nghiên cứu tổng thể của luận án là đánh giá sự tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia của cộng đồng nhằm đề xuất một số giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN DIỆU HẰNG
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG:
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC TẠI HỒ THÁC BÀ,
TỈNH YÊN BÁI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
(Phân bố lực lượng sản xuất và phân vùng kinh tế)
MÃ SỐ: 62340410
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Xác nhận của người hướng dẫn 1
PGS TS Lê Hà Thanh
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Diệu Hằng
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢN G
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 7
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 8
4 Những đóng góp mới của luận án 8
5 Kết cấu của luận án 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 11
1.1 Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng 11
1.1.1 Tổng quan về các cách tiếp cận quản lý tài nguyên 11
1.1.2 Tổng quan về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng 12
1.1.3 Tổng quan các nghiên cứu quốc tế và trong nước về quản lý tài nguyên nước có sự tham gia của cộng đồng 16
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước 24
1.2.1 Các lý thuyết nghiên cứu hành vi 24
1.2.2 Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước 27
1.3 Khái quát những vấn đề chưa được nghiên cứu 29
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 31
2.1.Lý thuyết quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng 31
2.2 Lý thuyết hành vi dự kiến 34
2.3 Giả thuyết nghiên cứu 37
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
3.1 Khung nghiên cứu 41
3.2 Mô hình và các biến nghiên cứu 42
3.3 Thu thập số liệu 45
3.3.1 Dữ liệu thứ cấp 45
3.3.2 Dữ liệu sơ cấp 45
3.4 Phân tích số liệu 48
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
4.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 50
4.1.3 Các quy định về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước 55 4.2 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu 63
4.3 Sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước tại hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái 65
4.3.1 Hiện trạng quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà 65
4.3.2 Nhận thức của cộng đồng về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước 70
4.3.3 Hành vi tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà 72 4.3.4 Thuận lợi và khó khăn của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà 79
4.4 Các nhân tố tác động đến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái 81
4.4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 81
4.4.2 Phân tích nhân tố 86
4.4.3 Kết quả hồi quy 87
4.4.4 Thảo luận kết quả 96
4.5 Đánh giá chung về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước tại vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái 101
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 104
5.1 Quan điểm về tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước 104
5.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái 105
5.2.1 Hoàn thiện khung pháp lý về sự tham gia của cộng đồng 105
5.2.2 Tăng cường tiếp cận thông tin cho cộng đồng 107
5.2.3 Đẩy mạnh các hoạt động gắn kết xã hội 109
5.2.4 Nâng cao năng lực cán bộ địa phương 111
5.2.5 Tổ chức, thành lập các hiệp hội ngành nghề 112
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 1: CÁC BIẾN NGHIÊN CỨU 124
PHỤ LỤC 2: BẢNG HỎI 128
PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ ĐỊNH LƯỢNG 136
Trang 3CBM Quản lý dựa vào cộng đồng
IWRM Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
GWP Mạng lưới Công tác vì nước Toàn cầu
NGO Tổ chức phi chính phủ
SOC Mô hình các giai đoạn thay đổi (Stages of Change)
TBP Lý thuyết hành vi dự kiến
TRA Lý thuyết hành vi hợp lý
TTM Mô hình các giai đoạn thay đổi (Transtheoretical Model)
UBND Ủy ban nhân dân
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc
WWAP Chương trình Đánh giá nước Thế giới của Liên Hợp Quốc
Hình 1: Tổng giá trị kinh tế của nước 2
Hình 1.1: Thang đo 8 cấp độ tham gia của cộng đồng 15
Hình 2.1: Thang đo 5 cấp độ tham gia của cộng đồng 33
Hình 2.2: Lý thuyết hành vi dự kiến 35
Hình 3.1: Khung nghiên cứu 42
Hình 4.1: Số hộ gia đình được điều tra phân chia theo mục đích sử dụng nước 63
Hình 4.2: Tỷ lệ người trả lời phân theo dân tộc 64
Hình 4.3: Số người trả lời phân theo trình độ học vấn 65
Hình 4.4: Mức độ và hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà 70
Hình 4.5: Đánh giá của người dân về tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên nước hồ Thác Bà 71
Hình 4.6: Tỷ lệ % các hộ tuân thủ chính sách về tài nguyên nước tại hồ Thác Bà 73
Hình 4.7: Hành vi giữ gìn, bảo vệ nguồn nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà 74
Hình 4.8: Tỷ lệ các hộ gia đình ngăn chặn hành vi gây hậu quả xấu lên vùng hồ Thác Bà 75
Hình 4.9: Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước dưới hình thức phát biểu ý kiến trong các cuộc họp 76
Hình 4.10: Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước dưới hình thức chủ động đề xuất ý kiến với cơ quan quản lý 76
Hình 4.11: Mức độ hài lòng về sự tham gia quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà 78
Hình 4.12: Thống kê mô tả các biến nhận thức về giá trị 82
Hình 4.13: Thống kê mô tả biến chuẩn mực chủ quan 84
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Giả thuyết về hành vi và cấp độ tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng 38
Bảng 2.2: Giả thuyết về các nhân tố tác động vào dự kiến hành vi tham gia 40
Bảng 3.1: Mẫu điều tra phân theo địa bàn và mục đích sử dụng nước chính 47
Bảng 4.1: Diễn biến lượng mưa trong năm một số trạm trên lưu vực sông Chảy 51
Bảng 4.2: Sản lượng khai thác thủy sản của Yên Bình và Lục Yên 2010-2015 53
Bảng 4.3: Số người trả lời phân theo nhóm tuổi 64
Bảng 4.4: Đánh giá của cộng đồng về hiện trạng quản lý tài nguyên nước 71
Bảng 4.5: Số hộ và tỷ lệ % tham gia hình thức đóng phí sử dụng nước hồ Thác Bà 73
Bảng 4.6: Hành vi tiết kiệm nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái 73
Bảng 4.7: Số hộ và tỷ lệ % đã từng tham gia đóng góp nguồn lực bảo vệ tài nguyên nước hồ Thác Bà 77
Bảng 4.8: Thống kê mô tả biến hành vi dự kiến 81
Bảng 4.9: Thống kê mô tả biến thái độ 83
Bảng 4.10: Thống kê mô tả biến nhận thức kiểm soát hành vi 85
Bảng 4.11: Ma trận xoay nhân tố với các phát biểu về giá trị 87
Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi tuân thủ quy định, chính sách của nhà nước 88
Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi phát biểu ý kiến trong các cuộc họp dân 90
Bảng4.14: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi chủ động đề xuất ý kiến với cơ quan quản lý nhà nước 92
Bảng 4.15: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi đóng góp nguồn lực để bảo vệ tài nguyên nước 93
Bảng 4.16: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi cử người đại diện cùng tham gia quản lý với chính quyền địa phương 95
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của nghiên cứu
Lý do lựa chọn đề tài
Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau (Nature Research, 2017) Tài nguyên nước đóng vai trò cốt lõi trong sự sống Mọi hoạt động kinh tế của con người – sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, giải trí, môi trường… – đều liên quan đến sử dụng tài nguyên nước Người sử dụng nước có nhiều nhu cầu khác nhau đối với tài nguyên nước, và các nhu cầu ấy tạo ra các giá trị cho tài nguyên nước Nước cũng như các yếu tố môi trường khác, có giá trị kinh tế được tạo nên bởi hai nhóm giá trị chính: giá trị sử dụng (use value) và giá trị phi sử dụng (non-use value)
Giá trị sử dụng là những hàng hóa, dịch vụ sinh thái mà yếu tố môi trường cung cấp cho con người Giá trị này được chia thành ba nhóm: giá trị sử dụng trực tiếp (direct use value), giá trị sử dụng gián tiếp (indirect use value) và giá trị tùy chọn (option value) Giá trị sử dụng trực tiếp bao gồm những hàng hóa, dịch vụ do môi trường cung cấp và con người có thể tiêu dùng một cách trực tiếp Giá trị sử dụng gián tiếp là những giá trị, lợi ích từ các dịch vụ sinh thái, chức năng sinh thái Giá trị tùy chọn là những giá trị sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp chưa được sử dụng ở hiện tại mà được con người quyết định để lại tiêu dùng trong tương lai Giá trị phi sử dụng là những giá trị bản chất, nội tại của yếu tố môi trường, bao gồm giá trị tồn tại (existence value) và giá trị lưu truyền (bequest value) Giá trị tồn tại là sự hài lòng, thỏa mãn của
cá nhân khi biết rằng các thuộc tính của yếu tố môi trường đang tồn tại ở đâu đó.Giá trị lưu truyền là sự thỏa mãn của cá nhân khi biết rằng yếu tố môi trường được lưu truyền cho các thế hệ sau hưởng thụ (Đinh Đức Trường và Lê Hà Thanh, 2013)
Với tài nguyên nước, giá trị sử dụng trực tiếp là những lợi ích phát sinh khi người sử dụng trực tiếp sử dụng nước.Ví dụ, người tiêu dùng sử dụng nước trong sinh hoạt, nông dân sử dụng nước để tưới tiêu nông nghiệp Khi không trực tiếp tiếp xúc với nước, cộng đồng vẫn được hưởng lợi ích gián tiếp từ tài nguyên nước và lợi ích này là giá trị sử dụng gián tiếp Giá trị tùy chọn là mức độ hài lòng của người sử dụng nước khi biết rằng có tài nguyên nước để sử dụng trong tương lai Giá trị phi sử dụng của tài nguyên nước phát sinh khi con người biết rằng tài nguyên nước đang tồn tại và
có thể được thế hệ sau sử dụng Trong giá trị phi sử dụng, giá trị tồn tại là mức độ hài lòng của người sử dụng nước khi biết có sự tồn tại của tài nguyên nước; giá trị lưu
Trang 5truyền là mức độ hài lòng của người sử dụng khi biết có sẵn tài nguyên nước cho thế
hệ tương lai (Rolfe, 2008)
Hình 1: Tổng giá trị kinh tế của nước
Nguồn: dựa vào Rolfe (2008)
Một nguồn nước có thểđược chia sẻ cho cộng đồng với các mục đích sử dụng
khác nhau.Các mục đích sử dụng này có thể mâu thuẫn với nhau, gây ra tranh chấp
giữa những người sử dụng nước Theo Hardin (1968), xét từ góc độ kinh tế, tài nguyên
nước là một trong số các “tài sản chung”, thường gặp phải “bi kịch tài sản chung”
(tragedy of the commons) khi các cá nhân hành động với động cơ tối đa hóa lợi ích
bản thân, dẫn tới khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên chung Như vậy, hành vi vì lợi
ích bản thân của các thành viên trong cộng đồng sử dụng nước khiến cho tài nguyên
nước bị khai thác, sử dụng không hiệu quả Quản lý tài nguyên nước đứng trước thách
thức phải giải quyết được tình trạng này
Xét từ góc độ quản lý, vì nước có thể di chuyển theo cả không gian và thời gian
theo chu trình thủy văn nên “quản lý tài nguyên nước” là một khái niệm bao hàm rất
nhiều hoạt động thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau Theo Chương trình đánh giá
nước thế giới (WWAP) thuộc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp
Quốc (UNESCO), xét trên nghĩa rộng, quản lý tài nguyên nước có thể chia thành ba
Tổng giá trị kinh tế
Giá trị sử dụng
- Điều tiết lũ
- Lưu giữ nước
- Cảnh quan, thẩm mỹ
Giá trị tùy chọn
Giá trị phi
sử dụng
Giá trị tồn tại
Giá trị lưu truyền
nhóm chính: (i) quản lý nguồn nước, (ii) quản lý dịch vụ cấp nước và (iii) quản lý sự đánh đổi cần thiết để cân đối giữa cung và cầu về nước Mỗi nhóm có những hoạt động, yêu cầu riêng, kết hợp với nhau tạo thành quản lý tài nguyên nước Quản lý tài nguyên nước đòi hỏi phải áp dụng tổng hợp nhiều công cụ khác nhau như công cụ pháp lý, công cụ kinh tế, công cụ kỹ thuật… (WWAP, 2012)
Mạng lưới Công tác vì nước Toàn cầu (GWP) cho rằng quản lý tài nguyên nước
là một nhiệm vụ phức tạp, liên quan đến nhiều hoạt động của nhiều nhóm đối tượng khác nhau Theo đó, quản lý tài nguyên nước gồm các thành tố sau:
- Phân bổ nước: là nhiệm vụ phân bổ nước cho các nhóm người sử dụng nước và mục đích sử dụng nước khác nhau nhằm duy trì mức tối thiểu phục vụ các mục tiêu xã hội, môi trường, đồng thời đảm bảo tính công bằng và nhu cầu phát triển của xã hội
- Quy hoạch lưu vực sông: Xây dựng và thường xuyên cập nhật Quy hoạch lưu vực sông, trong đó phải thể hiện được quan điểm của các nhóm liên quan khác nhau về ưu tiên phát triển và quản lý lưu vực
- Sự tham gia của các nhóm có liên quan: Sự tham gia của các nhóm liên quan vào quá trình quản lý là cơ sở để ra quyết định sao cho lợi ích của toàn xã hội và vấn
đề môi trường được đưa vào cân nhắc trong quá trình sử dụng nguồn nước
- Kiểm soát ô nhiễm: Áp dụng nguyên tắc Người gây ô nhiễm phải trả tiền và các công cụ kinh tế phù hợp để hạn chế ô nhiễm và giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực về mặt môi trường và xã hội
- Giám sát: Xây dựng hệ thống giám sát hoạt động có hiệu quả sẽ giúp cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ quản lý, đồng thời xác định và giải quyết được những sự vụ vi phạm quy định pháp luật
- Quản lý dưới góc độ kinh tế và tài chính: Áp dụng các công cụ kinh tế và tài chính để khuyến khích đầu tư, thu hồi chi phí và thay đổi hành vi nhằm phục
vụ mục tiêu công bằng và lợi ích bền vững cho toàn xã hội khi sử dụng tài nguyên nước
- Quản lý thông tin: Cung cấp dữ liệu cơ bản, cần thiết để quá trình ra quyết định quản lý tài nguyên nước được đầy đủ thông tin và minh bạch (GWP, 2010) Hội nghị quốc tế về Nước và Môi trường tại Dublin năm 1992 đã tuyên bố 4 nguyên tắc quan trọng áp dụng cho những người quản lý và sử dụng nguồn nước trên thế giới, trong đó nhấn mạnh vấn đề phát triển và quản lý nước phải dựa trên cơ sở tiếp cận với sự tham gia của các bên có liên quan 4 nguyên tắc đó là:
Trang 6- Nước ngọt là một nguồn tài nguyên có hạn, dễ bị tổn thương Nó rất cần thiết
cho sự sống, phát triển và môi trường
- Phát triển cũng như quản lý tài nguyên nước phải dựa trên cơ sở sự tham gia
của các bên có liên quan, gồm người sử dụng, người lập kế hoạch, người ra
quyết định chính sách ở mọi cấp độ
- Trong nhiệm vụ cung cấp, quản lý, đảm bảo an ninh về nước, vai trò trung tâm
thuộc về phụ nữ
- Khi xét từ nhu cầu cạnh tranh sử dụng, phải coi nước là hàng hóa có giá trị kinh tế
Quản lý tài nguyên nước trong bối cảnh hiện nay đang phải đối mặt với nhiều
vấn đề phức tạp Trách nhiệm của quản lý tài nguyên nước là đảm bảo đáp ứng được
nhu cầu sử dụng nước trong điều kiện nguồn cung không chắc chắn và thường xuyên
biến động, cân đối được các giá trị sinh thái, kinh tế và xã hội của tài nguyên nước,
giải quyết được những rủi ro ngày càng tăng và thích ứng được với những sự kiện,
những xu hướng mới sẽ diễn ra Với yêu cầu như vậy, cách quản lý tài nguyên
nướctheo hướng tiếp cận đơn ngành, thiếu sự kết nối là không còn phù hợp GWP đã
đưa ra cách tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) Theo đó, “quản lý
tổng hợp tài nguyên nước là một quá trình đẩy mạnh phối hợp phát triển và quản lý tài
nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan, sao cho tối đa hoá các lợi ích kinh tế và
phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không phương hại đến tính bền vững của các
hệ sinh thái thiết yếu" (Cục Quản lý Tài nguyên nước, 2015a) IWRM cũng là cách
tiếp cận vận dụng các nguyên tắc Dublin nói trên.Việc xây dựng và thực hiện chính
sách, chiến lược, kế hoạch hành động trong IWRM phải có sự tham gia của các chủ
thể sau(Report of the expert group meeting on strategic approaches to freshwater
management, 1998):
• Nhà lập chính sách;
• Các tổ chức quốc tế, các tổ chức hỗ trợ nước ngoài;
• Cơ sở sản xuất công nghiệp sử dụng nước;
• Các viện nghiên cứu, các nhà khoa học;
• Các đơn vị cấp nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường, thủy lợi, xử lý nước thải,
nhà máy thủy điện và các cơ sở cấp nước cho các mục đích khác, bao gồm cả
doanh nghiệp tư nhân;
• Cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên nước và các lĩnh vực có
liên quan;
• Chính quyền địa phương;
• Người sử dụng nước, nhóm người sử dụng nước;
• Các tổ chức nghề nghiệp
Từ đó có thể thấy cả 4 nguyên tắc quản lý và sử dụng tài nguyên nước củaHội nghị quốc tế về Nước và Môi trường tại Dublin 1992 cũng như yêu cầu về các chủ thể tham gia xây dựng và thực hiện IWRM đều đề cập đến cộng đồng người sử dụng nước Vì vậy, sự tham gia của cộng đồng người sử dụng nước vào quản lý tài nguyên nước là đòi hỏi tất yếu.Vai trò của cộng đồng người sử dụng nước cần được thể hiện trong mọi giai đoạn của xây dựng kế hoạch, xây dựng và thực thi chính sách, từ đó hoạt động quản lý mới hướng đến những ưu tiên phù hợp, đáp ứng được lợi ích của nhiều nhóm người ở cấp độ từ địa phương đến quốc gia và xuyên biên giới
Không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới, Việt Nam đã bắt đầu chuyển sang tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước khi Luật Tài nguyên nước năm 1998 được thông qua (Cục Quản lý Tài nguyên nước, 2015b) Đến năm 2013, Luật Tài nguyên nước sửa đổi có hiệu lực, trong đó Điều 3 nêu rõ “tài nguyên nước phải được quản lý tổng hợp, thống nhất”, đồng thời đề cập đến vai trò của cộng đồng trong khai thác, sử dụng, lập quy hoạch cũng như giám sát tài nguyên nước Điều này một lần
nữa khẳng định sự cần thiết phải có sự tham gia của cộng đồng khi thực hiện quản
lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam Tuy nhiên, cộng đồng là một khái niệm rộng lớn, gồm nhiều thành phần khác nhau Cộng đồng sử dụng một nguồn nước có thể gồm các hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ chức có tác động, liên quan đến tài nguyên
nước Luận án này chỉ nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nướcở cấp độ hộ gia đình, không xét đến hành vi của các tổ chức, doanh nghiệp
Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình quản lý là rất đa dạng, tùy vào những điều kiện cụ thể của từng nơi Tuy nhiên, dù ở cấp độ nào, lôi kéo cộng đồng tham gia vào quá trình quản lý cũng đòi hỏi phải hiểu được động cơ hành vi tham gia của cộng đồng Tiếp cận kinh tế học hành vi sẽ giúp bổ sung góc nhìn mới hơn đối với hành vi của các cá nhân bắt nguồn từ lý do xã hội Miranda (2012) cho rằng nếu hiểu được hành vi xã hội của các cá nhân thì có thể xây dựng được các chính sách tạo động lực
xã hội cho các cá nhân điều chỉnh hành vi sử dụng nước Các lý thuyết nghiên cứu về hành vi cho rằng có thể dự đoán hành vi của cá nhân thông qua tìm hiểu thái độ, giá trị, nhận thức của người đó Ngoài ra, hành vi lại chịu sự chi phối bởi các yếu tố kinh
tế - xã hội như giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, thu nhập, sinh kế…Vì vậy, muốn
thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên nước, cần xác định, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia của họ
Trang 7Lý do lựa chọn địa bàn nghiên cứu
Việt Nam là quốc gia có tài nguyên nước tương đối phong phú.Tính về nước
mặt, chúng ta có 108 lưu vực sông phân bố trên cả nước với 3.450 sông suối có chiều
dài trên 10km Tổng lượng dòng chảy là khoảng 830 đến 840 tỷ m3 một năm, trong đó
có 310-315 tỷ m3 được sinh ra trong lãnh thổ, chủ yếu thuộc lưu vực các sông Hồng –
Thái Bình, sông Đồng Nai, sông Cả, sông Ba, sông Vu Gia – Thu Bồn (Cục Quản lý
Tài nguyên nước, 2015b) Hệ thống hồ chứa nước cũng được xây dựng với mục đích
trữ nước, điều tiết dòng chảy, phòng chống và giảm lũ Theo Cục Quản lý Tài nguyên
nước (2015b), Việt Nam có trên 2.100 hồ thủy điện, thủy lợi đang hoạt động, trong đó
có 800 hồ thủy điện với 59 hồ đang hoạt động, 231 hồ đang trong quá trình xây dựng,
còn lại đang trong quy hoạch
Tài nguyên nước đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển của Việt
Nam.Nước có vai trò chủ đạo trong sản xuất lúa gạo, giúp Việt Nam bảo đảm được an
ninh lương thực và trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế
giới Nước cũng là đầu vào quan trọng giúp ngành thủy sản tăng trưởng mạnh mẽ,
đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm Với tiềm năng thủy điện phong
phú, nước góp phần bảo đảm an ninh năng lượng khi thủy điện chiếm 40% tổng sản
lượng điện cả nước Nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt, vệ sinh của người dân hàng
ngày Tuy nhiên, tài nguyên nước ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều sức ép
Nước càng trở nên khan hiếm trong bối cảnh nhu cầu của con người tăng cao cũng như
biến đổi khí hậu đang diễn ra gay gắt Tăng trưởng kinh tế dẫn đến nhu cầu về nước
của các ngành sản xuất tăng Dân số tăng cùng với mong muốn có chất lượng cuộc
sống tốt hơn đòi hỏi nước phải gia tăng cả về số lượng và chất lượng Vì vậy, ở Việt
Nam, cũng như nhiều nước khác, một nguồn nước như hồ chứa nước, con sông… phải
chia cho nhiều người cùng sử dụng cho các mục đích khác nhau Do đó mâu thuẫn,
tranh chấp trong sử dụng nước đang ngày càng phổ biến
Hồ Thác Bà là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam, là nguồn
cung cấp nước cho Nhà máy thủy điện Thác Bà (nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt
Nam, hiện là Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà) thuộc tỉnh Yên Bái Hồ Thác Bà
được hình thành khi công trình đập thủy điện Thác Bà được xây dựng xong năm 1970
làm nghẽn dòng sông Chảy Hồ Thác Bà là điển hình của một nguồn nước đang đươc
chia sẻ cho nhiều người cùng sử dụng với những mục đích khác nhau Ngoài vai trò
cấp điện, điều tiết lũ cho hạ lưu, đối với người dân địa phương, hồ Thác Bà cung cấp
nước sạch, hỗ trợ sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, giao thông, du lịch…
Trong thời gian gần đây, mâu thuẫn giữa những người sử dụng tài nguyên nước hồ
Thác Bà tại địa phương bắt đầu nảy sinh Việc Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà khai thác nước hồ để phát điện đã làm ảnh hưởng lớn đến đời sống dân cư vùng hồ Các phương tiện giao thông, vận tải trên hồ gặp khó khăn; nguồn lợi thủy sản bị xâm phạm, kéo theo việc nuôi trồng thủy sản gặp khó khăn; môi trường vùng hồ bị ảnh hưởng do nước rút, nhiều hoạt động du lịch phải đình hoãn Một nhóm dân cư sử dụng
hồ làm nơi chứa rác thải, gây ô nhiễm nước, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến du lịch, sản xuất…
Như vậy, đây là một nguồn nước đang được chia sẻ cho nhiều người sử dụng với các mục đích khác nhau Mâu thuẫn giữa giữa những người sử dụng có khả năng xảy ra khi các mục đích sử dụng có tính cạnh tranh lẫn nhau Chính sách quản lý tài nguyên nước cần được xây dựng nhằm hướng tới việc giải quyết các mâu thuẫn này Các quy định về quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà đã được xây dựng, trong đó đề cập đến sự tham gia của cộng đồng ở mức độ nhất định nhằm giải quyết hài hoà các mâu thuẫn của các đối tượng sử dụng nước khác nhau
Các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước đã được thực hiện trong thời gian qua tại một số địa bàn ở Việt Nam Mặc dù phong phú
về số lượng, đa phần các nghiên cứu tập chủ yếu vào khía cạnh pháp lý cũng như các hình thức tham gia của cộng đồng vào quản lý Các vấn đề liên quan tới động cơ, hành
vi của cộng đồng cũng như các nhân tố tác động đến sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên dường như còn bỏ ngỏ Trong bối cảnh đó, luận án này được thực hiện nhằm tìm hiểu hành vi, mức độ tham gia của cộng đồng hiện tại vào hoạt động quản lý tài nguyên nước bằng cách tiếp cận hành vi Thông qua mô hình nghiên cứu hành vi, luận án phân tích các nhân tố tác động đến hành vi của cộng đồng trong việc tham gia quản lý tài nguyên nước và đưa ra một số khuyến nghị về chính sách Địa bàn được lựa chọn để thực hiện luận án là vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái bởiđây là địa điểm lý tưởng thực hiện nghiên cứu thực nghiệm khi trong khu vực có nhiều đối tượng
sử dụng nước với các mục tiêu khác nhau
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng thể của luận án là đánh giá sự tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia của cộng đồng nhằm đề xuất một số giải pháp tăng cường
sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước
Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:
Trang 8• Nghiên cứu và tổng quan cơ sở lý thuyết về quản lý tài nguyên nướccó sự tham
gia của cộng đồng
• Phân tích hiện trạng sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước tại
hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái
• Xác định các nhân tố tác động đến hành vi tham gia vào quản lý tài nguyên
nước của cộng đồng tại hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái
• Đề xuất các giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài
nguyên nước
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu:
• Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại vùng hồ Thác Bà (bao gồm các
diện tích đất, mặt nước hồ và các đảo trên địa dư của 31 xã ven hồ Thác Bà) và
thành phố Yên Bái là địa bàn có người sử dụng tài nguyên nước hồ Thác Bà
phục vụ sinh hoạt, giải trí…
• Về thời gian: Luận án thực hiện điều tra khảo sát tại địa bàn nghiên cứu dựa
trên bảng hỏi trong năm 2015 Các số liệu thống kê về kinh tế - xã hội được thu
thập trong giai đoạn 2010 – 2015
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là hành vi tham gia
quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái và các nhân tố
tác động đến hành vi tham gia của họ Nghiên cứu này tập trung vào xem xét hành vi
tham gia quản lý của các thành viên trong cộng đồng là các hộ gia đình
Dữ liệu được thu thập từ điều tra, phỏng vấn ở cấp độ hộ gia đình với các thành
viên cộng đồng sử dụng nước từ nguồn nước hồ Thác Bà cho các mục đích khác nhau
4 Những đóng góp mới của luận án
Về mặt lý thuyết, luận án là công trình đầu tiên ứng dụng lý thuyết hành vi dự
kiến (Theory of Planned Behaviour - TPB) để nghiên cứu các nhân tố tác động đến
hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng trong bối cảnh Việt Nam
Luận án mở rộng mô hình nghiên cứu khi bổ sung thêm các biến nhận thức về giá trị
của tài nguyên nước, mục đích sử dụng nước và các đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ
gia đình Luận án đã lồng ghép TPB trong khung phân tích các cấp độ sự tham gia của
cộng đồng với 5 mô hình TPB tương ứng với 5 hành vi tham gia
Luận án kiểm định lý thuyết TPB trong bối cảnh Việt Nam và nhận thấy các
biến TPB gồm thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi có tác
động thuận chiều ở các mức độ khác nhau lên dự kiến mỗi hành vi tham gia quản lý tài
nguyên nước của cộng đồng Trong các giá trị mà tài nguyên nước mang lại, luận án chỉ ra rằng nhận thức của cộng đồng về giá trị xã hội, cụ thể là tính gắn kết xã hội, tính chia sẻ trách nhiệm, vấn đề nâng cao mức sống là một nhân tố tác động tích cực lên dự kiến hành vi tham gia quản lý của họ Một nhân tố nữa tác động lên hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng là mục đích sử dụng nước: hộ gia đình là thành viên cộng đồng có mục đích sử dụng chính một nguồn nước khác nhau thì cũng có dự kiến tham gia quản lý tài nguyên nước khác nhau Cụ thể, các hộ gia đình sử dụng nước hồ Thác Bà làm nước sinh hoạt qua hệ thống nước máy có mong muốn tham gia quản lý mạnh mẽ hơn, còn các hộ khai thác thủy sản ít có dự định tham gia quản lý Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định lại một điểm chung giữa các nghiên cứu trước đây là tác động của các biến kinh tế - xã hội là không thống nhất, do đó luôn cần được đưa vào nghiên cứu trong từng bối cảnh cụ thể
Về mặt thực tiễn, với nghiên cứu được tiến hành tại một địa bàn cụ thể là vùng
hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái, luận án đã xác định, phân tích mức độ và hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vào các khía cạnh của quản lý tài nguyên nước
do Mạng lưới Công tác vì nước Toàn cầu (GWP) đưa ra Theo đó, sự tham gia của cộng đồng vùng hồ Thác Bà chính là một khía cạnh trong quản lý, thể hiện ở nấc thang thứ nhất của sự tham gia là “được thông báo” với hành vi tuân thủ chính sách và tham
dự các cuộc họp người dân trong nội dung áp dụng công cụ kinh tế và phân bổ tài nguyên nước Nấc thang tham gia thứ hai của cộng đồngvùng hồ Thác Bà là “được tham vấn” với hành vi đóng góp ý kiến cho cơ quan quản lý nhà nước về các vấn đề quy hoạch tài nguyên nước, kiểm soát ô nhiễm và giám sát Những hành vi tham gia của cộng đồng cũng thể hiện vai trò của họ trong khía cạnh quản lý thông tin của quản
lý tài nguyên nước
5 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục hình, Danh mục bảng, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án được cấu trúc thành 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 1trình bày tổng quan
về các vấn đề liên quan đến quản lý dựa vào cộng đồng và các lý thuyết nghiên cứu hành vi, đồng thời xem xét các nghiên cứu đã có về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam và trên thế giới cũng như các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia quản lý, bảo vệ tài nguyên – môi trường của cộng đồng
Trang 9Chương 2: Cơ sở lý luận và giả thuyết nghiên cứu Chương 2 luận giải lý do
lựa chọn và trình bày các khung lý thuyết được sử dụng trong luận án: các khía cạnh
quản lý tài nguyên nước, cấp độ và hành vi tham gia của cộng đồng vào quản lý tài
nguyên nước, các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng và lý thuyết hành
vi dự kiến Đồng thời, các giả thuyết nghiên cứu cũng được đưa ra
Chương 3:Phương pháp nghiên cứu Chương này mô tả chi tiết về phương
pháp nghiên cứu trong luận án, gồm khung nghiên cứu, mô hình và các biến nghiên
cứu, nguồn dữ liệu, cách thức thu thập và xử lý dữ liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Bên cạnh tổng quan về địa bàn nghiên cứu là
vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái, chương 4 phân tích hiện trạng tham gia quản lý tài
nguyên nước của cộng đồngvà xác định các nhân tố tác động lên hành vi tham gia
quản lý tại địa bàn nghiên cứu dựa trên dữ liệu điều tra
Chương 5: Đề xuất giải pháp Từ kết quả nghiên cứu trong chương 4, chương
5 đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của cộng đồng trong quản lý tài
nguyên nước vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái
1.1 Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
1.1.1 Tổng quan về các cách tiếp cận quản lý tài nguyên
Đã có rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về quản lý tài nguyên Các nghiên cứu chia thành hai cách tiếp cận cơ bản Nhóm thứ nhất tiếp cận dưới góc
độ kinh tế học: xem xét tài nguyên thiên nhiên bằng khung lý thuyết kinh tế Nhóm thứ hai tiếp cận dưới góc độ tài nguyên là một tài sản chung và đề xuất cách quản lý tài sản chung đó
Cách tiếp cận kinh tế đối với tài nguyên thiên nhiên đã đưa ra một loạt các lý thuyết và công cụ nhằm giám sát, phân tích, đánh giá và quản lý tài nguyên Cụ thể, kinh tế học tài nguyên thiên nhiên xây dựng mô hình khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên – cơ sở để đưa ra các công cụ quản lý tài nguyên Các công cụ quản lý được chia thành hai nhóm gồm: (i) công cụ của nhà nước (thuế, hạn mức khai thác, trợ cấp, tiêu chuẩn, giấy phép) và (ii) công cụ của thị trường (quyền tài sản), hàm ý nhấn mạnh đến lựa chọn hoặc nhà nước quản lý, hoặc để thị trường điều tiết
Cách tiếp cận kinh tế dựa trên mối quan hệ tác động qua lại, hai chiều giữa kinh
tế và môi trường Môi trường cung cấp các dịch vụ khác nhau cho hoạt động kinh tế của con người Ngược lại, con người thông qua các hoạt động kinh tế lại tác động lên môi trường, và điều này có thể tạo ra ngoại ứng làm ảnh hưởng đến hoạt động của những người khác Kinh tế học giúp chúng ta đánh giá được các ngoại ứng với giá trị bằng tiền
và đưa ra công cụ giúp “nội hóa” các ngoại ứng Tuy nhiên, các mô hình kinh tế thường dựa trên những giả định chặt chẽ mà thực tế khó có thể đáp ứng, do đó kết quả của các chính sách dựa trên kinh tế học thường khó cân đối được lợi ích của tất cả các bên liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên và đảm bảo tính bền vững lâu dài (Dietz và Neumayer, 2009) Đồng thời, khi giả định rằng các cá nhân chỉ tối đa hóa lợi ích cá nhân, cách tiếp cận kinh tế đã bỏ qua hành vi “xã hội” của các đối tượng sử dụng Ostrom (1990) nhận thấy với sự tham gia của cộng đồng, tài nguyên thuộc nhóm “tài sản chung” có thể được quản lý một cách hiệu quả, bền vững Những nghiên cứu của Ostrom ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy cộng đồng sử dụng nguồn lực địa phương có thể tự mình quản lý chúng tốt hơn chính quyền vì các nhà quản lý có thể quan liêu, không có thông tin chính xác, trong khi người sử dụng nguồn lực lại nắm rõ thông tin Một số quy định liên quan của Nhà nước có thể không có tác dụng do đôi khi chúng không được xây dựng dựa trên hoàn cảnh, tập quán của địa phương; trái lại,
Trang 10trong nhiều trường hợp, các quy định quản lý của cộng đồng tỏ ra có hiệu quả và bền
vững hơn Vì vậy, có thể xây dựng giải pháp quản lý dựa vào cộng đồng
1.1.2 Tổng quan về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng
Cộng đồng
Theo Checkoway (1995), cộng đồng được hiểu là một nhóm người trong xã hội
cùng đưa ra sáng kiến và hành động chung Có thể hiểu theo nghĩa hẹp như định nghĩa
của Conner (2007): “Cộng đồng là các nhóm dân cư có cùng sở thích, có chung lợi ích
và mối quan tâm” Theo quan điểm chung ở Việt Nam, cộng đồng là một tập hợp các
công dân cư trú trong một khu vực địa lý nhất định, hợp tác với nhau vì những lợi ích
chung và chia sẻ những giá trị văn hóa chung Chi Cục Bảo vệ Môi trường Hà Nội
(2007) định nghĩa: một tập hợp người được coi là cộng đồng khi thỏa mãn các tính
chất về địa lý, văn hóa và lợi ích:
- Tương đồng về địa lý: Để gọi là một cộng đồng thì phải đảm bảo yêu cầu cộng
đồng đó phải cùng sống trong một vùng địa lý sinh thái nhất định và cũng có thể trong
cùng một đơn vị hành chính
- Tương đồng về lợi ích: Trong trường hợp quản lý môi trường, trước hết cộng
đồng đó cần hợp lực quản lý các yếu tố môi trường để cùng hưởng lợi ích chung là
môi trường trong lành và cùng chia sẻ lợi ích mà môi trường đó mang lại
- Tương đồng về văn hóa: Tùy trường hợp, cộng đồng tìm kiếm những giá trị
văn hóa chung để tham gia Ở đây yếu tố văn hóa và địa lý có quan hệ mật thiết với
nhau, nói đến văn hóa là nói đến con người ở một vùng, một dân tộc, một quốc gia
hay châu lục
Như vậy, có thể định nghĩa cộng đồng là một nhóm người cùng sống trong một
khu vực địa lý, có những lợi ích chung và trong cộng đồng, mọi người đưa ra quyết
định chung và hành động vì những lợi ích chung đó
Quản lý dựa vào cộng đồng
Trên thế giới, vào khoảng cuối những năm 1960, trong phần giới thiệu của Báo
cáo Đánh giá các dự án cấp nước nông thôn, lần đầu tiên thuật ngữ “có liên quan đến
cộng đồng” được sử dụng Đến năm 1969, khái niệm quản lý dựa vào cộng đồng được
đưa ra trong nghiên cứu về Cải thiện y tế thôn bản tại Đài Loan của Chang (1969) Kể
từ đó, các nhà nghiên cứu và khoa học trên thế giới bắt đầu quan tâm đến việc phân
tích và ứng dụng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng trong các lĩnh vực mà quản lý
nhà nước không phát huy được vai trò một cách hiệu quả Ở Việt Nam, từ giữa những
năm 1990, trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, mô hình quản lý nhà nước hay tư nhân đều chứng tỏ không hiệu quả và tạo ra nhiều tác động xã hội Vì thế, mô hình quản lý dựa vào cộng đồng đã được đưa vào áp dụng, trước hết trong lĩnh vực quản lý rừng ở các vùng cao, biên giới – nơi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống Phương thức quản lý này được dựa trên mô hình quản lý truyền thống đã được áp dụng ở vùng núi của nhiều nước trên thế giới, khi mọi người dân địa phương hợp tác với nhau và cùng quản
lý nguồn lực và chia sẻ lợi ích Cách tiếp cận này cho phép sử dụng nguồn lực một cách bền vững.Sau đó, mô hình quản lý dựa vào cộng đồng được mở rộng cho tài nguyên ven biển, ví dụ Khánh Hòa, Thừa Thiên – Huế
Quản lý dựa vào cộng đồng (CBM) là tập hợp các mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng; trong đó, cộng đồng tham gia vào quá trình ra quyết định về các vấn đề liên quan đến quá trình lập kế hoạch và triển khai thực hiện CBM là một trong
ba phương thức quản lý: (i) Nhà nước quản lý; (ii) Quản lý dựa vào cộng đồng; và (iii) Cộng đồng quản lý Xét về góc độ hiệu quả quản lý, phát triển hình thức CBM sẽ làm giảm gánh nặng cho các cơ quan quản lý nhà nước trên các phương diện tài chính, quản lý, kinh tế và xã hội
- Về tài chính, CBM giúp huy động vốn đầu tư xã hội, giảm sức ép đầu tư cho ngân sách Nhà nước
- Về quản lý, CBM chính là việc chuyển giao một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm quản lý một số lĩnh vực nhất định cho cộng đồng Nhờ vậy, gánh nặng quản lý của chính quyền địa phương được giảm bớt
- Về kinh tế, CBM giúp khai thác và sử dụng bền vững hơn, hiệu quả hơn các loại tài nguyên cũng như các nguồn lực phát triển khác
- Về xã hội, khi có CBM, nhận thức của người dân về vai trò, trách nhiệm của bản thân được nâng cao, đoàn kết dân tộc được củng cố, việc tuyên truyền, thực hiện các quy định pháp luật trong cộng đồng được thuận lợi hơn
Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng
Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là một ứng dụng thực tiễn của CBM, đề cập đến sự tham gia của các cộng đồng có lợi ích liên quan trong quản lý tài nguyên đất và nước, rừng, động vật hoang dã, du lịch, nguồn lợi thủy sản và các tài nguyên khác Có thể xem xét quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng từ hai góc độ:Từ góc độ trao quyền hợp pháp để quản lý tài nguyên, quản lý dựa vào cộng đồng là một quy trình trao quyền cho cộng đồng sử dụng tài nguyên Tức là cộng đồng có quyền sử dụng và quản lý tài nguyên.Từ góc độ năng lực quản lý của cộng đồng, quản lý dựa
Trang 11vào cộng đồng được xem như là một hệ thống các kỹ năng để thực hiện các hoạt động
quản lý được tiến hành bởi cộng đồng địa phương thay vì bởi chính quyền (Pomeroy và
Rivera-Guieb, 2006)
Theo Vandergeest (2006, tr 344), quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là
“một cách tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên tại địa
phương” Đỗ Thị Kim Chi (2006) cho rằng quản lý tài nguyên – môi trường dựa vào
cộng đồng là “đưa cộng đồng tham gia trực tiếp… trong nhiều công đoạn của quá trình
quản lý, từ khâu bàn bạc ban đầu tới việc lên kế hoạch thực hiện, triển khai các hoạt
động và nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện” Với quản lý tài nguyên nước dựa vào
cộng đồng, theo Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006), nguyên tắc cốt lõi là
có “sự tham gia của cộng đồng trong việc lập kế hoạch, vận hành, duy trì các hệ thống
cấp nước mà cộng đồng được hưởng lợi” Như vậy quản lý dựa vào cộng đồng đòi hỏi
phải có sự tham gia của cộng đồng
Sự tham gia của cộng đồng
Tham gia là quyền cơ bản của người dân.Ngày nay, tham gia được hiểu là cách
thức mọi người (cộng đồng) có ảnh hưởng và có vai trò kiểm soát trong quá trình phát
triển, đặc biệt là vai trò ra quyết định và sử dụng nguồn lực Có nhiều lý do khác nhau
để thúc đẩy cộng đồng tham gia, như để giảm chi phí (cộng đồng được yêu cầu đóng
góp hàng hoá, tiền, công sức lao động), để thực hiện dự án hiệu quả và đầy đủ hơn, để
tăng cường năng lực của các cộng đồng hoặc để trao quyền cho cộng đồng, điều này
nghĩa là để giúp họ gia tăng kiểm soát đối với các nguồn lực và đưa ra những quyết định
quan trọng có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ
• Các cấp độ tham gia
Áp dụng mô hình tham gia của cộng đồng trong quản lý chính là một cách tiếp
cận từ dưới lên thay vì phương thức áp đặt từ trên xuống Theo Arnstein (1969), thang
đo 8 cấp độ tiếp cận từ thấp đến cao thể hiện sự gia tăng quyền lực của cộng đồng khi
tham gia quản lý
Ở các nấc thang đầu tiên, sự tham gia của cộng đồng gần như không có mà chỉ
là quá trình hợp tác có kiểm soát từ bên ngoài Ba nấc thang cuối cùng thể hiện sự
tham gia thực sự của người dân và trong một chừng mực nào đó quyền lực thuộc về
nhân dân.Vấn đề chính trong việc xác định cấp độ là định rõ quyền lực và khả năng
thực sự của người dân
Theo quan điểm hiện đại, các thang đo được rút ngắn hơn so với thang đo 8 cấp
độ này, song về căn bản các cấp độ vẫn thể hiện sự kiểm soát của chính phủ giảm dần
và mức độ hợp tác cũng như quyền làm chủ của cộng đồng tăng lên Dower (2004) cũng khẳng định rằng mức độ tham gia của người dân được phát triển theo từng cấp độ
và phụ thuộc vào quan hệ đối tác giữa nhà nước và người dân Quan hệ đối tác phụ thuộc vào sự tín nhiệm và tin tưởng của cả hai phía, để phát triển mối quan hệ này cần phải có nỗ lực từ hai bên và thời gian.Có thể thấy, khái niệm của Dower đưa ra là tương đồng với khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” của Việt Nam
Hình 1.1: Thang đo 8 cấp độ tham gia của cộng đồng
Chính phủ ra quyết định, người dân tuân thủ
Chính phủ vận động người dân làm theo Chính phủ tham vấn các nhóm dân cư
Phối hợp giữa các nhóm dân cư và chính phủ Trao quyền cho các nhóm dân cư
Chính phủ đáp ứng các yêu cầu do người dân đề xuất
Chính phủ hỗ trợ; người dân chủ trì, kiểm soát hoạt động quản lý 8
Trang 12(3) Cung cấp các nguồn lực: cộng đồng có thể tham gia vào các hoạt động như
cung cấp nhân lực, vật chất, các nguồn tài chính và công tác tổ chức hoạt động quản lý
tại địa phương
(4) Quản lý và bảo dưỡng: cộng đồng có thể tham gia bằng cách chịu hoàn toàn
trách nhiệm quản lý, bảo dưỡng tài sản họ tham gia quản lý
(5) Kiểm tra và đánh giá: trong suốt quá trình ra quyết định và triển khai thực
hiện quản lý, cộng đồng có thể xem xét và đánh giá những gì đang tiến hành, nhờ đó
có thể phát hiện những vấn đề nảy sinh và khắc phục kịp thời
1.1.3 Tổng quan các nghiên cứu quốc tế và trong nước về quản lý tài nguyên
nước có sự tham gia của cộng đồng
1.1.3.1 Nghiên cứu quốc tế
Đã có rất nhiều các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài
nguyên nước.Các nghiên cứu quốc tế đa phần tập trung vào các bài học kinh nghiệm
về cách thức huy động sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước, vai trò
của các bên liên quan như chính quyền, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ… trong
các dự án nước hoặc một khía cạnh cụ thể trong quản lý tài nguyên nước
Karimi (2003) nghiên cứu dự án cấp nước sạch ở West Sumantra, Indonesia để
xem xét sự khác biệt khi có và không có vai trò của cộng đồng Thách thức lớn nhất
trong quản lý tài nguyên nước ở West Sumantra là cấp nước sinh hoạt cho người dân
Người dân phải sử dụng nước từ nhiều nguồn khác nhau như nước máy, nước mặt,
nước ngầm, nước đóng chai… vì nước máy chỉ đáp ứng nhu cầu chủ yếu cho người
dân khu vực đô thị Do đó, công ty cấp nước địa phương phải đầu tư để mở rộng mạng
lưới nước máy phục vụ người dân Nghiên cứu cho thấy ở Baruah Burik, dự án cấp
nước máy đã thành công với sự tham gia của cộng đồng Công ty cấp nước cung cấp
cơ sở hạ tầng trang thiết bị, người dân đóng góp công lao động, nhờ vậy nước máy đã
được cấp cho tất cả các hộ gia đình ở địa phương Đó là kết quả của việc chính quyền
địa phương hiểu rõ nhu cầu của người dân và một cộng đồng mạnh Cộng đồng mạnh
một phần nhờ trình độ học vấn ở mức khá, hầu hết người dân đều tốt nghiệp phổ
thông Họ hiểu sự cần thiết của việc duy trì việc cấp nước sạch, và thông qua quá trình
tham vấn cộng đồng để đạt được đồng thuận, họ tự thiết lập được một hệ thống quản lý
của cộng đồng để duy trì cấp nước Nhưng ở Tannah Datar, tình huống lại diễn ra
ngược lại Chính quyền Tannah Datar quyết định cấp nước máy cho Simabur là một
thị trấn nằm trên cao, lấy nguồn nước từ Sikaladi gần đó Tuy nhiên, khi xây dựng
xong nhà máy và hệ thống đường ống thì người dân Sikaladi không cho phép nhà máy
sử dụng nguồn nước Chính quyền địa phương đã thất bại trong việc thuyết phục người dân Sikaladi cho phép người dân Simabur chia sẻ việc sử dụng nguồn nước Hai cộng đồng Sikaladi và Simabur có những tập quán khác nhau, và chính quyền địa phương không hiểu rõ tập quán của Sikaladi để có ứng xử phù hợp Họ không thực hiện tham vấn cộng đồng, không thu được sự đồng thuận cần thiết, do đó đã thất bại trong dự án này Tác giả nghiên cứu rút ra kết luận: để quản lý tài nguyên nước thành công, không thể thiếu sự tham gia của cộng đồng Sự tham gia của cộng đồng sẽ đem lại lợi ích cho
xã hội, đồng thời tránh được xung đột Ngược lại, khi không có sự tham gia của cộng đồng, xã hội vừa tốn chi phí, vừa gặp phải xung đột
Nghiên cứu của Garande và Dagg (2005) đã xem xét vai trò của cộng đồng trong xử lý nguồn nước ô nhiễm ở làng Molinos nằm ở thung lũng Lluta, sa mạc Atacama, Chile Ở đây nước ngầm bị ô nhiễm asen do asen tích lũy trong các lớp trầm tích Một dự án đã được một tổ chức phi chính phủ (NGO) thiết kế nhằm đưa ra một công nghệ xử lý nước đơn giản, chi phí thấp cho người dân làng Molinos Nhưng vì cộng đồng được tham gia rất ít vào dự án, chủ dự án lại không trao đổi thông tin nên cộng đồng không hiểu rõ mục tiêu của dự án, các bước thực hiện dự án và hiện trạng
dự án thực hiện đến đâu Kết quả là các bên không hiểu nhau Cộng đồng cho rằng nhu cầu của họ không được đáp ứng Còn phía NGO lại không hài lòng vì không có sự hợp tác của cộng đồng Từ đó, các tác giả cho rằng điều quan trọng nhất là cần có sự tham gia của cộng đồng ngay từ khi hình thành dự án Cách tiếp cận ban đầu của dự án là áp đặt từ trên xuống đã không giúp cộng đồng tham gia vào thiết kế dự án, không nhận được thông tin chính thức về dự án, và cũng không được tham vấn về những vấn đề chính có thể phát sinh khi thực hiện dự án Tóm lại, theo các tác giả nghiên cứu, trước khi hình thành dự án, bắt buộc phải thực hiện phân tích văn hóa – xã hội thông qua nghiên cứu lịch sử địa phương, tiến hành phỏng vấn người dân và quan sát hành vi của
họ Sau đó, ở giai đoạn thiết kế dự án, nhà quản lý mới biết được bối cảnh văn hóa, xã hội của dự án, những nhân tố nào có thể tác động đến dự án và làm thế nào để giải quyết chúng
Có thể xem xét một nghiên cứu khác ở một quốc gia có lịch sử nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung tương tự như Việt Nam Teodosiu và cộng sự (2013) đánh giá sự tham gia của cộng đồng vào quy hoạch tài nguyên nướcở Romania Sau những cơn lũ nghiêm trọng năm 2005 và 2006, chính phủ Romania quyết định xây dựng chiến lược quản lý rủi ro lũ lụt Theo quy định của Romania, cần thiết phải có sự tham gia của cộng đồng trong quá trình xây dựng chiến lược Công cụ tham vấn cộng đồng chính
Trang 13được sử dụng là các cuộc họp của Ủy ban lưu vực sông Có khá nhiều cơ quan, đại
diện tham gia vào các cuộc họp Các cơ quan thuộc nhà nước – những người ra quyết
định “truyền thống”, ở đây là cơ quan quản lý tài nguyên nước và công ty cấp nước có
phản hồi khá nhiều trong cuộc họp Trong khi đó, các tổ chức, đại diện khác đều tham
gia vào các cuộc họp tham vấn một cách rất bị động Trừ các tổ chức phi chính phủ là
có góp ý nhận xét, các tổ chức khác và cả đại diện người sử dụng nước đều ít tham gia
Xu hướng nói chung trong các góp ý, nhận xét là họ chấp nhận chiến lược đã đề ra
Đồng thời, những nhận xét do các bên đưa ra lại không được cân nhắc, bàn luận trong
các cuộc họp tiếp sau Như vậy, mặc dù quá trình tham vấn có diễn ra, nhưng hiệu quả
lại thấp vì các bên ít quan tâm đến vấn đề
Các tác giả kết luận rằng việc cho những thành viên “mới” với lợi ích, năng lực,
kinh nghiệm, hành động khác nhau tham gia vào quá trình quản lý tài nguyên nước
gặp phải rào cản khá lớn Rào cản đến từ những chủ thể ra quyết định “truyền thống”
như cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, chính quyền địa phương và các
công ty cấp nước Hành vi “quyền lực” trong quá trình tham gia ra quyết định là đặc
trưng văn hóa tổ chức của các cơ quan vốn theo hệ thống thứ bậc – di sản của nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung Thêm nữa, Romania không có nhiều kinh nghiệm trong việc
đưa cộng đồng tham gia vào quản lý Vì vậy, cộng đồng không hào hứng, không chủ
động tham gia Đây cũng là một đặc điểm của một quốc gia đang trong giai đoạn
chuyển đổi cả về kinh tế, xã hội và thể chế như Romania Các tác giả khuyến nghị khi
có sự tham gia của cộng đồng từ giai đoạn đầu của quá trình ra quyết định thì sự tham
gia của cộng đồng sẽ đạt được thành công và thiếu kinh nghiệm không còn là thách
thức đáng ngại
1.1.3.2.Nghiên cứu ở Việt Nam
Các nghiên cứu ở Việt Nam về quản lý tài nguyên nướccó sự tham gia của cộng
đồng cũng rất đa dạng, chủ yếu tập trung vào hoạt động cấp nước.Ngoài ra có các
nghiên cứu về tài nguyên nước ở các lưu vực sông, hồ chứa, tập trung vào tìm hiểu
mức độ tham gia của cộng đồng trong quản lý và những khó khăn, thách thức mà họ
gặp phải trong quá trình tham gia
Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006) đã tổng quan quản lý tài
nguyên nước có sự tham gia của cộng đồng với hai kiểu mô hình: mô hình truyền
thống bản địa của các dân tộc thiểu số và mô hình cấp nước sinh hoạt/thủy lợi ở một số
vùng nông thôn Các tác giả kết luận rằng sự tham gia của cộng đồng trong các mô
hình quản lý tài nguyên nước mới ở mức độ trung bình Các cách thức tham gia phổ
biến gồm:
• Tham gia các cuộc họp cộng đồng để lập kế hoạch
• Đóng góp ý kiếnvào việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đề ra
• Cử người đại diện cho cộng đồng trong các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên nước
• Đóng góp công lao động, tiền, nguyên vật liệu… phục vụ xây dựng, hoạt động, duy trì và bảo dưỡng, bảo vệ công trình nước ở địa phương
• Đóng phí sử dụng nước
Các tác giả nhận thấy mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng phổ biến
là hợp tác xã hoặc các hiệp hội của người dân Với các mô hình phi truyền thống, nước được coi là hàng hóa, có giá trị và người sử dụng phải trả phí sử dụng nước Còn mô hình truyền thống của các cộng đồng bản địa (miền núi) thì coi nước là tài sản chung,
có giá trị về mặt tinh thần, và được quản lý theo các phong tục, tập quán truyền thống của họ
Ngoài ra các tác giả cho rằng một trong những nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước là năng lực của cộng đồng, đặc biệt trong quá trình ra quyết định Các tác giả đưa ra một số việc mà cộng đồng có thể làm được gồm: (1) Đóng góp ý kiến về kế hoạch tham gia quản lý tài nguyên nước trong các cuộc họp tham vấn; (2) Đề cử người đại diện tham gia quản lý; (3) Đóng góp tiền, công lao động hay vật liệu để xây dựng, sửa chữa… các công trình cấp nước; (4) Tham gia quản lý khi được hướng dẫn kỹ thuật với các công việc đơn giản Đây là các việc phù hợp với dự án cấp nước và thủy lợi Đồng thời, kiến thức bản địa cũng đóng một vai trò quan trọng, nhất là kinh nghiệm và kỹ thuật của người dân trong bảo vệ rừng đầu nguồn, lấy nước và bảo vệ nguồn nước
Với các lưu vực sông, các hồ chứa thì có một số nghiên cứu đề cập đến mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng Nguyễn Đình Hòe và Nguyễn Bắc Giang (2011) đã tìm hiểu sự tham gia của cộng đồng lưu vực sông Hương, sông Bồ trong xây dựng và vận hành hồ đập thủy điện ở Thừa Thiên – Huế Trên địa bàn này, vì hệ thống sông Hương bắt nguồn từ Bạch Mã và A Lưới có độ dốc lớn, địa hình chia cắt mạnh nên khi có mưa, lượng nước tăng rất nhanh, gây lũ tại vùng hạ lưu Để hạn chế lũ, tỉnh Thừa Thiên – Huế đã lập quy hoạch liên quan đến các hồ chứa, hồ thủy điện vùng thượng nguồn Các tác giả đã phân tích những mâu thuẫn trong sử dụng nước của các
hồ chứa này trong quá trình vận hành Ví dụ hồ thủy điện Bình Điền, Hương Điền và
hồ chứa Tả Trạch góp phần làm thay đổi chế độ dòng chảy vùng hạ lưu sông Bồ, hậu quả là diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thiếu nước tưới Dòng chảy bùn cát bị hạn chế do hồ thủy điện không có cống xả đáy làm ảnh hưởng đến địa hình lòng sông và
Trang 14hoạt động khai thác cát, sỏi của người dân Khi tích nước và xả nước, các hồ chứa
cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng nước vùng hạ lưu, gây tác động tiêu cực đến chất
lượng nước sinh hoạt của người dân đang sử dụng nước từ nhà máy cấp nước Huế.Đặc
biệt, khi lượng nước vùng hạ lưu thay đổi, độ mặn cũng thay đổi theo làm các loài sinh
vật nước ngọt bị đe dọa, gây suy thoái tài nguyên sinh học và ảnh hưởng tiêu cực đến
sinh kế người dân vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai Từ những mâu thuẫn trên
trong quá trình quản lý tài nguyên nước hồ chứa, các tác giả đã khảo sát nhiều đối
tượng khác nhau gồm người dân hạ lưu các sông Bồ, sông Hương, người dân vùng
đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và các nhà khoa học, nhà quản lý để tìm hiểu cụ thể
vai trò của cộng đồng
Kết quả cuộc khảo sát cho thấy chỉ có các nhà quản lý, nhà khoa học và các
đoàn thể biết rằng trên thượng nguồn có các hồ chứa, hồ thủy điện, trong khi trên 50%
người dân được hỏi ở lưu vực sông Hương, sông Bồ và Tam Giang - Cầu Hai không
hề biết điều này Người dân biết thông tin không phải qua thông báo bằng văn bản
chính thức mà qua các kênh thông tin đại chúng như truyền hình, báo chí; hoặc qua
truyền miệng; hoặc qua quá trình tham vấn cộng đồng khi chủ đầu tư lập báo cáo đánh
giá tác động môi trường và liên quan đến công tác di dời, đền bù Có 24,3% người dân
mong muốn được tham gia đóng góp ý kiến vì họ cho rằng các hồ chứa, thủy điện liên
quan đến đời sống của mình Người dân không được tham gia vào khâu quy hoạch và
xây dựng hệ thống hồ/ đập, không được thông báo khi xả lũ, tích nước
Từ đó, các tác giả kết luận sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên
nước ở các hồ chứa, hồ thủy điện ở Thừa Thiên – Huế là rất hạn chế và rút các nguyên
nhân là:
(i) Chưa có cơ chế phù hợp nhằm huy động khả năng của cộng đồng để họ hỗ
trợ giám sát bảo vệ nguồn nước, ngăn chặn các hành vi tiêu cực làm ô nhiễm, suy thoái
tài nguyên nước;
(ii) Chưa có cơ chế để người dân có thể tiếp cận thông tin;
(ii) Vai trò của người sử dụng nước hoặc bị ảnh hưởng bởi nguồn nước chưa
được chú trọng trong công tác quản lý tài nguyên nước
(iv) Đơn vị quản lý hồ chứa, hồ thủy điện được coi là chủ sở hữu nước và chỉ
họ có quyền ra quyết định trong các giai đoạn xây dựng và vận hành hồ
Cũng với vấn đề tương tự, Lê Anh Tuấn (2015) đã nghiên cứu lưu vực sông Vu
Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam để xem xét vai trò của cộng đồng trong việc quản lý
tài nguyên nước, cụ thể là vận hành hồ chứa Đây là lưu vực sông có mật độ số công
trình thủy điện được đánh giá là cao nhất Việt Nam Sự tồn tại của các hồ đập này cũng gây nhiều tranh cãi vì ngoài mục tiêu chính là phát điện, chúng ít có vai trò khác,
kế hoạch vận hành ít được chú trọng và do đó gây tác động tiêu cực cho người dân địa phương: thu hẹp sinh kế của họ và khiến cuộc sống của họ gặp nhiều rủi ro Thông qua phỏng vấn, trao đổi với cộng đồng và nhà quản lý địa phương ở lưu vực có thủy điện, tác giả nghiên cứu nhận thấy sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước
ở các hồ đập thủy điện còn gặp trở ngại Cụ thể như sau:
- Chính quyền, cộng đồng và các tổ chức xã hội chưa biết cách tổ chức hoạt động tham vấn cộng đồng
- Cơ sở pháp lý và tài liệu hướng dẫn tham vấn, giám sát cộng đồng chưa đầy đủ
- Chính quyền địa phương, nhà máy thủy điện và cộng đồng chưa cam kết và phối hợp với nhau trong việc chia sẻ thông tin về quá trình xây dựng, vận hành
hồ chứa
- Năng lực của cộng đồng còn hạn chế trong: lập kế hoạch giám sát, tổ chức nhân lực, thu thập dữ liệu, ghi nhận sự kiện, tổng hợp, xử lý thông tin phục vụ công tác quản lý, kỹ năng đối thoại, thương lượng
- Giữa chính quyền địa phương và cộng đồng chưa có cơ chế phản ánh kết quả tham vấn, giám sát của cộng đồng đến các bên liên quan
Từ đó, tác giả nghiên cứu đưa ra các giải pháp sau:
- Chính quyền, Ủy ban lưu vực sông, cộng đồng và các tổ chức xã hội thành lập nhóm giám sát cộng đồng và xây dựng cơ chế điều hành thực hiện
- Chính quyền, các tổ chức xã hội xây dựng và ấn hành tài liệu dưới dạng cẩm nang hướng dẫn tham vấn, giám sát cộng đồng
- Chính quyền, Ủy ban lưu vực sông tổ chức cho các bên liên quan gặp gỡ, thảo luận và thống nhất hoạt động giám sát thực hiện quy trình xây dựng, vận hành
hồ đập thủy điện
- Chính quyền, Ủy ban lưu vực sông, các cơ sở đào tạo, các tổ chức xã hội đào tạo, tập huấn cho cộng đồng về phương pháp tham vấn, giám sát và phân công thực hiện, thu thập dữ liệu, ghi chép sự kiện, xử lý thông tin
- Chính quyền, các tổ chức xã hội, Ủy ban lưu vực sông và đại diện cộng đồng xây dựng quy trình xác định các bên liên quan và trao đổi thông tin để phục vụ thương lượng khi có tranh chấp
Trang 151.1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài
nguyên nước
Từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấy để cộng đồng tham gia hiệu
quả vào quản lý tài nguyên nước, cần có những điều kiện sau:
• Hoàn thiện khung pháp lý về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài
nguyên nước
Việc xây dựng khung pháp lý về quản lý tài nguyên nói chung dựa vào cộng
đồng là bước tiến để tạo cơ sở pháp lý cho người dân tham gia hoạt động quản lý Ở
các nước đang phát triển, vai trò quản lý tài nguyên thiên nhiên chủ yếu thuộc về nhà
nước Trong nhiều trường hợp, các chính sách của nhà nước đã loại trừ các tổ chức địa
phương, tách các cộng đồng khỏi những nguồn tài nguyên thiên nhiên rất quan trọng
đối với sinh kế của họ Các khung chính sách trong đó có việc quản lý tài nguyên thiên
nhiên có ảnh hưởng lớn đến tính bền vững của việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên
cũng như sinh kế của các cộng đồng phụ thuộc vào những nguồn tài nguyên thiên
nhiên đó
Vì vậy, để cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên nước, cần có cơ chế nhất
định được quy định bằng văn bản pháp luật của Nhà nước Trong quá trình tham gia
quản lý, cộng đồng dân cư cần tạo được sự đồng thuận, hợp tác và phối hợp của các cơ
quan quản lý nhà nước nhằm góp phần nâng cao năng lực quản lý và nhận thức của
cộng đồng Sự giám sát của cộng đồng cần có cơ chế cụ thể về tổ chức, nguồn lực
Ngoài ra, xây dựng khung pháp lý của quản lý tài nguyên nước có sự tham gia của
cộng đồng cũng góp phần nâng cao tính bền vững và công bằng của hoạt động quản lý
tài nguyên nước Thực tế khách quan cho thấy một khi cộng đồng được hưởng lợi từ
tài nguyên nước, họ sẽ có động lực mạnh mẽ để bảo vệ nguồn nước và sử dụng nước
một cách bền vững
• Thay đổi phong cách làm việc của chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương có ảnh hưởng rất lớn trong việc huy động sự tham gia,
đóng góp của các cộng đồng dân cư vào hoạt động quản lý tài nguyên, trong đó có tài
nguyên nước Tuy nhiên, ở nhiều nơi, cơ quan nhà nước vẫn giữ vai trò trung tâm
trong quá trình ra quyết định “truyền thống” Các cơ quan nhà nước cần thay đổi theo
hướng đi theo chu trình mở với sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội như các
tổ chức phi chính phủ, các cơ quan nghiên cứu, cộng đồng dân cư… thông qua các
kênh thông tin, diễn đàn thường xuyên hoạt động Trong quá trình khuyến khích phát
triển tổ chức cộng đồng, vai trò và chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan hữu
quan, đặc biệt hệ thống các cơ quan cấp cơ sở trực tiếp tiếp xúc với người dân cần thực
sự được đổi mới theo hướng tích cực, cởi mở
• Hiểu rõ đặc tính của cộng đồng
Đặc tính của cộng đồng có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý và phát triển dựa vào cộng đồng nói chung Cách tiếp cận quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng hoạt động thông qua quan hệ đối tác giữa chính phủ và cộng đồng địa phương, với việc các cộng đồng địa phương có tiếng nói trong những quyết định liên quan đến quản lý tài nguyên thiên nhiên và cũng được hưởng phần lợi ích lớn hơn từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Các đặc trưng quan trọng của cộng đồng trong liên hệ với quản
lý dựa vào cộng đồng thường bao gồm quy mô dân số, quy mô, sinh kế, thu nhập… của hộ gia đình, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp… của chủ hộ
• Nâng cao nhận thức, năng lực của cộng đồng
Công tác quản lý tài nguyên nước chỉ có thể được giải quyết một cách ổn thỏa khi có sự tham gia chủ động, tích cực của cộng đồng Sự tham gia này thể hiện ngay từ khi xác định các vấn đề, các biện pháp, cách thức cụ thể giải quyết các vấn đề Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng chỉ có thể mang lại hiệu quả khi cộng đồng được cung cấp đầy đủ thông tin về tình trạng tài nguyên nước nơi họ sinh sống và lợi ích thiết thực khi vấn đề quản lý tài nguyên nước được cải thiện Từ việc cung cấp kiến thức, hiểu biết cho cộng đồng đến chỗ họ hiểu được trách nhiệm quản lý tài nguyên nước nơi mình sinh sống là một quá trình dài, đòi hỏi phải tăng cường công tác nâng cao nhận thức của cộng đồng, và phải được tiến hành càng sớm càng tốt, trước khi đưa
họ tham gia vào quá trình quản lý Ngoài ra, cần công khai, minh bạch các thông tin như cộng đồng tham gia dưới hình thức nào, vào hoạt động gì; họ có thể được hưởng lợi và chịu những chi phí gì v.v Cộng đồng chỉ có thể tham gia quá trình quản lý tài nguyên nước khi đó là một cộng đồng am hiểu các vấn đề pháp luật và nhận thức được đầy đủ rằng quản lý tài nguyên nước cũng là bảo vệ nguồn lợi ích của chính họ
• Tận dụng, thích ứng với tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục địa phương
Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới
và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng Phong tục tập quán là những thói quen đã được mọi người tuân thủ tại địa phương như một phần luật pháp của địa phương Phong tục tập quán gồm những quy tắc hành xử chung của cộng đồng, phản ánh quan điểm, kỳ vọng của toàn thể thành viên trong một cộng đồng qua nhiều thế hội Khi sống trong cộng đồng, hành vi của các cá nhân thường bị chi phối bởi tín ngưỡng và phong tục tập quán: họ phải tìm cách tuân theo hoặc thích nghi ở mức độ nhất định Nếu có thể đưa quy chế quản lý tài nguyên có sự tham gia của cộng đồng
Trang 16vào thành phong tục tập quán, phù hợp với tín ngưỡng thì cộng đồng sẽ dễ dàng chấp
nhận và tuân theo Đặc biệt, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa
thì những quy định của pháp luật trên nhiều khía cạnh còn xa lạ đối với cộng đồng dân
cư, nhất là các quy phạm pháp luật ở trình độ khái quát cao sẽ khó thâm nhập vào các
lĩnh vực cụ thể của đời sống cộng đồng Trong khi đó, tín ngưỡng, phong tục, tập quán
với những giá trị tích cực của nó đóng vai trò quan trọng và chủ yếu trong quá trình
điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể, nhất là trong quá trình tự quản ở cộng đồng dân
cư Do vậy, tác động của tín ngưỡng, phong tục tập quán đến hiệu quả của mô hình
quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là vô cùng to lớn
• Có người đại diện cộng đồng
Cộng đồng cần có người đại diện cho mình tham gia quản lý, và người đại diện
phải xác định rõ nhiệm vụ cầu nối giữa cơ quan quản lý với cộng đồng Thông qua
người đại diện, cộng đồng có thể liên hệ với các cơ quan địa phương liên quan đến các
vấn đề quản lý Khi cộng đồng gặp các khó khăn, người đại diện có thể đối thoại với
chính quyền địa phương để được cải thiện tình hình
Người đại diện cộng đồng và chính quyền địa phương có thể thiết kế và thực hiện
các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức cho cộng đồng ngay cả khi người dân
không trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý môi trường, thực hiện chức năng giám sát,
điều khiển hành vi của người dân, huy động cộng đồng v.v Chính quyền, nhà quản lý,
người đại diện và cả các nhà khoa học có thể hợp tác với nhau để tuyên truyền, phổ biến
vai trò và ý nghĩa của nguồn tài nguyên đối với đời sống của cộng đồng, làm cho cộng
đồng nhận thức được trách nhiệm quản lý tài nguyên thiên nhiên khi tham gia mô hình
Trên đây là những điều kiện để quản lý tài nguyên nước có sự tham gia của cộng
đồng có hiệu quả Các nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam đã phân tích các điều kiện
này dưới góc độ định tính, trong khi đó nhiều nghiên cứu ở nước ngoài đã kết hợp cả
phân tích định tính và định lượng để tìm ra những nhân tố tác động đến sự tham gia của
cộng đồng Phần sau đây sẽ tổng quan các nghiên cứu thông qua kết hợp phân tích định
tính và định lượng để tìm hiểu các mô hình, phương pháp đã được thực hiện cũng như
những kết quả được rút ra
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước
1.2.1 Các lý thuyết nghiên cứu hành vi
Để khuyến khích cộng đồng tham gia vào quản lý tài nguyên nước, một trong
những cách tiếp cận là tác động vào hành vi tham gia của họ Muốn tác động vào hành
vi thì cần biết những nhân tố nào ảnh hưởng đến hành vi của con người Hành vi tham
gia quản lý tài nguyên nước là một hành vi xã hội của cá nhân Đã có những lý thuyết giải thích hành vi xã hội khác nhau được đưa ra và được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực để tìm hiểu hành vi của các cá nhân như tập thể dục, chăm sóc sức khỏe cá nhân… trong y tế hay tiết kiệm nước, tiết kiệm năng lượng, tham gia bảo vệ môi trường… trong lĩnh vực môi trường Các lý thuyết hành vi xã hội phổ biến được xem xét
ở đây gồm: Lý thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA), Lý thuyết hành vi dự kiến (Theory of Planned Behaviour - TPB), Mô hình các giai đoạn thay đổi (Transtheoretical Model – TTM hay Stages of Change Model – SOC)
Sutton (2001) chia các lý thuyết hành vi xã hội thành hai nhóm: nhóm mô hình hành vi theo giai đoạn (stages model) và nhóm mô hình nhận thức xã hội (social cognition models) Các lý thuyết thuộc nhóm mô hình hành vi theo giai đoạn giả định rằng hành vi thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau theo trình tự TTM thuộc nhóm này Còn các lý thuyết hành vi nhận thức xã hội thì tiếp cận theo hướng xác định các biến số về nhận thức và thái độ ảnh hưởng đến hành vi thông qua mô hình toán học để
dự đoán hành vi Giá trị của hàm số dự định hành vi phụ thuộc các biến số ảnh hưởng tính toán cho mỗi cá nhân cho thấy khả năng thực hiện hành vi của cá nhân đó là cao hay thấp Lý thuyết TRA và TPB nói trên thuộc nhóm mô hình nhận thức xã hội Prochaska và DiClemente (trích dẫn trong Tlou, 2009, tr.12) đưa ra mô hình các giai đoạn thay đổi TTM với giả định rằng cá nhân thay đổi hành vi của mình qua năm giai đoạn: tiền ý định, có ý định, chuẩn bị, hành động và duy trì Trong giai đoạn đầu tiên: tiền ý định, cá nhân chưa có ý định thay đổi hành vi trong 6 tháng tới Khi có một
sự kiện xảy ra làm cá nhân muốn thay đổi, họ chuyển sang giai đoạn thứ hai: giai đoạn
có ý định Lúc này, cá nhân hình thành ý tưởng thay đổi hành vi và dự định sẽ thay đổi hành vi của mình trong 6 tháng tới Nếu cá nhân dự định thay đổi hành vi của mình trong tháng tới thì họ đang ở giai đoạn thứ ba: giai đoạn chuẩn bị Giai đoạn thứ tư – hành động – bắt đầu khi cá nhân thực hiện thay đổi hành vi, chuyển sang hành vi mới trong khoảng thời gian dưới 6 tháng Giai đoạn thứ năm và cũng là cuối cùng – giai đoạn duy trì – là thời gian ngoài 6 tháng mà cá nhân thực hiện hành vi mới Mặc dù quá trình này diễn ra theo trình tự, nhưng cũng có trường hợp cá nhân quay lại giai đoạn trước và lặp đi lặp lại chu trình
TTM có ưu điểm là giúp nhà nghiên cứu hiểu rõ từng giai đoạn thay đổi hành vi của con người, từ đó có thể đưa ra biện pháp can thiệp phù hợp, hiệu quả nhất trong từng giai đoạn, đặc biệt trong lĩnh vực được ứng dụng rộng rãi là y tế công cộng Tuy nhiên TTM cũng có một số nhược điểm Thứ nhất là thực tế khó có thể phân biệt được riêng rẽ các giai đoạn trong quá trình thay đổi hành vi của cá nhân Thứ hai là các
Trang 17thang đo xem xét sự thay đổi chưa được chuẩn hóa, dẫn đến khó thu thập và xử lý dữ
liệu (Sutton, 2001)
Lý thuyết hành vi hợp lý TRA (Ajzen và Fishbein, trích trong Sutton, 2001,
tr.4) được đưa ra nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa thái độ của một cá nhân và hành vi
của người đó TRA giải thích mối quan hệ giữa niềm tin, thái độ, dự định và hành vi
Theo TRA, nhân tố quyết định chính xác nhất khả năng thực hiện một hành vi là dự định
sẽ thực hiện hành vi đó Những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến dự định thực hiện hành
vi của một cá nhân là thái độ về hành vi sẽ thực hiện và chuẩn mực chủ quan liên quan
đến hành vi Thái độ được chi phối bởi niềm tin của một người về kết quả hoặc tính chất
của hành vi Chuẩn mực chủ quan là kỳ vọng của những người có ảnh hưởng quan trọng
đến cá nhân dự định thực hiện hành vi Mức độ ảnh hưởng của hai nhân tố này là khác
nhau theo từng hành vi và từng nhóm người cụ thể (Sutton, 2001)
Tuy nhiên, rất nhiều hành vi không chỉ đơn giản muốn là thực hiện được mà
chúng đòi hỏi cá nhân phải có kỹ năng, cơ hội, nguồn lực, sự phối hợp mới có thể thực
hiện thành công Lý thuyết hành vi dự kiến TPB (Ajzen, 1991) là nỗ lực mở rộng TRA
để phục vụ nghiên cứu những hành vi không chỉ phụ thuộc vào ý chí Ajzen bổ sung
vào mô hình TRA thêm một biến chi phối đến dự định thực hiện hành vi là nhận thức
kiểm soát hành vi Nhân tố này cho biết cá nhân đánh giá việc thực hiện hành vi là khó
hay dễ và nó được giả định là phản ánh kinh nghiệm trong quá khứ cũng như dự đoán
khó khăn trong tương lai của các cá nhân Nhận thức kiểm soát hành vi có thể có tác
động trực tiếp lên hành vi qua hai cơ chế Thứ nhất, nếu dự định thực hiện hành vi
được coi là biến không đổi thì cá nhân có nhận thức kiểm soát hành vi cao hơn sẽ nỗ
lực hơn và kiên nhẫn thực hiện hành vi lâu hơn những người có nhận thức kiểm soát
hành vi thấp Thứ hai, con người có thể có nhận thức chính xác về mức độ kiểm soát
hành vi thực tế họ có được (Ajzen, 1991)
Nhược điểm của các lý thuyết nhận thức xã hội là chúng thường bị coi là thiếu
tính thực tế khi giải thích cách thức hình thành dự định và ra quyết định của cá nhân
TRA và TBP không hàm ý rằng các cá nhân luôn luôn cân nhắc cẩn thận và ra được
quyết định tốt nhất Con người có thể không biết hết tất cả các lựa chọn hành vi họ có
thể có và hậu quả của hành vi mà họ sẽ thực hiện Họ có thể có niềm tin không chính
xác về kết quả của hành vi Họ có thể ra quyết định rất nhanh chỉ dựa vào một số nhân
tố nổi bật nhất Khi ra quyết định, cá nhân không nhất thiết phải đánh giá cái được, cái
mất cụ thể trừ khi có tác động thay đổi, mà họ chỉ hành động dựa trên ý định đã từng
có từ lâu trong quá khứ Vì vậy, mô hình nhận thức xã hội cũng có hạn chế nhất định
(Sutton, 2001)
Tài nguyên nước là “tài sản chung”, có tính chia sẻ lợi ích giữa nhiều người sử dụng Hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước là hành vi xã hội, bị ảnh hưởng bởi nhận thức xã hội của mỗi cá nhân Vì vậy, để nghiên cứu hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước, viêc sử dụng các lý thuyết nhận thức xã hội (TRA hoặc TPB) là phù hợp
hệ thống có thứ tự trên dưới Có nghĩa là khi một người phải đối mặt với một tình huống nhất định, nơi các giá trị của anh ta phải cạnh tranh, thậm chí mâu thuẫn lẫn nhau thì anh ta sẽ ra quyết định dựa trên giá trị nào được anh ta đánh giá cao nhất.Giá trị đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định, đồng thời giải thích được sự tương đồng và khác biệt giữa các nhóm đối tượng khác nhau về các đặc điểm kinh tế - xã hội
Cụ thể với tài nguyên nước, kết quả nghiên cứu của Russenberger và cộng sự (2012) cho thấy người nào coi trọng giá trị phục vụ sản xuất nông nghiệp và cung cấp nước sạch của tài nguyên nước sẽ ủng hộ các chính sách sử dụng nước cho mục đích kinh tế, còn người nào coi trọng giá trị môi trường mà tài nguyên nước mang lại thì ủng hộ chính sách bảo tồn Với quan điểm như vậy, cộng đồng sử dụng nước cho mục tiêu sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt sẽ sẵn lòng tham gia quản lý tài nguyên nước
Trang 18hướng tới phát triển kinh tế tại địa phương, còn cộng đồng sử dụng tài nguyên nước
với mục đích tham quan, giải trí sẽ sẵn lòng tham gia vào quản lý tài nguyên nước theo
hướng bảo tồn Quan điểm của cộng đồng về quản lý là một nhân tố giá trị khác chi
phối đến mức độ tham gia quản lý tài nguyên nước Kraft và cộng sự (1996) nhận thấy
nếu người nông dân càng nhìn nhận tiêu cực về vai trò của chính phủ trong quản lý thì
càng ít tham gia các chương trình quản lý chất lượng môi trường nước
Các nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy cộng đồng tin rằng việc họ tham gia quản
lý tài nguyên nói chung sẽ đẩy mạnh tương tác xã hội, nâng cao trách nhiệm của họ đối
với môi trường, bảo vệ tài nguyên và môi trường xung quanh Cá nhân có niềm tin càng
mạnh sẽ càng sẵn lòng tham gia quản lý tài nguyên – môi trường Thúc đẩy các hoạt
động tương tác xã hội sẽ làm tăng mối gắn kết giữa các công dân với nhau, tăng cường
sức mạnh liên kết của cộng đồng Như vậy, nếu muốn cộng đồng tham gia tích cực vào
quản lý tài nguyên – môi trường thì phải làm cho họ nhận thấy được mối quan hệ giữa
các hoạt động bảo vệ tài nguyên – môi trường và cộng đồng Nghiên cứu của Sakurai và
cộng sự (2015) ở Nhật cho thấy các cá nhân mới gia nhập cộng đồng rất muốn tương tác
với các thành viên cũ, nhưng họ không biết làm thế nào để có mối quan hệ xã hội tốt
nhất với những người xung quanh Các nghiên cứu khác cũng đưa ra nhận định rằng các
hành vi tham gia quản lý tài nguyên – môi trường tích cực có quan hệ với việc cải thiện
chất lượng môi trường, góp phần xây dựng và thắt chặt quan hệ xã hội, nâng cao năng
lực cộng đồng và hình thành nên trách nhiệm tập thể đối với môi trường Ví dụ, Ferraro
và cộng sự (2011) nhận thấy việc cá nhân càng coi trọng chuẩn mực xã hội của cộng
đồng sẽ càng tiết kiệm nước Do vậy, các nghiên cứu đi đến kết luận cần đẩy mạnh các
dự án, hoạt động quản lý tài nguyên - môi trường có sự tham gia của cộng đồng vì
chúng tạo cơ hội cho các công dân tương tác và gắn kết với nhau
Theo Sakurai và cộng sự (2015), vì phương Tây và phương Đông có khác biệt
văn hóa nên có thể hình dung được các nhân tố chi phối đến hành vi tham gia quản lý
tài nguyên – môi trường ở hai nơi sẽ khác nhau Các nghiên cứu ở Mỹ và châu Âu
thường đi đến kết luận rằng cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên – môi trường với
động cơ là các quan điểm, giá trị liên quan đến chống suy thoái môi trường, lưu giữ kỷ
niệm về mối quan hệ xã hội – sinh thái (đặc biệt là các cộng đồng nhập cư), mong
muốn phục hồi sau thiên tai hoặc chiến tranh, hoặc vì bản thân cộng đồng muốn tự
nâng cao vai trò của bản thân trong quản lý Trong khi đó, động cơ khiến cộng đồng
tham gia bảo vệ, quản lý tài nguyên – môi trường ở châu Á lại khác vì ở châu Á, yếu
tố chia sẻ trách nhiệm đóng vai trò quan trọng.Ngoài ra, người phương Đông thường
có xu hướng hành động nhằm đáp ứng kỳ vọng của người khác mạnh hơn người phương Tây (Sakurai và cộng sự, 2015)
Tóm lại, quan điểm, nhận thức về giá trị của tài nguyên nước có chi phối đến hành
vi sử dụng nước, bảo vệ nguồn nước, tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng
1.2.2.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội
Các nghiên cứu khác xem xét vai trò của nhân tố kinh tế - xã hội và kết quả cho thấy chúng cũng chi phối đến quan điểm, thái độ, từ đó tác động lên hành vi của cộng đồng Một số nghiên cứu đã nêu ra sự khác biệt giữa các nhóm người khác nhau trong các vấn đề liên quan đến các yếu tố tài nguyên – môi trường, cũng như giải thích sự khác biệt bằng các đặc điểm nhân khẩu học Van Liere và Dunlap (1980) nhận thấy cộng đồng trẻ tuổi, trình độ học vấn cao có nhận thức tốt về môi trường Họ cũng thấy
có mối tương quan giữa nhận thức về môi trường với các biến như quyền tài sản cá nhân, nền kinh tế theo định hướng thị trường, tăng trưởng kinh tế Các tác giả đi đến kết luận để giải thích sự khác biệt về các vấn đề môi trường, cần phân tích các biến kinh tế - xã hội Sharp và Adua (2009) kết luận có mối quan hệ chặt chẽ giữa nơi sinh sống và nhận thức về môi trường Nghiên cứu của Zuo và cộng sự (2011) cho thấy cộng đồng ở đô thị với thu nhập cao hơn, học vấn cao hơn, có điều kiện tiếp cận thông tin hơn, sinh kế ít phụ thuộc vào môi trường hơn thì có xu hướng coi trọng các giá trị liên quan đến môi trường mà yếu tố tài nguyên mang lại hơn Hamid (1996) nhận thấy hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của mỗi cá nhân trong cộng đồng có tương quan với trình độ học vấn Do đó, sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước liên quan đến cả đặc điểm kinh tế - xã hội của từng cá nhân trong cộng đồng Như vậy, tìm hiểu những nhân tố chi phối đến dự định thực hiện một hành vi nhất định của cộng đồng là rất quan trọng Trước khi thực hiện thiết kế bất cứ một mô hình quản lý tài nguyên – môi trường nào có sự tham gia của cộng đồng cũng đều phải tìm hiểu những vấn đề nói trên, qua đó có thể xây dựng được một mô hình quản lý phù hợp, được sự ủng hộ, hợp tác của cộng đồng, đáp ứng được mong muốn của họ và thu hút họ tham gia Các lý thuyết hành vi nhận thức xã hội là một công cụ hữu ích trong trường hợp này, cần được nghiên cứu áp dụng để đẩy mạnh hơn nữa sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên – môi trường
1.3 Khái quát những vấn đề chưa được nghiên cứu
Tổng quan các nghiên cứu trước đây cho thấy còn tồn tại những vấn đề đang bỏ ngỏ như sau:
Trang 19Thứ nhất, các nghiên cứu đã có thường tập trung vào một hoạt động quản lý tài
nguyên nước nhất định như cấp nước, phân bổ nước, quy hoạch tài nguyên nước, xử lý
ô nhiễm…Rất ít nghiên cứu xem xét sự tham gia của cộng đồng vào tất cả các khía
cạnh trong quản lý tài nguyên nước Thực tế, sự tham gia của chính một cộng đồng
vào các hoạt động quản lý khác nhau cũng khác nhau về hành vi, mức độ Trong bối
cảnh Việt Nam, cần thiết phải đánh giá cụ thể hành vi, mức độ tham gia của cộng đồng
trong mỗi hoạt động quản lý, tìm ra những hạn chế Đây là cơ sở để hoàn thiện hơn các
quy định, chính sách về sự tham gia của người dân trong quản lý môi trường nói chung
và quản lý tài nguyên nước nói riêng
Thứ hai, các nghiên cứu ở Việt Nam về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý
tài nguyên nước chủ yếu là nghiên cứu định tính Chưa có nghiên cứu định lượng bằng
một mô hình lý thuyết cụ thể để tìm hiểu động cơ nằm sau hành vi tham gia của cộng
đồng cũng như các nhân tố tác động vào sự tham gia của họ Mỗi hành vi tham gia
khác nhau chịu tác động bởi các nhân tố khác nhau với mức độ và chiều hướng khác
nhau, cần được xác định cụ thể
Thứ ba, lý thuyết hành vi là một cách tiếp cận phổ biến trên thế giới trong lĩnh
vực quản lý tài nguyên – môi trường, nhưng ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào sử
dụng Ưu thế của việc áp dụng lý thuyết này là có thể tận dụng các nghiên cứu trước ở
nước ngoài để xác định các biến nhận thức xã hội chi phối hành vi của cộng đồng Từ
đó có thể phân tích để hiểu được các đặc tính riêng của người Việt Nam trong bối cảnh
quản lý tài nguyên – môi trường và đưa ra khuyến nghị chính sách phù hợp, thúc đẩy
vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên – môi trường
Luận án này được thực hiện sẽ góp phần lấp vào những khoảng trống nghiên
cứu nói trên Thông qua nghiên cứu định tính và định lượng, luận án xem xét, đánh giá
hành vi, mức độ tham gia của cộng đồng trong toàn bộ các khía cạnh của quản lý tài
nguyên nước; đồng thời xác định động cơ, nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của họ
2.1 Lý thuyết quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
Khái niệm quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng có thể thấy từ phần tổng quan các nghiên cứu trước đây, nhìn chung các khái niệm về quản lý dựa vào cộng đồng đều đề cập đến sự tham gia của cộng đồng Luận án sử dụng định nghĩa của Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006), theo đó, “quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng là một quá trình có sự tham gia, trong đó cộng đồng chính là trung tâm của hệ thống quản lý nước có hiệu quả” Vì vậy, luận án tập trung nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước tại địa bàn nghiên cứu Về khái niệm cộng đồng, luận án áp dụng quan điểm: cộng đồng là một nhóm người cùng sống trong một khu vực địa lý, tương đồng với nhau về văn hóa và lợi ích, ở đây chỉ bao gồm các hộ gia đình
Nội dung quản lý tài nguyên nướcdựa vào cộng đồng
Theo Trần Thanh Lâm (2004), nội dung quản lý môi trường dựa vào cộng đồng bao gồm: Thứ nhất, cộng đồng xác định những vấn đề môi trường cần được ưu tiên để phục vụ cho sự phát triển của cộng đồng và tìm cách giải quyết chúng Thứ hai, cộng đồng xây dựng các chương trình, kế hoạch thực hiện Thứ ba, cộng đồng thực hiện chương trình, kế hoạch đã đề ra với sự hỗ trợ, hợp tác của các nhóm liên quan khác như chính phủ, nhà tài trợ, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ… Thứ tư, khi kết thúc, cộng đồng và các bên liên quan đánh giá lại tổng thể chương trình, kế hoạch đã thực hiện Thứ năm, cộng đồng tiếp tục xác định ưu tiên mới Đây là quy trình lặp đi lặp lại theo hình xoáy ốc đi lên cao thể hiện sự gia tăng về trình độ, kỹ năng của cộng đồng Khi cộng đồng thực hiện được đầy đủ các nội dung quản lý như vậy, sự tham gia của cộng đồng lên đến mức cao nhất: cộng đồng không chỉ bàn bạc mà còn thực hiện
và kiểm tra
Trong bối cảnh Việt Nam, cộng đồng chưa tham gia vào quản lý tài nguyên - môi trường với đầy đủ tất cả các nội dung như trên Vì vậy, để đánh giá sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước, cần phân tích hiện trạng công tác quản lý tài nguyên nước: cộng đồng đã tham gia vào những khía cạnh nào, với mỗi khía cạnh, cộng đồng tham gia ở mức độ nào và hình thức, hành vi tham gia của họ là gì Với nội dung quản lý tài nguyên nước, luận án sử dụng quan điểm của GWP (2010) về các thành tố của quản lý tài nguyên nước như sau:
Trang 20- Phân bổ nước: ra quyết định phân bổ nước cho các nhóm người sử dụng nước
cho các mục đích khác nhau
- Quy hoạch: xây dựng và cập nhật quy hoạch tài nguyên nước
- Sự tham gia của các nhóm có liên quan: quá trình ra quyết định phải có sự tham
gia của các bên có liên quan đến tài nguyên nước
- Kiểm soát ô nhiễm: hạn chế ô nhiễm và giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực của
ô nhiễm bằng các công cụ khác nhau
- Giám sát: xác định, giải quyết các sự vụ vi phạm quy định về khai thác, sử dụng
tài nguyên nước
- Quản lý dưới góc độ kinh tế và tài chính: áp dụng các công cụ kinh tế phù hợp
để đảm bảo phát triển bền vững
- Quản lý thông tin: thu thập dữ liệu phục vụ quá trình ra quyết định
Về mức độ và hành vi tham gia, nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận của
Dower (2004) và dựa trên nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam của Nguyễn Việt Dũng
và Nguyễn Danh Tĩnh (2006) Theo Dower (2004), quản lý dựa vào cộng đồng có 5
cấp độ:
(1) Thông báo: Nhà nước chủ động hoàn toàn ra quyết định, thông báo và
hướng dẫn cộng đồng tham gia quản lý
(2) Tham vấn: Cộng đồng cung cấp thông tin cho nhà nước Nhà nước sử dụng
thông tin này làm đầu vào tham khảo, từ đó đưa ra quyết định; sau đó thông báo, hướng dẫn
cộng đồng tham gia quản lý
(3) Cùng thực hiện: Cộng đồng được mời tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến
để đưa ra quyết định Đồng thời họ cũng tham gia quản lý
(4) Đối tác: Nhà nước và cộng đồng hợp tác với nhau để quản lý
(5) Chủ trì: Cộng đồng được trao quyền quản lý, Nhà nước chỉ thực thi kiểm soát
Như đã trình bày ở trên, cộng đồng có thể tham gia quản lý dưới các hình thức
cung cấp thông tin, tham gia lãnh đạo, cung cấp các nguồn lực, quản lý và bảo dưỡng
và kiểm tra, đánh giá Tuy nhiên, các hình thức tham gia cần được biểu hiện thành các
hành vi cụ thể Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006) tổng kết chi tiết hơn
các hành vi tham gia phổ biến của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước tại ở Việt
Nam gồm:
• Tham gia các cuộc họp cộng đồng để lập kế hoạch
• Đóng góp ý kiến vào việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đề ra
• Cử người đại diện cho cộng đồng trong các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên nước
• Đóng góp công lao động, tiền, nguyên vật liệu… phục vụ xây dựng, vận hành, duy trì và bảo dưỡng, bảo vệ công trình nước ở địa phương
• Đóng phí sử dụng nước
Trong nghiên cứu này, các hành vi và cấp độ nói trên là cơ sở để xem xét hiện trạng sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước tại vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái
Hình 2.1: Thang đo 5 cấp độ tham gia của cộng đồng
Nguồn: Dower (2004)
Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng chỉ thành công trong một số điều kiện nhất định Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước đã cho thấy một số bài học kinh nghiệm về các điều kiện này, nói cách khác, chúng chính là những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng Có thể chia các nhân tố thành hai nhóm như sau:
Nhóm nhân tố bên trong cộng đồng
- Đặc tính của cộng đồng: Bao gồm những đặc tính cơ bản như quy mô dân số, sinh kế, quy mô, thu nhập hộ gia đình, trình độ học vấn, độ tuổi của chủ hộ…
- Người đại diện cộng đồng: Người đứng đầu thể hiện vai trò trong việc thông tin
và giáo dục người dân về các cơ hội và công cụ về việc tham gia; phân bổ các nguồn lực để hỗ trợ việc tham gia của cộng đồng Người đứng đầu cần phải có được kỹ năng
Trang 21giao tiếp công chúng tốt để tránh xung đột thường xảy ra trong quá trình tham gia, đảm
bảo sự đồng thuận trong cộng đồng
- Sự thích ứng với phong tục tập quán, tín ngưỡng địa phương: Do phong tục tập
quán, tín ngưỡng địa phương thường phản ánh nguyện vọng của người dân qua nhiều
thế hệ đúc kết lại và có sự điều chỉnh trong cuộc sống hiện tại nên các thành viên cộng
đồng rất tin tưởng vào tính công bằng, chính xác của chúng, nhất là khi những phong
tục, tập quán được ghi lại thành hương ước, quy ước Để điều chỉnh tốt mối quan hệ
với cộng đồng cũng như trong cộng đồng, cần có sự kết hợp hài hòa, hỗ trợ, bổ sung
giữa các quy phạm pháp luật và phong tục, tập quán
Nhóm nhân tố bên ngoài cộng đồng
- Khung pháp lý về sự tham gia của cộng đồng: Trong bối cảnh vai trò quản lý tài
nguyên – môi trường nói chung chủ yếu thuộc về nhà nước, cộng đồng chỉ có thể tham
gia quản lý nếu như có khung pháp lý vững chắc, tạo điều kiện cho họ đóng góp ý
tưởng, nguồn lực, đồng thời đảm bảo quyền lợi của họ liên quan đến khai thác, sử
dụng tài nguyên
- Mối quan hệ của cộng đồng với chính quyền và các bên liên quan: Thông
thường, quản lý dựa vào cộng đồng diễn ra do sự liên kết của các đối tác trong quá
trình quản lý, bao gồm người dân, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các tổ chức phi
chính phủ Chìa khóa cho mối quan hệ hợp tác giữa các bên này là sự chia sẻ trách
nhiệm và lòng tin trong quá trình tiến hành hoạt động quản lý giữa các đối tác Do đó,
ngoài thiết lập cơ chế chia sẻ trách nhiệm, các bên còn cần có tinh thần hợp tác, cởi
mở, tin tưởng và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình quản lý
Để tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước, cần
nghiên cứu ảnh hưởng cụ thể của các nhân tố nói trên để có cơ sở đề xuất giải pháp
Luận án lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu hành vi xã hội của các cá nhân trong cộng
đồng khi tham gia quản lý tài nguyên nước; và mỗi hành vi tham gia đều được phân
tích tác động của các nhân tố bằng lý thuyết hành vi, đồng thời bổ sung thêm các biến
phản ánh các nhân tố mà lý thuyết hành vi chưa đề cập đến
2.2 Lý thuyết hành vi dự kiến
Phần tổng quan nghiên cứu đã trình bày về các lý thuyết nghiên cứu hành vi
phổ biến Tuy nhiên, TTM là mô hình chia quá trình dự định và thực hiện hành vi
thành nhiều giai đoạn có thể giao thoa với nhau hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần, gây khó
khăn cho thiết kế nghiên cứu Đồng thời, các thang đo cho các giai đoạn lại chưa được
chuẩn hóa và kiểm định nên việc giải thích và kiểm định kết quả nghiên cứu có thể
không chính xác Trong khi đó, hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước là hành vi xã hội nên nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nhận thức, quan điểm, giá trị xã hội Vì vậy, việc sử dụng các mô hình nhận thức xã hội là phù hợp hơn.Vì TPB rộng hơn TRA và được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu trước đó nên nghiên cứu này sẽ lựa chọn TPB làm lý thuyết cơ sở để tìm hiểu các nhân tố tác động lên hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng
Lý thuyết hành vi dự kiến (TPB) được Ajzen (1991) mở rộng từ lý thuyết hành
vi hợp lý (TRA) TPB cho rằng hành vi của con người được quyết định bởi ý chí, suy nghĩ của họ Một người càng có ý định mạnh mẽ để thực hiện một hành vi thì khả năng
họ thực hiện hành vi đó trong thực tế càng lớn Sức mạnh của dự định bị chi phối bởi
ba nhân tố: thái độ (attitude), chuẩn mực chủ quan (subjective norm) và nhận thức kiểm soát hành vi (perceived behavioural control) (Hình 2.2)
Thái độ phản ánh đánh giá của mỗi cá nhân khi thực hiện một hành vi nhất định Họ có thể đánh giá hành vi ấy là tích cực hoặc tiêu cực Chuẩn mực chủ quan bị chi phối bởi sức ép mà mỗi cá nhân cho rằng họ phải chịu hoặc cái mà họ nghĩ những người khác muốn họ làm Nhận thức kiểm soát hành vi là đánh giá của mỗi cá nhân về những thuận lợi, khó khăn mà họ sẽ gặp phải khi thực hiện hành vi Nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng trực tiếp lên hành vi thực tế nếu con người nhận biết chính xác khó khăn và thuận lợi họ gặp phải Quy tắc chung là thái độ và chuẩn mực chủ quan về hành vi càng tích cực, nhận thức kiểm soát hành vi càng lớn thì một cá nhân càng có mong muốn thực hiện hành vi trong thực tế
Trang 22Lý thuyết hành vi dự kiến cho rằng thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức
kiểm soát hành vi có quan hệ với niềm tin của các cá nhân, phản ánh nhận thức, kinh
nghiệm, hiểu biết của họ Thái độ hình thành từ sự kết hợp của niềm tin của một cá
nhân cho rằng một hành vi nhất định sẽ dẫn tới một kết quả nhất định và cá nhân đánh
giá thế nào về kết quả đó (tích cực hay tiêu cực) Nó được gọi là niềm tin hành vi
(behavioural beliefs) Tương tự, chuẩn mực chủ quan xuất phát từ niềm tin của cá nhân
về nhận định, đánh giá của người khác đối với cá nhân đó, nó bao gồm niềm tin về
chuẩn mực xã hội (normative beliefs) và mong muốn được thực hiện theo (motivation
to comply) Mỗi người đều nghĩ rằng mọi người xung quanh sẽ ủng hộ hoặc phản đối
hành vi của anh ta, đây chính là niềm tin về chuẩn mực xã hội Và anh ta sẽ có xu
hướng muốn đáp ứng kỳ vọng của những người mà anh ta đánh giá là quan trọng, tức
là anh ta “mong muốn được thực hiện theo” Nhận thức kiểm soát hành vi có cơ sở là
một loạt các niềm tin về sự kiểm soát (control beliefs) và tầm ảnh hưởng của niềm tin
đó Niềm tin về sự kiểm soát được phản ánh qua việc họ nghĩ có những nhân tố nào sẽ
tác động tiêu cực hoặc tích cực lên một hành vi nhất định Tầm ảnh hưởng của niềm
tin về sự kiểm soát là đánh giá chủ quan của cá nhân tác động của các nhân tố tiêu cực
hoặc tích cực lên hành vi của họ
Theo lý thuyết hành vi dự kiến, có thể dự đoán được hành vi của một người từ
dự định của họ với hai điều kiện Thứ nhất, phải đo được dự định và hành vi trong
cùng mối quan hệ với mục đích, hành động, bối cảnh và thời gian của hành vi Thứ
hai, khoảng thời gian giữa dự định và hành vi phải ngắn nhất có thể để đảm bảo cá
nhân không có nhiều cơ hội thay đổi ý định thực hiện hành vi của mình
Phân tích tổng hợp các nghiên cứu TPB cho thấy khi nghiên cứu mô hình dự
định thực hiện hành vi phụ thuộc thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát
hành vi, trung bình có 40-50% sự biến động của dự định thực hiện hành vi được giải
thích bằng sự biến động của các nhân tố giải thích TPB Khi dự báo hành vi từ dự định
và/hoặc nhận thức kiểm soát hành vi, mức độ giải thích nằm trong khoảng từ 19 đến
38% (Sutton, 2001) Như vậy, mô hình TPB có thể sử dụng để dự báo dự định thực
hiện hành vi, và nếu có thể tác động lên các biến liên quan đến niềm tin về hành vi, về
chuẩn mực xã hội và về kiểm soát một cách phù hợp thì có thể thay đổi dự định của
các cá nhân, qua đó thay đổi hành vi của họ theo hướng mong muốn
TPB được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, phổ biến là y tế
cộng đồng.TPB được áp dụng cũng tương đối phổ biến để tìm hiểu quan điểm, thái độ,
động cơ, dự định của cộng đồng trong các vấn đề liên quan đến tài nguyên - môi
trường trong đó có tài nguyên nước Mô hình hồi quy TPB của Tonglet và cộng sự
(2004), Davis và cộng sự (2006) cho hành vi tham gia tái chế chất thải của cộng đồng
ở Anh cho kết quả các biến TPB gồm thái độ, chuẩn mực chủ quan, nhận thức kiểm đều có tác động thuận chiều lên hành vi tham gia Sathapornvajana và cộng sự (2006) kết luận biến thái độ và chuẩn mực chủ quan có tác động thuận chiều lên hành vi bảo
vệ tài nguyên nước của cộng đồng dân cư Thái Lan Fielding và cộng sự (2008) xem xét hành vi bảo vệ tài nguyên nước của cộng đồng ở Australia và khẳng định rằng các biến TPB có tác động thuận chiều lên hành vi, nhất quán với lý thuyết TPB Nghiên cứu của Cabaniss (2014) về hành vi tham gia chương trình quản lý chất thải độc hại của cộng đồng ở Mỹ cũng có kết quả tương tự với tác động thuận chiều của 3 biến TPB lên cả dự định và hành vi tham gia Ở Việt Nam, lý thuyết hành vi dự kiến được
áp dụng trong một số nghiên cứu như ý định sử dụng hệ thống tàu điện ngầm metro ở thành phố Hồ Chí Minh (Đặng Thị Ngọc Dung, 2012), ý định vay vốn của các hộ cá thể (Phạm Hồng Mạnh và Đồng Trung Chính, 2013), nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An (Nguyễn Xuân Cường và cộng sự, 2014) Nguyễn Diệu Hằng và cộng sự (2016) đã sử dụng lý thuyết hành vi dự kiến để nghiên cứu hành vi sử dụng nước, gồm tiết kiệm nước và bảo vệ nguồn nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái Kết quả cho thấy có hai nhân tố TPB cùng ảnh hưởng đến hành vi bảo vệ tài nguyên nước là thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi với tác động thuận chiều, phù hợp với
lý thuyết TPB Ngoài ra, lý thuyết này chưa phổ biến ở Việt Nam trong lĩnh vực quản
lý tài nguyên – môi trường
2.3 Giả thuyết nghiên cứu
Luận án nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước vùng hồ Thác Bà thông qua các mức độ và hành vi tham gia vào các khía cạnh trong quản lý Trong lý thuyết quản lý dựa vào cộng đồng, các mô hình đều giả định mọi thành viên trong cộng đồng đều đã tham gia quản lý tài nguyên nước ở mức độ tối thiểu Nhưng thực tế là có những cá nhân chưa hề tham gia bất cứ hình thức nào Do vậy, nghiên cứu này bổ sung thêm hành vi “tuân thủ chính sách quản lý tài nguyên nước” và xếp vào cấp độ tham gia quản lý “được thông báo”, tức là nhà nước ra quyết định chính sách quản lý bằng các quy định và thông báo cho cộng đồng để cộng đồng biết và tuân thủ Theo đó, trả phí sử dụng nước cũng là một hình thức phản ánh “tuân thủ chính sách” Cấp độ thông báo còn bao gồm hành vi tham gia các buổi họp người dân vì ít nhất khi tham gia các buổi họp, mỗi người có cơ hội được tiếp cận với thông tin về chính sách quản lý tài nguyên nước hiện tại Hành vi “đóng góp ý kiến” của cộng đồng cho thấy cộng đồng được hỏi ý kiến và có thông tin phản hồi lại với quá
Trang 23trình ra quyết định quản lý Tức là cộng đồng tham gia quản lý ở cấp độ “được tham
vấn” Hai hành vi “đóng góp công sức, tài chính” và “cử người đại diện tham gia quản
lý” phản ánh cộng đồng có cơ hội được tham gia quản lý nhưng vai trò quản lý chính
vẫn thuộc về nhà nước nên chúng được xếp vào cấp độ “cùng thực hiện” Nghiên cứu
của Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006) cho thấy các hành vi tham gia
quản lý tài nguyên nước của cộng đồng ở Việt Nam còn hạn chế, chưa lên đến cấp độ
cao hơn là “đối tác” và “chủ trì” Bảng 2.1 tổng kết giả thuyết các hành vi tham gia
tương ứng với mỗi cấp độ tham gia được sử dụng trong nghiên cứu
Bảng 2.1: Giả thuyết về hành vi và cấp độ tham gia quản lý tài nguyên nước của
cộng đồng Hành vi tham gia quản lý tài nguyên
nước của cộng đồng
Cấp độ tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng
Tuân thủ chính sách quản lý tài nguyên
Tham gia các buổi họp người dân
Đóng góp ý kiến trong các buổi họp lấy ý
kiến và đóng góp ý kiến qua các kênh
Nguồn: Tổng kết của tác giả
Luận án này sử dụng lý thuyết TPB để tìm hiểu các nhân tố tác động đến từng
hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng như đã trình bày trong phần
2.2 Như vậy mỗi dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước được giả định
chịu tác động của 3 nhân tố:
- Thái độ: tác động thuận chiều lên dự kiến hành vi
- Chuẩn mực chủ quan: tác động thuận chiều lên dự kiến hành vi
- Nhận thức kiểm soát hành vi: tác động thuận chiều lên dự kiến hành vi
Giá trị mà mỗi cá nhân cho rằng tài nguyên nước mang lại cho họ cũng chi phối
đến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước Russenberger và cộng sự (2012) đã liệt
kê các giá trị mà tài nguyên nước mang lại cho cá nhân bằng các phát biểu phản ánh cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng của tài nguyên nước ở Alberta, Canada Các giá trị được đưa ra gồm: sự hài lòng khi thế hệ tương lai có nước để sử dụng;chất lượng cuộc sống tốt nhờ hệ sinh thái dưới nước đa dạng, phong phú; chất lượng cuộc sống tốt nhờ cảnh quan đẹp; nước phục vụ sinh hoạt; nước phục vụ tưới tiêu nông nghiệp Ngoài ra Russenberger và cộng sự (2012) còn tìm hiểu quan điểm của cộng đồng về những giá trị có liên quan đến tài nguyên nước hoặc bị ảnh hưởng bởi tài nguyên nước như: sinh kế, văn hóa, truyền thống… Dựa vào các nhân tố giá trị trong nghiên cứu của Russenberger và cộng sự, đồng thời điều chỉnh cho phù hợp với vai trò của tài nguyên nước tại địa bàn nghiên cứu và phù hợp với bối cảnh Việt Nam, nghiên cứu này đưa ra các phát biểu về nhận thức về giá trị của tài nguyên nước để đưa vào điều tra Các nghiên cứu trước không chỉ rõ chiều tác động của nhận thức về từng giá trị lên hành vi liên quan đến tài nguyên – môi trường mà điều này tùy thuộc vào từng giá trị,
từng hành vi và từng cộng đồng dân cư Như vậy giả thuyết ở đây là: Nhận thức của cộng đồng về giá trị của tài nguyên nước là biến số có ý nghĩa, có tác động lên dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước
Cuối cùng, các biến kinh tế - xã hội có tác động lên dự kiến hành vi Tác động của các biến này cũng khác nhau tùy vào từng nghiên cứu Luận án này giả định các biến được đưa vào xem xét và tác động của nó như sau:
- Mục đích sử dụng nước: các thành viên cộng đồng sử dụng nước cho các
mục đích khác nhau (sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp…) có dự định tham
gia quản lý tài nguyên nước khác nhau nên mục đích sử dụng nước có tác động lên
dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước
- Tuổi: Thành viên cộng đồng càng sống lâu năm, càng gắn bó với tài nguyên
nước tại địa bàn thì càng tích cực bảo vệ tài nguyên nước Nghiên cứu của Sheikh và cộng sự (2014) ở Malaysia cho thấy người nhiều tuổi hơn tham gia nhiều hơn vào
quản lý tài nguyên nước.Do vậy, luận án giả định tuổi có tác động thuận chiều lên dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước
- Dân tộc: Thành viên cộng đồng là người dân tộc thiểu số thì có dự kiến tham
gia quản lý tài nguyên nước khác với cộng đồng người Kinh nên luận án giả định biến
dân tộc có tác động lên dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước
- Trình độ học vấn: Nghiên cứu của Sheikh và cộng sự (2014) ở Malaysia cho
thấy hộ gia đình có trình độ học vấn cao tham gia nhiều vào quản lý tài nguyên nước
Nên nghiên cứu này giả định trình độ học vấn có tác động thuận chiều lên dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước
Trang 24- Quy mô hộ gia đình: Quy mô hộ gia đình khác nhau dẫn tới nhu cầu sử dụng
nước khác nhau, vì vậy có thể kỳ vọng biến này có tác động lên dự kiến hành vi tham
gia quản lý tài nguyên nước
- Thu nhập: Thu nhập phản ánh mức sống của thành viên cộng đồng Chiều
tác động của nhân tố này lên dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước là
không rõ ràng, ví dụ có người có thu nhập cao sẽ mong muốn tham gia nhiều hơn vào
quá trình quản lý, do vậy thu nhập cao dẫn đến dự định tham gia mạnh hơn Ngược lại,
có thể lập luận rằng vì sinh kế của người có thu nhập thấp phụ thuộc tài nguyên nước,
và sinh kế của họ sẽ bị ảnh hưởng khi tài nguyên nước bị quản lý kém hiệu quả, vì vậy
người đó sẽ có dự định tham gia nhiều hơn vào quản lý tài nguyên nước Do vậy trong
nghiên cứu này giả định thu nhập là biến có tác động lên dự kiến hành vi tham gia
quản lý tài nguyên nước
Bảng 2.2 Giả thuyết về các nhân tố tác động vào dự kiến hành vi tham gia
Biến giải thích Tác động dự kiến Nguồn tham chiếu
Nhận thức kiểm soát hành vi Cùng chiều Ajzen (1991)
Nhận thức về giá trị của tài
nguyên nước
Tùy từng giá trị Russenberger và cộng sự
(2012) Mục đích sử dụng nước Tùy từng mục đích
cộng sự (2014) Quy mô hộ gia đình Tùy từng cộng đồng
Nguồn: Tổng kết của tác giả
3.1 Khung nghiên cứu
Xuất phát từ nhu cầu cá nhân với các đặc điểm về kinh tế - xã hội khác nhau, các đối tượng sử dụng nước khác nhau có hành vi khai thác, sử dụng nước khác nhau, dẫn đến tài nguyên nước được sử dụng không hiệu quả Để giải quyết tình trạng đó, quản lý có sự tham gia của cộng đồng là một giải pháp Tuy nhiên, muốn cộng đồng thực sự tham gia quản lý thì phải hiểu động cơ tham gia của cộng đồng Lý thuyết về quản lý dựa vào cộng đồng được sử dụng để tìm hiểu hiện trạng hành vi, mức độ tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái Lý thuyết hành vi dự kiến được sử dụng để tìm hiểu hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước bị chi phối bởi những nhân tố nào và có thể tác động vào các nhân tố đó để đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng
Cộng đồng là một khái niệm rộng lớn, gồm nhiều thành phần khác nhau Cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái gồm các hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ chức có tác động, liên quan đến tài nguyên nước Luận án này chỉ nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước ở cấp độ hộ gia đình, không xét đến hành vi của các tổ chức, doanh nghiệp
Nghiên cứu này giả định sự tham gia của cộng đồng thể hiện qua cấp độ, hình thức tham gia của họ Đồng thời, hành vi tham gia quản lý của cộng đồng bị chi phối bởi các nhân tố khác nhau Theo lý thuyết hành vi dự kiến, dự kiến hành vi tham gia trong tương lai phụ thuộc các nhân tố thái độ, chuẩn mực chủ quan, nhận thức kiểm soát hành
vi Ngoài ra, dựa vào các nghiên cứu trước đó, dự kiến hành vi tham gia quản lý còn phụ thuộc đặc điểm kinh tế - xã hội, nhận thức về giá trị, thái độ về quản lý
Việc xác định mức độ, hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái được thực hiện thông qua nghiên cứu định tính Việc đánh giá tỷ lệ tham gia, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia được thực hiện thông qua nghiên cứu định lượng
Trang 25Hình 3.1: Khung nghiên cứu
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2 Mô hình và các biến nghiên cứu
Hành vi, cấp độ tham gia của cộng đồng
Hồ chứa Thác Bà là công trình được hình thành với các nhiệm vụ chính là phát
điện phục vụ nền kinh tế trong nước và chống lũ, tưới tiêu, chống hạn cho nông nghiệp
vùng đồng bằng Bắc Bộ Do vậy, việc quản lý tài nguyên hồ Thác Bà không chỉ nằm
trong phạm vi cộng đồng dân cư địa phương mà cần thiết phải có vai trò của cộng
Hiện trạng sử dụng nước tại hồ Thác Bà
Nhà nước
Tìm hiểu các yếu
tố tác động lên hành vi tham gia quản lý của cộng đồng
Tìm hiểu cấp
độ, hành vi tham gia quản
lý của cộng đồng
Phân tích kết quả
1 Đánh giá khó khăn, thuận lợi khi cộng đồng tham gia
quản lý tài nguyên nước
2 Phân tích các yếu tố tác động lên hành vi tham gia của
cộng đồng
Quản lý tài nguyên nước có sự tham gia của cộng đồng
Đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên
dự kiến
đồng dân cư toàn bộ vùng chịu tác động bởi tài nguyên nước hồ Thác Bà Nghiên cứu này chỉ giới hạn ở cộng đồng vùng hồ Thác Bà nên sẽ không xem xét các hình thức cộng đồng tham gia quản lý cao đòi hỏi phạm vi địa lý của nghiên cứu rộng hơn Do
đó, cấp độ đối tác và chủ trì không được đưa vào mô hình nghiên cứu
Như đã trình bày trong chương 2, dựa vào nghiên cứu của Nguyễn Việt Dũng
và Nguyễn Danh Tĩnh (2006) và kết hợp với thông tin từ phỏng vấn sâu với một số hộ gia đình ở thành phố Yên Bái và xã Vũ Linh, huyện Yên Bình, với cán bộ UBND huyện Yên Bình và Lục Yên, các hình thức tham gia quản lý tài nguyên nước của các
hộ gia đình vùng hồ Thác Bà bao gồm:
• Tuân thủ chính sách quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà (cấp độ thông báo)
• Tham gia các buổi họp người dân (cấp độ thông báo)
• Đóng góp ý kiến trong các buổi họp lấy ý kiến và đóng góp ý kiến qua các kênh khác (cấp độ tham vấn)
• Đóng góp công sức, tài chính để góp phần bảo vệ tài nguyên nước hồ (cấp
độ cùng thực hiện)
• Cử đại diện cùng tham gia quản lý hồ Thác Bà (cấp độ cùng thực hiện)
Mô hình xác định các nhân tố tác động đến hành vi tham gia quản lý
Từ lý thuyết TPB và tổng quan các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này giả định hành vi tham gia quản lý của cộng đồng phụ thuộc các biến TPB gồm thái độ, chuẩn mực chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi và đặc điểm kinh tế xã hội cũng như nhận thức về giá trị của tài nguyên nước
Mối quan hệ giữa các biến được thể hiện qua mô hình sau:
DKHVTG = β1 x TĐ + β2 x CMCQ + β3 x NTKSHV + β4 x honuocmay + β5 x hovenho +β6 x hothuysan + β7 x tuoi + β8 x Dantoc + β9 x TĐHV + β10 x QMH + β11 x thunhap + βi x giatrii
Trong đó:
DKHVTG: dự kiến hành vi tham gia TĐ: thái độ
CMCQ: chuẩn mực chủ quan NTKSHV: nhận thức kiểm soát hành vi Honuocmay: hộ sử dụng nước máy từ hồ Thác Bà Hothuysan: hộ nuôi trồng, đánh bắt thủy sản trên hồ Thác Bà Hovenho: hộ sống ven hồ Thác Bà sử dụng nước cho mục đích khác ngoài nước máy, sản xuất lâm nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản
Trang 26Tuoi: Tuổi
Dantoc: Dân tộc
TĐHV: trình độ học vấn
QMH: quy mô hộ
Thunhap: Mức thu nhập trung bình một tháng của hộ
Giatrii: nhận thức về giá trị thứ i của tài nguyên nước hồ Thác Bà
Các biến nghiên cứu:
Theo Azjen (2013), để nghiên cứu tác động của các biến TPB lên dự kiến hành
vi trong tương lai, cần tiến hành điều tra mức độ nhất trí với các phát biểu về dự kiến
hành vi sẽ tham gia, hành vi đã tham gia thực tế và các biến TPB Mức độ nhất trí
được đánh giá dựa trên thang điểm từ 1 đến 7 Tuy nhiên, dựa vào các nghiên cứu TPB
khác và kinh nghiệm điều tra tại Việt Nam, nghiên cứu này sử dụng thang điểm 1-5 là
một lựa chọn phù hợp hơn với người trả lời, nhất là ở các vùng nông thôn, miền núi có
người dân tộc thiểu số
Từ đánh giá hiện trạng, có 5 dự kiến hành vi tham gia được chọn làm biến phụ thuộc:
- Hành vi tuân thủ quy định do cơ quan quản lý nhà nước đề ra (cấp độ thông
báo)
- Hành vi đóng góp ý kiến tại các cuộc họp người dân (cấp độ tham vấn)
- Hành vi chủ động, trực tiếp đóng góp ý kiến cho cơ quan quản lý nhà nước
Mỗi hành vi là một biến được đo bằng thang điểm 1-5 thể hiện mức độ từ “rất
không đồng ý” đến “rất đồng ý” với các phát biểu về dự kiến hành vi đó
Các biến giải thích trong mô hình gồm:
- Các biến đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ gia đình gồm: tuổi người trả lời, thời
gian sinh sống tại địa phương, quy mô hộ gia đình, thu nhập là các biến liên tục; trình
độ học vấn là biến thứ bậc, nhóm hộ gia đình chia theo mục đích sử dụng nước là các
biến định tính
- Các biến nhận thức về giá trị: tương tự với biến phụ thuộc, các biến nhận thức
về giá trị được đo qua mức độ nhất trí của người trả lời qua thang điểm 1-5 với các
phát biểu về vai trò của tài nguyên nước hồ Thác Bà đối với hoạt động sinh hoạt, sản xuất của họ như: cấp điện, cấp nước, sản xuất lâm nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, giao thông thủy, du lịch, môi trường, cảnh quan và xã hội
- Các biến TPB gồm thái độ, chuẩn mực chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi được đo bằng mức độ nhất trí của người trả lời qua thang điểm 1-5 Tương ứng với mỗi hành vi được sử dụng làm biến phụ thuộc ở trên có một nhóm biến TPB Các phát biểu thể hiện các biến nghiên cứu và thang đo được liệt kê trong Phụ lục 1
3.3 Thu thập số liệu
3.3.1 Dữ liệu thứ cấp
Số liệu về đặc điểm hồ Thác Bà, hiện trạng sử dụng nước hồ Thác Bà được thu thập từ Sở Tài nguyên – Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Quản lý đất đai, Chi cục Thủy sản, Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà, Cục thống
kê, Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái
Số liệu về đặc điểm kinh tế - xã hội tại địa bàn được thu thập từ Niên giám thống
kê, các báo cáo của UBND tỉnh, Cục Thống kê, Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái Các văn bản pháp luật được thu thập từ Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái, các cơ sở dữ liệu điện tử văn bản pháp luật và các nghiên cứu trước đó
3.3.2 Dữ liệu sơ cấp
3.3.2.1 Phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu được tiến hành với cán bộ quản lý tại địa phương và một số hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu Phỏng vấn sâu được tiến hành cả trước và sau khi điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc Cách thức phỏng vấn sâu là tác giả chuẩn bị trước các câu hỏi chính liên quan đến thông tin cần tìm hiểu Khi đi phỏng vấn cụ thể, người hỏi ghi chép câu trả lời và từ thông tin được cung cấp sẽ đặt thêm câu hỏi để tìm hiểu sâu thêm vấn đề Với phỏng vấn cán bộ quản lý nhà nước, tác giả so sánh các câu trả lời và
sử dụng những điểm thống nhất Với phỏng vấn hộ gia đình, tác giả tiến hành phỏng vấn cho đến khi các câu trả lời là tương đối thống nhất với nhau thì dừng lại Trước khi điều tra bằng bảng hỏi, tác giả phỏng vấn sâu với các cán bộ Sở Tài nguyên – Môi trường, Chi cục Thủy sản, Chi cục Quản lý Đất đai, Liên minh Hợp tác
xã, UBND huyện Yên Bình, UBND huyện Lục Yên để tìm hiểu về hiện trạng quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà Các vấn đề được nghiên cứu trong đợt phỏng vấn này gồm thực trạng quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà, vai trò của tài nguyên nước hồ Thác Bà tại địa phương, quy trình tham vấn hoặc đóng góp ý kiến của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước, thực trạng việc tuân thủ quy định, đóng góp nguồn lực bảo vệ
Trang 27tài nguyên nước Tác giả cũng phỏng vấn 8 hộ gia đình tại thành phố Yên Bái, xã Vũ
Linh, huyện Yên Bình về cách thức người dân tham gia vào các nội dung quản lý tài
nguyên nước, nhưng hành vi tham gia cụ thể, mức độ tiếp cận thông tin về tài nguyên
nước, sự hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình cộng đồng tham gia
Sau khi hoàn thành điều tra bằng bảng hỏi và xử lý số liệu, tác giả tiến hành
phỏng vấn thêm cán bộ UBND huyện Yên Bình, huyện Lục Yên để làm rõ các kết quả
nghiên cứu định lượng bằng bằng chứng thực tế Các vấn đề được hỏi gồm vai trò của
các tổ chức xã hội trong quản lý tài nguyên nước, quan niệm về sự gắn kết xã hội của
cộng đồng địa phương trong mối quan hệ với tài nguyên nước …
3.3.2.2 Thiết kế bảng hỏi
Hiện trạng các hành vi, cấp độ tham gia quản lý tài nguyên nước, đặc điểm kinh
tế - xã hội của người trả lời, nhận thức về giá trị tài nguyên nước và các biến TPB
được thu thập thông qua điều tra bằng bảng hỏi
Ngoài lời giới thiệu và lời cảm ơn, bảng hỏi gồm 4 phần Phần 1 là các câu hỏi
về đánh giá chung về sử dụng nước và quản lý tài nguyên nước Phần 2 là các câu hỏi
về hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước, giá trị của tài nguyên nước, thái độ,
chuẩn mực chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi Phần 3 là các câu hỏi về mức độ
sẵn lòng tham gia quản lý tài nguyên nước Phần 4 là các câu hỏi về đặc điểm kinh tế -
xã hội của người trả lời (Phụ lục 2)
Bảng hỏi được xây dựng dựa trên lý thuyết và tổng quan tài liệu vềcác mức độ,
hành vi tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước, hướng dẫn xây dựng
bảng hỏi TPB của Ajzen (2013) và phỏng vấn một số cán bộ, người dân địa phương
Trước khi điều tra chính thức, điều tra thử được thực hiện để điều chỉnh bảng hỏi
3.3.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Ở cấp độ hộ gia đình, hồ Thác Bà có vai trò cung cấp nước sạch, khai thác, nuôi
trồng thủy sản, sản xuất lâm nghiệp, giao thông thủy, du lịch; ngoài ra nó cung cấp
nước làm nông nghiệp quy mô nhỏ, là môi trường xả nước thải của cơ sở chế biến
cho các hộ sống ven hồ Vai trò hỗ trợ khai thác khoáng sản của hồ Thác Bà chỉ thể
hiện với các doanh nghiệp Do hành vi tham gia quản lý của doanh nghiệp không nằm
trong phạm vi nghiên cứu của luận án nên tổng thể nghiên cứu ở đây là các hộ gia đình
sử dụng hồ Thác Bà cho các mục đích nước sạch, thủy sản, lâm nghiệp, giao thông
thủy, du lịch, nông nghiệp, xả thải
Số người sử dụng nước sạch lấy từ hồ Thác Bà hiện là 5000 hộ Tại vùng hồ có
hơn 1000 hộ khai thác thủy sản, 1000 hộ sản xuất lâm nghiệp, hơn 5000 hộ dân khác
sống ven hồ và sử dụng tài nguyên nước hồ cho nhiều mục đích khác nhau Họ đồng
thời còn sử dụng hồ Thác Bà cho mục đích giao thông thủy, tham quan du lịch và hưởng thụ chất lượng môi trường Như vậy có 4 nhóm hộ sử dụng nước chính là nhóm
hộ sử dụng nước máy, nhóm hộ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, nhóm hộ sản xuất lâm nghiệp và nhóm hộ ven hồ sử dụng nước cho các mục đích khác
Tuy số hộ sử dụng nước sạch là rất lớn, nhưng họ đều sống ở thành phố Yên Bái và thị trấn Yên Bình, có khoảng cách tương đối xa hơn so với các hộ gia đình có
sử dụng tài nguyên nước hồ Thác Bà còn lại Với các hộ sống ven hồ, mức độ sử dụng/ảnh hưởng đến tài nguyên nước hồ khá khác nhau Đa số các hộ chỉ sinh sống ven hồ, có thể có thêm sản xuất quy mô nhỏ như trồng rau, chăn nuôi trên phần đất gần hồ Một số hộ tham gia hợp tác xã chế biến sắn, gỗ là hoạt động xả thải gây ô nhiễm hồ khá nghiêm trọng Các hộ khai thác, nuôi trồng thủy sản và các hộ sản xuất lâm nghiệp có số lượng ít hơn, nhưng sử dụng nhiều và tác động mạnh lên chất lượng nước hồ Do đó, mẫu điều tra phân chia tương đối đều với các nhóm hộ nói trên để thể hiện vai trò tương đối về khoảng cách và mức độ sử dụng, khai thác tài nguyên nước trên hồ Vì hạn chế về nguồn lực, cỡ mẫu ở đây được xác định bằng cách dựa vào các nghiên cứu đã được thực hiện trước đó và tham vấn ý kiến các chuyên gia, những người có kinh nghiệm thực hiện các dự án điều tra khảo sát Với quy mô tổng thể tương đối lớn (khoảng 12.000 hộ), cỡ mẫu được lựa chọn là 350 hộ
Bảng 3.1: Mẫu điều tra phân theo địa bàn và mục đích sử dụng nước chính Nhóm hộ Địa bàn điều tra Số hộ Tỷ lệ %
Hộ dùng nước máy Phường Đồng Tâm, thành phố Yên
Bái
Thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình 40
Hộ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản
Hộ sống ven hồ Xã Xuân Long, huyện Yên Bình 40 22,8
Xã Mông Sơn, huyện Yên Bình 40
Hộ sản xuất lâm nghiệp
Nguồn: Điều tra của tác giả (2015).
Trang 28Phương pháp chọn mẫu là phương pháp phân tầng (multi-stage sampling) Theo
đó, địa bàn nghiên cứu được chia theo huyện/thành phố thuộc tỉnh, gồm huyện Yên
Bình, Lục Yên và thành phố Yên Bái Các huyện/thành phố này được chia tiếp theo
xã/phường Các xã được lựa chọn dựa trên đánh giá của cán bộ địa phương về mức độ
sử dụng, khai thác nước hồ Thác Bà cho các mục đích sử dụng chính khác nhau:
- Các hộ sử dụng nước sạch: phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái và thị trấn
Yên Bình, huyện Yên Bình
- Các hộ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản: xã Vũ Linh và xã Bảo Ái, huyện Yên Bình
- Các hộ sản xuất lâm nghiệp: xã Vũ Linh, huyện Yên Bình và xã Vĩnh Lạc,
huyện Lục Yên
- Các hộ sống ven hồ sử dụng nước hồ cho nhiều mục đích: xã Xuân Long và xã
Mông Sơn, huyện Yên Bình
Trong mỗi xã,nghiên cứu lại chọn ra 40-50 hộ để đạt được quy mô mẫu là 350
hộ gia đình (bảng 3.1) Sau khi tiến hành thu thập dữ liệu và lọc, loại bỏ các phiếu
không đạt thì số quan sát được đưa vào nghiên cứu là 302 hộ
3.3.2.3 Phương pháp điều tra
Điều tra các hộ gia đình được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp
hộ gia đình với sự hỗ trợ của các cán bộ Liên minh Hợp tác xã tỉnh Yên Bái Cán bộ
điều tra được tập huấn với bảng hỏi trước khi điều tra chính thức Thời gian điều tra là
từ tháng 9 đến tháng 10 năm 2015 Phỏng vấn hộ gia đình thường được thực hiện với
chủ hộ hoặc một người lao động trong hộ gia đình Lý do là chủ hộ hoặc người lao
động trong gia đình sẽ có tiếng nói trong quyết định của hộ gia đình về việc có tham
gia quản lý tài nguyên nước hay không, tham gia dưới hình thức, mức độ nào Do vậy,
nhận thức, thái độ, quan điểm của người này về tài nguyên nước cũng như các đặc
điểm kinh tế - xã hội như tuổi tác, trình độ học vấn… sẽ chi phối đến dự định thực
hiện hành vi
3.4 Phân tích số liệu
Thống kê tần suất và thống kê mô tả
Bảng hỏi thu về được kiểm tra để loại bỏ các bảng hỏi không đạt yêu cầu (thiếu
thông tin cần thiết) Sau đó, dữ liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm IBM SPSS
Statistics 20 Thống kê tần suất được sử dụng để xem xét các vấn đề chung như mục
đích sử dụng nước, đánh giá về thực trạng quản lý tài nguyên nước, nhận thức, mong
muốn tham gia quản lý tài nguyên nước Các biến trong mô hình nghiên cứu gồm các
hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước, các biến kinh tế - xã hội, các biến giá trị và các biến TPB được tổng quan bằng thống kê tần suất và thống kê mô tả
Phân tích nhân tố
Các biến giá trị được phân tích bằng phương pháp phân tích nhân tố, là phương pháp dùng để rút gọn một tập k biến quan sát thành một tập F (F<k) các nhân tố có ý nghĩa hơn Trong phân tích nhân tố, phương pháp trích Principal Components Analysis
đi cùng với phép xoay Varimax là cách thức được sử dụng phổ biến nhất Hệ số tải nhân tố (factor loading) được xem là có ý nghĩa khi > 0,5 Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) càng lớn thì phân tích nhân tố càng thích hợp Kiểm định Barlett có ý nghĩa thống kê (sig.< 0,05) thì các biến quan sát có mối tương quan với nhau trong tổng thể Phần trăm phương sai toàn bộ (percentage of variance) cho biết nhân tố giải thích được bao nhiêu %
Mô hình hồi quy
Mô hình hồi quy đa biến được sử dụng để xem xét ảnh hưởng của các biến kinh
tế - xã hội và các biến TPB lên dự định hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước do
đa phần các nghiên cứu trước đây chọn mô hình này Độ phù hợp của mô hình và các giả thuyết nghiên cứu được kiểm định với mức ý nghĩa 5% và 10% Các biến được nhập vào phần mềm SPSS bằng phương pháp enter, tức là tất cả các biến được đưa vào
mô hình cùng lúc Với biến nhóm hộ gia đình, đây là các biến định danh (categorical variable) nên SPSS sẽ tự động bỏ một biến để làm tình huống cơ sở để so sánh, trong nghiên cứu này là biến holamnghiep (các hộ sử dụng nước hồ Thác Bà với mục đích chính là phục vụ sản xuất lâm nghiệp) Phương pháp hồi quy được sử dụng là OLS (phương pháp bình phương nhỏ nhất) Độ phù hợp của mô hình được xem xét bằng hệ
số R2 Khả năng mở rộng của mô hình cho tổng thể được đánh giá bằng kiểm định F
Ý nghĩa thống kê của hệ số hồi quy tổng thể được đánh giá bằng kiểm định t
Phân tích phương sai
Nghiên cứu sử dụng phân tích phương sai một yếu tố (oneway ANOVA) để so sánh trung bình biến TPB giữa các tổng thể, từ đó tìm ra sự khác biệt giữa các nhóm tổng thể đối với các biến TPB để có cơ sở nêu gợi ý chính sách
Trang 294 CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái
Đặc điểm tự nhiên
Hồ Thác Bà nằm trên sông Chảy, phía Đông Bắc tỉnh Yên Bái Hồ Thác Bà
nằm ở tọa độ từ 21040’ đến 22017’ vĩ độ Bắc, từ 104033’ đến 105006’ kinh độ Đông, là
một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam Hồ Thác Bà được hình thành khi
đập thủy điện Thác Bà hoàn tất năm 1970 làm nghẽn dòng sông Chảy và tạo ra hồ
Vùng lòng hồ Thác Bà thuộc địa phận các xã Vĩnh Kiên, Vũ Linh, Phúc An, Yên
Thành, Xuân Lai, Mỹ Gia, Cẩm Nhân, Phúc Ninh, Ngọc Chấn, Xuân Long, Tân
Nguyên, Bảo Ái, Cẩm Ân, Mông Sơn, Tân Hương, Đại Đồng, Thịnh Hưng, Đại Minh,
Hán Đà, thị trấn Yên Bình và thị trấn Thác Bà thuộc huyện Yên Bình; xã Trung Tâm,
Phan Thanh, An Phú, Minh Tiến, Vĩnh Lạc thuộc huyện Lục Yên Diện tích vùng hồ là
23.400 ha, trong đó diện tích mặt nước là 19.050 ha, chiếm 12,65% diện tích toàn vùng
Hồ dài 80 km, mực nước dao động từ 46m đến 58m, chứa được 3 đến 3,9 tỉ m3 nước
Lưu vực hồ Thác Bà nằm ở đầu nút Tây Nam và sườn đông của dãy núi Con
Voi Vì vậy địa hình khu vực có những nét đặc thù riêng tạo thành các tầng địa hình
khác nhau Lòng hồ có trên 1000 hòn đảo lớn nhỏ, chủ yếu là đồi núi thấp có độ cao
100-200m, tập trung ở khu vực giữa hồ đến hạ lưu Núi đá vôi Mông Sơn là dãy núi
lớn nhất, có đỉnh cao 468m, với diện tích 9,6km2 Khu vực bờ phải và bờ trái có địa
hình không bằng phẳng có nhiều đồi núi thấp Vùng bán ngập có cao độ từ 50-60m
Như vậy, so sánh tổng thể trong vùng, lưu vực hồ thuộc dải thấp của địa hình
Khí hậu vùng hồ mang đậm nét khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm, khí hậu
phân ra thành hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh, mưa ít, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22oC -23oC Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 41,30C,
thấp nhất là 2,30C Tháng lạnh nhất là tháng 12 đến tháng 2 năm sau và có thể có
sương muối Số giờ nắng trong năm là 1.577 giờ, độ ẩm trung bình là 84-87% Mưa
bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 9, với lượng mưa trung bình là chiếm từ 70-80%
tổng lượng mưa cả năm Đặc biệt vào mùa hè, nhiệt độ xung quanh hồ luôn thấp hơn
các khu vực khác là 2-3oC nên luôn tạo ra môi trường không khí mát mẻ hơn so với
các khu vực khác, tạo điều kiện cho sinh vật và thảm thực vật phát triển tạo ra hệ sinh
thái đa dạng (Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà, 2014a)
Bảng 4.1: Diễn biến lượng mưa trong năm một số trạm trên lưu vực sông Chảy
Trạm Tháng
1 Tháng
2 Tháng
3 Tháng
4 Tháng
5 Tháng
6 Tháng
7 Tháng
8 Tháng
9 Tháng
10 Tháng
11 Tháng
12
Lục Yên 31,7 42,5 70,9 135,1 214,5 283 328 405 257 147 61,4 27,6 Thác
Bà 22,2 27,9 71,1 131 238 259 421 342 224 162 63,4 22
Nguồn: Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà (2014a)
Đặc điểm kinh tế - xã hội
Hồ Thác Bà nằm trên địa bàn hai huyện Yên Bình và Lục Yên Huyện Yên Bình có dân số năm 2015 là 109.040 người Thu nhập bình quân đầu người khoảng khoảng 32 triệu đồng/người/năm.Tổng lao động trong huyện là 45.037 người, trong đó lao động nông thôn chiếm 76% Có 5 dân tộc chính sinh sống từ lâu đời là Kinh, Tày, Nùng, Dao, và Cao Lan Mật độ dân số là 143 người/km2 Phân bố dân cư không đồng đều với các xã hạ huyện và huyện lị tập trung đông dân cư hơn Riêng xã vùng cao Xuân Long chỉ có 49,1 người/km2 Huyện Yên Bình có 26 đơn vị hành chính cấp cơ sở gồm 24 xã và 2 thị trấn (1 thị trấn trung tâm huyện lỵ), trong đó có 6 xã được xếp loại đặc biệt khó khăn Các xã và thị trấn được phân bố thành 4 vùng: Vùng trung tâm huyện gồm 4 xã và thị trấn Yên Bình; vùng tây hồ có 9 xã nằm dọc quốc lộ 70; vùng
hạ huyện có 6 xã và thị trấn Thác Bà; vùng thượng huyện gồm 9 xã thuộc đông và đông bắc hồ Thác Bà (UBND huyện Yên Bình, 2015; UBND tỉnh Yên Bái, 2016) Huyện Yên Bình có tổng diện tích tự nhiên là 77.319,67 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp có 57.690,43 ha, chiếm 74,61% tổng diện tích tự nhiên (Chi cục Quản
lý Đất đai Yên Bái, 2015) Sản lượng lúa năm 2016 ước đạt 23.236,9 tấn Tỷ lệ che phủ rừng đạt 54%, với diện tích trồng rừng mới đạt hơn 2.848 ha vào năm 2016.Sản lượng
gỗ khai thác hàng năm đạt 100.000 m3.Huyện có diện tích mặt nước hồ Thác Bà trên 15.900 ha, đây là lợi thế để phát triển nuôi trồng thủy sản có giá trị cao (UBND huyện Yên Bình, 2015, 2016)
Yên Bình có hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản Bảo Ái, Tân Hương, Tân Nguyên có tài nguyên đá quý Các xã Xuân Lai, Cẩm Nhân có khai thác chì và kẽm; tổng diện tích có khả năng khai thác là xấp xỉ 350 ha Thị trấn Thác Bà, xã Hán Đà có mỏ Felspat, trữ lượng khai thác khoảng 7,5 triệu m3 Xã Mông Sơn có 465 triệu m3 đá vôi trắng Xã Hán Đà, Đại Minh, thị trấn Thác Bà có cát sỏi lòng sông Chảy có thể khai thác phục vụ xây dựng, trữ lượng 313.352 m3 (UBND huyện Yên Bình, 2015)
Trang 30Huyện Lục Yên có dân số năm 2015 là 107.732 người Toàn huyện có 15 dân
tộc gồm: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Cao Lan, Dáy, Ngái, Pa Cô, Pa Dí, Xá,
Tu Dí, Lô Lô, Mông, trong đó người Tày chiếm 53,3%, người Kinh chiếm 21,1%,
người Nùng chiếm 10,4%, người Dao chiếm 14,5%, còn lại là các dân tộc khác
(UBND huyện Lục Yên, 2015, UBND tỉnh Yên Bái, 2016)
Tổng diện tích đất của huyện là 80.870 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là
9.826,35 ha, đất lâm nghiệp là 59.417,33 ha, còn lại là các loại đất khác Diện tích
rừng tự nhiên đạt trên 16.000 ha, rừng trồng trên 21.000 ha Hàng năm, diện tích rừng
trồng mới tăng từ 1.500 đến 2000 ha Độ che phủ rừng đạt 70% Diện tích đất thâm
canh lúa là trên 3.300ha/vụ, có nhiều vùng thâm canh lúa chất lượng cao như Mường
Lai, Minh Xuân, Liễu Đô, Vĩnh Lạc Diện tích đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày là
trên 2.000 ha, còn lại là đất trồng rau màu các loại (Chi cục Quản lý đất đai Yên Bái,
2015) Lục Yên có 11 xã ven hồ Thác Bà, diện tích mặt nước do huyện quản lý là
1.560,5 ha Về tài nguyên khoáng sản, Lục Yên có các loại đá quý, đá bán quý, đá hoa
trắng, đá xây dựng, sỏi, cát…
Huyện Lục Yên có hệ thông giao thông khá thuận lợi Từ trung tâm huyện đi tới
các huyện bên cạnh như Yên Bình, Văn Yên, thành phố Yên Bái và các huyện của tỉnh
khác như Hàm Yên - Tuyên Quang, Quang Bình - Hà Giang và Bảo Yên - Lào Cai
một cách thuận tiện Ngoài ra giao thông đường thuỷ qua hồ Thác Bà với huyện Yên
Bình được thường xuyên khai thác, đặc biệt là các xã phía tây nam của huyện (UBND
huyện Lục Yên, 2015)
4.1.2 Vai trò của tài nguyên nước hồ Thác Bà
Hồ chứa Thác Bà là công trình thuộc Nhà máy Thủy điện Thác Bà, nay là Công
ty cổ phần thủy điện Thác Bà Được xây dựng từ năm 1964, hoàn thành năm 1971, hồ
chứa Thác Bà cùng với nhà máy thủy điện có các nhiệm vụ chính sau:
• Chống lũ: Với nhiệm vụ chống lũ cho hạ du, hồ chứa Thác Bà dành dung tích
phòng lũ 450 triệu m3 để cùng các hồ chứa trên sông Gâm và các công trình
chống lũ khác đảm bảo hai mục tiêu: Thứ nhất, an toàn cho đồng bằng Bắc Bộ
với các trận lũ tại Sơn Tây có chu kỳ lặp lại nhỏ hơn 300 năm, giữ mực nước
sông Hồng tại Hà Nội không vượt quá 13,1m Thứ hai, an toàn cho Hà Nội với
mọi trận lũ tại Sơn Tây có chu kỳ nhỏ hơn hoặc bằng 500 năm một lần, giữ mực
nước sông Hồng tại Hà Nội không vượt quá 13,4m
• Phát điện: Nhà máy có công suất lắp đặt 120MW, điện lượng trung bình hàng
năm khoảng 429 triệu kWh
• Tưới tiêu, chống hạn cho nông nghiệp: Ngoài hai nhiệm vụ phát điện và phòng chống lũ hạ du, hồ Thác Bà cùng các hồ chứa lớn trên lưu vực còn đảm bảo cấp nước cho đồng bằng sông Hồng phục vụ tưới tiêu trong thời kỳ mùa kiệt (Công
ty cổ phẩn thủy điện Thác Bà, 2014a)
Với cộng đồng địa phương, hồ Thác Bà từ khi hình thành đã đem lại nhiều lợi ích Mặc dù không được trực tiếp hưởng lợi ích tưới tiêu, chống lũ, cấp điện từ hồ chứa, nhưng người dân các khu vực xung quanh vẫn được sử dụng tài nguyên nước hồ Thác Bà cho các mục đích sau:
Khai thác thủy sản
Hồ Thác Bà được đánh giá là có môi trường thích hợp để nuôi trồng và khai thác với nhiều loài sinh vật phong phú trong lòng hồ Huyện Yên Bình có diện tích mặt nước hồ Thác Bà lớn nên đã triển khai mô hình cá quây lưới Trên địa bàn huyện hiện nay có khoảng 15% dân số ven hồ thiếu đất sản xuất nên sống chủ yếu dựa vào nghề đánh bắt thủy sản Năm 2006, Huyện ủy Yên Bình đã có Nghị quyết số 05-NQ/HU ngày 05/12/2006 về việc đẩy mạnh phát triển nuôi thủy sản trên vùng hồ Thác
Bà, đồng thời thực hiện chính sách hỗ trợ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh Từ năm 2008 đến 2014, huyện đã hỗ trợ đóng mới 279 lồng, tổng số lồng cá tính đến 2014 là 364 lồng Về hình thức, tận dụng lợi thế ven hồ có nhiều eo, ngách hàng năm không bị rút cạn, một số hộ dân đã dùng lưới đăng chắn để nuôi cá thay cho hình thức nuôi lồng, bè phổ biến ở các địa phương khác Tính đến năm 2015, toàn huyện Yên Bình có khoảng 10 hộ nuôi cá theo hình thức quây lưới tại các eo ngách với diện tích 26,5ha, rải rác ở các xã: Thịnh Hưng, Vũ Linh, Yên Thành và thị trấn Yên Bình
Về đánh bắt: người dân địa phương tham gia đánh bắt thủy sản trên hồ Thác Bà với các hình thức như câu, đánh lưới, ánh sáng Riêng huyện Yên Bình có trên 1.000 người đang đánh bắt thủy sản Sản lượng đánh bắt tương đối ổn định qua các năm Tuy nhiên, hình thức đánh bắt hủy diệt như lưới mắt nhỏ, chất nổ, xung điện, hóa chất khá phổ biến, có nguy cơ làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản tự nhiên Chính quyền địa phương đang
nỗ lực chấm dứt các biện pháp khai thác hủy diệt, chuyển đổi các hộ dân khai thác bằng hình thức này sang nuôi trồng thủy sản (Chi cục Thủy sản Yên Bái, 2014)
Bảng4.2: Sản lượng khai thác thủy sản của Yên Bình và Lục Yên 2010-2015
Đơn vị: tấn
Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015
Huyện Yên Bình 1.623 1.840 1.885 1.969 2.244 2.246
Trang 31Sản xuất lâm nghiệp
Trên hồ có hơn 1.300 hòn đảo, là diện tích thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp
Trước đây, đồi núi vùng hồ Thác Bà bị rơi vào tình trạng mất rừng do bị khai thác quá
mức Với chính sách ưu tiên phát triển kinh tế đồi rừng, người dân bắt đầu được giao
đất trên các hòn đảo thuộc hồ Thác Bà để trồng rừng Nhờ độ ẩm cao và áp dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật, các cây như bạch đàn mô, keo tai tượng, keo lai có điều kiện
phát triển
Do đặc thù của dòng sông Chảy và chức năng trị thuỷ nên mực nước hồ Thác
Bà dao động rất lớn, trung bình 13,5 m (từ cốt 45 đến cốt 58,5m); mức dao động mực
nước càng ngày càng có xu hướng tăng do biến đổi khí hậu (hạn nặng và lũ lớn) Mực
nước dao động lớn đã tạo ra một diện tích bán ngập hàng nghìn héc-ta quanh các đảo
Năm 2001, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Yên Bái thí điểm trồng hơn 20 ha
cây tràm Úc trên vùng đất bán ngập hồ Thác Bà Tổng diện tích tràm trên vùng đất bán
ngập hồ Thác Bà hiện có khoảng 200 ha Rừng tràm ở đây chủ yếu có vai trò bảo tồn
cảnh quan, môi trường và sinh thái Rừng tràm tạo môi trường sinh sống thuận lợi cho
tôm, cá, chim, cò… và có chức năng ngăn chặn tình trạng đất bạc màu do nước mưa và
sóng đánh (UBND huyện Yên Bình, 2015)
Sản xuất nước sạch
Hồ Thác Bà là nguồn cung cấp nước cho nhà máy nước sạch Yên Bái với công
suất thiết kế là 11.500m3/ngày đêm (0,13m3/giây), hoạt động 24/24h, hiện đang sử
dụng 70% công suất Nhà máy có nhiệm vụ cấp nước cho toàn thành phố Yên Bái và
thị trấn Yên Bình, sử dụng một trạm bơm cấp 1 lấy nước trực tiếp tại hồ Thác Bà để
xử lý Tỷ lệ hộ dân thành phố Yên Bái được cấp nước sạch của hệ thống này đạt
khoảng 65% (Cục Thống kê tỉnh Yên Bái, 2015b)
Mức nước hồ Thác Bà được thiết kế ở cốt nước tối thiểu là 46 m và cốt
nước tối đa là 58 m Trạm bơm hút nước cấp I của Công ty Cấp nước Yên Bái
được thiết kế hoạt động phù hợp nhất ở cốt nước từ 55 đến 60m Nhưng vào tháng
2 và tháng 3 hàng năm, lưu lượng nước về hồ nhỏ, nhất là năm 2010, cốt nước hồ
Thác Bà luôn ở mức thấp (dao động quanh mức 46 m) Chính vì vậy, hoạt động
của trạm bơm chỉ đạt từ 80 đến 90% công suất, dẫn tới những ảnh hưởng chung
cho toàn hệ thống, gây thiếu hụt nước sinh hoạt cho các hộ dân sử dụng Do đó,
đang nảy sinh nhu cầu mở rộng hệ thống cung cấp nước sạch tới người dân
(UBND tỉnh Yên Bái, 2015)
Dịch vụ giao thông thủy - du lịch
Hồ Thác Bà cung cấp tuyến đường giao thông thủy cho người dân quanh hồ, giảm bớt thời gian đi lại so với đường bộ Toàn tuyến hồ Thác Bà dài 83 km, trong đó có 50 km đoạn cảng Hương Lý (thị trấn Yên Bình) – Thác Bà – Cẩm Nhân Hiện đã có hệ thống báo hiệu đường thủy trên một số tuyến chính, các phương tiện đi lại dễ dàng quanh năm
và có bến tàu khách đảm bảo vận chuyển hành khách đi lại và tham quan du lịch
Hồ Thác Bà có nhiều hang động đẹp như: động Thuỷ Tiên, Xuân Long, đền Thác Ông, Thác Bà, được đánh giá là phù hợp để phát triển du lịch Hiện đã có nhiều loại hình, điểm du lịch đang phục vụ người tham quan, gồm du lịch sinh thái hồ Thác Bà; du lịch nhà máy thủy điện Thác Bà, đền mẫu Thác Bà… Lượng khách du lịch đến
hồ Thác Bà phần lớn là khách du lịch trong nước, trong đó khách nội tỉnh chiếm tỷ trọng lớn Năm 2014, tính riêng huyện Yên Bình đã có trên 10.000 lượt khách du lịch, trong đó có 2.100 khách nước ngoài, doanh thu đạt gần 2 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với năm 2011 (UBND huyện Yên Bình, 2015)
Khai thác khoáng sản
Theo khảo sát, vùng hồ Thác Bà có tài nguyên đá vôi trắng, phân bố tập trung chủ yếu ở 3 vùng Tân Lĩnh - An Phú, Vĩnh Lạc, huyện Lục Yên; và vùng Mông Sơn, huyện Yên Bình Đá vôi trắng nằm tập trung dọc theo bờ trái sông Chảy, phía bắc hồ Thác Bà, bao gồm các dải núi đá vôi trắng hệ tầng An Phú, kéo dài từ xã Khai Trung, qua các xã Tân Lĩnh, Yên Thắng, Liễu Đô, Tân Lập, Minh Tiến, An Phú, Phan Thanh, Vĩnh Lạc của huyện Lục Yên; Xuân Long, Phúc Ninh đến xã Mông Sơn của huyện Yên Bình Ngoài ra còn có phần diện tích khoảng 3.500 ha chứa đá vôi trắng nằm trong lòng hồ hoặc ven hồ thuỷ điện Thác Bà Tính đến ngày 30/6/2012, tổng công suất khai thác theo giấy phép là 2,0 triệu m3/năm đá làm ốp lát; 13,25 triệu tấn/năm đá nghiền bột (6,91 triệu m3/năm); tổng sản lượng khai thác (năm 2010, 2011 và 6 tháng năm 2012) là 40.787 m3 đá làm ốp lát; 5,42 triệu tấn đá nghiền bột Tổng số vốn đã đầu tư là trên 1.026 tỷ đồng; tổng số lao động là 1.290 người (UBND huyện Yên Bình, Lục Yên, 2015)
4.1.3 Các quy định về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước
4.1.3.1 Khung pháp lý về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước
4.1.3.1.1 Khung pháp lý về dân chủ cơ sở
Một trong các chủ trương của nhà nước là tạo mọi điều kiện pháp lý để thực hiện dân chủ ở cơ sở Tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế và xã hội là quyền của mỗi công dân Việt Nam đã được quy định trong Hiến pháp Vấn đề này thể hiện qua
Trang 32việc ban hành Pháp lệnh số 34 thực hiện dân chủ ở cơ sở của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội (2007); Quyết định số 80 của Thủ tướng Chính phủ (2005) liên quan đến cơ chế
giám sát cộng đồng Quyết định số 80 tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập Ban giám
sát đầu tư của cộng đồng ở tất cả các xã với nhiệm vụ giám sát chính quyền địa
phương và các cán bộ công Ban giám sát đầu tư của cộng đồng chịu trách nhiệm giám
sát các dự án đầu tư và các chương trình “có ảnh hưởng trực tiếp tới cộng đồng dân cư
ở xã” Trách nhiệm này được mở rộng bao gồm cả một loạt các hoạt động đầu tư,
không chỉ giới hạn ở hiệu quả hay lãng phí trong việc sử dụng vốn, tuân thủ quy trình
kỹ thuật và luật pháp, mua sắm đấu thầu, quy hoạch sử dụng đất, các chương trình tái
định cư, cũng như các tác động xã hội và môi trường Đối tượng bị giám sát bao gồm
chủ đầu tư, ban quản lý dự án, các nhà thầu và đơn vị thi công dự án trong quá trình
đầu tư Pháp lệnh số 34 tăng cường và mở rộng quyền lực của các Ban giám sát đầu tư
của cộng đồng: theo dõi một loạt các hoạt động của Chính phủ, bao gồm ngân sách cấp
xã, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp xã, dự thảo và kế hoạch sử dụng đất, dự thảo
và kế hoạch đền bù và tái định cư, các dự án đầu tư
Luật Ban hành các văn bản pháp luật (2008) ra đời đã tạo điều kiện cho các
đoàn thể quần chúng tham gia đánh giá tác động của các văn bản pháp luật và đánh giá
việc thực thi Các văn bản pháp luật đã được thông qua cần được đánh giá định kỳ
thường xuyên, các báo cáo kiểm tra việc thực thi pháp luật phải do các cơ quan có đủ
năng lực thực hiện và nộp lên Quốc hội trong quá trình xem xét sửa đổi luật, chỉ thị và
nghị quyết (Gonzalez, 2014)
Văn phòng Quốc hội và Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc cũng đã biên
soạn Quy trình và Cách thức thực hiện tham vấn công chúng trong hoạt động của Hội
đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội Tài liệu này căn cứ theo sự khuyến cáo của
Hiệp hội Quốc tế về Tham gia Cộng đồng rằng hiệu quả tham gia được thể hiện qua
năm mức độ khác nhau: thông tin, tham vấn, lôi cuốn tham gia, hợp tác và trao quyền
Tài liệu khẳng định quyền được tham gia ý kiến của công chúng, trách nhiệm tổ chức
tham vấn ý kiến công chúng và trách nhiệm cung cấp thông tin của các đối tượng liên
quan Tuỳ theo mục tiêu, từ được cung cấp thông tin đến cao nhất là trao quyền, mức
độ tham vấn của người dân gia tăng tương ứng (Gonzalez, 2014)
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ Môi trường (2014) khẳng định
“Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình
và cá nhân” Nghị định 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 Quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Bảo vệ môi trường khẳng định một cộng đồng dân cư được quyền cử
người đại diện cho mình để tham gia bảo vệ môi trường Cộng đồng dân cư được
quyền tiếp cận thông tin về môi trường, được cơ quan nhà nước tham vấn về các chủ trương, chính sách liên quan đến bảo vệ môi trường, được đánh giá kết quả bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất, được đề xuất và thực hiện các mô hình bảo vệ môi trường, bảo tồn và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát triển bền vững
Như vậy, về cơ sở pháp lý, cơ chế tổ chức thực hiện sự tham gia của cộng đồng
đã được quy định và hướng dẫn Tuy nhiên, để người dân tham gia một cách có hiệu quả thì còn phụ thuộc vào chính quyền cũng như bản thân người dân
4.1.3.1.2 Khung pháp lý về sự tham gia của người dân trong quản lý tài nguyên nước
Trong nhiều năm trở lại đây, khung pháp lý về quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội quốc gia Năm 1998, Luật Tài nguyên nước có hiệu lực Các văn bản hướng dẫn thực hiện cũng lần lượt được ban hành, tạo cơ sở pháp lý và hướng dẫn thực hiện các hoạt động quản lý, điều hành, khai thác tài nguyên nước Những tiến bộ về thể chế đã góp phần khuyến khích các thành phần kinh tế khác trong xã hội ngoài nhà nước tham gia vào khai thác, sử dụng, bảo
vệ tài nguyên nước, cấp nước sạch, nước tưới tiêu nông nghiệp…
Chiến lược Quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 81 ngày 14/4/2006 đã chính thức đề cập đến quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng Theo đó, sự tham gia của cộng đồng được coi là một trong những biện pháp chính nhằm đảm bảo tài nguyên nước được quản lý, sử dụng một cách bền vững Trong Chiến lược này, việc huy động sự tham gia của người dân vào bảo vệ tài nguyên nước được nhấn mạnh, đặc biệt ở các thành phố lớn, các vùng dân cư tập trung nhiều, các vùng đang gặp phải tình trạng ô nhiễm nước nghiêm trọng Chiến lược cũng đưa ra các cơ chế để các thành viên trong cộng đồng có thể hỗ trợ giám sát, bảo vệ nguồn nước; ngăn chặn các hành vi làm ô nhiễm, suy thoái nguồn nước, tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quá trình lập kế hoạch, thực thi, kiểm tra các quy hoạch, kế hoạch, dự án liên quan đến tài nguyên nước
Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) của Việt Nam đã được Quốc hội thông qua năm
2012 và có hiệu lực từ ngày 01/1/2013 Trong Luật này, Điều 3 “Nguyên tắc quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra” có hàm ý là tất cả cơ quan, tổ chức, cá nhân đều có thể sử dụng và bảo vệ nguồn nước theo nguyên tắc hài hoà lợi ích và bình đẳng về quyền lợi và nghĩa
vụ Như vậy, việc giám sát của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước sẽ có một ý
Trang 33nghĩa quan trọng trong việc duy trì nguồn tài nguyên nước và ngăn ngừa sự suy thoái
môi trường nước và hệ sinh thái liên quan
Điều 6 quy định “vai trò của cộng đồng dân cư và tổ chức, cá nhân liên quan
trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước” Theo đó,
“cần lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư và tổ chức, cá nhân liên quan trên địa bàn
bị ảnh hưởng về những nội dung liên quan đến phương án khai thác, sử dụng tài
nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước của dự án”; sau đó “tổng hợp, tiếp thu,
giải trình và gửi kèm theo hồ sơ của dự án khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định việc đầu tư” Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước 2012 đã chỉ rõ
những loại công trình, dự án cần lấy ý kiến đại diện của cộng đồng, quy trình, thời
điểm lấy ý kiến, những thông tin cần công khai liên quan đến khai thác, sử dụng tài
nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và cách thức công bố thông tin Nghị
định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Thủ tướng chính phủ quy định cách thức
tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường của các dự án nói chung
như sau: (i) chủ dự án tham vấn UBND cấp xã tại địa bàn thực hiện dự án, các tổ
chức xã hội và cộng đồng dân cư bị dự án ảnh hưởng trực tiếp, tham vấn được thực
hiện thông qua họp cộng đồng dân cư với sự tham gia của đại diện Mặt trận Tổ quốc
cấp xã, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tổ dân
phố/thôn/bản; (ii) UBND xã và các tổ chức phản hồi bằng văn bản cho chủ dự án sau
tối đa 15 ngày từ ngày nhận được văn bản của chủ dự án Đồng thời, cộng đồng cũng
phải được biết công khai “thông tin về những nội dung liên quan đến khai thác, sử
dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước của dự án và những ảnh hưởng
có thể gây ra trước khi triển khai thực hiện”
4.1.3.2 Quy định về quản lý tài nguyên nước và sự tham gia của cộng đồng vào
quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái
Ngày 26/5/2008, UBND tỉnh Yên Bái đã ban hành Quyết định số
10/2008/QĐ-UBND về Quy chế Quản lý khai thác, sử dụng tiềm năng và bảo vệ môi trường vùng
hồ Thác Bà Quy định này “cụ thể hoá việc thi hành các quy định của pháp luật, nâng
cao hiệu lực quản lý Nhà nước và trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan
Nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi cá nhân trong việc khai thác, sử
dụng hợp lý tiềm năng và bảo vệ môi trường vùng hồ Thác Bà” Đối tượng áp dụng là
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; các hoạt động khác của các cơ quan nhà
nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có liên quan đến khai thác, sử dụng tiềm năng và
bảo vệ môi trường trên địa bàn vùng hồ Thác Bà Cụ thể, Quy chế đưa ra các quy định
cụ thể đối với các hoạt động:
- Khai thác, sử dụng nguồn nước như: xả thải, cấp nước sạch, sản xuất điện;
xã, thị trấn thuộc vùng hồ Thác Bà có trách nhiệm phối hợp quản lý (UBND tỉnh Yên Bái, 2008)
Quy chế Quản lý khai thác, sử dụng tiềm năng và bảo vệ môi trường vùng hồ Thác Bà không có điều khoản quy định cụ thể vai trò của cộng đồng trong quản lý Nhưng các điều khoản quy định cụ thể đều nhắc đến những người sử dụng nước, với
tư cách là thành viên cộng đồng, phải tuân thủ các chính sách do cơ quan quản lý nhà nước đề ra Các cá nhân còn có trách nhiệm “phát hiện, kịp thời ngăn chặn” các hành
vi gây hậu quả xấu đến tài nguyên, môi trường vùng hồ Thác Bà Đây cũng là quy định cho thấy chính quyền địa phương kỳ vọng người dân tham gia tích cực vào công tác quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà
Ngoài ra, sự tham gia của cộng đồng còn được thể hiện trong quy định: “Chủ
dự án (khai thác, sử dụng tiềm năng vùng hồ Thác Bà) phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt hoặc xác nhận trước khi được cấp phép, chứng nhận hoặc phê duyệt
dự án theo quy định, đồng thời phải thực hiện đúng, đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường ghi trong báo cáo hoặc bản cam kết” Việc lập báo cáo đánh giá tác động môi
Trang 34trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường (theo quy định của Luật Bảo vệ Môi trường
2005 là luật có hiệu lực tại thời điểm UBND tỉnh Yên Bái ban hành quy chế này) cũng
hàm ý cộng đồng được tham vấn trước khi thực thi dự án khai thác, sử dụng nguồn
nước và được tham gia giám sát quá trình thực hiện
Năm 2014, UBND tỉnh Yên Bái ban hành Kế hoạch hành động Nâng cao hiệu
quả hoạt động quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước giai đoạn
2014-2020 trên địa bàn tỉnh Yên Bái nhằm thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia nâng
cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước giai đoạn 2014-2020
được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 182/QĐ-TTg ngày 23 tháng
01 năm 2014 Một trong những nhiệm vụ được đề ra là: Tuyên truyền, giáo dục, nâng
cao nhận thức về quản lý, bảo vệ và khai thác, sử dụng tài nguyên nước với các hành
động cụ thể:
- Huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế, các tổ chức khoa học, chính
trị - xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cư trong quản
lý, bảo vệ tài nguyên nước và sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả;
- Xây dựng và thực hiện các chương trình truyền thông nhằm nâng cao nhận
thức của toàn xã hội trong quản lý, bảo vệ tài nguyên nước và sử dụng nước tiết kiệm,
hiệu quả;
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên nước cho cán bộ
quản lý tài nguyên nước các cấp, cộng đồng doanh nghiệp, học sinh, sinh viên và
người dân
Như vậy Kế hoạch của tỉnh cũng khẳng định cần sự tham gia của cộng đồng
trong quản lý, bảo vệ tài nguyên nước, trong đó có tài nguyên nước hồ Thác Bà là một
nguồn nước quan trọng của địa phương
4.1.3.3 Đánh giá các quy định về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài
nguyên nước
Các quy định về sự tham gia của cộng đồng nói trên đã khẳng định được vai trò
của cộng đồng trong quản lý tài nguyên – môi trường nói chung và tài nguyên nước
nói riêng, phù hợp với nhận thức chung trên thế giới và khuyến nghị quốc tế để quản
lý tài nguyên nước một cách hiệu quả Các văn bản pháp luật từ Luật đến văn bản dưới
luật đã có hướng dẫn về những lĩnh vực, hoạt động cần sự tham gia của cộng đồng,
mức độ tham gia của cộng đồng và cách thức huy động sự tham gia, trong đó có những
vấn đề được quy định khá cụ thể như tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi
trường hoặc quy hoạch môi trường Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương cũng như cộng đồng có thể triển khai
sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên – môi trường nói chung và tài nguyên nước nói riêng
Bên cạnh đó, sau một thời gian thực hiện, có thể thấy các quy định về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên – môi trường, trong đó có tài nguyên nước
có một số nhược điểm như sau:
- Với hoạt động tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường của các
dự án nói chung và các dự án liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước nói riêng: Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường nêu hình thức tham vấn là thông qua họp cộng đồng dân cư và phải có phản hồi trong khoảng thời gian tối
đa là 15 ngày kể từ khi nhận được văn bản thông báo của chủ đầu tư Mặc dù thời hạn này là để đảm bảo tiến độ thực hiện dự án cho chủ đầu tư, nhưng thực tế 15 ngày là khoảng thời gian ngắn, chưa đủ để cộng đồng và các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp nghiên cứu dự án và các tác động của nó, thống nhất ý kiến và cử người đại diện tham gia (PanNature, 2015) Đặc biệt, với cộng đồng, vừa đóng vai trò trực tiếp đóng góp ý kiến trong cuộc họp tham vấn, vừa là đối tượng để các tổ chức khảo sát, đánh giá tác động, thu thập ý kiến; ngoài ra cộng đồng có thể đông người, đa dạng; nên quá trình chuẩn bị cho cuộc họp tham vấn sẽ mất nhiều thời gian hơn là 15 ngày Theo quy định, chỉ những người được UBND xã triệu tập mới được tham gia họp tham vấn,
có nghĩa là nếu có cộng đồng hay tổ chức xã hội, nghề nghiệp nào không được xem là đối tượng chịu tác động trực tiếp của dự án thì không được quyền tham gia Do đó, quy định này phụ thuộc quyết định chủ quan của chủ đầu tư, UBND xã và có thể bỏ sót nhóm cộng đồng bị ảnh hưởng
- Quy định về “nghiên cứu, tiếp thu những ý kiến khách quan, kiến nghị hợp lý của các đối tượng liên quan” trong quá trình tham vấn cộng đồng là khá chung chung Cách thức nghiên cứu, tiếp thu của chủ dự án cần được làm rõ về quy trình, hình thức Tiêu chí hoặc quá trình đánh giá ý kiến, kiến nghị nào là khách quan, hợp lý cần được hướng dẫn cụ thể (PanNature, 2015)
- Trong quy định về lấy ý kiến cộng đồng thuộc Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước thì ý kiến của cộng đồng cần được tiếp thu và được chủ đầu tư giải trình
cụ thể, nhưng là giải trình với các cấp có thẩm quyền chứ chưa có cơ chế phổ biến lại
Trang 35cho người dân Các quy định lấy ý kiến cũng nhấn mạnh vào các công trình, dự án mới
có liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên nước, chưa đề cập đến hoạt động quản
lý tài nguyên nước nói chung
- Về quyền tiếp cận thông tin của cộng đồng, theo Nghị định 19/2015/NĐ-CP
ngày 14/2/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Bảo vệ Môi trường, có 8 nhóm đối tượng thông tin người dân được tiếp cận,
gồm: (1) Các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường; (2) Báo cáo hiện trạng môi
trường quốc gia, địa phương; các báo cáo chuyên đề về môi trường; (3) Danh sách các
cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, các khu vực môi trường bị ô nhiễm, bị
suy thoái nghiêm trọng; khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường; (4) Danh sách,
thông tin về các nguồn thải, các loại chất thải có nguy cơ gây hại đến sức khỏe con
người và môi trường; (5) Các xuất bản phẩm, ấn phẩm theo chuyên đề về môi trường,
tài liệu truyền thông về môi trường và các vấn đề liên quan; (6) Kết quả thanh tra,
kiểm tra, xử lý vi phạm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn dân cư;
(7) Hoạt động bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn
dân cư; (8) Giấy phép liên quan đến khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên, môi
trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn dân cư Về hình thức tiếp
cận, có 6 hình thức: (1) Tài liệu, ấn phẩm, xuất bản phẩm được thông báo rộng rãi địa
chỉ phát hành trên các phương tiện thông tin đại chúng; (2) Đăng tải trên trang thông
tin điện tử chính thức của Cơ quan quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường; chủ
đầu tư dự án; chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (tối thiểu 30 ngày); (3) Niêm
yết công khai tại cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ; trụ sở UBND cấp xã (tối thiểu 30
ngày); (4) Tổ chức họp báo công bố công khai; (5) Họp phổ biến thông tin cho cộng
đồng dân cư; (6) Các hình thức khác theo quy định của pháp luật
Các thông tin và hình thức tiếp cận thông tin được quy định theo Nghị định
19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường này khá đa dạng, phong phú, phù hợp với
nhiều nhu cầu khác nhau của cộng đồng Tuy nhiên thời gian, tần suất cung cấp thông
tin còn chưa được quy định cụ thể; trong khi điều này là cần thiết để đảm bảo cộng
đồng có thể tiếp cận, thu thập thông tin khi cần và các cơ quan, tổ chức liên quan phải
hoàn thành trách nhiệm cung cấp thông tin của mình
Đây là những điểm cần xem xét, chỉnh sửa để có thể phát huy tốt hơn vai trò
của cộng đồng trong quản lý tài nguyên – môi trường nói chung và tài nguyên nước
nói riêng
4.2 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu
Địa điểm điều tra gồm phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái; thị trấn Yên Bình, xã Vũ Linh, xã Bảo Ái, xã Xuân Long, xã Mông Sơn thuộc huyện Yên Bình; xã Vĩnh Lạc thuộc huyện Lục Yên Tỷ lệ các hộ sống ở khu vực đô thị là 22,79%, tỷ lệ số
hộ ở khu vực nông thôn là 77,21%
Các hộ gia đình trong mẫu điều tra gồm các hộ dùng nước máy, hộ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, hộ sản xuất lâm nghiệp và các hộ sống ven hồ không sử dụng nước hồ Thác Bà cho các mục đích trên Như đã trình bày trong phần phương pháp chọn mẫu, mẫu điều tra phân chia tương đối đều với các nhóm hộ để thể hiện vai trò tương đối về khoảng cách và mức độ sử dụng, khai thác tài nguyên nước trên hồ Sau khi loại bỏ các phiếu không hợp lệ, còn lại trong 302 phiếu, tỷ lệ số hộ sử dụng nước sạch là 20,9%; hộ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản là 24,2%; hộ sản xuất lâm nghiệp là 31,1% và hộ ven hồ là 23,8%
Hình 4.1: Số hộ gia đình được điều tra phân chia theo mục đích sử dụng nước
Nguồn: Điều tra của tác giả (2015)
Trong những người trả lời, nam có 182 người, chiếm tỷ lệ 60,3%; nữ có 120 người, chiếm tỷ lệ 39,7% Đa phần người trả lời nằm trong nhóm từ 25-44 tuổi.Tuổi thấp nhất của người trả lời là 17, tuổi cao nhất là 83 Tuổi trung bình của họ là 38,6 tuổi, độ lệch chuẩn là 12,1
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
Hộ dùng nước máy
Hộ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản
Hộ sống ven hồ
Hộ sản xuất lâm nghiệp
Số hộ gia đình
Trang 36Bảng 4.3: Số người trả lời phân theo nhóm tuổi
Nguồn: Điều tra của tác giả (2015)
Địa bàn điều tra có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống Trong mẫu điều tra,
người Kinh và người Tày chiếm tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 50,3 và 36,4% Còn lại là
các dân tộc Nùng, Cao Lan, Dao và Mường Thời gian sống trung bình của họ tại địa
bàn là 34,2 năm (độ lệch chuẩn 13,36) Thời gian sống trung bình tại địa bàn không
chênh lệch nhiều với lứa tuổi trung bình của nhóm người trả lời, cho thấy đa phần
người trả lời đều là cư dân bản địa
Hình 4.2: Tỷ lệ người trả lời phân theo dân tộc
Nguồn: Điều tra của tác giả (2015)
Đa phần người trả lời có trình độ học vấn trung học phổ thông (136 người,
chiếm 45% Tỷ lệ người có trình độ trung học cơ sở và cao đẳng/đại học là xấp xỉ
bằng nhau (lần lượt là 19,4 và 20,9%) Còn lại là các nhóm trình độ học vấn khác
(không đi học/không biết chữ, tiểu học, trung cấp nghề, sau đại học…)
152 110
11
11 171
Kinh Tày Nùng Cao Lan Dao Mường
Hình 4.3: Số người trả lời phân theo trình độ học vấn
Nguồn: Điều tra của tác giả (2015)
Quy mô trung bình một hộ gia đình trong mẫu là 4,29 người, số lao động trung bình trong một hộ là 2,56 người Có 163 hộ gia đình được điều tra có thu nhập trung bình một tháng nằm trong khoảng từ 4-6 triệu đồng Các hộ có thu nhập trung bình một tháng từ 2-4 triệu đồng là 92 hộ Đây là 2 mức thu nhập chiếm đa số Chỉ có rất ít
hộ có thu nhập dưới 2 triệu đồng hoặc trên 10 triệu đồng một tháng Thu nhập trung bình của các hộ gia đình trong mẫu điều tra là 4,51 triệu đồng một tháng Như vậy mỗi thành viên trong hộ gia đình trong mẫu điều tra có mức thu nhập trung bình thấp hơn thu nhập trung bình trên đầu người của toàn tỉnh Yên Bái năm 2014 là 1,395 triệu đồng/tháng (Cục Thống kê tỉnh Yên Bái, 2015) Lý do là các hộ gia đình sống ven hồ, đặc biệt ở huyện Lục Yên thường là các hộ dân tộc thiểu số thuộc nhóm hộ nghèo
4.3 Sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước tại hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái
4.3.1 Hiện trạng quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà
Quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước hồ Thác Bà
Hồ Thác Bà hình thành năm 1971, vận hành như một hồ thủy điện từ năm 1972 đến nay Vai trò vận hành hồ trong đó có quản lý mực nước hồ thuộc về Nhà máy thủy
0 20 40 60 80 100 120 140
Tiểu học Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Cao đẳng/đại học Khác
Số người trả lời
Trang 37điện Thác Bà, nay là Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà dưới sự chỉ đạo của Trưởng
Ban Chỉ đạo phòng chống lụt, bão Trung ương và sự giám sát của các Bộ trưởng Bộ
Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường Nội dung quản lý, vận hành mực nước hồ
được quy định trong Quyết định số 1622/QĐ-TTg ngày 17/9/2015 về việc ban hành
Quy trình vận hành liên hồ chứa Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang và Thác Bà trong
mùa lũ hàng năm Ngoài trách nhiệm sản xuất điện và điều tiết nước cho vùng hạ du,
với địa phương, Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà cũng được UBND tỉnh Yên Bái
yêu cầu phải đảm bảo hồ Thác Bà có mực nước hợp lý, không làm cạn kiệt nguồn
nước hoặc ngập lụt vùng hồ
Về quản lý chung tài nguyên nước hồ Thác Bà, UBND tỉnh Yên Bái thống nhất
quản lý nhà nước về khai thác, sử dụng bảo vệ vùng hồ Thác Bà Cụ thể Sở Tài
nguyên và Môi trường quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường; Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý hoạt động sản xuất lâm nghiệp, đánh bắt, nuôi
trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp; Sở Công thương quản lý hoạt động khai thác
khoáng sản; Sở Giao thông Vận tải quản lý hoạt động khai thác giao thông thủy, Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý hoạt động khai thác du lịch UBND các huyện
Lục Yên, Yên Bình và các xã, thị trấn vùng hồ quản lý các hoạt động trên địa bàn
Như vậy, các cơ quan quản lý nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong ra các quyết định
về khai thác, sử dụng tài nguyên nước hồ Thác Bà Các hoạt động quản lý liên quan
đếntài nguyên nước hồ Thác Bà được liệt kê cụ thể như sau:
- Quản lý hoạt động khai thác, sử dụng nguồn nước hồ Thác Bà: cấp phép khai
thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước, bảo vệ khu vực lấy nước của Nhà
máy nước Yên Bái - Yên Bình
- Quản lý sử dụng đất đai trên vùng hồ Thác Bà: quản lý bảo vệ, phát triển và
khai thác rừng vùng hồ Thác Bà; quản lý việc hoá chất, thuốc trừ sâu, hoá chất bảo vệ
thực vật và các chế phẩm sinh học trên các đảo và đất ven hồ Thác Bà
- Quản lý nguồn lợi thuỷ sản hồ Thác Bà: quy hoạch, cấp phép, quản lý kỹ thuật
(kỹ thuật nuôi trồng, tiêu chuẩn thú y, tiêu chuẩn môi trường, phương tiện đánh bắt )
đối với hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản
- Quản lý hoạt động khoáng sản vùng hồ Thác Bà: cấp phép, quản lý kỹ thuật,
môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản vùng hồ Thác Bà
- Quản lý hoạt động của các bến cảng, bến thuỷ, giao thông vận tải đường thủy
trên hồ Thác Bà: cấp phép, quản lý an ninh trật tự, an toàn kỹ thuật, phòng chống cháy
nổ và phòng ngừa ô nhiễm môi trường
- Quản lý các hoạt động phát triển du lịch vùng hồ Thác Bà: lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và sử dụng khu di tích lịch sử - thắng cảnh vùng hồ Thác Bà; tổ chức triển khai thực hiện, quản lý vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm Nếu xét từ các khía cạnh của quản lý tài nguyên nước do GWP (2010) đưa ra, các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các hoạt động: phân bổ nước, quy hoạch sử dụng nước, quản lý thông tin, kiểm soát ô nhiễm, áp dụng công cụ kinh tế và giám sát
Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà
Theo GWP (2010), sự tham gia của các bên liên quan cũng là một khía cạnh trong quản lý tài nguyên nước Cộng đồng người sử dụng nước tại địa phương chính là một nhóm liên quan quan trọng vì sinh kế, chất lượng cuộc sống của họ phụ thuộc vào việc tài nguyên nước được quyết định phân bổ như thế nào, chất lượng tài nguyên nước ra sao Như đã phân tích trong phần 4.1.3.2, về cơ sở pháp lý, cộng đồng sử dụng nước vùng hồ Thác Bà có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia vào một số hoạt động quản
lý tài nguyên nước
- Phân bổ nước: Cộng đồng được biết về các chính sách, quy định quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà do cơ quan quản lý nhà nước đề ra và có nghĩa vụ tuân thủ các chính sách, quy định đó Sở Tài nguyên và Môi trường Yên Bái coi việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong quản lý tài nguyên nước Các chính sách, quy định được thông báo qua một số kênh khác nhau: dán trên bảng thông tin ở UBND xã, đăng trên báo, trang web, phát trên đài phát thanh, truyền hình Như vậy người dân đã có thể tham gia quản lý ở mức
độ thấp nhất là “được thông báo” Tuy nhiên người dân không được thông báo đầy đủ
về mọi vấn đề trong quản lý, ví dụ phân bổ nước Có những cơ sở sản xuất xả thải ra nguồn nước hồ Thác Bà như các nhà máy chế biến sắn, các cơ sở khai thác đá vôi được cấp phép hoạt động mà người dân không được biết thông tin, và họ buộc phải chấp nhận bị ảnh hưởng khi nguồn nước bị ô nhiễm Hoặc cộng đồng cũng không được biết, được tham vấn ý kiến về quá trình vận hành của Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà, dẫn tới khi mức nước hồ xuống rất thấp, hoạt động giao thông vận tải thủy, nuôi trồng thủy sản, du lịch… của họ bị suy giảm
- Lập quy hoạch: Quy hoạch sử dụng tài nguyên nước hồ Thác Bà nằm trong quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh, cụ thể hiện tại là Quy hoạch bảo vệ, khai thác và
sử dụng tài nguyên nước tỉnh Yên Bái đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 được UBND tỉnh phê duyệt trong Quyết định số 2157/QĐ-UBND ngày 31/12/2013 Ngoài ra, Quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn các huyện Yên Bình, Lục Yên cũng liên
Trang 38quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên nước hồ Thác Bà do trên hồ có hơn 1000 đảo
phục vụ sản xuất lâm nghiệp và ven hồ có các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp Theo
quy định trong Luật đất đai và Luật Tài nguyên nước, Quy hoạch sử dụng đất chi tiết
cấp địa phương phải có ý kiến đóng góp của người dân, Quy hoạch Tài nguyên nước
phải “công khai, có sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan” (Điều 16, Luật
Tài nguyên nước 2012)
Như vậy cộng đồng được tạo điều kiện tham gia ở mức độ “được tham vấn”
vào lĩnh vực quy hoạch trong quản lý Tuy nhiên với Quy hoạch Tài nguyên nước
của tỉnh, quan sát và phỏng vấn sâu với một số người dân cho biết thực tế, họ
không đóng góp ý kiến, nói cách khác, họ gần như không tham gia vào quy hoạch
Có một số nguyên nhân cho thực trạng này Thứ nhất, bản đồ quy hoạch thường
được đặt ở Phòng Nông nghiệp huyện, và người dân chỉ đến Phòng Nông nghiệp
khi có việc cần và sẽ không dành thời gian nghiên cứu bản đồ quy hoạch Thứ hai,
có những người không hiểu bản đồ quy hoạch nên cũng không thể đóng góp ý
kiến Thứ ba, một số người cho rằng các quy hoạch không ảnh hưởng đến họ nên
họ không quan tâm
- Kiểm soát ô nhiễm và giám sát: Ô nhiễm nước tác động trực tiếp đến lợi ích
của cộng đồng Nước hồ Thác Bà bị ô nhiễm làm ảnh hưởng đến nước dùng để sản
xuất nước sạch phục vụ sinh hoạt, suy giảm nguồn lợi thủy sản, giảm sự hài lòng của
người tham gia giao thông thủy và du lịch Vì tác động tiêu cực biểu hiện rõ ràng,
nhanh chóng nên cộng đồng có phản ứng khá nhanh chóng, rõ ràng khi nguồn nước bị
ô nhiễm Cách thức phản ứng thường là người dân trực tiếp thông báo với cán bộ địa
phương về hiện tượng ô nhiễm nước mà họ nhìn thấy Báo chí cũng là một kênh được
cộng đồng sử dụng để đưa thông tin về hiện tượng ô nhiễm đến với cơ quan quản lý
nhà nước có thẩm quyền Tương tự với hoạt động giám sát, cộng đồng được khuyến
khích ngăn chặn hoặc thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi phát hiện
thấy có cách hành vigây hậu quả xấu đến tài nguyên, môi trường vùng hồ Thác Bà
Mặc dù phạm vi các vấn đề được phản ánh còn hạn chế, nhưng có thể thấy cộng đồng
đã có hành vi tham gia ở mức độ “được tham vấn”, tức là cung cấp thông tin để cơ
quan quản lý nhà nước tham khảo và ra quyết định quản lý và sự tham gia của họ vào
khía cạnh quản lý này khá tích cực
- Áp dụng công cụ kinh tế: Công cụ kinh tế có thể coi là công cụ quản lý của
riêng nhà nước Với khía cạnh này, cộng đồng chỉ có thể tham gia ở mức độ tuân thủ
chính sách Với tài nguyên nước hồ Thác Bà, các hộ gia đình sử dụng nước sạch từ
nước hồ phải đóng phí nước sạch, các hộ gia đình sản xuất lâm nghiệp trên vùng hồ phải nộp thuế sử dụng đất, các hộ gia đình sản xuất và xả nước thải ra hồ Thác Bà phải nộp phí nước thải; các hộ gia đình khai thác, nuôi trồng thủy sản phải nộp phí, lệ phí
về tái tạo, bảo vệ nguồn lợi thủy sản hàng năm Nhìn chung người nào chịu sự điều chỉnh của công cụ kinh tế nào đều tuân thủ chính sách đó
- Quản lý thông tin: Quản lý thông tin, theo GWP (2010), được hiểu là cung cấp dữ liệu cơ bản, cần thiết để quá trình ra quyết định quản lý tài nguyên nước được đầy đủ thông tin và minh bạch Dưới góc độ này thì quản lý thông tin đã được lồng ghép vào các khía cạnh nói trên gồm phân bổ nước, quy hoạch tài nguyên nước, kiểm soát ô nhiễm, áp dụng công cụ kinh tế và giám sát khi các cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền và cộng đồng đều có trách nhiệm thu thập thông tin về tài nguyên nước hồ Thác Bà và sử dụng làm đầu vào cho quá trình ra quyết định Như vậy cộng đồng có tham gia thu thập và cung cấp thông tin Mức độ tiếp cận thông tin của cộng đồng khác nhau tùy vào từng loại thông tin cụ thể liên quan đến các khía cạnh quản lý Ví dụ, cộng đồng được tiếp cận với các quy định, chính sách quản lý; nhưng chưa biết đầy đủ thông tin về quá trình phân bổ nước Cộng đồng cũng khó mà tìm cũng như hiểu được thông tin chính thức về vấn đề ô nhiễm như nguồn phát thải, chất gây ô nhiễm, hàm lượng chất ô nhiễm mà chỉ có thể dùng cảm quan khi quan sát, sử dụng nước để đánh giá mức độ ô nhiễm và phản ánh lại với
cơ quan quản lý nhà nước để xử lý
Với các khía cạnh quản lý tài nguyên nước như trên, có thể xây dựng mô hình cho thấy mức độ, hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái như Hình 4.4 Như vậy, cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái đã tham gia quản lý tài nguyên nước ở cấp độ được thông báo và được tham vấn với các hành vi cụ thể là biết và tuân thủ chính sách trong khía cạnh phân bổ tài nguyên nước và áp dụng công cụ kinh tế; đóng góp ý kiến trong các cuộc họp người dân hoặc trực tiếp đóng góp ý kiến với cơ quan quản lý nhà nước với khía cạnh quy hoạch quản lý tài nguyên nước, kiểm soát ô nhiễm và giám sát Tất cả những hành vi nói trên đều thể hiện cộng đồng tham gia vào khía cạnh quản lý thông tin Và trong tương lai, để thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng, ngoài tăng cường tham gia ở các cấp
độ sẵn có về cả chiều rộng (nhiều người tham gia quản lý hơn) và chiều sâu (tham gia nhiều nội dung quản lý hơn) một trong những kết quả có thể kỳ vọng cộng đồng tham gia ở mức độ cao hơn là cùng thực hiện quản lý với hai hành vi cụ thể là cử người đại diện cùng với nhà nước quản lý tài nguyên nước và đóng góp nguồn lực để bảo vệ tài nguyên nước
Trang 39Hình 4.4: Mức độ và hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng
vùng hồ Thác Bà
Nguồn: Tổng kết của tác giả
Tóm lại, trong quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà, nhà nước đóng vai trò chủ
đạo, nhưng khung pháp lý và thực tiễn cho thấy đã có sự tham gia của cộng đồng vào
một số khía cạnh quản lý ở các mức độ khác nhau, với phạm vi khác nhau Các phần
sau sẽ dựa vào điều tra trên địa bàn nghiên cứu để đánh giá rõ hơn nhận thức của cộng
đồng và các hành vi tham gia của cộng đồng
4.3.2 Nhận thức của cộng đồng về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý
tài nguyên nước
Đánh giá nhận thức của cộng đồng về các vấn đề liên quan đến sự tham gia của
cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước tại địa phương có ý nghĩa hỗ trợ trong
nghiên cứu này để có cái nhìn chung nhất về quan điểm cá nhân người được phỏng
vấn về một số vấn đề như tầm quan trọng của quản lý tài nguyên nước, cộng đồng có
hay không nên tham gia vào quản lý tài nguyên nước… Điều tra trên diện rộng bằng
bảng hỏi giúp cung cấp thông tin này
Có đến 93,2% số người trả lời phỏng vấn khẳng định tầm quan trọng của
việc bảo vệ tài nguyên nước hồ Thác Bà, trong đó có 41,3% cho rằng đây là việc rất
quan trọng với họ và gia đình họ Chỉ có tỷ lệ nhỏ, 2% cho rằng nhiệm vụ này
không quan trọng
Hình 4.5: Đánh giá của người dân về tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên
nước hồ Thác Bà
Nguồn: Điều tra của tác giả (2015)
Về hiện trạng quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà, người dân có đánh giá tương đối khác nhau Có 109 người cho rằng hồ Thác Bà đang được quản lý tốt và rất tốt, chiếm tỷ lệ 36,1% 120 người (39,7%) đánh giá hiệu quả quản lý ở mức bình thường Số người cho rằng việc quản lý tài nguyên hồ Thác Bà hiện tại là chưa tốt cũng chiếm tỷ lệ tương đối đáng kể là 23,8% Điều này cũng phù hợp với thực trạng tài nguyên nước hồ Thác Bà đang gặp một số vấn đề như ô nhiễm rác thải sinh hoạt, suy giảm nguồn lợi thủy sản, suy thoái cảnh quan… Trên khía cạnh quản lý, mặc dù đã
có nhiều chính sách tích cực như khuyến khích trồng rừng, quy hoạch hoạt động nuôi trồng thủy sản một cách hợp lý; các nhà quản lý vẫn chưa giải quyết được tình trạng khai thác đá vôi trắng quá mức, đánh bắt thủy sản bằng phương pháp hủy diệt…
Bảng 4.4: Đánh giá của cộng đồng về hiện trạng quản lý tài nguyên nước
Trang 40Về vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước, đại đa số người trả lời
cho rằng rất cần thiết phải có sự tham gia của người dân (298 người, tương đương
84,9%) Chỉ có 6 người (1,7%) nhận định là người dân không cần thiết phải tham gia
Tuy nhiên có đến 66 người chưa hề nghe nói đến quản lý có sự tham gia của cộng
đồng Những người còn lại đều đã nghe nói từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, phổ
biến nhất là từ các phương tiện thông tin đại chúng, tiếp theo là từ cán bộ quản lý nhà
nước và từ người thân, bạn bè… Như vậy, với những người được phỏng vấn đều là
những người đang sử dụng tài nguyên nước hồ Thác Bà, dù có biết đến quản lý tài
nguyên nước có sự tham gia của cộng đồng hay không, đa phần họ đều có mong muốn
được tham gia vào quản lý tài nguyên nước vì đây là tài nguyên có gắn bó chặt chẽ với
đời sống, sinh kế của họ Việc sử dụng tài nguyên nước giữa các nhóm đối tượng sử
dụng nước cho các mục đích khác nhau lại có thể mâu thuẫn nhau nên càng cần cộng
đồng có vai trò tích cực hơn để lợi ích của mỗi nhóm được đưa ra cân nhắc trong quá
trình ra quyết định Tuy nhiên, cần xem xét mức độ, hình thức tham gia của các hộ gia
đình để có cái nhìn chung về hiện trạng sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài
nguyên nước hồ Thác Bà
4.3.3 Hành vi tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước hồ
Thác Bà
Như đã trình bày ở chương 2, để đánh giá hành vi tham gia quản lý tài nguyên
nước hồ Thác Bà, người trả lời sẽ đưa ra ý kiến của họ từ mức rất không đồng ý đến
mức rất đồng ý với từng phát biểu về mỗi hành vi theo thang điểm Likert 5 bậc Ở
cấp độ thấp nhất của mức độ tham gia quản lý, người dân được biết các chính sách
của nhà nước liên quan đến quản lý tài nguyên nước và tuân thủ Theo Quy chế quản
lý hồ Thác Bà, các chính sách quản lý đã được ban hành và được phổ biến cho người
dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua các cuộc họp dân ở cấp cơ
sở Quy chế này ra đời từ năm 2008 nên nhìn chung người dân đều biết và họ tự cho
rằng mình đã tuân thủ chính sách nhà nước đề ra Điều tra cho thấy có 35 người
(11,6%) trả lời khẳng định rất đồng ý với nhận định, 257 người (85,1%) đồng ý,
trong khi chỉ có 5 người cho biết họ không tuân thủ chính sách, và 5 người không ý
kiến Tuy nhiên, câu trả lời này mang tính chủ quan theo nhận định của chính người
trả lời về hành vi của mình
Hình 4.6: Tỷ lệ % các hộ tuân thủ chính sách về tài nguyên nước tại hồ Thác Bà
Nguồn: Điều tra của tác giả (2015)
Bảng 4.5: Số hộ và tỷ lệ % tham gia hình thức đóng phí sử dụng nước hồ Thác Bà Đóng phí sử dụng nước hồ Số hộ Tỷ lệ %
Nguồn: Điều tra của tác giả (2015)
Một hoạt động cụ thể khi tuân thủ chính sách là đóng phí sử dụng nguồn nước Người trả lời thể hiện mức độ đồng ý với nhận định rằng họ có đóng phí sử dụng nước Với hoạt động này, số người trả lời có thực hiện là 142 người, chiếm tỷ lệ 40,4%; có
198 người không thực hiện, chiếm 56,4% Việc đóng phí sử dụng nước là bắt buộc với các hộ sử dụng nước sạch, ngoài ra có một số hộ sản xuất xả nước thải ra hồ phải nộp phí nước thải
Bảng 4.6: Hành vi tiết kiệm nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái
bao giờ Không Ít khi thường Bình Thường xuyên thường Rất
xuyên Tổng Khóa vòi nước
Dùng vừa đủ lượng nước cần