LỜI CẢM ƠNĐược sự phân công của cô giáo Nguyễn Thị Thanh Nhàn tôi đã thực hiện đề tài “Thực trạng ô nhiễm môi trường ở xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình và một số biện pháp
Trang 1MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu 5
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Bố cục của bài 8
B PHẦN NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN 9
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 9
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 9
1.2 Một số khái niệm liên quan về vấn đề nghiên cứu 10
1.2.1 Khái niệm môi trường 10
1.2.2 Ô nhiễm môi trường 11
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNGTẠI XÃ VẠN NINH, HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH 14
2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam và tại địa bàn nghiên cứu 14
2.1.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường tại Việt Nam 14
2.1.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường tại xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 17
2.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường tại xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 25
2.2.1 Nguyên nhân chung 25
2.2.2 Nguyên nhân cụ thể 27
2.3 Hậu quả của tình trạng ô nhiễm môi trường xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 33
Trang 2CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG Ô NHIỄMMÔI
TRƯỜNG TẠI XÃ VẠN NINH, HUYỆN QUẢNG NINH,TỈNH QUẢNG BÌNH 36
3.1 Giải pháp hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường tại xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 36 3.1.1 Giải pháp của nhà nước 36 3.2 Những hoạt động mà UBND xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã thực hiện để chế tình trạng ô nhiễm môi trường 38
C KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 41
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của cô giáo Nguyễn Thị Thanh Nhàn tôi đã thực hiện đề tài “Thực trạng ô nhiễm môi trường ở xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh
Quảng Bình và một số biện pháp khắc phục”.Để hoàn thành đề tài bài tiểu luận
này, tôi xin tỏ lòng sâu sắc đến cô giáo Nguyễn Thị Thanh Nhàn đã tận tình hướng dẫn nhiệt tình trong suốt quá trình học tập và đề tài Mặc dù đã cố gắng
để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do buổi đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nhưng hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong sự góp ý của cô giáo và các bạn cùng khóa để đề tài được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm !
Trang 4có đất nước Việt Nam ta Hiện nay ô nhiễm môi trường đang ngày càng trầm trọnghơn không chỉ ô nhiễm về không khí mà còn ô nhiễm về đất, nước và hậu quả màchúng mang lại là ảnh hưởng rất nhiều về mọi mặt đối với cuộc sống của con người.Các chất thải ngày càng nhiều và phong phú hơn, trong khi đó các biện pháp xử lý thìkém hiệu quả cùng với sự không quan tâm một cách chính đáng đã làm cho môitrường ngày một tồi tệ hơn Vì vậy bảo vệ môi trường đang là một vấn đề cấp bách.Trong tiềm thức của nhiều người, ô nhiễm môi trường thường chỉ xảy ra ở khuvực đô thị, nơi có nhiều nhà máy sản xuất công nghiệp Thế nhưng, hiện nay ở nhiềuvùng nông thôn ở tỉnh Quảng Bình đang đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe của ngườidân bởi rác thải, chất thải bừa bãi do họ gây ra Nguyên nhân chính vẫn là do ý thứccủa người dân ở nhiều khu dân cư còn xem nhẹ về ô nhiễm môi trường.
Tình trạng ô nhiễm môi trường ở xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh QuảngBình đang ngày càng nghiêm trọng, chính quyền xã đã tổ chức nhiều cuộc họp dân bàn
về xử lý rác thải Nhưng do thiếu kinh phí và nên xã chưa làm được bãi tập kết rác vàlập ra ban thu gom rác thải Những cống rãnh chạy dọc đường làng chứa đầy nước đenngòm hòa lẫn chất thải từ trâu, bò, lợn bốc mùi khó chịu Chất thải từ nghề giết mổlợn, bò hàng chục năm nay ở những ao hồ quanh thôn, gây ô nhiễm nguồn nước sinhhoạt của người dân Trên toàn xã có đến 90% số hộ chăn nuôi lợn, trong đó hàng chục
hộ gia đình chăn nuôi từ 10 con lợn thịt trở lên, toàn xã có 1.600 hộ chăn nuôi với tổngquy mô khoảng 64.000 - 70.000 con/lứa, mỗi ngày xả hàng nghìn mét khối nước thải,chất thải chưa qua xử lý ra môi trường, nước thải từ vệ sinh chuồng trại ước tính 23m³mỗi ngày Hàng ngày nước thải, chất thải từ các chuồng lợn đều đổ ra vườn và chảyxuống các kênh mương nhỏ trong làng dẫn đến ô nhiễm nguồn nước và bốc mùi hôi rấtkhó chịu[15;16]
Hiện nay, Vạn Ninh đang phát triển thành khu công nghiệp, khu công nghiệp
Trang 5gồm có ba nhà máy sản xuất bao gồm: Sản xuất xi măng, sản xuất gạch block và gạchtuy nen Mỗi ngày 3 nhà máy xi măng trên địa bàn xã thải ra môi trường một lượng khíthải rất lớn 2500-2800m³ ở nhiệt độ từ 350-380ºC và nồng độ bụi trung bình50mg/Nm3 gây ô nhiễm môi trường, hiệu ứng nhà kính[10;17].
Dựa trên những bất cập trên tôi quyết định chọn đề tài “Thực trạng ô nhiễm môi trường ở xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình và một số biện pháp khắc phục” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình Qua đề tài này tôi mong muốn
đóng góp một phần nào đó trong việc nâng cao ý thức cho người dân quê tôi về việcbảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp
“Tình trạng ô nhiễm môi trường” đối với nền kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như sức
khoẻ của người dân Bên cạnh đó cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế tìnhtrạng ô nhiễm môi trường, đưa ra các hoạt động Công tác xã hội với người dân nhằmtìm hiểu, đánh giá nhận thức, suy nghĩ của họ về vấn đề đó như thế nào?, cung cấp một
số kiến thức nhất định về ô nhiễm môi tường Điều này có ý nghĩa quan trọng trongviệc góp phần giảm tình trạng ô nhiễm môi trường, người dân địa phương, hướng họđến một cuộc sống an toàn, tốt đẹp
Theo một bài viết “Nhà máy xi măng “tra tấn” hàng trăm hộ dân” của Đặng Tài
và Đức Long trên báo Dân trí năm 2015 Tác giả cho biết: Gần chục năm nay, hàngtrăm hộ dân thôn Áng Sơn xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình luônsống trong cảnh bị “tra tấn” bởi tiếng ồn, khói bụi, ô nhiễm từ Nhà máy xi măng ÁngSơn II Cuộc sống người dân nơi đây đang bị đảo lộn bởi Nhà máy xi măng này Dânkêu trời vì ô nhiễm.Tác giả đặt ra câu hỏi Vậy đến bao giờ người dân thôn Áng Sơnmới thoát ra khỏi khu vực ô nhiễm do Nhà máy xi măng Áng Sơn II? Người dân nơiđây đang mong chờ một câu trả lời dứt khoát từ chính quyền địa phương cũng như cáccấp ban ngành liên quan
Trang 6Qua các nghiên cứu, bài báo trên, chúng ta có thể thấy rằng tình trạng ô nhiễmmôi trường đang nhận được quan tâm nhất định từ các nhà nghiên cứu các cơ quan banngành, báo đài để giúp người dân cải thiện môi trường sống, hạn chế tình trạng ônhiễm môi trường Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng những nghiên cứu trên vẫn chưađáp ứng hết nhu cầu thực tế của rất nhiều địa phương trên các tỉnh thành trong cảnước Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào thực trạng ô nhiễm môitrường mà chưa đi sâu vào những nguyên nhân, hậu quả của nó đối với cuộc sống củangười dân sống trong khu vực có môi trường bị ô nhiễm Quan trọng hơn nữa chưađưa ra được những giải pháp cụ thể và chuyên sâu để hạn chế tình trạng này.
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đó tôi tiếp tục chọn đề tài này nghiêncứu để hoàn thiện hệ thống giải pháp can thiệp nhằm góp phần nào đó trong việc đưa
ra các giải pháp phù hợp với địa bàn xã Vạn Ninh, và nâng cao nhận thức cho ngườidân về việc bảo vệ môi trường
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Từ việc tìm hiểu thực trạng về ô nhiễm môi trường tại xã Vạn Ninh, huyệnQuảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng ônhiễm môi trường tại xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, giúp cảithiện môi trường sinh thái, tạo ra những điều kiện sống tốt hơn cho người dân ởđây
3.2 Mục tiêu cụ thể
Tìm hiểu thực trạng ô nhiễm môi trường, những nguyên nhân dẫn đến thực trạng
ô nhiễm môi trường và tác động của nó, đến đời sống của người dân
Thực hành CTXH nhóm với một số người dân trên địa bàn nghiên cứu nhằmnâng cao nhận thức của người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng ô nhiễm môi trường ở xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnhQuảng Bình
Trang 75 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp đọc và phân tích tài liệu
Là phương pháp thu thập thông tin qua việc tìm tài liệu sách báo, các báo cáo,các công trình nghiên cứu, các biên bản cuộc họp, thông tin truyền tải, phương tiện
truyền thông có liên quan đến vấn đề “ô nhiễm môi trường”.
5.2 Phương pháp quan sát
Trong Công tác xã hội, quan sát là một phương pháp hỗ trợ đắc lực cho nhânviên Công tác xã hội Sử dụng phương pháp này giúp nhân viên xã hội có được cáinhìn tổng quát về địa bàn nghiên cứu, về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyênthiên nhiên và tình hình kinh tế xã hội, về tình trạng đời sống của người dân, thựctrạng ô nhiễm môi trường tại xã, giúp quan sát thái độ, hành vi của người dân Qua đó,nhân viên Công tác xã hội thu thập được những thông tin sơ cấp đóng góp vào quátrình nghiên cứu của đề tài
Trong đề tài này sinh viên sử dụng phương pháp quan sát để quan sát đời sốngsinh hoạt của người dân ở địa bàn nghiên cứu, quan sát cách làm việc của cán bộ môitrường xã
Quan sát điều kiện kinh tế cũng như văn hoá xã hội Thông qua hình thức quansát công khai, người nghiên cứu quan sát được thực trạng ô nhiễm môi trường trên địabàn xã, quan sát những nguồn rác thải được thải trực tiếp ra ngoài môi trường
Sử dụng phương pháp quan sát còn giúp người nghiên cứu có sự so sánh đốichiếu để xác minh các nguồn thông tin khác một cách hiệu quả
5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Để thu thập những thông tin mới, cụ thể hơn về thực trạng, nguyên nhân liênquan đến vấn đề ô nhiễm môi trường Tiến hành phỏng vấn sâu với 15 người thuộcnhiều lĩnh vực, công việc khác nhau trên địa bàn xã Phỏng vấn đối với những chủ các
Trang 8lò mổ gia súc gia cầm trên địa bàn xã để biết họ nghĩ như thế nào về việc họ thải trựctiếp các chất thải ra ngoài môi trường.
Phỏng vấn những hộ dân trực tiếp hứng chịu một môi trường ô nhiễm để biếtđược tâm tư nguyện vọng của họ trong việc xử lý các nguồn rác thải
Phỏng vấn những người làm công tác quản lý tình hình kinh tế, văn hoá, xã hộitrên địa bàn để biết được chính quyền địa phương đã có những giải pháp như thế nào
để xử lý nuồn rác thải và hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường ở xã
Phỏng vấn chính quyền xã để biết xã đã có những biện pháp nào để xử lý nhữngngười vi phạm gây ô nhiễm môi trường
Trong quá trình phỏng vấn sâu, bên cạnh những thuận lợi cũng còn tồn tại không
ít khó khăn mà bản thân tôi gặp phải Trước hết, đó là thời gian phỏng vấn bị hạn chế.Điều này gây rất nhiều khó khăn cho việc tiếp xúc, phỏng vấn thu thập thông tin Thờigian chủ yếu mà tôi tiến hành phỏng vấn sâu là buổi trưa và tối Thứ hai, do hiểu biết
và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên việc phỏng vấn sâu ở những lần đầu tiênchưa mang lại hiệu quả như ý muốn Điều này đã được tôi điều chỉnh và thay đổi ởnhững lần phỏng vấn sau Nhờ vậy, kết quả cuộc phỏng vấn đã tương đối được như ýmuốn, thông tin thu thập được phục vụ đắc lực cho đề tài nghiên cứu
5.4 Phương pháp nghiên cứu lí luận
phương pháp phân tích, tổng hợp phân loại và hệ thống hóa tài liệu văn bản, líluận
5.5 Phương pháp CTXH nhóm
Công tác xã hội nhóm là một phương pháp không thể thiếu trong Công tác xãhội Tiến trình công tác xã hội nhóm gồm 5 giai đoạn là: Giai đoạn chuẩn bị và lên kếhoạch thành lập nhóm, giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động, giai đoạn hoạt động và giảiquyết vấn đề, giai đoạn can thiệp và giải quyết nhiệm vụ, giai đoạn kết thúc và lượnggiá Trong bài khóa luận của mình, tôi đã tiến hành tác nghiệp công tác xã hội nhómvới nhóm những người dân tại xã Vạn Ninh sống trong môi trường bị ô nhiễm Tiếntrình cụ thể sẽ trình bày ở chương 3
6 Bố cục của bài
Chương 1 Cơ sở thực tiễn và lý luận của đề tài
Chương 2 Thực trạng ô nhiễm môi trường tại xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh,tỉnh Quảng Bình
Trang 9Chương 3 Giải pháp hỗ trợ nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường tại xãVạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
Trang 10B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Vạn Ninh là một xã thuộc huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, xã nằm trong tọađộ: 17°16′18″B 106°40′22″, tổng diện tích của xã là 28.86 km², mật độ dân số đạt 263người/km², ngày 1/1/2013 xã có 7.754 người[16]
Xã Vạn Ninh nằm ở cực nam huyện Quảng Ninh cách trung tâm huyện lỵ khoảng25km về phía Đông Bắc, phía nam giáp 2 xã Hoa Thủy, Sơn Thủy, phía đông giáp xãHồng Thủy đều thuộc huyện Lệ Thủy, phía Bắc giáp xã An Ninh, phía Tây giápTrường Sơn Xã có 10 thôn: Thôn Nam Hải, thôn Đồn, thôn Bến, thôn Giữa, thôn Sỏi,thôn Tây, thôn Đại Phúc, Thôn Áng Sơn, thôn Phúc Sơn, thôn Xuân Sơn trung tâm xãthuộc thôn Giữa Vạn Ninh là một xã thuần nông, người dân ở đây từ bao đời nay chủyếu sống bằng nghề nông, nhưng do xu thế phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóanhà máy công nghiệp đã mọc lên ở thôn Áng Sơn Hiện nay, đang phát triển thành khucông nghiệp, khu công nghiệp gồm có ba nhà máy sản xuất bao gồm: Sản xuất ximăng, sản xuất gạch block và gạch tuynen Nằm sát khu công nghiệp có các đồi núi đávôi đã và đang được khai thác cung cấp vật liệu xây dựng cho xã nhà cũng như cáctỉnh, thành lân cận
Trang 11Người dân ở hai thôn Áng Sơn, Phúc Sơn chủ yếu làm công nhân cho nhà máy,bên cạnh đó có một bộ phận người dân ở các thôn trong toàn xã Do nhu cầu đời sốngcủa cá nhân và gia đình ngày càng gia tăng nên một số gia đình đã chuyển đổi cơ cấungành nghề và làm thêm nhiều nghề khác nên đã khai thác tối đa các nguồn lực mà xã
có như: Trồng cây công nghiệp, khai thác gỗ, kết hợp nông - lâm - sản từ đó cuộc sốngcủa người dân dần ổn định và khá giả hơn, bộ mặt nông thôn nơi đây ngày một tươimới và khang trang hơn
Vạn Ninh có hai tuyến đường huyết mạch đi qua: Một là tuyến đường sắt thốngnhất Bắc Nam, hai là quốc lộ 15A một nhánh Đông của con đường Trường Sơn huyềnthoại, nay đã được cải tạo nâng cấp thành đường Hồ Chí Minh, ở đây còn có đường 10nối đường Đông Trường Sơn với Tây Trường Sơn[16]
1.1.1.3 Khí hậu
Nhìn chung nhiệt độ tương đối cao, về mùa Đông: thường giao động từ17°C –20°C vào ba tháng 11, 12, 1 dương lịch là những tháng lạnh nhất, có khi có thêm giómùa Đông Bắc tràn về mạnh có rét đậm, rét hại nhiệt độ có lúc thấp xuống 10°C Vềmùa Hè: Nhiệt độ trung bình dao động từ 26°C – 35°C vào các tháng 6, 7, 8 là nhữngtháng nóng, nhất là tháng 6, có khi có gió mùa Tây Nam nhiệt độ có khi lên tới 41°Ctrong thời kì nền kinh tế công nghiệp môi trường bị ô nhiễm khí hậu ngày càng tănglên làm cho nhiệt độ nóng lên 43°C, 44°C [16]
Độ ẩm: Tương đối khá cao, độ ẩm trung bình trong năm vào khoảng từ 82% đến84% Vào tháng 2 tháng 3 là hai tháng có độ ẩm trung bình cao nhất khoảng 90%,lượng mưa: Mùa mưa thường đến chậm hơn so với các tỉnh phía Bắc, nhưng do yếu tốđịa hình ảnh hưởng nên ở xã Vạn Ninh nói riêng và ở tỉnh Quảng Bình nói chung làmột trong những tỉnh có lượng mưa khá cao và có số ngày mưa trong năm khá lớn.Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 2000mm đến 2.500mm, vào tháng 9, 10,
11 là những tháng có lượng mưa cao, nhìn chung thời tiết trong vùng khá ổn định theomùa, riêng mùa Hè ban ngày nhiệt độ có khi cao lên khoảng 41°C, nhưng ban đêm lạigiảm xuống 30°C[16]
1.2 Một số khái niệm liên quan về vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm môi trường
Môi trường là bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố nhân tạo có mối quan hệ mậtthiết với nhau bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và
Trang 12phát triển của con người và thiên nhiên ( Theo Điều 1 Luật bảo vệ Môi trường ViệtNam)
Môi trường theo nghĩa rộng môi trường là các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiếtcho sự sinh sống, sản xuất của con người như: tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất,nước, ánh sáng
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên mà chỉ bao gồmcác nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan đến cuộc sống của con người
Tóm lại môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống vàphát triển
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinhhọc, tồn tại ngoài ý muốn cỉa con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của conngười
1.2.2 Ô nhiễm môi trường
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:"Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường".
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặcnăng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến
sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễmbao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứahoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng
độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến conngười, sinh vật và vật liệu
Trang 13Các dạng ô nhiễm môi trường:
Ô nhiễm môi trường đất: Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của
con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái củaquần xã sống trong đất Môi trường đất là nơi cư trú của con người và hầu hết các sinhvật sống trên cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp vàvăn hóa của con người Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sữ dụng tàinguyên đất và hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lươngthực, thực phẩm cho con người Nhưng với tốc độ gia tăng dân số và tố độ phát triểncủa các khu công nghiệp và hoạt động đô thị hóa như hiện nay thì diện tích đất canhtác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quântrên đầu người ngày càng giảm Riêng chỉ ở Việt Nam thực tế cho thấy suy thoái tàinguyên đất là rất đáng báo động và lo ngại
Ô nhiễm môi trường nước: Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi theo chiều xấu
đi của các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của nước, với sự xuất hiện của các chất lạ
ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại đối với con người và sinh vật Làmgiảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởngthì ô nhiễm môi trường nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm môi trường đất Nước
bị ô nhiễm là do sự phủ dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùngven biển, vùng biển khép kín Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơquá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hóa được Kếtquả là làm cho hàm lượng oxi trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độđục của nước, gây suy thoái thủy vực Ở các đại dương nguyên nhân chính gây ônhiêm môi trường đó la sự cố tràn dầu ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại chấtthải và chất thải công nghiệp được thải ra các con sông mà chưa qua khâu xử lý đúng
Trang 14mức, các loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu ngấm dần vào nguồn nước ngầm vànước ao hồ nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư sống ven sông.
Ô nhiễm môi trường không khí: Ô nhiễm môi trường không khí là sự có mặt một
chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho khôngkhí mất trong lành hoặc gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do khóibụi Hiện nay, ô nhiễm môi trường khí quyển là vấn đề thời sự rất nóng bỏng của cảthế giới chứ không phải của riêng -một quốc gia nào Môi trường khí quyển đang cónhiều biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và hệ sinh vật trên trái đấtnày Hàng năm con người khai thác và sữ dụng hàng tỉ tấn than đá, đầu mỏ, khí đốt.Đồng thời cũng thải ra môi trường một khối lượng rất lớn các chất thải khác nhau như:Chất thải sinh hoạt, chất thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng các loạikhí độc hại tăng lên nhanh chóng
Ô nhiễm phóng xạ: Ô nhiễm phóng xạ do các chất phóng xạ gây ra, làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người
Ô nhiễm tiếng ồn: Ô nhiễm tiếng ồn bao gồm tiếng ồn do xe cộ, máy bay, tiếng ồn
công nghiệp và các loại máy móc cơ khí khác
Ô nhiễm sóng: Là do các loại sóng như sóng điện thoại, truyền hình… Tồn tại với
mật độ lớn
Trang 15CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
TẠI XÃVẠN NINH, HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam và tại địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường tại Việt Nam
2.1.1.1.Ô nhiễm môi trường nước
Hiện Nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trọng việcthực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, những tình trạng ô nhiễmnước là vấn đề rất đáng lo ngại Tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra khánhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nướctrong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghềcàng ngày bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Tính đến năm 2012, cảnước có 289 khu công nghiệp, khu chế xuất, còn có gần 900 cụm công nghiệp Theobáo cáo giám sát của Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỉ lệcác khu công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương rấtthấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như Bà Rịa – Vũng Tàu, Vĩnh Phúc Một số khu côngnghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải tậptrung nhưng hầu như không vận hành
vì để giảm chi phí Bình quân mỗi ngày, cáckhu, cụm, điểm công nghiệp thải rakhoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí vàchất thải độc hại khác Ví dụ nguồn nướcthuộc lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, lượng , chất rắn lơlửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tại hầu hết các rạch, công,các ống xả, hàm lượng chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần, chất rắn lơlửng vượt tiêu chuẩn từ 3-9 lần
Trang 16Mặt khác, có rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnhviện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớntrong thành phố không thu gom hết được…là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễmnguồn nước Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn
là rất nặng Thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 400.000 m³/ngày; lượng rác thải sinh hoạt chưa được thu gom khoảng 1.200 m³/ngàyđang xả vào các khu đất ven hồ, kênh, mương trong nội thành Thành phố Hồ ChíMinh thì lượng rác thải lên tới gần 4000 tấn/ngày; 24/142 cơ sở y tế lớn là có hệ thống
-xử lý nước thải Không chỉ ở 2 thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh mà ở các đô thịkhác như Hải Phòng, Nam Định, Huế, Đà Nẵng, Đồng Nai…nước thải sinh hoạt cũngkhông được xử lý, độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêuchuẩn cho phép Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nôngnghiệp, hiện nay Việt Nam đa số dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạtầng còn lạc hậu, phần lớn rác thải sinh hoạt và các chất thải của gia súc không được
xử lý, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càngcao Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, dẫn đếncác nguồn nước ở sông, mương, ao, hồ bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến lớn môi trường sôngcủa động vật và sức khỏe của con người Ngoài ra, một số làng nghề như sắt thép, đúcđồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhộm cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn mét khối trênngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực Đây làvấn đề rất khó giải quyết khi mà đây chỉ là những làng nghề thủ công, rất là tốn kém vàlãng phí nếu như đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải ở những làng nghề như thếnày[5;6;]
2.1.1.2 Ô nhiễm môi trường không khí
Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đôthị, công nghiệp và các làng nghề ở nước ta hiện nay Ô nhiễm môi trường không khí
có tác động xấu đối với sức khỏe của con người, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và biếnđổi khí hậu… Công nghiệp hóa càng mạnh, đô thị hóa càng phát triển thì nguồn khíthải gây ô nhiễm môi trường không khí ngày càng nhiều, yêu cầu bảo vệ môi trườngkhông khí càng quan trọng Ta có thể chia việc ô nhiễm không khí thành các loại: Ônhiễm bụi, ở hầu hết các đô thị nước ta đều bị ô nhiễm, nhiều nơi ô nhiễm bụi trầmtrọng, tới mức báo động Ô nhiễm bụi chủ yếu là do các hoạt đông giao thông và xây
Trang 17dựng gây ra Nồng độ bụi trung bình của các khu dân cư cạnh đường giao thông lớn vàcác khu công nghiệp đều vượt trị số TCCP từ 1,5-3 lần, các trường hợp cá biệt gần nhàmáy nhiệt điện, nhà máy gạch đều vượt quá từ 5-8 lần Ô nhiễm chì trong không khíảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Theo tiêu chuẩn chất lượng không khí ởViệt Nam, nồng độ chì trong không khí không được vượt quá 0,005mg/m³ Nồng độkhí SO2, CO2, NO2, CO ở một số khu công nghiệp, các nút giao thông lớn thì vượtquá mức độ cho phép nhiều lần [5;6].
2.1.1.3 Ô nhiễm môi trường đất
Đất là tài nguyên quý giá nhất, là tư liệu sản xuất đặc biệt, yếu tố quyết định cấuthành các hệ sinh thái Do nhiều nguyên nhận đất chia làm nhiều loại khác nhau như samạc, núi rừng, đất nông nghiệp và đất đô thị Tùy thuộc vào mức độ đối xử của conngười với đất mà có thê phất triển theo chiều hướng tốt cũng có thể phát triển theochiều hướng xấu đi Nhưng hiện nay ở nước ta mức độ ô nhiễm môi trường đất đangdiễn ra hết sức nghiêm trọng mà chủ yếu do các nguyên nhân sau: Ô nhiễm môi trườngđất do nước bị ô nhiễm: Đất và nước luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau nên việcmôi trường nước bị ô nhiễm cũng đã trực tiếp gây ra những hậu quả xấu cho môitrường đất nước ta Ô nhiễm môi trường đất do chất thải rắn tạo ra: Cùng với sự pháttriển của công nghiệp, đời sống của nhân dân ngày càng tăng lên và đô thị hóa nhanhchóng, lượng chất thải rắn cũng ngày càng tăng Theo thống kê của Cục Hạ tầng Kỹthuật (Bộ Xây dựng), tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên cả nước hiện(năm 2013) vào khoảng 61.500 tấn/ngày Đáng lưu tâm nhất là hiện cả nước chỉ cókhoảng 26,8% số bãi chôn lấp chất thải rắn là đảm bảo vệ sinh, trong tổng gần 460 bãi
Trang 18chôn lấp được giám sát Lượng chất thải chưa được thu gom thì bị đổ trực tiếp ra sôngngòi hoặc được chôn lấp sơ sài do nhiều người dân chưa có ý thức bảo vê môi trườngnên gây ra những hiểm họa tiềm tàng về môi trường và cho sức khỏe của mọi người.Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, nguồnchất thải vào môi trường từ trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hướng gia tăng, trongkhi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả cao Trong đó, lo ngại nhất là chất thải từ chănnuôi Hiện cả nước có 16.700 trang trại chăn nuôi, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sôngHồng (45%) và Đông Nam Bộ (13%), với tổng đàn gia súc 37,8 triệu con và trên 214triệu con gia cầm Theo tính toán của Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn), lượng phân thải của bò khoảng 10 - 15kg/con/ngày, trâu là 15 - 20 kg/con/ngày, lợn là 2,5 - 3,5 kg/con/ngày và gia cầm là 90gr/con/ngày Như vậy, tính ra tổng khối lượng chất thải trong chăn nuôi của nước tahiện khoảng hơn 73 triệu tấn/năm [5;6].
2.1.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường tạixã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề nhức nhối ảnh hưởng đến sự phát triểnkinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Bình nói chung và xã Vạn Ninh nói riêng Vậy màtrong những năm qua chính quyền địa phương cũng hầu như bó tay trong các biệnpháp xử lý, mà có chăng nữa thì cũng chỉ là những giải pháp tạm thời, đối phó trướcmắt với tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng một nghiêm trọng Cùng với những
nỗ lực phát triển kinh tế của địa phương kéo theo đó cũng là tình trạng ô nhiễm môitrường ngày càng cao
Trang 19Tình trạng ô nhiễm môi trường ở xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh QuảngBình đang ngày càng nghiêm trọng, chính quyền xã đã tổ chức nhiều cuộc họp dân bàn
về xử lý rác thải Nhưng do thiếu kinh phí và đất đai nên xã chưa làm được bãi tập kếtrác và lập ra ban thu gom rác thải Vì thế, xã tuy đã tuyên truyền, vận động, tổ chứccho người dân đăng ký cam kết giữ gìn vệ sinh nhưng rác thải vẫn “vô tư” được vứt radọc bờ kênh tràn xuống kênh gây ô nhiễm
Hiện nay, Vạn Ninh đang phát triển thành khu công nghiệp, khu công nghiệp gồm
có ba nhà máy sản xuất bao gồm: Sản xuất xi măng, sản xuất gạch block và gạch tuynen Nằm sát khu công nghiệp có các đồi núi đá vôi đã và đang được khai thác cungcấp vật liệu xây dựng cho xã nhà cũng như các tỉnh chính vì vậy khói bụi, chất thải từcác nhà máy gây ô nhiệm nghiêm trọng cho xã
2.1.2.1 Ô nhiễm môi trường đất
Tình trạng ô nhiễm môi trường ở xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh QuảngBình đang ngày càng nghiêm trọng, chính quyền xã đã tổ chức nhiều cuộc họp dân bàn
về xử lý rác thải Nhưng do thiếu kinh phí và đất đai nên xã chưa làm được bãi tập kếtrác và lập ra ban thu gom rác thải Vì thế, xã tuy đã tuyên truyền, vận động, tổ chứccho người dân đăng ký cam kết giữ gìn vệ sinh nhưng rác thải vẫn “vô tư” được vứt radọc bờ kênh tràn xuống kênh gây ô nhiễm
Không chỉ vậy, người dân ở đây cho biết, tình trạng vứt rác bừa bãi xuống dọc
bờ kênh và ra bờ ruộng vẫn diễn ra nhiều nơi trên 10 thôn của xã, tại thôn Đồn, thônTây nơi có nghề nấu rượu truyền thống và xã có hàng chục điểm giết mổ gia súc tậptrung, đi đến đều thấy ngột ngạt vì ô nhiễm môi trường Những cống rãnh chạy dọcđường làng chứa đầy nước đen ngòm hòa lẫn chất thải từ trâu, bò, lợn bốc mùi khóchịu
Chất thải từ nghề giết mổ lợn, bò lưu cữu hàng chục năm nay ở những ao hồquanh thôn, gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt của người dân Trên toàn xã có đến90% số hộ chăn nuôi lợn, trong đó hàng chục hộ gia đình chăn nuôi từ 10 con lợn thịttrở lên, nước thải từ vệ sinh chuồng trại ước tính 23m³ mỗi ngày [16;17]
Hàng ngày nước thải, chất thải từ các chuồng lợn đều đổ ra vườn và chảy xuốngcác kênh mương nhỏ trong làng dẫn đến ô nhiễm nguồn nước và bốc mùi hôi rất khóchịu Không những thế, trong những đợt dịch lợn, lợn chết được vứt đầy ngoài đồng
Trang 20ruộng, ở những bãi rác , dọc các tuyến đường mà chưa qua xử lý, mùi hôi thối bốc lêngây khó chịu cho mọi người.
Bảng 2: Năm 2015 tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn toàn xã
sinh hoạt, chăn nuôi của các hộ trong thôn đều đổ ra kênh Trong đó lượng nước thảilớn nhất là từ chăn nuôi lợn
Tương tự, thôn Sỏi, xã Vạn Ninh nước thải, chất thải chăn nuôi cũng chảy đen đặc
các rãnh thoát nước và thùng vũng của thôn Ông Dương Văn Thanh nói: “Thôn có khoảng 10 hộ nuôi bình quân hơn 100 con lợn/lứa Những hộ này đều xây hầm biogas nhưng dung tích nhỏ, xử lý chất thải không xuể Các hộ để tràn ra mương nội đồng làm một số ruộng lúa bị ảnh hưởng”.
Tình trạng ô nhiễm do chất thải chăn nuôi nông hộ gây ra đang là vấn đề đáng báođộng tại khu dân cư nhất là các vùng nông thôn Hộ bà Nguyễn Thị Dy, thôn Đồn, xãVạn Ninh nhà ở cạnh kênh nước ô nhiễm nên mỗi khi nắng nóng, mùi xú uế từ kênhbủa vây khắp nhà Hầu như bà Dy không dám mở cánh cửa sổ sau nhà
Chị Đỗ Thị Hoa, thôn Giữa chia sẻ: “Gia đình tôi cách chuồng nuôi lợn của hộ bên cạnh chỉ một bức tường nên chất thải ảnh hưởng rất nặng Tôi đã nhắc nhở nhiều lần nhưng 5 năm qua tình trạng này vẫn chưa được khắc phục” Quan sát
quanh nhà chị Hoa, nước phân lợn tràn ra lối đi của gia đình chị, chảy xuống ứ đọng
ở các mương tưới Anh Dương Văn Quyết, cùng thôn phản ánh: “Nước thải chăn nuôi của hộ liền kề đã làm nước giếng của gia đình tôi có mùi khác thường nhưng cả nhà vẫn phải dùng Những hôm nước nặng mùi quá tôi phải đi xin nước của nhà khác”.
Vạn Ninh là một xã có trên 95% là người dân sống bằng nghề sản xuất nông
Trang 21hoá học để tăng năng suất cây trồng, phát triển kinh tế nông nghiệp , đảm bảo an ninhlương thực trong toàn xã đã tác động đến môi trường nói chung cũng như môi rườngđất nông nghiệp nói riêng Hiện nay môi trường nông thôn , sinh thái đồng ruộng đangchịu sức ép lớn của hoá chất nông nghiệp đó là sử dụng phân bón hoá học và hoá chấtbảo vệ thực vật[12;16;17].
Để đánh giá hoá chất bảo vệ thực vật tồn dư trong đất, sau đây là bảng kết quảphân tích của Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường Quảng Bình
Bảng 3: Dư lượng hoá chất BVTV trong đất
Đ1: Đất khu vực xã Quảng Phong, huyện Quảng Trạch
Đ2: Đất khu vực xã Phong Hoá, huyện Tuyên Hoá
Đ3: Đất khu vực thị trấn Quy Đạt, huyện Minh Hoá
Đ4: Đất khu vực xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh
Đ5: Đất khu vực thị trấn Kiến Giang ,huyện Lệ Thuỷ
Đ6: Đất khu vực phường Phú Hải, Thành phố Đồng Hới
Đ7: Đất khu vực xã Đại Trạch , huyện Bố Trạch
Qua kết quả phân tích, so sánh với QCVN 15-2008/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuậtquốc gia về dư lượng hoá chất BVTV trong đất cho thấy tất cả các mẫu đất lấy đạidiện cho toàn bộ nông nghiệp trong toàn tỉnh đã được phân tích không có mẫu nào cóchỉ tiêu hoá chất BVTV vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy định Tuy nhiên, đã có
sự khác nhau giữ một số chỉ tiêu phân tích trong các mẫu đất cụ thể:
Trang 22Đại diện cho nhóm BVTV họ clo hữu cơ trong đất: đây là hợp chất hữu cơ rắn vàbền trong môi trường đất, ít tan trong nước và có áp lực mạnh với lipit, chúng đượctích luỹ trong cơ thể, do đó gấy độc mãn tính với các triệu chứng nhiễm độc thần kinh
là chủ yếu Có một số chỉ tiêu đại diện được phát hiện là có sự chênh lệch về nồng độnhư sau:
4’4-DDT trong đất xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh là cao nhất (1,8 µg/kg đất)cao hơn so với các vùng khác như Đồng Hới (<0,1µg/kg đất) là thấp nhất, các huyệncòn lại 4’4- DDT cũng đã được phát hiện nhưng nồng độ cồn thấp và xấp xỉ nhau [12].Khu vực xã Vạn Ninh là vùng đồi núi, đá vôi với trữ lượng lớn Những năm vừaqua , tại đây khai thác khoáng sản phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau đã làmcho đất đai của vùng bị đào xới, làm thay đổi tính chất của đất, đất bị ô nhiễm thoáihoá và xuống cấp trầm trọng
Tại khu vực khai thác đá xây dựng thôn Áng Sơn thuộc xã Vạn Ninh, huyệnQuảng Ninh được quy hoạch là cụm công nghiệp vật liệu xây dựng (sản xuất xi măng,clinke) Đá được khai thác bằng phương pháp thủ công và nổ mìn với quy mô lớn.Ngoài ra còn khu đập nghiền, xay sàng đá, sản xuất đá dăm rải ra đường Khai thácthường sử dụng xe cơ giới tải trọng lớn, các loại xe này khi vận hành sẽ cày xới mặtđất, phá nát thảm thực vật, phá huỷ kết cấu tầng mặt đất gây tác động tiêu cực đếnmôi trường Với điều kiện đất bề mặt bị phá huỷ, tạo khe rãnh thì gió và các dòngnước tạm thời sẽ làm gia tăng hoạt động thổi mòn và xói mòn, đưa bụi và trầm tíchđến các vùng trũng gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái
Hầu hết các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn nằm rải rác thậm chí các nhà máy sảnxuất gạch tuynen nằm xen kẽ trong vùng dân cư chưa có quy hoạch tập trung Các cơ
sở sản xuất trong tình trạng công nghệ lạc hậu chưa có điều kiện đổi mới công nghệ dovậy lượng chất thải gây ô nhiễm trong đất
Ô nhiễm từ các nhà máy sản xuất xi măng, nước thải được chảy vào bể lắng, sau
đó dẫn ra mương và chảy thẳng ra đồng ruộng Người dân trong vùng lại sử dụng nướcnày để tưới cây công nghiệp dẫn đến hậu quả đất trồng bị suy thoái
2.1.2.2 Ô nhiễm nguồn nước
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lựcngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước ởnhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải