Đề tài tiến hành nghiên cứu sự phát triển nông nghiệp hàng hoá trên địa bàn huyện Sơn Động, tỉnh bắc Giang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Đánh giá hiệu quả phát triển triển nông nghiệp hàng hoá trên địa bàn huyện Sơn Động nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết về lĩnh vực nông lâm nghiệp. Nâng cao năng lực, rèn luyện kĩ năng và phương pháp nghiên cứu cho sinh viên để từ đó đưa ra các phương hướng và giải pháp nhằm phát triển để nâng cao hiệu quả sản xuất trên địa bàn.
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong báo cáo này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện báo cáo này đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong báo cáo đã được chỉ rõ nguồngốc
Ngày 10 tháng 12 năm 2018
Người cam đoan
Nguyễn Thị Thơ
Trang 3Để hoàn thành được chuyên đề này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân.Đặc biệt với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơnPGS.TS Nguyễn Quang Hà hiệu trưởng trường Đại học Nông lâm BắcGiang người đã định hướng, chỉ bảo và hết lòng dìu dắt cho em trong suốt quátrình thực hiện đề tài này Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến các đồng chí lãnhđạo huyện Sơn Động, các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, UBND xã An Châu,bạn bè, đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, cổ vũ và tạo điều kiện cho em đượchoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Nếu không có những sự giúp đỡ này thì chỉ với sự cố gắng của bản thân
em sẽ không thu được kết quả như mong đợi
Xin trân thành cảm ơn /
An Châu, ngày 10 tháng 12 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thơ
Trang 4CHƯỢNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HÀNG HOÁ TẠI HUYỆN
SƠN ĐỘNG
11
1.2 Cơ sở lý luận về nông nghiệp hàng hoá 17
2.1 Phát triển nông nghiệp của một số nước trên thế giới 25
2.2 Phát triển nông nghiệp của Việt Nam 39
CHƯỢNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
46
2.2.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin 55
Trang 52.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 57
3.1 Thực trạng phát triển nông nghiệp hàng hoá trên địa
bàn huyện Sơn Động qua 3 năm 2015- 2017
Bảng 4.1 Tình hình kinh tế huyện Sơn Động qua 3 năm (2015 –
Trang 6huyệnBảng 4.11 Quy mô ngành chăn nuôi huyện Sơn Động 72Bảng 4.12 Tình hình phân bổ đất đai của hộ điều tra 75
Đồ thị 4.1 Tình hình lao động của hộ nông dân ( cơ cấu %) 76
Đồ thị 4.2 Cơ cấu đất đai huyện năm 2015, 2017 77
Đồ thị 4.3 Cơ cấu đất sản xuất của huyện năm 2017 78
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 7MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong quá trình phát triểncủa mỗi Quốc gia Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệplạc hậu, Khoảng 70% dân số nước ta đang sống ở khu vực nông thôn, laođộng nông thôn hiện chiếm 75% tổng lực lượng lao động cả nước (Tổng cụcthông kê năm 2009) Vì vậy, phát triển nông nghiệp - nông thôn là vấn đề
có tầm chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị, xã hội và môitrường sinh thái
Sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởixướng và lãnh đạo, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa rấtquan trọng, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội; nền kinh tếliên tục phát triển, đạt được mức tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được cảithiện Trong sự chuyển biến tích cực chung đó, có sự chuyển biến rõ nét củanông nghiệp và nông thôn; từ chỗ thiếu lương thực phải nhập khẩu, đến naynước ta đảm bảo được an toàn, an ninh lương thực, sản phẩm nông nghiệp ngàycàng đa dạng và phong phú, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội và xuất
Trang 8Tuy nhiên trong nông nghiệp - nông thôn nước ta hiện nay vẫn còn nhiềuvấn đề tồn tại cần phải được giải quyết Đó là sản xuất nông nghiệp vẫn chưabền vững còn phân tán và tự phát, bình quân ruộng đất ở Việt Nam khoảng0,14 ha/đầu người, một hộ thường có 6-7 thửa ruộng nên đã cản trở rất lớnviệc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, giống mới và phát triển sản xuất hànghoá (Báo Cáo “Chương trình hỗ trợ Ngành nông nghiệp”, ASPS, 2007)
Cơ cấu kinh tế nông nghiêp và nông thôn chuyển dịch chậm, chưa theo sát vớithị trường, giá trị nông nghiệp so với GDP cả nền kinh tế từ 26,62%năm 1995 xuống 20,4% năm 2006; nhưng chuyển dịch cơ cấu lao động lạihết sức chậm chễ, có tới hơn 70% dân số làm nông nghiệp và 78% dân số vẫnsống dựa vào nghề nông.(Bốn hướng đột phá chính sách nông nghiệp, nôngthôn và nông dân trong giai đoạn hiện nay,PGS.TS Nguyễn Chí Mỳ ,TS.Hoàng Xuân Nghĩa)
Trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì sản xuất nôngnghiệp theo hướng hàng hóa chất lượng cao, phát huy tốt lợi thế về đất đai,lao động, ngành nghề gắn với huy động các nguồn khả năng đầu tư có trọngtâm trọng điểm nhằm kiện toàn kết cấu hạ tầng nông thôn và các dịch vụ phục
vụ tốt sản xuất để từng bước nâng cao mức sống nông dân các vùng nôngthôn vùng sâu, vùng xa là chủ trương lơn của Đảng và nhà nước ta hiện nay
Đối với Bắc Giang, từ một tỉnh thuần nông xuất phát điểm thấp, diệntích tự nhiên không lớn 3.828 km²(Hiện trạng sử dụng đất phân theo địaphương, Tính đến 01/01/2009,Tông cục thông kê) nhưng trong những nămqua tỉnh luôn chú trọng phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa
và đã xây dựng được một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung Ngoài vùngcây ăn quả có quy mô lớn nhất miền Bắc khoảng 45 nghìn ha với sản phẩmvải thiều được khách hàng trong và ngoài nước biết đến còn có các vùng sảnxuất quy mô nhỏ hơn là lúa, lạc, rau và chăn nuôi lợn, bò… Năm 2009, Diệntích rau đậu các loại 23.329 ha, trong đó diện tích rau các loại 20.900 ha, sản
Trang 9lượng đạt gần 300.000 tấn Đáng chú ý, diện tích rau chế biến đạt trên 800 ha(tăng 4 lần so năm 2005), năng suất 15,5 tạ/ha, sản lượng đạt gần 13.000 tấn.Lĩnh vực chăn nuôi – thủy sản tiếp tục phát triển, chăn nuôi chiếm trên 46%trong cơ cấu nông nghiệp, cao hơn bình quân chung cả nước (29%) Tổng đànlợn đạt 1,11 triệu con (đứng thứ 6 toàn quốc); tổng đàn gia cầm 14,4 triệu con(đứng thứ 3 cả nước) tổng đàn bò trên 150,3 nghìn con.( Tình hình thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và công tác kế hoạch năm 2009,Sở kếhoặch và đầu tư Bắc Giang)
Sơn Động là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, người dân chủ yếusống dựa vào sản xuất nông nghiệp chiếm 92,9%, trong những năm qua tìnhhình sản xuất nông nghiệp của huyện đã có những chuyển biến tích cực, giátrị và giá trị sản lượng nông nghiệp liên tục tăng, chủng loại cây trồng, vậtnuôi đa dạng hơn, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷtrọng trồng trọt, trồng trọt giảm từ 58,27% năm 2010 xuống còn 55,0% năm
2015, sản phẩm ngành chăn nuôi tăng từ 22,07% năm 2010 lên 37,7% năm
2015, giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp đạt 30 triệu đồng/năm.(Báo cáo tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2015, Phòng NN& PTNThuyện Sơn Đông) Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp của huyện vẫn chưa thoátkhỏi tình trạng manh mún, nhỏ lẻ,bình quân 1,2 sào/khẩu, hệ số sử dụngruông đất mới chỉ đạt 1,02 lần,( hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm2015,Phòng TN&MT huyện Sơn Động), chưa xác định được cây trồng mũinhọn năng, suất cây trồng, vật nuôi và năng suất lao động chưa cao,năm 2016năng suất lúa mới chỉ đạt 42,2 tạ/ha, năng suất ngô đạt 32 ta/ha Đứng trướctình hình đó việc định hướng quy hoạch sản xuất nông nghiêp theo hươnghàng hóa, hình thành những vùng sản xuất tập trung, nông sản hàng hóa đápứng cho nhu cầu của xã hội và nhân dân trong huyện đang đặt ra nhiều vấn đềcần giải quyết Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hanh nghiên cứu đề tài:
“Định hướng phát triển nông nghiệp hàng hoá tại huyện Sơn Động- Bắc Giang trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế ”
Trang 102 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung:
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện đưa ra định hướng phat triển nông nghiệp hàng hoá trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế
* Mục tiêu cụ thể:
Qua nghiên cứu có thể tra lời các câu hỏi sau:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại huyện ra sao?
- Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp tại huyện giai đoạn 2008- 2010
ra sao? Còn tồn tại những hạn chế nào? Nguyên nhân của những hạn chế đó?
- Đặc thù, thế mạnh và những tiềm năng của huyện để phát triển nôngnghiệp theo hướng hàng hóa trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế là gì?
- Định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa trong thời kì hộinhập kinh tế quốc tế trên địa bàn huyện như thế nào ?
- Giải pháp thực hiện và những kết quả dự kiến khi thực hiện các địnhhướng đó như thế nào?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Cây trồng vật nuôi, kinh tế, chính sách và các chủ thể kinh tế hoạt độngtrên địa bàn huyện liên quan đến phát triển nông nghiệp của huyện
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Phạm vi nội dung: Thực trạng phát triển nông nghiệp hàng hoá trên địabàn huyện Sơn Động
Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện trên địa bàn huyện SơnĐộng, tỉnhBắc Giang
- Phạm vi thời gian của số liệu: Nghiên cứu đề tài phát triển nôngnghiệp hàng hoá trên địa bàn huyện Sơn Động qua 3 năm ( 2015-2017)
- Thời gian nghiên cứu đề tài: Từ ngày 01/10/2018 đến ngày10/12/2018
Trang 114 Kết cấu báo cáo:
- Đề tài tiến hành nghiên cứu sự phát triển nông nghiệp hàng hoátrên địa bàn huyện Sơn Động, tỉnh bắc Giang trong thời kỳ hội nhập kinh
tế quốc tế
- Đánh giá hiệu quả phát triển triển nông nghiệp hàng hoá trên địa bànhuyện Sơn Động nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết về lĩnh vực nông lâmnghiệp Nâng cao năng lực, rèn luyện kĩ năng và phương pháp nghiên cứu chosinh viên để từ đó đưa ra các phương hướng và giải pháp nhằm phát triển đểnâng cao hiệu quả sản xuất trên địa bàn
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HÀNG HOÁ TẠI HUYỆN SƠN ĐỘNGTRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1 Cơ sở lý luận:
Hiện nay vẫn chưa có định nghĩa rõ ràng về thuật ngữ định hướng theo
từ điển tiếng việt thì “Định” có nghĩa là tự đặt ra cho mình việc gì đó sẽ làm trong thời gian sắp tới, đưa ra một cách chính xác, rõ ràng, sau khi đã có suy nghĩ, tìm hiểu, cân nhắc “Hướng” có nghĩa là làm cho đi về một phía,vào một muc tiêu nào đó.
Như vậy, thuật ngữ “Định hướng” có thể hiểu là việc đưa ra một hướng
đi, hướng vào một muc tiêu nhất định nào thông qua một quá trình nghiên cứunhất định
Vậy, căn cứ để hình thành định hướng nói chung và định hướng nôngnghiệp nói riêng như thế nào chúng ta sẽ tìm hiểu điều này thông qua các cơ
sở sau:
1.1 Cơ sở lý luận về nông nghiệp.
- Khái niệm nông nghiệp: Nông nghiệp (agriculture) theo nghĩa hẹp
được hiểu là các hoạt động liên quan đến việc trồng cấy và đầu tư canh táctrên đất nhằm mục đích sản xuất ra sản lượng lương thực, thực phẩm phục vụ
Trang 12nhu cầu của con người Như vậy đối tượng chính của của nông nghiệp theonghĩa hẹp chỉ bao gồm loại cây trồng được thuần hóa canh tác trên đất Tuynhiên, ở nước ta khái niệm nông nghiệp thường được hiểu theo nghĩa rộnghơn bao gồm: Nông lâm, ngư nghiệp, các hoạt động chăn nuôi (cattle-breeding) bao gồm cả nuôi trồng thủy sản Vì thế đối tượng của nông nghiệpđược mở rộng sang cả các loại vật nuôi trên cạn và dưới nước Các đối tượngnày là những sinh vật sống, tiến hóa trong lịch sử đa phần được con ngườichọn lọc và cải tạo theo mục đích mà con người mong muốn Khác với ngànhsản xuất khác, các đối tượng của ngành nông nghiệp cần phải được cấy vàphát triển trên đất trong điều kiện sinh trưởng phát triển của các quuy luật tựnhiên Vì thế mà nông nghiệp luôn gắn chặt với điều kiện về đất đai và khíhậu thời tiết ở mỗi vùng, địa phương cụ thể.
- Những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xãhội.Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuấtkhác không thể có đó là:
1- Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp,phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Đặc biệt trêncho thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp.Thế nhưng ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết - khí hậurất khác nhau Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụngcác loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt độngnông nghiệp cũng không giống nhau Điều kiện thời tiết khí hậu vớilượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v.v trên từng địa bàn gắn rấtchặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất Do điều kiện đất đai khíhậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khuvực rất rõ nét Đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nôngnghiệp cần phải chú ý các vấn đề kinh tế - kỹ thuật sau đây:
- Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông - lâm - thuỷ sản trên
Trang 13phạm vi cả nước cũng như tính vùng để qui hoạch bố trí sản xuất các câytrồng,vật nuôi cho phù hợp
- Việc xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuậtphải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệp ở từng vùng
- Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng, từngkhu vực nhất định
2- Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thểthay thế được Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sảnxuất,nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau.Trong công nghiệp,giao thông v.v đất đai là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng các nhàmáy, công xưởng, hệ thống đường giao thông v.v để con người điều khiếncác máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động
Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sảnxuất chủ yếu không thể thay thế được Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích,con người không thể tăng thê, theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuấtruống đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâucủa ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sảnphẩm.Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, sửdụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng cơ bản,tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càngmàu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phíthấp nhất trên đơn vị sản phẩm
3- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vậtnuôi Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định(sinh trưởng, phát triển và diệt vong).Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoạicảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến
sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuốicùng Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sảnxuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu
Trang 14được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuấtsau Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thườngxuyên chọn lọc, bồi dưỡng giống hiện có, nhập nội những giống tốt,tiến hànhlai tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợpvới điều kiện từng vùng và từng địa phương.
4- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao Đó là nét đặc thù điểnhình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt sản xuất nông nghiệp làquá trình tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự nhiên,thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại khônghoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp Tínhthời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá trìnhsản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó Mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thờitiết - khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó,dẫn đến những mùa vụ khác nhau.Như vậy, tính thời vụ có tác động rất quantrọng đối với nông dân Tạo hoá đã cung cấp nhiều yếu tố đầu vào thiết yếucho nông nghiệp, như: ánh sáng, ôn độ, độ ẩm, lượng mưa, không khí Lợi thế
tự nhiên đã ưu ái rất lớn cho con người, nếu biết lợi dụng hợp lý có thể sảnxuất ra những nông sản với chi phí thấp chất lượng Để khai thác và lợi dụngnhiều nhất tặng vật của thiên nhiên đối với nông nghiệp đòi hỏi phải thực hiệnnghiêm khắc những khâu công việc ở thời vụ tốt nhất như thời vụ gieo trồng,bón phân, làm cỏ, tưới tiêu v.v Việc thực hiện kịp thời vụ cũng dẫn đếntình trạng căng thẳng về lao động đòi hỏi phải có giải pháp tổ chứclao động hợp lý, cung ứng vật tư - kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máymóc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc bố trí cây trồng hợp lý,phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nồng nhàn
- Phát triển nông nghiệp: thuật ngữ phát triển nông nghiệp được dùng
nhiều trong đời sống kinh tế và xã hội Theo GS.TS Đỗ Kim Chung cho rằng:
“ phát triển nông nghiệp thể hiện quá trình thay đổi của nền nồng nghiệp ởgiai đoạn này so với giai đoạn trước đó và thương đạt ở mức độ cao hơn cả về
Trang 15lượng và về chất.nền nông nghiệp phát triển là nền sản xuất vật chất khôngnhững có nhiều hơn về đầu ra ( sản phẩm và dịch vụ) đa dạng hơn về chủngloại và phù hợp hơn về cơ cấu, thích ứng hơn về tổ chức và thể chế, thỏa mãntốt hơn nhu cầu xã hội về nông nghiệp Trước hết, phát triển nông nghiệp làmột quá trình, không phải trong trạng thái tĩnh Quá trình thay đổi của nềnnông nghiệp chịu sự thay đổi của thị trường, chính sách can thiệp vào nềnnông nghiệp của Chính phủ, nhận thức và ứng sử của người sản xuất và ngườitiêu dùng về các sản phẩm và dịch vụ tạo ra trong lĩnh vực nông nghiệp Nềnnông nghiệp phát triển là kết quả của quá trình phát triển nông nghiệp.pháttriển nông nghiệp khác với tăng trưởng nông nghiệp: “ tăng trưởng nôngnghiệp chỉ thể hiện rằng ở thời điểm nào đó,nền nồng nghiệp có nhiều đầu ra
so với giai đoạn trước, chủ yếu phản ánh sự thay đổi về kinh tế tập trung nhiều
về mặt lượng Tăng trưởng nông nghiệp thường được đo bằng mức tăng thunhập quốc dân trong nước của nông nghiệp, mức tăng về sản lượng và sảnphẩm nông nghiệp, số lượng diện tích, số vật nuôi Trái lại, phát triển nôngnghiệp thể hiện cả về lượng và về chất Phát triển nông nghiệp không nhữngbao hàm cả tăng trưởng mà còn phản ánh các thay đổi cơ bản trong cơ cấu củanền nông nghiệp, sự thích ứng của nông nghiệp với hoàn cảnh mới, sự thamgia của người dân trong quản lý và sử dụng nguồn lực, sự phân bổ của cải, tàinguyên giưa các nhóm dân cư trong nội bộ nông nghiệp và giữa nông nghiệpvới các ngành kinh tế khác Phát triển nông nghiệp còn bao hàm cả kinh tế, xãhội, tổ chức, thể chế và môi trường Tăng trưởng và phát triển nông nghiệp cóquan hệ với nhau Tăng trưởng là điều kiện cho sự phát triển nông nghiệp, Tuynhiên, cần thấy rằng do chiến lược phát triển nông nghiệp chưa hợp lý mà cótình trạng ở một cuốc gia có tăng trưởng nông nghiệp nhưng không có pháttriển nông nghiệp”
-Phát triển nông nghiệp bền vững: Theo GS.TS Đỗ Kim Chung, GS.TS
Phạm Vân Đình,1997,cho rằng: “ Phát triển nông nghiệp bền vững là quátrình quản lý và duy trì sự thay đổi về tổ chức, kĩ thuật và thể chế cho nông
Trang 16nghiệp phát triển nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của conngười về nông phẩm và dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau” Sự pháttriển của nền nông nghiệp ( bao gồm cả lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản )
sẽ đảm bảo không tổn hại tới môi trường, không giảm cấp tài nguyên, sẽ phùhợp về kĩ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp nhận vềmặt phương diện xã hội (FAO,1992).phát triển nông nghiệp bền vững là quátrình đảm bảo hài hòa ba nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, thỏamãn nhu cầu về nông nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứngnhu cầu của tương lai
Nông nghiệp bền vững là kết quả của quá trình phát triển nông nghiệpbền vững Nền nông nghiệp thỏa mãn được yêu cầu của thế hệ hiện tại, màkhông làm giảm khả năng thỏa mãn yêu cầu của thế hệ mai sau ( Định hướngchiến lược phát triển bền vững ở việt nam, chương trình nghị sự 21, 2004).Nền nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp phải đáp ứng được hai yêu cầu
cơ bản: Đảm bảo đáp nhu cầu hiện tại về nông sản và các dịch vụ liên quan vàduy trì được tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau( bao gồm gìn giữquý đất, nước, rừng, khí hậu và tính đa dạng sinh học…) Nông nghiệp bềnvững là phạm trù tổng hợp, vừa đảm bảo các yêu cầu về sinh thái, kĩ thuật,vừa thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
1.2 Cơ sở lý luận về nông nghiệp hàng hóa.
Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa, là hai hình thức kinh tế - xã hội đãhình thành và tồn tại trong lịch sử nhân loại.hai hình thức này được hìnhthành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, trình
độ phân cồng lao động xã hội, trình độ phát triển và phạm vi của quan hệ traođổi khác nhau
Kiểu tổ chức kinh tế đầu tiên của loài người, là kinh tế tự nhiên, với đặctrưng chủ yếu là tự cung tự cấp- tức sản phẩm lao động được sản xuất chỉnhằm thỏa mãn nhu cầu của người sản xuất hoặc chỉ trong nội bộ đơn vị kinh
tế Nền kinh tế tự nhiên do nhiều đơn vị kinh tế thuần nhất hợp lại Kinh tế
Trang 17nông dân kiểu gia trường, công xã nông thôn nguyên thủy, các điền trang thái
ấp của địa chủ Và mỗi đơn vị kinh tế ấy làm đủ các loại ngành nghề, sản xuấtsản phẩm để tiêu dùng, sản xuất chủ yếu hướng vào giá trị sử dụng mang tính
tự cung tự cấp
Trong nền kinh tế tự nhiên, con người dựa chủ yếu vào tự nhiên và khaithác tự nhiên, do đó có thể nói rằng trong nền kinh tế này, ruộng đất là tư liệusản xuất chủ yếu của người lao động và nông nghiệp là ngành sản xuất chính,
kĩ thuật công cụ lao động, phương thức canh tác lạc hậu và thô sơ
Xã hội loài người đã tồn tại, phát triển trong nền kinh tế tự nhiên hàngnghìn năm rồi mới phát triển lên kinh tế hàng hóa
Kinh tế hàng hóa là loại hình tổ chức kinh tế- xã hội cao hơn kinh tế tựnhiên Phân công xã hội là cơ sở chung của mọi nền kinh tế hàng hóa Song,chỉ riêng phân công xã hội thì chưa đủ cho sự xuất hiện của kinh tế hàng hóa.Tính tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất là điều kiệnthư hai, cần và đủ cho sự ra đời kinh tế hàng hóa
Như vậy rõ ràng là cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội,của sự phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất và tính độc lậptương đối về kinh tế của các chủ thể sản xuất, xã hội loài người bước vào giaiđoạn phát triển kinh tế mới,cao hơn – kinh tế hàng hóa
Có nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế hàng hóa do cách tiếp cận vàkhái quát không giống nhau nhưng đều biểu đạt những đặc trưng bản chất của
nó như: kinh tế hàng hóa là nền kinh tế sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ đểtrao đổi, mua bán trên thị trường; tức là sản xuất theo nhu cầu của xã hội thểhiện trên thị trường; là hình thức tổ chức kinh tế - xã hội trong đó các mốiquan hệ kinh tế cơ bản được thể hiện thông qua quan hệ mua bán trên thịtrường; chi phối các mối quan hệ kinh tế cơ bản ấy là các quy luất của kinh tếhàng hóa: quy luật giá trị quan hệ cung - cầu, quan hệ cạnh tranh…Kinh tếhàng hóa có nhiều ưu thế như: thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, mởrộng phân công lao động xã hội, thúc đẩy tăng năng xuất lao động xã hội; là
Trang 18hình thức thể hiện và thực hiện xã hội hóa lao đông và sản xuất; kích thichviệc nâng cao số lượng, chất lượng hàng hóa và dich vụ; kích thich tính năngđộng sáng tạo của các chủ thể sản xuất – kinh doanh và có tác dụng khai thác
có hiệu quả các tiềm năng kinh tế của xã hội…
Tuy nhiên, kinh tế hàng hóa cũng có những hạn chế của nó như: docạnh tranh dấn đến tính tự phát mất cân đối trong kinh tế, phân hóa người sảnxuất, do chạy theo lợi nhuận tối đa nên có thể dấn tới sự tàn phá hủy hoại môitrương, môi sinh… Do đó đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước để khắcphục hạn chế của kinh tế hàng hóa.Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã khẳngđịnh rõ ràng: “ sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà làthành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiếtcho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã xâydựng xong”
Kinh tế hàng hóa, nếu xét theo phạm vi hoạt động và tính chất khu vựcthì ở mỗi quốc gia đều bao gồm các bộ phận hợp thành là kinh tế hàng hóathành thị và kinh tế hàng hóa nông thôn
Kinh tế hàng hóa nông thôn bao gồm toàn bộ các hoạt động sản xuấthàng hóa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ diễn ra trên địa bàn nông thôn
Nông nghiệp hàng hóa là một bộ phận của nền kinh tế hàng hóa nóichung, nó sản xuất ra nông sản phẩm (nông, lâm, ngư nghiệp) không phải để
tự tiêu dùng của người sản xuất, mà là để trao đổi, để bán trên thị trường, nó
là hình thức tổ chức kinh tế - xã hội, trong đó có mối quan hệ giữa người vớingười giữa các chủ thể với nhau được thể hiện thông qua trao đổi, mua bántrên thị trường, quan hệ hàng hóa – tiền tệ, quan hệ thị trường, quan hệ hạchtoán…là những quan hệ chủ yếu của loại hình này, chịu sự chi phối bởi trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, của quan hệ sản xuất, thiết chế kinh tế xãhội, phong tục tập quán, văn hóa… trong đó trực tiếp và khách quan là các tácđộng của cac quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh
Nền nông nghiệp hàng hóa ra đời đối lập với nền nông nghiệp tự cung
Trang 19tự cấp Nó có nhiều ưu thế so với nông nghiệp tự túc tự cấp Vì vậy, trong lịch
sử phát triển kinh tế của xã hội loài người thì sự ra đời và phát triển của nôngnghiệp hàng hóa được coi là một bước tiến bộ của lịch sử, một nấc thang pháttriển của nền văn minh nhân loại
- Những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa:
- Những nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên của sản xuất nông nghiệp.
Trong các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên, thông thường,nhân tố đầu tiên mà người ta phải kể đến đó là điều kiện đất đai Các tiêuthức của đất đai cần được phân tích, đánh giá về mức độ thuận lợi hay khókhăn cho sản xuất nông nghiệp hàng hoá là: Tổng diện tích đất tự nhiên, đấtnông nghiệp; đặc điểm về chất đất; đặc điểm về địa hình, về cao độ của đấtđai Điểm cơ bản cần lưu ý khi đánh giá mức độ thuận lợi hay khó khăn củađất đai là phải gắn với từng loại cây trồng cụ thể Rất có thể một đặc điểm nào
đó của đất đai là khó khăn cho phát triển loại cây trồng này, nhưng lại làthuận lợi cho phát triển loại cây khác Đồng thời cũng cần xem xét trong từngthời vụ cụ thể trong năm về ảnh hưởng của đất đai đối với sản xuất một loạicây trồng cụ thể
- Những thông số cơ bản của khí hậu như: nhiệt độ bình quân
hàng năm, hàng tháng; nhiệt độ cao nhất, thấp nhất hàng năm, hàngtháng; lượng mưa hàng năm, hàng tháng; lượng mưa bình quân caonhất, thấp nhất trong thời kỳ quan trắc; độ ẩm không khí; thời gian chiếusáng, cường độ chiếu sáng; chế độ gió; những hiện tượng đặc biệt của khí hậunhư sương muối, mưa đá, tuyết rơi, sương mù đều phải được phân tích,đánh giá về mức độ ảnh hưởng đến phát triển của từng loại cây trồng cụ thể
Ngoài đất đai và khí hậu, nguồn nước cũng cần được xem xét Nguồnnước bao gồm cả nước mặt và nước ngầm, hoặc khả năng đưa nước
từ nơi khác đến vùng sản xuất mà chúng ta đang xem xét
Đối với sản xuất nông nghiệp hàng hoá các yếu tố thuộc về điều kiện tự
Trang 20nhiên được xem như cơ sở tự nhiên của phân công lao động trong nôngnghiệp Đa phần những chuyên môn hoá theo vùng trong nông nghiệp chođến thời đại ngày nay, đều xuất phát từ sự khác biệt về điều kiện tự nhiên,trong đó chủ yếu xuất phát từ sự khác biệt về khí hậu và nguồn nước Sựchuyên môn hoá giữa vùng này và vùng khác trong một quốc gia, hoặcgiữa quốc gia này với quốc gia khác trên phạm vi thế giới, cơ bản đều xuấtphát từ sự khác biệt của điều kiện khí hậu Đó là cơ sở tự nhiên cho sự phâncông lao động quốc tế.
Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội.
Do sản xuất nông nghiệp hàng hoá có mục đích chính là sản xuất ra nôngsản hàng hoá, nên điều kiện về thị trường, tuy là nhân tố bên ngoài của nôngnghiệp, nhưng lại giữ vị trí quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngườisản xuất hàng hoá trong nông nghiệp Điều kiện về thị trường bao gồm cảthị trường các yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp và thị trườngsản phẩm đầu ra Không thể chỉ coi trọng thị trường sản phẩm đầu ra,
mà coi nhẹ thị trường các yếu tố đầu vào của vùng chuyên môn hoásản xuất nông nghiệp
Thực tiễn cho thấy rằng, nếu sản xuất ra những nông sản không đạt yêucầu về chất lượng, sản phẩm có giá thành cao, thì dù công tác tiếp thị đượctiến hành hoàn hảo đến mấy cũng là vô ích Do vậy, khi đặt vấn đề giải quyếtthị trường cho các vùng sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, cần đặt
nó trong toàn bộ quá trình sản xuất để xem xét và giải quyết Sự phântích, đánh giá thị trường sản phẩm đầu ra của vùng sản xuất nông nghiệpcũng cần có sự phân tổ để có thể giải quyết vấn đề mạch lạc Chẳng hạn, cũng
là sản phẩm đầu ra của vùng sản xuất nông nghiệp, nhưng đó là sản phẩm đểtiêu dùng trực tiếp của dân cư, hay là sản phẩm làm nguyên liệu đầu vào củacông nghiệp chế biến.Hoặc đó là sản phẩm dễ vận chuyển đi xa hay khó vậnchuyển đi xa Những phân tích đó giúp cho sự định hướng của mỗivùng nông nghiệp đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất, cũng như trong bảo
Trang 21vệ các tài nguyên nông nghiệp.
Cũng do mục đích của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm hàng hoá, hơnnữa là sản xuất hàng hoá với trình độ cao và qui mô lớn hơn nên điều kiệngiao thông vận tải cũng có tác động quan trọng đến sự tồn tại và phát triển củavùng sản sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp Đây là nhân tố bên ngoàicủa các vùng sản xuất hàng hoá nông nghiệp Nói chung các vùng sảnxuất đều phải thích ứng với điều kiện giao thông vận tải Tuy nhiên, sự thíchứng ở đây không mang tính bất biến như đối với điều kiện tự nhiên Vì rằng,điều kiện giao thông vận tải ngày càng được giải quyết tốt hơn, nhờ khả năngđầu tư để xây dựng hệ thống giao thông ngày càng tăng
Ngoài những nhân tố trên, trong nhóm nhân tố thuộc về điều kiện kinh
tế - xã hội còn phải kể đến các nhân tố như sự phát triển của công nghiệp chếbiến; loại sản phẩm sản xuất; cơ chế quản lý của nền kinh tế Đối với cácvùng sản xuất sự phát triển của công nghiệp chế biến một mặt giúp tiêu thụ dễdàng các sản phẩm của vùng, mặt khác còn làm tăng dung lượng tiêu thụ sảnphẩm nói chung của vùng sản xuất Sự tác động làm tăng dung lượng khôngchỉ thể hiện ở chỗ, bên cạnh lượng sản phẩm tiêu dùng trực tiếp, còn cómột lượng lớn sản phẩm được tiêu thụ bởi công nghiệp chế biến, mà sự tănglên còn thể hiện ở khả năng kéo dài thời vụ tiêu thụ sản phẩm của vùng sảnxuất nhờ tác động của công nghiệp Do đó, vai trò của công nghiệp chế biếnngày càng tăng đối với sự tồn tại và phát triền của các vùng sản xuất nôngnghiệp Có thể coi các doanh nghiệp công nghiệp chế biến nông sản nhưnhững hạt nhân tạo vùng sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, cơ chế quản
lý nền kinh tế cũng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của vùng sảnxuất nông nghiệp
- Các yếu tố thuộc về điều kiện kỹ thuật
Trong thời đại ngày nay, các nhân tố thuộc về điều kiện kỹ thuật có vaitrò ngày càng quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của cácvùng sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá Nhận định đó được thể
Trang 22hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, đó là những tiến bộ trong khâu sản xuất và cung ứng giống cây
trồng, vật nuôi mới Các loại giống cây, con có năng suất cao, chất lượng sảnphẩm tốt cho phép tăng qui mô sản lượng hàng hoá của vùng sản xuất màkhông cần mở rộng diện tích của vùng Các loại giống mới có sức kháng chịudịch bệnh cao giúp ổn định năng suất cây trồng, vật nuôi; ổn định sản lượngsản phẩm hàng hoá Đặc biệt, trong công nghệ ghép mắt của cây trồng đãtrưởng thành vào gốc cây trồng non đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho cácvùng chuyên canh cây trồng dài ngày mau chóng cho sản phẩm, rút ngắn thời
kỳ kiến thiết cơ bản của vườn cây, ổn định tính năng di truyền những phẩmchất tốt của cây cung cấp mắt ghép, đồng thời lại có sức sinh trưởng cao của gốccây non Với công nghệ mới đó, các loại cây ăn quả lâu năm, cây công nghiệpdài ngày đang có những bước tăng trưởng cao trong những năm gần đây
Bên cạnh những tiến bộ trên về công tác giống, còn phải kể đến
xu hướng lai tạo, bình tuyển các giống cây trồng cho sản phẩm phù hợp vớikinh tế thị trường: chịu được va đập trong quá trình vận chuyển, giữ được độtươi ngon dài hơn trong quá trình vận chuyển Có thể nói xu thế tuyển tạo cácloại giống phù hợp với yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoákhông thể không lưu ý đến khả năng chịu được những tác động của sự vậnchuyển sản phẩm đi xa, trong thời gian ngày càng dài hơn
Thứ hai, bên cạnh tiến bộ công nghệ trong sản xuất cây con
mới, hệ thống qui trình kỹ thuật tiên tiến cũng được hoàn thiện và phổ biếnnhanh đến người sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, nhờ sự phối hợp ngày cànghiệu quả giữa các cơ quan khuyến nông với các tổ chức truyền thông, nên đãrút ngắn được thời gian chuyển tải kỹ thuật mới từ nơi nghiên cứu đến ngườinông dân
Thứ ba, đó là sự phát triển của qui trình công nghệ bảo quản và chế biến
sản phẩm đang tạo ra những điều kiện có tính cách mạng để vận chuyển sảnphẩm đi tiêu thụ tại những thị trường xa xôi Điều đó cũng đã có ý nghĩa to
Trang 23lớn để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của từng vùng chuyên canh, xét
về không gian Thay vì nông sản chỉ được tiêu thụ tại chỗ, hoặc ở vùng lâncận quanh vùng sản xuất, thì nay sản phẩm được đưa đi tiêu thụ tại những thịtrường cách vùng sản xuất hàng ngàn, hàng vạn ki lô mét nhờ công nghệ bảoquản và chế biến nông sản tiên tiến Đồng thời, cuộc cách mạng trong lĩnhvực này cũng tạo điều kiện để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của vùngsản xuất xét về thời gian Thay vì nông sản chỉ được tiêu dùng trong mộtkhoảng thời gian ngắn vào thời vụ thu hoạch, thì nay, ngày càng có điều kiện
để tiêu thụ nông sản loại nào đó ngày càng dài hơn, thậm chí làquanh năm
Ngoài ra, các điều kiện khác như: hệ thống tưới, tiêu nước của vùngchuyên môn hoá; công nghệ phòng trừ dịch bệnh; trình độ của ngườinông dân cũng là những điều kiện kỹ thuật ảnh hưởng đến sản xuất hàng hoá
và chuyên môn hoá trong nông nghiệp
- Yếu tố về hợp tác trong sản xuất nông nghiệp
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, để cạnh tranh có hiệu quảcác hộ nông dân càng cần có sự hợp tác để có thêm vốn, thêm nhân lực, thêmkinh nghiệm sản xuất và tiến hành sản xuất hàng hóa có hiệu quả cao hơn, tự
vệ chống lại sự chèn ép( ép cấp, ép giá) của tư thương Thực tế thời gian quacho thấy để đáp ứng yêu cầu của thị trường về nông sản hàng hóa, các hộnông dân phải liên kết hợp tác lại với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn, kĩthuật và điều quan trọng là giúp nhau tiêu thu nông sản phẩm nhờ có các hìnhthức liên kết hợp tác mà các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các thành tựukhoa học kĩ thuật mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng xuất cây trồng, vậtnuôi và nâng cao năng xuất lao động của mình
- Phát triển nông nghiệp trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập tổ chức Thương mại thế giới(WTO) Việt Nam sẽ có cơ hội mở rộng thị trường và đẩy mạnh xất khẩunhững mặt hàng có tiềm năng, đặc biệt là hàng hóa nông sản.Nhưng đứng
Trang 24trước một “sân chơi” khổng lồ như vậy Việt Nam phải đối diện với “luậtchơi” đầy khó khăn trong sản xuất nông nghiệp:
+ “Luật chơi” về an toàn thực phẩm: Trong suốt quá trình sản xuất, tráicây và rau quả Việt Nam phải có chứng chỉ “ nông nghiệp an toàn” hay
“nông nghiệp tốt” (Good Agricultural practices, GAP) để chứng minhmặt hàng này luôn an toàn vệ sinh
+ “Luật chơi” về chất lượng: mặt hàng nông sản Việt Nam cần rất nhiềuchứng chỉ, chẳng hạn như chứng chỉ xác nhận nguồn gốc giống (GMO),chứng chỉ báo cáo chất lượng ( hàm lượng protein, chống õy hóa,vitamine, đồng bộ về giống, độ chín, kích cỡ và mầu sắc)…để chứngminh mặt hàng có chất lượng cao và bổ dưỡng
+ “Luật chơi” về số lượng: lượng hàng hóa lưu hành trong thị trườngnông sản thế giới ngày nay vừa lớn về số lượng ( trăm tấn, ngàn tấn…)vừa đồng bộ (giống kích cỡ,mầu sắc, bao bì) và chính xác về thời giangiao hàng…
+ “Luật chơi” về giá cả: Để yểm trợ cho cạnh tranh, giá cả trở thành mộtyếu tố quyết định Đây là một thứ luật “bất thành văn” của bất cứ cơ sởsản xuất hay một quốc gia nào trên thế giới muốn tham dự cuộc chơi.Nông dân phải hết sức quan tâm đến điều này để mặt hàng luôn có giá rẻvốn là lợ thế của việt nam trong mấy năm qua
Hiện nay cái khó nhất cho nông nghiệp Việt Nam là chu trình “ nôngnghiệp an toàn” hay “nông nghiệp tốt” Đây là chương trình kiểm tra an toànthực phẩm xuyên suốt của dây chuyền sản xuất bắt đầu từ khâu chuẩn bị nôngtrại cho tới khâu sau thu hoặch và tồn chữ hay các yếu tố liên quan tới môitrường, các chất hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, bao bì và ngay cả điều kiệnlàm việc và phúc lợi của người làm việc trong nông trại Trước kia chúng tasản xuất ra nông sản đa số là để phục vụ thị trương trong nước thì nay chung
ta phải sản xuất ra những nông sản phải cạnh tranh được với những sản phẩmnông sản ở các nước khác ngay trên sân nha chúng ta cũng như đem đi xuất
Trang 25khẩu Như vậy, nông dân không phải muốn sản xuất cái gì cũng được, màphải hướng đến sản xuất cái gì thị trường cần, bán có giá, có hiệu quả kinh tế.
Do đó nông dân phải sản xuất theo tiêu chí thị trường và được thị trường lớnnày chấp nhận
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 phát triển nông nghiệp của một số nước trên thế giới.
Trong những thập kỉ qua có nhiều nước trên thế giới và điển hình làkhu vực châu Á quan tâm đến phát triển kinh tế nông thôn và họ đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong khuvực cho thấy, trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn ở mỗi nước cónhững điều kiện và đặc điểm riêng, ở vào những thời điểm lịch sử khác nhaunhưng ở các nước đó đều coi trọng sản xuất nông nghiệp.vậy việc phát triểnnông nghiệp của các nước này ra sao, chúng ta sẽ đi tìm hiểu về nền nông nghiệpcủa một số nước ở châu Á có điều kiện tự nhiên gần giống với Viêt Nam
2.1.1 phát triển nông nghiệp của Trung quốc.
Kết quả phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO:
Nhìn chung, sau 5 năm gia nhập WTO, sản lượng nông nghiệp khônggiảm, giá nông sản phẩm không giảm, thu nhập của nông dân không giảm,sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu tăng mạnh, hạn ngạch thuế quan đối với sảnphẩm nông nghiệp chưa sử dụng hết; tình trạng nhập khẩu ồ ạt nông sản đãkhông diễn ra Theo Uỷ ban Cải cách và Phát triển, một số kết quả 5 năm gianhập WTO như sau:
- Tăng trưởng xuất khẩu các nông sản có lợi thế so sánh: Sản xuất rau
quả và thịt tăng nhanh Từ nhiều năm đã là một trong những nước sản xuấtlớn nhất cho các mặt hàng như thịt heo (46% sản lượng thế giới), bông sợi(24%), trà (23%) Trung Quốc đã chiếm vị trí hàng đầu đối với lê (70%), táo(48%), đào (32%), cà chua (30%) Trong năm 2003, trị giá xuất khẩu rau đã
Trang 26tăng 43% và quả 80% Trung Quốc hiện đứng đầu thế giới về xuất khẩu raukhô và rau đông lạnh, nấm chế biến, tỏi và quả đóng hộp Sản xuất thủy hảisản tăng gấp ba lần trong 10 năm, đạt 45 triệu tấn năm 2002, chiếm một phần
ba sản lượng thế giới Trung Quốc đứng thứ 8 trên thế giới về xuất khẩu nôngsản và cung cấp 15% tất cả các nông sản nhập vào Nhật Bản.(Kinh nghiệmcủa Trung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO)
- Gia tăng nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp sử dụng nhiều tài
nguyên, qua đó khai thác các nguồn lực nông nghiệp quốc tế, phân bố hiệuquả nguồn lực trong nước, từ đó giúp cho điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp,chuyển đổi sản phẩm của các vùng duyên hải thiếu tài nguyên đất
- Thúc đẩy Trung Quốc hợp tác toàn diện trên lĩnh vực khoa học nôngnghiệp với các nước phát triển, đẩy mạnh thu hút kỹ thuật nông nghiệpmới, nâng cao hàm lượng kỹ thuật của nông sản và chất lượng sản phẩm,sức cạnh tranh
- Gia nhập WTO có lợi cho cải cách thể chế lưu thông nông sản, xoá bỏđộc quyền quốc doanh Việc Trung Quốc cam kết cho phép tư nhân tham giavào lĩnh vực thương mại nông sản thúc đẩy nhanh thực hiện thương phẩm hóanông sản trong nước, đa dạng hóa tổ chức kinh doanh, hình thành thị trườngnông sản cạnh tranh trong nước
- Nhập khẩu các hàng hóa chất lượng tốt của nước ngoài, kích thích giáthực phẩm hạ, người tiêu dùng được hưởng lợi
Những vấn đề Trung Quốc đã gặp phải:
- Từ năm 2004, do tăng nhập khẩu các mặt hàng như lương thực, bông,dầu, Trung Quốc đã chuyển từ nước xuất siêu sang nhập siêu nông sản (mặc
dù tổng cán cân thương mại Trung Quốc vẫn thặng dư) Dân số đông, quy môsản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp, trình độ kỹ thuật yếu cùng với hạn chế
về môi trường sản xuất, thuốc trừ sâu, điều kiện phòng dịch kém nông
Trang 27nghiệp Trung Quốc đã phải chịu một số ảnh hưởng tiêu cực sau khi gia nhậpWTO Một số sản phẩm trước đây Trung Quốc xuất khẩu nay đã phải nhậpkhẩu nhiều, như bông, đậu tương, dầu ăn, lông cừu Thị phần đậu tương trongnước hiện chỉ còn 16%, thị phần bông trong nước chỉ còn 13% Năm 2001,thặng dư thương mại là 4,2 tỷ USD, 2003 thặng dư 2,5 tỷ USD, 2004 nhậpsiêu 4,6 tỷ USD, 2005 nhập siêu 1,2 tỷ USD, nửa năm đầu 2006 nhập siêu 2
tỷ USD Sản xuất ngũ cốc giảm trong khi nhu cầu trong nước tăng nên TrungQuốc ngày càng nhập khẩu nhiều ngũ cốc Năm 2003, Trung Quốc đã nhậphơn 21 triệu tấn hột đậu nành, so với 4 triệu tấn năm 1998.(Kinh nghiệm củaTrung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO)
- Xuất khẩu nông sản gặp nhiều bất lợi do hàng rào thuế quan của các
thành viên WTO cùng với các hình thức bảo hộ khác, hàng rào kỹ thuật Bêncạnh đó, giá cả nhiều loại sản phẩm nông nghiệp Trung Quốc cao hơn so vớigiá thế giới do chi phí sản xuất cao, kết cấu hạ tầng kém Kể từ đầu nhữngnăm 1990, giá cả hàng nông sản của Trung Quốc đã liên tục tăng với tốc độhơn 10%/năm khiến cho giá cả của sản phẩm như tiểu mạch, ngô, đậu, bông
… đều cao hơn giá thị trường quốc tế từ 20-70% Nhìn chung, chỉ có thịt lợn,táo và thuốc lá là tương đối có ưu thế, còn lại nhiều loại hàng hóa nông sảncủa Trung Quốc thiếu sức cạnh trên thị trường quốc tế Xuất khẩu của doanhnghiệp Trung Quốc giảm, một nửa kim ngạch xuất khẩu nông sản là của cácdoanh nghiệp đầu tư nước ngoài
- Thu nhập thực tế của một bộ phận nông dân có chiều hướng giảm Thí
dụ, năm 2004, lượng bông nhập khẩu tăng đã làm cho giá bông giảm mạnh,khiến thu nhập của người trồng bông mất 217 NDT/mẫu Thu nhập nôngnghiệp giảm đã dẫn đến thất thu thuế nông nghiệp Ngoài ra, cơ hội việc làm
ở nông thôn giảm, riêng ngành trồng trọt giảm hơn 4 triệu việc làm
Các biện pháp điều chỉnh và cải cách nông nghiệp:
Để giảm thiểu những tác động tiêu cực của việc gia nhập WTO tới nông
Trang 28nghiệp, Trung Quốc đã thúc đẩy việc tái cơ cấu và điều chỉnh chính sách nôngnghiệp từ giai đoạn cuối của Kế hoạch 5 năm lần thứ IX với những nội dung
cơ bản như:
- Tiến hành điều chỉnh cơ cấu sản phẩm nông nghiệp, chú trọng sản
phẩm có giá trị gia tăng cao (tiểu mạch cứng, giống gạo chất lượng cao, rausạch, hoa quả, vật nuôi ăn cỏ nhằm tiết kiệm lương thực, thuỷ sản chất lượngcao ) Đa dạng hóa nông sản và cải thiện chất lượng sản phẩm theo hướngtăng chế biến nông sản
- Điều chỉnh cơ cấu vùng miền, khai thác lợi thế so sánh của địa phương
trong nông nghiệp (vùng ven biển giảm sản xuất lương thực để phát triển cácloại sản phẩm có khả năng xuất khẩu; miền Trung và miền Tây phát triểntrồng trọt)
- Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến nông nghiệp,
đảm bảo tính đồng bộ về pháp lý (quy định về kiểm dịch động thực vật, hàngrào kỹ thuật trong nông nghiệp, hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đối với nôngsản, xây dựng các tổ chức tiền tệ ở nông thôn ); điều chỉnh các quy định về
hỗ trợ nông nghiệp để phù hợp với các quy định của WTO
- Đẩy mạnh hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp với phương châm “cho
nhiều, lấy ít, nuôi sống”, thực hiện chính sách 4 miễn giảm cho nông dân(miễn thuế nông nghiệp, thuế chăn nuôi, thuế đặc sản nông lâm, thuế giếtmổ), trợ cấp 4 hạng mục cho nông dân (trợ cấp lương thực, trợ cấp giống tốt,trợ cấp mua máy nông cụ lớn, trợ cấp nông nghiệp tổng hợp)
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật (Trung ương tăng chi dụngKHKT, sản nghiệp hóa nông nghiệp, hỗ trợ chuyển dịch lao động, đào tạo ),tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng (nâng cấp thuỷ lợi, cải tạo ruộng thấptrũng, xây dựng đường, điện, kho bãi, hạ tầng lưu thông ), thúc đẩy hìnhthành hệ thống thông tin thị trường, đổi mới nghiên cứu khoa học - công nghệnông nghiệp và hệ thống khuyến nông
Trang 29- Thúc đẩy cải cách hệ thống lưu thông nông sản (cải cách thể chế về lưuthông, tìm tòi phương thức lưu thông mới, phát triển hiệp hội ngành nghề ,cải cách thể chế về ngoại thương đối với nông sản, mở rộng kênh xuất khẩunông sản ).
- Đẩy mạnh chuyển dịch lao động dôi dư ở nông thôn (thúc đẩy đô thịhóa nông thôn, tăng cơ hội việc làm đặc biệt việc làm phi nông nghiệp, điềuchỉnh cơ cấu sản phẩm của xí nghiệp hưng chấn, đẩy mạnh mạu dịch gia côngbên ngoài, xuất khẩu lao động )
Bài học rút ra cho Việt Nam:
- Một là, cần tăng cường hỗ trợ thông tin theo hướng cung cấp cập nhật, chính
xác thông tin về thị trường nông sản cho nông dân, đánh giá đúng mức tácđộng của việc gia nhập WTO đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và từngngành nói riêng
- Hai là, coi nông nghiệp là trọng tâm và tạo lập cơ sở pháp lý hỗ trợ nông
nghiệp Coi trọng hỗ trợ nông nghiệp theo phương châm "cho nhiều, lấy ít,nuôi sống" và phù hợp với quy tắc của WTO; hỗ trợ cho việc phát triển côngnghiệp chế biến, tạo đầu ra ổn định hơn cho ngành trồng trọt và chăn nuôi;
- Ba là, hệ thống chính sách và quản lý liên quan tới nông nghiệp cũng cần có
những thay đổi theo hướng thị trường, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, xuấtkhẩu… đặc biệt ưu tiên phát triển các ngành có lợi thế so sánh Cung cấp cácdịch vụ hỗ trợ nông nghiệp và bảo đảm cho nông dân tiếp cận với đầu vàoquan trọng như thủy lợi, điện, phân bón với chất lượng cao và giá thấp
- Bốn là, coi trọng cả thị trường trong và ngoài nước Mục tiêu phát
triển nông nghiệp là đa dạng hóa, an ninh lương thực, tăng sức cạnh tranh…Nhấn mạnh đến ưu thế của từng vùng Dựa vào khoa học kỹ thuật để trăngtrưởng nông nghiệp Chú trọng hơn đến bảo vệ môi trường
- Năm là, tăng cường năng lực của các hiệp hội ngành hàng Đây là
Trang 30đơn vị tập hợp và tăng cường liên kết các doanh nghiệp kinh doanh nông sảnnhằm gia tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, tập trung sản xuất
có quy mô nhỏ lẻ khác nhau thành quy mô lớn hơn, tăng khả năng cạnh tranhcủa nông nghiệp Việt Nam
2.1.2 Phát triển nông nghiệp của Nhật Bản.
Với diện tích đất canh tác có hạn, dân số đông, đơn vị sản xuất nôngnghiệp chính tại Nhật Bản vẫn là những hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính chấtcủa một nền văn hóa lúa nước Nhưng họ đã đề ra những chiến lược hợp lý để
có một nền nông nghiệp hiên đai như ngày nay:
1 Phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp
Để phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp, Nhật Bản chủ yếu dựa vào cácviện nghiên cứu nông nghiệp của Nhà nước và chính quyền các địa phương.Viện quốc gia về khoa học nông nghiệp được thành lập ở cấp Nhà nước là
cơ quan có trách nhiệm tổng hợp gắn kết toàn bộ các viện nghiên cứu cấpngành thành một khối Bên cạnh đó, các viện nghiên cứu nông nghiệp cũngtăng cường liên kết nghiên cứu với các trường đại học, các xí nghiệp tư nhân
và các hội khuyến nông; liên kết với các tổ chức này và các tổ chức của nôngdân để giúp nông dân tiếp cận công nghệ, trang thiết bị tiên tiến, giúp tăngnăng suất, chất lượng, đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng ổn định
Trang 31Đồng thời chương trình “Đẩy mạnh sử dụng đất nông nghiệp” được triểnkhai Chương trình này được bổ sung vào năm 1980, và nhờ vậy nó giữ vaitrò quan trọng trong việc hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp Từng hộsản xuất riêng lẻ, với quy mô quá nhỏ thì không thể có đủ điều kiện kinh tế
và kỹ thuật để HĐH quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn Năm
1995 số lượng nông trại giảm 791 nghìn cái (giảm 18,7%) so với năm 1985.Quy mô ruộng đất bình quân của một nông trại có sự thay đổi theo hướng tích
tụ ruộng đất vào các trang trại lớn để tăng hiệu quả sản xuất Xu hướng nàythể hiện rõ nhất trong giai đoạn 1990-1995, qui mô đất lúa bình quân/hộ tăng
từ 7180m2 lên 8120m2 (Phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản-kinhnghiệm cho Việt Nam,Nguyễn Hồng Thu,Tạp chí khoa hoc Việt Nam trựctuyến số 10,2009)
3 Phát triển sản xuất có chọn lọc, nâng cao chất lượng nông sản
Bước ngoặt của chính sách nông nghiệp của Nhật Bản thực sự bắtđầu khi Luật Nông nghiệp cơ bản được ban hành vào năm 1961, với haiphương hướng chính sách chủ yếu: Phát triển sản xuất có chọn lọc, cụ thể làđẩy mạnh sản xuất những sản phẩm có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng
và giảm sản xuất những nông phẩm có sức tiêu thụ kém; Hoàn thiện cơcấu nông nghiệp, kể cả việc phát triển những nông hộ và HTX có nănglực về quản lý kinh doanh và canh tác Trong những năm 1960 và 1970, sựphát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật đã đẩy thu nhập của nhândân tăng đáng kể Cũng trong thời gian này, lao động trong nông nghiệp giảmxuống khoảng 50%, song năng suất lao động lại tăng bình quân hàng năm 5-8% nhờ tăng cường cơ giới hoá và cải tiến quy trình kỹ thuật Đây là tỷ lệtăng bình quân cao nhất ở những nước phát triển Các ngành thực phẩm chếbiến phát triển, giúp cho người dân sống ở nông thôn có thêm nhiềuviệc làm, thu nhập được cải thiện, do đó Nhật Bản đã tạo cho mình một thịtrường nội địa đủ lớn cho hàng hoá công nghiệp tích luỹ lấy đà chuyển sangxuất khẩu Khi sản xuất hàng hoá lớn phát triển, Nhật Bản tập trung đất đai,
Trang 32mở rộng quy mô sản xuất, phát triển nông hộ lớn hoặc trang trại để tạo điềukiện cơ giới hoá, tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh.
4 Phát triển các HTX và các tổ chức kinh tế HTX dịch vụ.
Hợp tác xã có vị trí rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp ởNhật Bản Hầu hết những người nông dân đều là xã viên của HTX nôngnghiệp.Chính phủ rất coi trọng thể chế vận hành các HTX nông nghiệp và đãban hành, thực hiện nhiều chính sách giúp đỡ phát triển, không ngừng mởrộng quy mô sản xuất nhằm giúp người nông dân thoát khỏi cảnh đói nghèo
và cùng hội nhập vào nền kinh tế thế giới.Theo Luật Hợp tác xã nông nghiệp,năm 1972 Liên hiệp các HTX nông nghiệp quốc gia Nhật Bản chính thứcđược thành lập và được Chính phủ giao thực hiện các mục tiêu về phát triểnnông nghiệp và nông thôn Hệ thống HTX nông nghiệp Nhật Bản được phânlàm 3 cấp, hoạt động với tôn chỉ dựa vào sự nỗ lực hợp tác giữa các HTXnông nghiệp cấp cơ sở, các liên đoàn cấp tỉnh và cấp trung ương tạothành một bộ máy thống nhất hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương Vaitrò của các HTX và tổ chức kinh tế HTX dịch vụ đã thúc đẩy quá trình tích tụ,tập trung ruộng đất và chuyên môn hoá sâu theo hướng thương mại hoá trongnông nghiệp nước này
5 Chính sách hỗ trợ nông nghiệp
Về chính sách giá cả, đặc biệt chính sách trợ giá cho lúa gạo khá lớn, đãkích thích sản xuất và dẫn đến sản xuất thừa gạo Từ năm 1970, Nhật Bản bắtđầu hạn chế mức sản xuất gạo, do vậy Nhật Bản chỉ đáp ứng được 40% nhucầu lương thực trong nước so với 79% của năm 1960 Theo quan điểm anninh lương thực là mục tiêu số một nên ngành nông nghiệp được bảo hộ rấtcao Cuối năm 1999 Nhật Bản đã đưa ra “Luật cơ bản mới về lương thực,nông nghiệp và khu vực nông thôn” với nhiều hứa hẹn về những cải cáchmới trong lĩnh vực nông nghiệp Song thực tế cải cách nông nghiệp diễn
ra hết sức chậm chạp và Nhật Bản vẫn duy trì mức thuế cao đối với một sốmặt hàng như gạo,lúa mỳ và các sản phẩm từ sữa, nếu đem so sánh về chính
Trang 33sách giữa các nước, khối nước khác nhau như Mỹ, Eu, Với việc duy trì mứcthuế cao, Nhật Bản phải đối mặt với những phản ứng của các đối tác thươngmại trên các diễn đàn song phương và đa phương về sức ỳ quá lớn của NhậtBản đối với tiến trình tự do hoá trong lĩnh vực nông nghiệp Đồng thời, chínhsách hỗ trợ nông nghiệp kéo dài của Nhật Bản đã đẩy giá nông phẩm trongnước lên cao, song nó lại làm giảm sức mua của người tiêu dùng, làm tổnthương tới các nhà cung cấp khác trên cơ sở tạo ra các ảnh hưởng kinh tếmang tính dây chuyền; Bên cạnh đó nó cũng làm cho tính cạnh tranh củakhu vực này về mặt dài hạn và khả năng đảm bảo an ninh lương thực củaNhật Bản bị giảm sút.
Bài học cho Việt Nam
Thứ nhất, tăng cường đầu tư vào phát triển nghiên cứu có chọn lọc;tích cực chuyển giao công nghệ, đào tạo và dạy nghề cho nông dân nhằm pháthuy tài nguyên con người và áp dụng khoa học công nghệ có hiệu quả Đây
là động lực chính cho tăng trưởng nông nghiệp tương lai, tạo ra bước đột phá
về năng suất, chất lượng của nông sản; tăng khả năng cạnh tranh ở trongnước và ngoài nước
Thứ hai, có chính sách bảo hộ hợp lý đối với nông sản trên cơ sở tuân thủcác quy định của WTO cùng các chính sách hỗ trợ khác Chính sách hỗ trợtrong nông nghiệp gồm 2 loại: hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu Nôngdân Việt Nam vẫn cần tiếp tục nhận được những hỗ trợ khác để giúp đỡ nôngdân trong phát triển sản xuất nông sản nhằm xoá đói giảm nghèo Nhànước cần hỗ trợ mạnh cho các HTX, hội nông dân để giúp các tổ chức nàyhoạt động tốt trong vai trò cung ứng vật tư nông nghiệp thiết yếu, đàotạo, dạy nghề, cung cấp thông tin, hỗ trợ kinh phí, điều kiện sinh hoạt, buônbán xuất khẩu nông sản, bảo vệ lợi ích của người nông dân Sự phát triển củacác tổ chức HTX và hội nông dân giúp cho cộng đồng xã hội nông thônphát triển hài hoà cả về kinh tế, xã hội, chính trị và môi trường
Thứ ba, hiện tích tụ ruộng đất bình quân ở Việt Nam chỉ có 0,6 ha/hộ
Trang 34vào loại thấp nhất thế giới, điều này dẫn đến sản xuất phân tán manhmún, năng suất không cao, không hiệu quả Chính sách dồn điền đổi thửacho phép xử lý vấn đề đất đai manh mún, song cần có những tác động hỗtrợ cần thiết của Chính phủ trong tiến trình này, và nên tiến hành từng bướctích tụ ruộng đất gắn với phân công lại lao động trong nông thôn, nôngnghiệp trên cơ sở phát triển kinh tế hộ gia đình.
Thứ tư, kiên quyết thực hiện liên kết nông nghiệp, nông thôn với côngnghiệp và đô thị nhằm thu hẹp khoảng cách giữa đô thị và nông thôn Hoạchđịnh rõ chiến lược phát triển công nghiệp gắn với nông nghiệp về thu hútlao động, chế biến nông phẩm, cung cấp vật tư, máy móc cho nông nghiệp.Điều chỉnh kế hoạch mở rộng các đô thị lớn thành xây dựng nhiều thành phố
vệ tinh nhỏ nằm ở nông thôn Cải thiện hệ thống giao thông để cư dân nôngthôn và đô thị có thể di chuyển cư trú thuận lợi
Thứ năm, để tạo điều kiện cho người nông dân có thể tự tăng được thunhập và có động lực ở lại nông thôn, Chính phủ cần xây dựng hạ tầng cơ sởtốt, đào tạo dạy nghề tốt ở nông thôn để tạo điều kiện thuận lợi cho việcxây dựng nhà máy ở nông thôn vì xây dựng ở nông thôn sẽ rẻ hơn đôthị Nông thôn nếu tìm được những ngành nghề có ưu thế để phát triển (pháttriển các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, các ngành công nghiệp sản xuấtvật tư, thiết bị cho nông nghiệp và hàng tiêu dùng cho nông thôn ) sẽ hìnhthành nhiều đô thị.Việc này vừa giúp tăng thu nhập cho cư dân nông thônvừa giúp giảm áp lực dân nông thôn đổ dồn vào thành thị
2.1.3 Phát triển nông nghiêp của Thái Lan
Thai Lan là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, có điềukiện tự nhiên, kinh tế – xã hội gần giống như Việt Nam.Việc Thái Lan pháttriển mạnh mẽ ngành nông nghiệp đang là một bài học kinh nghiệm rất quýbáu đối với Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước, phát triển ngành nôngnghiệp Hiện tại, Thái Lan đang phát triển một nền nông nghiệp hoàn chỉnhvới sự da dạng hóa, chuyên môn hóa nhiều loại vật nuôi, cây trồng, vừa đảm
Trang 35bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước vừa đảm bảo xuất khẩu Sản xuất nôngnghiệp của Thái Lan trong mấy thập kỷ qua phát triển tương đối ổn định TháiLan đã chuyển sang cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp nhưng phần đóng gópcủa nông nghiệp trong GDP của Thái Lan vẫn rất quan trọng Nông nghiệpđóng góp 18% trong GDP của Thái Lan Ngành nông nghiệp nhiệt đới phongphú đã đem lại cho Thái Lan vị trí xuất khẩu gạo số một Năm 1999, kimngạch xuất khẩu gạo của Thái Lan đạt 73,8 tỉ Bạt (1,9 tỉ USD), năm 2000 là257,8 tỉ Bạt (6,5 tỉ USD) Năm 2006, Thái Lan xuất khẩu khoảng 7,5 triệutấn, mang về cho đất nước trên 9 Tỉ USD.( Phát Triển Nông Nghiệp Bền
Vững Ở Việt Nam, TS Vũ Văn Nam, NXB Thời Đại Hà Nội, 2009) . Có đượcnhững thành công trên, bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, TháiLan đã xây dựng cho mình những định hướng, chiến lược phát triển ngànhnông nghiệp đúng đắn:
Thứ nhất, thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo chiến lược xây dựng cơcấu kinh tế toàn diện và ổn định Ngay từ năm 1999, chính phủ Thái Lan đãđưa ra chương trình phát triển nông nghiệp, trong đó tập trung vào một số giảipháp như:
+ Phân vùng sản xuất nhằm giải quyết tình trạng sản xuất không ổnđịnh, xây dựng vùng chuyên canh sản xuất, phân canh diện tích đất nhất địnhcho một số loại cây đòi hỏi tưới tiêu tốt
+ Cung cấp cho nông dân các loại giống cây khác nhau để cải thiệnchất lượng cây trồng
+ Quản lý sau thu hoạch một cách hiệu quả Bộ Nông nghiệp Thái Lan
đã tìm vốn vay từ Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) để tài trợ cho việc muasắm phương tiện và xây dựng các kho chứa thóc ở mỗi huyện
+ Thúc đẩy và công bố các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực nôngnghiệp, theo đó Chính phủ Thái Lan thiết lập Uỷ ban chuyên trách về việcxây dựng, phối hợp với các ngần hàng dữ liệu phục vụ cho công tác nghiêncứu đối với các cơ quan của Nhà nước và tư nhân Thông qua Uỷ ban này sẽ
Trang 36tạo điều kiện tư vấn nông nghiệp cho nông dân sản xuất.
+ Cấp tín dụng cho người nghèo và hỗ trợ vốn cho nông dân sản xuấtvới các chính sách lãi suất ưu đãi
Thứ hai, thực hiện chiến lược lúa gạo quốc gia 5 năm 2004-2008 TháiLan tập trung nâng cao sản lượng thóc gạo thông qua việc áp dụng các biệnpháp kỹ thuật mới tăng năng suất, hoàn thiện hệ thống tưới tiêu, quảng bá thịtrường thóc gạo, tăng giá trị xuất khẩu, nâng cao đời sống cho nông dân Theochiến lược này, sản lượng thóc sẽ tăng từ 25,88 triệu tấn (17,20 triệu tấn gạo)niên vụ 2002-2003 lên 33 triệu tấn thóc (21,8 triệu tấn gạo) vào niên vụ 2007-
2008 Thái Lan tăng cường xuất khẩu các thị trường Trung Quốc, HồngKông, Singapor, Liên minh châu ÂU, tăng khả năng cạnh tranh gạo chấtlượng cao sang gạo Thái Lan trên thị trường quốc tế
Thứ ba, phát triển các vùng nông nghiệp sinh thái đô thị Thái Lan lànước có kinh nghiệm trong việc phát triển các vùng nông nghiệp sinh thái đôthị Điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội của thủ đô Băng Cốc cho phép hìnhthành các vùng sản xuất vệ tinh chuyên môn hóa xen kẽ với các khu côngnghiệp và dân cư, cách thủ đô từ 40km đến 100 km Các nông sản sạch và cógiá trị kinh tế cao được chú trọng phát triển Tại những vùng nông nghiệp gầnBăng Cốc, nông dân phát triển sản xuất rau quả an toàn liên tiếp Tại các vùngcách thủ đô hàng trăm km, các mô hình nông nghiệp tổng hợp được xây dựng,trang trại chăn nuôi kết hợp với trồng cây ăn quả, phát triển cây lương thựcvới nuôi trồng thủy sản nhằm giải quyết vấn đề môi trường và an toàn thựcphẩm Vấn đề tiêu thụ sản phẩm được giải quyết trên cơ sở phát triển quan hệhợp đồng giữa các công ty chế biến nông sản của Băng Cốc và các hộ nôngdân ở các vùng sản xuất vệ tinh Đặc biệt, Chính phủ Thái Lan rất quan tâmtới các chính sách tài chính, tín dụng, khuyến nông, xây dựng kết cấu hạ tầng,giải quyết ô nhiễm nhằm thúc đẩy phát triển các vùng nông nghiệp bền vững
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thứ nhất, xác định đúng mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp
Trang 37trong quá trình công nghiệp hóa đất nước Nếu khu vực nông nghiệp khôngphát triển thì trước hết nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp toàn bộ dân cư sống trongkhu vực nông nghiệp, nông thôn, sau đó ảnh hưởng tới sự ổn định về kinh tế,
xã hội trên phạm vi toàn xã hội Nông nghiệp và công nghiệp là hai ngành cómối quan hệ mật thiết với nhau, tạo điều kiện và thúc đẩy nhau cùng pháttriển Do vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế nói chung cần phải chú trọngphát triển cả công nghiệp và nông nghiệp
Thứ hai, cần đầu tư thích đáng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn.Khu vực nông nghiệp, nông thôn là khu vực kém phát triển nhất so vớicác khu vực khác về mọi mặt Từ trước tơí nay, do yêu cầu của quá trình tăngtrưởng kinh tế hầu hết các quốc gia đều giành phần lớn các nguồn vốn đầu tưcho công nghiệp và dịch vụ Phần vốn đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nôngthôn là rất hạn chế Trong khi đó đây lại là ngành đòi hỏi vốn lớn, thời gianđầu tư lâu dài Việc thiếu công bằng trong đầu tư phát triển đã làm cho nôngnghiệp vốn lạc hậu lại càng trở lên lạc hậu hơn, vậy cần phải có những cơ chếchính sách đầu tư một cách hợp lý, hiệu quả cho khi vực nông nghiệp, nôngthôn, nhất là đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển nông nghiệp, nông thôn
Thứ ba, phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với bảo vệ tài nguyênmôi trường
Nganh nông nghiệp là ngành có liên quan trực tiếp tới các điều kiện tàinguyên môi trường Cụ thể ở đây đó là quá trình sản xuất nông nghiệp liênquan trực tiếp tới các yếu tố tài nguyên như đất, nước, rừng, thủy hải sản…Bên cạnh đó khu vực nông nghiệp, nông thôn là khu vực có trình độ dân tríthấp Do trình độ khoa học – kĩ thuật còn lạc hậu, trình độ nhận thức củangười sản xuất còn hạn chế nên trong quá trình sản xuất, các yếu tố đầu vàocủa sản xuất đã bị sử dụng một cách thiếu tổ chức, thiếu khoa học Cụ thể ởđây đó là sự ô nhiễm của nguồn nước, sự suy thoái của đất nông nghiệp dolạm dụng hóa chất, diện tích rừng giảm do chặt phá để lấy đất trồng cây côngnghiệp, sự cạn kiệt của các nguồn lợi thủy sản do khai thác quá mức vớinhững phương tiện đánh bắt mang tính hủy diệt Hậu quả của những vấn đề
Trang 38trên đang tác động trực tiếp ngay tới toàn bộ khu vực nông nghiệp, nông thôn:Diện tích đất hoang hóa, rừng trọc có diện tích ngày càng tăng, sản lượngđánh bắt thủy hải sản gần bờ có xu hướng giảm Chính vì vậy việc phát triểnnông nghiệp, nông thôn gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩaquan trọng Bảo vệ tài nguyên môi trường chính là bảo vệ sự phát triển bềnvững của ngành nông nghiệp.
Thứ tư, phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn liền với vấn đề xóa đói,giảm nghèo, nâng cao mức sống của cư dân nông thôn Đối với Việt Nam,khu vực nông nghiệp, nông thôn là khu vực tập trung tới 70% dân cư Đờisống khó khăn, cùng với sự gia tăng của hàng loạt các tệ nạn xã hội các tệ nạn
xã hội gây mất ổn định không chỉ khu vực nông nghiệp, nông thôn mà nó tạo
ra áp lực đè nặng lên nền kinh tế quốc dân Để giải quyết được vấn đề đó thìkhông còn con đường nào khác là phải tập trung các nguồn lực để vực dậy sựphát triển của khu vực nông nghiệp, nông thôn Việc phát triển của khu vựcnông nghiệp, nông thôn phải nhằm thực hiện được mục tiêu cao nhất đó làxóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của dân cư Chỉ khi đó sự phát triểnmới thực sự bền vững
Thứ năm, phát triển nền nông nghiệp phải phù hợp với quy luật của thị trường.Ngành nông nghiệp được coi là một ngành kinh tế trong nền kinh tếquốc dân Thực tiễn đã chứng minh, Trung Quốc và Thái Lan đã thương mạihóa các sản phẩm nông nghiệp rất thành công Việc đưa sản phẩm nôngnghiệp ra thị trường sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp ra thị trường
sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Với nền nông nghiệp tựcung, tự cấp các sản phẩm làm ra chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu của bản thânngười sản xuất Nhưng đối với nền kinh tế thị trường, mọi sản phẩm sản xuất
ra đều phải tuân theo quy định của thị trường sẽ góp phần thúc đẩy hoạtđộng sản xuất và lưu thông các sản phẩm nông nghiệp phát triển Ngoài ra
nó còn góp phần thúc đẩy việc nâng cao năng suất lao động trong sản xuấtnông nghiệp
2.2 Phát triển nông nghiệp ở Việt Nam
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã khởi xướng công cuộc đổi mớikinh tế ở Việt Nam, trong quá trình to lớn, trong đó nổi bật là những vấn
đề sau đây:
1- Thành tựu nổi bật nhất là nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng cao, liêntục, đặc biệt là căn bản giải quyết được vấn đề lương thực cho đất nước
Trang 39Trong hơn bốn thập kỷ, lương thực đối với nước ta luôn là vấn đề nóng bỏng,tình trạng thiếu lương thực diễn ra triền miên Tính riêng 13 năm (1976-1988)Việt Nam đã nhập 8,5 triệu tấn qui gạo hàng năm nhập 0,654 triệu tấn quigạo, trong đó thời kỳ 1976-1980 bình quân nhập hàng năm 1,12 triệu tấn, thời
kỳ 1981-1988 bình quân hàng năm nhập 0,3625 triệu tấn Song từ năm
1989 lại đây, sản xuất lương thực, sản xuất lương thực nước ta chẳng những
đã trang trải nhu cầu lương thực cho tiêu dùng, có dự trữ lương thực cần thiết
mà còn dư thừa để xuất khẩu, hàng năm xuất khẩu từ 1,5 - 2,0 triệu tấn gạothời kỳ 1989-1995 và tăng lên 3-4,6 triệu tấn gạo thời kỳ 1996-2000
2- Từng bước hình thành những vùng sản xuất chuyên môn hoá với qui
mô lớn
Từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất nông sản hàng hoá,nông nghiệp nước ta đã và đang từng bước hình thành các vùng sản xuấtchuyên môn hoá với qui mô lớn Thành công nhất trong việc xây dựngchuyên môn hoá phải kể đến là cây cà phê, cây cao su v.v Hai vùng trọngđiểm lúa của nước ta là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng
đó là hai vùng sản xuất lúa hàng hoá lớn nhất của đất nước ở đồng bằngsông Cửu Long, năm 2000 diện tích gieo trồng lúa đạt 3,936 triệu ha,hàng năm diện tích trồng lúa cần được mở rộng, trong đó cónhững tỉnh
có qui mô diện tích tương đối lớn, như tỉnh Kiên Giang có gần 540 ngàn ha,
An Giang có 464 ngàn ha, Cần Thơ có 413 ngàn ha v.v Sản lượng lúa đạtgần 16,69 triệu tấn, chiếm hơn 51,28% sản lượng lúa cả nước và đạt trên 80%sản lượng lúa hàng hoá và hàng hoá xuất khẩu Năng suất bình quân toànvùng đạt trên 42 tạ/ha, trong đó An Giang đạt 46,9 tạ/ha, Tiền Giang
- 46,1 tạ/ha v.v Đồng bằng sông Hồng diện tích gieo trồng lúa năm 2000 đạthơn 1,212 triệu ha, diện tích lúa được ổn định trong nhiều năm lại đây, năngsuất lúa của đồng bằng sông Hồng đạt cao hơn so với đồng bằngsông Cửu Long, năm 2000 đạt 53,3 tạ/ha và có xu hướng tăng Sản lượng lúađạt 6,5948 triệu tấn, chiếm 20,26% tổng sản lượng lúa cả nước Trong nhiều
Trang 40năm lương thực vùng đồng bằng sông Hồng không đủ trang trải nhucầu trong vùng Những năm gần đây đã có dư thừa, những năm gần đây thóchàng hoá hàng
năm đã đạt trên 1 triệu tấn
Cà phê là sản phẩm hàng hoá xuất khẩu quan trọng sau lúa gạo, năm 200diện tích cà phê cả nước đạt 516,7 ngàn ha với sản lượng hơn 698,2 ngàn tấn
cà phê nhân Sản lượng cà phê xuất khẩu tăng nhanh từ 9000 tấn năm
1985 tăng lên 89.6000 tấn năm 1990, lên 212,0 ngàn tấn năm 1995 vàtrên 694,0 ngàn tấn năm 2000 Cà phê được phân bố tập trung nhất ở vùngTây Nguyên chiếm 80,25% diện tích và 85,88 sản lượng, riêng tỉnh Đaklakchiếm 48,93% diện tích và 64,73% sản lượng cà phê nhân cả nước Ngoàivùng cà phê Tây Nguyên, cà phê cũng phát triển mạnh ở vùng Đông Nam
Bộ, chiếm 13,27% diện tích và 11,85% sản lượng cà phê của cả nước, trong
đó tập trung nhất là tỉnh Bình Phước (Giáo trình kinh tế nông nghiệp,PGS.TS
Vũ Đình Thắng,2006)
Cao su là cây công nghiệp lâu năm được phát triển mạnh ở nước ta, đếnnăm 2000 Việt Nam đã có 406,9 ngàn ha, với sản lượng mủ khô 291,9 ngàntấn và lượng cao su mủ khô đã xuất khẩu năm 2000 là 280,0 ngàn tấn Sảnxuất cao su được phân bổ chủ yếu vùng Đông Nam Bộ, chiếm 71,14% diệntích và 78,64% sản lượng cao su mủ khô cả nước, trong đó tập trung ở haitỉnh Bình Phước chiếm 44,39% diện tích và 42,44% sản lượng cao su cảnước Cao sucòn được phát triển mạnh ở Tây Nguyên, chiếm 21,44% diệntích và 17,20 sản lượng mủ cao su.( Giáo trình kinh tế nông nghiệp,PGS.TS
Vũ Đình Thắng,2006)
Hạt điều là sản phẩm có giá trị kinh tế cao, là một trong những cây xuấtkhẩu quan trọng Cây điều được trồng ở nước ta từ lâu, phân bổ từ Quảngnam trở vào, đến năm 2000, cả nước có 195,3 ngàn ha diện tích với 70,1 ngàntấn sản lượng, trong đó vùng Đông Nam Bộ chiếm 69,4% về diện tích và78,89% về sản lượng hạt điều cả nước, tập trung nhiều nhất là tỉn Bình Phước