Xác định những nội dung dạy - học nhóm bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có thể sử dụng SĐTD.... Nhận thức được tầm quan trọng của các bài dạy về Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN
ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC
NHÓM BÀI HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ
CHO HỌC SINH TRUNG TÂM GIÁO DỤC
THƯỜNG XUYÊN VÀ DẠY NGHỀ PHÚC YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN
ỨNG DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC NHÓM
BÀI HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ CHO
HỌC SINH TRUNG TÂM GIÁO DỤC
THƯỜNG XUYÊN VÀ DẠY NGHỀ PHÚC YÊN
Chuyên ngành: LL&PP dạy học bộ môn Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM KIỀU ANH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo- Tiến sĩ Phạm Kiều Anh, người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Sau Đại học,ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn và Quý thầy cô Trường Đại học Sư phạm HàNội 2- những người đã nhiệt tình giảng dạy và truyền thụ kiến thức cho tôitrong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại Trường
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các cô giáo vàcác em học sinh Trung tâm Giáo dục thường xuyên và dạy nghề Phúc Yên-Phúc Yên- Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến người thân, đồng nghiệp và bạnbè- những người đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Vân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoanrằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và cácthông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Vân
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Bố cục của luận văn 8
7 Đóng góp của luận văn 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 9
1.1 Cơ sở lý luận về SĐTD trong dạy học 9
1.1.1 Tư duy và đặc điểm tư duy của HS THPT nói chung và HS TTGDTX&DN Phúc Yên nói riêng 9
1.1.2 Sơ đồ tư duy trong giáo dục 13
1.1.3 Ứng dụng của SĐTD trong giáo dục 20
1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 24
1.2.1 Hoạt động giao tiếp của con người 24
1.2.2 Vai trò của ngôn ngữ với hoạt động giao tiếp của con người 29
1.2.3 Các nhân tố hoạt động giao tiếp 31
1.2.4 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy 35
1.3 Cơ sở thực tiễn 38
Trang 61.3.1 Chương trình phân môn Tiếng Việt của THPT nói chung và của Trung
tâm giáo dục thường xuyên và dạy nghề Phúc Yên nói riêng 38
1.3.2 Thực trạng dạy học nhóm bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 41
1.3.3 Thực trạng học của HS TTGDTX &DN Phúc Yên 44
1.3.4 Cơ sở thực tiễn của việc ứng dụng SĐTD vào dạy học Tiếng Việt nói chung và nhóm bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ nói riêng tại TTGDTX&DN Phúc Yên 46
CHƯƠNG 2 DẠY- HỌC NHÓM BÀI HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH TRUNG TÂM GDTX & DN PHÚC YÊN BẰNG SƠ ĐỒ TƯ DUY 48
2.1 Mục tiêu của nhóm bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ cho HS TTGDTX&DN Phúc Yên 48
2.1.1 Vị trí của của nhóm bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong chương trình Ngữ Văn TTGDTX&DN Phúc Yên (theo phân phối chương trình Ngữ văn của hệ bổ túc văn hóa) 48
2.1.2 Nội dung của nhóm bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong chương trình Ngữ Văn TTGDTX&DN Phúc Yên 48
2.1.3 Mục đích của việc dạy học nhóm bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 50
2.1.3.1 Kiến thức 50
2.1.3.2 Kĩ năng 51
2.1.3.3 Thái độ 51
2.2.Hướng dẫn học sinh vẽ SĐTD bằng tay và sửdụng phần mềm hỗ trợ vẽ SĐTD (Imindmap) 52
2.2.1 Hướng dẫn học sinh làm quen với SĐTD 52
2.2.2 Hướng dẫn học sinh tập vẽ SĐTD bằng tay 52
2.2.3 Hướng dẫn học sinh sử dụng phần mềm vẽ SĐTD bằng phần mềm Mindmap 55
Trang 72.3 Sử dụng SĐTD vào dạy học nhóm bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ 62
2.3.1 Xác định những nội dung dạy - học nhóm bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có thể sử dụng SĐTD 62
2.3.2 Xác định thời điểm sử dụng SĐTD 72
2.3.3 Xác định các kĩ thuật, phương pháp dạy học khi kết hợp với SĐTD 74
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82
3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm 82
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 82
3.3 Nội dung thực nghiệm 83
3.4 Đối tượng thực nghiệm 83
3.5 Cách tiến hành thực nghiệm 84
3.5.1 Chuẩn bị thực nghiệm 84
3.5.2 Tiến hành dạy thực nghiệm và dạy đối chứng 85
3.5.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 85
3.6 Giáo án thực nghiệm 85
3.7 Kết quả thực nghiệm 95
3.7.1 Kết quả trước thực nghiệm 95
3.7.2 Kết quả sau thực nghiệm (chung của cả 3 khối 10, 11, 12) 96
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC
Trang 8BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TTGDTX&DNPY Trung tâm Giáo dục thường xuyên và dạy nghề Phúc Yên
Trang 91 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
1.1 Khi Trung Quốc gia nhập WTO, Friedman nhận xét: “Dường như
cả thế giới phải thức dậy sớm hơn và chạy nhanh hơn” Tất cả phải chạy
nhanh hơn bởi sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt và dữ dội Có thể nói bốicảnh toàn cầu hóa đang diễn ra rất nhanh, đang làm phẳng thế giới, tạo ra môitrường học tập khác hẳn truyền thống và ảnh hưởng rất lớn đến phương pháp
học tập của thế hệ học sinh (HS) thời hiện đại Friedman nhận xét: “Kĩ năng
đầu tiên và quan trọng nhất mà bạn cần có trong một thế giới phẳng là khả năng “học phương pháp mới để làm những công việc cũ hay những phương pháp mới để làm những công việc mới…” Những biến động mạnh mẽ và
không ngừng nghỉ của mọi yếu tố cấu thành đời sống, nhất là khoa học kĩthuật và công nghệ, đang là thách thức lớn nhất đối với mọi xã hội Theo xuthế thế giới, nền giáo dục Việt Nam đang đối mặt với những cơ hội và tháchthức rất lớn Tình hình đó đòi hỏi nền giáo dục của nước ta phải đổi mới mộtcách toàn diện Để thực hiện được mục tiêu đổi mới giáo dục như trên chúng
ta không thể không nói đến phương pháp dạy học (PPDH) tích cực Điều 5
của Luật giáo dục (2005) đã chỉ rõ “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Muốn
làm được điều này, giáo viên (GV) cần phải hướng dẫn cho HS biết cách vậndụng kiến thức linh hoạt trong những tình huống cụ thể của cuộc sống Theonhiều nhà khoa học, việc đổi mới hoạt động dạy học hiện nay vẫn còn gặpnhiều khó khăn, các giờ học chưa thật sự tạo hứng thú học tập và chưa pháthuy được tính tích cực của HS trong việc tổ chức các hoạt động nhận thức.Đây là hạn chế chung của nhiều môn học trong đó có môn Ngữ văn
Trang 10Môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông, trong đó có các bài dạy học
về tiếng Việt có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị hành trang trí tuệ, tâmhồn cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống tương lai Tuy nhiên, thực tế giảng dạyphần tiếng Việt ở nhà trường Trung học phổ thông (THPT) nói chung và cácTrung tâm Giáo dục thường xuyên và dạy nghề (TTGDTX&DN) nói riêngcòn nhiều bất cập, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
HS Nguyên nhân chủ yếu là do một bộ phận lớn GV chưa xác định đượcphương pháp giảng dạy phù hợp với các bài Tiếng Việt khiến HS không hứngthú học tập, hiệu quả giờ học không cao Từ thực tế dạy và học phần tiếngViệt cho HS tại TTGDTX & DN Phúc Yên, chúng tôi nhận thấy: Hiện nay,
GV đã thực hiện đúng những nội dung phân phối chương trình của Bộ Giáodục trong việc dạy học bộ môn Ngữ văn nói chung và tiếng Việt nói riêng,chủ động, sáng tạo, cập nhật những phương pháp mới để có thể truyền đạtkiến thức cho HS đạt hiệu quả cao nhất Theo đó, có một bộ phận HS có tinhthần tích cực, hăng hái trong những giờ học tiếng Việt Tuy nhiên, những điềukiện khách quan chưa phù hợp đã tạo ra những ảnh hưởng không nhỏ tới giờhọc Ngữ văn Cũng vì thế, HS chưa có hứng thú học, hay có học cũng chỉ làgượng ép Điều đó cho thấy, trong quá trình dạy học, GV cần có những cáchthức tổ chức hoạt động dạy học để có thể nâng cao chất lượng học tập cho HS
1.2 Sơ đồ tư duy (Mindmap) (SĐTD) - một trong những công cụ dạyhọc hiện đại đã góp phần to lớn giúp HS hệ thống hóa kiến thức, tăng cườngkhả năng ghi nhớ, tư duy, phân tích và giải quyết vấn đề Từ những thành tựunghiên cứu về SĐTD, chúng tôi nhận thấy phương tiện dạy học hiện đại này
có thể đem lại hiệu quả cao trong giảng dạy, nhằm tích cực hóa hoạt động củachủ thể học tập, đáp ứng mục tiêu dạy học “lấy HS làm trung tâm” Bằng cáchghi chép sử dụng kết hợp từ ngữ, màu sắc, hình ảnh, đường nét, SĐTD đãkích thích sự sáng tạo, trí tò mò và hứng thú của HS khi học tập Có thể nói,
Trang 11SĐTD là một công cụ dạy học mang tính khả thi cao, có thể áp dụng vào bất
kì trường học nào mà không đòi hỏi quá nhiều về cơ sở vật chất mà vẫn đápứng được yêu cầu phát huy tính tự giác, chủ động học tập của HS
1.3 Nhóm bài“Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” là một trong
những nội dung kiến thức của phần tiếng Việt trong chương trình Ngữ vănhiện hành Với hệ thống kiến thức về tiếng Việt trong chương trình Ngữ vănhiện hành, đây là nhóm bài học có kiến thức rộng, tổng quát, với những nộidung kiến thức có mối liên hệ logic với nhiều tri thức khác ở THCS và ởTHPT trong các khối lớp 10, lớp 11 và lớp 12 Muốn người học nắm được hệthống kiến thức, GV phải có sự liên kết chúng bằng các sơ đồ tư duy (SĐTD)
để xâu chuỗi các kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ghi nhớ chúngcủa HS Theo đó, ứng dụng SĐTD để dạy học nhóm bài này ít nhiều sẽ đemlại hiệu quả thiết thực nhất cho HS trong việc lĩnh hội và truyền thụ kiến thứcđặc biệt đối tượng là HS của TTGDTX&DN Phúc Yên Nhận thức được tầm
quan trọng của các bài dạy về Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong
chương trình của khối TTGTX&DN cũng như hướng tới nhiệm vụ đổi mớiPPDH Tiếng Việt nói riêng, dạy học Ngữ văn nói chung, chúng tôi chọnnghiên cứu đề tài:
“Ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nhóm bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên và dạy nghề Phúc Yên”.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về sơ đồ tư duy
Ở nước ngoài, vấn đề ứng dụng SĐTD (Mindmap – MM) trong cuộc
sống đã được Tony Buzan và Barry Buzan đề cập trong cuốn “Sơ đồ tư duy”
(1995) Trong cuốn sách này, hai anh em nhà Buzan đã đưa ra các ứng dụngcủa MM Bên cạnh các ứng dụng của MM đối với cá nhân, đối với gia đình,
Trang 12trong lĩnh vực kinh doanh và các lĩnh vực chuyên môn thì các tác giả còn bànđến những ứng dụng của MM trong giáo dục cụ thể như dùng để soạn ghi chúcho bài giảng, hoạch định cho năm, cho một học kỳ, cho ngày, bài học vàcách trình bày, thi cử, dự án Từ những nghiên cứu ban đầu về SĐTD, đếntháng 12/2006, Tony Buzan chính thức giới thiệu phần mềm MindMap dùng
để vẽ kiểu sơ đồ này trên máy vi tính Cho đến nay, việc sử dụng SĐTD củaông được dạy và ứng dụng ở trên 500 tập đoàn và công ty hàng đầu thế giới.Trên thế giới hiện nay có hơn 250 triệu người đang sử dụng phần mềm nàycủa Tony Bazan bởi những lợi ích sau của nó:
- MM gợi hứng thú cho người học
- MM làm cho bài học cũng như cách trình bày bài học ngẫu hứng,sáng tạo và lý thú hơn với GV và HS
- Nhờ MM, việc ghi chú bài giảng của GV trở nên linh hoạt GV có thểlàm mới, bổ sung bài giảng một cách dễ dàng và nhanh chóng
- MM giúp người học hiểu sâu hơn về chủ đề
- Số lượng ghi chú cho bài giảng giảm đi rất nhiều
- MM vô cùng hữu ích cho các em thiếu niên “có vấn đề về học tập”,đặc biệt là những em mắc chứng “khó đọc”
Ở Việt Nam, MM được nghiên cứu và đưa vào sử dụng chủ yếu tronglĩnh vực kinh doanh vào những năm đầu của thế kỷ XXI Đến năm 2006, vấn
đề ứng dụng MM trong dạy học mới thực sự được chú ý khi dự án “Ứng dụng
công cụ phát triển tư duy – Sơ đồ tư duy” của nhóm Tư duy mới (New
Thinking Group – NTG), Đại học Quốc gia Hà Nội được triển khai thực hiện.Tiếp theo đó là một loạt những công trình nghiên cứu khác như: công trình
nghiên cứu về: “Ứng dụng sơ đồ tư duy đa chiều trong học nhóm” của tác giả
Phan Minh Chánh (THPT Chơn Thành- Bình Phước); cuốn sách “Dạy
tốt-học tốt các môn tốt-học bằng bản đồ tư duy” của TS Đặng Đình Châu, TS Đặng
Trang 13Thị Thu Thủy Tạp chí Giáo dục cũng có một số bài viết đề cập đến vai trò và
hiệu quả của việc sử dụng MM trong dạy học như các bài: “Bản đồ tư duy –
Công cụ hỗ trợ hiệu quả trong dạy học môn Toán” của Chu Cẩm Thơ, “Hệ thống hóa bài tập Vật lí với Sơ đồ tư duy” của Lê Công Triêm, Lương Thị Lệ
Hằng
2.2 Lịch sử nghiên cứu về việc dạy học hệ thống kiến thức bằng sơ
đồ tư duy trong trường THPT và các trường học nghề
Ứng dụng SĐTD vào trong giảng dạy đã được quan tâm trong tất cảcác môn học môn Ngữ văn khô khan Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề này như: “Ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn ở trường
trung học phổ thông” của Phan Minh Hằng (trường THPT Vinh Xuân); “Vận dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy và học Ngữ văn” của Trịnh Văn Quỳnh
(Nam Định); Khóa luận: “Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học bài Hoạt động
giao tiếp bằng ngôn ngữ” (Ngữ văn 10) của Vũ Thị Huệ (Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2)…
Người đầu tiên đưa MM ứng dụng vào dạy học Văn là thầy Hoàng ĐứcHuy - GV TTGDTX quận 4, Tp HCM Sáng kiến đổi mới dạy học này của
thầy được thể hiện trong nghiên cứu “Bản đồ tư duy đổi mới dạy học” Tuy
nhiên, công trình này chỉ đề cập đến cách thức giảng dạy bằng SĐTD vớinhững tác phẩm thơ, văn tự sự và văn thuyết minh
Hệ thống kiến thức Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là một trong
những nội dung kiến thức của phần Tiếng Việt trong chương trình Ngữ vănTHPT hiện hành Với hệ thống kiến thức bao quát cả ba khối 10,11,12, đây là
hệ thống có kiến thức rộng, tổng quát GV nếu muốn HS nắm được hệ thốngkiến thức thì GV cần phải có những liên kết chúng bằng các SĐTD để dạy,phương tiện này sẽ ít nhiều đem lại hiệu quả thiết thực cho HS trong việc lĩnhhội kiến thức đặc biệt là đối với đối tượng là HS của TTGDTX&DN
Trang 14Từ những khảo cứu về các công trình nghiên cứu về SĐTD và sử dụngSĐTD vào dạy học Ngữ văn hiện nay, chúng tôi nhận thấy cho đến nay, chưa
có công trình khoa học nào nghiên cứu nào về việc sử dụng SĐTD vào dạy
học hệ thống kiến thức nhóm bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ cho HS
tại các TTGDTX &DN Cũng vì thế, có thể khẳng định việc nghiên cứu đề tàinày sẽ mở ra một hướng mới cho việc thiết kế và tổ chức dạy học phần TiếngViệt tại các TTGDTX &DN để hoạt động dạy học đạt hiệu quả
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định và đề xuất những hình thức sử dụng SĐTD cho khi học tậpnhững kiến thức về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
- Góp phần nhỏ bé vào việc tìm ra những cách tổ chức hoạt động dạyhọc Tiếng Việt cho HS đang học tại trường nghề Phúc yên để hoạt động dạyhọc đạt hiệu quả
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn tập trung vàonhững nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổng hợp những tri thức cơ bản về hoạt động giao tiếp bằng ngônngữ, về SĐTD trong giáo dục nói chung, trong dạy học Ngữ văn nói riêng
- Khảo sát cơ sở thực tiễn của đề tài
- Nêu ra cách thiết kế và sử dụng những SĐTD vào dạy các đơn vị kiếnthức thuộc mảng tri thức về hoạt động giao tiếp cho HS đang học tại trườngnghề Phúc Yên
Trang 15nêu ra.
- Tổ chức thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của những đề xuất được
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Gắn với đề tài này, chúng tôi tập trung vào hai đối tượng sau:
- Luận văn tập trung tìm hiểu cách thiết kế, sử dụng và nêu ra một sốdạng SĐTD có thể sử dụng khi hướng dẫn HS học phần Tiếng Việt bậcTHPT
- Một đối tượng không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu đề tài này
là chủ thể HS Với nội dung đề tài, chủ thể HS được chúng tôi chọn nghiêncứu là: HS đang học tại trường nghề Phúc Yên
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp hồi cứu và khảo sát tư liệu: được sử dụng khi thu
thập nguồn tư liệu nghiên cứu về SĐTD cũng như những bài viết liên quan
5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát: Lấy ý kiến của GV đang trực
tiếp giảng dạy trong TTGDTX&DN Phúc Yên đặc biệt là các giáo viên có
Trang 16trình độ, hiểu biết và sử dụng thành thạo SĐTD trong dạy Tiếng Việt nóichung và dạy nhóm bài “HĐTGBNN” nói riêng, phát phiếu điều tra, thăm dò
ý kiến của GV, HS; tham gia dự giờ trên lớp, lấy ý kiến của HS về việc ứngdụng SĐTD trong quá trình dạy học nhóm bài “HĐGTBNN”
5.3 Phương pháp thống kê: Xử lý các số liệu thu nhập được trong
quá trình khảo sát, thực nghiệm để đưa ra được những kết quả chính xác,khách quan
5.4 Phương pháp thực nghiệm: phương pháp này được sử dụng để
đánh giá, điều chỉnh hoàn thiện và khẳng định tính khả dụng của việc ứng dụngSĐTD vào dạy học nhóm bài HĐGTBNN cho HS TTGDTX&DN Phúc Yên
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thì nội dung luận văn gồm 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Dạy học hệ thống kiến thức về Hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ có ứng dụng sơ đồ tư duy
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
7 Đóng góp của luận văn
Những đề xuất được trình bày khi nghiên cứu đề tài “Ứng dụng sơ dồ
tư duy vào dạy học nhóm bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên và dạy nghề Phúc Yên” sẽ góp phần
nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục như: tạo cho HS đặc biệt là HS trườngnghề ý thức học tập tích cực, chủ động sáng tạo, giao tiếp tốt, ứng xử tốt, tiếpthu tối đa những kiến thức mà GV truyền đạt; góp phần nâng cao chất lượngdạy và học trong nhà trường THPT nói chung và TTGDTX&DN Phúc Yênnói riêng, thay đổi những tiết học Tiếng Việt khô khan thành những giờ họcsôi nổi, hiệu quả
Trang 17NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận về SĐTD trong dạy học
1.1.1 Tư duy và đặc điểm tư duy của HS THPT
1.1.1.1 Khái niệm tư duy
Tư duy là gì? Đây là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều ngànhkhoa học và nhiều nhà khoa học nghiên cứu Tuy cùng một vấn đề nghiên cứusong mỗi ngành khoa học lại tiếp cận và xem xét vấn đề này ở các phươngdiện khác nhau Triết học nghiên cứu tư duy dưới góc độ lý luận nhận thức.Lôgíc học nghiên cứu tư duy ở các quy tắc tư duy đúng Xã hội học nghiêncứu tư duy ở sự phát triển của quá trình nhận thức trong các chế độ, các giaiđoạn lịch sử khác nhau Sinh lý học nghiên cứu cơ chế hoạt động thần kinhcao cấp với tư cách là nền tảng vật chất của các quá trình tư duy ở con người.Điều khiển học nghiên cứu tư duy để có thể tạo ra "Trí tuệ nhân tạo" Tâm lýhọc nghiên cứu diễn biến của quá trình tư duy, mối quan hệ qua lại cụ thể của
tư duy với các khía cạnh khác của nhận thức Dù được nghiên cứu ở các lĩnhvực khoa học khác nhau song các ngành khoa học đều có sự đồng nhất trong
sự đánh giá về tư duy con người ở chỗ: Tư duy của con người mang bản chất
xã hội - lịch sử, có tính sáng tạo, có khả năng khái quát và sử dụng ngôn ngữlàm phương tiện Tư duy con người được quy định bởi các nguyên nhân, cácyêu cầu của quá trình phát triển lịch sử - xã hội, chứ không đừng lại ở mức độ
tư duy bằng các thao tác chân tay hay bằng một chương trình đã được lập sẵn
Có thể nói một cách khái quát: Tư duy là sản phẩm cao cấp của một dạng vậtchất hữu cơ có tổ chức cao, đó là bộ não của con người Trong quá trình phảnánh hiện thực khách quan bằng những khái niệm, phán đoán tư duy bao giờcũng có mối liên hệ nhất định với một hình thức hoạt động của vật chất, với
sự hoạt động của não người Trong khi xác định sự giống nhau giữa tâm lý
Trang 18người và động vật, các nhà tâm lý học Mác - xít cũng chỉ ra sự khác nhau cănbản giữa tư duy của con người và hoạt động tâm lý động vật Một trongnhững điểm khác nhau ấy là tư duy con người sử dụng khái niệm để ghi lạinhững kết quả trừu tượng hoá, tư duy được ra đời do lao động và trên cơ sởcủa sự phát triển xã hội Thông qua hoạt động thực tiễn, thế giới tự nhiên tácđộng vào các giác quan tạo ra cảm giác, tri giác và biểu tượng là cơ sở banđầu của tư duy Tư duy khái quát những thu nhận của cảm giác bằng nhữngkhái niệm và những phạm trù khoa học, mang lại cho chúng ta những quanđiểm rộng hơn, sâu hơn những cảm giác trực tiếp Nhờ trừu tượng hoá mà tưduy đã chỉ ra được những mối liên hệ, quan hệ của rất nhiều sự vật, hiệntượng, nêu ra được những khái niệm, những phạm trù, những quy luật phảnánh các mối liên hệ, quan hệ của rất nhiều sự vật, hiện tượng, nêu ra đượcnhững khái niệm, những phạm trù, những quy luật phản ánh các mối liên hệ,quan hệ nội tại của các sự vật, hiện tượng đó Và chỉ có khái quát về lý luậnmới cho phép tư duy của con người tìm ra bản chất của các sự vật, hiện tượng
và các quy luật phát triển của chúng Cũng vì thế, Từ điển Tiếng Việt quan
niệm: Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào nhận thức
và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức, như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý [30, tr.1011].
Để ghi lại những hiểu biết thu nhận được trong quá trình tư duy, conngười sử dụng ngôn ngữ Cũng bởi vậy ngôn ngữ được đánh giá là công cụ để
tư duy, tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ Thực tiễn cho thấy conngười nếu khả năng tư duy không phát triển thì việc sử dụng ngôn ngữ khibiểu đạt các nội dung giao tiếp cũng không tốt Vì thế, có thể khẳng định ngônngữ và tư duy có mối quan hệ biện chứng với nhau, chúng tạo thành một khốithống nhất biện chứng có quan hệ thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình vận động
và phát triển của con người Quá trình hướng dẫn HS chiếm lĩnh tri thức khoa
Trang 19học Tiếng Việt ở trường phổ thông nhằm mục đích là giúp các em thông hiểu
về đặc điểm, cách kết hợp các đơn vị ngôn ngữ để tạo nên các đơn vị lớn hơn,giúp chủ thể học tập hiểu rõ quy luật cấu trúc nội bộ của Tiếng Việt, quy luậthoạt động của nó Trên cơ sở đó hình thành kĩ năng, kỹ xảo ngôn ngữ cho các
em Không chỉ có vậy, khi hướng dẫn HS học tiếng Việt, GV còn có thể thựchiện nhiệm vụ hình thành và phát triển các thao tác, các phẩm chất tư duy chochủ thể học tập Đây là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình dạy họctiếng Việt, bởi nếu HS hiểu và nắm vững nội dung vấn đề cần trình bày, các
em sẽ nói và viết lưu loát còn chưa hiểu nội dung vấn đề, các em sẽ diễn đạtlúng túng, mắc nhiều sai sót Do đó rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện
tư duy là một trong những nguyên tắc đặc thù của việc dạy học tiếng Việttrong nhà trường phổ thông nói chung, trong các TTGDTX & DN nói riêng
1.1.1.2 Đặc điểm tư duy của HS THPT nói chung, HS THPT tại các TTGDTX & DN nói riêng
Theo tâm lí học lứa tuổi, HS cấp THPT ở vào thời kỳ mà sự phát triểnthể chất của con người đang đi vào giai đoạn hoàn chỉnh Bên cạnh sự pháttriển về thể lực, sự phát triển của hệ thần kinh cũng có những thay đổi quantrọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng não phát triển
“Cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có những cấu trúc như trong cấu trúc
tế bào não của người lớn Số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần khác nhau của vỏ đại não lại Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hoá hoạt động phân tích, tổng hợp… của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập” [11, tr.67] HS ở tuổi này trưởng thành hơn, sở hữu nhiều
kinh nghiệm sống hơn, các em nhận ra được vị trí, vai trò của mình Do vậy,thái độ có ý thức của các em trong hoạt động học tập ngày càng được pháttriển Đặc biệt ở lứa tuổi này, tính chủ động phát triển mạnh mẽ ở tất cả cácquá trình nhận thức Quan sát của HS trở nên có mục đích, có hệ thống và
Trang 20toàn diện hơn, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ,các em sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánh,đối chiếu… Đặc biệt, các em tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ, biếtphân biệt tài liệu nào cần nhớ từng chữ, cái gì chỉ cần hiểu mà không cần nhớ.
Cũng do sự hình thành và phát triển trong tâm lý nhận thức, có thể nhậnthấy, ở độ tuổi từ 16 – 18 tuổi, khả năng nhận thức của HS THPT phát triểnmạnh về tư duy hình thức Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừutượng một cách độc lập sáng tạo trước những đối tượng quen thuộc hoặc chưaquen thuộc Tuy nhiên, ở lứa tuổi “nổi loạn” nhiều em còn ham chơi chưa tíchcực tư duy, chưa tìm ra phương pháp học tập hiệu quả nên dẫn đến tình trạngchán học, nhiều em chưa phát huy hết được năng lực độc lập suy nghĩ của bảnthân mà đã kết luận vội vàng theo cảm tính…Vì vậy, trong quá trình học tập
GV cần hướng dẫn giúp đỡ chủ thể học tập rèn luyện tư duy một cách tích cựcchủ động, độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuốicùng Đồng thời GV phải tìm ra phương pháp, phương tiện dạy học tích cựcmang lại hiệu quả, giúp HS có những hứng thú học tập để các em đạt hiệu quảcao trong học tập
HS THPT đã có một vốn kiến thức về ngôn ngữ khá phong phú và đadạng Do đó , các em đã có thể ý thức được hành vi ngôn ngữ và khả năngsáng tạo của mình Vì thế, trong quá trình giáo dục, nhà sư phạm luôn chú ýđến việc khai thác trí sáng tạo của HS Người GV cần nắm chắc những yếu tố
cơ bản tác động đến trí sáng tạo của chủ thể học tập để giúp cho quá trình sưphạm đạt chất lượng và hiệu quả cao
Về mặt tư duy và nhận thức của HS TTGDTX&DN Phúc Yên so với
HS THPT chúng tôi nhận thấy không có nhiều điểm khác biệt Về cơ bản đặcđiểm tư duy HS tại trường nghề cũng có những đặc điểm tư duy của HSTHPT nhưng cũng có những nét riêng: Ý thức của một bộ phận HS chưa tốt
Trang 21do nhiều nguyên nhân: về hoàn cảnh, lứa tuổi khác nhau nên sự nhận thứcmột số đối tượng HS cũng khác nhau, ý thức học tập chưa cao Các em vừahọc văn hóa vừa học nghề với lượng kiến thức dày đặc, giờ học nhiều dẫn đếntình trạng mệt mỏi và chán học Nhưng cũng có những trường hợp các em có
ý thức cao trong học tập đặc biệt có năng khiếu khi học nghề, phát huy đượctính sáng tạo của mình: như vẽ, thiết kế đồ họa, thiết kế xây dựng, lắp đặt hệthống điện tử… Khi phát huy được sở trường của mình các em đã thực hiệnnghiêm túc và phát huy khả năng tư duy và khả năng sáng tạo của mình.Trong quá trình dạy học Tiếng Việt theo phương pháp mới, lấy HS làm trungtâm, chúng tôi đã giúp các em hoạt động chủ động, tích cực và có nhiều sángtạo mới mẻ đặc biệt trong những giờ có sử dụng SĐTD, HS TT GDTX&DNPhúc Yên đã tỏ ra hào hứng, thích thú khiến giờ học thực sự có hiệu quả
Như vậy, sự tổng hợp về năng lực tư duy và những đặc điểm tâm lý của
HS THPT nói chung và HS TTGDTX&DN Phúc Yên nói riêng chính là tiền
đề để chúng ta khẳng định việc hình thành năng lực tự học tập, tự nghiên cứucho HS với việc ứng dụng SĐTD trong dạy học các bài tiếng Việt nói chung
và nhóm bài HĐGTBNN là một việc làm hợp lý có cơ sở khoa học
1.1.2 Sơ đồ tư duy trong giáo dục
1.2.1.1 Khái niệm SĐTD
Khi nghiên cứu bộ não con người, các nhà khoa học khẳng định: báncầu não trái điều khiển tư duy về trật tự, tuyến tính, logic và phân tích Báncầu não phải điều khiển cách biểu lộ cảm xúc và tư duy tổng hợp Việc tậptrung rèn luyện để phát huy sức mạnh của bán cầu não là rất quan trọng vàliên quan đến mục tiêu dạy học Trong bài báo nổi tiếng “Một tư duy mới” sựchuyển đổi từ thời đại thông tin sang thời đại khái niệm, Daniel Pink viết:
“Mãi gần đây, bán cầu não trái vẫn còn chi phối khả năng thành công trong
học tập, công việc hay kinh doanh Ngày nay năng lực đó vẫn cần thiết, song
Trang 22không còn đủ nữa Trong một thế giới bị đảo lộn bởi việc cho thuê làm bên ngoài, tràn ngập thông tin và đầy rẫy các sự lựa chọn, thì những khả năng quan trọng nhất gần với đặc tính của bán cầu não phải hơn Đó là khả năng cảm thụ nghệ thuật, biết cảm thông, có tầm nhìn rộng và khát vọng lớn” [ 25,
tr 266]
Từ những điều nói trên, có thể khẳng định trong sự phát triển nhận thứccủa con người, não trái có vai trò quan trọng Nó có những tác động lớn tớiquá trình chiếm lĩnh tri thức của con người Dựa vào những nghiên cứu về tácdụng của bộ não con người đối với sự phát triển nhận thức con người, SĐTD
đã ra đời nhằm phát huy được năng lực làm việc, sáng tạo và ghi nhớ của conngười Vậy SĐTD là gì? Và đã có rất nhiều khái niệm để nói về SĐTD:
Trong cuốn “Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật
dạy học” thì: “SĐTD là công cụ tổ chức tư duy, là con đường dễ nhất để chuyển thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Đồng thời là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của
nó SĐTD là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình ảnh, để
mở rộng và đào sâu các ý tưởng Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến SĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi rộng Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh… gây ra những kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa (hệ thống cổ áo) của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều thuận lợi để vỏ não phân tích, xử lý, rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình đối tượng cần nghiên cứu” [5 Tr.67].
Còn theo Tony Buzan người đã dành 30 năm để nghiên cứu về vấn đề
này, thì: “Bản đồ tư duy (Mindmap- Bản đồ tư duy, sơ đồ tư duy) là hình thức
ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào tạo các ý tưởng Ở giữa bản đồ là ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung
Trang 23tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý tưởng chính và đều được nối với ý trung tâm” [11, tr19].
Từ các quan niệm trên có thể khẳng định SĐTD là phương tiện mạnh
để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của não bộ SĐTD là hình thức ghichép tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nộidung, hệ thống hoá một chủ đề…bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh,đường nét, màu sắc, chữ viết…
Về đặc trưng, có thể nhận thấy SĐTD là một sơ đồ mở, việc thiết kếSĐTD theo mạch tư duy của mỗi người nên không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắtkhe như bản đồ địa lý hay bản đồ lịch sử Người sử dụng có thể thêm hoặc bớtcác nhánh tuỳ ý, mỗi người có thể vẽ một kiểu khác nhau, sử dụng hình ảnhmàu sắc, ngôn ngữ diễn đạt khác nhau Có thể cùng một chủ đề, cùng một nộidung nhưng mỗi người có thể “thể hiện” SĐTD theo cách riêng của mình, do
đó việc sử dụng SĐTD sẽ phát huy tối đa năng lực sáng tạo của mỗi người.Cũng bởi thế, nhiều nhà khoa học đã nhấn mạnh đây chính là công cụ tổ chức
tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó như một kĩ thuật hình họa với sự kết hợpgiữa từ ngữ, hình ảnh đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động vàchức năng của não bộ giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não.Một cách điển hình, SĐTD có cấu trúc như sau:
Trang 24Cho đến nay, SĐTD được coi là sự lựa chọn cho trí óc hướng tới lốisuy nghĩ mạch lạc Vì vậy, GV có thể vận dụng nó để hỗ trợ dạy học các dạngbài nghiên cứu kiến thức mới, bài ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức chongười học sau mỗi bài/chương/phần/chuyên đề/học kì… và giúp cho cán bộquản lý lập kế hoạch công tác hiệu quả Nếu phương pháp ghi chú kiểu truyềnthống không hiệu quả như chúng ta thường nghĩ, vậy một công cụ ghi chúhiệu quả phải như thế nào? Câu trả lời là: một công cụ ghi chú hiệu quả phảitận dụng được những từ khóa cũng như các nguyên tắc của Trí Nhớ SiêuĐẳng Với cách ghi chú như thế, cả não trái lẫn não phải, hay phần lớn côngsuất của não bộ sẽ được huy động triệt để nhằm mang lại hiệu quả tối ưu nhất.SĐTD chính là công cụ ghi chú tuyệt vời giúp bạn đạt được tất cả các yếu tốtrên Đó chính là lý do tại sao SĐTD được gọi là phương tiện ghi nhớ tối ưu.Bởi: Nguyên tắc Trí Nhớ Siêu Đẳng + Từ khóa + Não trái phải = SĐTD
1.2.1.2 Tác dụng của SĐTD
Theo cuốn sách “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế”- Trong phần chương 7- Sơ
đồ tư duy (Mindmap) các tác giả công trình này có nhắc đến tác dụng củaSĐTD:
“Hình vẽ minh họa bên dưới là một ví dụ của SĐTD về “Tác động thời
tiết”, một chương học trong sách giáo khoa địa lý (Singapore) SĐTD này thể
hiện khá rõ ưu điểm của việc ghi chú theo kiểu này
Trang 25Trước hết, SĐTD giúp bạn tiết kiệm được thời gian vì nó tận dụng
những từ khoá Nếu bạn nhìn kỹ SĐTD về “Tác động thời tiết” phía trên, bạn
sẽ cảm thấy rất thú vị khi phát hiện ra nó bao hàm kiến thức từ 10 trang sáchgiáo khoa Nhờ vào việc tận dụng những từ khóa và hình ảnh sáng tạo, mộtkhối lượng kiến thức như thế được ghi chú hết sức cô đọng trong một tranggiấy, mà không bỏ lỡ bất kỳ một thông tin quan trọng nào Tất cả nhữngthông tin cần thiết để đạt điểm cao trong kỳ thi vẫn được lưu giữ nguyên vẹn
từ những chi tiết nhỏ nhặt nhất
Ví dụ, khi nhìn vào SĐTD về “Tác động thời tiết” ở phía trên, bạn có thể thấy rằng: định nghĩa “Tác động cơ học” của thời tiết là việc những khối
đá lớn bị vỡ ra thành những khối đá nhỏ hơn khi chịu tác động từ một lực vật
lý Định nghĩa dài này được giảm lại chỉ còn 1/3 trong SĐTD Có thể nói,việc học tập bằng SĐTD mang lại những lợi thế nhất định đối với những cáchhọc tập thông thường khác Khi cần phải ôn lại bài trước ngày thi, người học
có thể ôn lại toàn bộ chương sách dài 20 trang chỉ bằng việc ôn lại 2-3 trangSĐTD trong khi nếu học theo cách thông thường có thể phải mất một tiếng đểhoàn tất việc ôn lại cùng một chương sách mà vẫn có thể bỏ sót thông tin,
Trang 26trong khi bạn chỉ cần 20 phút để ôn lại toàn bộ kiến thức một cách hoànchỉnh Như vậy, SĐTD giúp con người có thể khái quát một cách cô đọng,đầy đủ, chính xác những nội dung kiến thức dài Từ đó người học sẽ dễ dàngghi nhớ kiến thức một cách hệ thống.
Bên cạnh đó, việc học tập có sử dụng SĐTD tận dụng được hết các
nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng Cùng với việc tận dụng các từ khóa, SĐTD
còn tận dụng được các nguyên tắc của Trí Nhớ Siêu Đẳng, và nhờ đó tăng khảnăng tiếp thu và nhớ bài nhanh của bạn Để tạo dựng một trí nhớ tốt chongười học, người ta cần phát huy được các yêu cầu sau:
Khi học tập, người học phải có được sự hình dung về hệ thống kiến
thức đã học, hình dung rõ về tính tầng bậc trong các đơn vị kiến thức SĐTD
có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về kiến thức cần nhớ Đây là mộttrong những nguyên tắc quan trọng nhất của Trí Nhớ Siêu Đẳng Đối với não
bộ, SĐTD giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh màu sắc phong phú hơn
là một bài học khô khan, nhàm chán
Khi đã nắm được tính hệ thống của các đơn vị kiến thức, người họcbiết cách liên tưởng, tưởng tưởng để tìm cách thể hiện sự liên kết các đơn vịkiến thức lại với nhau Tính liên kết ấy có thể được minh họa qua SĐTD dướiđây: Từ một từ khóa, ta có thể phân nhánh kiến thức thành các nhánh nhỏ.Mỗi nhánh thể hiện một phương diện liên kết với từ khóa ở trung tâm của sơđồ
Trang 27Khi thiết kế các SĐTD, người thiết kế có thể sử dụng màu sắc khácnhau nhằm làm nổi bật sự việc Đây cũng chính là một điểm khá riêng, tạonên sức hấp dẫn của việc sử dụng phương tiện dạy học này Để trình bày nộidung kiến thức bằng chữ viết, để thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu,SĐTD cho phép bạn làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụngnhững màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng Hơn nữa, việc SĐTD dùng rấtnhiều màu sắc khiến bạn phải vận dụng trí tưởng tượng sáng tạo đầy phongphú của mình Nhưng đây không chỉ là một bức tranh đầy màu sắc sặc sỡthông thường, SĐTD giúp bạn tạo ra một bức tranh mang tính lý luận, liên kếtchặt chẽ về những gì bạn được học.
Học tập có sử dụng phương tiện hiện đại này, người học được rèn luyện
và huy động khả năng hoạt động của cả hai bán cầu não cùng một lúc Việc sửdụng hay thiết kế các SĐTD thật sự giúp bạn tận dụng các chức năng của nãotrái lẫn não phải khi học Đây chính là công cụ học tập vận dụng được sứcmạnh của cả bộ não Nếu vận dụng đúng cách, nó sẽ hoàn toàn giải phóngnhững năng lực tiềm ẩn trong bạn, đưa bạn lên một đẳng cấp mới, đẳng cấpcủa một tài năng thực thụ hay thậm chí của một thiên tài
Trang 281.1.3 Ứng dụng của SĐTD trong giáo dục
SĐTD là một công cụ hữu hiệu trong quá trình giảng dạy và học tập vìchúng giúp cho HS và GV có thể trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suynghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học haymột cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghinhớ, đưa ra một ý tưởng
mới…
1.1.3.1 Ứng dụng của SĐTD trong giảng dạy
Chuẩn bị bài giảng: Chúng ta đang sở hữu một lượng thông tin rất lớn
từ nhiều nguồn như: sách, tạp chí chuyên ngành… Đặc biệt, trong thời đạibùng nổ thông tin ngày nay, chúng ta có cơ hội tiếp cận với nguồn tài liệu vôcùng hữu ích và phong phú từ internet Từ biển thông tin này, để soạn ra đượcmột bài giảng duy nhất thì hẳn ta sẽ phải sử dụng rất nhiều ghi chú Bằng cách
sử dụng SĐTD, việc chuẩn bị bài giảng có thể giảm được số lượng ghi chú
GV có thể tái hiện tất cả thông tin chỉ trên một trang giấy, giúp kế hoạch soạnbài giảng ngắn gọn và rõ ràng hơn, dễ theo dõi, tổng hợp tài liệu nhanh chóng.Với phần mềm hỗ trợ, ta có thể truy cập vào tất cả các ghi chú, tập tin và liênkết trang wed từ trong SĐTD
Giảng dạy: SĐTD là công cụ lý tưởng giúp GV có thể giảng dạy và
trình bày các khái niệm trong giờ học một cách đầy đủ, nhanh, gọn và chínhxác SĐTD giúp GV tập trung vào vấn đề cần trao đổi cho HS, cung cấp chochủ thể học tập một cái nhìn tổng quan về chủ đề mà không có thông tin thừa
HS sẽ không phải tập trung vào việc đọc nội dung trên slide, thay vào đó sẽlắng nghe những gì GV diễn đạt, nhờ đó hiệu quả bài giảng được tăng lên Cómột điều thú vị là trong quá trình giảng dạy GV có thêm ngay vào nhánhtương ứng hoặc tạo một nhánh mới
Lên kế hoạch chương trình giảng dạy: Điều quan trọng của việc giảng
dạy là làm sao để lên kế hoạch chương trình dạy học cho tốt Với yêu cầu đưa
Trang 29ra chương trình giảng dạy mới bao gồm: tóm tắt, mục tiêu, và định hướng chomôn học… khiến cho công việc càng thêm quá tải Với SĐTD ta có thể tạoriêng cho mình kế hoạch năm theo thứ tự, ưu tiên các chủ đề chính và thêmthời hạn khi cần thiết Khi sử dụng phần mềm, việc tạo lập kế hoạch đượcgiảm bớt rắc rối, nhờ ta có thể liên kết tài liệu từ chương trình phần mềm khácnhau của Microsoft Office như Word và Excel.
Chuẩn bị tài liệu, bài tập phát trên lớp học: SĐTD là phương tiện dạy
học lý tưởng, giúp ta phân phát tài liệu bài tập trong lớp học, vì trong SĐTD
sẽ chứa thông tin ngắn gọn, màu sắc, hình ảnh cùng với cách bố trí trực quanhấp dẫn sẽ cuốn hút các HS ngay lập tức Phương tiện dạy học hiện đại này cóthể cung cấp cái nhìn tổng quan, ngắn gọn về một chủ đề, làm cho ngay cảnhững vấn đề phức tạp nhất cũng trở nên dễ hiểu và thú vị Nó đặc biệt hữuích cho người học trực quan, chẳng hạn như học sinh mắc chứng khó đọc.Thường những HS này cảm thấy thất vọng và lười học khi bài học ở dạng vănbản toàn chữ Khi sử dụng SĐTD bằng phần mềm, ta còn có thể xuất ra dạnghình ảnh, hay dạng wed… sau đó gửi mail cho HS trước ngày học Vậy là HS
sẽ nắm được nội dung cho buổi giảng tiếp theo
Khuyến khích thảo luận và suy nghĩ độc lập: Việc tương tác trong lớp
học và lắng nghe HS là yếu tố quan trọng để giúp HS suy nghĩ độc lập SĐTD
là công cụ lý tưởng hỗ trợ cho các cuộc thảo luận trong lớp, vì bản chấtSĐTD khuyến khích cho HS tập trung liên kết giữa các chủ đề cũng như hìnhthành lan toả ý tưởng và ý kiến của họ
Đánh giá HS: SĐTD là một công cụ quan trọng, giúp ta đánh giá kiến
thức của HS trước và sau bài giảng về một chủ đề cụ thể Qua đó, ta có thểtheo dõi sự hiểu biết của HS SĐTD khuyến khích cho HS thể hiện lý tưởngtheo sự hiểu biết của cá nhân và tự đánh giá bản thân sau buổi học
Trang 30Tự đánh giá: SĐTD cho phép ta đánh giá khả năng hiện tại (ví dụ,
trong các lĩnh vực như cung cấp bài học, tài liệu, tương tác…) và sau đó, thiếtlập mục tiêu những gì ta muốn đạt được trong vòng một tuần, một tháng, mộtnăm Tác dụng mạnh mẽ của việc tự đánh giá này sẽ cho phép ta tiếp tục cảithiện và đáp ứng các mục tiêu giảng dạy
1.1.3.2 Ứng dụng của SĐTD trong học tập
SĐTD giúp HS đạt kết quả học tập tốt hơn, cải thiện khả năng nhớ.Quan trọng hơn là công việc ghi chép của HS sẽ đột phá đáng kể, giúp tiếtkiệm thời gian của mình
Ghi chép và ghi nhớ: đầu tiên, SĐTD là công cụ ghi chép thông tin vô
cùng hiệu quả Ta đã từng trải qua cảm giác bị quá tải vì số lượng bài học cầnghi chép ngày càng nhiều và gặp khó khăn để ghi nhớ chúng SĐTD để xuấtcách ghi thông tin chỉ bằng TỪ KHOÁ, sau đó liên kết các kiển thức, ý tưởngmột cách trực quan Mọi thông tin chỉ thể hiện trên một trang giấy sẽ cho taBỨC TRANH TOÀN CẢNH lượng kiến thức của môn học SĐTD đơn giảnhoá quá trình ghi chép bài học, thay vì phải viết trên nhiều trang giấy, giờ đây
HS chỉ cần ghi chép TẬP TRUNG trên một trang giấy Sau buổi học, HS cóthể nhìn qua là có thể ôn lại Hơn nữa, khi sử dụng phần mềm để vẽ SĐTD, tacòn có thể thêm vào hình ảnh, video, tài liệu liên quan, hay wed link Cácthông tin này được thêm vào, hiệu chỉnh trong suốt học kỳ Riêng việc này đãgiảm tải áp lực cho ta rất nhiều trước kì thi
Thi cử: là nỗi ám ảnh của HS Trước ngày thi HS thường phải tiêu thụ
một khối lượng kiến thức và bài tập Giải pháp là ta hãy lập MM cho từngmôn học ngay từ đầu năm, thêm vào những ý chính, quan trọng Dành ra 5phút mỗi ngày để xem lại bổ sung, cập nhật những kiến thức học được mỗingày Thông tin từ các nhánh trong SĐTD sẽ liên kết với nhau Cuối cùngnhững kiến thức sẽ được ghi nhớ một cách chủ động Việc thi cử sẽ trở nên dễdàng
Trang 31Kích thích sự sáng tạo: Ta đã từng bao giờ thử viết một câu chuyện, vẽ
một bức tranh, lên kế hoạch cho bài tiểu luận và phát hiện ra là mình chưa có
ý tưởng nào để bắt đầu Vậy ta phải làm sao? Hãy vẽ SĐTD Đơn giản là vìSĐTD hoạt động giống như bộ não, nó sẽ kích hoạt đồng thời cả hai bên nãotrái, não phải Quá trình vẽ sẽ hiện thực quy trình tư duy của ta trên giấy thật
rõ rang.Chính những ý tưởng này sẽ kích hoạt TIỀM NĂNG SÁNG TẠO vôtận bên trong ta
Giải quyết vấn đề: Khi gặp phải vấn đề khó, theo bản năng, con người
sẽ thấy hốt hoảng và lo lắng Lúc này, tim sẽ đập nhanh hơn và cảm thấy căngthẳng Thay vì “ép” não mình căng thẳng, con người cần phải tìm ngay ra giảipháp Một trong những cách dễ dàng nhất là dùng SĐTD để vẽ ra nhiều khảnăng và lựa chọn cho vấn đề Phương pháp để tìm giải pháp tốt nhất cho vấn
đề là hãy đưa ra thật nhiều giải pháp SĐTD cho ta cái nhìn tổng quát Sau đó,
ta hãy lựa chọn giải pháp thực tế và thiết thực nhất dành cho mình
Thuyết trình: Nhiều HS rất ngại phải thuyết trình Họ cảm thấy không
tự tin, mất bình tĩnh trước đám đông dẫn đến quên nội dung cần thuyết trình.Bài thuyết trình càng dài thì cảm giác lo lắng càng lớn Khi chọn SĐTD làmgiải pháp thuyết trình,ta không phải mất thời gian đọc từng slide nhàm chán.Thay vào đó, dùng SĐTD để ghi lại TỪ KHOÁ và HÌNH ẢNH Việc nàykích hoạt kỹ năng diễn đạt và khả năng nhớ của ta Công việc thuyết trình sẽtrở nên tự nhiên hơn và ta sẽ có nhiều thời gian để giao tiếp với khán giả củamình hơn
Làm việc nhóm: Hầu như HS nào cũng làm việc nhóm SĐTD là công
cụ tuyệt vời để ta suy nghĩ ra nhiều ý tưởng Ta đề xuất ý tưởng của mìnhbằng SĐTD, sau đó cùng chia sẻ với các bạn khác Cuối cùng nhóm có đượcrất nhiều ý kiến hay giải pháp sáng tạo
Trang 321.2 Cơ sở lý luận về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.2.1 Hoạt động giao tiếp của con người
Trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, con người cần phải giao tiếpvới nhau Xã hội càng phát triển, nhu cầu giao tiếp của con người càng nhiều
Vì thế, giao tiếp được coi là một phương tiện xã hội, là cách thức, hoạt động
để tiếp nhận các thông tin của đời sống, để trao đổi mọi tư tưởng, tình cảmgiữa người và người trong mọi mặt của đời sống
Hoạt động giao tiếp là hoạt động diễn ra thường xuyên giữa mọi ngườitrong xã hội Giao tiếp có ở mọi nơi, mọi lúc, có thể ở dạng lời nói nhưngcũng có khi tồn tại ở dạng viết Giao tiếp cũng có thể được tiến hành bằngnhiều phương tiện “ngôn ngữ” khác như: cử chỉ, điệu bộ, hành động, nét mặt,các phương tiện kĩ thuật (tất cả được gọi là các hành vi siêu ngôn ngữ) Tuynhiên phương tiện quan trọng nhất, phổ biến nhất và hiệu quả tối ưu nhất vẫn
là ngôn ngữ Nhờ ngôn ngữ và giao tiếp, con người trao đổi thông tin, bộc lộtình cảm, thái độ, quan hệ để tổ chức xã hội hoạt động Như vậy, giao tiếp làmột quá trình quan hệ tác động giữa các cá thể, là quá trình thông tin quan hệgiữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫnnhau và trao đổi cảm xúc lẫn nhau Nói một cách khác, giao tiếp là hoạt độngđặc trưng mà chỉ có trong xã hội loài người Với quan niệm về hoạt động giaotiếp như trên, có thể nhận thấy: đây là một hoạt động quan trọng của conngười Về bản chất, hoạt động này là quá trình tiếp xúc nhằm thực hiện cácmối quan hệ xã hội; giúp con người đạt các mục đích như trao đổi thông tin,tạo sự hiểu biết, gây dựng tình cảm đối với đồng loại trong đời sống Nhưvậy, có thể khẳng định: khi nói đến giao tiếp là ta nói đến một hoạt động đặctrưng của con người Nó là hoạt động đặc trưng bởi nhờ có hoạt động này màcon người mới tạo lập và vận hành được các mối quan hệ xã hội Hơn nữa,nhờ có nó con người mới có thể thể hiện những thông tin tình cảm, giãi bày
Trang 33được những cung bậc tâm lý rất tinh tế của chính bản thân con người Có thểnói, hoạt động giao tiếp đóng vai trò quyết định đến sự hình thành và pháttriển tâm lí nhân cách cá nhân qua hai quá trình:
Quá trình đối tượng hóa: chủ thể chuyển năng lực và phẩm chất tâm lý
của mình tạo thành sản phẩm Thông qua hoạt động giao tiếp, tâm lý ngườiđược bộc lộ, khách quan hóa trong quá trình tạo ra sản phẩm, hay còn đượcgọi là quá trình xuất tâm Ví dụ: Khi thuyết trình một môn học nào đó thìngười thuyết trình phải sử dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm của mình
về môn học đó để thuyết trình Trong khi thuyết trình thì mỗi người lại có tâm
lý khác nhau: người thì rất tự tin, nói to, mạch lạc, rõ ràng, logic; người thìrun, lo sợ, nói nhỏ không mạch lạc Cho nên phụ thuộc vào tâm lý của mỗingười mà bài thuyết trình đó sẽ đạt yêu cầu hay không đạt yêu cầu
Quá trình chủ thể hóa: khi tham gia hoạt động giao tiếp, con người tiếp
thu lấy tri thức, đúc rút được kinh nghiệm nhờ quá trình tác động vào đốitượng, hay còn được gọi là quá trình nhập tâm Ví dụ: Sau lần thuyết trình lầnđầu tiên thì cá nhân đó rút ra được rất nhiều kinh nghiệm cho bản thân và đãbiết làm thế nào để có một bài thuyết trình đạt hiệu quả tốt Nếu lần sau có cơhội được thuyết trình thì sẽ phải chuẩn bị một tâm lý tốt, đó là: phải tự tin, nói
to, rõ ràng, mạch lạc, logic, phải làm chủ được mình trước mọi người Nhưvậy, giao tiếp là hoạt động xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa người vớingười nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định Trong đời sống xã hội, giaotiếp có vai trò quan trọng đối với mỗi cá nhân Điều đó được khẳng định quacác phương diện sau:
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội: Giao tiếp là điều
kiện tồn tại của con người Nếu không có giao tiếp với người khác thì conngười không thể phát triển, cảm thấy cô đơn và có khi trở thành bệnh hoạn.Nhiều nhà tâm lý học đã khẳng định, nếu không có sự giao tiếp giữa con
Trang 34người thì một đứa trẻ không thể phát triển tâm lý, nhân cách và ý thức tốtđược Như vậy, nếu không có giao tiếp thì không có sự tồn tại xã hội, bởi xãhội luôn là một cộng đồng người có sự ràng buộc, liên kết với nhau Nhờ cóhoạt động này, mỗi cá nhân có thể xác định được các mức độ nhu cầu, tưtưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm… của đối tượng giao tiếp, nhờ đó màchủ thể đáp ứng kịp thời, phù hợp với mục đích và nhiệm vụ giao tiếp Cũngthông qua giao tiếp, con người biết tạo ra các hình thức giao tiếp giữa cá nhânvới cá nhân, giữa cá nhân với nhóm, giữa nhóm với nhóm hoặc giữa nhómvới cộng đồng.
Giao tiếp là nhu cầu sớm nhất của con người từ khi tồn tại đến khi mất đi:Từ khi con người sinh ra đã có nhu cầu giao tiếp, nhằm thỏa mãn những
nhu cầu của bản thân Ở đâu có sự tồn tại của con người thì ở đó có sự giaotiếp giữa con người với con người, giao tiếp là cơ chế bên trong quyết định sựtồn tại và phát triển con người Để tham gia vào các quan hệ xã hội, giao tiếpvới người khác thì con người phải có một cái tên và phải có phương tiện đểgiao tiếp Để có thể tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cần phải có tri thức, cónghề nghiệp cụ thể Việc đào tạo, chuẩn bị tri thức, việc tiếp xúc với mọingười trong cuộc sống, việc tạo dựng các mối quan hệ xã hội đều xuất phát từhoạt động giao tiếp Và ngôn ngữ chính là một phương tiện quan trọng để conngười có thể giao lưu, tiếp xúc với nhau Giao tiếp giúp con người truyền đạtkinh nghiệm, thuyết phục, kích thích đối tượng giao tiếp hoạt động, giải quyếtcác vấn đề trong học tập, sản xuất kinh doanh, thỏa mãn những nhu cầu hứngthú, cảm xúc tạo ra Qua giao tiếp giúp con người hiểu biết lẫn nhau, liên hệvới nhau và làm việc cùng nhau
Thông qua giao tiếp con người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa, xã hội, đạo đức, chuẩn mực xã hội: Trong quá trình
giao tiếp thì cá nhân điều chỉnh, điều khiển hành vi của mình cho phù hợp với
Trang 35các chuẩn mực xã hội, quan hệ xã hội, phát huy những mặt tích cực và hạnchế những mặt tiêu cực Khi tham gia vào hoạt động giao tiếp, đặc biệt là khitiếp nhận những thông tin giao tiếp cụ thể, con người có điều kiện tiếp nhậnnền văn hóa, xã hội, lịch sử biến những kinh nghiệm đó thành vốn sống, kinhnghiệm của bản thân hình thành và phát triển trong đời sống tâm lý Nhờ cógiao tiếp con người có thể truyền đạt cho nhau những tư tưởng, tình cảm, thấuhiểu và có điều kiện tiếp thu được những tinh hoa văn hóa nhân loại, biết cáchứng xử như thế nào phù hợp với chuẩn mực xã hội Đó là điều kiện cần thiếtgóp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Nếu con người trong xã hội màkhông giao tiếp với nhau thì sẽ không có một xã hội tiến bộ Theo đó, các cánhân trong xã hội đó cũng không có điều kiện để phát triển.
Thông qua giao tiếp, con người hình thành năng lực tự ý thức: Tự ý
thức là điều kiện trở thành chủ thể hành động độc lập, chủ thể xã hội Trongquá trình giao tiếp, con người nhận thức đánh giá bản thân mình trên cơ sởnhận thức đánh giá người khác Theo đó, mỗi cá nhân có xu hướng tìm kiếm
ở người khác để xem ý kiến của mình có đúng không, thừa nhận không Trên
cơ sở đó họ có sự tự điều chỉnh, điều khiển hành vi của mình theo hướng tăngcường hoặc giảm bớt sự thích ứng lẫn nhau Như vậy, thông qua giao tiếp thì
cá nhân tự điều chỉnh, điều khiển hành vi theo mục đích tự giác Cũng nhờ
có giao tiếp, mỗi cá nhân có khả năng tự giáo dục và tự hoàn thiện mình Cánhân tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội tâm, tâm hồn, nhữngdiễn biến tâm lý, giá trị tinh thần của bản thân, vị thế và các quan hệ xã hội.Khi một cá nhân đã tự ý thức được khi ra xã hội họ thường nhìn nhận và sosánh mình với người khác xem họ hơn người khác ở điểm nào và yếu hơn ởđiểm nào, để nỗ lực và phấn đấu, phát huy những mặt tích cực và hạn chếnhững mặt yếu kém
Hoạt động giao tiếp hoàn chỉnh gồm hai quá trình, mỗi nhân vật giaotiếp thực hiện một quá trình: người phát thực hiện quá trình phát tin (hay quá
Trang 36trình kí mã, tạo lập văn bản, phát thông điệp) Còn người nhận thực hiện quátrình tiếp nhận (đọc, nghe và lĩnh hội hay giải mã thông điệp, văn bản hoặcdiễn ngôn) Như thế một hoạt động giao tiếp hoàn chỉnh để đạt một mục đích
và hiệu quả cần bao gồm hai quá trình tương tác: phát và nhận Hai quá trìnhnày cần được tiến hành theo cùng một mã ngôn ngữ, cùng một đường kênhgiao tiếp Hơn nữa, những nhân vật giao tiếp thực hiện hai quá trình này lạicần có những kiến thức bách khoa gần gũi hoặc tương đương nhau Hãy hìnhdung trường hợp một em HS Tiểu học tiếp nhận một văn bản khoa học quáchuyên sâu về một lĩnh vực như vật lí hạt nhân chẳng hạn để thấy sự bất cậptrong lĩnh hội và sự thực không thể xảy ra hoạt động giao tiếp được Điều đócũng thuộc về nhân tố ngữ cảnh (ngữ cảnh văn hóa) mà trên đây đã đề cậpđến
Có thể minh họa một cách trọn vẹn hoạt động giao tiếp ngôn ngữ vớicác nhân tố của nó qua ví dụ sau đây Lẽ ra nên dẫn ví dụ bằng ngôn ngữ âmthanh ghi lại nhờ phương tiện kĩ thuật, nhưng dạng thức đó không thể đưatrực tiếp vào văn bản viết này được, nên chỉ có thể dùng những ví dụ rút từ tácphẩm văn chương như là sự ghi lại từ giao tiếp đời thường
(1) Trong Bắt cá sấu rừng U Minh Hạ, nhà văn Sơn Nam đã kể lại cuộc hội thoại như sau:
Sau khi tự xưng danh tính, ông bảo:
-Nghe đồn có ao sấu, tôi chẳng nệ đường xa để tới xứ Khánh Lâm này.
- Té ra ông là thợ câu sấu!
Ông Năm Hên lắc đầu:
- Thợ bắt sấu chớ không phải thợ câu Hai nghề đó khác nhau Câu thì dùng lưỡi sắt, móc mồi bằng con vịt sống đó là dưới nước Đằng này tôi chuyên bắt sấu trên khô, không cần lưỡi.
- Vậy chớ ông bắt bằng gì?
- Tôi bắt bằng…hai tay không.
Trang 37Đoạn thoại diễn ra giữa hai nhân vật giao tiếp là ông Năm Hên vàngười làng Khánh Lâm, dưới dạng thức ngôn ngữ nói và phi quy thức Cácnhân vật giao tiếp đó vốn không quen biết, nhưng có vị thế ngang bằng Họ
nói và dùng những phương tiện phụ trợ (cử chỉ: lắc đầu), đổi vai cho nhau, và
mỗi nhân vật đều lần lượt đóng vai người phát hay người nhận Cuộc giao tiếp
diễn ra ở vùng nông thôn Nam Bộ (dùng các từ địa phương: danh tánh, nệ, té
ra) và mang những nét của ngữ cảnh văn hóa Việt Nam (nơi có cá sấu, có
nghề câu hoặc bắt cá sấu và mọi người đều biết cá sấu là con vật nguy hại…).Nội dung và mục đích giao tiếp biểu diễn ở lời nói(văn bản, diễn ngôn) củacác nhân vật đó là chuyện bắt cá sấu Nhưng trong lời nói của các nhân vật vềcùng sự việc đó còn bộc lộ sự nhìn nhận, đánh giá riêng về sự việc: sự hoàinghi của dân làng, sự tự tin của ông Năm Hên
Toàn bộ các nhân tố giao tiếp ngôn ngữ đã biểu lộ trong cuộc hội thoạitrên Có thể thể hiện hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ với các nhân tố vàcác quá trình của nó trong sơ đồ sau:
Ngữ cảnh Ngôn ngữ
Hình thức, mục đích)
1.2.2 Vai trò của ngôn ngữ với hoạt động giao tiếp của con người
Giao tiếp chính là sự tiếp xúc giữa người và người, trong đó diễn ra quátrình trao đổi nhận thức tư tưởng, tình cảm, bàn bạc hành động… Giao tiếp cóthể tiến hành bằng những phương tiện khác nhau:thô sơ, đơn giản như điệu
bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt…, còn tối tân, hiện đại như các phương tiện vôtuyến viễn thông, các phương tiện của công nghệ thông tin… Tuy nhiên, ngônngữ vẫn là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người và xã hội loài
Trang 38người Sở dĩ có thể khẳng định ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọngnhất là vì những ưu thế của ngôn ngữ:
Về thời gian lịch sử, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp sớm nhất, lâu
đời của con người Ngay từ khi có con người cho đến nay, ngôn ngữ đã vàvẫn là phương tiện giao tiếp của mọi cộng đồng ngôn ngữ, mọi dân tộc.Những phương tiện giao tiếp khác (biển giao thông, tiếng trống trường, biểutượng của các tổ chức xã hội, chữ viết…) ra đời muộn hơn nhiều
Xét về phương diện không gian (phạm vi sử dụng), ngôn ngữ là phương
tiện giao tiếp phổ biến nhất, rộng rãi nhất Mọi cá nhân, mọi ngành nghề, mọilứa tuổi, mọi dân tộc… đều dùng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp hàng ngày.Nhiều phương tiện giao tiếp khác chỉ dùng trong một hay một số lĩnh vực của
xã hội và con người Các biển chỉ dẫn trên đường giao thông chỉ dùng tronglĩnh vực giao thông, thậm chí là chỉ trong giao thông cơ giới Các hệ thống kíhiệu bằng cử chỉ của tay chỉ dùng để giao tiếp với những người câm điếc…
Xét về hiệu quả, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp giúp con người biểu
hiện và trao đổi được mọi nội dung thông tin Không một nội dung nào màcon người cần biểu hiện và trao đổi lại không thể biểu hiện được bằng ngônngữ Từ những nội dung trừu tượng, khái quát như những khái niệm hay địnhluật khoa học, đến những nội dung cụ thể như thể hiện những sự vật, hiệntượng vật chất, cả những sắc thái tế nhị trong tâm lý, tình cảm của con người,ngôn ngữ đều thể hiện được một cách rất hữu hiệu
Chính vì những ưu thế và hiệu quả như vậy mà trong lịch sử văn minhnhân loại đã có những phương tiện khác ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu ngàycàng cao, ngày một phong phú, phức tạp, nhanh chóng trong việc thể hiện vàtrao đổi nội dung thông tin (tín hiệu viễn thông, công nghệ thông tin…),nhưng chúng không thể thay thế hoàn toàn cho ngôn ngữ tự nhiên (tiếng nói)của con người, mà chỉ bổ sung, hỗ trợ cho ngôn ngữ
Trang 39Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có thể hiện diễn ra theo hai dạngthức cơ bản: quy thức và phi quy thức Giao tiếp theo quy thức là giao tiếpđược tổ chức theo kế hoạch, có chiến lược theo hoạch định một cách có ýthức và mang tính chất nghiêm túc, trang trọng… Chẳng hạn, giao tiếp ngônngữ giữa thầy giáo và HS trong lớp học, giữa người diễn thuyết hay thuyếttrình và cử tọa, giữa tòa án và tội phạm hay kẻ liên đới, giữa những ngườitham dự một buổi họp… Còn giao tiếp phi quy thức là giao tiếp tự nhiên,ngẫu nhiên, không định trước, không có kế hoạch, chương trình hoạch địnhtrước, do đó mang tính chất tự do, thoải mái Ví dụ: giao tiếp giữa đám đônghỗn độn trên đường phố do một vụ va quệt xe, giữa những người mua bán ởchợ, giữa những người không quen biết gặp nhau giữa đường, giữa nhữngngười tụ tập nhau cốt để nói chuyện tào lao, giải trí… Thông thường, tronggiao tiếp phi quy thức thì ngôn ngữ nói là phương tiện chủ đạo, chính yếu, tuycũng có khi dùng ngôn ngữ viết: nhắn tin, rao vặt, viết thư, ghi nhật kí… Cònngược lại, trong giao tiếp quy thức thì ngôn ngữ viết (văn bản) lại được sửdụng ưu thế hơn Vì thế, trong các lĩnh vực giao tiếp như lĩnh vực khoa học,hành chính, ngoại giao…thường có nhu cầu cao về giao tiếp qua văn bản viết.
1.2.3 Các nhân tố hoạt động giao tiếp
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong cuộc sống thông thường của con
người tuy rất đa dạng, nhưng thường được tạo nên bởi một số nhân tố sau đây:
Nhân vật giao tiếp: Nhân vật giao tiếp gồm người phát (nói hay viết) và
người nhận (nghe hay đọc) Trong giao tiếp, hai nhân vật này thường đổi vainói và nghe cho nhau, tạo nên các phát ngôn Do đó, mỗi người tham gia giaotiếp đều cần có cả năng lực nghe (đọc, tiếp nhận) và năng lực nói (viết, pháttin) Mỗi nhân vật giao tiếp có những đặc điểm riêng về giới tính, lứa tuổi,nghề nghiệp, sở thích, vốn văn hóa, vốn sống… và tiến hành giao tiếp với tất
cả những dấu ấn cá nhân đó của mình Hơn nữa, giữa các nhân vật giao tiếp
Trang 40có những quan hệ thể hiện ở hai phương diện cơ bản, vị thế và quan hệ thân
sơ Vị thế (khác biệt hay ngang hàng) được xác định theo tuổi tác, cương vị xãhội, cương vị trong gia đình, trong tổ chức xã hội, trong môi trường làmviệc… và vị thế đó là một hằng thể không biến đổi trong hoạt động giao tiếp.Mặt thứ hai giữa các nhân vật giao tiếp là quan hệ thân sơ: quen biết hay xa
lạ, gần gũi hay cách biệt, thân thích hay nhạt nhòa , mặt này có thể biến đổitrong qúa trình giao tiếp Tất cả những đặc điểm về vị thế và quan hệ thân sơgiữa các nhân vật giao tiếp cũng sẽ bộc lộ và chi phối nội dung, hình thức vàcách thức giao tiếp của họ
Ngữ cảnh giao tiếp: Đó là bối cảnh diễn ra hoạt động giao tiếp Nó
luôn luôn chi phối hoạt động giao tiếp, chi phối nội dung, hình thức của văn
bản, chi phối cách thức giao tiếp Ngữ cảnh bao gồm ngữ cảnh tình huống và
ngữ cảnh văn hóa.
Ngữ cảnh tình huống( ngữ cảnh hẹp): là thời gian, địa điểm, cụ thể,
những tình huống cụ thể khi hoạt động giao tiếp diễn ra Chẳng hạn, tìnhhuống mua bán ở một chợ nông thôn giữa người bán và người mua về mộtmặt hàng cụ thể với số lượng và giá cả nhất định Hay là tình huống giao tiếpgiữa chị Dậu và Nghị Quế trong cảnh bán con, bán chó cho vợ chồng nhà hắn
Đó là tình huống mà gia đình chị Dậu nghèo khó, bần cùng; anh Dậu, chồngchị, đang ốm đau, hơn nữa nhà chị lại đang nợ tiền sưu thuế do túng thiếu và
do cả việc phải nộp thêm suất sưu cho người em anh Dậu đã mất Ngược lại,
vợ chồng Nghị Quế không chỉ là kẻ có vị thế xã hội cao hơn chị Dậu (mộtquan dân biểu), mà về mặt tiền của, gia sản còn là nhà giàu “nứt đố đổ vách”trong vùng Tình huống đó chi phối sự giao tiếp giữa chị và vợ chồng NghịQuế về mọi phương diện: sự xưng hô, từ ngữ nói năng, từng ý từng lời củacác nhân vật…và cả hiệu quả giao tiếp