá nhân Trung tâm lý thuyết

xã hội học của ông là các sự kiện xã hội và những hành động mang tính quy luật củacon người trên cơ sở tuân thủ và chịu sự kiểm soát của các phong tục, tập quán, thiếtchế xã hội, những trật tự, khuôn mẫu và quy tắc của hành vi

Ông phát triển quan điểm Comte về nhiều mặt Tiếp tục quan điểm cho rằng:

xã hội là một hệ thống có trật tự ổn định, ông đi đến lý thuyết chức năng với các

đóng góp trong việc tìm kiếm các quan hệ chức năng lượng hoá để giải thích cáchiện tượng xã hội Durkheim đưa ra “những nhân tố xã hội” mà thực chất là mối tácđộng qua lại giữa các kết cấu xã hội và các thiết chế xã hội, cái mà ông gọi là “tínhchức năng của các mối quan hệ xã hội”, là “thực tế xã hội”, là cái gì đó đã được chosẵn Durkheim cũng đã mô tả sự phát triển xã hội như là một quá trình tiến từ sựđoàn kết máy móc sang tình đoàn kết hữu cơ và xác định nguồn gốc của sự pháttriển đó là do phân công lao động Theo ông, xã hội trước kia cũng là một thể thốngnhất gồm các bộ phận liên hệ với nhau, song sự liên kết này chỉ là máy móc vì mỗi

bộ phận hoàn toàn có thể tồn tại độc lập Trong từng bộ phận thì có sự kết dính nhờquyền lực của các chuẩn mực tập thể được thực hiện Sở dĩ các chuẩn mực đượcthực hiện vì các cá nhân đều phục tùng, và sở dĩ họ phục tùng là do họ có lương tâm

Trang 37

tập thể đồng cảm Còn trong xã hội hiện đại, do sự phân công lao động và chuyênmôn hoá phát triển nên mỗi cá nhân phải thực hiện những chức năng xác định Cácchức năng phụ thuộc lẫn nhau, kết hợp với nhau làm cho hoạt động của toàn xã hộiđược duy trì đều đặn Như vậy cơ sở để liên kết các thành viên trong xã hội với nhau

là tình đoàn kết hữu cơ Đồng cảm đạo lý phải được xây dựng để mang lại trật tự từ

bên trong, các cá nhân sẽ tự do hơn nếu tự nguyện ở bên trong những giá trị ép buộc

xã hội Ông khẳng định rằng sự thiếu điều chỉnh chuẩn mực đầy đủ là nguyên nhânchủ yếu của tình trạng ốm yếu của các cá nhân và xã hội, rằng cái gì là tốt cho sựthống nhất xã hội thì cũng tốt cho mỗi cá nhân

Durkheim còn là người tổ chức thực hiện nhiều công trình nghiên cứu xã hộihọc cụ thể - thực nghiệm Cùng với việc xây dựng hệ thống các quy tắc phươngpháp, những công trình đó đã góp phần làm cho xã hội học xác định được vị trí độclập trong hệ thống các khoa học xã hội: là khoa học dựa trên cơ sở tri thức thực

chứng hay còn gọi là là khoa học về sự kiện xã hội xã hội học, theo ông, phải lấy sự

kiện để giải thích sự kiện Ông cũng nghiên cứu, phân tích nạn tự tử từ quan điểm xã

hội học và vạch ra những nét lớn của phương pháp cổ điển được sử dụng trong quátrình nghiên cứu về tự tử trong các nhóm dân cư khác nhau Tiếp tục thuyết chứcnăng và thuyết đồng cảm, Durkheim đã đi đến chỗ cho rằng, chính hệ thống chuẩnmực tôn giáo là động lực chủ yếu của sự thích nghi xã hội vì hệ thống chuẩn mựcnày phổ biến khắp nơi và không thay đổi theo hoàn cảnh bên ngoài

Nhìn chung, đóng góp lớn nhất của Durkheim là xây dựng xã hội học thànhmột khoa học thật sự Ảnh hưởng của Durkheim đối với xã hội học ở các nướcphương Tây (Anh, Mỹ, Pháp) rất lớn không những trước kia mà cả hiện nay

6 Max Weber (1864 - 1920)

Nhà luật học, sử học, kinh tế học, xã hội học người Đức Ông cũng được coi

là người góp phần xây dựng nên xã hội học vì đã phát triển khoa học này theo hướng

riêng (khác với Comte, Mác và Durkhiem) Tác phẩm chủ yếu của ông gồm: Những

tiểu luận phương pháp luận (1902), Đạo đức Tin lành và tinh thần của Chủ nghĩa tư bản (1902 - 1904), Kinh tế và xã hội (1910 - 1914), Xã hội học tôn giáo (1916)

Weber cho rằng xã hội học cần phải hình thành những phương pháp kết hợpnghiên cứu được các cái chung và cái riêng của hiện thực xã hội Một trong những

Trang 38

phương pháp mà ông đưa ra là loại hình lý tưởng- một cấu trúc khái niệm có khả

năng định hướng tìm tòi và làm cơ sở xây dựng các giả thuyết nghiên cứu cụ thể.Ông đã vận dụng phương pháp loại hình lý tưởng để nghiên cứu và xây dựng lýthuyết về sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở phương Tây, về hành động xã hội, bộmáy quan liêu, quyền lực, sự khống chế xã hội Căn cứ vào mức độ khái quát,Weber phân biệt ba dạng loại hình lý tưởng:

+ Thứ nhất là các loại hình lý tưởng bắt nguồn từ tình huống xã hội, bối cảnhvăn hoá và thời kỳ lịch sử cụ thể Những khái niệm như “Thành thị phương Tây”,

“Đạo đức Tin lành”, “Tinh thần của chủ nghĩa tư bản”, “Chủ nghĩa tư bản hiệnđại”… là những ví dụ của dạng loại hình lý tưởng này

+ Thứ hai là loại hình lý tưởng với tư cách là kết quả của sự khái quát hoá,trừu tượng hoá về những đặc điểm, tính chất của một loại hiện thực xã hội nào đó

Vì vậy, trong thực tế ta chỉ có thể quan sát được một số đặc điểm của loại hình lýtưởng này Ví dụ là “tổ chức quan liêu”, “chủ nghĩa phong kiến”

+ Thứ ba là loại hình lý tưởng được xây dựng với tư cách là công cụ lý luận,công cụ khái niệm nhằm mục đích nghiên cứu một dạng nhất định nào đó của hànhđộng xã hội Chẳng hạn, một số nhà xã hội học kinh tế giải thích rằng tất cả hành vicủa con người là nhằm vào việc nâng cao các lợi ích kinh tế, rằng con người là mộtthực thể kinh tế

Trung tâm của hệ thống tư tưởng xã hội học chính trị của Weber là phạm trù

hành động xã hội Ông không chỉ đưa ra khái niệm tổng quát về hành động xã hội

mà còn phân biệt các dạng biểu hiện cụ thể cuả nó Theo Weber, nghiên cứu hành

động xã hội mà chỉ xem xét, phân tích những đặc điểm quan sát bên ngoài thì không

đủ, thậm chí không có ý nghĩa xã hội học Theo ông, xã hội học cần vận dụngphương pháp lý giải để nghiên cứu hành động xã hội

Weber phân biệt hai loại ý nghĩa của hành động xã hội Một là nghĩa đang có

thực của hành động do một hay một nhóm chủ thể gán cho hành động đó Hai là loại nghĩa được gán một cách lý thuyết cho những chủ thể, của một loại hành động đã

cho Weber cho rằng, rất khó áp dụng khái niệm chính xác theo kiểu khoa học tự nhiên, thực chứng thuần tuý, siêu hình để lý giải hành động xã hội Tức là, rất khó

Trang 39

vạch ra ranh giới rõ ràng, tuyệt đối giữa hành động xã hội và hành vi thuần tuý phản

ứng.

Khái niệm hành động xã hội được Weber quan niệm: hành động được chủ thể

gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng tới người khác, trong đường lối, quá trình của nó Ông gọi xã hội học là khoa học về hành động xã hội Khác với Comte, Mác

và Đukhêm coi xã hội như một tổng thể, một hệ thống trong hành động của ngườiphải phục tùng những quy luật tất yếu hoặc những chuẩn mực chung do xã hội quyđịnh, Veber quan tâm đến ý chí chủ quan của cá nhân và sự biết ý tưởng, sự chờ đợicủa nhau giữa các cá nhân trong tương tác và quan hệ Ông không quan tâm nhiềuđến hệ thống và cơ cấu xã hội mà chỉ quan tâm đến những mẫu hành động do conngười xã hội Ông khẳng định rằng, mục tiêu của xã hội học là phải hiểu những động

cơ thúc đẩy, những nguyên nhân bên trong dẫn đến hành động Nhiệm vụ của nhà

xã hội học là tìm hiểu ý nghĩa của hành động ở người có hành động đó

Song, muốn hiểu được động cơ bên trong cần phải đặt mình vào vị trí ngườiđang hành động thì nhà nghiên cứu mới có thể hiểu được hành động một cách đúngđắn Weber cho rằng việc phân loại hành động của con người có ý nghĩa rất quantrọng đối với xã hội học vì đó là khoa học chủ yếu quan tâm đến hành động xã hội.Weber phân biệt bốn loại hành động xã hội (hệ thống mẫu hành động) như sau:

Hành động duy lý: hành động hợp lý hướng tới mục đích gắn liền với các nhu

cầu cụ thể của con người Công cụ là hành động được thực hiện với sự cân nhắc,tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất Ví

dụ rõ nhất là hành động kinh tế

Hành động duy lý giá trị (hành động hợp lý theo một giá trị) hành động hợp lý

có xúc cảm hướng tới giá trị gắn với địa vị, tuổi tác, danh dự, lòng tin, uy tín; đócũng là hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích tự thân) Thựcchất loại hành động này có thể nhằm vào những mục đích phi lý nhưng lại được thựchiện bằng những công cụ, phương tiện duy lý Ví dụ như một số hành vi tínngưỡng

Hành động duy cảm (xúc cảm- hành động tình cảm) là hành động do các trạng

thái xúc cảm hoặc tình cảm bột phát gây ra, mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân

Trang 40

tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động gắn liền với yếu

tố tâm lý, đây là loại hành động khó giải thích hơn cả Ví dụ: hành động của đámđông quá khích hay hành động do tức giận gây ra

Hành động duy lý - truyền thống (hành động theo truyền thống, tập quán) là

loại hành động tuân thủ những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán, các chuẩnmực được hình thức hoá đã được truyền lại từ đời này qua đời khác Ví dụ, hànhđộng theo “người xưa”, hay theo “cổ nhân nói”

Xu hướng đề cao tính tích cực, độc đáo và sáng tạo của cá nhân với tư cách làchủ thể xã hội cũng thể hiện trong quan niệm về xã hội của Weber Ông coi nhân tốquan trọng nhất của sự phát triển xã hội là văn hoá trong đó những học thuyết vànhững định hướng tri thức đóng vai trò quan trọng bậc nhất Sau nhân tố văn hoá lànhân tố chính trị rồi mới đến các nhân tố vật chất, kinh tế Thậm chí Weber còn giảithích sự xuất hiện chủ nghĩa tư bản là do ý thức về sự tiết kiệm, làm giàu và khổhạnh của những tín đồ theo đạo Tin lành

7 Talcott Parson (1902-1979)

Là nhà xã hội học người Mỹ nổi tiếng, từng làm chủ nhiệm khoa Liên hệ xãhội của trường đại học Harvard Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của xãhội học Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ II Trước khi bước vào xã hội học, ông làmột nhà sinh học và một nhà kinh tế học Ông chịu ảnh hưởng của M.Weber,Malinowski, Durkheim và sau đó của cả Pareto và Freud nữa

Lý luận của ông được trình bày trong các tác phẩm: Cơ cấu của hành động xã

hội (1939); Hướng tới lý thuyết tổng quát về hành động (1951); Hệ thống xã hội

(1951); Các xã hội: những quan điểm so sánh và tiến triển, (1966).

Chống lại các xu hướng kinh nghiệm chủ nghĩa đang chi phối việc nghiên cứu

xã hội học, Parson muốn khôi phục lại vị trí và chức năng của lý luận xã hội học.Qua ông, xã hội học Mỹ nối lại với các tác giả lớn của châu Âu như V.Pareto,E.Durkhiem, M.Weber

Trong lĩnh vực xã hội học Parson cho rằng vấn đề thể chế được coi là tiêuđiểm, bởi vì sự hoạt động có hiệu quả của các thể chế là một điều kiện của sự ổnđịnh xã hội Do đó, lý luận xã hội phải nghiên cứu sự thể chế hoá Thể chế hoá tạonên quan hệ giữa một bên là xã hội và văn hoá và một bên kia là cá nhân và động cơ

Ngày đăng: 20/01/2019, 19:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w