1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo thực tập QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

67 256 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 533,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP VÀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNGBất cứ một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không thể chỉ dựa vào nền sản xuất trong nước mà còn phải quan hệ với các nước bên ngoài. Do có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu...mà mỗi quốc gia có thế mạnh trong việc sản xuất một số mặt hàng nhất định. Để đạt được hiệu quả kinh tế đồng thời đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày một đa dạng ở trong nước, các quốc gia đều mong muốn có được những sản phẩm chất lượng cao với giá rẻ hơn từ các nước khác đồng thời mở rộng được thị trường tiêu thụ đối với các sản phẩm thế mạnh của mình. Chính từ mong muốn đó đã làm nảy sinh nhu cầu mua bán trao đổi quốc tế (hay thương mại quốc tế).

Trang 1

- -BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG

XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG

Đà Nẵng, tháng 12 năm 2018

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG 5

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 6

MỞ ĐẦU 7

1 Tính cấp thiết của đề tài 7

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Kết cấu của đề tài 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 10

1.1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XNK 10

1.1.1 Khái niệm, vai trò và các loại hình XNK 10

1.2.2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động XNK 12

1.1.3 Nội dung quản lí nhà nước đối với hoạt động XNK 15

1.1.4 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về hoạt động XNK 25

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VỀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XNK 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 32

2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 32

2.2 TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2012-2016 36

2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XNK TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 38

2.3.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách và những quy định pháp luật về hoạt động XNK 38

2.3.2 Thiết lập và sử dụng hiệu quả công cụ quản lí XNK 39

Trang 3

2.3.3 Tổ chức bộ máy về hoạt động XNK 422.3.4 Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với hoạtđộng XNK 452.4 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠTĐỘNG XNK TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 492.4.1 Kết quả đạt được trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạtđộng XNK 492.4.2 Hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạtđộng XNK 50

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 53

3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠTĐỘNG XNK CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 533.1.1 Định hướng quản lý nhà nước đối với hoạt động XNK của thành phố

Đà Nẵng 533.1.2 Mục tiêu quản lý nhà nước đối với hoạt động XNK của thành phố ĐàNẵng 553.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚCĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XNK TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG 553.2.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách và những quy định phápluật về hoạt động XNK 553.2.2 Thiết lập và sử dụng công cụ quản lí XNK 573.2.3 Cơ chế, bộ máy quản lý XNK 583.2.3 Công tác kiểm tra, thanh tra, hậu kiểm, giám sát hoạt động XNK củacác doanh nghiệp trên địa bàn thành phố 593.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 60

KẾT LUẬN 62

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AFTA Khu vực Thương mại Tự do ASEAN

APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

C/O Chứng chỉ xuất xứ

CHXHCN Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

CIEM Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

CNTT Công nghệ thông tin

EVFTA Hiệp Định Thương Mại Tự Do Việt Nam - Eu

FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA Hiệp Định thương mại tự do

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn

GTGT Giá trị gia tăng

IoT Sự kết nối vạn vật

KTCN Kiểm tra chức năng

TBT Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật đối với Thương mại

TMQT Thương mại quốc tế

VNACCS/VCIS Hệ thống thông quan tự động

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tran g

Bảng 2.1 Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài được cấp giấy phép 37Bảng 2.2 Cơ cấu nhóm ngành hàng xuất khẩu 39Bảng 2.3 Trị giá hàng hóa XK trên địa bàn phân theo loại hình

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không thể chỉ dựa vào nềnsản xuất trong nước mà còn phải quan hệ với các nước bên ngoài Do có sự khácnhau về điều kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu mà mỗi quốc gia có thếmạnh trong việc sản xuất một số mặt hàng nhất định Để đạt được hiệu quả kinh

tế đồng thời đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày một đa dạng ở trong nước,các quốc gia đều mong muốn có được những sản phẩm chất lượng cao với giá rẻhơn từ các nước khác đồng thời mở rộng được thị trường tiêu thụ đối với các sảnphẩm thế mạnh của mình Chính từ mong muốn đó đã làm nảy sinh nhu cầu muabán trao đổi quốc tế (hay thương mại quốc tế)

Hoạt động thương mại quốc tế thông qua mối quan hệ rộng rãi vượt rangoài biên giới quốc gia sẽ là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh

tế bên ngoài, đồng thời tạo ra động lực thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế ở mỗikhu vực và trên toàn thế giới

Vì thế bất cứ quốc gia nào cũng coi trọng đến XNK Đối với Việt Nam,ngoài những đặc điểm nêu trên chúng ta còn có những nét đặc thù riêng đó lànền kinh tế có xuất phát điểm thấp, cơ sở hạ tầng kĩ thuật lạc hậu, công nghệ thủcông đang rất cần được đổi mới, bên cạnh đó tiềm lực XK lại lớn nhưng chưađược khai thác hiệu quả Tất cả những điều này cho thấy hoạt động XNK đối vớinước ta càng quan trọng hơn

Tọa lạc tại vị trí chiến lược,Việt Nam nằm giữa vùng kinh tế sôi động bậcnhất thế giới, có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển tất cảloại hình vận tải hàng hóa Lợi thế vị trí này cho phép VN phát triển hệ thống hạtầng và mạng lưới cung ứng dịch vụ vận tải biển phục vụ hoạt động giao thươngnội địa cũng như với khu vực Đông Nam Á, châu Á và trên toàn cầu Với vị trítrung độ của cả nước và là cửa ngõ phía đông của tuyến Hành lang kinh tế ĐôngTây, một trong năm hành lang kinh tế được phát triển theo sáng kiến của Ngânhàng Phát triển Châu Á ở khu vực tiểu vùng sông Mê Kông Đà Nẵng có nhiềuthuận lợi trong chiến lược phát triển kinh tế giao thương với các nước trong khuvực, vừa là đầu ra, vừa là đầu vào quan trọng cho hàng hóa của Thái Lan,Myanmar, Lào và các nước lân cận như Trung Quốc, Campuchia Các trung tâmkinh doanh - thương mại của các nước vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dươngđều nằm trong phạm vi bán kính 2000 km từ thành phố Đà Nẵng.Trong nhiềunăm qua sức tăng trưởng của thành phố tăng lên đáng kể về toàn diện, tốc độtăng trưởng đạt mức cao Kết cấu hạ tầng ngày càng được chú trọng đầu tư pháttriển đồng bộ Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, thếmạnh của thành phố; sức cạnh tranh và hiệu quả trên một số lĩnh vực còn thấp

Đà Nẵng, có quy hoạch khu công nghiệp nằm gần trung tâm thành phố nơi cóngành công nghệ thông tin (CNTT) phát triển mạnh mẽ, nơi tập trung các doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực XK phần mềm lớn nhưng chủ yếu là gia công

Trang 9

sản phẩm phần mềm cho thị trường Nhật và Mỹ và năng lực quản lý, nguồnnhân lực chất lượng cao, công nghệ kỹ thuật chưa phát triển.

Thời gian qua, Nhà nước CHXHCN Việt Nam nói chung và thành phố ĐàNẵng nói riêng, đã tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động XNK, song trongbối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay, quản lý nhà nước về hoạt độngXNK còn biểu hiện nhiều vấn đề bất cập Vì vậy, việc hoàn thiện công tác quản

lý nhà nước về hoạt động XNK hàng hóa trong thời gian tới là một yêu cầu cấpthiết Xuất phát từ lý do đó, tác gia đã chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về hoạtđộng XNK trên địa bàn Tp Đà Nẵng” làm đề tài báo cáo của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận chung quản lý nhà nước về hoạt độngXNK

- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động XNK tại Tp ĐàNẵng

- Đề xuất quản lý để hoàn thiện việc quản lý nhà nước về hoạt động XNKtại Tp Đà Nẵng trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: tất cả những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quanđến quản lý hoạt động XNK tại Tp Đà Nẵng

- Phạm vi nghiên cứu: Quản lý nhà nước về hoạt động XNK gồm rất nhiềuvấn đề, tuy nhiên trong khuôn khổ của báo cáo, chỉ tập trung nghiên cứu một sốvấn đề liên quan đến các chính sách quản lý và công cụ quản lý của Nhà nướcđối với hoạt động XNK nói chung và hoạt động XNK tại Tp Đà Nẵng nói riêng

 Về không gian: báo cáo nghiên cứu quản lý nhà về hoạt động XNK tại

Tp Đà Nẵng

 Về thời gian: các giải pháp đề xuất trong báo cáo có ý nghĩa trong giaiđoạn từ nay đến năm 2025

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, báo cáo sử dụng phương pháp sauđây:

- Phương pháp thu thập tài liệu, dữ liệu sơ cấp: sưu tầm, tra cứu thu thập vàchọn lọc thông tin từ giáo trình, sách báo chuyên ngành, các tạp chí, nghiên cứukhoa học, công trình nghiên cứu và tài liệu có liên quan; khai thác số liệu trongniên giám thống kê thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2016, số liệu các

đề án, quy hoạch của thành phố Đà Nẵng, các báo cáo tình hình kinh tế xã hộicủa thành phố và số liệu hoạt động XNK của doanh nghiệp tại cục Hải quanthành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2016

Trang 10

- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: dựa trên dữ liệu thu thập được

để tổng hợp, phân tích tình hình XNK và quản lý nhà nước về XNK tại địaphương từ đó đưa ra kết luận, rút kinh nghiệm qua thực tiễn trên cơ sở đó xácđịnh những định hướng, mục tiêu và đề ra khuyến nghị đối với cơ quan nhànước thực hiện quản lý nhà nước về XNK tại thành phố Đà Nẵng

- Phương pháp khác

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo Bố cục đề tài này còn

có nội dung chính như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạtđộng xuất nhập khẩu

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động XNKtrên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối vớihoạt động XNK trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 1.1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XNK

1.1.1 Khái niệm, vai trò và các loại hình XNK

- Khái niệm: là một hoạt động kinh tế phản ánh sự trao đổi hàng hóa và

dịch vụ giữa trong nước và nước ngoài thông qua việc mua, bán hàng hóa vàdịch vụ qua biên giới quốc gia Mục tiêu chính của ngoại thương là tạo ra cầunối giữa cung, cầu hàng hóa dịch vụ của thị trường trong và ngoài nước Vì vậyhoạt động kinh doanh XNK là việc bỏ vốn vào thực hiện các hoạt động trao đổihàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia nhằm mục đích thu được lợi nhuận Đâychính là mối quan hệ xã hội nó phản ánh sự không thể tách rời các quốc gia.Cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyên môn hoá ngày càng tăng, cùng với

sự đòi hỏi về chất lượng sản phẩm và dịch vụ của khách hàng ngày càng đa dạng

và phong phú thì sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng

- Vai trò của hoạt động XNK

Hoạt động XNK đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng vàphát triển của bất kỳ một quốc gia nào Hoạt động XNK mang lại nguồn tàichính rất lớn cho đất nước Chúng ta có thể tóm gọn lại vai trò của XNK đối với

sự tăng trưởng và phát triển của một quốc gia qua những điểm sau đây:

+ Thông qua việc XK các mặt hàng có thế mạnh chúng ta sẽ có khả năngphát huy được lợi thế so sánh, sử dụng tối đa và hiệu quả các nguồn lực có điềukiện trao đổi kinh nghiệm cũng như tiếp cận được với các thành tựu khoa họccông nghệ tiên tiến trên thế giới Đây chính là vấn đề mấu chốt của công nghiệphoá hiện đại hoá Áp dụng công nghệ tiên tiến hiện đại trong các ngành chế tạo

và chế biến hàng XK sẽ tạo được những sản phẩm có chất lượng cao mang tínhcạnh tranh trên thị trường thế giới Khi đó sẽ có một nguồn lực công nghiệp mớicho phép tăng số lượng, chất lượng sản phẩm, đồng thời tiết kiệm được chi phílao động của xã hội

+ Tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động, từ đó kết hợp hài hoàgiữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội, góp phần tạo ra nhữngbiến chuyển tốt để giải quyết những vấn đề còn bức xúc trong xã hội

+ Tăng thu ngoại tệ tạo nguồn vốn cho đất nước và cả cho NK phục vụ sựnghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Đồng thời cải thiện cán cânthanh toán, cán cân thương mại, tăng dự trữ ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước vàqua đó tăng khả năng NK nguyên liệu, máy móc thiết bị tiên tiến thay thế dầncho những thiết bị lạc hậu còn đang sử dụng, để phục vụ cho sự nghiệp pháttriển kinh tế của đất nước

Trang 12

+ XNK tất yếu dẫn đến cạnh tranh Nhờ có cạnh tranh thúc đẩy doanhnghiệp cải tiến công nghệ để có khả năng sản xuất những sản phẩm, dịch vụ cóchất lượng cao, tạo ra năng lực sản xuất mới Vì vậy, các chủ thể tham gia XKcần phải tăng cường theo dõi kiểm soát chặt chẽ lẫn nhau để không bị yếu thếtrong cạnh tranh.

+ Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực XNK, nâng cao uy tín và vị thế củađất nước trên thị trường quốc tế Khi hoạt động XNK xuất phát từ nhu cầu thịtrường thế giới nó sẽ đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩysản xuất phát triển thể hiện ở một số điểm sau:

Tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ làm cho sản xuất phát triển và

Tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật hiện đại

- Một số loại hình của hoạt động XNK

XNK trực tiếp.

Hoạt động XNK trực tiếp còn gọi là hoạt động XNK tự doanh là việcdoanh nghiệp kinh doanh XNK hàng hoá do doanh nghiệp mình sản xuất haythu gom được cho khách hàng nước ngoài và ngược lại Hoạt động XNK diễn rasau khi doanh nghiệp nghiên cứu kỹ thị trường, tính toán đầy đủ các chi phí vàđảm bảo tuân theo chính sách Nhà nước và luật pháp quốc tế

Đặc điểm: Doanh nghiệp XNK trực tiếp phải tự bỏ vốn, tự chịu mọi chiphí, chịu mọi trách nhiệm và chịu rủi ro trong kinh doanh

XNK uỷ thác.

Là hình thức XNK trong đó đơn vị tham gia XNK đóng vai trò trung giancho một đơn vị kinh doanh khác tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng bán hànghoá với đối tác bên ngoài XNK uỷ thác hình thành giữa một doanh nghiệp trongnước có nhu cầu tham gia XNK hàng hoá nhưng lại không có chức năng thamgia vào hoạt động XNK trực tiếp và phải nhờ đến một doanh nghiệp có chứcnăng XNK được doanh nghiệp có nhu cầu uỷ quyền Doanh nghiệp XNK trunggian này phải làm thủ tục và được hưởng hoa hồng

Trang 13

Đặc điểm: Doanh nghiệp nhận uỷ quyền không phải bỏ vốn, không phảixin hạn ngạch mà chỉ đứng ra khiếu nại nếu có tranh chấp xảy ra.

XNK hàng đổi hàng.

Là hình thức XK gắn liền với NK, người mua đồng thời cũng là người bán.Đặc điểm: Hình thức XNK này doanh nghiệp có thể thu lãi từ hai hoạtđộng nhập và xuất hàng hoá Tránh được rủi ro biến động đồng ngoại tệ Tronghình thức XNK hàng đổi hàng khối lượng, giá trị nên tương đương nhau thì cólợi cho doanh nghiệp khi tham gia vận chuyển, hình thức XNK này được nhànước khuyến khích

XNK liên doanh.

Là một hoạt động XNK hàng hoá trên cơ sở liên kết một cách tự nguyệngiữa các doanh nghiệp (ít nhất là một doanh nghiệp có chức năng XNK) nhằmphối hợp khả năng sản xuất -> XNK trên cơ sở các bên cùng chịu rủi ro và chia

1.2.2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động XNK

* Khái niệm, tính tất yếu khách quan của quản lý nhà nước đối với hoạt động XNK

- Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động XNK

Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động XNK, trước hết

cần làm rõ khái niệm “quản lý” và “quản lý nhà nước”.

Khái niệm Quản lý là một thuật ngữ khá đa dạng và phức tạp, hiện nay cónhiều cách giải thích khác nhau Theo phương Tây, từ quản lý management cónguồn gốc Italia “managgiare” và bản thân từ này lại được rút từ chữ La tinh

“manus”, nghĩa là bàn tay Theo từ gốc, thực hiện quản lý là “nắm vững trongtay”, “điều khiển bàn tay”

Quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ thống

đó đến trạng thái cần đạt được Quản lý là một phạm trù xuất hiện trước khi cóNhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung đượcthực hiện ở quy mô lớn Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời vớilao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động “Bất kỳ laođộng xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành trên quy môtương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp

Trang 14

những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung Một nhạc công

tự điều khiển mình nhưng một dàn nhạc cần phải có nhạc trưởng”

Như vậy, quản lý xã hội không phải là sản phẩm của sự phân chia quyềnlực, mà là sản phẩm của sự phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp hoạtđộng chung của con người; Là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhànước, quản lý nhà nước ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội

“Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, là sự tổ chức và quản lý sự vụ

hữu quan của mội tổ chức và đoàn thể xã hội, được thực hiện bởi tất cả các cơquan nhà nước Theo nghĩa hẹp, là hoạt động quản lý hành chính do Chính phủđại diện Nhà nước thực thi và đảm bảo bằng sức cưỡng chế của Nhà nước Nókhác về tính chất với sự quản lý sự vụ hành chính trong toàn thể xã hội, đơn vị

xí nghiệp Quản lý hành chính tồn tại trong đời sống thực tế, đều là sự tổ chức

và quản lý sự vụ cụ thể chuyên môn”

Quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng

bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và để thi hành phápluật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhànước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lýnhà nước) Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao độngnhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý

Như vậy quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà

nước, được sử dụng quyển lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản

lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành chiến lược, quy hoạch,chính sách, pháp luật đến việc chỉ đạo, tổ chức hoạt động của đối tượng bị quản

lý và kiểm soát đối với đối tượng quản lý

Quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng

pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quảnhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạtđược các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và

mở rộng giao lưu quốc tế Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dượcthực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhànước Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt độngquản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi

cơ quan hành pháp (Chính phủ)

Như vậy quản lý nhà nước đối với kinh tế bao gồm các chức năng địnhhướng; điều tiết, điều hòa phối hợp hoạt động giữa các ngành, các lĩnh vực,doanh nghiệp và kiểm tra, kiểm soát nhằm thiết lập kỉ cương trong hoạt độngkinh tế

Từ đây ta có “Quản lý nhà nước về hoạt đông XNK” là sự tác động của

Nhà nước lên các chủ thể chịu trách nhiệm về hoạt động XNK thông qua quátrình xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; xây dựng và tổ chức thực hiện

Trang 15

chính sách và quy định pháp luật; thiết lập và sử dụng hiệu quả công cụ XNK; tổchức bộ máy quản lý nhà nước về XNK; kiểm tra, kiểm soát hoạt động XNK,tạo ra môi trường thuận lợi nhất để hoạt động XNK phát triển đúng định hướngphát triển kinh tế xã hội của quốc gia, có hiệu quả một cách bền vững trong điềukiện biến động của môi trường trong nước và thương mại quốc tế”

- Tính tất yếu khách quan của quản lý nhà nước đối hoạt động XNK

- Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và việc hội nhập vào các tổchức tự do hoá mậu dịch AFTA, APEC đã đưa hoạt động kinh doanh XNK củanước ta sang một giai đoạn phát triển mới có nhiều thuận lợi nhưng cũng không

ít khó khăn Do đó đòi hỏi phải điều chỉnh lại cách thức quản lí của hoạt độngXNK để hoạt động XNK thực sự mang lại hiệu quả to lớn cho việc phát triểnkinh tế xã hội đất nước

- Hướng tới sự tăng trưởng bền vững, đó là mục tiêu chung của các quốcgia, chính vì vậy hoạt động thương mại quốc tế(TMQT) đóng vai trò hết sứcquan trọng đối với các quốc gia vì nó mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùngcủa một quốc gia TMQT cho phép một nước tiêu dùng, các mặt hàng với sốlượng nhiều hơn nữa có thể sản xuất ra tại ranh giới của khả năng sản xuất trongnước khi thực hiện chế độ cung tự cấp, không buôn bán với nước ngoài

- Mỗi doanh nghiệp, mỗi nhà quản trị doanh nghiệp hoạt động trong mộtkhuôn khổ hạn hẹp, hướng tới mục tiêu kinh tế cụ thể nên tầm nhìn xa trôngrộng để định hướng cho sự phát triển bị hạn chế Vì thế doanh nghiệp cần sự hỗtrợ của Nhà nước để thực hiện chiến lược kinh doanh của mình

- Sự tác động của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở phạm

vi quốc gia cũng như quốc tế mang tính trực tiếp Sự tác động đó làm cho nềnkinh tế của mỗi quốc gia cũng như kinh tế toàn cầu hoạt động năng động, kíchthích các nền kinh tế phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả

- Năng lực cạnh tranh của các nước nhỏ còn yếu kém trên trường quốc tế

Ví dụ năng lực cạnh tranh của Việt Nam cải thiện tích cực nhưng vẫn thiếu tínhbền vững bởi còn có chỉ số trong nhiều năm chưa có cải cách nào hoặc có cảicách nhưng chậm và cách xa so với các nước trong khu vực Vì vậy, để thựchiện các mục tiêu công nghiệp hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cầnhoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động XNK

Trước tình hình đó, đòi hỏi cần phải hoàn thiện công tác quản lý nhà nước

về XNK để đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững Phát huy lợi thếtuyệt đối trong các ngành kinh tế mũi nhọn, chủ động xây dựng kế hoạch nhằmtạo ra cơ hội và chủ động giải quyết khó khăn thách thức

Khái niệm trên bao gồm các yếu tố sau:

Trang 16

- Mục tiêu của quản lý nhà nước về hoạt động XNK là phát triển hoạt độngXNK theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” theotinh thần Đại

- Chủ thể: Các cơ quan luật pháp, hành pháp từ TW đến địa phương

- Đối tượng điều chỉnh: Các DN sản xuất, kinh doanh XNK và hàng hóa –dịch vụ XNK

- Công cụ điều chỉnh: Chính sách thương mại

Hình 1 Sơ đồ điều chỉnh chính sách thương mại 1.1.3 Nội dung quản lí nhà nước đối với hoạt động XNK

* Định hướng phát triển cho hoạt động XNK

Với vai trò là công cụ hoạch định, nên cả chiến lược, quy hoạch và kếhoạch phát triển đều giống nhau ở chức năng định hướng quá trình phát triểnkinh tế - xã hội Tuy nhiên, sự khác biệt là ở chỗ: việc đảm nhận chức năng địnhhướng phát triển của mỗi công cụ này ở các vị trí, mức độ, phạm vi khác nhautrong toàn bộ lộ trình thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tếthị trường

Chiến lược phát triển hoạt động XNK là tập hợp các quyết định về các

mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mụctiêu đã đề ra nhằm thể hiện những quan điểm, tầm nhìn, mục tiêu của Nhà nước

Trang 17

về hoạt động XNK để đưa ra những sự lựa chọn về hướng và cách đi tối ưumang tính tổng thể trong lộ trình phát triển dài hạn cho hoạt động XNK.

Quy hoạch phát triển cho hoạt động XNK là quá trình sắp xếp, bố trí các

đối tượng quy hoạch vào một không gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu của

kế hoạch đã đề ra, xây dựng khung vĩ mô về tổ chức không gian để chủ độnghướng tới mục tiêu đạt hiệu quả cao về hoạt động XNK nhằm cụ thể hóa chiếnlược XNK

Kế hoạch phát triển hoạt động XNK là các công cụ quản lý và điều hành

hoạt động XNK, là một tập hợp những hoạt động, công việc được sắp xếp theotrình tự nhất định để đạt được mục tiêu đã đề ra Nó xác định một cách có hệthống những hoạt động nhằm đạt mục tiêu, chỉ tiêu và các cơ chế chính sách củahoạt động XNK trong một thời kỳ nhất định Kế hoạch có chức năng cụ thể hóacác tầm nhìn chiến lược phát triển XNK và mục tiêu của quy hoạch XNK đểtừng bước thực hiện và biến chiến lược, quy hoạch thành thực tế

Chiến lược phát triển XNK của Việt Nam là đề ra mục tiêu là: “Nỗ lực giatăng tốc độ tăng trưởng XK, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ; chuyển dịch cơ cấu XK theo hướng nâng caogiá trị gia tăng, gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, các loại sản phẩm có hàmlượng công nghệ và chất xám cao, thúc đẩy XK dịch vụ; mở rộng và đa dạnghóa thị trường và phương thức kinh doanh; hội nhập thắng lợi vào kinh tế khuvực và thế giới”

Định hướng phát triển cho hoạt động XNK Việt Nam phải coi hoạt độngXNK trở thành một qui luật tất yếu khách quan và được xem như là một điềukiện tiền đề cho sự phát triển kinh tế của nền kinh tế, tạo tiền đề cho sự pháttriển nói chung Việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triểnhoạt động XNK phải phù hợp với định hướng của Đảng về hoạt động này, phảnánh mục tiêu của Nhà nước và kế hoạch dài hạn để đạt được mục tiêu của Nhànước về hoạt động XNK

Kết quả của việc xây dựng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch được đánh giáqua các tiêu chí:

- Mức độ ban hành chiến lược, kế hoạch, quy hoạch của thành phố có đầy

Trang 18

* Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách và quy định pháp luật

về XNK

- Quan điểm lãnh đạo của Đảng về hoạt động XNK

Tại Đại hội X, Đảng ta đã nhấn mạnh chủ trương “chủ động và tích cực hộinhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác” Ngày05-02-2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết

số 08-NQ/TW “Về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triểnnhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thếgiới” Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề

ra đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, trong đó cóchủ trương rất quan trọng là “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” Từ “hộinhập kinh tế quốc tế” của các kỳ đại hội trước, chuyển sang “hội nhập quốc tế”một cách toàn diện là một phát triển quan trọng về tư duy đối ngoại của Đảng tatại Đại hội XI Ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/

TW về hội nhập quốc tế Đây là văn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, làm

rõ và thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về hội nhập quốc tế trongtình hình mới Nghị quyết đã xác định rõ hội nhập quốc tế sẽ được triển khai sâurộng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với yêu cầu đổi mới

mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế

Để khuyến khích hoạt động sản xuất và giao lưu thương mại, Nhà nước đãban hành Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế (1989) tạo khuôn khổ pháp lý cho cáchành vi giao dịch kinh tế trên thị trường Thực hiện chính sách xoá bỏ chỉ tiêupháp lệnh và tiếp tục xoá bỏ chế độ Nhà nước độc quyền ngoại thương, thoátdần ra khỏi cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, từng bước theo cơ chế thịtrường Bộ luật Dân sự (2015) và Luật thương mại (2005) ra đời tạo hành langpháp lý ổn định cho hoạt động XNK

Về cơ bàn Nhà nước đã từng bước xóa bỏ chế độ độc quyền ngoại thương,biện pháp nới lỏng về quản lý ngoại hối, xây dựng môi trường pháp lý, tạo điềukiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thanh toán với đối tác nướcngoài, những rào cản phi thuế quan như chế độ hạn ngạch, đầu mối XNK cũngdần được dỡ bỏ

- Ban hành và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về XNK

Hoạt động XNK được tiến hành dưới sự quản lý của Nhà Nước trên cácnguyên tắc: Tuân thủ luật pháp Việt Nam, các chính sách có liên quan (chínhsách mặt hàng, chính sách thuế, chính sách bảo hộ sản xuất trong nước, v v )

và các quy định của Nhà nước về sản xuất, lưu thông và quản lý thị trường; Tôntrọng luật pháp và tập quán thương mại quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kếtbên ngoài; Bảo đảm tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp trong việc đáp ứngkịp thời nhu cầu của thị trường trong nước và nước ngoài, đồng thời bảo đảm sựkiểm soát của Nhà nước

Trang 19

Vì vậy cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về XNK của Việt Nam phù hợpvới thực tế đặt ra và thông lệ quốc tế Đồng thời Nhà nước thông qua hệ thốngpháp luật và công cụ quản lý để tác động vào các hoạt động XNK nhằm hướnghoạt động này đi đúng mục tiêu đã xác định.

Các quy định về Luật quản lý ngoại thương được Quốc hội ban hành thôngqua luật số 05/2017/QH14 như các biện pháp kỹ thuật là các biện pháp áp dụngvới hàng hóa XK, NK theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hànghóa, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm, đo lường Các biệnpháp kiểm dịch bao gồm các biện pháp kiểm dịch động vật và các sản phẩm từđộng vật, kiểm dịch thực vật và kiểm dịch y tế biên giới theo quy định của phápluật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, thú y, phòng, chống bệnh truyền nhiễm.Các biện pháp phòng vệ thương mại; các biện pháp khẩn cấp trong hoạt độngngoại thương; các biện pháp phát triển hoạt động ngoại thương; giải quyết tranhchấp… Các bộ ngành và các cơ quan liên quan có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽvới nhau trong quá trình thực thi các văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạtđộng XNK

- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách XNK

Chính sách XNK là hệ thống các quan điểm, chuẩn mực, thế chế vàphương thức mầ nhà nược sử dụng, tác động và chủ thế XNK và thị trường đểđiều chỉnh hoạt động XNK nhằm đặt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hộitrong từng thời kỳ nhất định Chính sách là một bộ phận cấu thành của chiếnlược kinh tế đối ngoại của quốc gia Tùy theo yêu cầu đặt điểm phát triển đátnước trong từng thời kỳ, mỗi quốc gia hình thành chính sach XNK theo mục tiêuriêng Tuy nhiên, nghiên cứu tiến trình phát triển kinh tế thế giới, có thể thất cácnước đã và đang thực hiện một số mô hình chiến lược XNK chung nhất, đó làsản xuất thay thế NK, XK sản phẩm thô và cơ chế, công nghiệp hóa hướng vào

XK hoặc chiến lược phát triển XNK hỗn hợp… Vì vậy, cần phải xây dựng vàhoàn thiện hệ thống chính sách XNK phù hợp với đường lối phát triển kinh tế -

xã hội; điều kiện trong nước và quốc tế, năng lực sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp XNK; dự báo tính hình thị trường và các yếu tố liên quan Hệthống chính sách này sẽ tác động lên toàn bộ các nguồn lực, các mối quan hệ,giao dịch của các chủ thể tham gia hoạt động XNK để làm cho các hoạt độngnày đi đúng hướng và hiệu quả, Đây chính là yêu cầu cơ bản của quản lý nhà vềhoạt động XNK và phải được thể hiện đầy đủ trong toàn bộ hoạt động ngoạithương cũng như trong từng nội dung đàm phán hợp tác thương mại với cácquốc gia và vũng lãnh thổ

Chính sách XNK bao gồm các bộ phận chủ yếu sau đây:

- Chính sách NK

- Chính sách XK

- Chính sách mặt hàng XNK bao gồm một số chính sách sau:

Trang 20

+ Mặt hàng cấm XK (XK), NK (NK); tạm ngừng XK, NK

+ Mặt hàng XK, NK theo giấy phép

+ Mặt hàng XK, NK theo điều kiện

+ Mặt hàng XK, NK phải kiểm tra chuyên ngành (kiểm dịch, kiểm tra nhànước về chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm)

+ Chính sách mặt hàng đối với loại hình khác (hàng tạm nhập tái xuất,chuyển khẩu, gửi kho ngoại quan)

- Chính sách chuyển dịch cơ cầu XNK

- Chính sách thị trường XNK

- Chính sách khuyến khích và hỗ trợ XK

Các chính sách quản lý mặt hàng XNK được thực hiện theo Nghị định số12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi chocác chủ thể tham gia quá trình thương mại quốc tế

Kết quả xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách và quy định phápluật về XNK được đánh giá qua một số tiêu chí sau:

- Mức độ tuân thủ của doanh nghiệp khi tham gia hoạt động XNK về

các quy định pháp luật về thuế quan, các biện pháp hành chính áp dụng đốivới hàng xuất, NK theo quy định pháp luật, các thủ tục khai báo hải quan, quytrình cấp giấy phép DN hoạt động XNK…

- Mức độ ban hành các quy định pháp luật có kịp thời, đồng bộ; sự canthiệp của Nhà nước là thiếu sự điều tiết hay can thiệp quá mức

- Hiệu quả của việc ban hành quy định pháp luật có tạo khung pháp lý ổnđịnh lâu dài, ít điều chỉnh và bổ sung, đảm bảo công khai minh bạch thông tinpháp luật không?

- Việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách XNK có hợp lý đối vớithời điểm hiện tại không và doanh nghiệp có tiếp cận, hiểu, thực hiện cũng nhưtham gia góp ý kiến về các quy định, chính sách XNK không?

* Thiết lập và sử dụng hiệu quả công cụ quản lý XNK

Các công cụ quản lý nhà nước về XNK là các phương pháp, cách thức tácđộng trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các đối tượng XNK mà Nhà nước sử dụngnhằm điều tiết đối tượng vận hành theo mục tiêu chiến lược đã hoạch định Căn

cứ vào tính chất, mục đích và đối tượng bị điều chỉnh để chia các công cụ quản

lý XNK thành các loại khác nhau như công cụ thuế quan và phi thuế quan, cáchàng rào thương mại… Việc điều tiết các công cụ quản lý XNK nhằm thực hiệncác mục tiêu bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia và lợi ích của từng cá thể tham

Trang 21

gia hoạt động XNK Vì vậy, để quản lý nhà nước đối với XNK đạt hiệu quả phảiđảm bảo bằng một hệ thống công cụ hữu hiệu mang tầm chiến lược, phù hợp vớitừng giai đoạn phát triển và hội nhập của đất nước.

Để thực hiện các mục tiêu của chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốcgia, người ta sử dụng các công cụ chủ yếu sau: Công cụ thuế quan và công cụphi thuế quan

Công cụ thuế quan

Thuế quan là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất hay NK củamỗi quốc gia

Thuế quan bao gồm: Thuế quan XK và thuế quan NK

- Thuế quan XK

Thuế quan XK là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá XK

Thuế XK hiện nay ít được các quốc gia áp dụng vì hiện nay cạnh tranh trênthị trường quốc tế đang diễn ra quyết liệt, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệpcạnh tranh mở rộng nên Nhà nước chỉ đánh thuế đối với một số mặt hàng có kimngạch lớn, mặt hàng ảnh hưởng đến an ninh quốc gia

Tác động của thuế quan XK:

Tác động tích cực:

+ Thuế XK làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

+ Thuế XK làm hạn chế XK quá mức những mặt hàng khai thác từ tàinguyên thiên nhiên, gây mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, nhữngmặt hàng ảnh hưởng tới an ninh lương thực quốc gia nhằm bảo vệ lợi ích quốcgia

Tác động tiêu cực:

+ Thuế XK tạo nên bất lợi cho khả năng XK của quốc gia do nó làm chogiá cả của hàng hoá bị đánh thuế vượt quá giá cả trong nước làm giảm sản lượnghàng hoá XK, đặc biệt là đối với nước nhỏ

+ Thuế XK làm giảm sản lượng XK, điều này dẫn đến các nhà sản xuất thuhẹp quy mô sản xuất dẫn đến tình trạng thật nghiệp gia tăng, ảnh hưởng đến đờisống kinh tế xã hội

+ Một mức thuế XK cao và duy trì quá lâu có thể làm lợi cho các đối thủcạnh tranh dựa trên cơ sở cạnh tranh về giá cả

- Thuế quan NK

Thuế quan NK là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá NK

Trang 22

Tác động của thuế quan NK:

Tác động tích cực:

+ Thuế quan NK tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước mở rộngsản xuất, tiêu thụ sản phẩm do hàng NK bị giảm bớt, tạo thêm công ăn việc làmcho nâng cao đời sống xã hội

+ Thuế NK làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

+ Thuế NK tạo điều kiện cho những ngành công nghiệp còn non trẻ, có khảnăng cạnh tranh còn yếu trên thị trường quốc tế phát triển

+ Thuế quan NK có thể điều chỉnh hàng hóa từ thị trường nước ngoài vàothị trường trong nước

+ Thuế NK có tác động tác chính sách phân phối thu nhập giữa các tầnglớp dân cư: từ người tiều dùng sản phẩm nội địa sang nhà sản xuất trong nước vàChính phủ, Chính Phủ có thể sử dụng nguồn thu này để làm phúc lợi xã hội, tạođiều kiện cho người nghèo có cuộc sống tốt hơn

Tác động tiêu cực

+ Thuế NK làm cho giá trị hàng hoá trong nước cao vượt hơn mức giá NK

và chính người tiêu dùng trong nước phải trang trải cho gánh nặng thuế này.Điều đó đưa đến tình trạng giảm mức cầu của người tiêu dùng đối với hàng NK

và làm hạn chế mức NK thiệt hại lợi ích người tiêu dùng

+ Thuế quan NK khuyến khích một số doanh nghiệp sản xuất không hiệuquả trong nước gây tổn thất cho nhà sản xuất và ảnh hưởng đến sự phát triểnkinh tế - xã hội của quốc gia

+ Về lâu dài thuế quan NK sẽ tạo ra những vấn đề buôn lậu, trốn thuế tạo ranền sản xuất nội địa kém hiệu quả, gây ảnh hưởng đến xấu đến đời sống xã hội.Bên cạnh thuế XK và thuế NK còn có một số loại thuế quan đặc thù:

+ Hạn ngạch thuế quan: là một biện pháp quản lý XNK với 2 mức thuếXNK; hàng hoá trong hạn ngạch mức thuế quan thấp, hàng hoá ngoài hạn ngạchchịu mức thuế quan cao hơn

+ Thuế đối kháng: là loại thuế đánh vào sản phẩm NK để bù lại việc nhàsản xuất XK sản phẩm đó được Chính phủ nước XK trợ cấp

+ Thuế chống bán phá giá: : Là một loại thuế quan đặc biệt được áp dụng

để ngăn chặn, đối phó với hàng hoá NK được bán phá giá vào thị trường nội địatạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh

Ngoài ra còn một số loại thuế khác như: Thuế tối huệ quốc, thuế phi tối huệquốc, thuế thời vụ

Trang 23

Các công cụ phi thuế quan

- Hạn ngạch

Hạn ngạch là việc hạn chế số lượng đối với một loại hàng hoá xuất hoặc

NK thông qua hình thức cấp giấy phép

+ Chính phủ có thể kiểm soát chặt chẽ lượng hàng XNK

+ Chính phủ không có được nguồn thu như thuế nếu chính phủ không tổchức bán đấu giá hạn ngạch

+ Hạn ngạch có thể dẫn đến độc quyền trong kinhdoanh dẫn đến các tiêucực trong tìm kiếm cơ hội để có được hạn ngạch

+ Gây tốn kém trong quản lý hành chính, bất bình đẳng giữa các doanhnghiệp

Tác động của hạn ngạch XK:

Đối với nước XK:

+ Hạn ngạch XK làm giảm lượng hàng XK, làm giảm quy mô sản xuất dẫnđến tình trạng thất nghiệp gia tăng, thu nhập người lao động giảm, ảnh hưởngđến đời sống kinh tế xã hội

+ Hạn ngạch XK làm giảm thu ngân sách của nhà nước

+ Hạn ngạch XK nhằm đảm bảo lượng cung hàng hoá cho thị trường trong nước+ Tác động tới người tiêu dùng: Hạn ngạch XK làm hạn chế sản lượng XK,cung hàng hoá tại thị trường trong nước sẽ tăng lên làm giá cả hàng hoá thịtrường trong nước giảm, tăng cơ hội lựa chọn cho người tiêu dùng

Đối với nước NK:

+ Hạn ngạch XK của quốc gia XK làm hạn chế hàng hoá từ nước ngoàithâm nhập vào nước NK, tạo điều kiện cho nhà sản xuất nước NK mở rộng quy

mô, tạo việc làm, gia tăng thu nhập cho người lao động

Trang 24

+ Đối với người tiêu dùng: Nó sẽ làm giảm lượng hàng NK vào quốc gia

NK sẽ làm hạn chế mức tiêu dùng đối với hàng NK

Tác động của hạn ngạch NK

Đối với nước NK:

+ Hạn ngạch NK làm cho giá hàng nhập nội địa tăng lên và tạo điều kiệncho các nhà sản xuất trong nước mở rộng quy mô sản xuất, tạo việc làm chongười lao động

+ Hạn ngạch NK nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp còn non trẻ, chưa đủkhả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế phát triển

+ Hạn ngạch NK làm giảm lượng hàng NK, dẫn tới lượng tiêu dùng trongnước giảm làm giảm lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích ròng của xã hội do cơhôi lựa chọn ít hơn và mua với giá đắt hơn

Đối với nước XK

+ Sản lượng sản xuất hàng hoá ở nước XK cũng bị giảm do đó quy mô sảnxuất trong nước giảm làm gia tăng thất nghiệp, giảm thu nhập của người laođộng

+ Lượng cung hàng hoá bị áp dụng hạn ngạch sẽ tăng lên, tạo điều kiện chongười tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn, và giá hàng hoá có thể giảm xuốnggia tăng lợi ích của người tiêu dùng

- Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật

Tiêu chuẩn kỹ thuật là những quy định về tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, vệsinh phòng dịch, tiêu chuẩn đo lường, quy định về an toàn lao động, bao bì đónggói cũng như các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái, quy định một tỷ lệnguyên vật liệu nhất định trong nước để sản xuất một loại hàng hoá nào đó.Những quy định này xuất phát từ các đòi hỏi thực tế của đời sống xã hộinhằm bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng và phản ánh trình độ phát triển đạtđược của văn minh nhân loại

Về mặt kinh tế những quy định này có tác dụng có tác dụng bảo hộ đối vớithị trường trong nước, hạn chế và làm méo mó dòng vận động của hàng hoá trênthị trường quốc tế

Tiêu chuẩn kỹ thuật có thể là cản trở XNK vì mỗi quốc gia có thể có nhữngtiêu chuẩn kỹ thuật riêng, nhiều quốc gia đã áp dụng để hạn chế NK, đặc biệt làcác nước phát triển

- Hạn chế XK tự nguyện

Là hình thức quốc gia NK đòi quốc gia XK hạn chế XK một cách tựnguyên nếu không sẽ bị trả đũa

Trang 25

Thực chất đây là cuộc thương lượng mậu dịch giữa các bên để hạn chế bớt

sự xâm nhập của hàng ngoại tạo công ăn việc làm trong nước

Hạn chế XK tự nguyện mang tính miễn cưỡng được áp dụng cho các quốcgia có khối lượng XK quá lớn ở một mặt hàng nào đó

- Trợ cấp XK

Trợ cấp XK là một hình thức trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suấtthấp đối với XK trong nước hoặc cho vay ưu đãi với bạn hàng nước ngoài đểmua sản phẩm của mình

Trợ cấp XK làm tăng sản lượng XK, giảm cung thị trường nội địa dẫn đếnlợi ích người tiêu dùng bị giảm

Trợ cấp XK dẫn đến chi phí ròng xã hội tăng lên do sản xuất thêm sảnphẩm XK kém hiệu quả

Kết quả của việc thiết lập và sử dụng hiệu quả các công cụ XNK được đánhgiá qua các tiêu chí:

+ Công tác kiểm tra thu thuế XNK

+ Mức độ tuân thủ pháp luật, hiểu và sử dụng các công cụ XNK của cácdoanh nghiệp hoạt động XNK

+ Quyền và nghĩa vụ cũng như vướng mắc của doanh nghiệp trong việckiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK

* Tổ chức bộ máy quản lí nhà nước đối với hoạt động XNK.

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động XNK được xâydựng để vừa đảm bảo quản lý chặt chẽ vừa tạo thuận lợi cho các hoạt độngXNK Cơ cấu quản lý XNK được tổ chức có tính hệ thống và quản lý theo môhình trùng song Chính phủ vừa trực tiếp chỉ đạo Bộ Công thương điều hànhhoạt động XNK hoặc Chính phủ thông qua các Bộ ngành và Ủy ban nhân dâncác địa phương điều chỉnh các chủ thể XNK nhằm tuân thủ mục tiêu đã hoạchđịnh Trong đó, phải đổi mới cơ chế quản lý, tạo môi trường hành lang pháp lýlành mạnh, bình đẳng, cải cách mạnh mẽ các hệ thống thủ tục hành chính, chốngphiền hà tiêu cực Mặt khác, phải xây dựng chiến lược đào tạo dài hạn và đàotạo lại đội ngũ cán bộ công chức trong hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung,các cơ quan trực tiếp quản lý XNK, đầu tư, dịch vụ nói riêng nhằm nâng caonăng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới

Kết quả của việc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động XNKđược đánh giá qua các tiêu chí:

+ Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động XNK hiện tại cótạo khung pháp lý lâu dài, công khai minh bạch và tạo điều kiện cho doanhnghiệp tham gia hoạt động XNK không?

Trang 26

+ Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý XNK có phù hợp với phương pháp điềuhành chung của Nhà nước hiện nay

+ Sự phối hợp quản lý điều hành giữa các cơ quan liên quan từ Trung ươngđến địa phương

* Tổ chức kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về hoạt động XNK

Công tác thanh tra, kiểm tram hoạt động XNK là nhằm đảm bảo tuân thủcác quy định XNK Nhà nước thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đới với tất cảcác hoạt động XN trong phạm vi cả nước và thống nhất toàn ngành, đảm bảohiệu quả chung của nền kinh tế đối ngoại Trên cơ sở nội dung quản lý nhà nước

về XNK đã quy định, các cơ quan chủ thể quản lý XNK Trung ương đến đíphương tùy theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình tiến hành nhữngbiện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để điều chỉnh các hoạt độngXNK đi đúng hướng Các cơ quan quản lý nhà nước về XNK hoạch định chiến

và kế hoạch XNK ở tầm vĩ mô, định hướng phát triển và mục tiêu XNK chotừng thời kỳ và điều tiết tổng thể các mối quan hệ về XNK Trong đó, Bộ CôngThương là cơ quan trực tiếp được Nhà nước giao thực hiện chức năng quản lýthống nhất đối với các hoạt động XNK trên phạm vi cả nước

Kết quả của việc kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hoạt động XNK đượcđánh giá qua các tiêu chí:

+ Mức độ kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm của cơ quan quản lý XNK tạithành phố là thường xuyên hay buông lỏng

+ Tỷ lệ doanh nghiệp vi phạm về XNK

+ Các quy định kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về XNK có phù hợp nộidung QLNN về XNK và phương thức thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, xử lý viphạm

Để quản lý đối với hoạt động XNK, đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa các bộngành trong công tác quản lí Xây dựng quy định pháp luật, chính sách được banhành giúp cho hoạt động điều tiết của Nhà nước về hoạt động XNK theo đúngđịnh hướng và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia hoạt độngXNK

1.1.4 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về hoạt động XNK.

* Nhân tố chính trị - pháp luật

- Quan điểm đường lối lãnh đạo về phát triển kinh tế thương mại

Phải xây dựng chiến lược phát triển thương mại tổng thể, trên cơ sở đó cóthể xây dựng các chiến lược phát triển hoặc đề án phát triển thương mại trongnước, phát triển XNK, phát triển thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ

để làm căn cứ và định hướng cho sự phát triển của thương mại trong bối cảnh và

Trang 27

điều kiện mới Trong các chiến lược đó cần chú trọng đến những cơ cấu chủ yếucủa thương mại cũng như mối tương quan giữa chúng, như: thương mại trongnước và thương mại quốc tế (XNK); thương mại hàng hóa và dịch vụ; cơ cấuhàng hóa và dịch vụ XNK; cơ cấu thị trường, đối tác; về cán cân thương mạicùng những điều kiện thương mại, tỷ giá, thuế quan và hàng rào phi thuế quan Đặc biệt, chiến lược phát triển thương mại cần gắn với chiến lược sản xuất côngnghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong cùng thời kỳ Căn cứ vào chủ trương,đường lối trong từng giai đoạn về những vấn đề liên quan đến hoạt động XNK,nội dung quản lý nhà nước về hoạt động XNK sẽ được xác định cho phù hợp.

- Nhận thức của lãnh đạo các cấp về hoạt động XNK

Nhận thức của lãnh đạo các cấp về hoạt động XNK đóng vai trò quan trọngđến định hướng phát triển của hoạt động XNK Nếu lãnh đạo các cấp nhận thứctầm quan trọng của hoạt động XNK, coi XNK là hoạt động chủ lực để phát triểnkinh tế đất nước thì sẽ tạo điều kiện cho hoạt động này phát triển Ngược lại nếukhông có sự quan tâm và giúp đỡ của lãnh đạo các cấp về hoạt động XNK thìhoạt động XNK không còn là động lực chính của tăng trưởng kinh tế Việt Nam

để hội nhập sâu vào kinh tế thế giới

- Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về hoạt động XNK

Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng và công tác cán

bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Cán

bộ là gốc của mọi công việc; công việc có thành công hay thất bại đều do cán bộtốt hay kém; khi đã có đường lối chính trị đúng đắn thì yếu tố quyết định sựthành bại của cách mạng là công tác tổ chức và cán bộ; Đảng thống nhất lãnhđạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệthống chính trị; mục tiêu, lý tưởng của Đảng không thay đổi, nhưng nhiệm vụcủa từng thời kỳ lại khác nhau, do đó công tác tổ chức, cán bộ phải luôn luôn đổimới để đáp ứng yêu cầu của mỗi giai đoạn lịch sử

Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước và nguồn nhân lực làmột trong những yếu tố quan trọng trực tiếp ảnh hưởng đến quản lý nhà nước vềhoạt động XNK Đặc biệt trong điều kiện mở cửa hội nhập như hiện nay, vai tròcủa cán bộ nhất là những người làm công tác tham mưu hoạch định chính sách,quy hoạch hoạt động XNK đóng vai trò quyết định sự thành công của mục tiêuquản lý hoạt động XNK

- Các chính sách và quy định của Nhà nước.

Thông qua việc đề ra các chính sách và quy định, Nhà nước thiết lập môitrường pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động của các doanh nghiệp nên nó cóảnh hưởng rất lớn đến hoạt động XNK Chúng ta có thể xem xét tác động củacác chính sách đó dưới các khía cạnh sau Các chính sách khác của Nhà nướcnhư xây dựng các mặt hàng chủ lực, trực tiếp gia công XK, đầu tư cho XNK, lậpcác khu chế xuất, các chính sách tín dụng XNK cũng góp phần to lớn tác động

Trang 28

tới tình hình XNK của một quốc gia Tuỳ theo mức độ can thiệp, tính chất vàphương pháp sử dụng các chính sách trên mà hiệu quả và mức độ ảnh hưởng của

nó tới lĩnh vực XNK sẽ như thế nào Bên cạnh các chính sách trên, nhóm cácchính sách hỗ trợ mang tính thể chế - tổ chức, các khung pháp lý và hệ thốnghành chính cũng là một trong các nhân tố tác động trực tiếp tới hoạt động XNKcủa các doanh nghiệp

Những thay đổi về thủ tục thông quan XNK hàng hóa tại các cửa khẩu, việc

áp dụng các luật thuế mới đối với hàng hóa XNK cũng ảnh hưởng đến quá trìnhXNK Nhà nước luôn luôn tạo điều kiện để xúc tiến nhanh quá trình XNKnhưng việc áp dụng các văn bản đã được ban hành xem ra vẫn còn tồn tại mộtkhoảng cách khá xa giưã văn bản và thực tế, giữa nói và làm, nhiều khi vẫn cònxảy ra " cuộc chiến " giữa " luật và lệ "

* Các nhân tố kinh tế - xã hội

Sự tăng trưởng của nền kinh tế tạo điều kiện cho sản xuất phát triển từ đó

sẽ tạo điều kiện cho sản xuất hàng hóa XK, làm tăng khả năng cạnh tranh vềmẫu mã, chủng loại, chất lượng trên thị trường quốc tế Nền kinh tế của mộtquốc gia càng phát triển thì sức canh tranh về hàng XK của quốc gia đó sẽkhông ngừng được cải thiện

Sự phát triển của hoạt động thương mại trong nước cũng góp phần hạn chếhay kích thích XK, bởi nó quyết định sự chu chuyển của hàng hóa trong nội địa

và trên thế giới

Sự biến động của nền kinh tế trên thế giới sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thịtường hàng hóa trong nước và thế giới, do vậy sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạtđộng kinh doanh XNK

Hệ thống tài chính ngân hàng cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động

XK hoạt động XK liên quan mật thiết với vấn đề thanh toán quốc tế, thông qua

hệ thống ngân hàng giữa các quốc gia Hệ thống ngân hàng càng phát triê thìhoạt động thanh toán càng đơn giản và dễ dàng sẽ tạo điều kiện cho các đơn vịtham gia kinh doanh được thuận lợi hơn

Trong thanh toán quốc tế thường sử dụng đồng tiền của các nước khácnhau, do vậy tỉ giá hối đoái có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động XK Nếu đồngtiền trong nước có giá trị thấp hơn so với đồng tiền ngoại tệ thường làm đơn vịthanh toán như USD, sẽ kích thích XK, ngược lại thì có thể làm hạn chế việcXK

Hệ thống cơ sở hạ tầng cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động XNK Hoạtđộng XNK không thể tách rời hệ thống cơ sở hạn tầng, hệ thống thông tin liênlạc, vận tải… từ khâu nghiên cứu thị trường đến khâu kí kết hợp đồng, vậnchuyển hàng hóa, thanh toán Hệ thống cơ sở hạ tầng càng phát triển sẽ tạo điềukiện cho việc XK và góp phần hạ thấp chi phí cho đơn vị kinh doanh

Trang 29

Ngoài ra sự hòa nhập vào các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới vàcác tổ chức thương mại như WTO, ASEAN, APEC… sẽ ảnh hưởng rất lớn đếnhoạt động XNK.

* Các nhân tố thuộc phạm vi doanh nghiệp.

- Nhân tố bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính.

Là sự tác động trực tiếp của các cấp lãnh đạo xuống cán bộ công nhân viênnhằm mục đích buộc phải thực hiện một hoạt động Để quản lý tập trung thốngnhất phải sử dụng phương pháp hành chính Việc thiết lập cơ cấu tổ chức của bộmáy doanh nghiệp cũng như cách thức điều hành của các cấp lãnh đạo là nhân tốquyết định tính hiệu quả trong kinh doanh Nếu một doanh nghiệp có cơ cấu tổchức hợp lý, cách điều hành sáng suốt sẽ góp phần thúc đẩy hiệu quả hoạt độngkinh doanh, ngược lại nếu cơ cấu tổ chức xệch xoạc, cách điều hành kém cỏi sẽdẫn đến hiệu quả thấp trong hoạt động kinh doanh XNK

- Nhân tố con người.

Con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động Hoạt độngXNK hàng hoá đặc biệt phải nhấn mạnh đến yếu tố con người bởi vì nó là chủthể sáng tạo và trực tiếp điều hành các hoạt động ảnh hưởng của nhân tố này thểhiện qua hai chỉ tiêu chủ yếu nhất Đó là tinh thần làm việc và năng lực công tác.Tinh thần làm việc được biểu hiện bởi bầu không khí trong doanh nghiệp, tìnhđoàn kết và ý chí phấn đấu cho mục tiêu chung Năng lực của nhân viên lại biểuhiện qua kỹ năng điều hành, công tác nghiệp vụ cụ thể và qua kết quả của hoạtđộng Để nâng cao vai trò của nhân tố con người, các doanh nghiệp một mặtphải chú trọng đào tạo cán bộ, công nhân viên, bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụcủa họ, mặt khác, phải quan tâm thích đáng đến lợi ích cá nhân, bao gồm cả lợiích vật chất lẫn lợi ích tinh thần

- Mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp.

Kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngoại thương phụ thuộc rất lớnvào hệ thống mạng lươí kinh doanh của nó Một mạng lưới kinh doanh rộng lớn,với các điểm kinh doanh được bố trí hợp lý là điều kiện để doanh nghiệp thựchiện các hoạt động kinh doanh như tạo nguồn hàng, vận chuyển, làm đại lýXNK một cách thuận tiện hơn và do đó góp phần nâng cao hơn hiệu quả kinhdoanh XNK Nếu mạng lưới kinh doanh là quá thiếu, hoặc bố trí ở các điểmkhông hợp lý sẽ gây cản trở cho hoạt động kinh doanh làm triệt tiêu tính năngđộng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường

- Khả năng cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.

Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp như vốn cố định bao gồm cácmáy móc, thiết bị chế biến, hệ thống kho hàng, hệ thống phương tiện vận tải, cácđiểm thu mua hàng, các đại lý, chi nhánh và trang thiết bị của nó cùng với vốnlưu động là cơ sở cho hoạt động kinh doanh Các khả năng này quy định quy

Trang 30

mô, tính chất của lĩnh vực hoạt động XNK, và vì vậy cũng góp phần quyết địnhđến hiệu quả kinh doanh.

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VỀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XNK.

- Hải Phòng

Với vị trí địa chiến lược, thành phố cảng Hải Phòng hiện là trung tâm côngnghiệp và thương mại quan trọng của cả nước với cụm cảng biển tổng hợp cấpquốc gia lớn nhất miền Bắc và lớn thứ hai ở Việt Nam Hải Phòng cũng là đầumối giao thông, cửa ngõ quốc tế kết nối Việt Nam với thế giới; đồng thời làtrung tâm kinh tế - văn hoá - giáo dục - du lịch phát triển của đất nước Trongnhững năm qua, Hải Phòng đã thể hiện vai trò thành phố lớn thứ ba của cả nướcvới những bước phát triển nhanh chóng và bền vững XK trong sáu tháng đầunăm 2017 cán mốc hơn 3 tỷ USD, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 21,08% vàtổng sản phẩm địa phương tăng 13,26%.10 Năm 2016, Hải Phòng cũng vươn lêntrở thành thành phố dẫn đầu cả nước về lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.Thị trường XK hàng hoá của thành phố được củng cố và mở rộng Tính đếnnay, trên địa bàn thành phố đã có trên 600 doanh nghiệp thuộc các thành phầnkinh tế tham gia XK Hàng hoá XK của Hải Phòng đã tiêu thụ được ở thị trườngcủa trên 75 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có các thị trường lớn như: TrungQuốc, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, EU, Hàn Quốc, Châu Úc và một số thị trườngkhác Đã hình thành được 20– 30 sản phẩm có kim ngạch XK cao như tàu biển,sản phẩm cơ khí siêu trường, siêu trọng, sơn các loại, các chi tiết robôt, nhựaPVC các loại, sơn các loại, các chi tiết rô-bốt, nhựa PVC các loại, giày cao cấp,sản phẩm dệt may, ắc quy các loại, giấy lụa, giấy đế, cao su kỹ thuật, thảm len,cáp điện, linh kiện điện tử, thuỷ sản đông lạnh, thịt lợn, …Cơ cấu nhóm hàng,mặt hàng XK đã được cải thiện nhờ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ trọng các nhóm hàng, mặt hàng đã qua chếbiến, có hàm lượng công nghệ cao tăng khá nhanh Trong bối cảnh hội nhậpquốc tế ngày càng sâu rộng và cạnh tranh gay gắt, nhiều sản phẩm, hàng hoá docác doanh nghiệp trên địa bàn thành phố sản xuất, gia công, chế tạo có chấtlượng cao, đã từng bước khẳng định thị phần, thương hiệu trên thị trường thếgiới và trong nước, tạo sức lan toả, kích thích việc nâng cao chất lượng, cải tiếnmẫu mã của nhiều loại hàng hoá khác đang được sản xuất và tiêu thụ trongnước

Hải Phòng đã bắt đầu ứng dụng công nghệ thông tin và IoT trong một sốkhâu liên quan tới dịch vụ logistics như thủ tục hải quan, quản lý, xếp dỡ hànghóa tại các kho bãi, bến cảng Một số doanh nghiệp như Viconship cũng tiếnhành phủ sóng Wifi toàn bộ khu vực cầu cảng, kho hàng nhằm tăng cường tínhkết nối giữa ban quản lý, nhân viên của các bộ phận và khách hàng, giúp cậpnhật thông tin về số lượng hàng hóa, lộ trình của tàu, thời gian hàng cập bến

Trang 31

Thế mạnh của Hải Phòng là hệ thống giao thông tích hợp với đầy đủ cácphương thức vận tải từ đường bộ, đường biển, đường thủy, đường sắt và đườnghàng không Do vậy, Hải Phòng có tiềm năng lớn cho phát triển các loại hìnhvận tải đa phương thức, ví dụ gắn kết cảng biển với hệ thống đường sắt và mạnglưới đường bộ vận chuyển hàng hóa.

- Bắc Ninh

Kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO), hoạt động XK (XK) cả nước nói chung và ở từng địa phươngtrong đó có tỉnh Bắc Ninh nói riêng ngày càng nhộn nhịp và luôn được khuyếnkhích phát triển Nhờ vậy, hoạt động XK ở tỉnh Bắc Ninh luôn đạt tốc độ tăngtrưởng cao, những con số kim ngạch XK đạt được chính là thước đo khả năngcạnh tranh và mức độ hội nhập của tỉnh vào nền kinh tế, khu vực và thế giới.Trong 4 tháng đầu năm 2018, giá trị sản xuất công nghiệp (SXCN) trên địa bàntỉnh Bắc Ninh ước đạt 359.389 tỷ đồng, tăng 37,2% so với cùng kỳ năm 2017.Bên cạnh đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 16.056 tỷđồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2017 Tổng kim ngạch XK hàng hóa ướcđạt 10,87 triệu USD, tăng 50,6% so với cùng kỳ năm 2017 Sản phẩm XK chủyếu là điện thoại các loại và linh kiện đạt 8.711,1 triệu USD; máy vi tính, sảnphẩm điện tử và linh kiện đạt 2.036,3 triệu USD NK hàng hóa ước đạt 7.831,5triệu USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2017

Về mặt hàng XK của tỉnh Bắc Ninh, nhiều mặt hàng đã vươn tới thị trườngkhắt khe như Nhật, Hàn Quốc, ASEAN, châu Âu, châu Mỹ, khu vực châu Phi…Các mặt hàng XK của tỉnh gồm 2 nhóm hàng công nghiệp - thủ công mỹ nghệ

và nhóm hàng nông lâm sản Đặc biệt việc xuất hiện nhiều mặt hàng mới có hàmlượng công nghệ và chất xám cao là điện tử, đồ điện dân dụng đã đưa kim ngạch

XK của tỉnh tăng mạnh Công ty Samsung Việt Nam và Công ty TNHH Canonchiếm khoảng 98% kim ngạch XK của tỉnh

Trong những năm gần đây, kinh tế tỉnh Bắc Ninh đã và đang phát triểnnhanh chóng, đặc biệt là sự đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, XNK hàng hóa ngày càng tăng.Hiện nay trên địa bàn Bắc Ninh có 15 khu công nghiệp (KCN) tập trung, 1 khucông nghệ thông tin và hơn 30 cụm công nghiệp Tổng diện tích 6.847ha; vớitổng diện tích đất công nghiệp được quy hoạch cho thuê 2.138,53ha, diện tích đãthu hồi 1.682,95 ha, đã cho thuê 1.259,81ha

Các Khu công nghiệp được đầu tư hạ tầng hoàn chỉnh, các hệ thống đườnggiao thông trong Khu công nghiệp, cấp nước sạch, xử lý nước thải được đầu tưđồng bộ, hiện đại, đạt tiêu chuẩn, các dịch vụ viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm cũng được đưa vào Khu công nghiệp Cùng với đó là sự thông thoáng, nhanhgọn trong giải quyết các thủ tục hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin,thị trường, làm tốt công tác an ninh - trật tự, liên kết đào tạo nguồn nhân lực cóchuyên môn, tay nghề

Trang 32

Với việc tạo cơ chế thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp (DN) thôngqua đẩy mạnh công tác cải cách hành chính theo chiều sâu; bổ sung, hoàn thiệnchính sách phát triển công nghiệp, thương mại dịch vụ theo hướng văn minh,hiện đại Tại hội nghị doanh nghiệp hàng năm, tỉnh tổ chức lấy ý kiến thăm dòdoanh nghiệp về những khó khăn, vướng mắc, kiến nghị trong thực hiện thủ tụchành chính liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp để đánh giá về mức độ hài lòng của doanh nghiệp về thực hiện thủ tụchành chính, những khó khăn cần tháo gỡ, đồng thời đánh giá được chất lượngđội ngũ cán bộ công chức qua việc tiếp xúc và giải quyết công việc với cácdoanh nghiệp.

Tổng quan kinh nghiệm của các địa phương

Nghiên cứu chính sách, công cụ quản lý XNK của các địa phương nói trên,

có thể rút ra một số kinh nghiệm và bài học cho thành phố Đà Nẵng như sau: + Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa mạnh mẽ, thành phố phảinhanh chóng nắm bắt được cơ hội phát triển có lợi, ban hành chính sách và điềuchỉnh chiến lược XNK phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thành phố + Đẩy mạnh thu hút vốn FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) để tranh thủchuyển giao công nghệ và thông tin quốc tế

+ Tiếp tục cải cách, hiện đại hóa cải cách hành chính trong lĩnh vực XNK,thúc đẩy tạo thuận lợi thương mại, giảm chi phí trong thực hiện các thủ tục hànhchính

+ Tạo dựng môi trường và điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tưphát triển hệ thống dịch vụ logistics tại Đà Nẵng

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

* Điều kiện tự nhiên

Đà Nẵng là trung tâm kinh tế và là một trong những trung tâm văn hoá,giáo dục, khoa học và công nghệ lớn của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, làthành phố lớn thứ 4 của Việt Nam , đứng sau thành phố Hồ Chí Minh,HàNội,Hải Phòng Thành phố nằm dọc theo vùng duyên hải Nam Trung Bộ ĐàNẵng hiện là một trong 3 đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương của Việt Nam(cùng với Hải Phòng và Cần Thơ)

Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.284,88 km2; trong đó, cácquận nội thành chiếm diện tích 246,71 km2, các huyện ngoại thành chiếm diệntích 1.038,17 km2 Nằm ở vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc -Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, cách Thủ đô

Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam.Với vùng biển rộng lớn và đa dạng hệ sinh thái, nơi đây là nguồn thu hải sảnphong phú cho việc NK hải sản đi nước ngoài của thành phố và khu vực miềnTrung, có ưu thế cho phép phát triển cảng biển và dịch vụ hàng hải, khu kinh tế,khu công nghiệp gắn với lợi thế cảng biển

Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao

và ít biến động Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùngnúi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạydài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp

Trong phạm vi khu vực và quốc tế, Thành phố Đà Nẵng là cửa ngõ phíađông của tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây Đây là tuyến giao thông dài 1.450

km đi qua bốn nước Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam.Việc nằm trên Hànhlang kinh tế Đông Tây không chỉ đem lại cơ hội đẩy mạnh hợp tác khu vực vànâng cao mức sống cho nhân dân mà còn tạo khả năng cho các doanh nghiệptiếp cận tốt hơn các vùng nguyên liệu, thị trường dịch vụ, vốn, công nghệ và laođộng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và buôn bán qua biên giới,

đa dạng hóa hoạtđộng kinh tế và XK, thúc đẩy phát triển du lịch

Trong những năm qua, thành phố Đà Nẵng đã tập trung thu hút đầu tư vàothị trường và đối tác trọng điểm như: các tập đoàn đa quốc gia từ Nhật Bản, HànQuốc, Hoa Kỳ, châu Âu (Đức, Anh, Pháp) và các nước ASEAN… Điểm nhấntrong công tác ngoại giao kinh tế của thành phố trong thời gian qua là việc địnhhướng phát triển đa dạng các hình thức lan tỏa, quảng bá hình ảnh của Đà Nẵngđến với bạn bè trong nước và quốc tế Đà Nẵng không chỉ được biết đến là nơi

Ngày đăng: 20/01/2019, 10:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w