1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý đào tạo trực tuyến ở các trường đại học việt nam hiện nay

210 143 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 210
Dung lượng 4,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐTTT được áp dụng ở hầu hết các trường đại học trên thế giới với nhiều mức độ khác nhau, từ việc ứng dụng máy tính hỗ trợ cho đào tạo, tới việc sử dụng E-learning như một phần của quá tr

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -

Hà Nội, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi viết trong luận án này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân tôi Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả đều có trích dẫn nguồn gốc cụ thể Luận án này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một Hội đồng bảo vệ luận án Tiến sĩ nào ở trong nước cũng như ở nước ngoài,

và cho đến nay chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì cam đoan ở trên

Hà Nội, ngày 10 tháng 01 năm 2019

NCS Trần Thị Lan Thu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được Luận án này, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Phước Minh đã trực tiếp hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện Luận án

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô, cán bộ Khoa Tâm lý Giáo dục – Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Xin chân thành cảm ơn Vụ Giáo dục Đại học, tập thể Ban Giám hiệu, cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên của Trường Đại học Mở Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh, Trung tâm Đào tạo Trực tuyến của Trường Đại học Mở Hà Nội đã hỗ trợ giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành luận án này

Với tất cả yêu thương dành cho gia đình

Xin chân thành cảm ơn!

NCS Trần Thị Lan Thu

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 7

1.1 Tình hình nghiên cứu về đào tạo trực tuyến 7

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý đào tạo trực tuyến trong các trường đại học 16

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 27

2.1 Đào tạo trực tuyến 27

2.2 Đào tạo trực tuyến tại trường đại học 38

2.3 Quản lý đào tạo trực tuyến tại các trường đại học 41

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo trực tuyến tại các trường đại học 58

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM 64

3.1 Vài nét về đào tạo trực tuyến và đào tạo trực tuyến ở Việt Nam 64

3.2 Địa bàn khảo sát, tổ chức và phương pháp nghiên cứu 70

3.3 Thực trạng đào tạo trực tuyến trong các trường đại học 77

3.4 Thực trạng quản lý đào tạo trực tuyến tại các trường đại học 88

Chương 4: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM 112

4.1 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo trực tuyến tại các trường đại học Việt Nam 112

4.2 Giải pháp quản lý đào tạo trực tuyến tại các trường đại học Việt Nam 113

4.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các giải pháp quản lý đào tạo trực tuyến trong các trường đại học ở Việt Nam 136

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Một số điểm khác biệt giữa đào tạo truyền thống và đào tạo trực tuyến 29

Bảng 2.2: Ma trận các chức năng quản lý và nội dung quản lý theo mô hình CIPO trong ĐTTT 56

Bảng 3.1: Tổng hợp một số thông tin của các trường 70

Bảng 3.2 Thang đánh giá thực trạng 76

Bảng 3.3: Qui mô sinh viên ĐTTT tại các trường khảo sát (tại thời điểm khảo sát) 77

Bảng 3.4: Mức độ đáp ứng của hạ tầng công nghệ ĐTTT đối với các hoạt động ĐTTT 78

Bảng 3.5: Đánh giá mức độ đáp ứng của học liệu đối với hoạt động ĐTTT 79

Bảng 3.6: Khả năng đáp ứng của đội ngũ giảng viên đối với ĐTTT 81

Bảng 3.7: Khả năng đáp ứng của đội ngũ nhân lực hỗ trợ ĐTTT 83

Bảng 3.8: Các hoạt động học tập của người học 85

Bảng 3.9: Các hoạt động giảng dạy từ phía nhà trường 86

Bảng 3.10: Mức độ thực hiện quá trình tổ chức dạy học trong ĐTTT 87

Bảng 3.11: Mức độ thực hiện các nội dung quản lý tuyển sinh và tư vấn học 88

Bảng 3.12: Đánh giá mức độ thực hiện các nội dung quản lý hạ tầng công nghệ ĐTTT 90

Bảng 3.13: Mức độ thực hiện nội dung quản lý học liệu đào tạo trực tuyến 92

Bảng 3.14: Mức độ thực hiện nội dung quản lý đội ngũ giảng viên đào tạo trực tuyến 94

Bảng 3.15: Mức độ thực hiện nội dung quản lý đội ngũ nhân lực hỗ trợ ĐTTT 96

Bảng 3.16: Mức độ thực hiện nội dung quản lý hệ thống các văn bản - qui định về tổ chức và hoạt động đào tạo trực tuyến tại trường đại học 98

Bảng 3.17: Mức độ thực hiện nội dung quản lý quá trình dạy-học 100

Bảng 3.18: Mức độ thực hiện nội dung quản lý kiểm tra-đánh giá 102

Bảng 3.19: Mức độ thực hiện nội dung quản lý đánh giá KQ đầu ra và tốt nghiệp 104

Bảng 3.20: Mức độ thực hiện của từng nội dung quản lý thông tin đầu ra 106

Bảng 3.21: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố bối cảnh đến QLĐTTT 108

Trang 8

Bảng 3.22: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ĐTTT 109

Bảng 4.1: Đề xuất qui trình quản lý phát triển học liệu ĐTTT 119

Bảng 4.2: Đề xuất qui trình quản lý các hoạt động dạy-học 126

Bảng 4.3: Đề xuất danh mục các tài liệu cung cấp hỗ trợ sinh viên 131

Bảng 4.4: Tổng hợp ý kiến đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 136

Bảng 4.5: Tổng hợp ý kiến đánh giá về thực nghiệm giải pháp “Quản lý phát triển học liệu ĐTTT đa dạng, đảm bảo chất lượng chuyên môn và kỹ thuật” 142

Bảng 4.6: Đánh giá của người học đối với học liệu trước khi phát triển nâng cấp (Đơn vị tính: %) 144

Bảng 4.7: Đánh giá của người học đối với học liệu sau khi phát triển nâng cấp 145

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 2.1: Cấu trúc của chương trình đào tạo hỗn hợp 31

Hình 2.2: Mô hình tổ chức ĐTTT dựa trên tác động của CNTT và truyền thông 32

Hình 2.3: Các hoạt động học tập của sinh viên 39

Hình 2.4: Mô hình quản lý đào tạo theo quá trình 47

Hình 2.5: Mô hình quản lý đào tạo CIPP 47

Hình 2.6: Mô hình CIPO 48

Hình 2.7: Vận dụng mô hình CIPO trong quản lý ĐTTT 49

Hình 3.1: Biểu đồ 10 quốc gia đứng đầu về t lệ tăng E-Learning tự học tính tới 2016 68

Hình 4.1: Đề xuất qui trình quản lý hạ tầng công nghệ ĐTTT 116

Hình 4.2: Chu trình quản lý phát triển học liệu ĐTTT 119

Hình 4.3: Đề xuất qui trình quản lý giảng viên 123

Hình 4.4: Đề xuất qui trình quản lý các hoạt động hỗ trợ sinh viên 128

Trang 10

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Các trường đại học đào tạo từ xa và đào tạo trực tuyến 162

Phụ lục 2: các ngành đào tạo đang triển khai theo phương thức chính đào tạo trực tuyến tại các trường đại học 163

Phụ lục 3: Mẫu phiếu khảo sát (Dành cho cán bộ quản lý) 164

Phụ lục 4: Mẫu phiếu khảo sát (Dành cho giảng viên chương trình ĐTTT) 176

Phụ lục 5: Mẫu phiếu khảo sát (Dành cho sinh viên) 186

Phụ lục 6: Phiếu thăm dò ý kiến chuyên gia về các giải pháp 191

Phụ lục 7: Phiếu khảo sát ý kiến 193

Phụ lục 8: Qui trình xây dựng học liệu điện tử 195

Phụ lục 9: Quyết định giao nhiệm vụ xây dựng học liệu điện tử 198

Phụ lục 10: Sản phẩm học liệu điện tử 199

Phụ lục 11: Phiếu khảo sát ý kiến đánh giá của nhóm sinh viên đối với học liệu điện tử mới 200 Phụ lục 12: Dữ liệu thống kê phân tích

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta đang tiến tới một cuộc cách mạng công nghiệp làm thay đổi cơ bản lối sống, phong cách làm việc và cách thức giao tiếp, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mà ở đó CNTT có sự chi phối và ảnh hưởng rất lớn Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 này, với những thành tựu nổi bật trong các lĩnh vực: internet, mạng xã hội, dữ liệu khổng lồ, di động, trí tuệ nhân tạo,… đã tạo ra những thay đổi vô cùng lớn trong mọi hoạt động ở mọi lĩnh vực của con người Cùng với đó, hệ thống giáo dục đã và đang bị tác động mạnh mẽ, toàn diện và có những thay đổi rất lớn.Việc áp dụng các công nghệ hiện đại vào quá trình đào tạo đã tạo cho người học nhiều cơ hội hơn trên con đường chiếm lĩnh tri thức, tạo ra những sản phẩm tri thức có giá trị cao, phù hợp với sự phát triển chung của thế giới Đào tạo trực tuyến được biết đến như một mô hình, một phương thức đào tạo hiện đại, đã không còn là khái niệm mới

mẻ đối với các nhà quản trị giáo dục và được coi là một cuộc cách mạng dạy và học, trở thành xu hướng tất yếu của thời đại ĐTTT được áp dụng ở hầu hết các trường đại học trên thế giới với nhiều mức độ khác nhau, từ việc ứng dụng máy tính hỗ trợ cho đào tạo, tới việc sử dụng E-learning như một phần của quá trình đào tạo hay thậm chí là đào tạo hoàn toàn trực tuyến, không cần người học phải tới các lớp học truyền thống.Thay vì người học và người dạy tới các lớp học truyền thống, ĐTTT đã giúp cho việc trao đổi thông tin, truyền đạt tri thức, việc tổ chức lớp học linh hoạt ở mọi lúc, mọi nơi, sử dụng các thành tựu CNTT.Tuy nhiên, việc triển khai ĐTTT trên qui mô lớn, với nhu cầu học tập và chia sẻ kiến thức ngày càng tăng, sự linh hoạt thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, thậm chí đáp ứng tính cá nhân hóa người học rất cao, đòi hỏi hoạt động quản lý đào tạo trực tuyến phải đáp ứng được mục tiêu đào tạo, chất lượng đào tạo, nhất là đối với các chương trình đào tạo trực tuyến cấp bằng đại học

Ở Việt Nam hiện nay, ĐTTT mới trong giai đoạn phát triển, chưa có bộ tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng riêng đối với các trường đại học tổ chức đào tạo theo phương thức trực tuyến Các trường đại học ứng dụng ĐTTT chủ yếu dựa trên khả năng ứng dụng CNTT, nguồn lực của mỗi trường ở mức độ khác nhau và còn những hạn chế nhất định, chưa có sự đầu tư của Nhà nước, trong khi việc triển khai ĐTTT đòi hỏi sự đầu tư lớn có bài bản về hạ tầng công nghệ, nội dung đào tạo, nguồn nhân lực, về xây dựng qui trình tổ chức thực hiện Trong Báo cáo tổng kết tại Hội thảo

Trang 12

quốc gia về giáo dục từ xa đã nêu về chất lượng đào tạo từ xa ở Việt Nam còn thấp,

“chưa chú trọng xây dựng học liệu điện tử,… đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, giảng viên chuyên môn và phương pháp sư phạm ĐTTX chưa được quan tâm đúng mức,…chưa xây dựng được Bộ tiêu chuẩn và hệ thống kiểm định chất lượng dành riêng cho ĐTTX,… các trường không có cơ sở tự đánh giá những hoạt động của họ dẫn tới mỗi trường làm một kiểu, thiếu sự nhất quán, đồng bộ…” Phát biểu tại Hội thảo, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhấn mạnh cần phát triển tiếp tục, ứng dụng CNTT để phát triển qui mô song hành với chất lượng đào tạo

Như vậy, trong xu thế phát triển của giáo dục mở và từ xa, xu thế phát triển của CNTT và ĐTTT trên thế giới và ở Việt Nam, trong điều kiện nguồn lực đầu tư ở các trường đại học cho ĐTTT ở Việt Nam còn hạn chế, để đáp ứng các mục tiêu đặt

ra từ các chủ trương của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh phát triển, ứng dụng CNTT, đổi mới giáo dục đại học đáp ứng được nhu cầu học tập thường xuyên, học suốt đời của mọi tầng lớp trong xã hội,nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, thì quản lý ĐTTT là khâu quyết định để thực hiện các mục tiêu giáo dục và đào tạo đảm bảo chất lượng ĐTTT Đồng thời, thực trạng ĐTTT được rất nhiều trường đại học quan tâm, nhưng chất lượng ĐTTT và chất lượng quản lý ĐTTT còn nhiều vấn

đề đặt ra, các trường đại học Việt Nam cần thiết có những giải pháp quản lý đối với

hoạt động ĐTTT Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý đào tạo trực tuyến tại các trường đại học ở Việt Nam” nhằm nghiên cứu và tìm ra những giải

pháp quản lý ĐTTT ở các trường đại học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận, chỉ ra thực trạng quản lý ĐTTT tại các trường đại học Việt Nam theo tiếp cận CIPO, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý ĐTTT tại các trường đại học Việt Nam hiện nay theo tiếp cận CIPO góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo trực tuyến tại các trường đại học hiện nay

Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, tác giả xác định nhiệm vụ nghiên cứu như sau: 1) Nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý ĐTTT tại các trường đại học

2) Xây dựng cơ sở lý luận của quản lý ĐTTT tại các trường đại học

3) Phân tích, đánh giá và chỉ ra thực trạng quản lý ĐTTT tại các trường đại học Việt Nam cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng này

Trang 13

4) Đề xuất giải pháp và khảo nghiệm, thử nghiệm một giải pháp quản lý ĐTTT tại các trường đại học Việt Nam

3 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi, giả thuyết nghiên cứu của luận án

- Đối tượng nghiên cứu:

Quản lý hoạt động ĐTTT tại các trường đại học Việt Nam hiện nay

Có nhiều chủ thể tham gia quản lý đào tạo trực tuyến tại trường đại học Tuy nhiên, luận án xác định chủ thể chính quản lý hoạt động này là hiệu trưởng các trường đại học, các chủ thể khác là chủ thể phối hợp

Số liệu thứ cấp được tác giả tiến hành thu thập giai đoạn 2015-2017 Số liệu

sơ cấp được tác giả phỏng vấn phát phiếu khảo sát các cán bộ và nhân viên đang làm việc tại các trường đại học của Việt Nam triển khai ĐTTT cấp bằng đại học hệ từ xa

Số liệu thứ cấp dự kiến thu thập từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017

-Giả thuyết khoa học:

Hiện nay, ĐTTT đang dần được nhiều trường đại học triển khai đào tạo thay thế hoặc kết hợp với đào tạo từ xa cấp văn bằng đại học Tuy nhiên, ĐTTT đang tồn tại những hạn chế về các điều kiện triển khai ĐTTT như hạ tầng công nghệ đào tạo, nội dung học liệu ĐTTT, đội ngũ giảng viên chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm

vụ đào tạo trực tuyến; quản lý quá trình dạy - học chưa hiệu quả, sự tương tác giảng viên - sinh viên - sinh viên còn hạn chế; các thông tin đầu ra chưa được triển khai sử dụng để phục vụ tốt cho quá trình tổ chức đào tạo và quản lý; khả năng thích ứng chưa cao với tác động của bối cảnh mới Nếu phân tích và làm rõ bản chất đào tạo trực tuyến và quản lý đào tạo trực tuyến tại các trường đại học theo tiếp cận CIPO từ

đó đề xuất được các giải pháp quản lý đào tạo trực tuyến tại các phương đại học hiện nay có căn cứ khoa học, có tính đồng bộ và khả thi tạo ra sự đổi mới trong quản lý đầu vào, quá trình, đầu ra và bối cảnh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo trực tuyến tại các trường đại học trong giai đoạn hiện nay

Trang 14

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Để thực hiện nghiên cứu luận án, tác giả sử dụng các phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp luận

Để triển khai nghiên cứu quản lý đào tạo trực tuyến tại các trường đại học, luận

án sử dụng các cách tiếp cận sau đây:

- Tiếp cận hệ thống:

Trong luận án sẽ nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa các vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống của đào tạo trực tuyến và quản lý đào tạo trực tuyến tại trường đại học Trong đó, các vấn đề của đào tạo trực tuyến như hạ tầng công nghệ đào tạo, nội dung học liệu ĐTTT, đội ngũ giảng viên ; các thông tin đầu ra và các vấn đề của quản lý đào tạo trực tuyến tại các trường đại học ở nước ta hiện nay gắn liền với yêu cầu của đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và gắn với cuộc cách mạng công nghệ 4.0 Tất cả các vấn đề này cần phải được nghiên cứu một cách hệ thống trên cơ sở phân tích các cấu phần và mối quan hệ biện chứng giữa chúng

- Tiếp cận CIPO kết hợp với chức năng quản lý: Đào tạo trực tuyến tại

trường đại học là một quá trình diễn ra liên tục dưới sự tác động của các yếu tố đầu vào, các yếu tố quá trình, các yếu tố đầu ra và các yếu tố bối cảnh Để quản lý được hoạt động đào tạo trực tuyến tại trường đại học cần phải quản lý các yếu tố đầu vào, các yếu tố quá trình, các yếu tố đầu ra và các yếu tố bối cảnh thông qua việc thực hiện tốt các chức năng của quản lý giáo dục (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá) sẽ đảm bảo đào tạo trực tuyến tại các trường đại học đạt được mục đích đã đặt ra

- Tiếp cận thực tiễn: Trong luận án, việc nghiên cứu quản lý đào tạo trực

tuyến tại các trường đại học hiện nay cần phải được nghiên cứu, đánh giá trong thực tiễn Căn cứ vào mức độ thực hiện hoạt động đào tạo trực tuyến và quản lý hoạt động đào tạo trực tuyến tại các trường đại học hiện nay trong thực tiễn như thế nào mới có cơ sở xác thực để đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động này hiệu quả và phù hợp với thực tiễn

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

Trang 15

- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

5 Đóng góp mới của luận án

5.1 Về lý luận:

Trong xu thế của thế giới về phát triển đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến, nhu cầu học tập suốt đời, trong khi qui mô đào tạo từ xa tại các trường đại học ở Việt Nam giảm sút trong những năm gần đây, ĐTTT là phương thức đào tạo ứng dụng CNTT và truyền thông đã được nhiều trường đại học bắt đầu áp dụng hỗ trợ và thay thế cho hệ đào tạo từ xa Luận án đã xác định được cơ sở lý luận của ĐTTT, quản lý ĐTTT dựa trên mô hình CIPO (bối cảnh - đầu vào - quá trình - đầu ra), những vấn

đề lí luận này góp phần bổ sung vào lí luận về quản lý đào tạo trực tuyến của khoa học quản lý giáo dục

5.2 Về thực tiễn:

Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án đã chỉ ra thực trạng ĐTTT và quản

lý ĐTTTở các trường đại học Việt Nam khi triển khai đào tạo trình độ đại học cấp bằng hệ từ xa còn một số hạn chế, bất cập.Đề xuất được 07 giải pháp có tính cần thiết và tính khả thi cao để quản lý ĐTTT tại các trường đại học Việt Nam, thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục đại học và nâng cao chất lượng đào tạo từ xa Đã chỉ ra 02 giải pháp có sự tác động nhiều nhất đến người học, đó là: 1) Quản lý phát triển học liệu ĐTTT đa dạng, đảm bảo chất lượng chuyên môn và kỹ thuật, 2) Quản lý hoạt động hỗ trợ sinh viên và xây dựng hệ thống các tài liệu hỗ trợ cung cấp cho sinh viên

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển của CNTT là điều kiện thuận lợi và có sự ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động giáo dục-đào tạo cũng như việc quản lý các hoạt động này thông qua việc ứng dụng CNTT trong đào tạo, hình thành phương thức đào tạo trực tuyến, trở thành xu thế đào tạo trong thời kỳ mới Tại nhiều trường đại học ở Việt Nam có triển khai đào tạo từ xa, ĐTTT đã dần chiếm ưu thế, không chỉ hỗ trợ cho đào tạo từ xa mà còn được áp dụng thay thế, triển khai ngày càng rộng rãi Tuy vậy,thực trạng ĐTTT được rất nhiều trường đại học quan tâm, nhưng chất

Trang 16

lượng ĐTTT và chất lượng quản lý ĐTTT còn nhiều vấn đề đặt ra.Vì vậy, nghiên cứu

về quản lý ĐTTT tại các trường đại học ở Việt Nam có ý nghĩa lý luận và thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng ĐTTT, chất lượng quản lý ĐTTT nói riêng và chất lượng giáo dục đào tạo nói chung ở các trường đại học Việt Nam hiện nay

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận án gồm 04 chương và các phụ lục:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đào tạo trực tuyến và quản lý ĐTTT

Chương 2: Cơ sở lý luận về đào tạo trực tuyến và quản lý ĐTTT

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về quản lý ĐTTT tại các trường đại học ở Việt Nam

Chương 4: Giải pháp quản lý ĐTTT tại các trường đại học Việt Nam hiện nay

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO

- Về phương pháp luận và nội hàm cho ĐTTT:

ĐTTT được coi là chính thức khởi nguồn từ năm 1963 Belawati và Baggaley (2010) đã nêu ra nguyên lý “giáo dục phải được mở cho tất cả mọi người”, nhấn mạnh sự linh hoạt và mềm dẻo của hệ thống giáo dục - đào tạo trực tuyến, giảm thiểu các rào cản xuất phát từ tuổi tác, vị trí địa lý, thời gian và tình trạng tài chính [53] Sự phát triển của ĐTTT được chi phối bởi triết lý giáo dục rằng việc sử dụng tài liệu dạy học được tiêu chuẩn hóa và chuẩn bị trước nhằm giúp đạt được lợi ích kinh tế do quy mô đem lại Điều này nhấn mạnh tính tự chủ của người học Khi hệ thống học liệu đa phương tiện được chuẩn bị sẵn thì người học có thể chủ động quá trình học tập cho phù hợp với thời gian và điều kiện tài chính của mình [85]

Để xác định nội hàm ĐTTT, nhiều quan điểm đã đưa ra các nhận định dưới các góc nhìn khác nhau Resta và Patru (2010) cho rằng ĐTTT là hình thức học tập bằng truyền thông qua mạng Internet theo cách tương tác với nội dung học tập và được thiết kế dựa trên nền tảng phương pháp dạy học [91] Horton (2006) xác định, xét một cách đơn giản, ĐTTT là việc sử dụng các CNTT và máy tính nhằm tạo ra các trải nghiệm học tập [71] Như vậy, các quan điểm này cho rằng tất cả những gì được gọi là ĐTTT đều phải liên quan tới CNTT, mạng Internet và máy tính Tuy nhiên, theo Resta và Patru (2010), ngoài yếu tố công nghệ thì còn có một yếu tố nền tảng khác, đó chính là phương pháp dạy học được sử dụng trong quá trình thiết kế

và triển khai các hoạt động dạy học qua ĐTTT Cụ thể hơn, Karl (2001) cho rằng ĐTTT là việc giảng dạy trong môi trường học tập mà người dạy và người học có sự

Trang 18

cách biệt về thời gian hay không gian, hoặc cả hai Người dạy cung cấp nội dung khóa học thông qua các ứng dụng quản lý học tập (LMS, LCMS), các nguồn tài nguyên đa phương tiện, mạng Internet, hội thảo trực tuyến…, còn người học nhận nội dung khóa học và tương tác với người dạy thông qua cùng các phương tiện kỹ thuật đó [77] Theo Elliott và Healy (2001), ĐTTT là “việc áp dụng công nghệ để tạo ra, cung cấp, chọn lựa, quản trị, hỗ trợ và mở rộng cách học truyền thống” [65] Việc phát triển của Internet, cùng với khả năng giúp người học tiếp cận liên tục các khóa đào tạo một cách hiệu quả và tiết kiệm, đã tạo nên một thời kỳ mới cho việc dạy và học đạt đến những tầm cao mới mà chưa có công nghệ nào có thể sánh được

Cùng với sự phát triển không ngừng của CNTT, ĐTTT đã được triển khai tại nhiều trường đại học trên thế giới, các tiêu chuẩn công nghệ mới được áp dụng nhằm tiếp cận với những cơ hội giáo dục và đào tạo mới Theo tổng kết của Taylor (2001), các hoạt động ĐTTT đã trải qua 5 thế hệ công nghệ, đó là: (i) Mô hình học hàm thụ: Mô hình này tương tác dựa trên công nghệ in ấn, tài liệu được gửi đến sinh viên qua đường bưu điện, tương tác giữa người dạy và sinh viên gặp rào cản về thời gian, vị trí địa lý và tốc độ học tập (ii) Mô hình tương tác đa phương tiện dựa trên công nghệ in ấn, âm thanh và video Mô hình này làm giàu thêm kinh nghiệm học tập cho người học, nhưng sự tương tác giữa người học và người dạy vẫn phụ thuộc vào thư từ và điện thoại (iii) Mô hình tương tác qua CNTT dựa trên các ứng dụng của công nghệ viễn thông để đào tạo Mô hình này bị hạn chế về thời gian, địa điểm

và tốc độ đường truyền thông tin (iv) Mô hình học tập linh hoạt dựa trên giao diện Website trực tuyến qua Internet và Website toàn cầu (www), với một loạt các giải pháp tạo thuận lợi cho sự tương tác giữa người dạy – người học, người học – người học thông qua email, diễn đàn trao đổi và các phương tiện truyền thông đa phương tiện (v) Mô hình học tập linh hoạt thông minh, thừa hưởng tất cả các giải pháp của

mô hình thế hệ thứ tư và bổ sung giải pháp tương tác truyền thông đa phương tiện hai chiều và hệ thống trả lời tự động, áp dụng phương thức học tập với nguồn lực được chia sẻ trên toàn cầu Với mô hình này, ĐTTT trở nên hoàn thiện hơn với chi phí tối thiểu, không bị hạn chế về điều kiện kinh tế, mang lại hiệu quả cao [99]

Theo Belawati và Baggaley (2010), ĐTTT được xem như một phương thức giáo dục thích hợp cho việc theo đuổi sự nghiệp học tập của cá nhân, phát triển kỹ năng chuyên nghiệp và thỏa mãn nhu cầu học tập Ở phần lớn các quốc gia có tổ

Trang 19

chức hình thức ĐTTT, hình thức này chủ yếu dành cơ hội thứ hai cho những người không có cơ hội theo đuổi hình thức học tập truyền thống “mặt đối mặt” Yếu tố lợi thế của ĐTTT là giảm thiểu các rào cản về thời gian, địa điểm, tuổi tác, điều kiện kinh tế và trình độ đầu vào Khái niệm “học tập suốt đời và giáo dục cho mọi người” được UNESCO công nhận chính là nội hàm của khái niệm về ĐTTT Do đó, DfES (2003) nhận định, ĐTTT có tiềm năng cách mạng hóa cách thức chúng ta dạy và học [63] JISC (2007) cũng nhấn mạnh, ĐTTT là phương thức có ưu thế tạo điều kiện và

hỗ trợ học tập thông qua sử dụng CNTT và truyền thông [73]

Theo Verduin và Clark (1991), ĐTTT là một hình thức học tập trong đó có sự giãn cách về thời gian và không gian giữa người học và người dạy [102] Với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, người học có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau thông qua các phương tiện truyền thông khác nhau để đạt được mục đích học tập của mình Theo quan điểm về lý thuyết phát triển ĐTTT của Moore và Anderson (2003), ĐTTT thiên về sự độc lập và tự chủ trong học tập, với bốn thành tố cơ bản trong mọi tình huống giảng dạy và học tập, đó là: người dạy, người học, hệ thống truyền tải kiến thức và nội dung học tập Các chương trình ĐTTT dựa trên hai biến “cấu trúc” và “đối thoại” để phân loại, trong đó thiết kế khóa học và các phương tiện truyền đạt kiến thức là biến cấu trúc, còn mối quan hệ giữa người dạy và người học, giữa người học với người học là biến “đối thoại” Ở đây, khái niệm độc lập và tự chủ trong học tập được nhấn mạnh như là tính chất đặc thù cá nhân nhằm giúp người học đạt được mục tiêu học tập

- Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những lợi ích của ĐTTT:

Sự phát triển của công nghệ và Internet không chỉ có tiềm năng thay đổi cách thức tiếp cận tri thức mà còn làm chuyển đổi và tái cơ cấu các mô hình giáo dục đại học truyền thống Karon (2000) cho rằng ĐTTT có khả năng tiếp cận các khóa học

dễ dàng hơn, chúng có sẵn thông qua Internet nên phù hợp hơn so với cách học truyền thống [78] Trong khi đó, Urdan và Weggen (2000) gợi ý rằng ĐTTT có thể dẫn đến t lệ duy trì cao hơn do các tài liệu được cá nhân hóa và phản ánh các kiểu học khác nhau Các nhà giáo dục truyền thống có xu hướng bỏ qua ĐTTT, xem nó như là một công cụ đào tạo, không phản ánh môi trường học tập của một lớp học truyền thống khuyến khích sự tranh luận, thảo luận và học tập tương tác Tuy nhiên,

sự phát triển của các công cụ học tập trực tuyến đang tạo cơ hội cho các yếu tố này xuất hiện và ĐTTT đang phát triển thành một lớp học ảo [100]

Trang 20

Theo Adlakha và cộng sự (2011), việc sử dụng Internet để cung cấp các sáng kiến ĐTTT đã tạo ra những kỳ vọng trong thị trường kinh doanh và trong các tổ chức giáo dục đại học ĐTTT đã giúp các trường đại học mở rộng phạm vi tiếp cận địa lý hiện tại để trở thành những nhà cung cấp dịch vụ giáo dục toàn cầu Với các lợi thế trong học tập như: Khóa học có thể được sắp xếp phù hợp với cá nhân và công việc chuyên môn, giảm chi phí và thời gian đi lại, người học có thể tùy chọn khóa học phù hợp mức độ kiến thức và mối quan tâm của họ, người học có thể học bất cứ nơi nào họ có thể truy cập vào máy tính và Internet, các hoạt động học tập đa dạng, người học phát triển các kỹ năng về máy tính và Internet, xây dựng sự tự tin

và độc lập, khuyến khích người học chịu trách nhiệm về việc học tập của họ, ĐTTT được khẳng định đóng vai trò quan trọng trong việc học tập suốt đời và giáo dục toàn cầu [46] Beatrice (2011) cũng đồng quan điểm khi khẳng định, học tập theo phương thức ĐTTT là một lựa chọn tốt với những lợi ích như: Nội dung học tập được chia sẻ cho nhiều người; sinh viên có thể đến từ nhiều nơi khác nhau; không cố định về địa điểm và thời gian; không bị giới hạn về thời gian theo học; người học tập trung vào

kỹ năng nhận thức hơn là kỹ năng nghe và đọc sách, có hiểu biết về CNTT, sinh viên có động lực tự học cao và khóa học cho phép lựa chọn thời gian theo học [53]

Theo dự đoán của Nicholson (1998), trong thế k XXI, các tổ chức giáo dục, đặc biệt là các trường đại học sẽ có sự phát triển hoàn toàn khác so với các tổ chức tiền thân Thay vì chỉ đào tạo một nhóm nhỏ sinh viên, các trường sẽ tổ chức theo một quy mô rộng lớn hơn, với khoảng cách lớn hơn, thậm chí đào tạo theo số lượng lớn trên toàn thế giới [87] Theo Zhang (2003), sự phát triển của hình thức ĐTTT trong các

tổ chức giáo dục không chỉ là sự bổ sung cho hình thức đào tạo truyền thống, mà nó còn

có thể dẫn đến sự thay thế hoàn toàn cho một số tổ chức hoặc chương trình đào tạo bởi những ưu thế vượt trội của nó trong lĩnh vực giáo dục [108]

ĐTTT cũng phải đối mặt với những thách thức nhất định, đặc biệt là kỹ năng

sử dụng CNTT của giảng viên và sinh viên Nhiều tác giả đã chỉ ra sự cần thiết phải chuẩn bị cho người dạy và người học kỹ năng sử dụng Internet, CNTTđể truy cập vào các web site tốt, tìm kiếm các thông tin có giá trị, và phát triển kỹ năng quản lý tri thức, kỹ năng dạy và học Theo Pettigrew và Elliott (1999), có một số nguyên tắc cần lưu ý trong việc đào tạo kỹ năng sử dụng CNTT cho sinh viên trong quá trình ĐTTT, đó là: linh hoạt, sử dụng thường xuyên và tự tin, tài liệu học tập đa dạng và cập nhật Linh hoạt là khả năng xoay sở để thích nghi với sự khác biệt về phần cứng

Trang 21

hay các phiên bản phần mềm được trang bị khác nhau giữa học đường và nơi làm việc Sinh viên phải được chuẩn bị để có thể thích ứng nhanh với việc nâng cấp các thiết bị Việc sử dụng thường xuyên là rất quan trọng bởi vì kỹ năng chỉ có thể hình thành và thuần thục khi được sử dụng thường xuyên Sinh viên cần được hỗ trợ bởi các phương pháp huấn luyện và tài liệu học tập đa dạng để giúp họ học tập hiệu quả Sách, các loại sổ tay hướng dẫn, làm mẫu và hướng dẫn, trợ giúp kỹ thuật trực tiếp hoặc trực tuyến, hướng dẫn gián tiếp qua băng hình… sẽ giúp sinh viên lựa chọn phương pháp học tập tốt nhất đáp ứng nhu cầu học tập của họ Điều này rất quan trọng nhằm giúp sinh viên đạt được bằng cấp đại học bất chấp kỹ năng CNTT của

họ đã được trang bị ở mức độ nào từ các cấp học phổ thông [89]

- Về cách thức và quá trình tổ chức đào tạo trực tuyến, các điều kiện triển khai ĐTTT như hạ tầng công nghệ, nội dung, đội ngũ,…, hoạt động hỗ trợ người học trong ĐTTT:

ĐTTTtrong thời kỳ đầu chủ yếu dựa vào việc sử dụng các hệ thống học liệu hàm thụ được chuẩn bị trước với sự cung ứng của hệ thống bưu điện Ngày nay, với việc ứng dụng CNTT và truyền thông đã làm cho hình thức ĐTTT trở nên linh hoạt hơn, có tính tương tác hơn, mang tính cá thể hóa và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Từ mô hình ĐTTT với thông tin một chiều đã chuyển sang mô hình thông tin hai chiều hiệu quả giữa người dạy và người học, giữa người học với hệ thống học liệu và giữa người học với cơ sở quản lý đào tạo Sự tương tác hai chiều kết hợp với

hệ thống học liệu chuẩn sẽ giúp sinh viên đạt được hiệu quả của khóa học Sự thiếu vắng thông tin phản hồi đối với sinh viên có thể gây ảnh hưởng đến kết quả học tập, bởi sinh viên luôn có những nhu cầu khác nhau mà học liệu không thể đáp ứng được, do vậy cần có sự hỗ trợ của đội ngũ giảng viên hướng dẫn và đội ngũ nhân viên hỗ trợ quản lý học tập Thực tế cho thấy hiệu quả học tập nâng cao rõ rệt khi có

sự hỗ trợ với tư cách chuyên môn của người thầy và sự hỗ trợ hành chính của đội ngũ cán bộ quản lý [70]

Bàn về các mối tương tác trong khóa học ĐTTT, Moore và Kearsley (1996) cho rằng có ba mối tương tác quan trọng, đó là: (i) học viên – nội dung học; (ii) học viên – giảng viên; (iii) học viên – học viên Khóa học ĐTTT cần tạo điểu kiện cho tất cả các mối tương tác này được phát huy hiệu quả và đạt được mong muốn của học viên một cách tốt nhất [86] Người học theo phương thức ĐTTT có thể cảm thấy

Trang 22

bị cô lập, thất vọng và lo lắng ở mức độ cao nếu thiếu các giao tiếp và tương tác giữa các đối tượng trong chương trình đào tạo [101] Một cách để giải quyết vấn đề này chính là thiết lập ý thức cộng đồng cho người học ngay từ đầu bằng cách tạo cho họ một khoảng thời gian khởi động không chính thức cùng với việc sử dụng các bài tập cấu trúc [105] Các công cụ tương tác trên Internet cho phép người học làm việc theo nhóm và phản hồi ngay tức thì, người học có thể chia sẻ và thảo luận về quan điểm với nhau một cách trực tuyến Do đó, loại môi trường tương tác xã hội này có thể tạo điều kiện mang lại những trải nghiệm học tập tích cực [77]

Theo lý thuyết tương tác và giao tiếp của Garrison (2011), trong quá trình tự học một cách chủ động của người học thì tầm quan trọng của dịch vụ hỗ trợ quản lý,

tư vấn, giảng dạy, tuyển sinh, làm việc theo nhóm được thể hiện rõ rệt Sự tương tác

và mối quan hệ giữa người học với người dạy, cán bộ quản lý, hỗ trợ vận hành được xem như là sự giao tiếp có định hướng thông tin, do đó sự giao tiếp hai chiều là rất quan trọng và là đặc thù của ĐTTT, dù đó là giao tiếp trực tiếp hay gián tiếp [66]

Bên cạnh những lợi ích, ĐTTT cũng phải đối mặt với các vấn đề khác như:

Sự hài lòng của người học đối với các cơ sở đào tạo, liên quan đến t lệ bỏ học [82], [93], [106]; Chen và cộng sự (2006) cho rằng nhu cầu về con đường học tập cá nhân

và trình tự chương trình đào tạo, liên quan đến khả năng của người học; Theo Yang

và Liu (2007), nhu cầu về cơ hội hợp tác, các động lực học tập và các công cụ tương tác hiệu quả Wagner và cộng sự (2005) chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến

sự hài lòng của sinh viên trong chương trình ĐTTT gồm: chất lượng tài liệu học tập, nội dung chương trình học, chất lượng và tương tác giữa sinh viên và người dạy, giữa sinh viên với sinh viên, cấu trúc và cách trình bày của khóa học… [107] Parsad và Lewis (2008) xác định sự hiểu biết chuyên môn sâu, khả năng sử dụng công nghệ giảng dạy từ xa của giảng viên là nhân tố tác động trực tiếp đến sự hài lòng của sinh viên Sự thiếu tự tin cũng như mức độ hiểu biết kém của giảng viên trong việc sử dụng công nghệ mới có khả năng dẫn đến hiệu quả giảng dạy thấp hoặc thậm chí có thể coi là thất bại cho cả giảng viên và sinh viên, điều này dẫn đến

sự hài lòng gần như không có So với các lớp học trong phương thức giáo dục truyền thống, sinh viên dường như có trách nhiệm hơn đối với việc tương tác giữa giảng viên và sinh viên trong môi trường ĐTTT Moore và Kearsley (1996) nhấn mạnh sự hiểu biết tinh thông và kinh nghiệm trong việc tiếp cận với môi trường

Trang 23

giảng dạy mới sẽ là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiếp cận với môi trường học tập trực tuyến của giảng viên Reinhart và Schneider (2001) khẳng định, hiểu được các yếu tố quyết định sự hài lòng của sinh viên trong phương thức ĐTTT

sẽ là cơ sở cho các nhà quản lý, các tổ chức giáo dục phát triển chương trình, thiết

kế nội dung khóa học tốt hơn [90]

1.1.2 Ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, cùng với xu hướng chung của thế giới, ĐTTT đã trở thành xu hướng tất yếu của giáo dục đại học tại Việt Nam, trở thành một phương thức đào tạo tiên tiến được nhiều trường đại học áp dụng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Với mạng lưới Internet ngày càng phát triển và tốc độ truy cập có thể chấp nhận được, ĐTTT đã làm thay đổi mạnh mẽ quá trình tự học do khả năng cá nhân hóa cũng như đáp ứng hiệu quả các hoạt động học tập của người học, trở thành mối quan tâm nghiên cứu và được đưa vào triển khai trong nhiều trường đại học ở Việt Nam với các phạm vi, mức độ khác nhau

Khái niệm, một số vấn đề lý luận về ĐTTT và sự phát triển của ĐTTT đã được các tác giả đề cập:

Theo Trịnh Văn Biểu (2012), hiểu theo nghĩa rộng, ĐTTT là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên CNTT Theo quan điểm hiện đại, ĐTTT là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử như máy tính, mạng Internet Thông qua một máy tính, người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video ĐTTT tạo ra yếu tố giao tiếp hai chiều giữa học viên với giáo viên “ảo” và trao đổi với các bạn học “ảo” qua mạng máy tính hoặc Internet ĐTTT còn có tác dụng kích thích ý thức tự học của người học, hỗ trợ người học tiếp cận với nguồn thông tin phong phú hơn rất nhiều so với bài giảng trên lớp của giáo viên [44] Lê Huy Hoàng (2011) xác định: “ĐTTT là một loại hình đào tạo chính quy hay không chính quy hướng tới thực hiện tốt mục tiêu học tập, trong đó có sự tương tác trực tiếp giữa người dạy với người học cũng như giữa cộng đồng học tập một cách thuận lợi thông qua CNTT và truyền thống” [18] Vũ Thị Hạnh (2013) đi sâu hơn vào khái niệm ĐTTT khi xác định có hai hình thức giao tiếp giữa người dạy

và người học, bao gồm giao tiếp đồng bộ và giao tiếp không đồng bộ Giao tiếp đồng bộ là hình thức giao tiếp trong đó có nhiều người truy cập mạng tại cùng một

Trang 24

thời điểm và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như thảo luận trực tuyến, hội thảo video…; giao tiếp không đồng bộ là hình thức mà những người giao tiếp không nhất thiết phải truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ như các khóa tự học qua Internet, e-mail, diễn đàn… Đặc trưng của kiểu học này là giảng viên phải chuẩn bị tài liệu khóa học trước khi nó diễn ra; còn người học được tự do chọn lựa thời gian tham gia khóa học [17]

Bàn về các thành phần cấu thành hệ thống ĐTTT, Lê Huy Hoàng và Lê Xuân Quang (2011) xác định một cách tổng thể, một hệ thống ĐTTT bao gồm ba phần chính: Hạ tầng truyền thông và mạng, bao gồm các thiết bị đầu cuối người dùng hay học viên, thiết bị tại các cơ sở cung cấp dịch vụ, mạng truyền thông; hạ tầng phần mềm, gồm các phần mềm LMS, LCMS, Authoring Tools ; và nội dung đào tạo (hạ tầng thông tin), gồm nội dung các khóa học, các chương trình đào tạo, các phần mềm dạy học - đây là các thành phần quan trọng của ĐTTT [19] Ở một giác độ khác, Bùi Kiên Trung (2016) xác định các thành phần cơ bản của ĐTTT bao gồm: Chương trình đào tạo; đội ngũ giảng viên hướng dẫn; đội ngũ cán bộ quản lý; hệ thống

tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn trực tuyến; hệ thống học liệu đa phương tiện; hệ thống CNTT trực tuyến; hoạt động cộng đồng; đảm bảo chất lượng trong ĐTTT [36]

Theo Nguyễn Thị Lệ (2012), ĐTTT được coi là một giải pháp tận dụng tiến bộ của CNTT và truyền thông để truyền tải các kiến thức và kỹ năng đến những người học

là cá nhân và tổ chức ở bất kì nơi nào trên thế giới tại bất kì thời điểm nào Do đó, ở Việt Nam, từ năm 2006, việc triển khai ứng dụng hệ thống ĐTTT đã có nhiều khởi sắc, một phần là được sự quan tâm của Nhà nước, một phần là sự nỗ lực của các doanh nghiệp CNTT đã nghiên cứu ĐTTT để phát triển nền giáo dục nước nhà [23]

Theo đánh giá của Nguyễn Thị Bạch Tuyết (2014), việc triển khai ĐTTT ở Việt Nam có những ưu điểm chính sau: Mở ra một thế giới học tập mới, tiết kiệm chi phí và thời gian, uyển chuyển, linh động, tính hấp dẫn, tăng hiệu quả, tăng tính

tự chủ, hệ thống tối ưu hóa và bình đẳng về cơ hội học tập [41] Lê Trung Thành và cộng sự (2015) khẳng định, xét trên nhiều phương diện khác nhau, phát triển ĐTTT

là điều tất yếu trong sự phát triển nền giáo dục quốc gia, bởi: Thứ nhất, đứng trên góc độ của nhà quản lý, ĐTTT đáp ứng một phần mục tiêu phát triển nền giáo dục quốc gia, đó là “nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực”, tạo sự công bằng với bất

kỳ ai có nhu cầu học tập; Thứ hai, ĐTTT phù hợp với một phần đông đối tượng theo

Trang 25

học mà các loại hình đào tạo khác không đáp ứng được; Thứ ba, định hướng ĐTTT là tính ứng dụng hơn tính khoa học thuần túy, yêu cầu của sinh viên không chỉ là bằng cấp

mà còn là kiến thức để phục vụ công việc và để tự hoàn thiện bản thân Do đó, các tác giả nhấn mạnh phát triển ĐTTT là một xu thế tất yếu của giáo dục hiện đại [31]

Đề cập đến vấn đề nội dung trong ĐTTT, Thái Kim Phụng và Trương Việt Phương (2016) xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chất lượng thông tin đến kiến thức thu nhận của sinh viên, từ đó đề xuất một số giải pháp: Các trường học hoặc các tổ chức có triển khai hệ thống Elearning cần chú trọng khâu xuất bản nội dung lên website ĐTTT cho người học phải thật dễ hiểu, hàm lượng vừa đủ (không thiếu cũng không thừa) và đặc biệt là phải mang tính áp dụng đối với từng môn học

cụ thể; chú trọng tạo sự thuận lợi cho sinh viên truy cập thông tin và lựa chọn những công cụ xuất bản thông tin phù hợp để sinh viên có thể dễ dàng theo dõi và tổng hợp cho việc học của mình; phát triển các công cụ nhằm nâng cao sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên; thường xuyên cập nhật nội dung bài học, bài giảng đồng thời cũng cần phải có cơ chế bảo mật thông tin phù hợp [26]

Đề cập đến các hoạt động tổ chức đào tạo theo phương thức trực tuyến, theo Bùi Kiên Trung và Nguyễn Đức Hòa (2014), hiện nay hầu hết các đơn vị tổ chức ĐTTT ở Việt Nam đã dần chuyển sang mô hình đào tạo kết hợp, đối với mỗi lớp học hiện nay gồm bốn hoạt động chính của sinh viên: (i) Tự học, tự nghiên cứu: Sinh viên học qua tài liệu hướng dẫn tự học (dạng text), bài giảng đa phương tiện (slide, video, audio) Việc theo dõi bài giảng của sinh viên sẽ được hệ thống ghi nhận và được tính vào phần đánh giá điểm chuyên cần của sinh viên (ii) Trao đổi, thảo luận, giải đáp: Bao gồm các hoạt động tương tác qua hệ thống CNTT hỗ trợ, email, điện thoại, diễn đàn trao đổi… (iii) Luyện tập: Sinh viên sẽ có bài luyện tập dưới dạng trắc nghiệm, tự luận, tự luận có giải thích… để ôn tập, kiểm tra lại phần kiến thức đã học (iv) Kiểm tra, đánh giá: Trong thời gian diễn ra lớp học, luôn có một hệ thống kiểm tra, đánh giá cho cả người dạy và sinh viên Sinh viên sẽ có các bài kiểm tra tính điểm dưới dạng trắc nghiệm, tự luận, bài tập nhóm…, kết quả được tổng hợp để tính điểm điều kiện cho sinh viên [37]

Như vậy, từ việc tổng quan tình hình các công trình nghiên cứu về ĐTTT của các tác giả trong và ngoài nước, có thể đi đến một số nhận xét như sau:

Một là, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, ĐTTT đã trở thành xu thế

tất yếu của thời đại Với nhiều ưu điểm, lợi ích vượt trội trong hoạt động giảng dạy

Trang 26

như sự linh hoạt và mềm dẻo của hệ thống giáo dục ĐTTT, giảm thiểu các rào cản xuất phát từ tuổi tác, vị trí địa lý, thời gian và tình trạng tài chính, ĐTTT được coi là

mô hình đào tạo phù hợp với thời gian và điều kiện tài chính của người học trong thế k XXI

Hai là, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về ĐTTT,

tuy nhiên nội hàm nhấn mạnh đến các yếu tố cơ sở hạ tầng như CNTT, mạng Internet, máy tính và yếu tố phương pháp dạy học được sử dụng trong quá trình thiết

kế và triển khai các hoạt động dạy học qua ĐTTT Cùng với việc ứng dụng CNTT

và truyền thông, mô hình ĐTTT với thông tin một chiều đã chuyển sang mô hình thông tin hai chiều hiệu quả giữa người dạy và người học, giữa người học với hệ thống học liệu và giữa người học với cơ sở quản lý đào tạo, xoay quanh ba mối tương tác quan trọng là học viên – nội dung học, học viên – giảng viên và học viên – học viên ĐTTT có nhiều lợi thế trong học tập, tuy nhiên mô hình này cũng phải đối mặt với những thách thức nhất định, đặc biệt là kỹ năng sử dụng CNTT của giảng viên và sinh viên Dù vậy, trong tương lai, các tổ chức giáo dục, đặc biệt là các trường đại học sẽ có sự phát triển hoàn toàn khác so với các tổ chức tiền thân Thay

vì chỉ đào tạo một nhóm nhỏ sinh viên, các trường sẽ tổ chức theo một quy mô rộng lớn hơn, với khoảng cách lớn hơn, thậm chí đào tạo theo số lượng lớn trên toàn thế giới Sự phát triển của hình thức ĐTTT không chỉ là sự bổ sung cho hình thức đào tạo truyền thống, mà nó còn có thể dẫn đến sự thay thế hoàn toàn cho một số tổ chức hoặc CTĐT bởi những ưu thế vượt trội của nó trong lĩnh vực giáo dục

Ba là, ở Việt Nam, ĐTTT cũng đã trở thành xu hướng tất yếu của giáo dục

đại học trở thành một phương thức đào tạo tiên tiến được nhiều trường đại học áp dụng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Kế thừa các công trình nghiên cứu nước ngoài, các nhà nghiên cứu trong nước đã đưa ra các khái niệm ĐTTT có nội hàm đồng nhất, đồng thời chỉ ra các thành phần cấu thành hệ thống ĐTTT Đặc biệt, các tác giả nhấn mạnh các ưu điểm, các yếu tố ảnh hưởng và xu hướng phát triển đặc thù của ĐTTT trong bối cảnh nền giáo dục Việt Nam

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý đào tạo trực tuyến trong các trường đại học

1.2.1 Trên thế giới

Với sự phát triển nhanh chóng của CNTT, các trường đại học trên khắp thế giới đang đầu tư ngày càng mạnh vào hệ thống ĐTTT để hỗ trợ hoạt động giảng dạy

Trang 27

truyền thống cũng như nâng cao hiệu quả và trải nghiệm học tập Tuy nhiên, sự thành công của một hệ thống ĐTTT phụ thuộc rất lớn vào vai trò quản lý cũng như nhiều yếu tố liên quan khác Do đó, nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung làm rõ vấn đề quản lý ĐTTT dưới nhiều góc độ khác nhau như cá nhân, xã hội, văn hóa, công nghệ, tổ chức và môi trường… để đảm bảo hoạt động ĐTTT thành công

ĐTTT đã được nhiều tác giả, nghiên cứu nhìn nhận ở góc độ mục tiêu, chiến lược: Curran (2004) cho rằng những thay đổi trong môi trường kinh tế - xã hội cũng như những tiến bộ trong CNTT đã thúc đẩy các trường đại học thay đổi chiến lược truyền thống sang chiến lược ĐTTT Bất kỳ tổ chức nào cũng cần một cơ sở để

áp dụng chiến lược ĐTTT [61] Theo Annemieke và cộng sự (2008), việc cam kết nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập là một mục tiêu thường xuyên trong chiến lược quản lý ĐTTT của các trường đại học Tuy nhiên, các trường đại học muốn có chiến lược quản lý ĐTTT thành công thì phải đảm bảo rằng họ đã được chuẩn bị đầy

đủ về văn hóa và công nghệ [49] Wheelen và Hunger (2008) đưa ra mục đích của quản lý ĐTTT thành công là nhằm thỏa mãn những kỳ vọng về trải nghiệm học tập của sinh viên tại trường đại học, làm cho họ hiểu được vai trò của mình cũng như những gì họ có thể mong đợi thực tế từ các giảng viên và nhà trường [104] Do đó,

để quản lý ĐTTT hiệu quả, theo Uvasara và Heshan (2010), cần phải xác định rõ tầm nhìn và sứ mệnh, phân tích tình hình hiện tại thông qua một loạt các phân tích như mô hình năm lực lượng của Porter hoặc phân tích SWOT để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của nhà trường [101]

Nghiên cứu các mô hình và chiến lược áp dụng ĐTTT tại các trường đại học

ở châu Âu, Benedetto và cộng sự (2003) chỉ ra phần lớn các trường đại học trong mẫu nghiên cứu triển khai ĐTTT nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho sinh viên

và mở rộng các khóa học trong chương trình giảng dạy của họ Các tác giả nhận định, việc áp dụng ĐTTT chắc chắn sẽ trở thành xu hướng lan rộng ra tất cả các trường đại học, tuy nhiên nó không phải là sự thay thế hoàn toàn phương thức giáo dục truyền thống Thay vào đó, theo quan điểm chiến lược của các nhà quản lý trường học, ĐTTT đang được tích hợp vào các trường đại học nhằm cung cấp các khóa học đa dạng Các trường đại học chấp nhận ĐTTT với một định hướng tiếp cận thực tế hơn: công nghệ nhằm hỗ trợ và thu nhận sự phản hồi để xác định rõ ràng nhu cầu hoặc mong muốn của người học đối với tổ chức giáo dục Điều này cũng giải thích tại sao phần lớn các trường đại học giới thiệu ĐTTT để hỗ trợ và cải thiện hoạt

Trang 28

động giảng dạy truyền thống, hơn là thay thế chúng hoàn toàn Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này không có nghĩa rằng về lâu dài sẽ không có thay đổi lớn trong hệ thống giáo dục đại học Dù vậy, hiện tại, động lực của các trường đại học không phải là giới thiệu các công nghệ giáo dục mới, mà là các chiến lược mới của tổ chức

cả ở cấp độ định hướng lẫn cấp độ tổ chức và giảng viên

Nhóm tác giả Ali, Kate và Xiaohui (2013) tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên về môi trường học tập trực tuyến tại các nước đang phát triển Nhóm nhân tố mà các tác giả tiến hành khảo sát bao gồm: nhận thức về tính hữu ích của ĐTTT, nhận thức về tính hữu dụng của ĐTTT (hoàn thành nhiệm vụ học tập nhanh chóng, cải thiện hiệu suất học tập, dễ dàng tìm hiểu nội dung khóa học), các chuẩn mực xã hội (nghe theo lời khuyên của giảng viên, của bạn bè, của thầy cô về việc tham gia học trực tuyến), sự cải thiện chất lượng công việc và cuộc sống (tiết kiệm chi phí khi tải tài liệu trực tuyến, sử dụng email để liên lạc với giáo viên và bạn bè…) Kết quả nghiên cứu cho thấy cả bốn nhân tố này đều ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn học trực tuyến của các sinh viên tại các nước phát triển Kết quả nghiên cứu trên đã cung cấp thêm những đặc điểm của hình thức ĐTTT, tính hữu ích của ĐTTT, làm cơ sở cho việc nghiên cứu công tác quản lý ĐTTT [47]

Arw và cộng sự (2016) xem xét việc thực hiện các chiến lược ĐTTT, xuất phát từ quan điểm của bốn mục tiêu chính: Nâng cao năng lực và khả năng ứng dụng ĐTTT; Hướng tới các công nghệ học tập mới và các ứng dụng của chúng; Cung cấp thông tin chất lượng để áp dụng chiến lược ĐTTT; Phát triển chất lượng của nguồn tài liệu đào tạo hoặc sử dụng lại những tài liệu đã được tạo ra [50]

Với các chiến lược ĐTTT dành cho những người dẫn dắt sáng kiến học tập tại các tổ chức giáo dục, Brandon (2007) cho rằng lãnh đạo nhà trường cần đưa ra một cái nhìn dài hạn tập trung vào các vấn đề: (i) Duy trì chiến lược ĐTTT thông qua các bước lập chiến lược học tập và quy trình phát triển chiến lược ĐTTT; (ii) Các chiến lược chuyển đổi sang ĐTTT: Thẩm định, thiết kế và lựa chọn, ứng dụng, triển khai, đánh giá; (iii) Các chiến lược thiết kế cho học tập online và hỗn hợp liên quan đến lớp học online hoặc trực tiếp, đồng bộ hay không đồng bộ; (iv) Hoạt động marketing và quản lý sự thay đổi về ĐTTT nhằm thúc đẩy người học, động lực của nhà quản lý và cả tổ chức Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh, dù ĐTTT có thể chỉ là việc giảng viên dẫn dắt lớp học với một khóa học trực tuyến thì nó vẫn là một thay đổi trong tổ chức, nó đòi hỏi sự thay đổi đối với người giảng dạy, giám sát trực tiếp, các

Trang 29

nhà quản lý, quản lý cao cấp cũng như tất cả nhân viên trong tổ chức Các giảng viên có thể cảm thấy bị đe dọa rằng họ sẽ bị “thay thế” bởi ĐTTT; các nhà quản lý, những người luôn kiểm soát việc quản lý đào tạo, thường cảm thấy bị suy yếu khi người học có thể học bất cứ lúc nào và từ bất cứ đâu… Do đó, quản lý ĐTTT chính

là quản lý sự thay đổi về quy trình, hoạt động và cách tiếp cận quản lý nhân sự của

tổ chức, từ cách thức truyền thống chuyển sang cách thức trực tuyến Trọng tâm của quản lý thay đổi là về thái độ và hành vi của tất cả mọi người trong tổ chức về ĐTTT [57]

Một số nghiên cứu đề cập đến các vấn đề quản lý, các giải pháp cho các điều kiện triển khai ĐTTT như về cơ sở hạ tầng, công nghệ, nội dung, đội ngũ giảng dạy, đội ngũ hỗ trợ,…:

Theo Bagarukayo và Kelema (2015), mặc dù ĐTTT là công nghệ mang nhiều lợi ích trong việc giảng dạy, học tập và đánh giá nhưng đối với nhiều trường đại học,

có mối quan ngại rằng họ không tận dụng được hết tiềm năng của phương thức này Mức độ sử dụng ĐTTT và cách thức áp dụng tại các trường đại học khác nhau xuất phát từ một số thách thức về nền tảng công nghệ, văn hóa giáo dục, năng lực giảng viên, tầm nhìn chiến lược của tổ chức, sự hài lòng của người học, sự hỗ trợ người dùng, nhận thức của lãnh đạo Do đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp: (i) Đào tạo và hỗ trợ về chính sách và kỹ năng liên quan đến CNTT và truyền thông: Giảng viên và người học thường gặp khó khăn trong việc sử dụng hệ thống quản lý học tập (LMS) do thiếu kỹ năng công nghệ, do đó nhà trường cần có sự hỗ trợ nhân sự về công nghệ cũng như phát triển các công cụ phần mềm giáo dục để hỗ trợ các hoạt động học tập, cần có các chương trình về quản lý, chính sách và nhận thức để khuyến khích sử dụng ĐTTT trong tổ chức (ii) Chi phí và công nghệ: Để thực hiện thành công ĐTTT thì các trường đại học cần tập trung vào các vấn đề về chi phí và công nghệ, có thể giảm chi phí bằng cách sử dụng các phần mềm quản lý miễn phí tùy thuộc vào nhu cầu của mỗi tổ chức Tuy nhiên, điều quan trọng là ban lãnh đạo cần tham gia vào các quyết định chính sách và đầu tư vào đổi mới công nghệ để giải quyết những vấn đề thách thức này (iii) Mở rộng khả năng truy cập: ĐTTT được khuyến khích cho người học đến từ các nền văn hóa, chủng tộc và ngôn ngữ khác nhau bằng cách sử dụng nội dung có sẵn ở bất cứ đâu, khai thác các nền tảng học tập trực tuyến như các ứng dụng di động (iv) Quy mô lớp học lớn: Các công nghệ giáo dục có thể đáp ứng số lượng lớp học lớn bằng cách cung cấp nội dung có thể truy

Trang 30

cập ở bất kể địa điểm nào và cho phép tạo ra nhóm học tập có thể dễ dàng quản lý (v) Đánh giá chương trình giảng dạy: Cần thay đổi chương trình giảng dạy để kết hợp với phương pháp sư phạm thực tế nhằm thúc đẩy người học giải quyết vấn đề,

tư duy phê phán và ra quyết định (vi) Các vấn đề cơ sở hạ tầng và kỹ thuật: Các trường đại học cần cải thiện cơ sở hạ tầng công nghệ bằng cách tìm kiếm nguồn tài trợ từ chính phủ và các cơ quan khác để trang bị cơ sở hạ tầng đầy đủ (vii) Cần có động lực giảng viên thúc đẩy và khuyến khích giảng viên sáng tạo nội dung để dễ sử dụng LMS (viii) Người học và người hỗ trợ: Giảng viên cần khuyến khích người học gia tăng sự tham gia vào môi trường học tập trực tuyến, phát huy tính hiệu quả, tích cực hơn [51]

Tagreed và cộng sự (2016) đã đưa ra cái nhìn sâu sắc về nguồn gốc, đặc điểm cũng như các điểm yếu và điểm mạnh của hệ thống ĐTTT, trong đó đặc biệt xem xét các yếu tố liên quan đến người học như hành vi, thái độ, nguồn gốc văn hóa và các yếu tố nhân khẩu học khác có ảnh hưởng đến hoạt động ĐTTT Dựa trên những phân tích đó, các nhà hoạch định chính sách, nhà giáo dục, giảng viên và chuyên gia

có thể thiết kế khóa học nhằm thúc đẩy kiến thức kiến thức của sinh viên, làm cho việc học tập trở nên hiệu quả và hấp dẫn hơn, đáp ứng mong đợi của hệ thống quản

lý học tập Điều này có thể giúp nhà quản lý triển khai hệ thống ĐTTT hiệu quả nhất cũng như đưa ra được các quyết định chiến lược về công nghệ trong tương lai

Liên quan đến việc quản lý nội dung - học liệu trong ĐTTT, Hao Shi (2010) cho rằng học liệu điện tử là tập hợp các tài liệu dưới dạng điện tử phục vụ dạy và học, bao gồm: sách giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, bài kiểm tra đánh giá, bản trình chiếu, bảng dữ liệu, các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài giảng điện

tử, phần mềm dạy học, thí nghiệm ảo Tác giả đã chỉ ra vấn đề quản lý học liệu phục

vụ ĐTTT thông qua hệ thống phần mềm cho phép sinh viên truy cập dễ dàng Theo

đó, tác giả đề xuất cần thiết kế lại các chương trình giảng dạy lấy người học làm trung tâm, đặt trách nhiệm kiểm soát việc học tập cho người học Việc thiết kế lại này thể hiện sự chuyển đổi từ một mô hình học tập thụ động sang mô hình học tập tích cực [69]

Tập trung vào khía cạnh tư vấn, hỗ trợ người học, Boulton (2008) chỉ ra một thách thức lớn mà nhà quản lý phải giải quyết đó là mức độ hài lòng và không hài lòng của người học, thể hiện ở các chỉ số như sự chậm trễ trong việc tải các tài liệu học tập, sự tẻ nhạt của các tài liệu, sự hỗ trợ của giáo viên, sự hỗ trợ của kỹ thuật

Trang 31

viên trường học, việc học nhóm, sự phản hồi chính thức mà người học nhận được,

cơ hội làm việc cộng tác, các vấn đề kỹ thuật, có thể xem lại lý thuyết mà người học không hiểu Từ đó, tác giả nhấn mạnh việc giới thiệu cho người học về ĐTTT và các công cụ học tập kết hợp để họ có thể thiết lập các kỹ năng học tập trực tuyến và phát triển thành học tập suốt đời, như quản lý tốc độ học tập của bản thân, học cách trở thành những người học tự lập và chịu trách nhiệm nhiều hơn về việc học của mình nhằm đáp ứng các yêu cầu đầy thách thức của xã hội thông tin Với sự sẵn có của ĐTTT và các trường học cung cấp chương trình giảng dạy ngày càng linh hoạt, các nhà quản lý trường học cần phải xem xét tập huấn cho người học về cách sử dụng các tài liệu học tập trực tuyến và phát triển các kỹ năng học tập tự lập, cũng như có thể xem xét sự tham gia của phụ huynh trong việc hỗ trợ học sinh học trực tuyến ở nhà Một điều đáng thất vọng là một số lượng lớn người học không hoàn thành khóa học, nhưng nhà trường sẽ học được rất nhiều từ kinh nghiệm đó, đội ngũ giáo viên có thể phát triển sự tự tin hơn trong việc chuẩn bị ĐTTT cho học sinh, và các nhà quản lý cấp cao nhận thức được rằng có giới thiệu ĐTTT ở quy mô nhỏ và ở

độ tuổi sớm hơn, đồng thời cung cấp hỗ trợ hướng dẫn theo thời gian cho người học

Có như vậy, kinh nghiệm sẽ đảm bảo t lệ hoàn thành tốt hơn trong những năm tiếp theo và việc phổ biến ĐTTT sẽ được phát triển rộng rãi trong toàn trường [65] Theo Joo (1999), các nhà quản lý ĐTTT phải đối mặt với nhiều thách thức như vai trò và năng lực của giảng viên và người học, sự đào tạo thích hợp, dễ dàng tiếp cận các tài liệu có chất lượng cao, cũng như sự hỗ trợ học thuật, hành chính và kỹ thuật một cách có hệ thống trong và ngoài trường học… [56]

Đề cập đến việc quản lý đảm bảo các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng, Belawati và Baggaley (2010) nhấn mạnh, đảm bảo chất lượng là nhân tố quan trọng trong quản lý và phát triển ĐTTT Theo đó, có 9 tiêu chuẩn chính để đảm bảo chất lượng ĐTTT, bao gồm: Chính sách và kế hoạch; nguồn nhân lực tuyển dụng và phát triển; quản lý và điểu hành; học viên; thiết kế và phát triển chương trình; thiết kế và phát triển học liệu; dịch vụ hỗ trợ học tập; đánh giá học tập của học viên; phương tiện dạy và học.Tổ chức các Bộ trưởng giáo dục Đông Nam Á (2003), đã chỉ ra: quản lý chất lượng đào tạo gồm cơ cấu tổ chức, các thủ tục, các quy trình và nguồn lực cần thiết để quản lý tổng thể, đạt được những tiêu chuẩn, tiêu chí và các chỉ số

cụ thể do nhà nước ban hành, nâng cao và cải tiến liên tục nhằm thỏa mãn yêu cầu của học sinh và đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Trong nghiên cứu, nhóm

Trang 32

tác giả đã xây dựng những khung lý thuyết về chất lượng đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo và áp dụng tiêu chuẩn ISO để đánh giá chất lượng đào tạo tại một số trường tại Đông Nam Á [53]

Bàn về các yếu tố tạo nên sự thành công của ĐTTT, Bussakorn và cộng sự (2012) cho rằng, có năm nhân tố chính đó là: Cơ chế quản lý, môi trường học tập, thiết kế bài giảng, dịch vụ hỗ trợ và việc đánh giá khóa học Trong đó, yếu tố đầu tiên được nhấn mạnh chính là cơ chế quản lý, bởi các khóa học trực tuyến cần phải được ban lãnh đạo lập kế hoạch một cách thận trọng, với các hoạt động sau: (i) Nghiên cứu thị trường: phân tích về các yêu cầu mục tiêu giáo dục với các dữ liệu nghiên cứu thị trường phải được cập nhật; (ii) Khung chương trình: Lãnh đạo tổ chức phải xác định khuôn khổ và phạm vi của chương trình liên quan đến các các chính sách và thủ tục về triết lý, tầm nhìn, vấn đề bản quyền, sở hữu trí tuệ…; (iii)

Kế hoạch hoạt động: Yếu tố này chính là phong cách quản lý của tổ chức nhằm tích hợp ĐTTT vào toàn bộ chương trình giảng dạy; (iv) Hiệu quả chi phí: Để thực hiện thành công, ĐTTT cần một khoản ngân sách đủ lớn và dài hạn cho các khóa học, cũng như để phát triển dịch vụ hỗ trợ người học Theo các tác giả, cơ chế quản lý hiệu quả sẽ giúp ban lãnh đạo và toàn thể nhân viên biết được họ sẽ phải làm gì để triển khai ĐTTT thành công trong tổ chức [99]

1.2.2 Ở Việt Nam

Trên thực tế, ĐTTT không còn mới mẻ ở các trường đại học trên thế giới, nhưng ở Việt Nam, nó được biết đến như một phương pháp giáo dục mới chỉ thật sự bắt đầu phát triển vài năm gần đây ĐTTT đang được nhiều nhà trường quan tâm đến sự tiện ích và vai trò đối với giáo dục đại học trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 Một số trường đã bắt đầu triển khai ĐTTT kết hợp hoặc thay thế cho hình thức đào tạo từ xa Vì vậy, các nghiên cứu về quản lý ĐTTT còn rất hạn chế

Nhấn mạnh ĐTTT là một trong những giải pháp ứng dụng CNTT trong giáo dục, Nguyễn Văn Linh và cộng sự (2013) chỉ ra, để xây dựng thành công một hệ thống ĐTTT chuẩn mực, bao gồm hệ thống quản lý đào tạo và các nội dung số phục

vụ công tác đào tạo theo học chế tín chí, các nhà quản lý giáo dục cần phải: Chọn giải pháp xây dựng một hệ thống ĐTTT phù hợp; nghiên cứu lựa chọn chuẩn và hệ quản lý đào tạo nền cho ĐTTT; xây dựng một số công cụ hỗ trợ, đặc biệt là các công

cụ tích hợp vào hệ nền cho ĐTTT; đề xuất cấu trúc bài giảng điện tử và ma trận kiến

Trang 33

thực mà hệ thống ĐTTT mang lại, các tác giả khuyến nghị, ngoài việc mở các lớp ĐTTT ở dạng đại học hoặc liên thông, các cơ sở đào tạo có thể sử dụng ĐTTT trong tập huấn ngắn hạn, hỗ trợ đào tạo cho giáo dục phổ thông và sau đại học [22]

Từ kinh nghiệm triển khai phương thức ĐTTT tại Trường Đại học Cần Thơ, với việc áp dụng hệ thống quản lý học tập Dokeos (gồm các chức năng: tạo tài liệu học tập, tương tác, wiki và quản trị), Thạch Thị Tuyến (2015) đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động ĐTTT: (i) Nghiên cứu thêm về phần mềm mã nguồn mở Moodle để hướng tới chuyển sang Moodle, khắc phục những hạn chế của phần mềm Dokeos; (ii) Lãnh đạo nhà trường phải có quy định chính sách rõ ràng về bản quyền học liệu; (iii) Tổ chức tập huấn thường xuyên cho cán bộ giảng dạy có nhu cầu ứng dụng ĐTTT vào công tác giảng dạy cũng như đội ngũ cán bộ thư viện vì đó là những người trực tiếp tư vấn kỹ năng tìm kiếm thông tin và xử lý thông tin cho bạn đọc; (iv) Cấu trúc lại cây thư mục để người dùng dễ dàng tiếp cận; (v) Nâng cấp đường truyền tốc độ cao để lượng truy cập cùng một thời điểm sẽ nhanh hơn; (vi)

Hỗ trợ chế độ phù hợp để khuyến khích giảng viên soạn bài giảng ĐTTT; (vii) Giảng viên nên kết hợp sử dụng ĐTTT và các phương pháp giảng dạy truyền thống

để người dạy và người học có thể giao tiếp, thảo luận, trao đổi và giải quyết một số vấn đề nhằm mục đích rèn luyện kĩ năng giao tiếp xã hội [39]

Bùi Trung Kiên (2016) tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ đào tạo với sự hài lòng và mức độ trung thành của sinh viên trong đào tạo từ

xa ĐTTT Nghiên cứu đã chứng minh sự hài lòng của sinh viên là nền tảng hình thành lòng trung thành của sinh viên trong môi trường ĐTTT, từ đó đưa ra khuyến nghị về quản lý ĐTTT: (i) Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Đẩy mạnh cải cách toàn diện nền giáo dục Việt Nam, tạo sân chơi bình đẳng cho các trường đại học, các cơ sở giáo dục có đủ điều kiện và năng lực tham gia phương thức ĐTTT; Quy hoạch nguồn lực theo từng giai đoạn phát triển cụ thể của đất nước, trên cơ sở

đó các tổ chức giáo dục ĐTTT sẽ xây dựng kế hoạch đào tạo phu hợp, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho từng địa phương cụ thể; Có chính sách không phân biệt đối

xử với cùng hệ đào tạo khi triển khai theo các hình thức đào tạo khác nhau; Có chính sách, dự án ưu tiên đầu tư phát triển loại hình ĐTTT; (ii) Đối với các đơn vị tổ chức ĐTTT: Định hình cơ cấu tổ chức phù hợp; Phát triển chương trình ĐTTT theo hướng mở rộng; Nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ đào tạo trong ĐTTT; Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu ĐTTT theo tính chất đặc thu của loại hình đào tạo; Phát triển hệ thống CNTT trực tuyến; Phát triển công tác học sinh,

Trang 34

sinh viên trong ĐTTT; Triển khai công tác đảm bảo chất lượng, truyền thông để khẳng định vị thế ĐTTT trong hệ thống đào tạo quốc dân; Nâng cao hiệu quả quản

lý tài chính Nghiên cứu đã cung cấp cho nhà quản lý nhận thức đúng đắn về chất lượng đào tạo trực tuyến và sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo trực tuyến để từ đó thấy được vai trò và sự cần thiết của công tác quản lý đào tạo trực tuyến để có các giải pháp quản lý chất lượng nhằm cung cấp các khoá học E-learning đáp ứng cho ngày càng đông đảo người học [36]

Trần Thị Lan Thu và cộng sự (2016) tiến hành nghiên cứu đánh giá chất lượng đào tạo từ xa theo phương thức trực tuyến của Trường Đại học Mở Hà Nội, trong đó chỉ ra vai trò quan trọng của công tác đánh giá chất lượng ĐTTT trong nhà trường, đồng thời cho thấy vai trò của công tác đảm bảo chất lượng nhằm thực hiện đào tạo theo hướng mở rộng quy mô, đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội Dựa trên các bộ tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng của Hiệp hội Các trường đại học Mở châu Á, một số trường đại học trực tuyến trong khu vực và trên thế giới, các tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận và xây dựng bộ tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng đào tạo đại học hệ từ xa trực tuyến áp dụng cho Trường Đại học Mở Hà Nội Nghiên cứu đã đặt

ra yêu cầu mới đối với nhà quản lý giáo dục trong việc đặt ra các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng cho loại hình đào tạo từ xa trực tuyến Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ cung cấp một phần nội dung trong quản lý ĐTTT [33]

Theo Nguyễn Hồng Minh (2017), đứng trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hệ thống giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng sẽ bị tác động mạnh mẽ và toàn diện, các khái niệm về phòng học ảo, thầy giáo ảo, thiết

bị ảo sẽ trở thành xu hướng trong hoạt động đào tạo Và do đó, hệ thống giáo dục phải đối mặt với nhiều vấn đề thách thức về phương thức và phương pháp đào tạo với sự ứng dụng mạnh mẽ của CNTT, sự thay đổi trong quản trị nhà trường với xu hướng đào tạo ảo, mô phỏng, số hóa bài giảng trở thành xu hướng đào tạo tương lại, đổi mới mô hình nhà trường, đổi mới quản lý cả ở cấp vĩ mô và cấp cơ sở… Theo

do, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp chính như sau: (i) Đổi mới cơ chế chính sách phù hợp với thực tiễn đối với đội ngũ nhà giáo, người học, cơ sở giáo dục nhằm tạo

sự linh hoạt thích ứng với những thay đổi của khoa học công nghệ và yêu cầu của thị trường; (ii) Đổi mới quản lý giáo dục, ứng dụng CNTT trong quản lý; (iii) Đổi mới hoạt động đào tạo: chương trình đào tạo thiết kế linh hoạt, phương pháp đào tạo lấy người học làm trung tâm và sự ứng dụng CNTT trong thiết kế và truyền đạt bài

Trang 35

của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục; (v) Phát triển đào tạo tại doanh nghiệp và gắn kết với doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo; (vi) Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; (vii) Tăng cường hợp tác quốc

tế trong lĩnh vực giáo dục [24]

Như vậy, từ tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới về quản lý ĐTTT, có thể đi đến một số nhận xét chính sau:

Một là, những thay đổi trong môi trường kinh tế - xã hội cũng như những tiến bộ

trong CNTT đã thúc đẩy các trường đại học đầu tư ngày càng mạnh vào hệ thống ĐTTT cũng như thay đổi chiến lược truyền thống sang chiến lược ĐTTT Tuy nhiên, sự thành công của một hệ thống ĐTTT phụ thuộc rất lớn vào vai trò quản lý cũng như nhiều yếu tố khác như cá nhân, xã hội, văn hóa, công nghệ, tổ chức và môi trường…

Hai là, đi vào nghiên cứu cụ thể, các công trình nước ngoài nhấn mạnh vào

yếu tố chiến lược trong quản lý ĐTTT, liên quan tới tầm nhìn và sứ mệnh, các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của tổ chức, yếu tố giảng viên và người học… Đặc biệt, hoạt động quản lý ĐTTT phải đối mặt với nhiều thách thức như mức độ hài lòng của người học, vấn đề đảm bảo chất lượng, vấn đề quản lý học liệu phục vụ ĐTTT Do đó, lãnh đạo nhà trường cần đưa ra một cái nhìn dài hạn tập trung vào các vấn đề như duy trì chiến lược ĐTTT; Đào tạo và hỗ trợ về chính sách và kỹ năng liên quan đến CNTT và truyền thông; Chi phí và công nghệ; Khả năng truy cập; Quy mô lớp học; Đánh giá chương trình giảng dạy; Các vấn đề cơ sở hạ tầng và

kỹ thuật; Động lực giảng viên nhằm đảm bảo hoạt động ĐTTT hiệu quả

Ba là, xuất phát muộn hơn so với thế giới, các trường đại học ở Việt Nam đã

bước đầu phát triển ĐTTT và ứng dụng một số phần mềm thông dụng của ĐTTT trong các khóa học và dự án Mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai và quản lý hoạt động ĐTTT song với sự chỉ đạo và quán triệt định hướng về quản lý ĐTTT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học đã nghiên cứu ứng dụng phương thức ĐTTT vào hoạt động đào tạo của nhà trường với nhiều giải pháp

về quản lý ở tầm vĩ mô và vi mô, tập trung vào các vấn đề về nhận thức của lãnh đạo, năng lực giảng viên, đầu tư công nghệ, quản lý sự thay đổi, đổi mới cơ chế chính sách và hoạt động đào tạo

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu ở trên, có thể thấy các nghiên cứu đã chỉ ra ĐTTT là một phương pháp đào tạo tiên tiến, toàn diện, có khả năng kết nối và chia sẻ tri thức rất hiệu quả, đã và đang trở thành xu hướng chung của giáo dục thế giới Việc triển khai ĐTTT trong giáo dục đào tạo là một hướng đi tất yếu nhằm đưa giáo dục Việt Nam tiếp cận với nền giáo dục thế giới Nội hàm và các vấn đề lý luận về ĐTTT đã được các nghiên cứu đưa ra làm cơ sở tham khảo để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu Các nghiên cứu đề cập quản lý ĐTTT

ở góc độ mục tiêu, chiến lược Các hoạt động quản lý ĐTTT như quản lý hạ tầng công nghệ ĐTTT, nội dung – học liệu, đội ngũ giảng viên, quá trình tổ chức đào tạo, các hoạt động hỗ trợ người học được đề cập và thông qua các giải pháp quản lý.Tuy nhiên, xét về mặt lý thuyết, hiện nay chưa có một nghiên cứu nào đi sâu vào trình bày một cách hệ thống về cơ sở lý luận về quản lý ĐTTT tại các trường đại học ở Việt Nam Xét về khía cạnh thực tiễn, vẫn chưa có nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu thực nghiệm về quản lý ĐTTT, thông qua việc trình bày thực trạng về các nội dung của quản lý ĐTTT một cách toàn diện Nhìn chung, các nghiên cứu mới chủ yếu xem xét vấn đề quản lý ĐTTT dựa trên kinh nghiệm triển khai ĐTTT trong phạm vi và tập trung vào một số khía cạnh nhất định Do đó, việc nghiên cứu về quản lý ĐTTT tại các trường đại học ở Việt Nam có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng, góp phần lấp đầy các khoảng trống nghiên cứu nói trên

Trang 37

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN

TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 2.1 Đào tạo trực tuyến

2.1.1 Đào tạo

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đào tạo là quá trình tác động đến một

con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người [45] Đào tạo là hoạt động truyền thụ kiến thức, huấn luyện kỹ năng, giáo dục thái độ nhằm giúp người học chiếm lĩnh được năng lực một nghề nghiệp hoặc một năng lực liên quan đến những mặt khác của cuộc sống Hoạt động đào tạo bao quát các vấn đề: Mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương thức đào tạo, người dạy, người học và phương tiện đào tạo Mỗi yếu tố này đều có những tính chất đặc điểm riêng và có những tác động khác nhau đến kết quả của quá trình đào tạo, đồng thời giữa chúng

có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau [44].Đào tạo là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy học (người dạy và người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học tiến hành trong một cơ sở giáo dục, là hoạt động chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, trong đó quy định một cách chặt chẽ, cụ thể tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc, quy trình của hoạt động đào tạo [29]

Khái niệm đào tạo trong luận án được tác giả xác định là: Quá trình chuyển giao tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp chuyên môn giữa người dạy và người học trong một môi trường dạy và học xác định Theo đó, nhà trường thực hiện chức năng đào tạo theo quá trình bao gồm các khâu: 1) đầu vào: tuyển sinh, xây dựng các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện đào tạo; 2) các hoạt động đào tạo: dạy, học,…; và 3) đầu ra: kiểm tra, đánh giá kết quả dạy và học, cấp văn bằng, kiểm định và đảm bảo chất lượng đào tạo

2.1.2 Đào tạo trực tuyến

Verduin và Clark (1991) xác định ĐTTT là một hình thức học tập trong đó có

sự giãn cách về thời gian và không gian giữa người học và người dạy [102] Với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, người học có thể sử dụng nhiều

Trang 38

hình thức khác nhau thông qua các phương tiện truyền thông khác nhau để đạt được mục đích học tập của mình Horton (2006) cho rằng ĐTTT là việc sử dụng các CNTT và máy tính nhằm tạo ra các trải nghiệm học tập [71] Theo Resta và Patru (2010), ngoài yếu tố công nghệ thì còn có một yếu tố nền tảng khác, đó chính là phương pháp dạy học được sử dụng trong quá trình thiết kế và triển khai các hoạt động dạy học qua ĐTTT Cụ thể hơn, Karl (2001) cho rằng ĐTTT là việc giảng dạy trong môi trường học tập mà người dạy và người học có sự cách biệt về thời gian hay không gian, hoặc cả hai Người dạy cung cấp nội dung khóa học thông qua các ứng dụng quản lý học tập (LMS, LCMS), các nguồn tài nguyên đa phương tiện, mạng Internet, hội thảo trực tuyến…, còn người học nhận nội dung khóa học và tương tác với người dạy thông qua cùng các phương tiện kỹ thuật đó [77] Theo Elliott và Healy (2001), ĐTTT là “việc áp dụng công nghệ để tạo ra, cung cấp, chọn lựa, quản trị, hỗ trợ và mở rộng cách học truyền thống” [65] UNESCO xác định ĐTTT là quá trình học tập sử dụng các phương tiện điện tử, CNTT và truyền thông Đào tạo trực tuyến cho phép mọi người có thể học ở mọi lúc, mọi nơi, xóa bỏ những giới hạn về thời gian và không gian để cho mọi người có cơ hội học tập và học tập theo nhu cầu của mình (UNESCO, 2010) [99].Theo tác giả Tony Bates, tất cả các hoạt động trên máy tính và Internet hỗ trợ giảng dạy và học tập - cả trong trường và

ở xa, bao gồm cả việc sử dụng các CNTT và truyền thông về hành chính cũng như khoa học để hỗ trợ học tập, như phần mềm liên kết giữa cơ sở dữ liệu của sinh viên

và việc giảng dạy, ví dụ như danh sách lớp học, địa chỉ e-mail, v.v Ngoài ra, ĐTTT có các hình thức khác nhau, từ trợ giúp lớp học đến học tập trực tuyến hoàn toàn [85]

Có thể nói rằng, khái niệm và nội hàm ĐTTT được rất nhiều tác giả đề cập, nhìn chung đều có những điểm chung xoay quanh việc học tập dựa trên CNTT cùng với mối liên hệ giữa người dạy, người học thông qua các hoạt động dạy-học, nội

dung, phương pháp Khái niệm ĐTTT trong luận án được tác giả xác định là: Quá trình đào tạo sử dụng các phương tiện điện tử, CNTT và truyền thông nhằm thực hiện chuyển giao, chia sẻ kiến thức giữa người dạy và người học, xoá bỏ những giới hạn về thời gian và không gian

2.1.2.1 Đặc điểm của đào tạo trực tuyến

Theo Trần Xuân Tuyến (2013),ĐTTT có những đặc điểm sau: Không bị giới hạn

bởi không gian và thời gian nhờ có sự phổ cập rộng rãi của Internet, do đó có thể giúp cho người học tiết kiệm thời gian; Tính hấp dẫn: Với sự hỗ trợ của công nghệ

Trang 39

multimedia, những bài giảng được tích hợp dạng văn bản với các dạng hình ảnh, âm thanh, video… người học có thể tương tác với bài học; Tính dễ tiếp cận, truy cập ngẫu nhiên cho phép học viên lựa chọn đơn vị tri thức, tài liệu một cách tùy ý theo trình độ kiến thức và điều kiện truy nhập mạng của mình; Tính cập nhật: nội dung khóa học thường xuyên được cập nhật và đổi mới để đáp ứng nhu cầu người học; Có sự hợp tác, trao đổi giữa các học viên với nhau và giữa học viên với giáo viên [40]

Còn theo một số tác giả khác, ĐTTT còn có những đặc điểm:Có nhiều đổi

mới và tiến bộ hơn so với các hình thức học truyền thống, cung cấp cho học viên

sự kết hợp “nghe, nhìn và sự chủ động” ĐTTT giúp cho việc đào tạo hiệu quả tới được nhiều đối tượng người học khác nhau trên toàn cầu, có thể cắt giảm được chi phí in ấn, xuất bản và phân phối khi áp dụng việc đào tạo qua mạng; Người học trực tuyến có thể chủ động chọn những kiến thức phù hợp với mình so với hình thức tiếp thu thụ động trên lớp; ĐTTT cho một cách học mang tính tương tác cao: Với việc cung cấp tốt nhất các loại hình đào tạo đồng bộ hay công nghệ từ xa như hệ thống tin nhắn, chat, thư điện tử và đàm thoại qua mạng sẽ giảm được khả năng học viên bị cô lập, tạo ra sự tương tác cần thiết trong quá trình học Nếu có thể tạo ra được các hình thức tương tác trực tuyến mạnh mẽ hơn nữa giữa học viên và giảng viên thì hiệu quả sẽ được nâng cao rõ rệt; ĐTTT là loại hình đào tạo mà học viên là chủ đạo và mang tính cá nhân: Người tham gia vào loại hình ĐTTT tự kiểm soát tốc

độ học, công cụ học tập, địa điểm học cũng như khối lượng kiến thức mà họ muốn thu nhận, họ được tự mình quyết định cách thức thu nhận kiến thức, kĩ năng và khả năng phù hợp với phong cách học của chính mình; ĐTTT là loại hình đào tạo hiệu quả, cho phép học viên tương tác với công cụ học tập để có thể ghi nhớ được tối đa khối lượng kiến thức đã học được[39], [45], [30]

Với những đặc điểm của ĐTTT mà các tác giả đưa ra như trên, có thể thấy những điểm khác biệt giữa hình thức đào tạo truyền thống và ĐTTT thể hiện trong bảng dưới đây:

Bảng 2.1: Một số điểm khác biệt giữa đào tạo truyền thống và đào tạo trực tuyến

Đặc điểm Đào tạo truyền thống Đào tạo trực tuyến

Trang 40

và sử dụng đa dạng phong phú, có thể đáp ứng cho nhiều đối tượng

 Nội dung giảng dạy nhất quán và được kiểm duyệt trước cho tất cả học viên

 Khó kiểm soát nội dung giảng dạy trên lớp

 Người học chủ động nội dung học tập,

có thể học nội dung mình muốn, học lại nhiều lần

 Khả năng tích hợp nhiều ứng dụng tiện ích hỗ trợ học tập kết hợp (từ điển, tài liệu tham khảo, phần mềm, thiết bị audio, video, các công cụ tìm kiếm…)

 Khả năng sử dụng trên các thiết bị nối mạng (máy tính, thiết bị di động thông minh)

 Nội dung giảng dạy được kiểm soát và công khai trên lớp

 Giới hạn người tham gia

 Giới hạn về thời gian, địa điểm

 Hạn chế khả năng ghi nhận, người không tham dự sẽ không nắm được thông tin

 Trao đổi thảo luận trực tuyến (đồng bộ) chịu ảnh hưởng bởi yếu tố đường truyền và thiết bị của người dạy và người học

 Trao đổi thảo luận (không đồng bộ) hạn chế về khả năng phản hồi ngay

 Trao đổi thảo luận (không đồng bộ) không giới hạn số người tham gia

 Không giới hạn về thời gian, vị trí địa

lý của những người tham gia

 Chủ đề đa dạng, thay đổi linh hoạt, người học chủ động

 Nội dung trao đổi thảo luận được kiểm soát, ghi nhận lại, người không tham dự

có thể theo dõi được

 Học viên dễ dàng theo dõi tiến độ học tập của mình

 Giảng viên có thể dễ dàng theo dõi kết quả học tập của từng học viên

 Giới hạn về số lượng bài tập

 Bài tập tự đánh giá của học viên phụ thuộc vào sự phản hồi của giảng viên nhanh hay chậm

 Kỹ năng thực hành khó đáp ứng tốt như khi tập trung

 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm cho phép không giới hạn số lượng bài tập

 Hỗ trợ phản hồi ngay kết quả tự động trên hệ thống công nghệ

2.1.2.2 Một số mô hình tổ chức đào tạo trực tuyến

Như đã đưa ra khái niệm ở trên, ĐTTT là quá trình đào tạo sử dụng các phương tiện điện tử, CNTT và truyền thông Đó là một cách hiểu chung nhất, tuy nhiên tùy theo cách thức, mức độ ứng dụng CNTT mà việc áp dụng ĐTTT cũng có nhiều hình thức khác nhau

Theo bộ tài liệu nghiên cứu về “Đảm bảo chất lượng trong đào tạo trực tuyến” của Trung tâm nghiên cứu giáo dục đại học Melbourne tại trường đại học

Ngày đăng: 18/01/2019, 16:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w