PHẠM VĂN HIỆPTên chuyên đề: “THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH SẢN KHOA TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN VÀ SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TẠI TRANG TRẠI LỢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THUỐC THÚ Y ĐỨC HẠNH – MARP
Trang 1PHẠM VĂN HIỆP
Tên chuyên đề:
“THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH SẢN KHOA TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN VÀ SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TẠI TRANG TRẠI LỢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THUỐC THÚ Y
ĐỨC HẠNH – MARPHAVET”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa:Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2013 - 2018
Thái Nguyên – năm 2017
Trang 2PHẠM VĂN HIỆP
Tên chuyên đề:
“THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH SẢN KHOA TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN VÀ SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TẠI TRANG TRẠI LỢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THUỐC THÚ Y
ĐỨC HẠNH – MARPHAVET”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Lớp: TY45N03
Khoa:Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 - 2018 Giảng viên hướng dẫn: ThS Phạm Thị Trang
Thái Nguyên – năm 2017
Trang 3tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệmkhoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tậntình dạy dỗ dìu dắt em trong suốt quá trình học tập tại trường
Công ty Marphavet, xã Trung Thành, huyện Phổ Yên, Thái Nguyên, đãtạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập, giúp em hoàn thành tốtcông việc trong thời gian thực tập tại cơ sở
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS Phạm Thị Trang đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tình trong suốt
quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này
Để góp phần cho việc thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đạtkết quả tốt, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của gia đình
và bạn bè Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quýbáu đó
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày… tháng … năm 2017
Sinh viên
Phạm Văn Hiệp
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn chăn nuôi tại trại lợn liên kết công ty CP
thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet năm 2016 và năm 2017 37
Bảng 4.2 Lịch sát trùng trại lợn nái 38
Bảng 4.3 Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 39
Bảng 4.4 Tình hình mắc bệnh sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại 40
Bảng 4.5 Kết quả điều trị bệnh sinh sản tại cơ sở thực tập 41
Bảng 4.6 Tổng hợp một số nội dung thực tập tại Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet 44
Bảng 4.7 Kết quả tìm hiểu về một số loại thuốc 46
Bảng 4.8 Tìm hiểu một số sản phẩm thương hiệu cám Nanofeed 47
Bảng 4.9 Doanh thu cám thương hiệu Nanofeed tháng 12 tại vùng Tân Yên và Lạng Giang- Bắc Giang 48
Bảng 4.10 Doanh thu của thuốc Marphavet tháng 1 tại tỉnh Phú Thọ 49
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Cs: Cộng sự
Cp: Cổ phần
HTNC: Huyết thanh ngựa chửa
MMA: Mastitis Metritis Agalactia - Hội chứng viêm vú,viêm tử
cung và mất sữa
PRRS: Porcine reproductive and respiratory syndrome - Hội chứng
rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn
Nxb: Nhà xuất bản
TT: Thể trọng
VTM: Vitamin
Tc: Tiêu chảy
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của chuyên đề 2
1.3 Ý nghĩa của chuyên đề 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất nơi thực tập 3
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm) 6
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 7
2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 7
2.2.2 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 12
2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 16
2.2.4 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nuôi tại cơ sở 20
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 30
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 30
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 32
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THEO DÕI
34 3.1 Đối tượng 34
3.2 Địa điểm và thời gian theo dõi 34
3.3 Nội dung và các chỉ tiêu theo dõi 34
Trang 73.3.1 Nội dung theo dõi 34
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 34
3.4 Phương pháp theo dõi 35
3.4.1 Phương pháp xác định tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái
35 3.4.2 Phương pháp theo dõi biểu hiện lâm sàng và bệnh tích của lợn mắc bệnh sinh sản 35
3.4.3 Một số công thức tính toán các chỉ tiêu 36
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 36
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại lợn công ty CP Marphavet năm 2016 và năm 2017 37
4.2 Kết quả thực hiện biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản 38
4.2.1 Kết quả thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 38
4.2.2 Kết quả tiêm phòng vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn nái và lợn con 39
4.3 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh và điều trị bệnh trên đàn lợn nái
40 4.3.1 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh sinh sản ở lợn nái tại trại 40
4.3.2 Kết quả điều trị bệnh sinh sản của lợn nái tại cơ sở thực tập 41
4.4 Kết quả thu được trong quá trình thực tập tại công ty Cp thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet 43
4.4.1 Kết quả tổng hợp một số nội dung thực tập tại công ty Cp thuốc thú y Đức hạnh Marphavet 43
4.4.2 Kết quả tìm hiểu về một thuốc của công ty 46
4.4.3 Tìm hiểu một số loại cám của công ty 47
4.4.4 Kết quả doanh thu thương hiệu cám Nanofeed 48
4.4.5 Kết quả doanh thu thuốc Marphavet 49
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 8Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp một lượng thực phẩmlớn cho tiêu dùng của người dân, nên chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợnnói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc pháttriển Nhờ vậy, công tác lai tạo giống cũng được triển khai và thu được nhiềukết quả to lớn như: Tạo ra các giống lợn có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh, tỉ
lệ nạc cao Bên cạnh đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướngcông nghiệp, quy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc,nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn chất lượng cao, các loại thức ăn thaythế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng.Trong đó, công tác thú y đã được đặc biệt chú ý đến
Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinhsản là dịch bệnh còn xảy ra phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôitập chung trong các trang trại cũng như nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình Đốivới lợn nái nhất là lợn nái ngoại được chăn nuôi theo phương thức côngnghiệp cho nên tỷ lệ mắc bệnh sinh sản ngày càng nhiều hơn do khả năng
Trang 9thích nghi của đàn lợn nái với điều kiện ngoại cảnh nước ta còn kém Mặtkhác trong quá trình sinh đẻ lợn nái dễ bị nhiễm các vi khuẩn như
Streptococcus, E coli… xâm nhập và gây nhiễm trùng Đặc biệt là bệnh viêm
tử cung đây là loại bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn
mẹ Bệnh tuy không xảy ra ồ ạt nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợn nái:gây chết thai, lưu thai, sẩy thai… nghiêm trọng hơn bệnh vẫn âm thầm làmhạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đếnnăng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn Với mụcđích góp phần nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn, nâng cao hiệu quả củađiều trị bệnh, tiết kiệm chi phí nuôi tại trại lợn nái liên kết của công tyMarphavet
Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Theo dõi tình hình mắc bệnh sản khoa trên đàn lợn nái sinh sản và sử dụng phác đồ điều trị”.
1.2 Mục tiêu của chuyên đề
- Theo dõi tình hình bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trại lợn TâmHuệ xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức Hà Nội
- Đánh giá hiệu quả của phác đồ điều trị thực tế tại cơ sở
- Tham gia một số hoạt động kinh doanh tại Công ty Marphavet
1.3 Ý nghĩa của chuyên đề
Những khuyến cáo từ kết quả của chuyên đề giúp cho người chăn nuôilợn được những thiệt hại do bệnh gây ra
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất nơi thực tập
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của công ty
Công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet là một trong nhữngCông ty hàng đầu Việt Nam sản xuất vắc xin, thuốc thú y chất lượng cao, tiêuchuẩn quốc tế, hướng đến xuất khẩu và cạnh tranh bền vững thời kỳ hội nhập.Sản phẩm của Marphavet mang lại giá trị kinh tế và hiệu quả điều trị bệnh cao,hợp với hình thức chăn nuôi trang trại công nghiệp quy mô lớn, kỹ thuậthiện đại, đầu năm
2010, Ban Giám đốc công ty đã đầu tư hơn 195 tỷ đồng xây dựng nhà máythuốc thú y đạt tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới GMP/WHO với 3 dâychuyền: Thuốc tiêm, thuốc dung dịch uống và thuốc bột, đưa vào sử dụng từcuối năm
2011 Đến nay, Công ty tiếp tục đầu tư thêm trên 250 tỷ đồng xây dựng nhàmáy vắc xin với 3 dây chuyền sản xuất vắc xin vi khuẩn, dây truyền vắc xin virút trên tế bào và dây chuyền sản xuất vắc xin vi rút trên phôi trứng, cả 3 dâychuyền công nghệ Châu Âu đang đi vào hoạt động và cho kết quả tốt
Sau hơn 12 năm hoạt động, Marphavet đã có những bước phát triển vượtbậc cả về quy mô sản xuất kinh doanh, thị trường và số lượng cán bộ chuyênnghiệp có chiều sâu, am hiểu sâu sắc tư duy quản trị Hiện tại, Marphavet có 5công ty thành viên và 12 chi nhánh tại các thành phố lớn gồm: Công ty CPthuốc thú y Đức Hạnh Marphavet, Công ty cổ phần Nanovet, Công ty cổ phầnBMG, Công ty cổ phần Hoàng Đức Hiền, Công ty rượu BMG Với tổng diệntích hơn
12,5 ha và 2 nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP/WHO trên cả 6 dây chuyền thuốc
và vắc xin công nghệ cao Trụ sở nhà máy đặt tại Xã Trung Thành- Phổ Thái Nguyên và 12 chi nhánh khác trên cả Nước như: Chi nhánh Cần Thơ, Chi
Trang 11Yên-nhánh Nha
Trang 12Trang, Chi nhánh Đà Nẵng, Chi nhánh Huế, Chi nhánh Hải Phòng và Chinhánh Mỹ Đình - Hà Nội Sản phẩm của Marphavet phủ khắp 63 tỉnh thànhtrong cả nước và xuất khẩu sang trên 10 nước trên Thế giới Hệ thống nhàphân phối và đại lý với số lượng hơn 8.000 đại lý Marphavet có đội ngũ nhân
sự chuyên môn trình độ cao với hơn 1.000 CBNV bao gồm 2 Giáo sư, 5 PhóGiáo sư, 8 Tiến sỹ,
29 Thạc sỹ, trên 500 Bác sĩ thú y và Kĩ sư chăn nuôi, 15 Dược sĩ nhân y, 12
Cử nhân Công nghệ sinh học có nhiều kinh nghiệm thực tế trong ngành, hơn
250 Cử nhân kinh tế, Kế toán, Luật, Nhân văn, Quản trị kinh doanh,Marketing, Cơ khí chế tạo máy, Điện lạnh…có trình độ chuyên môn thườngxuyên được tập huấn ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài sang đào tạo,đội ngũ công nhân thâm niên lành nghề, môi trường làm việc thân thiện,chuyên nghiệp, nhiều cơ hội thăng tiến Ngoài ra Công ty đang hợp tác tốt vớicác Bộ, Vụ, Cục, Viện, Liên hiệp, Hội, Trung tâm và các trường đại học trong
và ngoài nước Trang trại liên kết của công ty là trang trại đạt chuẩn trại đượcxây dựng năm 2010 với hệ thống chuồng khép kín cơ sở vật chất tương đốiđầy đủ với quy mô lớn
2.1.2.2 Điều kiện cơ sở vật chất của trang
trại
- Trại lợn của công ty cổ phần thuốc thú y Marphavet có khoảng 6 ha đất
để xây dựng trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và cáccông trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
- Khu nhà ở của công nhân được xây ở đầu hướng gió; nhà ở được lợpngói đỏ; có hai dãy nhà ở, một dãy nhà năm phòng và một dãy nhà ba phòng
- Khu nhà ăn xây dựng khang trang, sạch sẽ Khu nấu ăn được trang bị tủlạnh, bếp ga để thuận tiện cho việc bảo quản và chế biến thức ăn
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồngtrại cho 400 nái bao gồm: hai chuồng đẻ mỗi chuồng có 50 ô kích thước 2,4 m
× 1,6m/ô, hai chuồng bầu mỗi chuồng có 250 ô kích thước 2,4 m × 0,65m/ô,một chuồng đực giống + nái hậu bị có 20 ô kích thước 5 m × 6 m , sáu chuồngthương phẩm mỗi chuồng có 20 ô kích thước 5 m × 6 m, và một chuồng úm
Trang 13có 20 ô kích thước 5 m × 6 m Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chănnuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc.
- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệthống giàn mát, cuối chuồng có ba quạt thông gió đối với các chuồng đẻ; bốnquạt đối với các chuồng bầu, các chuồng thương phẩm, chuồng nái hậu bị +đực giống và chuồng úm Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính; mỗi cửa sổ
có diện tích 1,2 m²; cách nền 1,2 m; mỗi cửa sổ cách nhau 0,8 m Trên trầnđươc lắp hệ thống chống nóng bằng thép Ngoài ra, mỗi chuồng thương phẩmcòn được trang bị hệ thống cho ăn tự động hiện đại nhất hiện nay, với 100%thiết bị và dây chuyền nhập khẩu từ Đan Mạch
- Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máyđếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóngliều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đềuđược đổ bê tông và có các hố sát trùng
- Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng mua từbên ngoài về (do trại xây dựng gần biển nên không thể khoan giếng lấy nướcngọt được) Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ aochứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới cácchuồng khác nhau
* Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau:
- 01 chủ trại là đại lý thuốc của công ty
- 01 trưởng trại
- 01 kỹ thuật trại
- 02 kế toán
- 06 công nhân và 6 sinh viên thực tập
- 02 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
Trang 14Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổchuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng lợn thương phẩm Mỗi tổ thực hiệncông việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại.
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm)
2.1.2.1 Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật Trại lợn của công ty nuôi cả lợn nái sinh sản và lợnthương phẩm, gồm các giống lợn khác nhau như: Yorkshire, Landrace,Pietrain, Hampshire, Duroc Ngoài ra, trại còn nuôi 2 giống lợn khác là:Meishan và lợn Móng Cái làm dự án với số lượng nhỏ
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,0 - 2,3 lứa/năm Sốcon sơ sinh là 11,15 con/đàn, số con cai sữa: 9,9 con/đàn
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26ngày thì tiến hành cai sữa, sau đó được chuyển sang chuồng úm
Lợn thương phẩm tại trại được nuôi từ lúc sau cai sữa đến lúc xuất bánkhoảng 4 đến 5 tháng với khối lượng trung bình từ 90 đến 105 kg/con
Trong trại có 28 lợn đực giống các loại, các lợn đực giống này được nuôinhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinhnhân tạo, một số cho phối giống trực tiếp Tinh lợn được khai thác chủ yếu từhai giống lợn Landrace và Yorkshire Lợn nái được phối 3 lần và được luânchuyển giống cũng như con đực
Thức ăn cho lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao củacông ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet cho từng đối tượng lợncủa trại
2.1.2.2 Công tác thú y
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luônthực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty cổphần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet
Trang 15- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát vềmùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinhchuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, đường đi trong trại được quét dọn vàrắc vôi theo quy định.
- Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phảisát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa cácchuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôibột, các phương tiện ra vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng
Với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” nên tất cả lợn ở đây đều
được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ Quy trình phòng bệnh bằngvắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối vớitừng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con.Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡngtốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo đượctrạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đànlợn luôn đạt 100 %
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểmtra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được
kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnhnên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, khônggây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
có liên quan đến nội dung của chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Sự thành thục về tính
- Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái, đặc biệt là cơ quansinh dục đã phát triển cơ bản hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội
Trang 16tiết, con vật xuất hiện các phản xạ về sinh dục, khi đó trên buồng trứng có khảnăng thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ.
Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế
độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại
+ Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau:những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giốngthuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơnnhững giống có tầm vóc lớn
Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4] cho rằng: Tuổi động dục đầu tiên ởlợn nội (ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 – 25 kg
Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn sơ với lợn nội thuần, ở lợn laiF1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thểđạt 50 – 55 kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc độngdục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 – 80 kg Tuỳ theo giống, điều kiệnchăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn
ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngàytuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầumuộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi
Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổiđộng dục Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông,điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mứctăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thìxuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày(mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngàythấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thànhthục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo
12 giờ mỗi ngày
Trang 17Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính củalợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thànhthục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém,lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trungbình 188, 5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chếthức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 thángtuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thànhthục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục,nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tíchluỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năngbình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmonoestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của hoocmon trong
cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trongsuốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi lợncái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu củaHughes và James (1996) [30], cho thấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêngtừng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn cái được nuôi nhốt theonhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu
tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu lợn cái hậu bị thườngxuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn lợn cái hậu bị khôngtiếp xúc với lợn đực giống Theo Hughes và James, (1996) [30], lợn cái hậu bịngoài 90 kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực,mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83 % lợn cái hậu bị động dục lần đầu
- Tuổi thành thục về tính của gia súc:
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc,nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớnlên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh và
Trang 18cs (2003) [4]: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳnày cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôithai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt
và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mớicho phối giống
2.2.1.2 Sự thành thục về thể vóc
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [11], tuổi thành thục về thể vóc làtuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc
ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục
về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầutiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, tronggiai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn
mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt,nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xươngchậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năngsuất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm.Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nêncho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 -
110 kg mới nên cho phối
2.2.1.3 Chu kỳ động
dục
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể
đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiệntượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao,noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thảitrứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạtcác biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đóđược lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính
Trang 19Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [28], lợn nái sau khi thành thục vềtính thì bắt đầu biểu hiện động dục, lần thứ nhất biểu hiện không rõ ràng, cáchsau đó 15 - 16 ngày động dục trở lại, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó
đi vào quy luật mang tính chu kỳ
Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [25], chu kỳ tính của lợn nái thườngdiễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dàikhoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chialàm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực(phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)
+ Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưacho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trênđối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40 giờ, với lợn nội là 25 - 30 giờ
+ Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lênlưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yênkhi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu đượcphối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30 giờ
+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở,đuôi cụp và không chịu đực
- Thời điểm phối giống thích hợp
Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [25], trứng rụng tồn tại trong tửcung 2 - 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48 giờ Thờiđiểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai chophối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục.Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3
do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnhhưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kếtquả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu
Trang 202.2.1.4 Sinh lý quá trình mang thai và đẻ
Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãnhoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tửcung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tốtrong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: Progesterone trong 10 ngàyđầu có chửa tăng rất nhanh cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi nó hơi giảmxuống một chút ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa
để an thai, ức chế động dục 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterone giảm độtngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời
kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất.Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (Jose Bento và cs.2013) [34]
2.2.2 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát dục
* Sinh trưởng là một quá trình sinh lý hóa phức tạp, duy trì từ khi phôithai được hình thành đến khi thành thục về tính Sinh trưởng là quá trình tíchlũy các chất do đồng hóa và dị hóa; là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài,chiều ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặctính di truyền từ thế hệ trước Thực chất sinh trưởng là sự tăng trưởng và sựphân chia các tế bào trong cơ thể
Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục rấtnhanh Từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa trọng lượng của lợn con tăng 10 - 12lần So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơngấp nhiều lần (Nguyễn Quang Linh, 2005) [15]
Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảochất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại
và tăng trọng lượng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnhtật của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs 2003) [14]
Trang 21Theo Trần Thị Dân (2004) [3], lợn con mới đẻ trong máu không cóglubulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹsang con qua sữa đầu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạchcầu, được tổng hợp còn ít khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh.
* Khái niệm phát dục
Cùng với quá trình sinh trưởng các tổ chức trong cơ thể luôn hoàn thiệnchức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục Phát dục là một quá trình thayđổi về chất lượng tức là sự thay đổi tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất,chức năng của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể nhờ vậy vật nuôi hoàn thiệnđược các chức năng của cơ thể sống và tăng trọng lượng theo tuổi giảm
* Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của lợn con
Lợn con giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục nhanh.Trần Văn Phùng và cs (2004) [21] cho biết: Tốc độ sinh trưởng của lợnkhông đồng đều qua các giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu sau
đó giảm So với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và vào lúc 60ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân nhưngchủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trongmáu lợn con thấp Do lợn có tốc độ sinh trưởng và phát triển nhanh nên khảnăng tích lũy các chất dinh dưỡng rất mạnh Lợn con 21 ngày tuổi có thể tíchlũy 9 - 14 g protein/1 kg khối lượng cơ thể Trong khi đó, lợn trưởng thànhtích lũy được 0,3 - 0,4 kg protein Hơn nữa, để tăng 1 kg khối lượng cơ thểlợn con cần rất ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn thức ăn thấp vì khối lượng chủyếu của lợn con là nạc, mà để sản xuất ra 1 kg thịt nạc cần ít năng lượng hơnsản xuất ra 1 kg thịt mỡ
Trang 222.2.2.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh: Trọng lượng bộ máy tiêuhóa tăng lên từ 10 - 15 lần, chiều dài ruột non tăng lên gấp 5 lần, dung tích bộmáy tiêu hóa tăng lên 40 - 50 lần, chiều dài ruột già tăng lên từ 40 - 50 lần.Lúc đầu trọng lượng dạ dày chỉ là 6 - 8 g và chứa được 35 - 50 g sữa nhưngchỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và đến lúc lợn con đạt 60 ngày tuổi đã nặng
150 g và chứa được 700 - 1000 g sữa (Nguyễn Quang Linh, 2005) [15]
Qua nghiên cứu trên cho thấy, lợn là loài sinh trưởng và phát triểnnhanh, nhưng để khai thác hết khả năng sản xuất thịt của chúng thì ngườichăn nuôi cần nắm vững đặc điểm tiêu hóa của lợn để tác động đúng lúc vàthu được hiệu quả kinh tế cao
2.2.2.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết của lợn con
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại nãocủa lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó, việc điều tiết thân nhiệt vànăng lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm).Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [8] ở lợn con, khả năng sinh trưởng
và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đósản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần
cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con
và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăncho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầycòm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy, nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm
để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạnsau cai sữa
Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nênthân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng.Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhauthai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sốnghoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết
Trang 23Ngoài ra, lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dựtrữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diệntích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợncon dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét cònthấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăngtỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế, ở nước ta vào cuối mùađông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phươngthức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiệnthuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá
Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất lạ
là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng, dochức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá vàlượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rốiloạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai
đoạn này mầm bệnh (Salmonella spp, E coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể
qua đường tiêu hoá và gây bệnh
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng khángthể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khảnăng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượngkháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], trong sữa đầu của lợn mẹ hàmlượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữachiếm 18 - 19%, trong đó lượng - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 -35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọngđối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng - globulin
Trang 24bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử - globulingiảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non củalợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng menantitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tếbào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu,hàm lượng - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3 mg/100 ml máu Sau 24giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bàovách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu - globulin kém hơn, hàm lượng -globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng
24 mg/100 ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65mg/100 ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếulợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tựtổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề khángkém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
2.2.3.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợncon có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi conChính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con
* Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21]: thức ăn dùng cho lợn nái đẻphải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợnnái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó,hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạngsức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với
Trang 25những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức
ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sứckhỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằngcách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phảicăn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độdinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh(0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ
có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăncháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách độtngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cầnchế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăncho lợn nái
* Quy trình chăm sóc
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đếnnăng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs.(2004) [21], cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu
vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện cáctrường hợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 -
15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ôchuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầuchuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêuđộc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ
1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phânbám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm
hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếpxúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cholợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợnquen dần với chuồng mới
Trang 26Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quantrọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Theo Trần Thanh Vân và cs.(2004) [21], ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừalợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt,
mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điềukiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vàonhững tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ănsớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) màkhông bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ củalợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2 m x 1,5
m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khiđón lợn con sơ sinh
2.2.3.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con
* Quá trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], thức ăn cho lợn nái nuôi conphải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó
là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,
cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn
bổ sung đạm động, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợnnái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗnhợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủprotein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩnquy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0 %,phospho 0,7 %
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnhhưởng trưc tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vìvậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ.Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
Trang 27- Đối với lợn nái ngoại:
+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg)hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ
+ Số bữa ăn trên ngày : 2 ( sáng và chiều )
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kgthức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)
+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30%
+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
* Quy trình chăm sóc
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], vận động tắm nắng là điềukiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữacủa lợn mẹ Do vậy, sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chănnuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thờigian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên.Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong cáccũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinhdưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin
Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảmbảo luôn khô ráo, sach sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinhchuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)
Trang 28[21], chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cholợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 200C, độ ẩm 70 - 75%.
2.2.4 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nuôi tại cơ sở
* Khô âm đạo: Đẻ kéo dài do co thắt và rặn đẻ yếu nguyên phát hoặc thứphát, mà trước đó dịch ối và nước tiểu đã chảy ra hết, hoặc do nhân tạo làm
vỡ bào thai trước khi cổ tử cung mở hết, thường dẫn đến khô đường sinh dục.Xương chậu hẹp bẩm sinh, thai quá to: vì chế độ ăn uống cho lợn náikhi có chửa không đúng quy trình kỹ thuật Khi lợn chửa bị sốt cao do mắccác bệnh truyền nhiễm đã điều trị trong thời gian khá dài
* Bệnh viêm tử cung
Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộphận sinh dục hoạt động nhiều tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất làtrong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kémthì bệnh dễ sảy ra
Trang 29Viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinhsản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay cáctầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chílàm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái (Trần Tiến Dũng và cs 2002) [5].Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [13], Nguyễn Xuân Bình (2000) [1],bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặclợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường Phối giống quá sớm lợn nái tơ, nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung
co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cungbiến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối giữa tạo điều kiện cho sựphát triển của vi khuẩn
- Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàngquang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn,bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung
- Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinhbột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc dothiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại
vi trùng xâm nhập cũng gây viêm
- Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêmnhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn
- Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyềnbệnh sang lợn nái
- Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thờitiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài
- Lợn nái sinh ra đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gâybệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết chảy ra tạo điều kiện cho sự phát triểncủa vi khuẩn
Trang 30Theo Lê Thị Tài và cs (2002) [22], đây là một bệnh khá phổ biến ở giasúc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinhsản của gia súc cái.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], Trần Thị Dân (2004) [3]: Khilợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính như: lợn dễ bị sảythai, bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoạc mấtsữa, nếu lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dụctrở lại
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng
cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyểncủa tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc tố làmtiêu tinh trùng) Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào tích tụgây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môitrường dại con bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm và cs 1999) [19]
- Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có màu hồng hoặc nâu đỏ
và có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cungyếu ớt Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc
tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổchức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản vàlâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử
- Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có màu nâu rỉsắt và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm triệu chứng viêm phúc mạc,phản ứng co bóp tử cung mất hẳn
Trang 31Đối với lợn nái sau khi đẻ, xảy thai và viêm nặng: Thụt rửa tử cung bằngdung dịch Iodine 10 % pha 10 ml/2 lit nước, thụt rửa 2 lần/ngày trong 2 ngàyđầu và thụt rửa 1 lần/ngày từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi đẻ Sau khithụt rửa bơm thuốc kháng sinh O.T.C 10 % (5 ml thuốc pha 20 ml nước sinhlý) hay 4 g streptomycin + 40.000 UI penicillin ngày 1 lần trong 3 ngày liêntiếp vào tử cung Đồng thời tiêm oxytocin liều 10 - 15 UI (2 ống 5 ml/ 1 lần)nhiều lần trong ngày để tử cung co bóp tống dịch sản ra ngoài Tiêm khángsinh phổ rộng chống viêm như: Terramycin LA, Amoxi 15 % 3 lần liên tiếpmỗi lần cách nhau 48 giờ Ngoài ra, tiêm các loại thuốc bổ trợ như: Urotropingiúp tăng cường bài tiết độc tố, thuốc hạ sốt, vitamin C liều cao và canxi hỗtrợ co bóp tử cung, các thuốc kháng viêm: FLU-viêm,…
* Bệnh viêm vú
- Nguyên nhân:
Christensen và cs (2007) [29] khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học
từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy: vi khuẩn chính gây viêm vú là
Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes.
Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì vi khuẩn
Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây viêm vú.
Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ănkhông phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trướckhi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày
đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập
và gây viêm
Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêmbàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú
cư trú tại đây và gây bệnh
Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng
vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bịbệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm
Trang 32Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn,sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú,thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm.
- Triệu chứng
Theo White (2013) [37], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vúcăng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắtmạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn
mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5oC
Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [24], viêm vú thường xuất hiện ở một vài
vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vàothấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trườnghợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dài trong suốt thời gian viêm, sảnlượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợncon thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông,gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [17] Vắt sữa ở những
vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuấthiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu
- Hậu quả của bệnh viêm vú
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [16], bệnh viêm tử cung và viêm vú
là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con.Nguyễn Xuân Bình (2000) [1] cũng khẳng định: Mất sữa sau khi đẻ là do
kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốtcao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởngđến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trongđường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năngtiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Trang 33Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa cónhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh vàtrọng lượng cai sữa thấp
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khóchữa, lợn nái có thể chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnhhưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
- Thực hiện phòng bệnh: Vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng
ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên cholợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ănuống đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạnchế nguy cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ởnhững vùng bị viêm Dùng các phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoabóp nhẹ lên vùng vú bị sưng (Duy Hùng, 2011) [10]
Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [12] cho biết: trước khi đẻ cần lau vú,xoa vú, tắm cho lợn nái Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con.Tiêm kháng sinh 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêmliên tục trong 3 ngày
Chườm đá lạnh vào bầu vú viêm Tiêm thuốc chống viêm nhưprednizolon, hydro - cortizone (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2004) [18].Dùng novocain tiêm ven tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú và phầnsườn của lợn, tiêm nhắc lại sau một ngày
Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin… liềuđạt trên 200.000 - 500.000 UI, mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 - 2 lần/ngày trong
3 - 5 ngày
Trang 342.2.4.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn con
* Bệnh phân trắng lợn con
Bệnh phân trắng lợn con là bệnh của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa.Bệnh xảy ra quanh năm, tùy theo ảnh hưởng của thời tiết mà phát sinh, pháttriển Bệnh thường phát sinh vào mùa mưa khi thời tiết ẩm thấp hay thay đổiđột ngột, lứa tuổi mắc bệnh trầm trọng nhất là lợn từ 1 - 21 ngày tuổi
Nguyên nhân được xác định là do điều kiện vệ sinh dinh dưỡng cho lợncon không đảm bảo Quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ không đầy đủ,nhất là giai đoạn lợn mẹ mang thai bị thiếu chất dinh dưỡng, khoáng, nhất làsắt , cô ban, can xi, vitamin B12 làm bào thai phát triển kém, do đó lợn con
sơ sinh dễ bị bệnh phân trắng Bên cạnh đó, lợn con ỉa phân trắng còn do rốiloạn trao đổi chất vì lợn con bú sữa mẹ kém phẩm chất, thiếu chất dinhdưỡng, nhất là thiếu sắt lại không bổ sung đầy đủ dinh dưỡng cho lợn con vàcũng bởi trong giai đoạn còn bú mẹ, lợn con rất cần nước, thiếu nước chúng
sẽ uống nước bẩn dẫn đến mắc các chứng về đường ruột
Khi sức đề kháng của lợn con giảm, các vi khuẩn có sẵn trong đườngruột phát triển nhanh chóng gây bội nhiễm, tăng độc lực gây bệnh
Nguyên nhân khiến lợn con mắc bệnh còn là do đặc điểm sinh lý của lợncon Khi mới sinh hệ điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh, sẽkhông thích nghi với sự thay đổi bất thường của thời tiết, khí hậu và lượng
mỡ dưới da của lợn con lúc mới sinh chỉ có khoảng 1% Bởi vậy, nếu khí hậuthay đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt, khikhí hậu thời tiết thay đổi thất thường sẽ khiến lợn mắc bệnh
- Bệnh tiêu chảy trên lợn con do E.coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổitheo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0 - 5 ngày tuổi và 7 - 14ngày tuổi (Nagy và Fekete, 2005) [32]
- Theo Lê Thị Hoài (2008) [9], tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý cóliên quan đến nhiều yếu tố Vì vậy, việc phân biệt giữa các nguyên nhân gây