- Khi khẳng định ý thức có sự tác động trở lại đối với vật chất thì trongcuộc sống và trong kiến tạo các quyết định, thi hành các quyết định phải luônluôn phát huy tính năng động của ý t
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN TRIẾT DÀNH CHO ĐẠI HỌC VÀ CAO HỌC LUẬT
Câu 1: Phân tích định nghĩa vật chất của Lê nin và rút ra ý nghĩa của nó?
1.1 Các quan niệm về vật chất trong triết học trước C Mác
* Thời kì cổ đại
- Tương ứng với thời kì này là chế độ chiếm hữu nô lệ Vào thời kì này,trình độ nhận thức của con người còn thấp, hiểu biết có hạn nên con ngườithường đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của nó
- Trong triết học Ấn Độ, người ta đồng nghĩa vật chất với những gì họ cho
là con người cần nhất, như: nước, lửa, khí, đất
- Ở Trung Quốc, trường phái Âm dương cho rằng âm và dương là vật chất;còn trường phái Ngũ Hành cho rằng vật chất chính là 5 yếu tố: kim, thủy, mộc,hỏa, thổ
- Ở Hy Lạp, Talet nói vật chất là nước, Hê ra clit nói vật chất là lửa Vàđỉnh cao của tư tưởng duy vật cổ đại về vật chất là thuyết nguyên tử của Đê môcrit Ông cho rằng vật chất là nguyên tử Ông định nghĩa nguyên tử là đơn vị(hạt) nhỏ nhất, không thể xâm nhập được, không cảm giác được Quan niệm vậtchất là nguyên tử đã trở thành quan niệm truyền thống trong nhân loại
* Thời kỳ trung đại
- Tương ứng với thời kỳ này là chế độ phong kiến
- Ở thời kỳ này, quan niệm vật chất bị biến mất vì đây là thời kỳ của tôngiáo với những tư tưởng hoang đường về con người và thế giới Thơi kỳ thầnquyền thắng vương quyền Triết học lúc này trỏe thành tôi tớ cho thần học (đêmtrường trung cổ)
* Thế kỷ 17, 18
Loài người lúc này bước vào thời kỳ Phục Hưng, thời kỳ Ánh Sáng: khôiphục lại quan niệm duy vật thời cổ đại, mở ra thời kỳ ánh sáng của khoa học
- Thời kỳ này, khoa học đã được trỗi dậy và đi sâu nghiên cứu thế giới vi
mô, các ngành khoa học cụ thể được ra đời dẫn đến quan điểm siêu hình máymóc về vật chất Loài người đã đồng nhất các thuộc tính của vật chất là vậtchất
- VD: người ta đồng nhất vật chất với khối lượng, trọng lượng, độ dài, tốcđộ,
+1901 phát hiện ra thể tích của điện tử tăng khi gia tốc tăng
- Những phát minh này đã phủ nhận quan niệm truyền thống xưa nayrằng vật chất là nguyên tử, bởi vì điện tử là một phần của nguyên tử
Trang 2- Lợi dụng điều này, chủ nghĩa duy tâm, nhà thờ, giáo hội đã tấn công chủnghĩa duy vật Vật chất không phải là nguyên tử nên cơ sở của chủ nghĩa duyvật bị phá vỡ Vật lý học rơi vào tình trạng khủng hoảng về phương pháp luận.Các nhà triết học duy vật bị lung lay, thậm chí còn chuyển sang chủ nghĩa duytâm Chủ nghĩa duy vật rơi vào bế tắc, điều này dẫn đến sự bế tắc của khoa học.
- Đứng trước tình hình đó, V I Lê nin đã đưa ra định nghĩa về vật chất cótính kinh điển nhằm bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật, chống chủ nghĩaduy tâm, mở đường cho khoa học phát triển
1.2 Quan điểm của C Mác về vật chất
Lê nin đã định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ra chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Trong định nghĩa này, Lê nin chỉ rõ:
+ “Vật chất là một phạm trù triết học” Đó là một phạm trù rộng và kháiquát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thườngdùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hằng ngày
+ Thuộc tính cơ bản của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không
lệ thuộc vào cảm giác” Đó chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất vàcái gì không phải là vật chất
+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác” “tồntại không lệ thuộc vào cảm giác” Điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vậtchất) là cái có trước (tính thứ nhất), còn “cảm giác” (ý thức) là cái có sau (tínhthứ hai) Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức
+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, đượccảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh” Điều này nói lên “thực tạikhách quan” (vật chất) được biểu hiện thông qua các dạng cụ thể, bằng “cảmgiác” (ý thức) con người có thể nhận thức được Và “thực tại khách quan” chính
là nguồn gốc, nội dung khách quan của “cảm giác”
Định nghĩa của Lê nin về vật chất đã giải quyết được cả hai mặt của vấn
đề cơ bản của triết học theo lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng
1.3 Ý nghĩa của định nghĩa
Định nghĩa vật chất của Lê nin có ý nghĩa:
- Khi khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau, con người có khả năngnhận thức thế giới, định nghĩa đã giải quyết được một cách triệt để vấn đề cơbản của triết học, qua đó chống lại tất cả các loại quan điểm của chủ nghĩa duytâm về phạm trù vật chất
- Đấu tranh khắc phục triệt để tính chất trực quan, siêu hình, máy móc vànhững biến tướng của nó trong quan niệm về vật chất của các nhà triết học tưsản hiện đại, Do đó, định nghĩa này cũng giải quyết được sự khủng hoảng trongquan điểm về vật chất của các nhà triết học và khoa học theo quan điểm củachủ nghĩa duy vật siêu hình
- Khi chỉ ra thuộc tính cơ bản của vật chất là thực tại khách quan, tồn tạikhông lệ thuộc vào cảm giác, định nghĩa đã cung cấp một cơ sở khoa học để
Trang 3nhận thức vật chất trong thế giới tự nhiên và xã hội Nó còn là cơ sở, là phươngpháp luận để nghiên cứu vật chất trong lĩnh vực xã hội Đó là tồn tại xã hội.
- Khẳng định thế giới vật chất khách quan là vô cùng, vô tận, luôn vậnđộng và phát triển không ngừng nên đã có rác động cổ vũ, động viên các nhàkhoa học đi sâu ngheien cứu thế giới vật chất, tìm ra những kết cấu mới, nhữngthuộc tính mới và những quy luật vận động của vật chất để làm phong phú thêmkho tàng tri thức của nhân loại Loài người sẽ tìm ra nhiều dạng lạ lùng khácnhau của vật chất nhưng định nghĩa về vật chất của Lê nin vẫn giữ nguyên giátrị
- Định nghĩa về vật chất của Lê nin đã khẳng đinh: trong thế giới củachúng ta không có gì khác ngoài vật chất hoặc do vật chất sinh ra
Câu 2: Trình bày nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức Vai trò của ý thức trong hoạt động thực tiễn
2.1 Nguồn gốc của ý thức
Có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của ý thức
- Quan điểm duy tâm cho rằng: Ý thức có nguồn gốc thần thánh (VD: Chúađược sinh ra vào thứ Bảy, được tạo ra từ đất sét)
- Ngày nay, khi khoa học phát triển, người ta cho rằng loài người là dongười ngoài hành tinh sinh ra
- Quan điểm của Mác – Lê nin khẳng định: ý thức gồm 2 nguồn gốc: nguồngốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
VD: hoa hướng dương luôn xoay về hướng có ánh nắng mặt trơi, ngọn câyluôn vươn về nơi có ánh sáng
Tính phản ứng ở động vật bậc thấp: khi môi trường tác động lên cơ thểđộng vật thì chúng phản ứng lại
VD: mùa đông chim bay về phương nam
Trình độ phản ánh tâm lý ở động vật bậc cao (động vật đã có bán cầu đạinão) Động vật này đã xuất hiện cảm giác, tri giác và biểu tượng
Trình độ phản ánh ý thức ở bộ não người Đây là trình độ phản ánh caonhất và chỉ có ở con người Não người là cơ quan nhục thể, nơi sinh ra ý thức, làkết quả của quá trình phát triển hết sức lâu dài của vật chất Não người có trọng
Trang 4lượng bằng 1/45 trọng lượng cơ thể Nó có khoảng 14 – 17 tỉ tế bào thần kinh (tếbào thần kinh điều khiển mọi hoạt động của con người) Não bị tổn thương, hoạtđộng của ý thức sẽ bị hỗn loại Số lượng tế bào thần kinh tham gia điều khiểnhoạt động của cơ thể người là không đáng kế (khoảng 1000 tế bào) Muốn thôngminh phải huy động được càng nhiều tế bào tham gia càng tốt.
- Nguồn gốc tự nhiên của ý thức bao gồm não người và sự phản ánh củathế giới xung quanh
+ Bộ não người là cơ quan vật chất của ý thức Ý thức là chức năng của cộ
óc con người diễn ra trên cơ sở sinh lý thần kinh của bộ óc người Nghĩa là ý thứcphụ thuộc vào hoạt động của bộ não con người, do đó, khi bọ não bị tổn thươngthì hoạt động của ý thức sẽ không bình thường Vì vậy, không thể tách rời ý thức
ra khỏi hoạt động của bộ óc
+ Thế giới khách quan: Ý thức được hình thành nhờ có sự tác động của thế
giới khách quan lên bộ não người Thế giới khách quan được phản ánh thông quahoạt động của các giác quan, đã tác động lên bỗ não con người, hình thành nên
ý thức
* Nguồn gốc xã hội
Nếu chỉ có nguồn gốc tự nhiên thì ý thức chưa thể xuất hiện, vì các loàiđộng vật cũng bị tác động bởi thế giới xung quanh như con ngời Cùng với nguồngốc tự nhiên, ý thức còn có nguồn gốc xã hội Đó là lao động và ngôn ngữ
- Lao động là hoạt động đặc thù của con ngwoif, làm cho con người khác
+ Trong quá trình lao động, bộ não người được phát triển và ngày cànghoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trưu tượng của con người cũng ngày càngphát triển
- Lao động sản xuất cong là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn
ngữ:
+ Trong lao động, con người tất yếu có những quan hệ với nhau và có nhuvầu cần trao đổi kinh nghiệm Từ đó, nảy sinh sự “cần thiết phải nói với nhaumột cái gì đấy” Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và phát triển cùng với lao động
+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái “vỏ vật chất” của tư duy, làphương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, phản ánh một cách khái quá sựvật, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và trao đổi chúng giữa các thế hệ Chính vìvậy, Ăng ghen coi lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” biến bọnão con vật thành bộ não con người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh
ý thức
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp qan trọng nhất quyết định sự ra đời và pháttriển của ý thức là lao động và thực tiễn xã hội, Ý thức phản ánh hiện thực kháchquan vào bộ não người, thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội
Trang 52.1 Bản chất của ý thức
CNDVBC cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não ngườithông qua hoạt động thực tiễn, nên bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quancủa thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Điều đó có nghĩa lànội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hìnhảnh chủ quan, hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý, vật chấtnhư chủ nghĩa duy vật tầm thường quan niệm
- Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan cũng cónghĩa là ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo thế giới, bởi
+ Phản ánh ý thức bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định, Nhu cầu
đó đòi hỏi chủ thể phản ánh phải hiểu được cái được phản ánh, Trên cơ sở đó,hình thành nên hình ảnh tinh thần và những hình ảnh đó ngày càng phản ánhđúng đắn hơ nhiện thực khách quan Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạocủa phản ánh, dựa trên cơ sở phản ánh
+ Phản ánh ý thức bao giờ cũng dựa trên hoạt động thực tiễn và là sảnphẩm của các quan hệ xã hội Là sản phẩ của các quan hệ xã hội, bản chất của
2.3 Vai trò của ý thức trong hoạt động thực tiễn.
MB: CNDVBC khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thứcđồng thời vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ý thức đối với vậtchất Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định, song sau khi ra đời, ý thức có tínhđộc lập tương đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông quahoạt động thực tiễn của con người
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định trong mối quan hệ giữa vậtchất và ý thức thì: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ýthức, quyết định ý thức; song, ý thức có thể tác động ngược trở lại vật chấtthông qua hoạt động thực tiễn của con người Vì vậy, con người phải tôn trọngkhách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của mình
- Phải xuất phát từ thực tế khách quan Điều này đòi hỏi trong hoạt độngnhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải tôn trọng thực tiễn kháchquan, tuân theo các quy luật khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan để đề
ra các chủ trương, đường lối Đồng thời, phải dựa trên cơ sở thực tế khách quan
để kiểm nghiệm, đánh giá các chủ trương, đường lối đó Nói cách khác, chúng taphải lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình
- Phát huy tính năng động chủ quan Điều này đòi hỏi con người phải tôntrọng và biết làm chủ tri thức khoa học, truyền bá tri thức đó vào trong quầnchúng nhân dân để nó dẫn dắt quần chúng Đồng thời, đòi hỏi mỗi người phải
Trang 6biết tự giác tu dưỡng, rèn luyện để hình thành, cùng có nhân sinh quan tiến bộ
và nâng cao ý chí, nghị lực trong hoạt động thực tiễn
- Vai trò của ý thức là ở chỗ trang bị cho con người những tri thức về bảnchất quy luật khách quan của đối tượng Trên cơ sở ấy, con người xác định đúngđắn mục tiêu và đề ra phương hướng hoạt động phù hợp Tiếp theo, con ngườivói ý thức của mình xác định các biện pháp để thực hiện tổ chức các hoạt độngthực tiễn Cuối cùng, bằng sự nỗ lực và ý chí mạnh mẽ của mình, con người cóthể thực hiện được mục tiêu đề ra
- Nhận thức rõ vai trò tích cực của ý thức, của nhân tố chủ quan, Đảng ta đã xácđịnh, trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa hiện nay, phải “lấy việc pháthuy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bềnvững”, đồng thời phải “khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường,phát huy tài chí của người Việt Nam” (Văn kiện Đại hội Đảng VIII)
- Phải phòng, chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, tức là khắcphục tình trạng không tôn trọng quy luật khách quan, lấy ý chí áp đặt cho thực
tế, lấy tình cảm làm điểm xuât phát cho chiến lược, sách lược, lấy ý muốn chủquan làm chính sách
- Phải phòng, chống và khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ, thụ động và bệnhkinh nghiệm chủ nghĩa, coi thường tri thức khoa học, coi thường lý luận tronghoạt động nhận thức và thực tiễn
Câu 3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất – ý thức và ý nghĩa của nó đối với nước ta hiện nay / bản thân mỗi người.
3.1 Trình bày vai trò của vật chất đối với ý thức
Giải quyết nguyên lý mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là giải quyết vấn
đề cơ bản của triết học
- Vật chất quyết định ý thức, điều đó được thể hiện ở chỗ:
+ Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất là nguồn gốc của ý thức, giữvai trò quyết định đối với ý thức
VD: Về thế giới quan cũng như trình tự về mặt thời gian, yếu tố vật chấtxuất hiện trước yếu tố ý thức Cụ thể, phải có yếu tố vật chất mới sinh ra loàingười có ý thức
+ Trong đời sống hiện thực, nhân tố vật chất có trước nhân tố tinh thần.+ Trong đời sống xã hội của con người, kinh tế quyết định chính trị, đờisống vật chất quyết đinh đời sống tinh thần
VD: các nước nhỏ, yếu về kinh tế rất sợ các cường quốc Kinh tếViệt Nam có khởi sắc thì vị thế của Việt Namtrên trường quốc tế mới được nângcao
“có thực mới vực được đạo”
- Ý thức có tính độc lập tương đối và có sự tác động ngược trở lại vật chất
Sự tác động này theo hai hướng: tích cực và tiêu cực Có nghĩa, nếu ý thức năngđộng, sáng tạo, nhận thức đúng quy luật khách quan, hành động đúng thực tiễnthì sẽ thúc đẩy sự phát triển Ngược lại, nếu không năng động sáng tạo, rơi vào
Trang 7tình trạng chủ quan duy ý chí sữ kìm hãm sự phát triển Vì nói đến vai trò của ýthức đối với vật chất là nói đến vai trò của con người trong nhận thức và trongthực tiễn Điều đố lý giải vì sao, cùng một xuất phát điểm nhưng người tiến vềphía trước, kẻ lại lùi lại phía sau.
VD: Sau năm 1975, cả Việt Nam và Hàn Quốc đều bị tàn phá bởi chiếntranh và mới giành lại độc lập, nhưng hiện nay, kinh tế Việt Namthua xa HànQuốc
Sau năm 1975, người dân Thái Lan rất ngưỡng mộ Sài Gòn – “hòn ngọcViễn Đông” Nhưng chỉ sau 10 năm, Việt Namsai lầm về đường lối kinh tế xã hội,còn Thái Lan nhanh chóng thể chế hóa theo đường lối kinh tế thị trường nên họ
đã bứt lên nhanh chóng và vượt qua Việt Nam
- Trong đời sống hiện thực, với những điều kiện cụ thể, không gian và thờigian xác định, nhân tố ý thức có thể là nhân tố quyết định chứ không phải là vậtchất
VD: Trong tất cả các cuộc kháng chiến chống ngoại tộc của dân tộc ta,chúng ta thường yếu hơn kẻ thù về tiềm năng vật chất, binh lực nhưng cuốicùng, chúng ta là người chiến thắng Vì ta có sức mạnh tinh thần đoàn kết dântộc, có lòng yêu nước nồng nàn và có nghệ thuật đánh giặc rất tài tình (lấy nhuthắng cương, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh)
- Tuy nhiên, ý thức chỉ giữ vai trò quyết định trong những điều kiện khônggian, thời gian nhất định Vượt ra khỏi giới hạn đó, vai trò của ý thức sẽ bị mấtđi
VD: người ta chỉ có thể chịu đựng hoàn cảnh khó khăn trong một thời giannhất định, còn nếu hoàn cảnh khó khăn kéo dài thì sẽ không chịu được
Trong một khu phố, nếu tất cả mọi người cùng nghèo, người ta vẫn sốngvui vẻ được, nhưng nếu chỉ cần một nhà giàu lên, cả khu phố đó sẽ có sự đố kỵ
và sẽ tan rã
- Như vậy, ngay cả khi yếu tố ý thức trở thành yếu tố quyết định thì đã bịnhân tố vật chất quy định Bởi tự bản thân ý thức không làm thay đổi được gìtrong hiện thực nếu không có vật chất tác động, làm nền tảng
3.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.
- Khi thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức thf trongnhận thức và trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng quy luật khách quan Mọihành động đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, phải căn cứ vào nhữngđiều kiện vật chất và năng lực vật chất hiện có khi đề ra các quyết sách; khôngđược xuất phát từ ý chí, nguyện vọng cá nhân
VD: Trước thời kỳ đổi mới, đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta đãkhông xuất phát từ thực tế khách quan, kết quả đưa đến tình trạng khủng hoảng
về mọi mặt Và hiện nay, căn bệnh đó vẫn chưa được khắc phục hoàn toàn
- Khi khẳng định ý thức có sự tác động trở lại đối với vật chất thì trongcuộc sống và trong kiến tạo các quyết định, thi hành các quyết định phải luônluôn phát huy tính năng động của ý thức bằng cách không ngừng trau dồi nhậnthức lý luận và chuyên môn, gắn bó với thực tiễn, luôn luôn năng động
Trang 8- Đối với nước ta: Nếu khi lien hệ với Việt Nam, trong mọi đường lối chínhsách, Đảng ta luôn xuất phát từ thực tiễn khách quan, tôn trọng các quy luậtkhách quan Vì vậy, đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợikhác Nhất là trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Tuy nhiên, thời kỳ trướcđổi mới, nước ta đã vấp phải những sai lầm chủ quan trong hoạch định chiếnlược kinh tế - xã hội Hạn chế đó đang đượ từng bước khắc phục Đảng ta khẳngđịnh: mọi đường lối, chủ trương phát triển đất nước đều lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng lý luận Đồng thời, xuất phát từ hiệnthực của đất nước, quốc tế và thời đại.
Câu 4 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
* Phép biện chứng là gì?
Phép biện chứng chẳng qua là khoa học về các quy luật phổ biến của tựnhiên, xã hội và tư duy Phép biện chứng được thể hiện cô đọng trong hainguyên lý Đó là “nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật, hiện tượng” và
“nguyên lý về sự phát triển”
1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Khái niệm mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ sự tác động vàràng buộc lẫn nhau, quy định và chuển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố,các bộ phận trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
a, Nội dung của nguyên lý
- Các sự vật, hiện tượng trong thế giới có mối liên hệ với nhat không? Nếu
có thì tính chất của các mối liên hệ đó như thế nào và ý nghĩa của việc nghiêncứu vấn đề này như thế nào?
- Phép siêu hình cho rằng: các sự vật, hiện tượng trong TGKQ không cóliên hệ gì với nhau, chúng tồn tại một cách biệt lập nhau Do đó, không có sự tácđộng qua lại, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau Đây là một quan niệm sai lầm,không phản ánh đúng bản chất của thế giới
VD: Trong tự nhiên: Giới tự nhiên là một thể thống nhất, nó phụ thuộc lẫnnhau Nếu một loài sinh vật tuyệt chủng thì mắt xích của sự sống trên thế giới sẽ
bị tổn thương
Trong xã hội, các sự kiện kinh tế - chính trị ở một quốc gia nào đókhông chỉ ảnh hưởng đến quốc gia đó mà còn lan tỏa khắp thế giới
Về tư duy, các truyền thống, phong tục tập quán ảnh hưởng rất mạnh
mẽ trong cộng đồng Hay như ông cho có câu “gần mực thì đen, gần đèn thìrạng”
- Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng cũng như cá bộ phận của chúngkhông tồn tại biệt lập với nhau mà có sự liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóalẫn nhau Phép biện chứng duy vật sử dụng phạm trù mối liên hệ phổ biến đểkhái quát thực trạng trên
- Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới.Trên cơ sở đó, phép biện chứng duy vật xem xét thế giơi như một chỉnh thể.Theo đó, các sự vật, hiện tượng dù có phong phú, đa dạng thế nào thì cũng chỉ
Trang 9là những dạng cụ thể của một thế giới duy nhất và thống nhất – thế giới vậtchất.
- Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng
duy vật thể hiện ở các luận điểm cơ bản sau: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế
giới hay giữa các mặt, các bội phận, yếu tố trong cùng một sự vật, hiện tượng luôn tồn tại trong những mối liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau; bản chất, tính quy luật trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng chủ yếu được bộc lộ thông qua sự tác động qua lại lẫn nhau của chúng Để thấy rõ hơn
nội dung này, hãy xem xét các khía cạnh sau:
- Về sự tồn tại của các mối liên hệ:
+ Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ quan chorằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiệntượng là một lực lượng siêu tự nhiên (như trời) hay ở ý thức, cảm giác của conngười
+ Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng
tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia Chúng không có
sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau Nếu giữa chúng có
sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những quy định bề ngoài, mang tính ngẫunhiên Tuy nhiên cũng có một số người cho rằng, các sự vật hiện tượng có mốiliên hệ với nhau và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, song các hình thức liên
hệ khác nhau không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau
+ Những người theo quan điểm biện chứng duy vật cho rằng: các sự vật,hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác độngqua lại, chuyển hóa lẫn nhau; Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở củamối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới,
dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ lànhững dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất – thế giới vật chất.Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, màtồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xácđịnh
- Về vai trò của các mối liên hệ:
+ Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng các sự vật, hiện tượng trong
thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, sự tác độngqua lại lẫn nhau
+ Do sự tồn tại cũng như bản chất của sự vật hiện tượng cũng chỉ bộc lộqua các mối quan hệ, cho nên, trong hoạt động thực tiễn và hoạt động nhậnthưc, chúng ta không được tuyệt đối hóa, hay xem nhẹ một mối quan hệ nào,cũng không nên tách rời các mối qaun hệ với nhau mà phải tính đến tổng thểcác mối liên hệ trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
b, Tính chất của mối liên hệ:
Gồm 3 tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạngphong phú
- Tính khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là vốn có củamọi sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý thức con người
Trang 10- Tính phổ biến của mối liên hệ biểu hiện: bất kỳ một sự vật, hiện tượngnào; ở bất kỳ không gian nào và ở bất kỳ thời gian nào cũng có mối liên hệ vớinhững sự vật hiện tượng khác Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng thì bất
kỳ một thành phần nào, một yếu tố nào cũng có mối liên hệ với những thànhphần, những yếu tố khác
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ biểu hiện: sự vật khác nhau,hiện tượng khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mốiliên hệ biểu hiện khác nhau Phát triển có thể từ thấp đến cao, từ đơn giản đếnphức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
VD: sự học tập phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiệnhơn; sự sống phát triển từ đơn giản (đơn bào) đến phức tạp (động vật)
2 Nguyên lý về sự phát triển
a Nội dung nguyên lý:
Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng cũng như các bộ phận của chúng
không tồn tại một cách tĩnh tại, bất biến mà luôn vận động, chuyển hóa lẫnnhau, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ Phép biện chứng duy vật sử dụngphạm trù phát triển để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơngiản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật, hiệntượng
- Cơ sở của nguyên lý này là quan niệm về vật chất vận động, theo đó, vậtchất luôn luôn vận động, không có vận động nào lại không phải là vận động củavật chất; vận động là thuộc tính của sự vật, là phương thức tồn tại của vật chất
- Nội dung cơ bản của nguyên lý về sự phát triển được thể hiện ở nhữngđiểm sau:
Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động, phát triển,
trong đó phát triển được xem như trường hợp đặc biệt của sự vận động Trong quá trình phát triển, sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới cao hơn, hoàn thiện hơn Phương thức của sự phát triển là sự thay đổi về chất trên cơ sở những thay đổi về lượng Nguồn gốc, động lực của sự phát triển là những mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật, hiện tượng, khuynh hướng của sự phát triển diễn ra theo đường “xoáy ốc”
- Để hiểu rõ nội dung này, chúng ta hãy xem xét cá khía cạnh sau:
+ Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay sự giảm
đi đơn thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặcnếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo mộtvòng tròn khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới + Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thayđổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theođường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lập lại dường như sự vật ban đầu nhưng
ở cấp độ cao hơn
+ Quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển, họ cho rằng mọi sự vật,hiện tượng từ lúc sinh ra cho đến lức mất đi không hề phát triển
b, Tính chất của sự phát triển :
Trang 11Ba tính chất cơ bản : Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng,
phong phú
- Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan Bởi vì, theo quan
điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân
sự vật Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sựtồn tại và vận động của sự vật, nhờ đó sự vật luôn phát triển
- Sự phát triển mang tính phổ biến Tính phổ biến của sự phát triển được
hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiệntượng nào của thế giới khách quan
- Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú Phát triển là khuynh
hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượnglại có quá trình phát triển không giống nhau
3 Ý nghĩa phương pháp luận :
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức sự vật cần có
quan điểm toàn diện Với quan điểm này, khi nghiên cứu sự vật phải xem xét tất
cả các mối liên hệ của bản thân sự vật với sự vật và hiện tượng khác
Phải phân loại các mối liên hệ để hiểu rõ vị trí, vai trò của từng mối liên hệđối với sự vận động và phát triển của sự vật
- Nếu khuynh hướng của các sự vật, hiện tượng trong TGKQ là vận động đilên thì trong nhận thức và thực tiễn cần phải có những quan đểm phát triển.Quam điểm phát triển đòi hỏi: phải phân tích sự vật trong sự phát triển, cầnphát hiện cái mới, ủng hộ cái mới, cần phải tìm nguồn gốc của sự phát triểntrong bản thân sự vật
Tóm lại: Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là cơ sở lý
luận của quan điểm toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển Với cách xem xét,nghiên cứu theo quan điểm toàn diện và phát triển sẽ giúp ta hiểu được bảnchất sự vật, làm cho nhận thức phản ánh đúng đắn về sự vật và hoạt động thựctiễn có hiệu quả cao
sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất
1 Khái niệm chất và khái niệm lượng.
…
Trang 12VD: Nước nguyên chất là chất lỏng nên có khả năng hòa tan, ăn mòn kimloại, không dẫn điện, không màu, không mùi, không vị, nhiệt độ sôi là 1000C.Tập hợp tất cả những thuộc tính đó chính là nước nguyên chất.
Đó là những cái vốn có của sự vật từ khi sự vật được sinh ra hoặc đượchình thành trong sự vận động và phát triển của nó Muốn nhận thức đúng đắn vềnhững thuộc tính của sự vật, chúng ta phải thông qua sự tác động qua lại của sựvật đó với các sự vật khác
+ Chất có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản Thuộc tính cơbản quyết định chất của sự vật Do vậy, nếu thuộc tính cơ bản của sự vật còntồn tại thì chất còn tồn tại; nếu thuộc tính cơ bản của sự vật không còn thì chấtcũng không còn nữa
VD: thuộc tính cơ bản của nước nguyên chất là không màu, không mùi,không vị dùng để phân biệt với các chất khác
Tuy nhiên, ranh giới giữa thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bảncũng chỉ có tính tương đối Bởi, cũng thuộc tính ấy trong quan hệ này là thuộctính cơ bản nhưng trong quan hệ khác nó lại không phải là thuộc tính cơ bản
VD: Cốc nước thủy tinh, trong quan hệ dùng để uống nước thì thuộc tính
có đáy cốc là thuộc tính cơ bản, còn những thuộc tính khác như trọng lượng,chiều cao, màu sắc không phải là thuộc tính cơ bản Nhưng khi dùng để chặngiấy thì thuộc tính trọng lượng lại là thuộc tính cơ bản
Mỗi sự vật có rất nhiều thuộc tính; mỗi thuộc tính lại biểu hiện một chất
của sự vật Do vậy, mỗi sự vật có rất nhiều chất Chất và sự vật có mối quan hệchặt chẽ, không tách rời nhau Trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sựvật không có chất và không thể có chất nằm ngoài sự vật
- Lượng:
+ Khái niệm: Lượng dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt
số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật.
Lượng là cái vốn có của sự vật, song lượng chưa làm cho sự vật là nó,
chưa làm cho nó khác với những cái khác Lượng tồn tại cùng với chất của sự vật
và cũng có tính khách quan như chất của sự vật
Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít,
quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp,… trong thực tế, lượng của sự vậtthường được xác định bởi những đơn vị đo lường cụ thể (vd: vận tốc ánh sáng là300000km/s) Bên cạnh đó có những lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừutượng và khái quát như ý thức trách nhiệm cao hay thấp, Khi đó, ta chỉ có thểnhận thức được lượng của sự vật bằng con đường trừu tượng và khái quát hóa
- Sự phân biệt chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối Có
những tính quy định trong mối quan hệ này là chất của sự vật, song trong mốiquan hệ khác lại biểu thị lượng của sự vật và ngược lại (vd: số học sinh giỏitrong lớp- lượng- lại biểu thị chất lượng học tập của lớp đó-chất)
2 Quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi
về chất.
- Những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất:
Trang 13+ Bất kỳ sự vật hay hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa mặt chất
và mặt lượng Chúng tác động qua lại lẫn nhau Trong sự vật, quy định về lượngkhông bao giờ tồn tại, nếu không có tính quy định về chất và ngược lại
+ Sự thay đổi về lượng và về chất của sự vật diễn ra cùng với sự vận động
và phát triển của sự vật Sự thay đổi về lượng của sự vật có ảnh hưởng tới sựthay đổi về chất và ngược lại, sự thay đổi về chất của sự vật tương ứng với thayđổi về lượng của nó
Để thấy rõ phương thức thay đổi này, chúng ta cần làm rõ quan hệ biệnchững giữa thay đổi về lượng và thay đổi về chất qua các phạm trù: độ, điểmnút, bước nhảy
+ Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay
đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy Độ là mối
liên hệ giữa lượng và chất của sự vật, ở đó thể hiện sự thống nhất giữa lượng vàchất của sự vật
VD: chỉ khi bản án, quyết định của TA có hiệu lực thi hành thì một ngườimới được coi là tội phạm
Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ điểm giới hạn mà tại đó sự
thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật Sự tích lũy đủ về lượng
sẽ tạo ra bước nhảy, chất mới ra đời
VD: nhiệt độ sôi của nước là ở 99,99oC = 100oC đây chính là điểm nút
Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của
sự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên Bước nhảy là sự kết
thúc quá trình biến đổi của lượng cũ, chất cũ; chúng sẽ mất đi và chất mới rađời, thay thế sự vật cũ
VD: Cách mạng tháng 8 năm 1945 là bước nhảy về chất, nó đã kết thúchàng nghìn năm chế độ phong kiến, hàng trăm năm chế độ thực dân, chuyểnnước ta sang một giai đoạn mới của sự độc lập, hòa bình và phát triển
- Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng:
Chất mới của sự vật ra đời sẽ tác động trở lại lượng của sự vật Sự tác
động ấy thể hiện: chất mới có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịpđiệu của sự vận động và phát triển của sự vật Như vậy, không chỉ những thayđổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất mà những thay đổi về chất cũng đãdẫn đến những thay đổi về lượng
VD: khi đun nước đạt đến 100oC, nước sẽ bốc hơi, thể tích sẽ lớn hơn, tốc
độ hoạt động cảu các phân tử nước nhanh hơn, khả năng dẫn nhiệt kém hơn
- Trong tính đa dạng của những hình thức thay đổi về chất, chúng
ta lưu ý tới một số loại bước nhảy cơ bản sau đây:
Bước nhảy để chuyển hóa về chất của sự vật hết sức đa dạng và phong
phú với những hình thức rất khác nhau
Dựa theo nhịp điệu thực hiện bước nhảy của bản thân sự vật có thể phân
chia thành bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần Bước nhảy đột biếnlà
bước nhảy được thực hiện trong một thời gian rất ngắn làm thay đổi chất của
toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực
Trang 14hiện từ từ, từng bước bằng cách tích lũy dần dần những nhân tố của chất mới vànhững nhân tố của chất cũ dần dần mất đi.
Căn cứ vào quy mô thực hiện bước nhảy của sự vật có bước nhảy toàn
bộ và bước nhảy cục bộ Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của
toàn bộ các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật Bước nhảy cục bộ là bước nhảy
làm thay đổi chất của những mặt, những yếu tố riêng lẻ của sự vật
=> Nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa chất và lượng, chúng ta có thể
phát biểu nội dung của quy luật này như sau: Mọi sự vật đều là sự thống nhất
giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới lại có chất mới cao hơn Quá trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng biến đổi và phát triển.(quy luật này
đôi khi được gọi vắn tắt là quy luật lượng, chất hoặc quy luật từ những thay đổi
về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại)
c Ý nghĩa phương pháp luận:
- Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tíchlũy dần dần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy đểchuyển về chất Do đó, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, conngười phải biết từng bước tích lũy về lượng để làm biến đổi về chất theo quyluật Trong hoạt động của mình, ông cha ta đã rút ra những tư tưởng sâu sắcnhư “tích tiểu thành đại”, “năng nhặt chặt bị”, “góp gió thành bão” Những việclàm vĩ đại của con người bao giờ cũng là sự tổng hợp của những việc làm bìnhthường của con người đó Phương pháp này giúp chúng ta tránh được tư tưởngchủ quan, duy ý chí, nôn nóng, đốt cháy giai đoạn muốn thực hiện bước nhảyliên tục
- Quy luật của tự nhiên và quy luật của xã hội đều có tính khách quan.Song quy luật của tự nhiên diễn ra một cách tự phát, còn quy luật của xã hội chỉđược thực hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người Do đó, khi đã tíchlũy đủ về số lượng phải có quyết tâm để tiến hành bước nhảy, phải kịp thờichuyển những sự thay đổi mang tính chất tiến hóa sang những thay đổi mangtính chất cách mạng
- Trong hoạt động con người còn phải biết vận dụng linh hoạt các hìnhthức của bước nhảy
- Trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần vận dụng linh hoạt các hìnhthức của bước nhảy để trong những điều kiện cụ thể, chúng ta có thể lựa chọnbước nhảy để trong những điều kiện cụ thể, chúng ta có thể lựa chọn bước nhảyphù hợp đem lại hiệu quả cao nhất
Câu 6 nội dung và ý nghĩa của quy luật về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
1 Các khái niệm cơ bản:
Trang 15- Mặt đối lập: là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những
tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau.
VD: điện tích âm và điện tích dương, quá trình đồng hóa và dị hóa, giaicấp thống trị và giai cấp bị trị,
- Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạothành mâu thuẫn biện chứng Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách
quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy Mâu thuẫn là sự tác động qua
lại giữa cá mặt đối lập bên trong của sự vật hoặc giữa các sự vật đối lập với nhau Các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau.
- Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, không táchrời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặtkia làm tiền đề
VD: không có quá trình đồng hóa thì không có quá trình dị hóa và ngượclại
- Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng
có những nhân tố giống nhau Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự “đồngnhất” của các mặt đối lập Với ý nghĩa đó, “sự thống nhất của các mặt đối lập”còn bao hàm sự “đồng nhất” của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâuthuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hóa lẫn nhau
- Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn luôn “đấu tranh” vớinhau Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ
2 Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển:
- Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác độngkhác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn Như vậy mâu thuẫn biệnchứng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập Sựthống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự vật Sự đấutranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển Lúc đầu mới xuấthiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng tráingược nhau Sự khác nhau đó càng ngày càng phát triển và đi đến đối lập Khihai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫnnhau, mâu thuẫn được giải quyết Nhờ đó mà thể thống nhất cũng được thay thếbằng thể thống nhất mới; sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế Lêninviết :”Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”, tuy nhiênkhông có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữachúng Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời nhautrong mâu thuẫn biện chứng
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra nội dung của quy luật này
như sau: Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, khuynh hướng đối
Trang 16lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng trong bản thân nó, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển, làm cho cái cũ mất đi, cái mới ra đời thay thế cái cũ Chúng ta cũng có thể diễn
đạt ngắn gọn: sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc,động lực của sự phát triển
- Phân loại mâu thuẫn:
Từ nội dung khái quát trên, để hiểu sâu hơn về quy luật này, cần tìm hiểu cụ thể hơn về các loại mâu thuẫn
+ Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các
mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh
hướng đối lập của cùng một sự vật
VD: Mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân và giai cấp địa chủ trong xã hộiViệt Namtrước cách mạng tháng 8
Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định là mâu thuẫn diễn ra
trong mối quan hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác
VD: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, mâuthuận giữa quốc gia này với quốc gia khác
+ Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật,
mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự
phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồntại các sự vật
VD: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội trong thời đại
ngày nay là mâu thuẫn cơ bản, còn những mâu thuẫn khác trong thời đại ngàynay là những mâu thuẫn không cơ bản
Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện
nào đó của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật
+ Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự
vật trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn
chủ yếu, mâu thuẫn thứ yếu.
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát
triển nhất định của sự vật, nó chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó VD: Ở nước ta hiện nay, vấn đề tham nhũng là mâu thuẫn chủ yếu; còncác mâu thuẫn khác giữa các giai cấp, các thành phần kinh tế là mâu thuẫn thứyếu
Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn ra đời, tồn tại trong một giai
đoạn phát triển nào đó của sự vật, nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bịmâu thuẫn chủ yếu chi phối
+ Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia mâu thuẫn
trong xã hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng
Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoànngười có lợi ích cơ bản đối lập nhau
Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có
lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục
bộ, tạm thời
Trang 17VD: mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân trước cách mạng tháng 8 ở ViệtNam là mâu thuẫn đối kháng; còn mâu thuẫn giữa các giai cấp khác trong xã hội
là mâu thuẫn không đối kháng
Mọi sự vật đều chứa đựng những mặt có khuynh hướng biến đổi ngược
chiều nhau gọi là những mặt đối lập Mối liên hệ của hai mặt đối lập tạo nênmâu thuẫn Các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau và chuyển hóa lẫn nhaulàm mâu thuẫn được giải quyết, sự vật biến đổi và phát triển, cái mới ra đời thaythế cái cũ
3 Ý nghĩa phương pháp luận :
- Để nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng và giải pháp
đúng cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫncủa sự vật Muốn phát hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhấtnhững mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập
và tìm ra những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó
- Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển
của từng mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của cácmâu thuẫn; phải xem xét quá trình phát sinh phát triển và vị trí của từng mặtđối lập, mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng, điều kiện chuyển hóa lẫn nhaugiữa chúng
- Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu
thuẫn, không được điều hòa mâu thuẫn Phải tìm ra các hình thức giải quyếtmâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng loại mâu thuẫn, vừa phùhợp với điều kiện cụ thể
Câu 7 Trình bày nội dung và ý nghĩa của quy luật phủ định của phủ định
1 Các khái niệm phủ định, phủ định biện chứng
- Phủ định là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác.
VD: đốt cháy cây, quả trứng nở thành con gà, chế độ tư bản chủ nghĩađược thay thế bằng chế độ xã hội chủ nghĩa
- Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tựthân vừa có kế thừa và có đổi mới, phát triển, là mắt khâu trong quá trình dẫntới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn cái cũ
Như vậy, phủ định biện chứng là quá trình vừa mang tính khách quan vừamang tính kế thừa Tính khách quan thể hiện ở chỗ nguyên nhân của sự phủdịnh nằm ngay trong bản thân sự vật, do kết quả giải quyết các mâu thuẫn bêntrong sự vật quyết định Hơn nữa, phương thức phủ định sự vật cũng không tùythuộc ý muốn của con người Mỗi sự vật có phương thức phủ định riêng tùythuộc vào tính chất mâu thuẫn và phương thức giải quyết mâu thuẫn của bảnthân sự vật Như vậy là phủ định biện chứng được thực hiện nhờ việc giải quyết
cá mâu thuẫn bên trong sự vật Chính điều này mà phủ định biện chứng là mộttất yếu khách quan của sự vận động và phát triển
- Phủ định biện chứng không phải là sự thủ tiêu, sự phá hủy hoàn toàn cái
bị phủ định Trái lại, để dẫn tới sự ra đời của cái mới, quá trình phủ định biện
Trang 18chứng bao hàm trong đó nhân tố giữ lại những nội dung tích cực của cái bị phủđịnh Phủ định biện chứng do vật là sự phủ định mang tính kế thừa.
2 Phủ định của phủ định – khuynh hướng của sự phát triển
- Phủ định của phủ định là dùng để chỉ một vòng khâu của sự phát triển,
trong đó diễn ra hai lần phủ định biện chứng, sự vật dường như quay lại cái cũnhưng ở trên một trình độ cao hơn
`- Sự phủ định lần thứ nhất được thực hiện một cách căn bản sẽ làm cho
sự vật cũ chuyển thành cái đối lập của mình Sự phủ định lần thứ hai sẽ ra đờimột sự vật mới mang nhiều đặc trưng giống như cái ban đầu, song thực chất,không phải giống như cái cũ, mà dường như lặp lại cái cũ, nhưng trên cơ sở caohơn Chỉ có thông qua phủ định của phủ định mới dẫn tới việc ra đời một sự vậtmới, trong đó có sự lặp lại một số đặc trưng cơ bản của cái xuất phát ban đầu,nhưng trên cơ sở cao hơn
VD: hạt lúa – cây lúa – bông lúa
- Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất tiến lên của sự pháttriển Sự phát triển đi lên đó không phải diễn ra theo đường thẳng, mà theođường “xoáy trôn ốc” Nó nói lên tính kế thừa của quy luật này
Từ sự phân tích trên, có thể phát biểu quy luật này như sau: “Mọi sự vật,
hiện tượng trong quá trình vận động và phát triển của mình đều phải trải qua một chuỗi các phủ định biện chứng, phủ định của phủ định nói lên một chu kỳ của sự phát triển, theo đó sự vật mới dường như quay trở lại cái cũ nhưng trên
cơ sở ca hơn về chất, sự phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc”
3 Ý nghĩa phương pháp luận.
-Quy luật này giúp chúng ta nhận thức đúng về xu hướng phát triển của
sự vật, hiện tượng Sự phát triển không bao giờ diễn ra theo đường thẳng, màquanh co, phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định Vì vậy, tránh thái độ phiếndiện, đơn giản trong nhận thức đối tượng, đặc biệt là các hiện tượng xã hội.Trong sự phát triển của xã hội loài người ở giai đoạn hiện nay của thời đại, chủnghĩa xã hội với tính cách một chế độ xã hội là cái mới Sự khủng hoảng thoáitrào của chủ nghĩa xã hội hiện nay chỉ là một trạng thái tạm thời Chúng ta có
đủ căn cứ để khẳng định rằng sớm hay muộn, chủ nghĩa xã hội sẽ được khôiphục, được phát triển, và cuối cùng, sẽ thay thế hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.Những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới ở nước ta, những vấn đềphát sinh trong chủ nghĩa tư bản hiện đại và tính bất lực của nó trong việc giảiquyết các vấn đề đó là cơ sở cho niềm tin đó
- Trong quá trình phát triển luôn xuất hiện cái mới thay thế cho cái cũ, cáitiến bộ thay thế cho cái lạc hậu, vì vậy phải có thái độ ủng hộ cái mới, tạo điềukiện cho cái mới, cái tiến bộ ra đời Trong công tác chúng ta phải biết phát hiện
và quý trọng cái mới, phải tin tưởng vào tương lai phát triển của cái mới, mặc dùlúc đầu nó còn yếu ớt, ít ỏi; phải ra sức bồi dưỡng, phát huy cái mới, tạo điềukiện cho nó chiến thắng cái cũ
- Chúng ta không được phép có thái độ phủ định sạch trơn mà phải biết
kế thừa có chọn lọc những tinh hoa của cái cũ Bên cạnh việc chống thái độ hư
Trang 19vô chủ nghĩa, phủ định sạch trơn qua khứ, chúng ta cũng phải khắc phục thái độbảo thủ, khư khư giữ lại cả những gì đã lỗi thời cản trở bước tiến của lịch sử.Quan điểm biện chứng duy vật về sự phát triển đòi hỏi trong hoạt động lý luận
và thực tiễn, chúng ta phải biết kế thừa có phê phán, có chọn lọc những nhân tốtích cực của tư tưởng trước, của giai đoạn phát triển trước, của cái bị phủ địnhnói chung, sử dụng như là tiền đề cho sự ra đời của cái mới
Câu 8 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
- Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực,
tự giác và sáng tạo Quá trình phản ánh ấy diễn ra theo trình tự từ chưa biết đếnbiết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ hiện tượng đến bản chất và từ bản chất kémsâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn
- Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, làđộng lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
Dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳngđịnh:
Về bản chất, nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo
thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn.
2 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
- Khái niệm:
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính
lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
- Khác với hoạt động tư duy, hoạt động thực tiễn, là hoạt động mà conngười sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chấtlàm biến đổi chúng theo những mục đích của mình Những hoạt động ấy lànhững hoạt động đặc trưng và bản chất của con người Nó được thực hiện mộtcách tất yếu khách quan và không ngừng được phát triển bởi con người qua cácthời kì lịch sử Chính vì vậy mà thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vật chất cómục đích và mang tính lịch sử - xã hội
- Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phongphú, song có ba hình thức cơ bản là:
+ Hoạt động sản xuất vật chất: Đây là hoạt động thực tiễn nguyên thủy
nhất và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loàingười và quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn, nó tạo thành cơ sởcủa tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người, giúp con ngườithoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật