1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về hoạt động viễn thông trên địa bàn thành phố đà nẵng

113 104 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tồn tại nêu trên dẫnđến cần phải nâng cao công tác quản lý Nhà nước về hoạt động viễn thông,đảm bảo việc phát triển đúng định hướng, phù hợp với quy hoạch cũng nhưtạo điều kiện cho

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết luận nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình khoa học này

Đà Nẵng, ngày … tháng … năm 2018

Tác giả luận văn

Hà Xuân Hiếu

Trang 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của đề tài 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QLNN TRONG HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG 8

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG QLNN VỀ HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG 8 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về viễn thông 8

1.1.2 Khái niệm QLNN trong hoạt động Viễn thông 10

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN trong hoạt động Viễn thông 10 1.1.4 Tầm quan trọng của QLNN trong hoạt động Viễn thông 16

1.2 NỘI DUNG VỀ QLNN TRONG HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG 21

1.2.1 Quy hoạch phát triển viễn thông và cấp giấy phép 21

1.2.2 Thiết lập mạng viễn thông 22

1.2.3 Quản lý kết nối các mạng và dịch vụ, chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông và quản lý tài nguyên viễn thông 23

1.2.4 Quản lý chất lượng mạng, dịch vụ viễn thông và giá cước 24

1.2.5 Quản lý cạnh tranh trong kinh doanh dịch vụ viễn thông 26

1.2.6 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm 28

1.3 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN QLNN VỀ HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 28

1.3.1 QLNN về hoạt động viễn thông tại TP Hà Nội 28

1.3.2 QLNN về hoạt động viễn thông tại TP Hồ Chí Minh 35

Trang 5

TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 41

2.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 41

2.1.1 Nhân tố vĩ mô 41

2.1.2 Nhân tố vi mô 44

2.2 TÌNH HÌNH QLNN VỀ HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 49

2.2.1 Quy hoạch, phát triển viễn thông và cấp giấy phép 51

2.2.2 Thiết lập mạng viễn thông 53

2.2.3 Quản lý kết nối các mạng và dịch vụ, chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông và quản lý tài nguyên viễn thông 55

2.2.4 Quản lý chất lượng mạng, dịch vụ viễn thông và giá cước 58

2.2.5 Quản lý cạnh tranh trong kinh doanh dịch vụ viễn thông 61

2.2.6 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm 62

2.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QLNN VỀ HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 64

2.3.1 Thành tựu 64

2.3.2 Hạn chế 72

2.3.3 Nguyên nhân 75

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QLNN VỀ HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 78

3.1 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QLNN VỀ HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 78

Trang 6

3.1.3 Mục tiêu 80

3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QLNN VỀ HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 81

2.2.1 Hoàn thiện quy hoạch, phát triển viễn thông và cấp giấy phép: 81

3.2.2 Hoàn thiện thiết lập mạng viễn thông 82

2.2.3 Hoàn thiện quản lý kết nối các mạng và dịch vụ, chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông và quản lý tài nguyên viễn thông 85

2.2.4 Hoàn thiện quản lý chất lượng mạng, dịch vụ viễn thông và giá cước 88

2.2.5 Hoàn thiện quản lý cạnh tranh trong kinh doanh dịch vụ viễn thông 90

2.2.6 Hoàn thiện thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm 92

2.2.7 Một số giải pháp khác 95

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 97

3.3.1 Đối với Bộ Thông tin và Truyền thông 98

3.3.2 Đối với Thành phố Đà Nẵng 100

KẾT LUẬN 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)

Trang 7

STT KÝ HIỆU NGUYÊN NGHĨA

6 IPv4 Giao thức kết nối Internet phiên bản thứ tư

7 IPv6 Giao thức kết nối Internet phiên bản thứ sáu

8 ITU Liên minh viễn thông thế giới

9 xDSL Công nghệ đường dây thuê bao số bất đối xứng

10 WTO Tổ chức thương mại thế giới

11 BCVT Bưu chính viễn thông

12 CNTT Công nghệ thông tin

14 TTTT Thông tin truyền thông

Trang 8

Các doanh nghiệp viễn thông được cấp giấy phép và

2.3 triển khai hoạt động tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 46

Số lượng doanh nghiệp chấp hành quản lý chất lượng

2.8 dịch vụ viễn thông trên địa bàn thành phố giai đoạn 59

2011-2016

2.9 Số lượng doanh nghiệp vi phạm về giá cước viễn 61

thông trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011-2016

2.10 Tình hình vi phạm về cạnh tranh trong hoạt động viễn 63

thông trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011-2016

2.11 Số lượng cơ sở kinh doanh dịch vụ viễn thông được 64

thanh tra trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011-2016

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển của đất nước, ngànhThông tin và Truyền thông Việt Nam đã có được tốc độ tăng trưởng cao cả

về quy mô, doanh số, thị trường và đang trở thành một ngành kinh tế mũinhọn của đất nước Số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường ngàycàng tăng, nhất là khi Luật Viễn thông, Luật Tần số vô tuyến điện đã mở rộngtheo hướng cho phép tất cả các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh dịch

vụ và thiết lập hạ tầng mạng viễn thông

Mạng lưới và dịch vụ bưu chính, viễn thông, Internet trong nước, quốc

tế, thông tin hàng hải và truyền báo luôn đảm bảo an toàn thông tin trong hoàncảnh khó khăn do lũ, lụt, thiên tai Thông tin liên lạc từ Trung ương đến địaphương luôn được thông suốt, phục vụ tốt các hoạt động, sự kiện lớn của đấtnước cũng như công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn

Cùng với sự phát triển của cả nước, trong những năm qua, Đà Nẵng đã

có những bước chuyển dịch mạnh mẽ, trong đó lĩnh vực thông tin – truyềnthông là lĩnh vực được quan tâm đầu tư, nâng cấp, mở rộng nhằm đáp ứngnhu cầu của các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp cũng như người dân ĐàNẵng Sở Thông tin và Truyền thông thành phố Đà Nẵng được thành lập theoQuyết định số 1958/QĐ-UBND ngày 06/3/2008 của UBND thành phố ĐàNẵng nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về viễn thông cũng nhưtạo điều kiện cho các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn phát triển đúngtheo quy hoạch, phù hợp với tình hình địa phương

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, công tác quản lý Nhà nước về hoạtđộng viễn thông đang tồn tại những bất cập trên các mặt: cơ sở hạ tầng viễnthông không đồng bộ với hạ tầng giao thông, công tác sử dụng chung cơ sở hạtầng chưa được quan tâm đúng mức làm lãng phí nguồn lực của xã hội; các

Trang 10

dịch vụ quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng chưađược giám sát chặt chẽ; việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanhnghiệp viễn thông chưa được chấn chỉnh v.v Những tồn tại nêu trên dẫnđến cần phải nâng cao công tác quản lý Nhà nước về hoạt động viễn thông,đảm bảo việc phát triển đúng định hướng, phù hợp với quy hoạch cũng nhưtạo điều kiện cho các doanh nghiệp viễn thông phát triển và đáp ứng đượcnhu cầu của người dân về các dịch vụ viễn thông tại Đà Nẵng.

Từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý Nhànước hoạt động viễn thông, đánh giá thực trạng tại Đà Nẵng và đưa ra cáckhuyến nghị cho thành phố là rất cần thiết

Đề tài “Quản lý Nhà nước về hoạt động viễn thông trên địa bàn thành

phố Đà Nẵng” được tác giả lựa chọn với câu hỏi nghiên cứu chính là: Nhà

nước phải quản lý như thế nào để hoạt động viễn thông tại Đà Nẵng pháttriển?

2 Mục tiêu nghiên cứu

a Mục tiêu tổng quát

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý Nhà nước về hoạt độngviễn thông tại Đà Nẵng từ năm 2011 – 2016 và qua đó đề xuất một số khuyếnnghị giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý Nhà nước về hoạt động viễnthông tại thành phố đến năm 2020

Đề xuất một số giải pháp, định hướng để hoàn thiện công tác quản lý

Trang 11

Nhà nước về hoạt động viễn thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: quản lý Nhà nước về hoạt động viễn thông.Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tại Thành phố Đà Nẵng thời kỳ 2011 đến năm 2016 và định hướng đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Các báo cáo của Tổng cục thống

kê, Bộ Thông tin truyền thông, UBND thành phố Đà Nẵng về tình hình kinh

tế - xã hội, giáo trình và đề tài nghiên cứu của các tác giả liên quan đến hoạtđộng viễn thông Dữ liệu thứ cấp từ Cục thống kê thành phố Đà Nẵng, SởThông tin truyền thông thành phố Đà Nẵng, các Sở ngành liên quan đến côngtác quản lý Nhà nước về hoạt động viễn thông, từ đó đưa ra các phân tích phùhợp với đề tài nghiên cứu

Phương pháp thống kê: các số liệu về hoạt động viễn thông tại thành phố

Đà Nẵng từ năm 2011 đến 2016

Phương pháp phân tích: Các phương pháp phân tích dữ liệu chủ yếuđược sử dụng trong luận văn này là: Phân tích chỉ số, tỷ lệ, số trung bình;Phương pháp so sánh giữa các thời kỳ; Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đếnquản lý Nhà nước về hoạt động viễn thông tại thành phố Đà Nẵng, từ đó giảiquyết các mục tiêu xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông hiện đại,

an toàn, góp phần đảm bảo quốc phòng an ninh và nâng cao chất lượng cuộcsống của nhân dân; Thúc đẩy thị trường viễn thông tăng trưởng nhanh, bềnvững, đảm bảo quyền lợi giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân; Rútngắn khoảng cách số giữa các vùng miền, tạo điều kiện cho người dân đặcbiệt là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được sử dụng các dịch vụviễn thông với chất lượng tốt, giá cả hợp lý cũng như tạo lập hạ tầng để nângcao năng lực quản lý, điều hành của tổ chức, cá nhân

Trang 12

Phương pháp so sánh: so sánh số liệu giữa các năm để từ đó rút ra nhận xét, đánh giá kết quả của việc nghiên cứu.

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Sách “Quản lý Nhà nước về bưu chính, viễn thông và công nghệ thôngtin”, TS Lê Minh Toàn, NXB Chính trị quốc gia, năm 2012 đề cập đến các nộidung cơ bản liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về bưu chính, viễn thông,công nghệ thông tin bao gồm: hệ thống cơ quan quản lý, quản lý Nhà nước vềbưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, tần số vô tuyến điện, internet, thanhtra và xử lý vi phạm về thông tin và truyền thông Cuốn sách này cũng đã hệthống hóa lịch sử ngành Bưu chính Viễn thông Việt Nam từ năm 1945 đến naynêu bật những chính sách của Nhà nước đối với ngành Bưu chính Viễn thôngtheo từng giai đoạn: từ năm 1945 đến 1995 ngành Bưu điện vừa thực hiện chứcnăng quản lý Nhà nước vừa thực hiện nhiệm vụ đảm bảo cung cấp dịch vụ Bưuchính viễn thông cho Nhà nước, doanh nghiệp, người dân; đến sau năm 1995,Nhà nước chủ trương cho phép cạnh tranh trong lĩnh vực Bưu chính viễn thông,

vì thế cần phải tách bạch chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi ngành Bưu điện;đến năm 1996 Nhà nước chủ trương thành lập Tổng cục Bưu điện nhằm thốngnhất công tác quản lý lĩnh vực bưu chính viễn

Trang 13

thông, là cơ sở để sau này thành lập Bộ Thông tin truyền thông.

Giáo trình “Quản lý Nhà nước về Bưu chính viễn thông và công nghệthông tin”, Ths Dương Hải Hà, Học viện Bưu chính Viễn thông, Hà Nội, năm

2007 cung cấp nội dung liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về kinh tế,tập trung vào từng lĩnh vực bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin, cơ

sở lý luận chủ yếu dựa vào Pháp lệnh Bưu chính viễn thông năm 2002

Lịch sử Bưu điện Việt Nam, TS Mai Liêm Trực; GS, TS Đỗ Trung Tá,NXB Bưu điện, năm 2002 Các tác giả đã tập trung làm rõ quá trình phát triểncủa Bưu điện Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000, trong đó nêu rõ đặc điểmcủa ngành Bưu điện qua thời kỳ độc quyền Nhà nước đến thời kỳ cạnh tranh,vừa mang tính chất phục vụ Nhà nước và xã hội, vừa mang tính chất quản lýNhà nước Đặc biệt, cuốn sách này cung cấp cho người đọc những văn bản chỉđạo của Đảng, Nhà nước đối với ngành bưu chính, viễn thông qua các thời kỳ.Luận án Tiến sỹ “Phát triển ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020”Trần Đăng Khoa, Trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh năm 2007 Tác giả

đã tập trung phân tích thực trạng của ngành viễn thông Việt Nam giai đoạn từnăm 2000 đến năm 2006, dự báo tính toán về số lượng thuê bao tăng trưởng,kết hợp với xu hướng công nghệ thế giới, từ đó đưa ra các khuyến nghị vềmục tiêu tăng trưởng của ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020 cũngnhư đề xuất các chính sách liên quan đến công tác quản lý, hoạch định chínhsách, thu hút vốn, nguồn lực cho việc phát triển ngành viễn thông Việt Nam.Báo cáo đề tài khoa học và công nghệ “Nghiên cứu, xây dựng mô hình tổchức cơ quan quản lý viễn thông Việt Nam” do Nguyễn Tiến Sơn – Cục Viễnthông – Bộ Thông tin truyền thông chủ trì nghiên cứu, đề xuất năm 2011 Tác giảnghiên cứu hiện trạng cơ quan quản lý viễn thông tại Việt Nam, mô hình của một

số nước như Anh, Singapore, Malaysia, Trung Quốc, khuyến nghị của ITU, từ

đó đưa ra đề xuất thành lập cơ quan quản lý viễn thông tại Việt Nam

Trang 14

Báo cáo đề tài khoa học và công nghệ “Nghiên cứu xu hướng phát triểnmạng xã hội và đề xuất chính sách định hướng phát triển mạng xã hội tại ViệtNam” do Đỗ Công Anh – Viện chiến lược thông tin và truyền thông – Bộ Thôngtin và truyền thông nghiên cứu, đề xuất năm 2011 Tác giả đã phân tích xuhướng sử dụng mạng xã hội sẽ được phổ biến rộng rãi, những tác động củamạng xã hội đến người dùng, đặc biệt trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội,

so sánh với công tác quản lý mạng xã hội ở một số quốc gia như Hàn Quốc,Trung Quốc, EU v.v từ đó tác giả đưa ra các khuyến nghị về chính sách quản lýđối với mạng xã hội như bổ sung thêm các thông tư nghị định về quản lý nộidung trên mạng xã hội, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế tác động xấucủa mạng xã hội đối với tình hình an ninh chính trị tại Việt Nam

Báo cáo đề tài khoa học và công nghệ “Nghiên cứu đề xuất chính sáchquản lý Internet phù hợp với quy định mới của pháp luật về viễn thông” doNguyễn Thành Chung – Cục Viễn thông chủ trì nghiên cứu năm 2011 Tácgiả đã đưa ra các số liệu thống kê, đánh giá về tình hình thị trường viễn thôngtại Việt Nam từ năm 2006 đến 2010, trong đó tập trung vào dịch vụ Internet

và các nhà cung cấp dịch vụ Internet, nêu lên những quy định mới của Nhànước về công tác quản lý dịch vụ Internet, đặc biệt là trò chơi trực tuyến, cácđại lý Internet Tác giả cũng đã so sánh công tác quản lý tại một số nước códịch vụ Internet phát triển như Mỹ, Anh, Úc, Trung Quốc, Hàn Quốc, từ đóđưa ra khuyến nghị nên bổ sung nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành việcquản lý chặt chẽ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung trên nềnInternet như game online; nhắn tin, quảng cáo v.v

Các công trình trên đều có nội dung rất rộng, liên quan đến các lĩnh vựcquản lý Nhà nước về bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin ở cácnước phát triển cũng như tại Việt Nam Mặt khác, do viễn thông là ngành cócông nghệ thay đổi nhanh chóng, liên tục, nên một số khuyến nghị về chính

Trang 15

sách quản lý Nhà nước trong các sách hoặc đề tài nêu trên sẽ không phù hợpvới điều kiện hiện tại ở nước ta.

Ngoài ra, đối với Thành phố Đà Nẵng, chưa có một đề tài nào nghiêncứu đến thực trạng công tác quản lý Nhà nước về Viễn thông, và đưa ra cáckhuyến nghị phù hợp cho Thành phố Đà Nẵng về công tác hoạch định, quản

lý, thực thi hoạt động viễn thông Vì vậy đề tài “Quản lý Nhà nước về hoạtđộng Viễn thông trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng” được lựa chọn có tính kếthừa nhưng không trùng lặp, đảm bảo cơ sở lý luận và tính thời sự

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QLNN TRONG HOẠT ĐỘNG

VIỄN THÔNG1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG QLNN VỀ HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về viễn

thông a Khái niệm về Viễn thông

Theo Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Viễn thông là việc truyền dẫnthông tin giao tiếp qua khoảng cách địa lý [06]

Theo định nghĩa của Thương mại thế giới WTO, Viễn thông chỉ thựchiện nhiệm vụ truyền dẫn thông tin, có nghĩa là tín hiệu được truyền từ điểmnày đến điểm khác, không bao gồm việc xử lý thông tin Ngoài ra, WTOkhông chỉ rõ thông tin là bao gồm những nội dung gì, cũng như không thểhiện rõ môi trường để truyền tải thông tin

Theo Tổ chức Liên minh Viễn thông thế giới ITU, Viễn thông là tất cả

sự chuyển tải, truyền dẫn hoặc thu phát các ký hiệu, tín hiệu, chữ viết, âmthanh, hình ảnh, giọng nói, dữ liệu thông qua các dây dẫn, sóng vô tuyến, cápquang, các phương tiện vật lý hoặc các hệ thống điện từ khác [06]

Định nghĩa của Liên minh Viễn thông thế giới ITU có chỉ rõ, không chỉlàm nhiệm vụ truyền dẫn thông tin, Viễn thông còn có nhiệm vụ thu nhận vàphát đi thông tin Ngoài ra, nội dung thông tin trong định nghĩa của ITU rõràng hơn, bao gồm các thành phần như ký hiệu, tín hiệu, chữ viết, âm thanh,hình ảnh, giọng nói, dữ liệu Trong định nghĩa của ITU còn đề cập đến môitrường để truyền thông tin, bao gồm dây dẫn, sóng vô tuyến, cáp quang, cácphương tiện vật lý hoặc các hệ thống điện từ khác [08]

Theo Luật Viễn thông được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam thông qua năm 2009, Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý

Trang 17

ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tinkhác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phươngtiện điện từ khác.

Đối với Việt Nam, khái niệm Viễn thông được hiểu theo nghĩa rộng hơn,điều này cũng phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ trong thờigian gần đây Thông tin không chỉ được gửi từ thiết bị gửi, truyền đi qua cácphương tiện truyền dẫn đến được thiết bị nhận mà còn được xử lý, mã hóa đểđảm bảo việc bảo mật thông tin v.v Về phần thông tin được mở rộng, khôngchỉ là tín hiệu thoại đơn thuần, mà đó có thể là ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữviết, hình ảnh, âm thanh và được truyền đi thông qua rất nhiều môi trườngtruyền dẫn khác như như cáp, vệ tinh, sóng vô tuyến

b Đặc điểm về viễn thông

Về cơ bản, Viễn thông gồm ba thành phần chính:

Thiết bị phát: tiếp nhận thông tin, xử lý và phát tín hiệu.

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, trong những năm gầnđây, các thiết bị viễn thông ngày càng được hiện đại hóa, tích hợp ứng dụng,tạo thuận lợi tối đa cho người sử dụng cũng như người vận hành, khai thác,quản lý mạng viễn thông Chỉ với chiếc điện thoại di động cũng đã bao gồm

cả thiết bị thu/phát/nhận/xử lý thông tin, chỉ với một phần mềm ứng dụng trênlaptop cũng có thể thực hiện gửi/nhận/mã hóa các file hình ảnh, số liệu, âmthanh

Môi trường truyền dẫn: đảm bảo việc thông tin truyền đến nơi yêu cầu.

Môi trường truyền dẫn cũng đã được mở rộng, trước đây việc truyền tín hiệu

bị hạn chế về mặt không gian và thời gian Ví dụ, nếu truyền tín hiệu thoạiphải có cáp kết nối trực tiếp, nhưng giờ đây với các ứng dụng về sóng điện từ,

về thông tin vệ tinh có thể thực hiện việc gửi nhận thông tin mọi lúc, mọi nơi,đảm bảo nhanh chóng, chính xác

Trang 18

Thiết bị thu: nhận tín hiệu đến và xử lý chuyển thành thông tin có ích.

Sau khi tín hiệu được được thiết bị phát chuyển qua môi trường truyền dẫn,thiết bị thu tiếp nhận tín hiệu, xử lý giải mã và đưa thông tin hữu ích đến vớingười sử dụng

1.1.2 Khái niệm QLNN trong hoạt động Viễn thông

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lênđối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồnlực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật [21]

Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý do Nhà nước là chủ thể, địnhhướng điều hành, chi phối v.v để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trongnhững giai đoạn lịch sử nhất định [21]

Quản lý Nhà nước về viễn thông là sự tác động có tổ chức, có mục đíchcủa Nhà nước lên hoạt động viễn thông để sử dụng có hiệu quả các nguồn lựcnhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh [21]

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN trong hoạt động Viễn thông

a Môi trường vĩ mô

- Về địa lý và thời tiết: trong công tác quy hoạch mạng lưới viễn thông

rất cần quan tâm đến các yếu tố tự nhiên như điều kiện địa lý và thời tiết, cầnxem xét chi tiết tác động của các yếu tố nói trên đến mạng lưới viễn thông, từ

đó đưa ra các định hướng, giải pháp để đảm bảo an toàn cho hệ thống hạ tầngviễn thông

Thứ nhất, tại các khu vực có địa hình đồi núi, vùng sâu vùng xa, việctriển khai mạng lưới viễn thông hữu tuyến sẽ gặp nhiều khó khăn, không thểcung cấp được dịch vụ viễn thông trên diện rộng, vì vậy, nên xây dựng mạnglưới thiết bị vô tuyến để cung cấp các dịch vụ viễn thông đảm bảo độ phủsóng rộng, tiết kiệm được chi phí Song song với đó, phải đầu tư xây dựng

Trang 19

mạng lưới hữu tuyến tiết kiệm chi phí nhất để phục vụ cho các đối tượngkhách hàng quan trọng như các cơ quan chính quyền, doanh nghiệp.

Thứ hai, tại các khu vực đồng bằng thuận lợi cho việc triển khai hạ tầngviễn thông, cung cấp dịch vụ cần tập trung xây dựng mạng lưới hữu tuyến,đặc biệt tại các khu vực đô thị hướng dần đến việc ngầm hóa hạ tầng viễnthông

Thứ ba, điều kiện thời tiết cũng tác động không nhỏ đến cơ sở hạ tầngviễn thông Tại các khu vực chịu nhiều tác động bất lợi của tự nhiên như bão,

lũ, lốc thì việc quy hoạch mạng lưới viễn thông, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuậtnhằm đảm bảo an toàn cho con người, hệ thống hạ tầng viễn thông là rất cầnthiết

- Về dân số: đối với ngành viễn thông, nhân tố dân số tác động tích cực

đến thị trường dịch vụ viễn thông trên các mặt sau:

Thứ nhất, quy mô dân số càng lớn thì mức hấp dẫn của thị trường dịch

vụ viễn thông càng lớn, số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thôngcàng nhiều, góp phần thúc đẩy tăng trưởng cho ngành viễn thông

Thứ hai, mật độ dân số tác động đến việc triển khai cung cấp dịch vụ củacác doanh nghiệp viễn thông Đối với khu vực thành phố, thành thị, nơi tậptrung dân số lớn, các doanh nghiệp viễn thông sẽ tập trung đầu tư vào hạ tầngmạng lưới, thiết bị, công nghệ để đảm bảo cung cấp dịch vụ viễn thông với sốlượng lớn khách hàng nhằm đạt hiệu quả cao nhất trên nguồn vốn đầu tư.Còn các khu vực có mật độ dân số thấp thì mức độ quan tâm triển khai cungcấp dịch vụ của các doanh nghiệp viễn thông chưa được coi trọng

Thứ ba, tỷ lệ dân số cũng tác động đến ngành viễn thông, đối với khu vực

có tỷ lệ dân số trẻ, nhu cầu về các dịch vụ viễn thông mới cao hơn hẳn so với cáckhu vực khác Ngoài ra, những người trong độ tuổi thanh niên tiêu dùng chothiết bị và dịch vụ viễn thông nhiều hơn hẳn so với các độ tuổi còn lại

Trang 20

Như vậy, yếu tố dân số có ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước vềviễn thông trên các nội dung quy hoạch, triển khai cung cấp các dịch vụ viễnthông mới, đầu tư mạng lưới phù hợp để đảm bảo khách hàng là tổ chức cánhân có khả năng sử dụng dịch vụ viễn thông ở tất cả các khu vực, vùng miền.

- Về kinh tế: yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến ngành viễn thông, về

bản chất là ngành thương mại dịch vụ Kinh tế phát triển làm cho nhu cầu củacác tổ chức và cá nhân đối với dịch vụ viễn thông công nghệ thông tin ngày càngtăng cao Các doanh nghiệp viễn thông ngoài việc đảm bảo cung cấp đầy đủ cácdịch vụ viễn thông theo yêu cầu của khách hàng, thì công tác nâng cao chấtlượng dịch vụ viễn thông phải được quan tâm Khi kinh tế phát triển, quy môcủa các tổ chức được mở rộng, đầu tư cho trang thiết bị công nghệ thông tinngày càng lớn, từ đó phát sinh thêm nhu cầu triển khai các ứng dụng viễn thôngnhằm kết nối, truyền dữ liệu thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành

Như vậy, yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước vềviễn thông trên các nội dung định hướng, quy hoạch, đầu tư, quy định tiêuchuẩn chất lượng dịch vụ nhằm tác động đến:

Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp viễn thông cần đầu tư trang thiết bị,

mở rộng mạng lưới, triển khai các dịch vụ viễn thông mới, nâng cao chấtlượng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Thứ hai, đảm bảo phục vụ được các nhu cầu về dịch vụ viễn thông chokhác hàng sử dụng là tổ chức và cá nhân cũng như chất lượng dịch vụ đúngtheo tiêu chuẩn quy định

- Về cơ chế chính sách: là nhân tố rất quan trọng, góp phần thúc đẩy

ngành viễn thông phát triển liên tục, ổn định trong thời gian dài, được xã hộighi nhận là một trong những ngành có khả năng hội nhập sâu với thế giới Cácchính sách của Nhà nước có tác động rất lớn đến công tác quản lý Nhà

nước hoạt động viễn thông, từ mục tiêu đến giải pháp, từ nội dung đến kế

Trang 21

hoạch triển khai, cụ thể:

Thứ nhất, với chủ trương tách chức năng quản lý Nhà nước với quản lýdoanh nghiệp viễn thông đã chấm dứt tình trạng cơ quan hành chính Nhànước can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệpviễn thông, phân định rõ quyền quản lý hành chính kinh tế của Nhà nước vàquản lý sản xuất của doanh nghiệp

Thứ hai, Nhà nước triển khai thực hiện chính sách nền kinh tế nhiềuthành phần đã tạo động lực cho phép thành lập mới nhiều doanh nghiệp viễnthông, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, thúc đẩy cạnh tranh giữacác doanh nghiệp viễn thông nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho xã hội.Thứ ba, mở cửa thị trường viễn thông đối với các doanh nghiệp nướcngoài đã góp phần nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Nhà nước cũngnhư tạo điều kiện cho các doanh nghiệp viễn thông đổi mới mô hình quản lýdoanh nghiệp, tiếp cận được nguồn lực mới cả về nguồn vốn và khoa họccông nghệ nhằm cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp viễn thôngnước ngoài

Thứ tư, với chính sách cho phép các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài

đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp viễn thông tham gia vào thị trường toàncầu, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng của doanh nghiệp cho kháchhàng trên toàn thế giới

Các chính sách trên đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước về hoạt độngviễn thông cần phải được tăng cường nhằm xây dựng định hướng, tạo lập thịtrường viễn thông, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh, tạo điều kiệntối đa cho các doanh nghiệp viễn thông vươn ra tiếp cận thị trường thế giới

- Về khoa học kỹ thuật công nghệ: đây là một trong những yếu tố quyết

định đến sự chuyển mình mạnh mẽ của ngành viễn thông, tác động lớn đếncông tác quản lý Nhà nước

Trang 22

Thứ nhất, đối với công tác quản lý Nhà nước về viễn thông, việc tăngcường ứng dụng khoa học kỹ thuật đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa là nhiệm vụ rất cấp thiết Với tính chất là ngành kinh tế kỹ thuậttạo cơ sở hạ tầng cho xã hội phát triển, các doanh nghiệp viễn thông quan tâmđến khoa học kỹ thuật, thực hiện chiến lược đi thẳng vào công nghệ tiên tiếncủa thế giới, đầu tư trang thiết bị hiện đại nhằm cung cấp các sản phẩm dịch

vụ viễn thông có chất lượng cao, giá cả hợp lý cho khách hàng sử dụng

Thứ hai, là một trong những ngành sử dụng, kế thừa các thiết bị, côngnghệ, dịch vụ của thế giới, công tác quản lý Nhà nước về hoạt động viễnthông nhằm đảm bảo các thiết bị, công nghệ tiên tiến trên thế giới được triểnkhai, đưa vào hoạt động, không để các thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu có cơhội xâm nhập vào thị trường viễn thông

b Môi trường vi mô

- Về doanh nghiệp viễn thông: là đối tượng chính mà công tác quản lý

Nhà nước về viễn thông tác động đến, trên những vấn đề sau:

Thứ nhất, các doanh nghiệp viễn thông thực hiện các nhiệm vụ sản xuất,kinh doanh, đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh cũng nhưhiệu quả của bản thân doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu mà Nhà nước đề ra.Thứ hai, các doanh nghiệp viễn thông hiện thực hóa các chính sách củaNhà nước về viễn thông, thúc đẩy cạnh tranh về chất lượng, giá cả giữa cácdoanh nghiệp với nhau, cung cấp các dịch vụ viễn thông đến với khách hàng,rút ngắn khoảng cách giữa các vùng miền về tiếp cận thông tin

Thứ ba, thông qua thực tiễn sản xuất, kinh doanh của mình, các doanhnghiệp viễn thông đề xuất, kiến nghị các chính sách đối với cơ quan quản lýNhà nước về viễn thông để Nhà nước nghiên cứu, xem xét, điều chỉnh chophù hợp

Về đại lý dịch vụ viễn thông: là tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ viễn

Trang 23

thông cho người sử dụng dịch vụ viễn thông thông qua hợp đồng đại lý kývới doanh nghiệp viễn thông để hưởng hoa hồng hoặc bán lại dịch vụ viễnthông để hưởng chênh lệch giá Là một trong những nhân tố ảnh hưởng đếncông tác quản lý Nhà nước về hoạt động viễn thông trên những mặt sau:Thứ nhất, mở rộng thị trường viễn thông, phát triển thuê bao, triển khaicác ứng dụng dịch vụ viễn thông có sự đóng góp rất lớn của các đại lý.

Thứ hai, việc chấp hành thực hiện các chính sách của Nhà nước về viễnthông ngoài các doanh nghiệp viễn thông, còn có sự tham gia của các đại lýdịch vụ viễn thông nhằm đảm bảo các chính sách của Nhà nước được triểnkhai thực hiện hiệu quả

- Về khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông: là tổ chức, cá nhân ký kết

hợp đồng sử dụng dịch vụ viễn thông với doanh nghiệp viễn thông hoặc đại lýdịch vụ viễn thông Đây là một trong những yếu tố quan trọng tác động đếncông tác quản lý Nhà nước về viễn thông trên các lĩnh vực:

Thứ nhất, khách hàng khi sử dụng các dịch vụ viễn thông đem lại doanhthu, lợi nhuận cho các doanh nghiệp viễn thông vì thế các chính sách của Nhànước, của doanh nghiệp đều hướng đến tạo điều kiện tối đa cho khách hàng

sử dụng dịch vụ, rút ngắn khoảng cách tiếp cận thông tin giữa các vùng miền.Thứ hai, từ nhu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp viễn thông tíchcực đưa ra các sản phầm dịch vụ mới, đòi hỏi công tác quản lý Nhà nướcngày càng nâng cao, kịp thời ban hành các chính sách nhằm hỗ trợ doanhnghiệp cũng như khách hàng sử dụng dịch vụ

Thứ ba, yêu cầu của khách hàng về chất lượng dịch vụ viễn thông ngàycàng cao, vì thế, chính sách của Nhà nước về quản lý chất lượng dịch vụ cầnđiều chỉnh cho phù hợp nhằm yêu cầu các doanh nghiệp viễn thông thực hiệnnghiêm túc, đảm bảo quyền lợi cho khách hàng

Trang 24

1.1.4 Tầm quan trọng của QLNN trong hoạt động Viễn thông

Trong những năm cuối thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21, khi thịtrường viễn thông còn rất nhỏ, với một số lượng ít các doanh nghiệp viễnthông, thuê bao và loại hình dịch vụ viễn thông, chủ yếu là do VNPT nắm thịphần tuyệt đối nên công tác quản lý nhà nước về viễn thông chưa được chútrọng, về cơ bản chỉ là thẩm định cấp phép

Từ năm 2003 đến nay, với chính sách mở cửa thị trường, hội nhập kinh

tế quốc tế cùng xu hướng hội tụ về công nghệ, thị trường viễn thông ViệtNam đã bùng nổ, đầy tính cạnh tranh, với sự xuất hiện của hơn 100 doanhnghiệp viễn thông Thị trường dịch vụ viễn thông đã phát triển rất nhanh, vớimức độ cạnh tranh cao đòi hỏi cần tăng cường năng lực cho công tác trọngtài, quản lý thị trường, giải quyết tranh chấp giữa các doanh nghiệp nhằmđảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng, vì vậy nâng cao công tác quản lýnhà nước lĩnh vực viễn thông là rất cấp thiết

Hoàn thiện hành lang pháp lý phù hợp với sự thay đổi của thị trường, công nghệ và luật pháp chung nhằm tiếp tục tạo điều kiện và thúc đẩy ngành viễn thông phát triển

* Thị trường viễn thông chuyển mạnh từ độc quyền sang cạnh tranh Trước năm 1997, chỉ duy nhất doanh nghiệp Tập đoàn Bưu chính Viễnthông Việt Nam (VNPT) được Chính phủ cấp phép triển khai, cung cấp các dịch

vụ viễn thông tại Việt Nam, tập trung chủ yếu đảm bảo thông tin liên lạc chochính quyền và một phần nhỏ là cung cấp dịch vụ viễn thông cho các doanhnghiệp cũng như nhân dân Đến năm 1997, Chính phủ bắt đầu xoá bỏ độc quyềndoanh nghiệp bằng việc cấp phép cho các doanh nghiệp khác kinh doanh viễnthông như: Tổng Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel); Công ty Cổ phần Dịch

vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) Tuy nhiên, do các lý do khách quan vàchủ quan sau khi được cấp phép các doanh nghiệp mới chưa

Trang 25

triển khai được mạng lưới và Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam(VNPT) vẫn cung cấp hầu hết các dịch vụ viễn thông trên thị trường Nhưvậy, trước năm 2000 thị trường viễn thông Việt Nam về cơ bản vẫn là thịtrường độc quyền doanh nghiệp.

Năm 2002, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông được Uỷ ban Thường vụQuốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X thông qua, cùngcác văn bản hướng dẫn thực hiện của Chính phủ đã thể hiện quan điểm tiếptục mở cửa, thúc đẩy thị trường viễn thông cạnh tranh, phát triển lành mạnh

Do đó thị trường viễn thông ngày càng mang tính cạnh tranh cao hơn và cónhững thay đổi lớn, công nghệ mới được áp dụng nhanh, chất lượng dịch vụngày càng được nâng cao, giá cước ngày càng hạ, doanh thu ngành viễnthông (năm 2008: trên 90.000 tỷ VNĐ) tăng với tỷ lệ khoảng 30% năm, đónggóp lớn cho ngân sách Nhà nước (năm 2008: trên 11.000 tỷ VNĐ) Đồng thờinhiều doanh nghiệp hạ tầng mạng, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông

đã được cấp phép (tính đến hết năm 2008 đã có 10 doanh nghiệp hạ tầngmạng và hơn 60 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông đã được BộThông tin và Truyền thông cấp phép) Số lượng thuê bao điện thoại, Internetphát triển nhanh chóng (năm 2008: hơn 70 triệu thuê bao điện thoại và hơn 20triệu người sử dụng Internet)

Cạnh tranh trên thị trường viễn thông Việt Nam đã giúp cho ngành viễnthông phát triển nhanh, mang lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp, songcũng đòi hỏi hệ thống luật pháp cần có những thay đổi quan trọng (vấn đề mởrộng sự tham gia của các thành phần kinh tế khác trong kinh doanh hạ tầng mạngviễn thông, vấn đề áp dụng các cơ chế kinh tế thị trường trong quản lý tàinguyên viễn thông như đấu giá, chuyển quyền sử dụng v.v) để quản lý và thúcđẩy thị trường viễn thông phát triển trong điều kiện mới, đặc biệt là trong giaiđoạn tới khi mức độ cạnh tranh còn cao hơn nữa với sự tham gia của cả

Trang 26

các nhà đầu tư nước ngoài theo cam kết của Việt Nam trong WTO.

* Công nghệ thông tin và truyền thông tiếp tục phát triển theo hướng hộitụ

Trên thế giới, sự hội tụ giữa viễn thông, máy tính và phát thanh, truyềnhình đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng Việc hội tụ giữa công nghệ thôngtin và truyền thông làm cho khách hàng càng có điều kiện sử dụng nhiều ứngdụng trên một thiết bị viễn thông Ví dụ điển hình là trên máy di động cầm tay

có thể nhận được các chương trình truyền hình, có thể nghe đài, có thể truynhập Internet và nói chuyện điện thoại, ngược lại trên mạng truyền hình cáp

có thể cung cấp các dịch vụ viễn thông và Internet, còn trên mạng Internet cóthể cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình

Sự hội tụ nêu trên xuất phát từ sự phát triển rất nhanh của công nghệ viễnthông và công nghệ thông tin, đòi hỏi sự thống nhất của môi trường pháp lýcũng như sự thống nhất của công tác quản lý để tạo điều kiện cho công nghệ

và dịch vụ có cơ hội phát triển Trong khi đó các văn bản pháp quy hiện hànhchủ yếu tập trung điều chỉnh các hoạt động liên quan đến dịch vụ viễn thôngtruyền thống, không còn phù hợp với thực tế và thông lệ quốc tế cũng nhưkhông tạo môi trường tốt cho các công nghệ và dịch vụ hội tụ phát triển Vìthế, công tác quản lý nhà nước về viễn thông cần phải được bổ sung, hoànthiện nhằm phù hợp với tình hình thực tại cũng như xu hướng công nghệ củatương lai

* Môi trường pháp luật chung có nhiều thay đổi

Từ năm 2005 đến nay, nhiều văn bản pháp luật mới với các cơ chế, chínhsách phát huy nội lực, mở cửa hội nhập, thúc đẩy đầu tư, đẩy mạnh cạnhtranh, phát triển các dịch vụ trên môi truờng mạng như Luật Doanh nghiệp,Luật Đầu tư; Luật Cạnh tranh, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện

tử v.v… được ban hành Bên cạnh đó, nhiều điều ước quốc tế đã

Trang 27

được ký kết như các thoả thuận thương mại song phương và đa phương, đặcbiệt thoả thuận gia nhập WTO của Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trườngviễn thông, cho phép nhà đầu tư nước ngoài hợp tác với các doanh nghiệpViệt Nam để thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông tại Việt Nam hoặccung cấp dịch vụ xuyên biên giới.

Vì vậy, hoàn thiện hành lang pháp lý quản lý nhà nước về viễn thông đểbảo đảm tính thống nhất của hệ thống luật pháp chung là hết sức cần thiết

Thể chế hoá các quan điểm, cơ chế, chính sách mới của Nhà nước,

đặc biệt là về kinh tế thị trường, cải cách hành chính để phát huy nội lực, thúc đẩy cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực viễn thông

* Đẩy mạnh cải cách hành chính

Nhà nước chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính trong đó hoàn thiện

hệ thống tổ chức bộ máy hành chính, cơ chế, chính sách, luật pháp phù hợpvới thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; cải cách thủ tục hànhchính theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho người dân và doanhnghiệp; các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng chủ yếu làquản lý vĩ mô toàn xã hội bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn,quy chuẩn và hướng dẫn, kiểm tra thực hiện

Trước năm 2003, Nhà nước can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp viễn thông, đặc biệt là quản lý giá cước dịch vụtrong đó doanh nghiệp không được chủ động giảm giá mà phải xin phép, hoặckết nối đường truyền giữa các doanh nghiệp viễn thông phải được cơ quanquản lý viễn thông cho phép v.v… Điều này trái ngược với các nguyên tắccủa thị trường viễn thông tự do cạnh tranh, tự động điều chỉnh, do đó cần đẩymạnh cải cách hành chính trong công tác quản lý viễn thông, chuyển mạnh từquản lý tiền kiểm sang quản lý hậu kiểm đồng thời cần minh bạch, phân định

rõ hoạt động xây dựng chính sách và hoạt động thực thi pháp luật để đảm bảo

Trang 28

thực hiện tốt vai trò Nhà nước là trọng tài trên thị trường có mức cạnh tranhcao, đảm bảo công tác thực thi quản lý Nhà nước một cách hiệu quả, côngkhai, minh bạch theo yêu cầu của WTO và thông lệ quốc tế.

*Áp dụng cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong hoạtđộng kinh tế

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và các Nghị quyết Hộinghị Trung ương đã xác định rõ: Đảng và Nhà nước định hướng phát triểnnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong đó chủ trươngchuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường, phát huy mọi tiềm năng và nguồnlực, tạo bước đột phá trong xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo môi trường thuậnlợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia và cạnh tranhbình đẳng trên thị trường dịch vụ, Nhà nước giữ cổ phần chi phối đối với cáctổng công ty, công ty cổ phần hoạt động trong những ngành, những lĩnh vựcthiết yếu cho việc bảo đảm những cân đối lớn của nền kinh tế Nhà nước kiểmsoát chặt chẽ độc quyền và tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế tham gia và cạnh tranh bình đẳng trên thịtrường dịch vụ

Đối với lĩnh vực viễn thông, nếu chỉ hoạt động theo cơ chế thị trườngthuần túy thì sẽ dẫn đến trường hợp những khu vực, địa bàn có nhu cầu, tiềmnăng lớn các doanh nghiệp viễn thông sẽ tập trung đầu tư hạ tầng, triển khaidịch vụ cũng như không cung cấp dịch vụ tại các khu vực vùng sâu, vùng xa,vùng khó khăn nơi đem lại ít lợi nhuận Do đó, quản lý nhà nước đối với lĩnhvực viễn thông nhằm đảm bảo triển khai mạng lưới viễn thông rộng khắp, đápứng được yêu cầu của mọi khách hàng trên tất cả các địa bàn, rút ngắnkhoảng cách tiếp cận thông tin nhằm đẩy nhanh công cuộc đổi mới, côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là hết sức cần thiết

Bên cạnh đó, theo pháp luật hiện hành việc phân bổ tài nguyên viễn

Trang 29

thông từ trước đến nay vẫn được thực hiện chủ yếu trên cơ sở xét cấp theonguyên tắc “ai xin trước cấp trước”, cụ thể trên các lĩnh vực kho số cho dịch

vụ điện thoại, tần số cho dịch vụ di động Việc quản lý tài nguyên viễn thôngtheo nguyên tắc này chưa hoàn toàn phù hợp với cơ chế thị trường, đặc biệt

là khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO vì không phảnánh đúng giá trị nguồn tài nguyên viễn thông Từ đó dẫn đến việc sử dụng tàinguyên được phân bổ chưa đem lại hiệu quả, chưa phân bổ đúng cho doanhnghiệp viễn thông thực sự cần và thực sự có năng lực, đồng thời không minhbạch rõ ràng theo thông lệ quốc tế Vì vậy áp dụng cơ chế thị trường trongviệc phân bổ tài nguyên viễn thông theo hướng thi tuyển, đấu giá, chuyểnnhượng đối với một số nguồn tài nguyên viễn thông quý hiếm, mang tínhthương mại nhằm đảo bảo tính hiệu quả cao trong công tác quản lý nhà nướclĩnh vực viễn thông là rất cần thiết

1.2 NỘI DUNG VỀ QLNN TRONG HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG

Căn cứ vào tình hình thực tế tại Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế thìcông tác quản lý Nhà nước về viễn thông bao gồm những việc:

1.2.1 Quy hoạch phát triển viễn thông và cấp giấy phép

Quy hoạch phát triển viễn thông là quy hoạch tổng thể xác định mụctiêu, nguyên tắc, định hướng phát triển thị trường viễn thông, cơ sở hạ tầngviễn thông, công nghệ, dịch vụ viễn thông và các giải pháp thực hiện [08].Quy hoạch phát triển viễn thông phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng khu vực trong giai đoạnnhất định cũng như phải phù hợp với xu hướng hội tụ công nghệ và dịch vụ,tạo điều kiện cho việc ứng dụng công nghệ mới, công nghệ tiên tiến Quyhoạch viễn thông đảm bảo phát triển hoạt động viễn thông bền vững, hài hòa,thu hẹp khoảng cách tiếp cận thông tin liên lạc giữa các vùng, miền

Cấp các giấy phép viễn thông là việc cấp các giấy phép thiết lập mạng

Trang 30

viễn thông và giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông cho các doanh nghiệp có

đủ điều kiện theo qui định của pháp luật về viễn thông [08] Bản chất của việccấp các giấy phép viễn thông là việc cho phép các doanh nghiệp được thamgia vào thị trường dịch vụ viễn thông hay còn gọi là thâm nhập thị trường.Kinh doanh viễn thông là một ngành kinh doanh có điều kiện bởi vì việc duytrì thông tin liên lạc thông suốt trong mọi tình huống là việc có ảnh hưởngđến an ninh quốc gia, phát triển kinh tế xã hội cũng như việc trao đổi thôngtin giao lưu tình cảm của mọi cá nhân Nội dung thông tin riêng của tổ chức

cá nhân được bảo đảm bí mật theo Hiến pháp Ngoài ra, việc kinh doanh viễnthông cần đến nguồn tài nguyên viễn thông quý hiếm và hữu hạn, cần đượcNhà nước quản lý, phân bổ một cách tối ưu, hiệu quả nhất Tuỳ từng loạihình dịch vụ viễn thông mà có các loại Giấy phép kinh doanh khác nhau, nhất

là trong bối cảnh công nghệ viễn thông, máy tính phát triển rất nhanh đồngthời có sự hội tụ giữa viễn thông và truyền thông quảng bá Việc cấp phép làcần thiết để đảm bảo được một thị trường viễn thông phát triển lành mạnh vàbền vững, đảm bảo được sự quản lý của Nhà nước và bảo vệ quyền lợi chongười sử dụng dịch vụ Chính sách của Nhà nước về viễn thông ngày càngminh bạch, công khai hóa các điều kiện, quy trình, thủ tục cấp các Giấy phépviễn thông

1.2.2 Thiết lập mạng viễn thông

Sau khi được cấp phép, các doanh nghiệp viễn thông triển khai xây dựngmạng viễn thông trước khi tiến hành cung cấp dịch vụ viễn thông tới người sửdụng Thực tế cho thấy, việc xây dựng các công trình viễn thông và lắp đặt thiết

bị viễn thông nếu không được quản lý thì sẽ gây lãng phí đầu tư, mất mỹ quan

đô thị và đặc biệt ảnh hưởng đến môi trường, an toàn sức khoẻ và tâm lý củangười dân Việc xây dựng các cột ăng-ten thu phát sóng thông tin di động khắpmọi nơi, việc treo cáp viễn thông lộn xộn trên các cột điện của nhiều

Trang 31

doanh nghiệp viễn thông phải mất rất nhiều công sức và kinh phí để hạ ngầmcác tuyến cáp hay chỉnh trang lại các khu đô thị Tuy nhiên, nếu không tạomột hành lang pháp lý hợp lý quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật liên ngành: giaothông, điện, nước,… các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn và không đầu tư pháttriển mạng viễn thông thì sẽ không có dịch vụ viễn thông tiên tiến cung cấpđến mọi người dân và không thể phát triển kinh tế, xã hội đất nước trong kỷnguyên thông tin hiện nay.

1.2.3 Quản lý kết nối các mạng và dịch vụ, chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông và quản lý tài nguyên viễn thông

Kết nối viễn thông là việc liên kết vật lý và lô gích các mạng viễn thông,qua đó người sử dụng dịch vụ viễn thông của mạng này có thể truy nhập đếnngười sử dụng hoặc dịch vụ của mạng kia và ngược lại [08]

Việc kết nối viễn thông là cần thiết để đảm bảo tất cả mọi người sử dụngdịch vụ viễn thông của các doanh nghiệp khác nhau đều có thể liên lạc đượcvới nhau Thông thường, việc kết nối là do các doanh nghiệp chủ động đàmphán với nhau, tuy nhiên, kết nối là vấn đề chuyên ngành phức tạp do thực tếcác doanh nghiệp lớn không có xu hướng tạo điều kiện cho các doanh nghiệpmới (có thị phần nhỏ hoặc doanh nghiệp mới tham gia thị trường) được kếtnối vào mạng và dịch vụ của mình với mục đích giữ thị trường cho riêngmình, đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Vì vậy, Nhà nước, ngoàiviệc ban hành các quy định pháp luật, cần hướng dẫn và làm trọng tài, giámsát việc kết nối các mạng viễn thông của các doanh nghiệp

Chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông là việc sử dụng chung một phần mạng,công trình, thiết bị viễn thông giữa các doanh nghiệp viễn thông nhằm bảođảm thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông hiệu quả, hoặc bảo đảmyêu cầu về cảnh quan, môi trường và quy hoạch đô thị [08] Thông thường,việc chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông được thực hiện theo qui hoạch và thông

Trang 32

qua hợp đồng thương mại trên cơ sở bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp củacác bên Tuy nhiên, trong một số trường hợp vẫn cần có vai trò của cơ quanquản lý Nhà nước như khi các bên không đạt được thỏa thuận hay khi cungcấp dịch vụ viễn thông công ích hoặc có doanh nghiệp viễn thông nắm giữ cácphương tiện thiết yếu.

Kết nối viễn thông và chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông là công tác quản

lý chuyên môn thường xuyên, liên tục và yêu cầu mức độ giám sát với khảnăng kỹ thuật, nghiệp vụ rất sâu về chuyên môn

Tài nguyên viễn thông bao gồm: tần số, kho số viễn thông, tên miền vàđịa chỉ Internet [08] Nhìn chung, tài nguyên viễn thông là hữu hạn, vì vậy cầnphải được qui hoạch hợp lý và sử dụng hiệu quả, phù hợp với sự phát triểncủa công nghệ trên toàn cầu Trên thế giới, việc phân bổ nguồn tài nguyênviễn thông được thực hiện bởi các cơ quan quản lý Nhà nước, thông quanhiều hình thức như cấp trực tiếp đối với những tài nguyên thông thường;đấu giá, thi tuyển đối với tài nguyên quý hiếm Việc cấp phép theo hình thứcnào tùy thuộc vào mức độ quí hiếm của tài nguyên đó do tính thương mại củatài nguyên và nhu cầu của các doanh nghiệp nhiều hơn khả năng phân bổnguồn tài nguyên này

1.2.4 Quản lý chất lượng mạng, dịch vụ viễn thông và giá cước

Chất lượng mạng và dịch vụ viễn thông (QoS) là khả năng đáp ứng yêucầu hoạt động thông suốt, ổn định, tin cậy của mạng viễn thông và yêu cầuthông tin liên lạc của người sử dụng dịch vụ viễn thông cả về âm thanh, dữliệu hoặc hình ảnh, video [18] Việc đảm bảo chất lượng mạng và dịch vụviễn thông là điều đặc biệt quan trọng trong kinh doanh viễn thông, nhất làkhi thị trường có tính cạnh tranh cao Việc quản lý chất lượng được thực hiệnthông qua hình thức chứng nhận hợp quy, chứng nhận hợp chuẩn, công bốhợp quy (đối với thiết bị đầu cuối, thiết bị vô tuyến điện), kiểm định (đối với

Trang 33

công trình viễn thông, thiết bị mạng và thiết bị vô tuyến điện) và công bố chấtlượng, báo cáo chất lượng, kiểm tra thực tế chất lượng (đối với dịch vụ viễnthông) Vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước là ban hành tiêu chuẩn, quychuẩn, quy định về chứng nhận hợp quy, giám sát việc thực hiện của cácdoanh nghiệp và tiến hành thanh kiểm tra định kỳ.

Việc quản lý chất lượng mạng và dịch vụ viễn thông cũng nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng dịch vụ viễn thông, đảm bảo hệthống tính giá, cước viễn thông của các doanh nghiệp chính xác, việc lắp đặtthiết bị viễn thông, thiết bị vô tuyến điện đảm bảo an toàn về mức phơi nhiễmđiện từ trong các khu dân cư, …

Công trình viễn thông là công trình xây dựng, bao gồm hạ tầng kỹ thuậtviễn thông thụ động (nhà, trạm, cột, cống, bể) và thiết bị mạng được lắp đặtvào đó [08] Việc quản lý chất lượng công trình viễn thông bao gồm banhành, áp dụng và kiểm định theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn viễn thông đảmbảo an toàn chất lượng mạng và dịch vụ viễn thông

Song song với việc quản lý chất lượng mạng và dịch vụ viễn thông, việcquản lý xuất nhập khẩu hàng hóa viễn thông nhằm đảm bảo chất lượng mạng

và dịch vụ viễn thông và ngăn chặn được các hàng hóa viễn thông gây mất antoàn

Tổ chức xây dựng hệ thống đo kiểm chuyên ngành viễn thông vàInternet, triển khai đo kiểm chất lượng sản phẩm, chất lượng mạng và dịch

vụ, đo kiểm định thiết bị viễn thông và đài vô tuyến điện đáp ứng yêu cầu củacác tổ chức, cá nhân có nhu cầu

Giá, cước viễn thông bao gồm giá, cước cần phải thanh toán giữa cácdoanh nghiệp viễn thông và giá, cước của các dịch vụ viễn thông người sửdụng phải trả cho doanh nghiệp viễn thông [08] Quản lý giá, cước viễn thông

là việc xem xét, điều chỉnh giá, cước kết nối giữa các doanh nghiệp viễn

Trang 34

thông cũng như giám sát giá cước doanh nghiệp viễn thông cung cấp chongười sử dụng Việc quản lý giá, cước viễn thông nhằm mục đích cho doanhnghiệp mới có thể tham gia được thị trường, thị trường phát triển lành mạnh

và hiệu quả, đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng dịch vụ viễn thông, vàđảm bảo khả năng truy cập được dịch vụ viễn thông cơ bản của tất cả mọingười Quản lý giá, cước viễn thông và quản lý khuyến mại đối với các dịch

vụ viễn thông nhằm đảm bảo các doanh nghiệp không ép giá, bán dịch vụ vớigiá quá cao đối với người sử dụng tại những nơi chưa có cạnh tranh, tạinhững nơi đã có cạnh tranh thì doanh nghiệp viễn thông lớn không bán phágiá nhằm tiêu diệt doanh nghiệp nhỏ Trên thế giới, tùy thuộc vào mức độphát triển và tự do hóa của thị trường mà cơ quan quản lý viễn thông quyếtđịnh tham gia quản lý giá, cước viễn thông ở mức độ nào và đến đâu, cùngvới việc quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông

1.2.5 Quản lý cạnh tranh trong kinh doanh dịch vụ viễn thông

Cạnh tranh trong viễn thông là nhân tố quan trọng khuyến khích cácdoanh nghiệp đầu tư và tạo động lực để giành lợi thế về giá cả và chất lượngdịch vụ viễn thông cung cấp cho khách hàng Việc quản lý cạnh tranh trongkinh doanh dịch vụ viễn thông nhằm đảm bảo thúc đẩy cạnh tranh, tạo điềukiện cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh viễn thông trong môitrường bình đẳng, công bằng, minh bạch theo cơ chế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa đồng thời đảm bảo giám sát và điều chỉnh kịp thời chống cáchành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo các quyđịnh về quản lý cạnh tranh

Cụ thể hơn, Luật Viễn thông năm 2009, ngoài các quy định về việc cácDoanh nghiệp viễn thông không được thực hiện các hành vi hạn chế cạnhtranh, cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của Luật cạnh tranh, Nhànước còn quy định một số điều sau đây:

Trang 35

a Ngoài các quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp viễn thônghoặc nhóm doanh nghiệp viễn thông có vị trí thống lĩnh thị trường, doanhnghiệp viễn thông nắm giữ phương tiện thiết yếu không được thực hiện cáchành vi sau đây:

- Bù chéo dịch vụ viễn thông để cạnh tranh không lành mạnh;

- Sử dụng ưu thế về mạng viễn thông, phương tiện thiết yếu để cản trởviệc xâm nhập thị trường, hạn chế, gây khó khăn cho hoạt động cung cấp dịch

vụ viễn thông của các doanh nghiệp viễn thông khác;

- Sử dụng thông tin thu được từ doanh nghiệp viễn thông khác vào mục đích cạnh tranh không lành mạnh;

- Không cung cấp kịp thời cho doanh nghiệp viễn thông khác thông tin

kỹ thuật về phương tiện thiết yếu và thông tin thương mại liên quan cần thiết

để cung cấp dịch vụ viễn thông

b Doanh nghiệp viễn thông hoặc nhóm doanh nghiệp viễn thông có vị tríthống lĩnh thị trường, doanh nghiệp viễn thông nắm giữ phương tiện thiết yếuphải thực hiện thống kê, kế toán riêng đối với dịch vụ viễn thông chiếm thịphần khống chế để xác định giá thành dịch vụ viễn thông chiếm thị phần khống chế

c Từng thời kỳ, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Danh mụcdoanh nghiệp viễn thông, nhóm doanh nghiệp viễn thông có vị trí thống lĩnhthị trường đối với các dịch vụ viễn thông quan trọng mà Nhà nước cần quản

lý cạnh tranh, Danh mục doanh nghiệp viễn thông nắm giữ phương tiện thiếtyếu; quy định và tổ chức thực hiện biện pháp quản lý nhằm thúc đẩy cạnhtranh và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh dịch vụ viễn thông

d Các doanh nghiệp viễn thông khi tập trung kinh tế có thị phần kết hợp

từ 30% đến 50% trên thị trường dịch vụ liên quan phải thông báo cho cơ quanquản lý chuyên ngành về viễn thông trước khi tiến hành tập trung kinh tế

Trang 36

e Việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật cạnh tranh tronghoạt động viễn thông phải được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Thôngtin và Truyền thông.

1.2.6 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm

Để đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm minh, cần tăng cườngcông tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm của mọi tổ chức, cá nhân Đặcbiệt trong hoạt động viễn thông, nếu không xử lý kịp thời các vi phạm, sẽ dẫnđến những thiệt hại rất lớn của các doanh nghiệp khác Yếu tố thời gian cầnđược đặt lên hàng đầu trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay khi kinhdoanh dịch vụ viễn thông tại Việt Nam

Tranh chấp giữa các doanh nghiệp viễn thông trong môi trường cạnhtranh bao gồm tranh chấp về kết nối, về sử dụng chung cơ sở hạ tầng, vềthanh toán tài chính, về thực hiện các thỏa thuận nghiệp vụ v.v Pháp luật vềviễn thông quy định hình thức giải quyết tranh chấp thông thường thông quaviệc cơ quan Nhà nước tổ chức hiệp thương giữa các bên xảy ra tranh chấp.Sau một thời hạn nào đó (45 ngày), nếu việc hiệp thương không thành công,

cơ quan Nhà nước quyết định giải quyết vụ việc tranh chấp, các doanh nghiệpphải thi hành trong thời gian chờ đợi các chế tài khác như: Trọng tài, Tòa ánnếu như các bên không nhất trí với quyết định giải quyết tranh chấp của cơquan Nhà nước

Thanh tra chuyên ngành về viễn thông và tổ chức bộ máy thanh trachuyên ngành do Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện theo quy định củapháp luật về thanh tra

1.3 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN QLNN VỀ HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 1.3.1 QLNN về hoạt động viễn thông tại TP Hà Nội

Hà Nội là trung tâm kinh tế - chính trị của cả nước, trong những năm

Trang 37

qua, Thành phố Hà Nội là một trong những thành phố đi đầu trong cả nước vềphát triển viễn thông xét trên các khía cạnh số lượng doanh nghiệp viễnthông, số lượng khách hàng, triển khai áp dụng các công nghệ mới, cung cấpcác dịch vụ mới Vì vậy việc quản lý Nhà nước về hoạt động viễn thông tạiThành phố Hà Nội để đem lại hiệu quả cao nhất luôn là một thách thức khôngnhỏ, trong đó có các vấn đề về quản lý các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nộidung và các doanh nghiệp cung cấp hạ tầng viễn thông.

Đối với công tác quản lý các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội

dung

Dịch vụ nội dung thông tin là dịch vụ cung cấp thông tin công cộng chongười sử dụng dịch vụ Các thông tin công cộng là thông tin trên mạng của tổchức cá nhân được công khai cho tất cả các đối tượng mà không cần xác địnhdanh tính, địa chỉ cụ thể của đối tượng đó Cụ thể các dịch vụ nội dung nhưsau:

+ Dịch vụ cung cấp, phân phối nội dung thông tin qua môi trường mạng:truy vấn thông tin về thời tiết, giá cả, tài khoản ngân hàng v.v thông

qua tin nhắn đến các đầu số được doanh nghiệp nội dung công bố, ví dụ1900xxxx, 5xxx, 6xxx, 7xxx, 8xxx (x là số tự nhiên từ 0÷9)

Theo quy định của Nhà nước, các doanh nghiệp cung cấp nội dungthông tin sau khi được cấp phép tiến hành ký hợp đồng với các công ty cungcấp dịch vụ viễn thông đăng ký các đầu số sử dụng, thực hiện các kết nối đếndoanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông và triển khai dịch vụ, thu phí sửdụng của khách hàng Các dịch vụ điển hình như: truy vấn thông tin tài khoảnngân hàng, thời tiết, giá cả, kết quả xổ số v.v; nhắn tin quảng cáo các sảnphẩm và dịch vụ; nhắn tin tư vấn dịch vụ.Theo thống kê của Sở Thông tintruyền thông Hà Nội, tính đến hết năm 2013, tại Thành phố Hà Nội có hơn

200 doanh nghiệp cung cấp, phân phối nội dung thông tin với tổng doanh thu

Trang 38

hơn 1000 tỷ đồng Việc cung cấp các dịch vụ nội dung đã làm cho người sửdụng cảm thấy rất thuận tiện trong tìm kiếm các thông tin cần thiết, đảm bảotính an toàn, bảo mật Ví dụ: khách hàng đăng ký dịch vụ truy vấn tài khoảnngân hàng, khi một giao dịch thay đổi số tiền trong tài khoản (rút, nhập thêm)đều được nhắn tin về số điện thoại của khách hàng Hoặc, nếu cần thông tin

về thời tiết ở một khu vực nào đó, khách hàng có thể nhắn tin đến đầu số cungcấp dịch vụ, chủ dịch vụ sẽ nhắn tin phản hồi và cung cấp các thông tin vềthời tiết trong một khoảng thời gian nhất định Ngoài những mặt tích cực củadịch vụ nội dung, không tránh khỏi việc một số doanh nghiệp cung cấp dịch

vụ nội dung lừa đảo khách hàng hoặc phát tán tin nhắn quảng cáo rác đếnkhách hàng, cũng như cung cấp những nội dung không lành mạnh như lô đề,bói toán, khiêu dâm, kích động bạo lực, khi khách hàng nhắn tin vào các đầu

số này đều bị trừ tiền rất cao (ví dụ tin nhắn 67xx có giá 15.000đ/1 tin nhắn)

Để lành mạnh hóa môi trường kinh doanh dịch vụ nội dung, Sở Thông tintruyền thông Hà Nội đã ban hành quy trình xử lý đối với các đầu số, số điệnthoại nhắn tin rác, số điện thoại thực hiện cuộc gọi nhỡ lừa đảo trên địa bàn.Theo đó, Phòng Văn hóa - Thông tin (VHTT) các quận, huyện, thị xã vàPhòng Tiếp dân của Sở TT-TT sẽ là đầu mối tiếp nhận thông tin về tin nhắnrác, cuộc gọi nhỡ lừa đảo Thông tin này sẽ được thống kê, tổng hợp chuyển

về sở mỗi tháng 1 lần Phòng Bưu chính viễn thông tổng hợp những số điệnthoại, đầu số nhắn tin sai quy định và tham mưu để lãnh đạo Sở ra văn bảnyêu cầu các doanh nghiệp (DN) thông tin di động ngừng cung cấp dịch vụ cácthuê bao vi phạm, chấm dứt hợp đồng hợp tác kinh doanh với các DN cungcấp dịch vụ nội dung qua tin nhắn dùng đầu số để phát tán tin nhắn rác, lừađảo Căn cứ trên thông tin, báo cáo từ DN về các thuê bao, DN dịch vụ nộidung có đầu số (CPS) vi phạm, thanh tra Sở sẽ tiến hành kiểm tra xử lý các viphạm Sở cũng yêu cầu các DN phải ngừng cung cấp dịch vụ đối với các số

Trang 39

điện thoại nhắn tin rác hoặc chấm dứt hợp đồng đối với các DN cung cấp dịch

vụ nội dung (CPS), CP (đối tác cung cấp nội dung) vi phạm Tính đến cuốinăm 2013, Sở TT-TT đã ra 4 văn bản yêu cầu các doanh nghiệp viễn thôngtiến hành xử lý và không cung cấp lại đối với 31 đầu số và 208 số điện thoạiphát tán tin nhắn rác, lừa đảo

+ Dịch vụ số hóa các văn bản, tài liệu, ấn phẩm, tác phẩm có bản quyền:cung cấp các thông tin thông qua các chương trình được cài đặt trên thiết bịđầu cuối khách hàng như smart phone, máy tính v.v và khách hàng phải trảphí cho nhà mạng viễn thông, sau đó nhà mạng viễn thông sẽ chia tỷ lệ %doanh thu cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung

Số hóa là việc sử dụng các thiết bị công nghệ số để chuyển đổi các hìnhthức tài liệu dưới dạng truyền thống sang dạng số để thông tin có thể được xử

lý, lưu trữ, và truyền phát qua các thiết bị kỹ thuật số và trên mạng Vấn đề bảnquyền trong số hoá tài liệu, cũng như bản quyền trong môi trường kỹ thuật sốnói chung rất phức tạp Các Điều ước quốc tế, cụ thể Hiệp ước của WIPO vềquyền tác giả (WCT) và Hiệp ước của WIPO về cuộc biểu diễn và bản ghi âm(WPPT) cùng hệ thống pháp luật quốc gia đã tiếp cận và điều chỉnh những vấn

đề mới nảy sinh trong môi trường số Tuy nhiên, nó vẫn trở thành vấn đề “đauđầu” của không chỉ tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, cơ quan quản lý Nhà nước

mà cả những người muốn khai thác, sử dụng tác phẩm để số hoá một cách hợppháp Họ gặp phải rất nhiều câu hỏi về bản quyền khi tiến hành số hoá các tàiliệu phục vụ cho các mục đích khác nhau, ví dụ thư viện số hoá các tài liệu đểlưu trữ và phục vụ bạn đọc tra cứu, tham khảo; số hóa các tác phẩm nghệ thuật(âm nhạc, văn học) và cung cấp trên các trang web; hoặc khi cung cấp một phầnmềm từ điển điện tử có bản quyền ra thị trường thì bản quyền nội dung từ điểnphải trả cho cá nhân, tổ chức nào v.v Theo số liệu từ Cục Điện ảnh có tới hơn

400 website tiếng Việt đang công

Trang 40

khai chiếu hàng chục ngàn bộ phim trên Internet, đa số các bộ phim (cả trongnước và quốc tế) đều chưa được các website này mua bản quyền Ngoài ra,trên mạng internet có hàng ngàn trang web cung cấp dịch vụ nghe nhạc,ebooks, tải tài liệu trực tuyến, các trang web này trực tiếp thu tiền đối vớingười sử dụng khi kích hoạt các đường link thông qua việc thanh toán nộpthẻ điện thoại, chuyển khoản ngân hàng v.v; tuy nhiên, việc thanh toán chiphí bản quyền cho các cá nhân, tập thể có quyền bản quyền hoặc quyền liênquan thì chủ các trang web không nhắc đến hoặc lờ đi Sở TTTT Hà Nội chưa

đủ điều kiện về hệ thống thiết bị kiểm soát cũng như cơ chế quản lý để đảmbảo nội dung bản quyền cho các tác phẩm trên mạng, đây là một trong nhữngtồn tại rất lớn đối với công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực thông tin, truyềnthông

+ Dịch vụ cung cấp trò chơi trực tuyến (game online): là dịch vụ cungcấp cho người chơi khả năng truy nhập vào mạng và chơi các trò chơi điện tửtrên mạng

Theo thống kê của Bộ TTTT, số lượng game online được cấp phép tăngdần hàng năm (năm 2008: 21 game; năm 2009: 43 game; năm 2010: 55 game;năm 2011: 62 game; năm 2012: 76 game), ngoài ra, trên thị trường có hàngtrăm game không được cấp phép vẫn hoạt động, các game này đều xuất xứ từnước ngoài (chủ yếu là Trung Quốc, Hàn Quốc), sau đó được Việt hóa nộidung và triển khai hoạt động Người chơi game khi truy cập vào các trangweb để chơi phải đăng ký tài khoản và nạp tiền vào tài khoản, việc nạp tiềnchủ yếu là mua thẻ cào của các mạng di động như Vinaphone, Mobiphone,Viettel v.v kích hoạt Ngành game đem lại nguồn doanh thu không nhỏ năm

2011 là hơn 6.000 tỷ đồng; năm 2012 là hơn 5.000 tỷ đồng, năm 2013 làkhoảng 4.800 tỷ đồng Ngoài việc phát triển game trên máy tính cùng cácthiết bị chuyên dụng, một xu hướng mới nổi trong khoảng 3 năm gần đây là

Ngày đăng: 19/01/2019, 10:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[11] Đỗ Công Anh (2011), “Nghiên cứu xu hướng phát triển mạng xã hội và đề xuất chính sách định hướng phát triển mạng xã hội tại Việt Nam”, Báo cáo đề tài khoa học công nghệ, Viện chiến lƣợc thông tin và truyền thông – Bộ Thông tin và truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Công Anh (2011), “"Nghiên cứu xu hướng phát triển mạng xã hội và đề xuất chính sách định hướng phát triển mạng xã hội tại Việt Nam
Tác giả: Đỗ Công Anh
Năm: 2011
[12] Chính phủ nước CHXHCNVN (2008), Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước CHXHCNVN (2008), "Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCNVN
Năm: 2008
[13] Chính phủ nước CHXHCNVN (2011), Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước CHXHCNVN (2011), "Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCNVN
Năm: 2011
[15] Nguyễn Thành Chung (2011), “Nghiên cứu đề xuất chính sách quản lý Internet phù hợp với quy định mới về pháp luật về viễn thông”, Báo cáo đề tài khoa học công nghệ, Cục Viễn thông - Bộ Thông tin truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thành Chung (2011), “"Nghiên cứu đề xuất chính sách quản lý Internet phù hợp với quy định mới về pháp luật về viễn thông
Tác giả: Nguyễn Thành Chung
Năm: 2011
[16] Dương Hải Hà (2007), “Quản lý Nhà nước về Bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin”, Giáo trình Học viện Bưu chính Viễn thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dương Hải Hà (2007), “"Quản lý Nhà nước về Bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin
Tác giả: Dương Hải Hà
Năm: 2007
[17] Đỗ Ngọc Hƣng (2011), “Nghiên cứu phí quyền hoạt động viễn thông, lệ phí cấp phép viễn thông theo quy định của Luật Viễn thông”, Báo cáo đề tài khoa học và công nghệ, Cục Viễn thông – Bộ Thông tin truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Ngọc Hƣng (2011), “Nghiên cứu phí quyền hoạt động viễn thông, lệphí cấp phép viễn thông theo quy định của Luật Viễn thông
Tác giả: Đỗ Ngọc Hƣng
Năm: 2011
[19] Sở Thông tin truyền thông thành phố Đà Nẵng (2011-2016), Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở Thông tin truyền thông thành phố Đà Nẵng (2011-2016)
[20] Thủ tướng chính phủ (2010), Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2010 phê duyệt đề án “Đƣa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng chính phủ (2010), Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2010 phê duyệt đề án “Đƣa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2010
[21] Lê Minh Toàn (2007), “Quản lý Nhà nước về bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin”, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Minh Toàn (2007), “"Quản lý Nhà nước về bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin
Tác giả: Lê Minh Toàn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2007
[14] Chính phủ nước CHXHCNVN (2007), Nghị định số 187/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Khác
[23] UBND thành phố Đà Nẵng (2007), Quyết định số 3401/QĐ-UBND ngày 28 tháng 12 năm 2007 về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển bưu chính, viễn thông đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, tp Đà Nẵng Khác
[24] UBND thành phố Đà Nẵng (2012), Quyết định số 2036/QĐ-UBND ngày 18 tháng 7 năm 2012 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch phát triển Bưu chính – Viễn thông thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2020, tp Đà Nẵng Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w