Trên cơ sở lý luận, thực hiện các chủ trương của Đảng đề ra và xuất phát từnhu cầu thực tiễn về trợ cấp của ngành sản xuất trong nước cũng như thực trạngchính sách pháp luật về trợ cấp c
Trang 1NGUYỄN QUỲNH TRANG
PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN THEO QUY ĐỊNH CỦA
WTO – BÀI HỌC VỚI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI NGUYỄN QUỲNH TRANG
PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN THEO QUY ĐỊNH CỦA WTO –
BÀI HỌC VỚI VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận án được tham khảo từ các nguồn chính thức, đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận của luận án đều mang tính mới và chưa công bố ở các công trình khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
NGUYỄN QUỲNH TRANG
Trang 5D ácMO
BảnNX
NhàOE
T
ổ SC
HiệpS
&
ĐặcSP
BiệnTM
ThTRIP
Hiệ
p T
R HiệpV
A ThuV
D NgâV
ie NgâU
S HoaW
T Tổ
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1
6 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 6
1.1 Tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 7
1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 9
1.2.1 Đánh giá nghiên cứu về một số vấn đề lý luận pháp luật cơ bản của WTO về trợ cấp 9
1.2.2 Đánh giá những kết quả nghiên cứu về quy định của WTO về trợ cấp 12
1.2.3 Đánh giá nghiên cứu về pháp luật về trợ cấp của một số nước thành viên WTO và bài học kinh nghiệm với Việt Nam 15
1.3 Đề xuất hướng nghiên cứu của luận án 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22
CHƯƠNG 2 23
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT CƠ BẢN CỦA WTO VỀ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 23
2.1 Khái quát chung pháp luật WTO về trợ cấp 23
2.1.1 Sự hình thành và phát triển pháp luật WTO về trợ cấp 23
2.1.2 Nguồn của pháp luật WTO về trợ cấp 24
2.2 Các luận điểm kinh tế học về áp dụng và duy trì trợ cấp
30 2.2.1 Bản chất của trợ cấp 31
2.2.2 Tác động của trợ cấp đối với nước đang phát triển 35
2.3 Quan điểm của WTO về đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D) 37
2.3.1 Xác định và phân loại nước đang phát triển trong WTO 37
2.3.2 Nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt của WTO về trợ cấp 39
2.4 Quan điểm của WTO về trợ cấp và các biện pháp đối kháng trợ cấp đối với các nước đang phát triển 45
2.4.1 Quan điểm của WTO về trợ cấp 45
2.4.2 Quan điểm của WTO về các biện pháp đối kháng trợ cấp 62
2.4.3 Cơ chế giải quyết tranh chấp về trợ cấp 63
Trang 72.5 Mối quan hệ giữa pháp luật WTO về trợ cấp và các nguồn pháp luật liên
quan khác
65 2.5.1 Pháp luật WTO về trợ cấp và các FTAs
65 2.5.2 Pháp luật WTO về trợ cấp và pháp luật quốc gia
67 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3 69
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT WTO VỀ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI NƯỚC ĐANG TRIỂN VÀ THỰC TIỄN PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN VỀ TRỢ CẤP
69 3.1 Thực tiễn pháp luật WTO về trợ cấp đối với nước đang phát triển 69
3.1.1 Xác định sự tồn tại của trợ cấp và biên độ trợ cấp 69
3.1.2 Xác định thiệt hại (injury) do trợ cấp gây ra 74
3.1.3 Áp dụng biện pháp chống trợ cấp đối với nước đang phát triển 76
3.2 Thực tiễn pháp luật về trợ cấp của một số thành viên WTO 80
3.2.1 Thực tiễn pháp luật về trợ cấp của Trung Quốc 82
3.2.2 Thực tiễn pháp luật về trợ cấp của Braxin 94
3.2.3 Thực tiễn pháp luật về trợ cấp của Hoa Kỳ 100
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 108
CHƯƠNG 4 109
BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP CỦA VIỆT NAM
109 4.1 Thực trạng pháp luật về trợ cấp của Việt Nam 109
4.1.1 Cam kết của Việt Nam về trợ cấp 109
4.1.2 Pháp luật về đóng góp tài chính của chính phủ 110
4.1.3 Pháp luật về chống trợ cấp sau khi gia nhập WTO 122
4.1.4 Đánh giá tính tương thích với Hiệp định SCM 123
4.1.5 Thực tiễn tranh chấp về trợ cấp đối với hàng hoá Việt Nam 126
4.2 Bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng pháp luật về trợ cấp của Việt Nam trong giai đoạn mới 133
4.2.1 Tuân thủ quy định về trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hoá 133
4.2.2 Áp dụng và duy trì hỗ trợ trong nước cho nông nghiệp 136
4.2.3 Áp dụng các biện pháp đóng góp tài chính phù hợp 137
Trang 84.2.4 Áp dụng trợ cấp có mục tiêu 139
Trang 94.2.5 Đáp ứng nguyên tắc minh bạch 141
4.2.6 Xây dựng pháp luật chống trợ cấp hiệu quả 142
4.3 Đề xuất một số giải pháp trong hoàn thiện pháp luật về trợ cấp của Việt Nam 143
4.3.1 Nhóm giải pháp nhằm tăng tính định hướng cho trợ cấp 143
4.3.2 Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường tính hiệu quả của pháp luật về trợ cấp
145 4.3.3 Những vấn đề về trợ cấp mà Việt Nam cần quan tâm khi tham gia các thoả thuận thương mại tự do 149
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 152
KẾT LUẬN CHUNG CỦA LUẬN ÁN 153
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 157
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong xu hướng thương mại tự do, thành viên WTO phải giảm dần và tiến tớixoá bỏ các biện pháp can thiệp của Chính phủ theo hướng hạn chế thương mại vàcông bằng Theo đó, trợ cấp từ Chính phủ cho sản xuất trong nước phải được cắtgiảm và tiến tới xoá bỏ Tư tưởng này được thể hiện thống nhất trong nhiều Hiệpđịnh của WTO và có giá trị bắt buộc với tất cả các thành viên của tổ chức Tuynhiên, đối với các thành viên đang phát triển, thương mại tự do có thể mang lạinhiều thách thức và khó khăn to lớn có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngànhsản xuất trong nước, nền kinh tế của quốc gia Loại bỏ hoàn toàn trợ cấp, sản phẩm,doanh nghiệp của các nước đang phát triển sẽ rất khó khăn trong việc cạnh tranh vớisản phẩm, doanh nghiệp của các nước phát triển Chính các thành viên WTO cũngthừa nhận đối với các nước đang có một nền kinh tế chỉ đủ khả năng đảm bảo mộtmức sống thấp và đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển có thể cần có cácbiện pháp bảo hộ hay các biện pháp tác động đến nhập khẩu và chừng nào việc thựchiện các mục tiêu phát triển kinh tế nhờ đó có thêm thuận lợi thì việc áp dụng cácbiện pháp như vậy còn là đúng đắn Và trợ cấp cũng được các thành viên WTO thừanhận đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các nước đang phát triển
Đối với Việt Nam, tại Nghị quyết 08//NQ-TW ngày 05/02/2007 của Banchấp hành Trung ương Đảng khoá X “Về một số chủ trương, chính sách lớn để nềnkinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức
Thương mại thế giới”, bên cạnh những cơ hội “mở rộng thị trường xuất khẩu”,
“thúc đẩy nền kinh tế phát triển”, “nâng cao vị thế quốc gia” Nghị quyết đã chỉ ra
nhiều thách thức “các sản phẩm và doanh nghiệp của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh
với sản phẩm và doanh nghiệp nước ngoài không chỉ trên thị trường thế giới mà ngay trên thị trường trong nước”, “một bộ phận doanh nghiệp có thể bị phá sản, thất nghiệp có thể tăng lên”… Đứng trước những thách thức, khó khăn mà một nền
kinh tế đang phát triển, một nền kinh tế dễ bị tổn thương, có thể phải đối mặt, Nghịquyết 22/NQ-TW ngày 10/4/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về
“Hội nhập quốc tế” đã đưa ra định hướng: “Chủ động xây dựng và thực hiện các
biện pháp bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước” Chính phủ có thể bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp bằng cách kết
hợp nhiều biện pháp khác nhau như áp dụng biện pháp thuế quan, biện pháp phithuế quan và trợ cấp Song bảo vệ lợi ích doanh nghiệp thông qua các chương trìnhtrình trợ cấp là biện pháp hiệu quả hơn cả,
Trang 11có thể đạt được các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn Chủ trương “loại bỏ các hình
thức trợ cấp theo lộ trình cam kết; bổ sung những hình thức trợ cấp phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới” cũng được đặt ra trong Nghị quyết
08//NQ-TW
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được
đánh giá “chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính
bền vững của sự phát triển kinh tế” Chính sách pháp luật về trợ cấp của Việt Nam
chưa thực sự hiệu quả, chưa tạo được động lực cho ngành sản xuất trong nước pháttriển Thậm chí nhiều doanh nghiệp không thể tiếp cận các biện pháp trợ cấp củaChính phủ Trong khi đó, thực tiễn tranh chấp về chống trợ cấp trước WTO chothấy, trợ cấp được áp dụng ở tất cả các nước thành viên, từ các nước đang pháttriểnđến thành viên phát triển Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt vàphức tạp, nhu cầu được trợ cấp của các ngành sản xuất trong nước là rất lớn Xâydựng chính sách pháp luật về trợ cấp quốc gia phù hợp nhằm mục đích bảo vệ, nângcao năng lực cạnh tranh cho các ngành công nghiệp non trẻ, ngành công nghiệpchiến lược mà vẫn đảm bảo mục tiêu thương mại tự do là một thách thức với Chínhphủ Việt Nam
Gia nhập WTO vào ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thànhviên thứ 150 và có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một thành viên đang phát triển.Việt Nam có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của WTO về cắt giảm trợ cấp và cũng
có quyền hưởng quy chế đối xử đặc biệt và khác biệt trong các quy định về trợ cấpdành cho các nước đang phát triển Vì vậy, nghiên cứu pháp luật WTO về trợ cấpmột cách toàn diện để thực hiện đúng các nghĩa vụ cũng như tận dụng tất cả cácquyền lợi từ tổ chức thương mại tự do đông thành viên nhất nhằm xây dựng chínhsách pháp luật trợ cấp quốc gia hiệu quả, tạo động lực cho phát triển kinh tế là nhucầu tất yếu của tất cả các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng
Trên cơ sở lý luận, thực hiện các chủ trương của Đảng đề ra và xuất phát từnhu cầu thực tiễn về trợ cấp của ngành sản xuất trong nước cũng như thực trạngchính sách pháp luật về trợ cấp của Việt Nam cho thấy việc nghiên cứu đề tài
“Pháp luật về trợ cấp đối với các nước đang phát triển theo quy định của WTO – Bài học với Việt Nam” có tính cấp thiết cao cả về lý luận và thực tiễn.
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề: quan điểm của WTO
về trợ cấp và việc áp dụng pháp luật về trợ cấp đối với các thành viên đang pháttriển; các quan điểm, tư tưởng về bản chất và tác động của trợ cấp đến thương mạiquốc tế;
Trang 12các quy định hiện hành về trợ cấp của WTO đối với các thành viên đang phát triển;pháp luật về trợ cấp của Trung Quốc, Braxin và Hoa kỳ; cam kết và thực trạng phápluật về trợ cấp của Việt Nam
Khi nghiên cứu về “pháp luật về trợ cấp”, nội dung nghiên cứu sẽ bao gồm haivấn đề: pháp luật về trợ cấp của chính phủ cho ngành sản xuất trong nước và phápluật về chống trợ cấp đối với hàng hoá nhập khẩu được trợ cấp Đây là nội dungnghiên cứu khá đồ sộ Luận án tập trung vào nghiên cứu pháp luật về trợ cấp củachính phủ cho ngành sản xuất trong nước nhằm mục đích kiến nghị xây dựng vàhoàn thiện pháp luật về trợ cấp của Việt Nam trong xu hướng chính phủ đồng hànhcùng doanh nghiệp, trợ cấp có mục tiêu cho những ngành công nghiệp mũi nhọncũng như những doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ tổn thươngtrong cạnh tranh thương mại quốc tế Nghiên cứu pháp luật về chống trợ cấp cũng lànội dung quan trọng, song trong khuôn khổ một luận án, nghiên cứu sinh thực hiệnnghiên cứu pháp luật về chống trợ cấp đối với hàng nhập khẩu có trợ cấp nhằm mụcđích làm rõ hơn một khoản trợ cấp không phù hợp có thể bị đối kháng như thế nàotrong WTO Các nghiên cứu chuyên sâu hơn về pháp luật chống trợ cấp sẽ đượcdành vào những cứu sau luận án
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả có nêu các loại nguồn phápluật WTO, song tác giả chỉ tập trung phân tích các quy định hiện hành của WTO vềtrợ cấp được thể hiện trong các Hiệp định và thoả thuận giữa các thành viên Bởiđây là nguồn luật đầu tiên và quan trọng nhất của pháp luật WTO về trợ cấp được
áp dụng để soi chiếu khi một biện pháp trợ cấp bị khởi kiện ra trước cơ quan giảiquyết tranh chấp của WTO Luận án cũng sử dụng các án lệ nhằm mục đích làm rõhơn các quy định hiện hành của WTO và không nghiên cứu sâu sắc từng án lệ Cácnguồn luật khác của WTO sẽ không được nghiên cứu tại luận án
Luận án cũng tập trung vào phân tích pháp luật về trợ cấp của Trung Quốc,Braxin và Hoa Kỳ Lý do lựa chọn ba thành viên này bởi Trung Quốc và Braxin đều
là nước đang phát triển ở khu vực Châu Á và Châu Mỹ Latinh Trung Quốc đại diệncho các thành viên có nền kinh tế chuyển đổi, việc nghiên cứu cam kết, chính sáchpháp luật về trợ cấp của Trung Quốc cho chúng ta những bài học về việc xoá bỏ hayvận dụng trợ cấp ở một nước mà các doanh nghiệp đã từng phụ thuộc lớn vào nhànước Braxin đại diện cho các nước đang phát triển gia nhập WTO từ giai đoạn đầu
và đạt được những thành tựu phát triển mạnh mẽ Hoa Kỳ đại diện cho những nềnkinh tế lớn, là nước nhập khẩu và áp dụng nhiều biện pháp đối kháng trợ cấp Cả 03nước được lựa chọn đều có thực tiễn tranh chấp về trợ cấp tại WTO khá đa dạng
Trang 13Chính vì vậy việc lựa chọn Trung Quốc, Braxin và Hoa Kỳ sẽ giúp luận án tập trungvào phân tích cụ thể những kinh nghiệm cần học tập trong việc xây dựng và hoànthiện chính sách pháp luật về trợ cấp của Việt Nam hướng đến mục đích phát triểnkinh tế.
3 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, luận án sử dụng kết hợp nhiều phươngpháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: (1) Phương pháp tổng hợp và phân tích làphương pháp chủ đạo được sử dụng trong nhiều nội dung nghiên cứu của luận án:được áp dụng khi đánh giá các công trình nghiên cứu nghiên cứu về trợ cấp, khinghiên cứu các tranh chấp thực tiễn về trợ cấp trong WTO và tại một số nước thànhviên, cam kết về trợ cấp của Việt Nam và nhiều nội dung khác; (2) Phương phápthống kê được áp dụng khi nghiên cứu thực tiễn tham gia tranh chấp về trợ cấp củacác thành viên được lựa chọn, nghiên cứu các số liệu thực tiễn về trợ cấp; (3)Phương pháp so sánh và đối chiếu được áp dụng khi nghiên cứu pháp luật về trợ cấpcủa các nước thành viên đặt trong mối quan hệ với các quy định về trợ cấp củaWTO Các phương pháp nghiên cứu được thực hiện trên nền tảng của phương phápduy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, trên cơ sở quan điểm,đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.Trong đó, cách tiếp cận kết hợp lý luận và thực tiễn được sử dụng xuyên suốt trongluận án, nhất là với các nội dung nghiên cứu về quy định của WTO về khái niệmtrợ cấp, khái niệm lợi ích, biên độ trợ cấp, thuế chống trợ cấp, các ưu đãi đặc biệt vàkhác biệt dành cho các nước đang phát triển Luận án cũng sử dụng phương phápcase study để nghiên cứu thực tiễn tranh chấp về trợ cấp
4 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận án được xác định là nghiên cứu và làm rõ các cơ sở lý luận
và thực tiễn về việc thực hiện các quy định về trợ cấp của WTO áp dụng đối vớiViệt Nam với tư cách là nước đang phát triển một cách hệ thống và toàn diện
Để thực hiện mục đích trên, luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận, nội dung các quy định về trợcấp của WTO áp dụng đối với các thành viên đang phát triển;
- Phân tích và làm rõ những quan điểm, xu hướng về việc áp dụng và duytrì trợ cấp tại các nước đang phát triển;
- Phân tích và đánh giá cam kết, chính sách pháp luật về trợ cấp của TrungQuốc, Braxin và Hoa Kỳ; đồng thời phân tích thực tiễn một số tranh chấp về trợ cấpliên quan đến các thành viên này để làm rõ hơn sự tương thích giữa pháp luật quốc
Trang 14gia về trợ cấp và các quy định về trợ cấp của WTO;
- Phân tích và đánh giá thực trạng chính sách pháp luật về trợ cấp của ViệtNam qua từng thời kỳ, trong đó tập trung vào các chính sách pháp luật hiện hành;
- Phân tích các bài học kinh nghiệm được rút ra từ những nghiên cứu trêntrong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật quốc gia về trợ cấp tại ViệtNam;
- Đề xuất những kiến nghị cụ thể trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật
về trợ cấp của Việt Nam nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh cho sảnphẩm, doanh nghiệp Việt Nam từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển
Những kết quả nghiên cứu mới của luận án
Luận án có những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn như sau:
- Góp phần làm rõ các vấn đề lý luận về trợ cấp của WTO, trong đó luận án
đã phân tích, đánh giá chi tiết từng yếu tố cấu thành trợ cấp, và các quan điểm, tưtưởng áp dụng, duy trì trợ cấp theo các trường phái khác nhau;
- Góp phần làm rõ các quy định đối xử đặc biệt về trợ cấp của WTO dànhcho các nước đang phát triển, cũng như quá trình và xu hướng phát triển của các quyđịnh đó;
- Phân tích và rút ra những bài học sâu sắc và đưa ra những kiến nghị tronghoàn thiện pháp luật quốc gia về trợ cấp hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực cạnhtranh cho sản phẩm và doanh nghiệp Việt Nam;
- Phân tích và đưa ra những kiến nghị phù hợp cho doanh nghiệp Việt Namtrong việc tiếp cận và tận dụng lợi thế từ pháp luật về trợ cấp của Việt Nam;
- Phân tích và đưa ra những kiến nghị phù hợp để Việt Nam hội nhập mộtcách chủ động và hiệu quả hơn trong vấn đề trợ cấp
5 Kết cấu của luận án
Luận án bao gồm phần mở đầu, nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phần phụ lục Nội dung luận án được bố cục thành bốn chương, có kếtluận của từng chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật cơ bản của WTO về trợ cấp đối với
các nước đang phát triển
Chương 3: Thực tiễn pháp luật WTO về trợ cấp đối với nước đang phát triển
và thực tiễn pháp luật các nước thành viên về trợ cấp
Chương 4: Bài học kinh nghiệm và những giải pháp trong hoàn thiện pháp
luật
về trợ cấp của Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1 Tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Hiện nay, pháp luật của WTO về trợ cấp áp dụng cho các nước đang pháttriển có liên hệ cụ thể với trường hợp Việt Nam chưa được nghiên cứu nhiều ở cácnước Điển hình nhất phải kể đến Luận án tiến sỹ Luật học của Nghiên cứu sinh BuiNgoc Anh (2007) tại Georgetown University Law Center với đề tài “WTO laws onsubsidies and the accession and participation of transition economies: Vietnam’scase study” Song ở các nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật củaWTO về trợ cấp nói chung, trong đó các quy định áp dụng cho nước nước đang pháttriển chiếm một phần trong nghiên cứu Có thể kể đến một số sách chuyên khảo,giáo trình điển hình: (i) George A Berman, Petros C Mavroisid (2007), “WTO Law
and Developing Countries”, Cambridge Universiry Press, New York; (ii) Marc
Benitah (2001), “The law of subsidies under the GATT/WTO system”, The HagueKluwell Law International, Hague; (iii) Melaku Geboye Desta (2002),“The law ofinternational trade in agricultural products : from GATT 1947 to the WTOagreement on agriculture”, Kluwer Law International; (iv) Mitsuo Matsushita,Dukgeun Ahn, Tain- Jy Chen (2007), “The WTO trade remedy system: East Asianperspectives”, Cameron May, United Kingdom; (v) Peter Van Den Bossche (2009),The Law and Policy of the World Trade Organization, Cambrigde UniversityExpress, United Kingdom; (vi) Gustavo E Luenco, Herrianclez de Madrid (2006),
“Regulation of subsidies and state Aids in WTO and EC law”, Kluwer LawInternational, Spain; (vii) Raj Bhala (2001), Luật thương mại quốc tế: Những vấn đề
lý luận và thực tiễn, Bản dịch, NXB Tư pháp, Hà Nội; v.v…
Bên cạnh đó, nhiều tài liệu điện tử, các bài nghiên cứu liên quan đến phápluật của WTO về trợ cấp áp dụng cho các nước thành viên nói chung và thành viênđang phát triển Cụ thể có thể kể đến: tài liệu “Dispute Settlement – World TradeOrganization – 3.7 Subsidies and Countervailing Measures” được sử dụng tại khoáhọc “Dispute Settlement in International Trade, Investment and IntellectualProperty” của Liên hợp quốc (2003); tài liệu“Export Promotion and The WTO: Abrief guide”, của International Trade Center (2009); bài nghiên cứu “CurrentDevelopments under
the WTO Agreement on Subsidies and Countervailing Measuresas an Example for
Trang 16the Functional Unityof Domestic and International Trade Law” của nhóm tác giảChristian Tietje/Gerhard Kraft/Rolf Sethe (2004); bài nghiên cứu “A CommitmentTheory of Subsidy Agreements” của tác giả Daniel Brou, Michele Ruta (2012); bàinghiên cứu “The Definition of Export Subsidies and the Agreement on Agriculture”của tác giả Isabelle Schluep và Harry de Gorter (2000); bài nghiên cứu
“Commitments under the WTO agreement on Agriculture and the Doha draftmodalities: “How do they compare to current policy?” của tác giả Lars Brink
(2/2014); báo cáo “Differentiation between Developing Countries in the WTO” của
nhóm tác giả Jonas Kasteng, Arne Karlsson, Carina Lindberg (2004)…
Nhóm tài liệu điện tử, bài nghiên cứu về pháp luật về trợ cấp của các nướcthành viên có thể kể đến tài liệu “China’s steel industry: Dealing with growth,consolidation and rationalization” của China charmber of commerce of metals,minerals, chemicals importers and exporters (5/2007); bài nghiên cứu “China's PureExporter Subsidies” của Fabrice Defever and Alejandro Riano (2012); bài nghiêncứu “Estimates of energy subsidies in China and Impact of Energy reform” của tácgiả Lin, B., and Z.Jiang (2011); “Dumping and subsidies: The law and proceduresgoverning the imposition of anti-dumping and countervailing duties in the EuropeanCommunity” của nhóm tác giả Clive Standbrook, Philip Bentley (1996); bài nghiêncứu “Effects of Trade Liberalization on Agriculture in Thailand: Institutional andStructural Aspects” của tác giả Kajonwan Itharattana (1/1999); bài nghiên cứu
“Trade Remedies: Laws on dumping, subsidies and safeguards in China”, của tác giảThomas Weishing Huang (2003); báo cáo “Analysis of China’s Commitment toother members”của US Genaral Accounting Office (2002); bài nghiên cứu
“Subsidies to Chinese Industry: State capitalism, Bussiness Strategy and TradePolicy” của nhóm tác giả Usha C.V Haley và Geogre T Haley (2013) và cáccông trình nghiên cứu
khác
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trước và sau khi gia nhập WTO, ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu liên quanđến pháp luật của WTO về trợ cấp áp dụng cho các nước phát triển và những bài họcrút ra cho Việt Nam ở nhiều mức độ khác nhau Điển hình nhất là TS Phạm QuangMinh (2012) trong luận án “Xây dựng pháp luật trợ cấp nông nghiệp Việt Nam theocác quy định của tổ chức TMTG (WTO)” Bên cạnh đó, luận án tiến sỹ có một phầnliên quan đến pháp luật về trợ cấp như TS Nguyễn Thu Hương (2017) trong luận án
Trang 17“Các biện pháp phòng vệ thương mại theo Hiệp định thương mại tự do” Ngoài ra,các luận văn thạc sỹ Luật học cũng nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, có thể kểđến: học viên cao học Đỗ Hồng Quyên (2009) với đề tài “Pháp luật về trợ cấp củaViệt Nam khi là thành viên tổ chức thương mại thế giới”; La Văn Thái (2013),
“Pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam - Những vấn đề
lý luận và thực tiễn”; Nguyễn Quang Hương Trà (2007), “Pháp luật về chống trợcấp trong thương mại hàng hoá khi Việt Nam là thành viên tổ chức thương mại thếgiới”; Vũ Thu Trang (2012), “Pháp luật về cơ quan quản lý cạnh tranh, chống bánphá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”…Đối với giáo trình nghiên cứu liên quan pháp luật WTO về trợ cấp áp dụng chonước đang phát triển có thể kể đến: các giáo trình Luật thương mại quốc tế đượcgiảng dạy tại các trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia và các
cơ sở đào tạo khác Nhóm sách tham khảo có thể kể đến: Trường Đại học Cần Thơ(2010), Tóm tắt những vụ tranh chấp điển hình của WTO – Báo cáo của Ban Hộithẩm và Cơ quan phúc thẩm từ năm 1995-2010
Có nhiều bài viết nghiên cứu liên quan pháp luật WTO về trợ cấp áp dụng chothành viên đang phát triển, có thể kể đến: Nông Quốc Bình (2011), “Pháp luật về trợcấp trong Thương mại quốc tế lý luận và thực tiễn”, Đề tài khoa học cấp trường, Đạihọc Luật Hà Nội, Hà Nội; Hoàng Thị Thu Hiền (2016), “Luật thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu 2016: Những đổi mới quan trọng theo yêu cầu hội nhập”; Phạm QuangMinh (9/2012), “Trợ cấp nông nghiệp trong tổ chức TMTG và vấn đề áp dụng chínhsách pháp luật trợ cấp nông nghiệp tại Hoa kỳ và Liên minh châu Âu”; MontagueLord, Nguyễn Trường Sơn (9/2005), “Việt Nam gia nhập WTO: phân tích thuếquan, ngành và trợ cấp – Quyển 2: Trợ cấp và gia nhập WTO: tính tuân thủ quy địnhWTO và tác động về mặt chính sách đối với Việt Nam”; Dương Đình Giám (2017),
“Công nghiệp Việt nam, một số kiến nghị về chính sách phát triển đến năm 2025 vàtầm nhìn đến năm 2035”, Vũ Thành Tự An (2017), “Xác định các ngành côngnghiệp ưu tiên trong chính sách công nghiệp quốc gia” và nhiều công trình nghiêncứu khác
Trang 181.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
1.2.1 Đánh giá nghiên cứu về một số vấn đề lý luận pháp luật cơ bản của WTO về trợ cấp
Nhìn chung các công trình đều tiếp cận nghiên cứu một số vấn đề lý luậnpháp luật cơ bản của WTO về trợ cấp ở nhiều cấp độ khác nhau:
Về lịch sử phát triển, nguồn gốc của các quy định về trợ cấp của WTO:
Nhóm tác giả Gustavo E Luenco, Herrianclez de Madrid (2006) đã dành chương 3
để nghiên cứu khá chi tiết nguồn gốc của các quy định trợ cấp trong WTO, từ khibắt đầu là bản dự thảo trong Hiến chương Havana, sau đó là GATT 1947, bộ quy tắctrợ cấp đưa ra tại vòng đàm phán Tokyo 1979 cho đến các quy định hiện hành, Hiệpđịnh SCM trong
vòng đàm phán Uruguay 73, tr 35-96 Tác giả Peter Van Den Bossche (2008) cũng nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật WTO về trợ cấp
94, tr
557, 558
Về khái niệm trợ cấp: Trong các nghiên cứu nước ngoài, khái niệm trợ cấp
của WTO đã được phân tích ở mức độ chuyên sâu, các tác giả đã đưa ra những phântích chi tiết đối với từng yếu tố cấu thành trợ cấp Tác giả Melaku Geboye Desta(2002) đã phân tích khái niệm trợ cấp trên hai yếu tố cấu thành: sự đóng góp tàichính và lợi ích cho người hưởng trợ cấp Nhiều nhà nghiên cứu khác phân tích, trợcấp được cấu thành từ bốn yếu tố cơ bản Điều này đã được thể hiện tại các nghiêncứu của Peter Van Den Bossche (2009), Bui Ngoc Anh (4/2007), Thomas WeishingGuang (2003), Gustavo E Luenco, Herrianclez de Madrid (2006), và hầu hết cácnghiên cứu khác Theo đó, trợ cấp theo quan điểm của WTO có bốn yếu tố cấuthành: là một khoản đóng góp tài chính, do Chính phủ hoặc cơ quan công quyềnthực hiện, mang lại lợi ích cho người hưởng trợ cấp và mang tính đặc thù Mỗi tácgiả có thể có những quan điểm phân tích khác nhau về các yếu tố xác định trợ cấp.Theo Thomas Weishing Guang (2003), trợ cấp không nhất thiết phải do Chính phủhay chủ thể công nằm trên lãnh thổ Chính phủ đó thực hiện, mà có thể do một tổchức tư nhân hoặc một quỹ tài
chính được Chính phủ hoặc cơ quan công quyền giao trách nhiệm hoặc chỉ đạo.
Trang 19vấn đề gây nhiều tranh cãi Hay như nhóm tác giả Gustavo E Luenco, Herrianclez de
Trang 20Madrid (2006) đã dành một phần lớn trong chương IV của cuốn “Regulation ofsubsidies and state Aids in WTO and EC law” để phân tích, dẫn chiếu các tranh chấpliên quan đến các yếu tố cấu thành trợ cấp
Trong các nghiên cứu ở Việt Nam, hầu hết các tài liệu chưa nghiên cứu sâukhái niệm trợ cấp Đối với các tài liệu nghiên cứu ở trình độ cơ bản như giáo trình,các trang thông tin điện tử, do đối tượng người đọc là những người chưa có hiểu biết
về WTO cũng như trợ cấp nên khái niệm trợ cấp được đề cập ở mức độ cung cấpthông tin Khái niệm trợ cấp trong các tài liệu này thường bao gồm một định nghĩagiản lược hoặc dẫn lại khái niệm trợ cấp tại Điều 1 - Hiệp định SCM Điều này cóthể thấy tại giáo trình Luật thương mại quốc tế của Đại học Luật Hà Nội, giáo trìnhLuật thương mại quốc tế của khoa luật Đại học quốc gia hay giáo trình song ngữLuật thương mại và kinh doanh quốc tế Đối với các tài liệu nghiên cứu về trợ cấp ởmức độ chuyên sâu hơn, như luận văn cao học, luận án tiến sỹ, đề tài nghiên cứukhoa học… các tác giả cũng đã phân tích khái niệm trợ cấp Theo Phạm QuangMinh (2012), “Xây dựng pháp luật trợ cấp nông nghiệp Việt Nam theo các quy địnhcủa tổ chức thương mại thế giới”, khái niệm trợ cấp nông nghiệp đã được đề cậpnhưng chưa
phân tích chi tiết các yếu tố cấu thành trợ cấp 18, tr 28 Trong một chuyên đềnghiên
cứu sau này, tác giả Đỗ Hồng Quyên (2011) đã tiếp cận khái niệm trợ cấp ở mức độsâu hơn Tác giả đã phân tích ba yếu tố cấu thành trợ cấp: đóng góp tài chính, từChính phủ và mang lại lợi ích cho người hưởng trợ cấp 27, tr 67-71 Tác giảNguyễn Quỳnh
Trang (2012), cũng đưa ra ba yếu tố của khái niệm trợ cấp theo quan điểm của WTO
ở mức cơ bản 27, tr
134
Về bản chất và tác động kinh tế của trợ cấp: Dưới góc độ kinh tế học, các
nghiên cứu phân tích bản chất kinh tế và tác động của trợ cấp ở các mức độ khácnhau và với mỗi nghiên cứu đều đưa ra kết quả nhất định Có thể nói đến nghiêncứu của
nhóm tác giả Malcom Bosworth, Đỗ Trọng Khanh (2005) 23, tr 70-81 Nghiêncứu
đã hướng đến việc phân tích lợi thế kinh tế của trợ cấp so với thuế quan, đánh giátính
hiệu quả tương đối của hoạt động trợ cấp, đánh giá hệ số bảo hộ hiệu quả và đưa ranguyên tắc hướng dẫn đánh giá tác động của trợ cấp Trong đó, các tác giả tập trungchủ yếu vào nội dung cuối cùng là nguyên tắc hướng dẫn đánh giá tác động của trợ.Nhóm tác giả Gustavo E Luenco, Herrianclez de Madrid (2006) đã dành chương 2
Trang 21hợp nào những tác động này là tiêu cực 74, tr 20-30 Tác giả Bùi Ngọc Anh(2007)
Trang 22mở đầu cho một cuốn sách về luật WTO Do đó, phần nghiên cứu đưa ra khá ngắngọn, cơ bản và tác giả tập trung đưa ra những luận điểm về mối quan hệ xung độtcủa luật WTO nói chung mà chưa đưa ra những phân tích riêng về mối quan hệxung đột của luật WTO về trợ cấp với các nguồn luật trợ cấp khác Cùng hướng với
xu hướng nghiên cứu về pháp luật WTO nói chung, tác giả Raj Bhala (2001) cũngdành một phần nhỏ trong chương IV để nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ chếGATT-WTO
và pháp luật của Hoa kỳ 30, tr 176-184 Tác giả đã phân tích mối quan hệ giữacơ
chế GATT – WTO với pháp luật liên bang của Hoa kỳ và với pháp luật từng bangcủa
Hoa kỳ
Xu hướng thứ hai, nghiên cứu nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ xung độtcủa pháp luật trợ cấp, có thể kể đến các tác giả Gustavo E Luenco, Herrianclez deMadrid (2006) trong nghiên cứu “Quy định về trợ cấp và hỗ trợ nhà nước theo luậtWTO và luật Cộng đồng Châu Âu – Xung đột luật quốc tế” 74 Tác giả đã đưara
các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các quy định về trợ cấp của WTO và Bộ quytắc
Trang 23nước của Cộng đồng Châu Âu và Hiệp định SCM, và AOA.
Trang 241.2.2 Đánh giá những kết quả nghiên cứu về quy định của WTO về trợ cấp
Nhìn chung, các quy định của WTO về trợ cấp là nội dung cơ bản trongnhững nghiên cứu về vấn đề trợ cấp nói chung với nhiều mức tiếp cận và phươngpháp tiếp cận khác nhau:
Về các quy định về trợ cấp thời kỳ GATT 1947: quy định về trợ cấp thời kỳ
GATT 1947 không được nghiên cứu phổ biến ở nhóm tài liệu trong nước, tuy nhiên
có thể nhận thấy trong các tài liệu nước ngoài Tác giả Melaku Geboye Desta (2002)
đã nghiên cứu các quy định về trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nước đối với sảnphẩm nông nghiệp dưới thời kỳ ITO-GATT 1947 cũng như các quy định sửa đổiGATT vào năm 1955 và Đạo luật trợ cấp 1979 Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu củaMelaku Geboye Desta không bao hàm tất cả các quy định trợ cấp trong thời kỳ này
mà tập trung nghiên cứu các quy định về trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nước đốivới sản phẩm nông nghiệp Tác giả Gustavo E Luengo Hernandez de Madrid (2006)
đã đưa ra một nghiên cứu về các quy định trợ cấp dưới thời kỳ GATT với nội dungrộng hơn so với nghiên cứu trên Cụ thể tại chương 3 của nghiên cứu, 74, tr 35-96
tác giả đã phân tích đến sự ra đời và phát triển các quy định về trợ cấp trong WTOtừ
bản khởi đầu, dự thảo Hiến chương Havana, tiếp theo đó là GATT 1947 và các sửađổi, sau nữa là Đạo luật trợ cấp – kết quả của vòng đàm phán Tokyo, và cuối cùng làcác đàm phán trong vòng Uruguay – vòng đám phán đã đưa ra các quy định trợ cấphiện hành Nội dung tiếp cận nghiên cứu về quy định trợ cấp dưới thời kỳ GATT
1947 của Gustavo E Luengo Hernandez de Madrid rộng hơn so với nội dung nghiêncứu của Melaku Geboye Desta Tuy nhiên Gustavo E Luengo Hernandez deMadrid tập trung phân tích nhiều hơn về các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sự hìnhthành, thay đổi, phát triển của các quy định trợ cấp “tiền” WTO, hơn là phân tích cụthể nội dung từng quy định về trợ cấp giai đoạn này
Về quy định của WTO về trợ cấp: các nghiên cứu tập trung phân tích các quy
định của WTO về trợ cấp trong phạm vi Hiệp định SCM và AOA Ở trong nước, hầuhết các nghiên cứu ở mức cơ bản như giáo trình, tài liệu bổ trợ, hay những bài viếttrên các trang thông tin điện tử đều nghiên cứu các quy định của WTO về trợ cấptheo xu hướng này, và ở mức mô tả quy định một cách giản lược Nhóm luận văncao học và luận án tiến sỹ đã đưa ra những phân tích ở mức độ chi tiết và chuyênsâu hơn
Điển hình có thể nhắc đến tác giả Đỗ Hồng Quyên 27, tr 71-76 và tác giả PhạmQuang Minh (2012) 28, tr 53-63 Bên cạnh các tác giả trong nước là các tác giảnước ngoài như Raj Bhala (2001), 30, tr 643 Peter Van Den Bossche (2009)…Tiếp
Trang 25cận nghiên cứu pháp luật WTO về trợ cấp một cách tổng quát qua tất cả thời kỳGATT cho đến WTO có thể thấy trong nghiên cứu của các tác giả như Marh Benitah(2001), Gustavo E Luenco, Herrianclez de Madrid (2006).
Tác giả Malcolm Bosworth, Đỗ Trọng Khanh (9/2005) đã dành một phầntrong nghiên cứu để phân tích các quy định về trợ cấp của WTO theo hai nhóm, trợcấp công nghiệp, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và trợ cấp nôngnghiệp
23, tr 32-49 Đối với trợ cấp công nghiệp, các tác giả tiếp cận Hiệp định SCMthông
qua nghiên cứu một số quy định cơ bản về trợ cấp: khái niệm trợ cấp, trợ cấp bịcấm,
trợ cấp có thể bị kiện, các biện pháp đối kháng trợ cấp, các quy định đối xử đặc biệt
và khác biệt và các quy định khác Đối với trợ cấp nông nghiệp, các tác giả tiếp cậnnghiên cứu các quy định của AOA đối với trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nướcdành cho hàng nông sản Nghiên cứu cũng đã thể hiện mức độ phân tích chuyên sâu
về mặt lý luận của một tham luận khoa học Các tác giả mô tả pháp luật WTO về trợcấp một cách đơn giản và ngắn gọn, làm tiền đề nghiên cứu các nội dung khác
Về trợ cấp nông nghiệp nói riêng, tác giả Phạm Quang Minh (2012) đã
nghiên cứu các quy định hiện hành của WTO về trợ cấp nông nghiệp tại chương 2của luận án Theo đó, tác giả nghiên cứu lần lượt quy định về trợ cấp nông nghiệptrong các Hiệp định: Hiệp định chung về thương mại và thuế quan - GATT 1994,Hiệp định SCM và AOA Trong đó phần nghiên cứu của tác giả về GATT 1994 vàHiệp định SCM mang tính khái quát, làm tiền đề cho phần nghiên cứu về AOA Tácgiả đã nghiên cứu về tiếp cận thị trường, hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu theoAOA Trong đó, tác giả cho rằng hỗ trợ trong nước là trợ cấp Về trợ cấp xuất khẩu,tác giả tiếp cận nghiên cứu chưa sâu và chưa chỉ rõ được sự khác nhau về quan điểmtrợ cấp
xuất khẩu trong AOA và Hiệp định SCM 28, tr
53-64
Tác giả Melaku Geboye Desta (2002) đã đưa ra một nghiên cứu khá chi tiết.Các quy định về trợ cấp xuất khẩu được tiếp cận tại phần II và hỗ trợ trong nướcđược tiếp cận tại phần III của nghiên cứu Pháp luật về trợ cấp nông nghiệp đượcMelaku Geboye Desta tiếp cận ở hai giai đoạn: giai đoạn “tiền-WTO” và giai đoạnWTO Đối với giai đoạn WTO, điểm khác biệt của Melaku Ggeboye Desta so vớicác tác giả khác là mặc dù phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn đối với sản phẩm nôngnghiệp, nhưng tác giả đã kết hợp phân tích các quy định về trợ cấp ở cả hai Hiệpđịnh: Hiệp định SCM và AOA Cụ thể, Melaku Geboye Desta đưa ra quan điểmphân loại, trợ cấp xuất khẩu hàng nông nghiệp thuộc nhóm trợ cấp bị cấm và hỗ trợ
Trang 26trong nước bao gồm trợ cấp thay thế nhập khẩu và các khoản trợ cấp có thể đốikháng, không thể đối kháng
Trang 27Tác giả Thomas Weishing Guang (2003) trong “Trade Remedies: Laws ondumping, subsidies and safeguards in China” đã tập trung nghiên cứu về Hiệp địnhSCM trong mối tương quan so sánh với Quy định về chống trợ cấp của Trung Quốc
(ASR) Thứ nhất, tác giả phân tích các yếu tố cấu thành trợ cấp theo Hiệp định SCM,
đã được nhận xét tại phần các nghiên cứu về khái niệm trợ cấp Thứ hai, tác giả tiếp
cận các quy định của Hiệp định SCM về trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể đối kháng vàtrợ cấp không thể đối kháng Đối với nội dung này, tác giả chưa làm rõ sự thay đổi
quy định của Hiệp định SCM đối với nhóm trợ cấp không thể đối kháng Thứ ba, tác
giả nghiên cứu các chương trình trợ cấp mà Chính phủ có thể áp dụng phù hợp vớiHiệp định SCM Đây là một nghiên cứu kết hợp nghiên cứu các quy định trợ cấp củaWTO và pháp luật chống trợ cấp của Trung Quốc Tác giả đã áp dụng phương pháp
so sánh trong tất cả các nội dung nghiên cứu nhằm chỉ ra sự tương thích và chưatương thích của Quy định về chống trợ cấp của Trung Quốc với pháp luật WTO vềtrợ cấp Do đó, dù ở nhiều nội dung vẫn còn mang tính khái quát, nhưng nghiên cứu
đã cung cấp nhiều kiến thức và thông tin bổ ích có thể kế thừa cho các nghiên cứusau
Nhóm tác giả Gustavo E Luenco, Herrianclez de Madrid (2006) đã dànhchương 4 trong phần II của cuốn “Regulation of subsidies and state Aids in WTOand
EC law” để nghiên cứu Hiệp định SCM 74, tr 97-206 Thứ nhất, nhóm tác giả
đã
dành một phần lớn trong chương IV để phân tích và dẫn chiếu những tranh chấp liênquan tới khái niệm trợ cấp, đã được nhận xét trong phần các nghiên cứu về khái
niệm trợ cấp Thứ hai, nhóm tác giả đã nghiên cứu các quy định cấm trợ cấm đối
với từng loại: trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế xuất khẩu Đối với trợ cấp xuất
khẩu, các tác giả phân tích rõ các yếu tố “de jure” và “de facto” và Phụ lục 1 của Hiệp định SCM Thứ ba, là phần nghiên cứu dành cho trợ cấp không thể đối kháng
theo Điều 8
Hiệp định SCM Và thứ tư, kết quả nghiên cứu dành cho trợ cấp có thể đối khángtheo Điều 5 và Điều 6 của Hiệp định SCM Các nghiên cứu đối với trợ cấp theoAOA được thể hiện tại chương 5 của cuốn sách Và chương 6, nhóm tác giả giớithiệu tranh chấp “Hoa kỳ - Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài”, một tranh chấp điểnhình liên quan đến Hiệp định SCM Từ góc độ nghiên cứu chung về pháp luật hiệnhành của WTO về trợ cấp, nghiên cứu của nhóm tác giả Gustavo E Luenco,Herrianclez de Madrid là một nghiên cứu khá chi tiết và đầy đủ, giúp các nhànghiên cứu sau có thể tham khảo, kế
thừa
Trang 28Về trợ cấp áp dụng với nước đang phát triển: Thực tế, không nhiều tác giả
nghiên cứu về khái niệm nước đang phát triển trong WTO Trong luận án của mình,tác giả Bùi Ngọc Anh (2008) đã dành một phần nghiên cứu về khái niệm nước đang
Trang 29phát triển, khái niệm nền kinh tế chuyển đổi và sự đối xử khác biệt dành cho cácthành
viên này 57 Tuy nhiên do luận án nghiên cứu việc thực hiện các nghĩa vụ pháp
lý về trợ cấp của các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ tập trung bao cấp sang nềnkinh
tế thị trường nên tác giả Bùi Ngọc Anh tập trung vào phân tích khái niệm nền kinh tếchuyển đổi nhiều hơn là khái niệm nước đang phát triển Marc Benitah (2001) cũng
đã dành một chương nghiên cứu về những bất cập trong các quy định đối xử đặc biệt
và khác biệt về trợ cấp, tuy nhiên Marc Benitah không đề cập đến khái niệm nướcđang phát triển 81, tr 239 Và tại chương 21, Raj Bhala (2001) đưa ra nghiên cứuvề
các nước đang phát triển và thương mại thế giới Tác giả có giải thích về nguồn gốcviệc đối xử đặc biệt và khác biệt với các nước đang phát triển, nhưng tác giả cũngkhông đưa ra nghiên cứu về khái niệm nước đang phát triển
Về đối xử đặc biệt và khác biệt trong lĩnh vực trợ cấp: tác giả Malcolm
Bosworth, Đỗ Trọng Khanh (9/2005) đã dành một phần trong bài viết để nghiên cứu
về vấn đề này Tuy nhiên kết quả nghiên cứu khá đơn giản, các tác giả chỉ liệt kêmột số ưu đãi trong Hiệp định SCM Tác giả Nguyễn Quỳnh Trang (2012) trongbáo cáo khoa học “Trợ cấp xuất khẩu đối với quốc gia đang phát triển trong khuônkhổ tổ chức thương mại thế giới” đã nghiên cứu theo hướng mô tả các quy định đặcbiệt và khác biệt dành cho các quốc gia đang phát triển đối với việc áp dụng trợ cấpxuất khẩu theo Hiệp định SCM và AOA
1.2.3 Đánh giá nghiên cứu về pháp luật về trợ cấp của một số nước thành viên WTO và bài học kinh nghiệm với Việt Nam.
Nhóm tác giả Malcolm Bosworth, Đỗ Trọng Khanh (2005) đã nghiên cứu kinh
nghiệm của một số nước mới gia nhập và kinh nghiệp đối với Việt Nam 23, tr68,
69 và tr 88-95 Trong nội dung nghiên cứu này, các tác giả đã đánh giá cam kếtgia
nhập về trợ cấp của 20 nước thành viên mới (giai đoạn 1995-2005) và đánh giá camkết của các nước này đối với từng loại trợ cấp: trợ cấp xuất khẩu, trợ cấp thay thếhàng nhập khẩu, hỗ trợ trong nước và các biện pháp đầu tư liên quan đến thươngmại Tuy nhiên, các tác giả chỉ nghiên cứu cam kết quốc gia về trợ cấp mà chưanghiên cứu pháp luật quốc gia về trợ cấp Thêm vào đó, những nước đang phát triển
có hệ thống pháp luật gần gũi với Việt Nam như Trung Quốc chưa được nghiên cứuthấu đáo Những điều này hoàn toàn có thể lý giải, bởi số lượng các nước đượcđưa vào đối tượng nghiên cứu khá nhiều (20 nước) và mục đích trong bài viết của
Trang 30các tác giả là đề xuất các hỗ trợ kỹ thuật pháp lý cho cam kết gia nhập WTO củaViệt Nam
Trang 31Tác giả Bùi Ngọc Anh (2007) tại chương 5 đã nghiên cứu về việc gia nhậpWTO của các nền kinh tế chuyển đổi và việc áp dụng cơ chế chuyển đổi Trong đócác tác giả đã hướng tới phân tích pháp luật trợ cấp của của các nền kinh tế chuyểnđổi trong các giai đoạn phát triển khác nhau của WTO, trong đó chú trọng tới cácthành viên: Trung Quốc, các nước Đông Âu, Campuchia, Nepal, Ả rập Saudi vàTonga 57
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2011) trong báo cáo khoa học “Pháp luật về trợ
cấp và thực tiễn áp dụng của Trung Quốc” đã đạt được những kết quả nghiên cứ nhất
định Thứ nhất, tác giả đưa ra kết quả nghiên cứu về pháp luật trợ cấp của Trung
Quốc Trong nội dung này, tác giả đã phân tích các hình thức trợ cấp và khuyếnkhích thương mại nước ngoài, các quy định trợ cấp về thuế và các khoản hỗ trợ tài
chính, lãi suất Thứ hai, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu về thực thi pháp luật về
trợ cấp tại Trung Quốc Nghiên cứu đã đạt được những kết quả nhất định 27, tr163-179
Tác giả Phạm Quang Minh (2012) đã dành mục 2.2.2 để phân tích pháp luậttrợ cấp của một số nước và đưa ra kinh nghiệm cho Việt Nam Tác giả đã lựa chọnHoa Kỳ, EU, Nhật bản, Trung Quốc và Thái Lan làm mẫu nghiên cứu Tác giả đãnghiên cứu pháp luật trợ cấp của các nước với góc tiếp cận khá rộng, bao gồm quyđịnh quốc gia về cắt giảm thuế quan, hạn ngạch thuế quan, trợ cấp xuất khẩu, hỗ trợtrong nước, biện pháp vệ sinh vệ sinh dịch tễ… Điều này thể hiện quan điểm của tácgiả có sự đồng nhất giữa “trợ cấp” – “biện pháp bảo hộ mậu dịch” 28, tr 72-101
Trong nhóm các tài liệu nước ngoài “Trade Remedies: Laws on dumping,subsidies and safe guards in China” của tác giả Thomas Weishing Guang (2003) đãđưa ra kết quả nghiên cứu về pháp luật chống trợ cấp của Trung Quốc, nghiên cứu
đã được đánh giá phần trên
Về pháp luật về trợ cấp của Việt Nam
Thứ nhất, đánh giá nghiên cứu về thực trạng pháp luật về trợ cấp của Việt
Nam
Thực trạng pháp luật Việt Nam về trợ cấp là phần nghiên cứu về hệ thống cácvăn bản, quy định của Việt Nam điều chỉnh hai hoạt động: (1) hoạt động trợ cấp củaChính phủ Việt Nam cho hàng hoá trong nước giai đoạn trước và sau khi gia nhậpWTO và (2) hoạt động chống trợ cấp đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam Phần nghiên cứu này nhằm mục đích: tổng hợp các văn bản pháp luật Việt Nam quyđịnh về trợ cấp, phân tích sự thay đổi các quy định về trợ cấp trong hai giai đoạn nêutrên và đánh giá các quy định hiện hành về trợ cấp
Trang 32Đối với các nghiên cứu trong nước, tác giả Hoàng Phước Hiệp (2011), “Phápluật Việt Nam về trợ cấp và các biện pháp đối kháng thực trạng và phương hướnghoàn thiện” và tác giả Trần Thị Liên (2011), “Pháp luật về trợ cấp trong thương mạihàng hóa của Việt Nam và một số kiến nghị” đã đưa ra các nghiên cứu về pháp luậttrợ cấp của Việt Nam Các nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về pháp luật chốngtrợ cấp của Việt Nam, là hệ thống các văn bản quy định các biện pháp đối kháng đốivới hành vi trợ cấp của một Chính phủ khác Cụ thể tại mỗi nghiên cứu, các tác giả
đã phân tích: Pháp lệnh về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và cácnghị định, thông tư hướng dẫn thi hành 27
Tác giả Phạm Quang Minh (2012) trong nghiên cứu của mình cũng đã dànhmục 3.1 tại chương 3 để nghiên cứu về “Thực trạng pháp luật trợ cấp và hỗ trợ nôngnghiệp của Việt Nam” Tại phần nghiên cứu này, tác giả không tách riêng mà lồngghép các kết quả nghiên cứu về thực trạng pháp luật trợ cấp và thực trạng hoạt độngtrợ cấp của Chính phủ Việt Nam Kết quả nghiên cứu được trình bày ở ba nội dung:pháp luật thuế nhập khẩu đối với hàng nông sản (tác giả đã khái quát một số mứcthuế cơ bản áp dụng đối với từng nhóm nông sản khác nhau); pháp luật về hỗ trợtrong nước (tác giả đã nêu một số chương trình hỗ trợ nông nghiệp) và pháp luật trợcấp xuất khẩu nông nghiệp (tác giả đã phân tích các quy định pháp luật điều chỉnhhoạt động cho vay ưu đãi khuyến khích xuất khẩu, trợ cấp đặc thù cho một số sảnphẩm và
xúc tiến thương mại) 28, tr 127-160
Một số tác giả đã quan tâm nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam vớimục đích đưa ra những đề xuất, khuyến nghị phục vụ cho việc đàm phán và gia nhậpWTO của Việt Nam Cụ thể, tác giả Malcolm Bosworth và Đỗ Trọng Khanh (2005)trong một nghiên cứu thuộc Dự án hỗ trợ kỹ thuật quy mô nhỏ TA-4291VIE củaNgân hàng Phát triển Châu Á đã đưa ra những rà soát, phân tích khá khách quan đốivới pháp luật và hoạt động trợ cấp ở Việt Nam Nghiên cứu tập trung vào một số nộidung quan trọng về trợ cấp ở Việt Nam thời kỳ trước WTO và đưa ra một số đề xuất
hỗ trợ kỹ thuật cho Chính phủ Cụ thể, liên quan đến các chương trình trợ cấp, cáctác giả đã rà soát và nghiên cứu các chương trình trợ cấp đang thực hiện của ViệtNam cho tới thời điểm 8/2005, bao gồm các chương trình trợ cấp xuất khẩu, trợ cấpthay thế xuất khẩu
và trợ cấp sản xuất 23, tr 21-32 Đồng thời, các tác giả cũng đánh giá tính tuân thủ
của các chương trình trợ cấp trước 2006 của Việt Nam với các quy định của WTO.Theo đó, các tác giả đã liệt kê và phân tích các chương trình trợ cấp vi phạm quy định của WTO, từ các chương trình trợ cấp thay thế nhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu nông
Trang 33nghiệp và công nghiệp đến các chương trình hỗ trợ trong nước về nông nghiệp.Cùng nội dung nghiên cứu về thực trạng hoạt động trợ cấp ở Việt Nam trước khi gianhập WTO, tác giả Bùi Ngọc Anh (2007) tại mục B, chương 7 của nghiên cứu, tácgiả đã trình bày những nghiên cứu về chương trình trợ cấp của Việt Nam, bao gồmthưởng xuất khẩu, khuyến khích xuất khẩu, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu và các chươngtrình hỗ trợ các lĩnh vực và các ngành công nghiệp then chốt (quần áo và dệt may,công nghiệp
đóng tàu) 57 Cả hai nghiên cứu, các tác giả có nhắc đến các chương trình hỗtrợ
đầu tư của Chính phủ, tuy nhiên đều không dành cho nội dung này những nghiêncứu
chi tiết Tác giả Phạm Quang Minh (2012) về thực tiễn hoạt động trợ cấp nôngnghiệp của Chính phủ Việt Nam đã được đánh giá tại mục 2.3.1, thì đến thời điểmhiện nay, chưa có thêm một nghiên cứu nào về thực tiễn hoạt động trợ cấp của ViệtNam trong giai đoạn này Cho đến hiện nay, các chương trình trợ cấp của Việt Nam
đã thay đổi ít nhiều so với giai đoạn trước khi trở thành thành viên WTO
Về bài học xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trợ cấp của Việt Nam: Tác
giả Phạm Quang Minh (2012) đã lồng ghép các nghiên cứu về bài học xây dựngpháp luật trợ cấp đối với các nước đang phát triển trong các nội dung khác nhau củanghiên cứu Như tại mục 2.2.2 của nghiên cứu như đã phân tích ở trên, sau mỗi phầnnghiên cứu pháp luật trợ cấp của từng nước, tác giả cũng rút ra những kinh nghiệmtốt cho Việt Nam Đồng thời tác giả đã dành mục 3.2 tại chương 3 để nghiên cứuđịnh hướng và nguyên tắc cơ bản xây dựng pháp luật trợ cấp nông nghiệp Việt Namtrong việc thực hiện các cam kết của WTO Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ đưa rađược các định hướng phát triển và nguyên tắc cơ bản đối với việc xây dựng phápluật trợ cấp nông
nghiệp mà không phải pháp luật trợ cấp nói chung 28, tr 160
-167
Về những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trợ cấp của Việt Nam:
Các tài liệu trong nước hoặc nước ngoài có liên quan đến Việt Nam, các tác giả đềuđưa ra đề xuất và giải pháp ở nhiều mức độ khác nhau và có giá trị áp dụng trong các
thời điểm khác nhau Nhóm nghiên cứu thứ nhất, các tác giả Malcolm Bosworth, Đỗ
Trọng Khanh (2005) đã đưa ra đề xuất một chương trình hỗ trợ kỹ thuật cho Bộ tàichính để cải cách chính sách trợ cấp bao gồm 10 hoạt động chính và 5 hoạt động bổsung 23, tr 97-102 Trong 10 hoạt động chính được đề xuất có thể kể đến hoạtđộng
nhằm tăng cường năng lực thể chế để đánh giá trên khía cạnh kinh tế đối với các trợ
Trang 34cấp, hoạt động rà soát trợ cấp chi tiết đối với từng chương trình trợ cấp lớn, hoạtđộng lập hệ thống dự toán chi phí ngân sách của trợ cấp… Chương trình hỗ trợ docác tác giả đề xuất chú trọng đến các hoạt động tài chính mang tính kỹ thuật liênquan đến
Trang 35Bộ tài chính Tác giả Bùi Ngọc Anh (2007) đã dành chương 7 và nhiều phần kháctrong nghiên cứu để đưa ra những đề xuất nhằm phục vụ cho việc gia nhập WTOcủa Việt Nam Trong đó tác giá đề xuất việc cải cách chính sách và thực tiễn trợ cấpđang tồn tại ở Việt Nam Cụ thể, tác giả đưa ra những giải pháp đối với các chươngtrình trợ cấp hiện hành như thưởng xuất khẩu, hỗ trợ xuất khẩu; tín dụng xuất khẩu
và tín dụng sản xuất; các chương trình hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp vàcác sản phẩm then chốt; trợ cấp thông qua ngân hàng thương mại nhà nước; trợ cấpthông qua LURs và trợ cấp đầu vào; trợ cấp liên quan đến tư nhân hóa và cácchương trình hỗ trợ giáo dục và những chương trình đối xử đặc biệt và khác biệt
Nhóm nghiên cứu thứ hai, đưa ra đề xuất sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
Trong nhóm nghiên cứu này có nghiên cứu của tác giả Phạm Quang Minh (2012).Tác giả đã đưa ra một đề xuất cụ thể mang tính thực tiễn cao hơn, đó là đề xuất xâydựng Luật trợ cấp nông nghiệp Việt Nam 28, tr 182-195 Trong đó tác giả đã đưara
các vấn đề cơ bản về xây dựng Luật trợ cấp nông nghiệp Việt Nam và xây dựng môhình lý luận về Luật trợ cấp nông nghiệp Việt Nam Nghiên cứu đã có những kết quảtích cực
1.3 Đề xuất hướng nghiên cứu của luận án
Ngoài những nghiên cứu khoa học đã được đánh giả ở trên, có thể còn nhiềunghiên cứu khác mà chúng ta chưa được tiếp cận Dù vậy, việc nghiên cứu và trao
đổi khoa học chuyên sâu về những vấn đề lý luận liên quan đến “Pháp luật về trợ
cấp đối với các nước đang phát triển theo quy định của WTO - Bài học với Việt Nam” vẫn vô cùng cần thiết trên cơ sở kế thừa và phát triển nghiên cứu đã có và
thực hiện các nghiên cứu mới Trên cơ sở tính cấp thiết của đề tài và tình hìnhnghiên cứu khoa học đã được thực hiện trong và ngoài nước, luận án cần tiếp cậnnghiên cứu giải quyết các câu hỏi: Việc áp dụng và duy trì trợ cấp có tầm quantrọng và cần thiết như thế nào đối với các nước đang phát triển là thành viên WTO?Các nước đang phát triển có thể được hưởng những ưu đãi đặc biệt và khác biệt gìtheo các quy định của WTO về trợ cấp và thực tiễn đàm phán? Xây dựng và hoànthiện pháp luật quốc gia về trợ cấp cần dựa trên những yếu tố nền tảng nào và nhằmmục đích nào? Cũng có thể thấy, việc áp dụng và duy trì trợ cấp có vai trò vô cùngquan trọng với các nước đang phát triển luôn được WTO thừa nhận Vì vậy, nghiêncứu xây dựng và hoàn thiện pháp luật quốc gia về trợ cấp trên cơ sở các quy định vềtrợ cấp của WTO nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm vàdoanh nghiệp Việt Nam là cần thiết trong bối cảnh cạnh tranh lớn trong thương mạiquốc tế
Trang 36Thứ nhất, về mặt lý luận:
- Phân tích và nhận định về xu hướng vận động và phát triển của pháp luậtWTO về trợ cấp đồng thời phân tích và chỉ rõ vị trí, vai trò của nguồn pháp luậtWTO về trợ cấp, thông qua đó khẳng định vị trí đầu tiên và quan trọng của cácquy định trong các Hiệp định của WTO về trợ cấp cũng như vai trò bổ trợ của án lệGATT/WTO trong việc giải thích những quy định này, từ đó thấy rõ sự vận động
có kế thừa của các quy định của WTO về trợ cấp;
- Phân tích và làm sáng tỏ quan điểm hiện hành của WTO về trợ cấp nóichung và từng dạng trợ cấp cụ thể, bao gồm cả trợ cấp nông nghiệp và trợ cấp côngnghiệp Bên cạnh đó, luận án cũng phân tích và nhận định về tác động và bản chấtcủa trợ cấp thông qua cách tiếp cận so sánh quan điểm của nhiều học giả khác nhau,đồng thời liên hệ những tác động và bản chất của trợ cấp đến trường hợp các nướcđang phát triển Từ những nghiên cứu đó, luận án thể hiện quan điểm của tác giả vềviệc áp dụng và duy trì trợ cấp tại các nước đang phát triển;
- Làm rõ quan điểm hiện hành của WTO về các biện pháp đối kháng trợ cấpvới mục đích làm cơ sở để soi chiếu các chương trình trợ cấp được phép áp dụng,duy trì tại các nước thành viên Qua đó luận án cũng làm sáng tỏ quan điểm củaWTO về việc cho phép duy trì hỗ trợ nội địa, vì vậy hỗ trợ nội địa có thể không bịcoi là trợ
cấp;
- Làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác giữa pháp luật WTO về trợ cấp và cácquy định về trợ cấp trong các FTAs cũng như pháp luật quốc gia thành viên WTO,qua đó cho thấy mục đích của việc nghiên cứu pháp luật WTO về trợ cấp trong hệthống pháp luật quốc tế, quốc gia về trợ cấp rộng lớn như hiện nay
Thứ hai, về mặt thực tiễn:
- Làm sáng tỏ các quy định của WTO về trợ cấp, qua đó nhận diện rõ hơnmột biện pháp trợ cấp có thể bị áp dụng các biện pháp đối kháng Việc làm sáng tỏcác quy định của WTO được thực hiện thông qua những phân tích chuyên sâu và sửdụng giải thích của Ban hội thẩm hay Cơ quan phúc thẩm trong thực tiễn giải quyếttranh chấp Việc dùng án lệ thực tiễn trong luận án chỉ nhằm mục đích làm rõ hơncác quy định của WTO về trợ cấp Còn việc giải thích một cách chính thức các quyđịnh của WTO về trợ cấp do chính Đại hội đồng quyết định;
- Làm sáng tỏ những quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D) củaWTO dành cho nước đang phát triểnthông qua việc nghiên cứu sự vận động pháttriển của S&D và thực tiễn áp dụng S&D hiện nay Qua nghiên cứu này luận ánchỉ ra
Trang 37những điểm bất cập trong việc áp dụng và duy trì quy chế S&D trong WTO về trợcấp;
- Phân tích tổng quát về thực tiễn cam kết và thực hiện nghĩa vụ về trợ cấpcủa một số thành viên nước đang phát triển của WTO Trong phần nghiên cứu này,luận án tiếp cận pháp luật về trợ cấp của Trung Quốc – thành viên đang phát triển cónền kinh tế mạnh tại khu vực Châu Á, Braxin – thành viên đang phát triển có nềnkinh tế mạnh tại khu vực Châu Mỹ Latinh, Hoa Kỳ - thành viên nhập khẩu và ápdụng nhiều biện pháp đối kháng trợ cấp đối với hàng nhập khẩu từ các nước Cả 03nước được lựa chọn đều là những nước áp dụng và duy trì pháp luật về trợ cấp vớinhiều chương trình đóng góp tài chính đa dạng và có thực tiễn tranh chấp đa dạng vềtrợ cấp tại WTO Qua nghiên cứu này giúp đưa ra bài học kinh nghiệm trong việcxây dựng và hoàn thiện pháp luật về trợ cấp của Việt Nam;
- Phân tích và làm rõ thực trạng pháp luật về trợ cấp của Việt Nam vànhững chương trình trợ cấp mà Việt Nam áp dụng hay duy trì Việc chỉ ra nhữngđiểm bất cập trong pháp luật của Việt Nam về trợ cấp cũng như những chương trìnhtrợ cấp đang áp dụng hay duy trì là cơ sở cho việc áp dụng các bài học kinh nghiệm
để hoàn thiện hơn pháp luật về trợ cấp;
Thứ ba, về việc rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp:
- Làm rõ những kinh nghiệm thực tiễn rút ra từ việc nghiên cứu thực trạngpháp luật về trợ cấp của Trung Quốc, Braxin, Hoa Kỳ Căn cứ vào thực trạng phápluật về trợ cấp của Việt Nam để đưa ra những bài học cho việc xây dựng và hoànthiện pháp luật về trợ cấp đáp ứng các quy định của WTO;
- Đề xuất các nhóm giải pháp, kiến nghị cụ thể trong việc xây dựng và hoànthiện pháp luật về trợ cấp của Việt Nam nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnhtranh cho sản phẩm, doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển Bên cạnh đó,luận án cũng hướng tới việc đề xuất những kiến nghị trong việc chính phủ tham gianhững thoả thuận thương mại tự do khác có đàm phán về trợ cấp
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, pháp luật WTO về trợ cấp nóichung và pháp luật đối với các nước đang phiển nói riêng đều thu hút được sự quantâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới Nội dung hoàn thiện phápluật về trợ cấp của Việt Nam cũng được tiếp cận nghiên cứu trong một số côngtrình Mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả đều có phương pháp tiếp cận, phạm vinghiên cứu khác nhau và đều đạt được những thành quả nhất định
Dù vậy, vẫn còn nhiều nội dung liên quan đến pháp luật WTO về trợ cấp đốivới các nước đang phát triển chưa được nghiên cứu một cách toàn diện Cho đến naycũng chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ từ góc độ lý luận và thực tiễn về các quyđịnh đối xử đặc biệt và khác biệt của WTO về vấn đề trợ cấp đối với thành viên đangphát triển, cũng như thực trạng pháp luật quốc gia về trợ cấp của các nước đang pháttriển và Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra những bài học, định hướng và đề xuất hoànthiện pháp luật về trợ cấp của Việt Nam
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước vànước ngoài về pháp luật WTO về trợ cấp, luận án tiếp tục nghiên cứu phát triển cả
về lý luận và thực tiễn của vấn đề pháp luật về trợ cấp đối với các nước đang pháttriển theo quy định của WTO, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, định hướng
và đề xuất hoàn thiện pháp luật về trợ cấp của Việt Nam nhằm bảo vệ lợi ích, nângcao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm, doanh nghiệp nội địa trong điều kiện ViệtNam phải thực hiện các cam kết quốc tế về thương mại tự do
Trang 39CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT CƠ BẢN CỦA WTO VỀ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
2.1 Khái quát chung pháp luật WTO về trợ cấp
2.1.1 Sự hình thành và phát triển pháp luật WTO về trợ cấp
Pháp luật WTO về trợ cấp được quy định tại Điều VI, Điều XVI của GATT
1994, Hiệp định SCM và AOA là quy định về trợ cấp tương đối toàn diện và có tính
bắt buộc đối với tất cả thành viên Tuy nhiên vào thời kỳ GATT 1947, các quy tắc,
trật tự về trợ cấp đã chưa được đề cập một cách chi tiết và toàn diện như vậy ĐiềuXVI của GATT 1947, mặc dù được đặt tên là “trợ cấp” nhưng nội dung lại khôngchứa đựng bất kỳ khái niệm trợ cấp nào Trong các quy định chung về trợ cấp,Điều XVI cũng chỉ quy định rằng các bên ký kết của GATT phải lưu ý rằng đối vớitrợ cấp có các tác động thương mại thì cần thiết phải có sự cân nhắc, so sánh để thảoluận khả năng hạn chế trợ cấp nếu chúng gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho lợi íchcủa các thành viên khác Về trợ cấp xuất khẩu, GATT 1947 quy định rằng các bên
ký kết nên “tìm cách tránh” áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối với các sản phẩm thô(primary product) Năm 1962, Điều XVI được sửa đổi, trong đó bổ sung các quyđịnh về cấm các bên áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối với các sản phẩm không phải làsản phẩm thô khiến cho giá bán của sản phẩm trên thị trường xuất khẩu giảm thấphơn giá bán tại thị trường nội địa Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, các quy định sửađổi bổ sung này không áp dụng cho các nước đang phát triển Thêm vào đó, Điều
VI của GATT 1947, điều khoản quy định về biện pháp được áp dụng để bù đắp lạitrợ cấp áp dụng cho một sản phẩm nhập khẩu (tức là thuế đối kháng), đã không đưa
ra các nguyên tắc chi tiết và toàn diện
Để hoàn thiện các quy tắc của GATT về trợ cấp và thuế đối kháng, đồng thời
để đảm bảo việc thực thi nhất quán và đồng đều, trong vòng đàm phán Tokyo cácbên tham gia GATT đã đàm phán và đưa ra Hiệp định thực thi Điều VI, XVI vàXVIII của GATT, được gọi là Bộ luật trợ cấp vòng đám phán Tokyo Bộ luật trợcấp tại vòng đàm phán Tokyo có vai trò như một thoả thuận tuỳ nghi và nhận được
sự gia nhập của không quá 24 thành viên, trong đó bao gồm Cộng đồng Kinh tếChâu Âu (EEC) và Hoa kỳ Tuy nhiên, bộ luật trợ cấp cũng không hoàn thiện vàlàm rõ hơn các quy tắc về trợ cấp và thuế đối kháng được một bên áp dụng Tronggiai đoạn 1970-
1980, việc thiếu vắng các quy tắc rõ ràng về trợ cấp và thuế đối kháng đã dẫn tớinhiều tranh chấp giữa các thành viên của GATT Vì vậy không bất ngờ khi Tuyên
bố Bộ
Trang 40trưởng Panta del Esta tại Vòng đám phán Uruguay đã định hướng cho các nhà đàmphán rà soát Điều VI và Điều XVI của GATT 1947 cũng như Bộ luật trợ cấp tạivòng đàm phán Tokyo: “… với mục đích tăng cường các nguyên tắc của GATT liênquan đến tất cả các khoản trợ cấp và các biện pháp đối kháng có tác động đếnthương mại quốc tế”
Cuối cùng vòng đàm phán Uruguay đã cho kết quả là Hiệp định SCM, nằmtrong Phụ lục 1A của Hiệp định WTO Các quy tắc đa phương bắt buộc về trợ cấp vàthương mại trợ cấp đã được thiết lập tại Điều VI và XVI của GATT 1994, và Hiệpđịnh SCM 94, tr 559
Tại vòng đàm phán Uruguay cũng ghi nhận mục tiêu dài hạn: “Thiết lập một
hệ thống thương mại nông nghiệp công bằng và định hướng thị trường, và quá trìnhcải cách cần được tiến hành thông qua việc đàm phán cam kết về trợ cấp và bảo hộ
và thông qua việc thiết lập những luật lệ và quy tắc chặt chẽ và thực thi có hiệu quảhơn của GATT”, AOA đã ra đời chứa đựng các quy tắc về trợ cấp đối với hàng nôngsản, được đánh giá là các quy tắc có phần nới lỏng hơn so với các quy tắc về trợcấp nói chung được thiết lập tại Hiệp định SCM
2.1.2 Nguồn của pháp luật WTO về trợ cấp
Pháp luật WTO, theo các tiêu chuẩn của luật quốc tế, là một hệ thống phápluật lớn và phức tạp Pháp luật WTO được cung cấp từ nhiều nguồn luật khác nhau
và không phải tất cả các nguồn luật đều có bản chất và nền tảng pháp lý giống nhau.Nhiều nguồn luật quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ pháp lý của thành viên và đượcđảm bảo thực thi thông qua hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO Tuy nhiênnhiều nguồn luật khác không quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của thành viên màvai trò của nó là lãm rõ hơn nguồn luật được áp dụng giải quyết vấn đề giữa cácthành viên Pháp luật WTO về trợ cấp cũng không nằm ngoài quy luật này
Nguồn luật chính của pháp luật WTO về trợ cấp là các quy định về trợ cấptrong Hiệp định Marrakesh thành lập WTO Các nguồn luật khác bao gồm: báo cáohội thẩm và báo cáo phúc thẩm về giải quyết tranh chấp trong WTO, văn bản củacác cơ quan WTO, hiệp định được ký kết trong khuôn khổ WTO, tập quán quốc tế,
nguyên tắc chung về pháp luật, các điều ước quốc tế khác, “subsequent practice”
của các thành viên WTO, bài giảng của các chuyên gia hàng đầu về pháp luật quốctế
2.1.2.1 Quy định về trợ cấp trong Hiệp định Marrakesh thành lập WTO
Hiệp định Marrakesh thành lập WTO (Hiệp định WTO) được thông qua ngày15/4/1994 và chính thức có hiệu lực từ 01/01/1995 Hiệp định WTO chỉ là một hiệp