Căn cứ vào tình hình thực tế trên, được sự đồng ý và tạo điều kiện giúpđỡ của ban BCN khoa, cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình ch
Trang 1HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên – năm 2017
Trang 2HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: TY 45-N01 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013- 2017
Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan
Thái Nguyên – năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lý thuyết, kiến thức trên sách vở chưa đủ để sinh viên khi tốt nghiệp ratrường có thể đi làm trong các công ty, nhà máy hay các trang trại, mà nhữngkiến thức đó cần được vận dụng vào chính thực tiễn trong đời sống,sản xuấtcủa xã hội.Xuất phát từ lý do đó mà BGH nhà trường, cùng các thầy cô trongkhoa CNTY đã tạo điều kiện cho sinh viên khoa CNTY nói chung và bản thân
em nói riêng được tham gia học tập và rèn luyện kỹ năng tay nghề tại cơ sởthực tập
Sau 6 tháng được học hỏi và tham gia vào công việc sản xuất tại cơ sở,
em đã hoàn thành xong bài khóa luận tốt nghiệp, kết quả em đạt được là nhờ
sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của thầy cô.Cho em gửi lời cảm ơn chân thànhtới quý thầy cô BGH nhà trường, thầy cô trong khoa CNTY và đặc biệt là cô
giáo hướng dẫnGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan đã tạo điều kiện và tận tình
giúp đỡ em hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này.Em cũng xin được gửilời cảm ơn đến thầy Bùi Huy Hạnh, thầy Bùi Huy Hanh là chủ của cơ sở thựctập, kỹ sư trại và các cô chú công nhân đã tạo điều kiện và giúp đỡ hướng dẫntrong thời gian em tham gia học hỏi và rèn luyện kỹ năng nghề tại trại
Em xin kính chúc quý thầy cô có thật nhiều sức khỏe, đạt được nhiềuthành tích cao trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Khóa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu sót, emkính mong quý thầy cô xem xét, góp ý và bổ sung, để bản khóa luận của emđược hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 12 năm 2017
Sinh viên
Phạm Thị Hiệp
Trang 5Bảng 4.1: Tình hình chăn nuôi lợn tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, xã Tái
Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương qua 3 năm 2015 - 2017 27
Bảng 4.2 Khẩu phần ăn của lợn mẹ trước và sau khi đẻ 29
Bảng 4.3 Số lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong 6 tháng 34
Bảng 4.4 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 34
Bảng 4.5 Lịch phun sát trùng toàn trại 37
Bảng 4.6 Kết quả khử trùng tại cơ sở 38
Bảng 4.7 Kết quả tiêm vắc xin và thuốc phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 39
Bảng 4.8 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại 46
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 47
Trang 8TRANG BÌA PHỤ
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện của trang trại 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4
2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại 5
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại 6
2.2 Tổng quan tài liệu 7
2.2.1 Cơ sở khoa học 7
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
19 Phần 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 23
3.1 Đối tượng 23
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 23
3.3 Nội dung thực hiện 23
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 23
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 23
3.4.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 23
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 26
Trang 9Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 27
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương qua 3 năm 27
4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại 28
4.2.1 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi 28
4.3 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 34
4.4 Thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi 35 4.4.1 Biện pháp vệ sinh phòng bệnh 35
4.4.2 Kết quả tiêm vắc xin và thuốc phòng bệnh cho lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi
39 4.5 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 40
4.5.1 Công tác chẩn đoán bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 40
4.5.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 47
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
Trang 10Căn cứ vào tình hình thực tế trên, được sự đồng ý và tạo điều kiện giúp
đỡ của ban BCN khoa, cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em tiến hành
thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng
trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Đánh giá chung tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh ,
xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn con nuôi tại trại
Trang 11- Xác định tình hình nhiễm, thực hiện quy trình phòng, trị bệnh cho đànlợn con nuôi tại trại.
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh ,
xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại đạthiệu qủa cao
- Áp dụng biện pháp phòng, trị bệnh sinh sản cho đàn lợn con nuôi tại trại
- Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện của trang trại
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Trang trại chăn nuôiBùi Huy Hạnh là một đơn vị chăn nuôi gia côngcủa công ty cổ phần chăn nuôi CP (Charoen Pokphand Việt Nam) Trang trạiđược thành lập và đi vào sản xuất lợn giống theo hướng chăn nuôi côngnghiệp từ năm 2007, địa điểm xây dựng trại tại xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnhHải Dương
Tứ Kỳ là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương nằm ở trung tâm đồng bằngBắc Bộ.Cũng giống như các huyện khác của tỉnh Hải Dương, Tứ Kỳ nằmhoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình Vị trí địa lý củahuyện được xác định như sau :
+ Phía đông bắc giáp huyện Thanh Hà (ranh giới là sông Thái Bình)+ Phía tây bắc giáp thành phố Hải Dương;
+ Phía tây giáp huyện Gia Lộc;
+ Phía tây nam giáp huyện Ninh Giang, đều thuộc tỉnh Hải Dương.+ Phía đông nam giáp huyện Vĩnh Bảo (ranh giới là sông Luộc);
+ Phía đông giáp huyện Tiên Lãng (ranh giới là một đoạn sông Thái Bình)
-Huyện có 26 đơn vị hành chính Dân số huyện Tứ Kỳ gần 168.790người, mật độ là 790 người/ m² Tổng diện tích tự nhiên là 170.03 km²
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Trang trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh nằm ở khu vực có khí hậu nhiệt đớigió mùa, lạnh về mùa đông, nóng ẩm về mùa hè
Trang 13Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2.157 mm, thấp nhất là 1.060 mm,trung bình là 1.567 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7trong năm.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 88%,thấp nhất là 67%
- Nhiệt độ trung bình trong năm là 21 C - 23 C, mùa nóng tập trungvào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và gió mùađông nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa
- Về chế độ gió: Gió mùa đông nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, giómùa đông bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 12
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại
-Trại chăn nuôi được xây dựng từ năm 2007, trại đi vào sản xuất được
10 năm, song hàng năm sản xuất của trại đều gia tăng, đời sống của cán bộcông nhân viên được cải thiện Trại chăn nuôi có chủ trang trại là người đam
mê, giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi Đặc biệt trại chăn nuôi
đã tuyển dụng và đào tạo được một đội ngũ công nhân thâm niên cao gắn bóvới trang trại rất nhiều năm và trở thành những người cókinh nghiệm, thựctiễn và yêu nghề Trại có 23người trong đó:
Lao động gián tiếp có 5 người
+ Chủ trại:1
+ Một kế toán: 1
+ Làm vườn, nấu ăn: 2
+ Bảo vệ: 1
Lao động trực tiếp có 18 người
+ Quản lý (thầy giáo của trung tâm đào tạo CP): 1
+ kỹ sư chăn nuôi: 1
+ Tổ trưởng:2 ( 1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu)
+ Công nhân: 14
Trang 142.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại
- Về cơ sở vật chất:
+ Trang trại có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân
và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: Máy giặt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh,quạt,
+ Trại còn đầu tư mua bàn chơi bi a, cầu lông để công nhân giải trí saugiờ làm việc
+ Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tưtheo đúng yêu cầu của công ty CP
- Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà chocông nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt độngkhác của trại
- Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng lợn chửa) và sànnằm (đối với chuồng lợn đẻ) được lắp đặt theo dãy
- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, núm uống nước tự động cho lợn
- Có hệ thống bóng điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông
- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấpđiện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện
- Về cơ sở hạ tầng:
+ Trại xây dựng 2 khu tách biệt: khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân,sinh viên và khu chuồng nuôi
+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi
+ Khu nhà ăn cũng được tách biệt có nhà ăn ca (buổi trưa) và nhà ănchung (buổi tối)
+ Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ
+ Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc lànơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụcông tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại
Trang 15- Hệ thống chuồng nuôi
Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễthoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân,gồm: 6 chuồng lợn đẻ, 2 chuồng lợn bầu, chuồng lợn đực nằm trong chuồnglợn bầu 1 và trại có 3 chuồng cách ly (một chuồng cách ly lợn con) Có 2 dãychuồng lợn đẻ: dãy 1,2,3 và dãy chuồng 4,5,6 Trong mỗi chuồng đẻ lại đượcchia làm 2 ngăn, mỗi ngăn có 2 dãy chuồng, mỗi dãy chuồng là 14 ô chuồng,tổng chuồng có 56 ô chuồng Chuồng lợn bầu gồm 2 chuồng với kiểu chuồngcũi sắt Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệthống vòi uống nước tự động ở mỗi ô chuồng Mùa hè có hệ thống làm mátbằng quạt thông gió và dàn mát
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại
- Thuận lợi:
+ Trại được xây dựng giữa cánh đồng nên cách xa khu dân cư, khônglàm ảnh hưởng đến người dân xung quanh và đảm bảo yêu cầu vệ sinh antoàn dịch bệnh
+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực,năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc
+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay
Trang 16+ Vào khoảng thời gian những năm gần đây, giá lợn có xu hướng giảmthấp khiến trang trại gặp nhiều khó khăn hơn.
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con từ sơ sinh tới 21 ngày tuổi
a Đặc điểm về sinh trưởng, phát triển của lợn con
Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ giasúc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinhcon khỏe mạnh
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [9], so với khối lượng sơ sinh thìkhối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần,lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đềuqua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm vàhàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảmsinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng củalợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợncon sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh
Ví dụ: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14gam protein/kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũyđược 0,3 - 0,4 gam protein/kg khối lượng cơ thể
Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượngnghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợncon chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn đểtạo ra 1 kg mỡ
Trang 17b Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Khối lượng bộ máy tiêu hóa tăng lên từ 10 - 15 lần, chiều dài ruột nontăng lên gấp 5 lần, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên 40 - 50 lần, chiều dàiruột già tăng lên từ 40 - 50 lần Lúc đầu trọng lượng dạ dày chỉ là 6 - 8g vàchứa được 35 - 50g sữa nhưng chỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và đến lúc lợncon đạt 60 ngày tuổi đã nặng 150 g và chứa được 700 - 1000 g sữa (NguyễnQuang Linh, 2005) [8]
Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCltrong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên.Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu củalợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein màchỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa Còn huyết thanh chứa albumin vàglobulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu
Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày khôngcòn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tácdụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoànthiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sungthức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự dosớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với contrưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)
Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượngaxit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượngnày gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạdày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tácdụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạtđộng và men này mới có khả năng tiêu hóa protein (Hoàng Toàn Thắng và cs,2006) [12]
Trang 18Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợntrước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị cóenzym, sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn cácloại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữadịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóanhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sungsớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [9], vì thiếu HCl tự do nên vi sinhvật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnhlợn con Do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích vách tế bào
dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con.Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl tự do có thể tiết ra
từ 14 ngày tuổi
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đãsinh ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh, khilợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vikhuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễnhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩngây thối rữa ở lợn con mới sinh
c Đặc điểm cơ năng điều tiết thân nhiệt
Theo nhóm tác giả Hội chăn nuôi Việt Nam (2000) [6] ở lợn con sơsinh, tỷ lệ nước trong cơ thể chiếm 82% Vì có nhiều nước, nhiệt độ cơ thểgiảm nhanh, 30 phút sau khi sinh lượng nước giảm 1,5 - 2% kèm theo giảmthân nhiệt 5 - 100C, lợn con bị lạnh, các chức năng hoạt động bị rối loạn dẫnđến dễ bị chết non
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại nãocủa lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và nănglực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm)
Trang 19Ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinhdưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dầnđến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng Đây là sự mâuthuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn
mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡngdẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh tăng lên
Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủnghoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa
Lợn con dưới 3tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoànchỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệtchưa cân bằng
Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhauthai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sốnghoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ dẫn đến bị còi cọc và tỷ lệ chết
sẽ tăng cao
Ngoài ra, lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng glycogen dự trữtrong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diệntích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợncon dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét cònthấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăngtỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùaĐông đầu mùa Xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phươngthức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiệnthuận lợi cho dịch bệnh phát triển, nhất là bệnh đường tiêu hoá
Trang 20d Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất
lạ chủ yếu là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối
dễ dàng, do chức năng của các tuyến phòng vệ chưa hoàn chỉnh Ở lợn conlượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quátrình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn đến khả năng tiêu hoá kém, hấp
thu kém Trong giai đoạn này các loại vi khuẩn như: Salmonella spp, E.coli…
dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá và gây bệnh
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượngkháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Chonên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vàolượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [9], trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trongsữa chiếm 18 - 19%, trong đó lượng - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 -35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng cho lợn nên sữa đầu có vai trò quantrọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng -globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử -globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu quaruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu
có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờkhoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng Cho nên 24 giờ sau khiđược bú sữa đầu, hàm lượng - globulin trong máu lợn con đạttới
20,3mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần vàkhoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, nên sự hấp thu -globulin kém hơn, hàm lượng - globulin trong máu lợn con tăng lên chậmhơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thườngcủa
Trang 21lợn trưởng thành có khoảng 65 mg/100ml máu) Do đó lợn con cần được
bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20
-25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể Do đó những lợn conkhông được bú sữa đầu thường sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
đ Hệ vi sinh vật đường ruột
+Theo Nguyễn Như Thanh và cs, (2004) [10], hệ vi sinh vật đường ruột
gồm hai nhóm: nhóm vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn bắt buộc gồm: E.coli, Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này, người
ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E coli Đây là vi khuẩn phổ biến nhất
hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng
E coli trở lên cường độc gây bệnh Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng là bạn đồng hành cùng với thức ăn, nước uống, vào hệ tiêu hoá gồm: Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Bacillus subtilis… Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn con có các trực khuẩn yếm khí gây thối rữa: Clostridium perfringens, Bacillus sporogenes, Bacillus fasobacterium, Bacillus puticfus
- Phần lớn thời gian sống của lợn là ở trong chuồng, do vậy chuồng trại
có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của chúng Chuồng trại xây dựng đúngkiểu, đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật, cao ráo, thoáng, độ thông khí tốt, kết hợpvới chăm sóc quản lý và vệ sinh chuồng trại tốt sẽ ảnh hưởng rất tốt đến khảnăng sinh trưởng và sức kháng bệnh tật của gia súc và ngược lại Trong điềukiện khí hậu nhiệt đới của nước ta, về mùa hè khí hậu nóng, ẩm, về mùa đôngkhí hậu lạnh, khô nên yêu cầu chuồng nuôi gia súc luôn phải khô ráo, thoángmát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Do vậy trong xây dựng chuồng trại ngoàiviệc đảm bảo các yếu tố kỹ thuật cần chú ý đến địa điểm xây dựng chuồng,hướng chuồng, vật liệu xây dựng để dễ dàng khống chế các chỉ tiêu tiểu khíhậu chuồng nuôi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lợn, chuồng khô,
Trang 22thoáng, đủ ánh sáng thì tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy thấp hơn so vớichuồng ẩm, tối
- Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cầnthiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khảnăng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinhtiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 32 - 34°C đốivới lợn sơ sinh và 28 - 30°C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo,không thấm ướt, không thay đổi thức ăn đột ngột
Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín ấm áp vào mùa đông và đầu xuân
là điều kiện cần thiết phải thực hiện Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đènhồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn conphân trắng, mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
-Phòng bệnh bằng bổ sung sắt: ở lợn con, việc thiếu sắt dẫn đến thiếumáu, làm giảm sức đề kháng cũng là nguyên nhân gây nên hội chứng tiêuchảy khá cao Lợn con một ngày tuổi sẽ được bấm nanh, bấm tai và tiêm sắt
-Phòng bệnh bằng vắc xin: phòng bệnh bằng vắc xin là phương pháphữu hiệu nhất để ngăn ngừa bệnh đặc biệt là các bệnh mà nguyên nhân là visinh vật Vắc xin phòng bệnh tiêu chảy cho lợn đã được nghiên cứu khá lâu và
đã được sử dụng để phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo miễn dịch chủ động chođàn lợn chống lại bệnh, các loại vắc xin này đã và đang cho kết quả phòngbệnh một cách khả quan, đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ mắc bệnh Một sốtác giả đã tập trung nghiên cứu chế tạo và sử dụng vắc xin phòng bệnh nhằmkích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh
- Nhu cầu về một số chất dinh dưỡng và chất khoáng
+ Nhu cầu protein: lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, trong thời gian
bú sữa nguồn năng lượng được cung cấp chủ yếu từ phân giải đường và 1phần nhỏ protein.Nhưng protein chủ yếu là nguyên liệu cho sinh trưởng và
Trang 23phát triển, do vậy nhu cầu về protein rất lớn Như vậy, trong thức ăn tập ăncủa lợn con cần 20-22% protein thô.
+ Nhu cầu về lipit: trong thời kì bú sữa, nhu cầu về lipit rất thấp vì khảnăng tiêu hóa lipit rất thấp
+ Nhu cầu về gluxit: thời kì từ sơ sinh đến cai sữa nguồn năng lượng dogluxit cung cấp chiếm 70-80% do vậy nhu cầu về gluxit cũng rất lớn, ngoàinguồn có từ sữa(chủ yếu là từ đường lactoza) lúc nhỏ, đến khi tập ăn, ngoàinguồn từ sữa lợn con được cung cấp qua thức ăn tập ăn
+Nhu cầu về khoáng: khoáng chiếm 4-5% khối lượng cơ thể, có 3nhóm khoáng:
Đa lượng: Ca, P, Na, Mn, Cl, Fe, S
Vi lượng: Cu, Mo, Mg, Zn, Al, F
Siêu vi lượng: acemic, bismus, thủy ngân
+Nhu cầu vitamin: vitamin là chất xúc tác sinh học tổng hợp, tham giavào một số men tiêu hóa phân giải các chất dinh dưỡng, tham gia cấu tạomàng tế bào Lượng vitamin vô cùng nhỏ, nhưng lại có tác dụng rất lớn chosinh trưởng, phát dục và sinh sản
+Nhu cầu về nước: nước chiếm 50-60% khối lượng cơ thể, trong máunước chiếm 80-95% Cơ thể mất 10% nước sẽ gây rối loạn chức năng trao đổichất, nếu mất 20% lượng nước lợn con sẽ chết
2.2.1.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn con
Tiêu chảy
Phạm Ngọc Thạch (1996) [11], cho biết tiêu chảy là biểu hiện lâm sàngcủa quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh,nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruộttăng cường co bóp và tiết dịch hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạmthời của phân gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn
Trang 24Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là bệnh đặc thù(Archie H., 2000) [1].
Theo Trần Đức Hạnh (2013) [5]: lợn con ở 1 số tỉnh phía bắc mắc tiêuchảy và chết với tỷ lệ trung bình là 31.84 % và 5,37 %, tỷ lệ mắc tiêu chảy vàchết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ 21 – 40 ngày (30,97 và 4,93 %) và giảm ở giai đoạn 41 - 46 ngày
Nguyễn Chí Dũng (2013) [3] kết luận: Tháng có nhiệt độ thấp và ẩm độcao (12,1,2 %) tỷ lệ mắc tiêu chảy cao (26,98 – 38,18 %)
- Lợn con bị nhiễm khuẩn: Theo Phạm Sỹ Lăng (2009) [7], bệnh tiêu
chảy ở lợn có nguyên nhân do vi khuẩn E.coli, Salmonella, trong đó Salmonella là vi khuẩn có vai trò quan trọng trong quá trình gây ra hội chứng
tiêu chảy
- Theo Glawisschning E Bacher H (1992) [15], nguyên nhân gây bệnhphân trắng lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinhdưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung
- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần
- Bệnh tiêu chảy trên heo con do E.coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổitheo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0-5 ngày tuổi và 7-14ngày tuổi (Nagy B, Fekete PZS, 2005) [16]
Triệu chứng:
Sàn chuồng có phân lợn lỏng, màu vàng hoặc màu trắng
Trang 25Trong chuồng có hiện tượng lợn nôn ra sữa
Người lợn con bị bẩn do dính phân
Vú lợn mẹ dính phân lợn con
Viêm phổi
Tìm hiểu nguyên nhân lợn triệu chứng và kinh nghiệm chăm sóc taphân lập viêm phổi của lợn do đâu và nguyên nhân gì, kiểm tra lại hệ thốngthức ăn, cách vận hành: Quạt, giàn mát, nhiệt độ, vệ sinh, độ đồng đều nhằm đưa ra biện pháp điều trị đúng bệnh, đúng thuốc, khắc phục kịp thời,tránh tình trạng bệnh của lợn kéo dài làm nặng thêm đi đến nhờn thuốc khóđiều trị Khống chế, cách ly khoanh vùng từ công nhân giữa các chuồng, dụng
cụ chăm sóc giữa các chuồng tránh lây lan bệnh trong trại và giữa các trại.Tìm mọi biện pháp nâng cao sức đề kháng của lợn kích ăn cho lợn
Nguyên nhân là do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra
trên lợn con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hôhấp Bệnh cũng có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thờitiết thay đổi…, do sức đề kháng của lợn giảm Bệnh thường lây lan do nhốtchung với con nhiễm bệnh
Triệu chứng: Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chânsưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5tuần tuổi Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn
ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêmtấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau (Nguyễn Ánh Tuyết, 2015) [19]
Trang 26Dịch tiêu chảy cấp (PED): Mọi loại lợn đều nhiễm bệnh
Qua khảo sát các ổ dịch tiêu chảy cấp, tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết xuất hiệntrên lợn con theo mẹ là rất cao (tương ứng là 93,94 %) Hai tỷ lệ này giảm dầntheo lứa tuổi Các yếu tố liên quan đến việc lan truyền dịch bệnh giữa các trạiphụ thuộc vào : khoảng cách giữa các trại lợn(trại càng gần có nguy cơ lâybệnh càng cao), quy mô chăn nuôi (tỷ lệ nhiễm bệnh cao ở trại có quy môchăn nuôi nhỏ, dưới 50 lợn nái), vệ sinh chăn nuôi (thực hiện 2 tuần, một lần
có tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn so với 1 tuần, một lần), và nguồn nước sử dụng(tỷ lệ nhiễm bệnh cao ở trại có nguồn nước chưa qua xử lý) Triệu chứng lâmsàng đặc trưng của dịch tiêu chảy cấp trên lợn là tiêu chảy phân lỏng (100 %),nôn mửa (90,33 %), sau đó suy nhược, mất nước, chết nhanh (Nguyễn TấtToàn, Đỗ Tiến Duy, 2013) [14]
Theo điều tra bệnh tiêu chảy thành dịch ở lợn tại 6 tỉnh: Hưng Yên, HảiDương, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hà Nội Kết quả điều tra cho thấy, có tới83,9 % lợn mang virus PED trong 31 trại nghiên cứu (Nguyễn Văn Điệp vàcs., 2014) [4]
Nguyên nhân:
- Do 1 loại ARN virus sợi đơn thuộc họ Coronavirus gây ra Với kích
thước thuộc loại khá lớn so với nhiều virus khác từ 27 đến 30 kb Virus có 2type chính, type 1 thường gây bệnh cho lợn sau cai sữa, type 2 gây bệnh cholợn con lợn mẹ và lợn hậu bị
Khi lợn khỏe mạnh tiếp xúc với các nguồn gây bệnh tiêu chảy cấp(PED) như: lợn mang mầm bệnh, phân, tinh lợn, vật dụng chăn nuôi có mầmbệnh, xe tải, con người, nguồn nước…Virus sẽ từ các nguồn đó xâm nhập vào
cơ thể lợn chủ yếu thông qua đường tiêu hóa (VietDVM team, 2014) [20]
Trang 27Triệu chứng:
+ Với lợn con: Tiêu chảy quá nhiều kết hợp với nôn làm cho những lợncon này mất nước nặng, thân nhiệt giảm làm cho lợn lạnh, nằm chồng lênnhau và nằm lên bụng lợn mẹ Phân lợn con màu vàng nhạt chứa sữa chưatiêu hóa hết Chúng sẽ chết trong vòng 3 - 4 ngày do mất nước Khi chết, xácgầy kèm lợn các triệu chứng như mắt lõm sâu
Đồng thời, nếu mổ khám ta sẽ thấy các bệnh tích rất đặc trưng của bệnhtiêu chảy cấp như:
- Thành ruột rất mỏng, trong suốt và có thể nhìn thấy chất chứa bêntrong do lớp lông rung trên niêm mạc bị phá hủy và bào mòn
- Dạ dày có chứa nhiều sữa bị đóng vón
- Hạch màng treo ruột sưng to
- Xuất hiện các tia tĩnh mạch sữa song song với tĩnh mạch màng treo ruột
+ Với lợn lợn choai hay lợn nái, sức đề kháng cao hơn đồng thời hệthống lông rung trên niêm mạc ruột cũng khó bị phá hủy hơn nên tỷ lệ nhiễm
và tỷ lệ chết không cao như lợn con Những lợn trong hệ tiêu hóa có rất nhiềuloại chất chứa (không chỉ có mỗi sữa như lợn con lợn mẹ) nên khi hệ thốnglông rung ruột bị phá hủy, thức ăn không được tiêu hóa triệt để, các chất chứatrong ống tiêu hóa lên men làm cho phân tiêu chảy có màu xám, hay xám đengiống như xi măng hoặc có màu vàng (chủ yếu lợn choai)
Đối với những lợn choai và lợn nái không chết, triệu chứng tiêu chảy sẽbiến mất sau 3 đến 4 tuần và đàn lợn bắt đầu phục hồi Một thời gian sau, lợnnái hình thành miễn dịch và truyền sang sữa cho lợn con
Tỷ lệ chết của lợn trưởng thành thấp nên không ảnh hưởng lớn đến tổngđàn, nhưng ảnh hưởng lớn đến tình hình dịch bệnh do những lợn này mangmầm bệnh làm lây lan cho lợn con, đặc biệt là lợn nái hậu bị sẽ được nhậpđàn để tiếp tục sinh sản Mặt khác theo ghi nhận các đợt dịch ở Thái Lan của
Trang 28Olanratmanee và cs (2010) [17], PED ảnh hưởng xấu đến năng suất sinh sản.Một khảo sát ở Trung Quốc trong các ổ dịch tiêu chảy cấp do PED, tỷ lệ bệnhtrên lợn con theo mẹ trong vòng 7 ngày lên đến 100% và tỷ lệ chết biến động
2.2.2.Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.2.1 Nghiên cứu trong nước
- Bộ máy tiêu hóa ở lợn con phát triển nhanh, song khả năng chống đỡbệnh tật ở đường ruột và dạ dày còn yếu Do đó, cần chú ý vệ sinh chuồngtrại, máng ăn, máng uống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng chốngbệnh đường tiêu hóa cao hơn
- Khi lợn nái nuôi con bằng chuồng sàn thì lợn con ít và không ỉa chảyphân trắng, còn lợn con theo mẹ nuôi chuồng nền thì tỷ lệ mắc hội chứng tiêuchảy từ 40 - 45%
Theo Trần Thị Dân (2008) [2], lợn con mới đẻ trong máu không cóglobulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹsang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 -
6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65mg/100ml máu Các yếu tố miễndịch như bổ thể, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặchiệu của lợn con kém Vì vậy, cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khảnăng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh
Trang 29- Các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường vàđiều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơthể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thểcòn rất yếu.
-Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh,
ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi vềchức năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản ứngđiều hòa nội mô Trong những trường hợp như thế sức đề kháng của cơ thểgiảm đi là điều kiện để cho các vi khuẩn đường ruột tăng số lượng độc tính vàgây bệnh
- Nhu cầu Fe trong máu rất cần thiết cho duy trì Hemoglobin (Hb) và
dự trữ cho cơ thể phát triển.Ở lợn sơ sinh, trong 100ml máu có 10,9mg Hb,sau 10 ngày tuổi chỉ còn 4 -5mg Nếu lợn con chỉ nhận Fe qua sữa sẽ thiếu Fedẫn đến thiếu máu gây suy dinh dưỡng, ỉa phân trắng
- Các yếu tố lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vàingày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và
độ ẩm Độ ẩm thích hợp cho lợn từ 75- 85% Vì thế việc làm khô và giữ ấmchuồng là vô cùng quan trọng
-Chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ
đó gây rối loạn tiêu hóa.Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy thay đổi theo
sự biến đổi hàng tháng của nhiệt độ, độ ẩm trung bình, cụ thể là có sự tươngquan thuận với độ ẩm và tương quan nghịch với nhiệt độ không khí Do đó,
để hạn chế tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy lợn con, thì ngoài các biện pháp vềdinh dưỡng, thú y, cần đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp
- Khi lợn bị tiêu chảy số loại vi khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khítrong 1gam phân tăng lên so với ở lợn không bị tiêu chảy Khi phân lập tácgiả thấy rằng các vi khuẩn đóng vai trò quan trọng trong hội chứng tiêu chảy
Trang 30như: E.coli, Salmonella và Streptococcus tăng lên trong khi Staphylococcus
và Bacillus subtilis giảm đi.
-Theo Nguyễn Trung Tiến và cs ( 2015) [13]dịch tiêu chảy cấp tính trênlợn (Porcine Epldemic Diarrhea- PED) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính
nguy hiểm do một loại vi rút thuộc họ Coronaviridae gây ra Dịch PED xảy ra
quanh năm nhưng thường phổ biến hơn vào mùa đông và trên 90% ca bệnhxảy ra ở lợn con dưới 7 ngày tuổi Trong nghiên cứu này 148 mẫu bệnh phẩm
là các mẫu phân và ruột của lợn nghi mắc bệnh PED thu thập được từ 3 tỉnh làQuảng Trị, Thái Nguyên và Thái Bình từ năm 2013-2014 đã được chẩn đoánbằng phương pháp RT - PRC Kết quả chẩn đoán cho thấy 57/148 (38,51%)mẫu bệnh phẩm dương tính với vi rút PED Kết quảphân tích trình tựnucleotide và amino acid trên cơ sở giải trình tự một phân gen S(spike gene)cho thấy các chủng vi rút PED thu thập được trong nghiên cứu này có tỉ lệtương đồng về nuleotide và amino acid rất cao khi so sánh với các chủng virút PED tham chiếu khác trước đây của Việt Nam, tỷ lệ tương đồngnucleotide từ 94,8 - 98,6% và amino acid từ 93,5 - 98,8% Kết quả phântích cây phả hệ cho thấy các chủng vi rút PED trong nghiên cứu này thuộcnhóm G1-1
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Bệnh lợn con là hội chứng nhiễm khuẩn đường ruột ở giai đoạn bú sữa.Bệnh xảy ra ở các nước trên thế giới, bệnh thường phát và nhiễm nặng ở cáckhu đông dân cư, nơi môi trường bị ô nhiễm, thiếu nước sạch, ở các tỉnhmiền núi dân trí còn thấp
Phòng và trị bệnh đường tiêu hoá ở lợn con nói chung và bệnh lợncon nói riêng đã có rất nhiều tác giả ở nhiều nước trên thế giới quan tâm vànghiên cứu Theo nhiều tác giả thì nhóm kháng sinh neomycin có tác dụngđiều trị tốt, cho uống với liều từ 10 - 20 UI/kg P cho uống trong vòng 3ngày Các kháng sinh khác nên dùng oxytetracyclin Dibiomycin liều 5000-
Trang 3110000 UI/kg TT trong liệu trình phối hợp với sulfamid cũng cho hiệu quảđiều trị tốt.
Dùng organmin (liều lượng 5g/con) cho uống có tác dụng đối với việcphòng bệnh đường tiêu hoá Tác giả lưu ý rằng khi sử dụng kháng sinh phảiphối hợp một cách hợp lý
Nguyên nhân gây bệnh ở lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng trạikém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
Do lợn con dưới 1 tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do nên tácdụng diệt khuẩn của dạ dày chưa cao và khả năng tiêu hóa của dạ dày, ruột ởmức thấp Đây là 1 nguyên nhân rất quan trọng để quyết định quá trình nhiễmbệnh
Nhiều nhà khoa học cho rằng nguyên nhân có vai trò chủ yếu của trực
khuẩn Escherichia coli (E.coli) thuộc các nhóm Enterotoxigenic E.coli (ETEC).
Theo tài liệu thực nghiệm của Mỹ, đối với lợn con trong việc phòngbệnh thiếu máu dẫn đến tiêu chảy chỉ cần tiêm sắt 1 lần vào ngày thứ 3 saukhi sinh là đủ
Nhiều nghiên cứu về phòng và điều trị bệnh nói riêng và bệnh đườngtiêu hóa nói chung ở các nước cho thấy: kháng sinh nhóm neomycine có hiệuquả điều trị tốt với liều 1000 - 2000 UI/kg khối lượng, trong vòng 3 ngày Cáckháng sinh khác cũng có kết quả tốt khi dùng kết hợp với sulfamid trong liệutrình điều trị
Trang 32Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 3.1 Đối tượng
Đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại chăn nuôi Bùi HuyHạnh , xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ,tỉnh Hải Dương
- Thời gian: từ 18/5 đến 25/11/2017
3.3 Nội dung thực hiện
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh , xã TáiSơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn con nuôi tại trại
- Biện pháp phòng trị bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi
-Tỷ lệ lợn mắc bệnh:
số lợn mắc bệnh
Tỷ lệ lợn mắc bệnh (%) = x 100
số lợn theo dõi
Trang 33số con khỏi bệnh
Tỷ lệ khỏi (%) = x100
số con điều trị
3.4.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin)
3.4.2.1 Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh , xã Tái Sơn, Huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương
Để đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại, chúng em tiến hành thu thậpthông tin từ trại, kết hợp với kết quả điều tra, theo dõi của bản thân
Trang 34Chúng em sử dụng chính quy trình đang được áp dụng cho đàn lợn connuôi tại trại và theo dõi, đánh giá hiệu quả.
* Làm hàng ngày:
Kiểm tra bóng đèn, quạt, lợn con, lợn nái khi nhận ca
Sử dụng hệ thống điện, quạt, giàn mát an toàn, tiết kiệm, hợp lý, hiệuquả, nhiệt độ thích hợp tại đầu chuồng là 28°C
Vệ sinh máng ăn của lợn nái và cho lợn nái ăn đúng khẩu phần Đối vớilợn nái sắp đẻ cho ăn 2 bữa/ngày vào lúc 7h sáng và 16h 30 chiều.Đối với lợnnái đẻ từ 5 ngày trở đi, cho ăn tăng từ 3 bữa/ngày vào lúc 7h sáng, 16h chiều,
và 21h tối ( đối với mùa hè) Chăm sóc lợn nái bỏ ăn
Thay thảm ướt, thảm bẩn vào đầu các buổi sáng và buổi chiều rồi cho
ra bể ngâm
Vệ sinh máng tập ăn cho lợn con, tra thức ăn tập ăn thường xuyên.Thu phân đổ vào xe chở phân
Rắc vôi và quét dọn 2 đường hành lang trên và 2 hành lang dưới
Theo dõi, bón cám cho lợn nái bỏ ăn
Vắt sữa của lợn nái sắp đẻ và đang đẻ (sữa đầu) để bón cho lợn con nhỏkhông tranh bú được
Đỡ đẻ cho lợn nái
Lau vú (nếu bẩn), lau mông, lau sàn: 2 chổi, 1 chổi để lau ô lợn bìnhthường, 1 chổi lau ô lợn bị tiêu chảy
Xịt gầm hàng ngày vào lúc 9h sáng
Xả vôi 2 lần/tuần vào thứ 4 và thứ 7
Phun thuốc sát trùng ngày 2 lần vào 10h và 14h
Cho lợn con uống thuốc phòng bệnh cầu trùng khi được 4 ngày tuổi