1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh dân ca trữ tình sinh hoạt của người tày và người thái ở việt nam

170 166 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy, phương pháp luận định hướng cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án này là: Trong khi sử dụng các quy phạm của nghiên cứu văn học, không quên tính đặc thù của VHDG; khi so

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài So sánh dân ca trữ tình sinh hoạt của người Tày

và người Thái ở Việt Nam là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu, kết luận khoa học trong đề tài là trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình khác Nội dung đề tài có tham khảo và sử dụng các thông tin được đăng tải trên các sách, tạp chí theo danh mục tài liệu tham khảo của đề tài Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng năm 201

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

HÀ XUÂN HƯƠNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới GS TS Nguyễn Xuân Kính – người thầy đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Học viên Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học và luận án này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp của tôi đã chia sẻ nhiều tư liệu và kinh nghiệm quý liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận án

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm 201

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 11

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11

1.2 Luận án, sự kế thừa và phát triển 25

1.3 Cơ sở lí luận 29

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY, THÁI Ở VIỆT NAM VÀ DÂN CA TRỮ TÌNH SINH HOẠT CỦA HỌ 45

2.1 Khái quát về người Tày và người Thái ở Việt Nam 45

2.2 Dân ca trữ tình sinh hoạt của người Tày và người Thái – nhận diện và phân loại 65

CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG CỦA DÂN CA TRỮ TÌNH SINH HOẠT CỦA NGƯỜI TÀY VÀ NGƯỜI THÁI 73

3.1 Sự tương đồng trong việc phản ánh đời sống hiện thực ở nông thôn miền núi và tình cảm con người 73

3.2 Sự tương đồng về cách thức thể hiện tình cảm của nhân vật trữ tình 85

3.3 Sự tương đồng trong việc sử dụng biểu tượng hoa 93

3.4 Sự tương đồng về trình tự diễn xướng hát đối đáp và sự tham gia của âm nhạc vào diễn xướng 97

3.5 Iếu và cắm nôm – sự giao thoa của dân ca trữ tình sinh hoạt Tày, Thái 103

CHƯƠNG 4: NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT CỦA DÂN CA TRỮ TÌNH SINH HOẠT CỦA NGƯỜI TÀY VÀ NGƯỜI THÁI 109

4.1 Sự khác biệt về nhân vật trữ tình 109

4.2 Sự khác biệt về thi pháp lời thơ nghệ thuật 117

4.3 Sự khác biệt về đặc điểm diễn xướng 138

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 5

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Nghĩa của chữ viết tắt

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Tài liệu khảo sát 5

Bảng 2: Thông tin điền dã 7

Bảng 2.1: Phân loại dân ca của người Tày và người Thái 70

Bảng 3.1 Sự xuất hiện của các từ mang sắc thái cầu khiến 90

Bảng 4.1: Sự xuất hiện của hình ảnh, biểu tượng là con người và các hình ảnh, biểu tượng nguồn gốc thiên nhiên trong DCTTSH Tày, Thái 121

Bảng 4.2: Sự xuất hiện của hình ảnh, biểu tượng nước và các hình ảnh, biểu tượng có nguồn gốc nhân tạo trong DCTTSH Tày, Thái 125

Bảng 4.3: Khảo sát việc sử dụng điển tích trong DCTTSH Tày, Thái 131

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Văn hóa là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo lập nên dân tộc

Nó có quan hệ mật thiết với tinh thần, tâm hồn của cả chủng tộc, giúp tạo nên dấu ấn riêng, phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Văn học, với tư cách là một thành tố của văn hóa, cũng giữ vai trò ấy Trong văn học, văn học dân gian (VHDG) giữ vị trí đáng

kể và có nhiều ưu thế trong việc phản ánh tư duy, tình cảm của dân tộc Nghiên cứu VHDG là cần thiết và quan trọng đối với việc góp phần nghiên cứu, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là đối với việc xây dựng khối thịnh vượng chung của cộng đồng quốc gia dân tộc trong bối cảnh giao lưu thời toàn cầu hóa hiện nay

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc Bức tranh văn hóa Việt Nam đa diện, đa sắc màu, được tạo nên bởi quá trình tích hợp các giá trị văn hóa tộc người vào văn hóa Việt Nam – một phức thể văn hóa đa dạng mà thống nhất Qua VHDG, chúng ta có thể nhận diện được sự hòa hợp trong đa dạng của mối quan hệ văn hóa giữa các tộc người Vì thế, con đường nghiên cứu so sánh VHDG của các tộc người sẽ đem tới nhiều khả năng cho việc phát hiện ra những yếu tố văn hóa truyền thống mang tính đặc trưng tộc người cũng như những nét chung, mang tính phổ biến

1.2 Tày và Thái là hai dân tộc có số dân đông thứ hai và thứ ba trong 54 dân tộc Việt Nam, sinh sống rải rác trong cả nước song tập trung nhiều nhất ở khu vực miền núi phía Bắc Người Tày giữ vai trò chủ thể văn hóa vùng Đông Bắc, người Thái giữ vai trò chủ thể văn hóa vùng Tây Bắc Với những giá trị đặc sắc về văn hóa, hai dân tộc giữ vị trí quan trọng trong tổng thể văn hóa dân gian Việt Nam Trong đó, phải kể đến vai trò của kho tàng VHDG thấm đẫm hồn cốt dân tộc

1.3 Trong kho tàng VHDG của người Tày và người Thái, truyện cổ và dân ca là hai bộ phận phong phú và tiêu biểu nhất Dân ca Tày, Thái – với tư cách là những bộ phận của văn hóa và VHDG, đã thể hiện khá sinh động và rõ nét đời sống văn hóa và tâm hồn dân tộc bởi nó ra đời từ đời sống của nhân dân, rồi lại quay trở lại phục vụ chính đời sống ấy trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với phong tục, tập quán, tín ngưỡng, hội hè… của tộc người Do đó, có thể nói, dân ca Tày, Thái thể hiện một cách tập trung nhất và rõ ràng nhất bản sắc văn hóa của hai dân tộc

Trang 8

1.4 Dân ca có ở hầu hết các dân tộc và là nghệ thuật mang tính chất tổng hợp, gồm ngôn từ, diễn xướng, âm nhạc, vũ đạo, đạo cụ Ở người Kinh, do điều kiện riêng nên bộ phận ngôn từ trong dân ca dần tách thành một thể loại độc lập là ca dao Trái lại,

ở các dân tộc thiểu số (DTTS), bộ phận ngôn từ chưa phân thành một thể loại độc lập

Vì thế, các nhà nghiên cứu thường nhắc đến dân ca các DTTS mà không nhắc đến ca dao của họ như với người Kinh Đây cũng là lí do để dân ca được coi là đối tượng nghiên cứu của VHDG, dù nó là nghệ thuật biểu diễn

1.5 Xét riêng về DCTTSH, nếu như người Tày có lượn cọi (hát gọi bạn yêu),

lượn slương (hát thương yêu), lượn nàng ới (hát gọi người con gái), lượn then (hát

then), phong slư (thư tình con trai gửi cho con gái và ngược lại)… thì người Thái có

khắp báo xao (hát trai gái), khắp xai peng (hát dây tình), khắp hạn khuống (hát nơi sàn

chơi), khắp loong tôông (hát nơi cánh đồng), khắp xư (hát thơ)… Sự phong phú, đa

dạng, sự đặc sắc cả về nội dung, thi pháp lời thơ nghệ thuật, đặc điểm diễn xướng của DCTTSH và mức độ gắn bó của chúng với mọi mặt đời sống nhân dân khiến chúng tôi đặc biệt quan tâm đến loại dân ca này DCTTSH của mỗi dân tộc vừa mang những điểm tương đồng, vừa mang những điểm dị biệt

Một sự so sánh DCTTSH của hai dân tộc Tày, Thái sẽ góp phần khám phá tính chung, tính phổ biến trong văn hóa của hai dân tộc này, đồng thời làm phát lộ tính riêng đặc thù của mỗi dân tộc trong bức tranh văn hóa Việt Nam, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc Tuy nhiên, vấn đề này lại chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng từ các nhà nghiên cứu VHDG

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề So sánh dân ca trữ tình sinh

hoạt của người Tày và người Thái ở Việt Nam làm đề tài nghiên cứu với mong muốn chỉ

ra và lí giải được những điểm giống và khác nhau của hai bộ phận dân ca, trên cơ sở đó thấy được cái chung của văn hóa các dân tộc trên đất nước Việt Nam, đồng thời thấy được nét đặc thù dân tộc của văn hóa người Tày và người Thái

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện luận án này, chúng tôi xác định mục đích nghiên cứu là qua so sánh DCTTSH của hai dân tộc Tày, Thái, thấy rõ tính thống nhất và đa dạng của dân ca các dân tộc Việt Nam nói chung, DCTTSH Tày, Thái nói riêng, lí giải nguyên nhân của sự thống nhất, đa dạng đó

Trang 9

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập hợp, hệ thống theo lựa chọn có chủ ý các tư liệu DCTTSH Tày, Thái dựa trên các nguồn tư liệu sưu tầm, công bố tư liệu dân ca dưới hình thức song ngữ

- Điền dã, khảo sát diễn xướng DCTTSH Tày, Thái (còn quan sát được), phỏng vấn hồi cố các nghệ nhân người Tày, Thái ở khu vực miền núi phía Bắc; khảo sát các tư liệu phục dựng diễn xướng DCTTSH Tày, Thái; quan sát mối quan hệ giữa văn bản và diễn xướng trong thực tế đời sống của hai dân tộc Tày, Thái

- Tìm hiểu các vấn đề về lí luận văn học so sánh (VHSS) nói chung và VHSS trong nghiên cứu văn hóa, VHDG nói riêng; hệ thống hóa lí luận về bản sắc văn hóa dân tộc, dân ca và diễn xướng

- Khái quát về tộc người và diện mạo DCTTSH của người Tày và người Thái

- Khảo sát các khía cạnh của DCTTSH của hai dân tộc Tày, Thái (qua văn bản là chính, kết hợp với sự quan sát diễn xướng dân ca), lấy đó làm cơ sở cho sự so sánh

- Phân tích các điểm tương đồng và khác biệt của DCTTSH Tày, Thái

- Lí giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó, chỉ ra nội hàm văn hóa

ẩn chứa trong đó để dẫn tới nhận thức rằng sự tương đồng chính là tính thống nhất, sự khác biệt chính là bản sắc văn hóa của người Tày, Thái, tạo nên tính đa dạng của văn hóa các dân tộc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là DCTTSH của người Tày và người Thái ở Việt Nam

Về nguồn tư liệu, các kết quả so sánh của chúng tôi trong luận án là dựa trên cơ

sở khảo sát kĩ càng các nguồn tư liệu DCTTSH của người Tày và người Thái Song, chúng tôi nhận thấy kho tàng DCTTSH của hai dân tộc Tày, Thái có số lượng tương đối lớn và phong phú về thể loại Hơn nữa, việc đưa toàn bộ các tài liệu vào trong công trình

Trang 10

là không thật cần thiết Chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng vai trò đại diện của tài liệu VHDG trong công việc nghiên cứu Lí do của sự không cần thiết nói trên nằm ở tính lặp lại của VHDG nói chung, dân ca nói riêng Nếu như ở văn học viết, nhà nghiên cứu cần đọc hết các tác phẩm của một tác giả nào đó thì mới có thể đưa ra những nhận định, đánh giá khoa học về tác giả đó Nhưng, ở VHDG, nhà nghiên cứu chỉ cần biết một số lượng tác phẩm vừa đủ, có tính chất đại diện VHDG là mảnh đất của những yếu tố lặp

đi lặp lại, của những điểm chung mang tính cộng đồng, thời đại Riêng ở dân ca, tính lặp lại của các yếu tố trong dân ca là rất cao và phổ biến Chỉ bằng quan sát, bạn đọc cũng dễ dàng nhận ra những sự giống nhau giữa các văn bản dân ca Do vậy, quan điểm của chúng tôi là chỉ cần khảo sát giới hạn ở một số lượng tác phẩm mà ngoài số lượng đó chúng ta không phát hiện thêm điều gì mới Sự hạn chế nguồn tư liệu của chúng tôi là giống như

việc làm của tác giả V.IA Propp trong công trình Hình thái học truyện cổ tích [165]

Khi thống kê, chúng tôi sử dụng các tư liệu dân ca dẫn từ các tài liệu đã được xuất bản và dưới hình thức song ngữ Tày – Kinh đối với DCTTSH Tày và Thái – Kinh đối với DCTTSH Thái Các tài liệu được lựa chọn phải có sự ăn khớp nhau về số dòng thơ trong bản phiên âm và bản dịch sang tiếng Việt, đồng thời bản dịch phải sát nghĩa Trong đó, chúng tôi ưu tiên những công trình mà tác giả là những người con của dân tộc Tày, Thái hoặc từng có thời gian sinh sống cùng người bản tộc, có lợi thế trong việc am hiểu văn hóa và ngôn ngữ dân tộc Họ dành rất nhiều công sức, tâm huyết, trung thực và trách nhiệm trong việc sưu tầm, biên soạn Vì thế, việc biên dịch của các tác giả đó khá sát với cách cảm, cách nghĩ và đặc trưng thi pháp thể loại của DCTTSH Tày, Thái Những tiêu chí như vậy sẽ đem đến tính tin cậy cho tài liệu được lựa chọn để khảo sát, nghiên cứu của luận án

Vì những lí do này, đối với DCTTSH Tày, trong rất nhiều mảng, chúng tôi lựa

chọn iếu, lượn slương, lượn cọi, phong slư, rọi Ở từng mảng, chúng tôi chỉ lựa chọn

những bản tiêu biểu, có chất lượng để khảo sát Cụ thể, chúng tôi lựa chọn dẫn 500 bài dân ca với 4216 câu Đối với DCTTSH Thái, chúng tôi dẫn 286 bài DCTTSH Thái với

6068 câu Sự lựa chọn dẫn này là có chủ ý khi chúng tôi nhận thấy các hiện tượng đã được hàm chứa khá đầy đủ trong 500 bài DCTTSH Tày và 286 bài DCTTSH Thái được dẫn Số lượng bài cụ thể trong các tài liệu dân ca được lựa chọn như sau:

Trang 11

Bảng 1: Tài liệu khảo sát

liệu Số bài đƣợc lựa chọn Tày

(2012), Phong Slư, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

tầm, biên dịch) (2012), Iếu – Dân ca dân tộc Tày, Nxb

Văn hóa dân tộc, Hà Nội

Nùng), Nxb Dân tộc Việt Bắc

lượn slương, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

cọi, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

Lượn rọi – Hát đối đáp của của người Tày, Nxb Hội

nhà văn, Hà Nội

Thái

và dân ca Thái vùng Tây Bắc Việt Nam, Nxb Văn hóa

dân tộc, Hà Nội

Dân ca Thái Lai Châu, Quyển 2 – Thơ và dân ca tình

yêu của người Thái Mường So, Nxb Văn hóa dân tộc,

Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Lai Châu, Hà Nội

Châu, Quyển 1 – Chiêng xoong mố bók (Mùa xuân

mùa hoa), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

Trang 12

Số lời còn lại của các công trình kể trên và các tài liệu DCTTSH khác của người Tày, Thái, chúng tôi sử dụng làm cơ sở tham khảo, đối chiếu, kiểm tra Chẳng hạn, ở

DCTTSH Tày có các công trình như Lượn cằm Tày Hoàng Liên Sơn [138], Sli lượn

hát đôi của người Tày Nùng ở Cao Bằng [92], Chồm bjoóc mạ [14], Lượn then ở miền đông Cao Bằng [78], Tàng pây kết chụ (Đường đi kết bạn tình) [70], Thành ngữ

- tục ngữ - ca dao dân tộc Tày [127], Thơ ca dân gian Tày Nùng xứ Lạng [5], Tục ngữ, ca dao Tày vùng hồ Ba Bể [192], tư liệu điền dã của tác giả luận án; ở người Thái

có công trình: Khắp sứ lam của người Thái đen xã Noong Luống, huyện Điện Biên,

tỉnh Điện Biên [49]

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

Theo Hà Văn Tấn, “phương pháp luận khoa học là hệ thống lí thuyết lí giải đối

tượng nghiên cứu cũng như lí giải các phương pháp tiếp cận đối tượng đó” [55; tr 10]

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Phương pháp luận và phương pháp nghiên

cứu ngôn ngữ [40] cũng nói tương tự như vậy Vậy, phương pháp luận định hướng cho

chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án này là: Trong khi sử dụng các quy phạm của nghiên cứu văn học, không quên tính đặc thù của VHDG; khi so sánh DCTTSH của hai dân tộc Tày, Thái, chúng tôi chú ý đến mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Cái chung ở đây là tính toàn nhân loại của VHDG, tính tương đồng cao của dân ca các dân tộc ở Việt Nam Cái riêng ở đây là tính đặc thù của DCTTSH mỗi dân tộc Theo ý nghĩa triết học, cái chung được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác; cái riêng là một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định

Phương pháp luận cũng chỉ ra rằng, để thực hiện bản luận án này, chúng tôi cần

áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp điền dã, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp liên ngành

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp điền dã

Luận án thực hiện trên cơ sở tư liệu là DCTTSH của người Tày và người Thái Đây là đề tài nghiên cứu dân ca nên cần đặt nó trong môi trường diễn xướng cụ thể để thấy được hết tính sinh động của diễn xướng và thấy được mối liên hệ giữa dân ca với phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân tộc Vì thế, chúng tôi lựa chọn phương pháp điền dã Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi tiến hành điền dã tại một số vùng

cư trú của đồng bào Tày, Thái ở vùng Đông Bắc và Tây Bắc Tại đó, chúng tôi quan sát

Trang 13

đời sống sinh hoạt của đồng bào Tày, Thái, phỏng vấn người dân, tiếp cận với các diễn xướng DCTTSH Tày, Thái Chúng tôi được chứng kiến các diễn xướng có tính ngẫu hứng khi làm ngô, làm lúa, các điệu hát rong chơi… của người Thái ở Yên Bái, diễn

xướng lượn slương của người Tày ở Bắc Kạn và được chứng kiến các nghệ nhân phục hồi các diễn xướng lượn của người Tày ở Bắc Kạn, Hà Giang, Lạng Sơn và khắp của

người Thái ở Yên Bái Chúng tôi lựa chọn các địa bàn điền dã như thế bởi đó là nơi tập trung đông đồng bào Tày/ Thái sinh sống, còn lưu giữ được nhiều đặc điểm văn hóa truyền thống của dân tộc Các thông tin được cụ thể hóa trong bảng dưới đây:

Bảng 2: Thông tin điền dã

Tày

tỉnh Lạng Sơn

Dương Công Nam

Trang 14

thông tin định tính góp phần chứng minh và lí giải cho những đặc điểm tương đồng và khác biệt của DCTTSH của hai dân tộc

4.2.2 Phương pháp thống kê

Về phương pháp thống kê, trong công trình Văn hóa dân gian – Những phương

pháp nghiên cứu [101; tr 127 – 141], Nguyễn Xuân Kính đã khẳng định đây là một

trong số các phương pháp nghiên cứu chính xác bởi mục đích của việc nghiên cứu là tìm

ra giá trị và giải thích, làm sáng tỏ các quy luật, tức những sự lặp lại của các hiện tượng cùng loại ở một mức độ nhất định nào đó Sử dụng phương pháp này, chúng tôi thống kê thông tin về các tài liệu công bố dân ca theo năm và theo dân tộc phục vụ cho việc lược thuật tình hình sưu tầm, nghiên cứu, thống kê các bài DCTTSH Tày, Thái được lựa chọn làm đối tượng khảo sát Đặc biệt, chúng tôi thống kê các số liệu cụ thể liên quan đến nội dung, thi pháp của DCTTSH Tày, Thái như tần suất xuất hiện của các điển tích, biểu tượng, thể thơ Các kết quả thống kê mang tính định lượng như thế sẽ là căn cứ để chúng tôi đưa ra các suy luận, nhận định khoa học Đồng thời, việc sử dụng các phương pháp này cũng giúp tăng thêm sức thuyết phục, độ chính xác, tin cậy cho những nhận định khoa học của chúng tôi

4.2.3 Phương pháp so sánh

Ở góc độ là một phương pháp nghiên cứu khoa học, so sánh là phương pháp quen thuộc, được sử dụng trong nhiều ngành khoa học khác nhau để định tính, định lượng hoặc xác định ngôi thứ của các sự vật, hiện tượng Trong nghiên cứu văn hóa dân gian, VHDG, phương pháp so sánh được dùng để xác định, đánh giá các hiện tượng trong mối quan hệ giữa chúng với nhau Chúng tôi lựa chọn phương pháp so sánh vì mục đích chính của đề tài là làm folklore so sánh Chỉ có qua so sánh mới chỉ ra được những tương đồng, khác biệt của hai bộ phận dân ca này ở hai tộc người Tày, Thái Dạng thức chính của phương pháp so sánh mà chúng tôi sử dụng là so sánh loại hình lịch sử Sử dụng phương pháp này, chúng tôi nhằm nhận thức DCTTSH Tày, Thái thông qua việc tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các yếu tố như nội dung, thi pháp lời thơ nghệ thuật, đặc điểm diễn xướng trong DCTTSH của người Tày và người Thái Chúng tôi tìm ra kết cấu bên trong, sự liên hệ giữa DCTTSH Tày, Thái với các yếu tố lịch sử, xã hội

để giải thích nguyên nhân, ý nghĩa của những điểm tương đồng, dị biệt đó

4.2.4 Phương pháp liên ngành

Phương pháp liên ngành là phương pháp nghiên cứu có sự kết hợp giữa nhiều ngành khoa học, trong đó có một ngành đóng vai trò trung tâm, như tác giả Đinh Gia

Trang 15

Khánh đã phân tích trong cuốn sách Văn hóa dân gian – Những phương pháp nghiên

cứu [101; tr 113] Ở đây, khoa nghiên cứu văn học chú ý đến tính đặc thù của sáng tác

dân gian đóng vai trò trung tâm, các ngành khoa học khác như dân tộc học, lịch sử, văn hóa học… đóng vai trò bổ trợ

Chúng tôi sử dụng các kiến thức về dân tộc học, lịch sử, địa lí… trong một đề tài folklore so sánh để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu về nguyên nhân và ý nghĩa những đặc điểm tương đồng, khác biệt trong DCTTSH của người Tày và người Thái Cụ thể, thông qua nghiên cứu tài liệu và nghiên cứu các dữ liệu thu thập được từ việc quan sát văn hóa, lịch sử, xã hội… của tộc người Tày, Thái, chúng tôi nhằm phát hiện ra sự chuyển hóa các dữ liệu văn hóa, lịch sử, xã hội… thành các dữ liệu văn học, lấy đó làm cơ sở cho những lí giải về sự giống và khác nhau của DCTTSH Tày, Thái; nhận định về mối liên hệ cũng như vai trò của của DCTTSH đối với văn hóa tộc người nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên đặt DCTTSH – một bộ phận quan trọng của VHDG nói riêng, văn hóa nói chung của người Tày và người Thái - dưới góc nhìn

so sánh Trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận án đã kế thừa, bổ sung và phát triển sâu hơn các luận điểm đó, đặt chúng trong một hệ quy chiếu mới là sự so sánh, đối chiếu Công trình đã chỉ ra và lí giải nguyên nhân, ý nghĩa của những điểm tương đồng và khác biệt trên nhiều phương diện như: nội dung, thi pháp, đặc điểm diễn xướng của DCTTSH Tày, Thái

Luận án hướng tới việc từ các đặc điểm của dân ca để góp thêm tiếng nói khẳng định tính chung của văn hóa các dân tộc Việt Nam, là cơ sở để xây dựng nền văn hóa Việt Nam thống nhất; đồng thời, khẳng định tính đặc thù dân tộc về văn hóa của hai dân tộc Tày, Thái, giúp khu biệt hai dân tộc vốn gần gũi với nhau về nhiều mặt

Luận án được thực hiện trong sự quan sát, liên tưởng với văn học, văn hóa của người Kinh nhằm cung cấp một góc độ nhìn nhận toàn diện hơn, rõ ràng và khách quan hơn về tính chung và tính riêng của DCTTSH Tày, Thái

Kết quả nghiên cứu của luận án khẳng định hướng nghiên cứu so sánh DCTTSH nói riêng, VHDG nói chung là hướng nghiên cứu có tính khả thi, mang lại kết quả là sự nhận thức sâu sắc hơn về mối liên hệ giữa văn học với môi trường tự nhiên, văn hóa, lịch sử… của dân tộc, và quan trọng nhất, là làm rõ bản sắc văn hóa dân tộc trong sự hài hòa với văn hóa cộng đồng mang tính khu vực, cao hơn là quốc gia, nhân loại

Trang 16

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Về lí luận

Vận dụng kết hợp các dạng thức khác nhau của phương pháp so sánh: so sánh loại hình lịch sử, so sánh từ cách tiếp cận dân tộc học, luận án bước đầu làm rõ và đánh giá các điểm tương đồng, khác biệt về mặt nội dung, thi pháp và đặc điểm diễn xướng của DCTTSH Tày, Thái trong mối liên hệ với các đặc điểm tự nhiên, văn hóa, xã hội, lịch sử tộc người

Việc so sánh dân ca để làm rõ bản sắc văn hóa của người Tày, Thái giúp hai dân tộc tự khẳng định chính mình Đồng thời, các kết quả nghiên cứu của luận án có thể đóng góp thêm tư liệu và cách nhìn nhận trong việc tìm hiểu cái chung – cái riêng, hay chính là cái phổ biến và cái đặc thù của dân ca các dân tộc, quan hệ giữa văn hóa dân tộc, vùng miền với văn hóa quốc gia thống nhất

6.2 Về thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa thực tiễn Với mục đích hướng tới việc tìm hiểu sâu sắc về những đặc điểm giống và khác nhau của DCTTSH Tày, Thái, vai trò của những đặc điểm đó trong việc thể hiện bản sắc văn hóa tộc người, hi vọng các kết quả của luận án có thể là cơ sở cho việc thực thi bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa đặc sắc của hai DTTS hiện đang giữ vai trò chủ thể văn hóa vùng ở khu vực miền núi phía Bắc và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo đường lối, chính sách chung của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận án còn có giá trị đối với việc nghiên cứu, giảng dạy DCTTSH của người Tày và người Thái nói riêng, VHDG nói chung

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung

của luận án được triển khai với bốn chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận của luận án

Chương 2: Khái quát về người Tày, Thái ở Việt Nam và dân ca trữ tình sinh hoạt của họ Chương 3: Những điểm tương đồng của dân ca trữ tình sinh hoạt của người Tày và

người Thái

Chương 4: Những điểm khác biệt của dân ca trữ tình sinh hoạt của người Tày và người Thái

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình sưu tầm, nghiên cứu dân ca trữ tình sinh hoạt của người Tày

1.1.1.1 Tình hình sưu tầm dân ca trữ tình sinh hoạt của người Tày

Trong kho tàng dân ca các DTTS, dân ca dân tộc Tày được sưu tầm nhiều và sớm hơn cả Trong đó, dân ca nghi lễ nhận được sự quan tâm của các nhà sưu tầm sớm hơn so với DCTTSH Nếu như dân ca nghi lễ, mà cụ thể là dân ca đám cưới Tày được Nguyễn Văn Huyên sưu tầm, công bố cả bản chữ Nôm Tày, bản phiên âm và bản dịch bằng tiếng Pháp, được nhà in Viễn Đông Bác Cổ xuất bản từ năm 1941 với công trình

Những khúc ca đám cưới Tày ở Lạng Sơn và Cao Bằng (bản dịch tiếng Việt trong

cuốn Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam [55; tr 497 – 482]), thì phải đến năm

1970, DCTTSH của người Tày mới được công bố lần đầu tiên qua cuốn Rọi – Vốn cổ

văn học dân tộc Tày Nùng [99] do nhóm các tác giả Trương Lạc Dương, Nông Đình

Tuấn, Trần Vĩnh, Võ Quang Nhơn sưu tầm và dịch Rọi (phuối rọi, phuối pác, lượn

tói) là một hình thức hát đối đáp theo kiểu ứng khẩu tự nhiên, không cầu kì Trong

công trình, nhóm tác giả đã giới thiệu 231 bài, chủ yếu là về dân ca tình yêu Điều đáng quý là ngay từ công trình đầu tiên công bố tư liệu DCTTSH Tày, các tác giả đã

có ý thức công bố dưới hình thức song ngữ Tày – Việt

Năm 1987, các tác giả Cung Văn Lược, Lê Bích Ngân công bố tư liệu dân ca về

lượn cọi thông qua cuốn Lượn cọi Tày Nùng [76] Hai tác giả đã căn cứ vào 10 bản

chữ Nôm Tày ghi chép về lượn cọi sưu tầm được ở các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên

Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng để lọc lựa ra một số bài hay và giới thiệu tới độc giả Đáng tiếc, các tác giả chỉ giới thiệu bản dịch thơ ra tiếng Việt

Những năm 90 của thế kỉ XX, giới trí thức dân tộc Tày đã rất nỗ lực trong việc

giới thiệu di sản DCTTSH của dân tộc Sự ra đời của các cuốn sách Phong slư năm

1991 [115], Lượn slương năm 1992 [7], Lượn cọi năm 1994 [117] của tác giả Lục

Văn Pảo (còn gọi là Phương Bằng) là kết quả của sự nỗ lực ấy Trong đó, đáng chú ý

là lượn slương và lượn cọi có số lượng được công bố hết sức dồi dào (lượn slương

được công bố 2924 câu, lượn cọi được công bố 7465 câu) Trừ cuốn Phong slư cung

cấp tư liệu về các bức thư tình của nam nữ thanh niên Tày thời xưa dưới hình thức là

những tác phẩm độc lập riêng rẽ, không liên quan gì đến nhau, các cuốn sách Lượn

Trang 18

slương, Lượn cọi sắp xếp các bài dân ca theo trình tự của diễn xướng trong thực tế,

khiến qua đó người đọc hình dung được đáng kể về cuộc hát Cả ba nhóm bài hát của DCTTSH Tày đều được giới thiệu dưới hình thức song ngữ, tức bao gồm phần phiên

âm tiếng Tày và phần dịch nghĩa sang tiếng Việt

Một tác giả được gọi là “ông tiên núi” vì những đóng góp trong việc sưu tầm, nghiên cứu dân ca H’Mông là Doãn Thanh cũng để tâm sưu tầm DCTTSH của người

Tày Trong công trình Lượn cằm Tày Hoàng Liên Sơn [138], Doãn Thanh đã công bố

các bài DCTTSH mà ông sưu tầm được và có phân ra các bài lượn có lề lối và lượn tự

do, theo hình thức song ngữ

Sang đầu thế kỉ XXI, tình hình công bố tư liệu DCTTSH ngày càng sôi động

Có thể kể đến các công trình: Sli lượn hát đôi của người Tày Nùng ở Cao Bằng của Hoàng Thị Quỳnh Nha năm 2003 [92], Chồm bjoóc mạ của Hoàng Thị Cấp năm 2005 [14], Lượn then ở miền đông Cao Bằng của Triệu Thị Mai năm 2010 [78], Thơ ca

dân gian Tày Nùng xứ Lạng của Nguyễn Duy Bắc năm 2012 [5], Iếu – dân ca dân tộc Tày của nhóm tác giả Hoàng Văn Chữ, Nông Phúc Tước, Hoàng Nừng năm 2012

[22], Lượn Tày: Lượn Tày Lạng Sơn, lượn slương do Hoàng Văn Páo chủ biên năm

2012 [108], Thành ngữ - Tục ngữ - Ca dao dân tộc Tày của các tác giả Hoàng Triều

Ân, Hoàng Quyết năm 2014 [127], Tục ngữ ca dao Tày vùng hồ Ba Bể do Nguyễn Thị Yên chủ biên năm 2014 [192], Lượn rọi – hát đối đáp của của người Tày của các tác giả Dương Văn Sách, Dương Thị Đào năm 2016 [128], Tàng pây kết chụ (Đường

đi kết bạn tình) của Hoàng Tương Lai năm 2016 [70] Ở những công trình này, bên

cạnh việc giới thiệu một vài làn điệu mới của DCTTSH Tày như lượn then, iếu, các nhà sưu tầm tiếp tục công bố tư liệu DCTTSH thuộc các làn điệu như lượn cọi, lượn

rọi, lượn slương… đã từng được giới thiệu từ cuối thế kỉ XX, cho thấy trữ lượng

phong phú của các nhóm bài hát này

Trong một chuyến điền dã tại thôn Thiên Tuế, xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái năm 2014, chúng tôi đã được nghệ nhân Hà Đình Tỵ cung cấp tư

liệu DCTTSH Tày bao gồm 64 bài cắm nôm dưới hình thức song ngữ Tày – Việt

Qua điểm lại tình hình sưu tầm như trên, có thể thấy kho tàng DCTTSH phong phú, dồi dào và đã được sưu tầm, công bố với số lượng khá lớn

Trang 19

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu dân ca trữ tình sinh hoạt của người Tày

Trong tương quan so sánh với lịch sử nghiên cứu dân ca của các DTTS khác, DCTTSH Tày được nghiên cứu từ khá sớm Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy có thể phân loại tài liệu nghiên cứu về DCTTSH Tày thành hai dạng Dạng thứ nhất là các công trình công bố tư liệu DCTTSH Tày, trong đó nội dung nghiên cứu thường nằm ở các bài giới thiệu ở đầu sách Dạng công trình thứ hai là các công trình nghiên cứu về một thể loại của DCTTSH Tày ở một địa phương cụ thể, hoặc về một khía cạnh của dân ca Tày Ở các công trình thuộc hai dạng tài liệu này, các vấn đề của DCTTSH Tày ít nhiều được nghiên cứu ở các phương diện khác nhau Chúng tôi lược thuật kết quả nghiên cứu ở hai dạng công trình đó như sau:

Thứ nhất, nhóm các chỉ dẫn sơ bộ, khái quát trong các bài giới thiệu ở các sách công bố tư liệu DCTTSH Tày: Trong các bộ sưu tập tài liệu dân ca, trước khi công bố

với độc giả kết quả sưu tầm, biên dịch của mình về DCTTSH, các soạn giả thường có một bài giới thiệu mang tính chỉ dẫn về đặc điểm của các bài hát được công bố Nội dung chính của hệ thống bài giới thiệu này là cái nhìn tổng thể về các bài hát đó như tên gọi, sự phân loại và sơ bộ đặc điểm nội dung, nghệ thuật lời ca, phương thức diễn xướng của từng nhóm bài hát

Về tên gọi, các nhà nghiên cứu trong các bài giới thiệu đầu bộ sách sưu tập dân

ca có xu hướng coi lượn là dân ca giao duyên – một hình thức của DCTTSH Tày Đây

là cách hiểu lượn theo nghĩa hẹp Đại diện cho quan điểm này là Cung văn Lược, Lê

Bích Ngân với công trình Lượn cọi Tày – Nùng xuất bản năm 1987 [76], Phương Bằng (hay chính là Lục Văn Pảo) và Lã Văn Lô với công trình Lượn slương xuất bản năm 1992 [7], Lục Văn Pảo với công trình Lượn cọi xuất bản năm 1994 [117], Triệu Thị Mai với công trình Lượn then ở miền đông Cao Bằng xuất bản năm 2010 [78], Hoàng Văn Páo và nhóm tác giả với công trình Lượn Tày: Lượn Tày Lạng Sơn, lượn

slương xuất bản năm 2012 [108], Nguyễn Duy Bắc với công trình Thơ ca dân gian Tày – Nùng xứ Lạng xuất bản năm 2012 [5], Hoàng Quyết, Hoàng Triều Ân với công

trình Thành ngữ - Tục ngữ - Ca dao dân tộc Tày xuất bản năm 2014 [127], Dương Văn Sách, Dương Thị Đào với công trình Lượn rọi – Hát đối đáp của của người Tày

xuất bản năm 2016 [128]

Ở sách Lượn cọi Tày – Nùng [76], các tác giả Cung Văn Lược, Lê Bích Ngân

nhấn mạnh người Tày - Nùng gọi các lời ca tiếng hát trữ tình là sli – lượn, nhưng chỉ

Trang 20

những bài dùng để hát đối đáp nam nữ và theo làn điệu nhất định mới được gọi là

lượn, tức không bao gồm hát đám cưới và hát then nghi lễ Các tác giả tập trung giới

thiệu về lượn cọi Lượn cọi có nhiều cung, mỗi cung lại gồm nhiều bài Tuy nhiên,

những nhận định, phân tích về mảng dân ca này chưa được các tác giả đi sâu

Về phân loại, các tác giả Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn

trong công trình Văn hóa dân gian Tày đã có sự phân chia các thể tài thơ ca sinh hoạt

của người Tày khá rõ ràng và hợp lí thành ba nhóm: Những bài hát giao duyên như

lượn, phong slư; những bài hát vui chơi của trẻ em như đồng dao và hát ru em; các thể

loại trung gian bao gồm “một bộ phận cấu tố phức tạp (chữ dùng của Lục Văn Pảo)

được diễn xướng theo lối hát” [69; tr 213] Ở nhóm này, các tác giả đã đưa ra những

nét phác thảo chung nhất về nội dung và đặc điểm diễn xướng Tuy thế, có một điều bất hợp lí nhỏ là các tác giả đã xếp cả tục ngữ, câu đố vào nhóm loại hình trung gian Tục ngữ Tày có phương thức diễn xướng là nói, không hề có sự gắn kết với yếu tố âm nhạc Trong khi đó, một bộ phận câu đố Tày lại có cấu tạo dài thành bài, được hát

thành các bài hát đối đáp trong một cuộc hát hai vế như trong diễn xướng iếu Vì thế,

sẽ là ổn thỏa hơn và phù hợp với thực tế kho tàng DCTTSH Tày hơn nếu như các tác

giả chỉ xếp phuối pác, phuối rọi và các câu đố dài vào nhóm các thể tài trung gian

Năm 2012, trong công trình Thơ ca dân gian Tày - Nùng xứ Lạng [5], PGS

TS Nguyễn Duy Bắc đã giới thiệu về thơ ca dân gian của người Tày, Nùng ở Lạng Sơn theo hướng phân định rõ ràng Tày – Nùng, trong đó có phân loại DCTTSH của

người Tày Theo đó, người Tày có lượn và phong slư Lượn có lượn slương và lượn

cọi Ở mỗi loại lượn này lại có những thành phần nhỏ hơn Khi trình bày về lượn và phong slư, tác giả đã chỉ rõ đặc điểm nội dung phản ánh hình thức Bên cạnh đó, tác

giả còn giới thiệu dân ca nghi lễ Tày là quan lang, pả mẻ và then

Về đặc điểm của từng nhóm bài hát: Các tác giả đã nêu ra những nét chung nhất

về nội dung phản ánh, nghệ thuật lời ca… trong các bài giới thiệu về nhóm bài hát

được công bố ở phần sau đó Sớm nhất, có thể kể đến cuốn Rọi – Vốn cổ văn học dân

tộc Tày - Nùng của nhóm tác giả Trương Lạc Dương, Nông Đình Tuấn, Võ Quang

Nhơn Ở đây, các tác giả giới thiệu địa bàn lưu truyền, nội dung, nghệ thuật và sự diễn

xướng của các bài rọi được công bố trong sách này Theo đó, rọi rất phổ biến ở khu ta

và ngoài khu (khu với ý nghĩa chỉ khu tự trị Việt Bắc cũ) Nội dung của rọi chủ yếu là phản ánh tình yêu nam nữ Về diễn xướng, rọi thuộc kiểu hát đối đáp ứng khẩu song

Trang 21

có điểm nổi bật là “nói như hát, hát như nói một cách tự nhiên, không cầu kì, gò bó

thanh điệu, cấu trúc” [99; tr 7] Về nghệ thuật, rọi có những điểm nổi bật như lối tư

duy hình tượng, dùng cảnh để tả tình, dùng phụ nổi chính, dùng cách so sánh, tương phản, cường điệu, dùng cách dẫn dắt cung bậc, cấu trúc đoạn ngắn dài tùy nội dung…

Tuy thế, các đặc điểm của rọi chỉ được các tác giả phác họa sơ bộ, chưa đi sâu phân tích Đồng thời, do chỉ giới hạn địa bàn sưu tầm ở khu tự trị Việt Bắc, trong khi rọi

còn lưu truyền ở nhiều địa bàn khác nữa nên các tác giả chưa bao quát hết được các

đặc điểm của rọi nói chung của người Tày

Rọi còn được giới thiệu trở lại trong cuốn Lượn rọi – Hát đối đáp của người

Tày của các tác giả Dương Văn Sách, Dương Thị Đào năm 2016 Với công trình này,

các tác giả đề cập đến đặc điểm của lượn rọi ở Cao Bằng Lượn rọi, cùng với phuối

rọi, phuối pác (với nghĩa nói rọi) đều thuộc rọi nói chung Trong đó, “lượn rọi là câu rọi khi trao đổi có giai điệu” [128; tr 13] Về cơ bản, các đặc điểm của lượn rọi được

chỉ ra ở đây là giống với các đặc điểm mà tác giả công trình Rọi – Vốn cổ văn học dân

tộc Tày Nùng đã chỉ ra, bổ sung thêm đặc điểm về giai điệu và lề lối diễn xướng Đây

là điều đáng quý, giúp người đọc hình dung dễ hơn về hình thức hát đối đáp của mảng dân ca này trong khi ngày nay khó được chứng kiến trong thực tế

Lượn cọi được tác giả Lục Văn Pảo giới thiệu trong công trình Lượn cọi năm

1994 Tác giả Lục Văn Pảo đã căn cứ vào các bản cọi Nôm truyền thống của các vùng Tày Việt Bắc để giới thiệu Tác giả khẳng định: “…lượn cọi làm nổi lên thế giới quan

và nhân sinh quan của cả một tộc người… Về nghệ thuật, thì lượn là một thể loại văn

hóa tổng hợp liên quan đến nhiều lĩnh vực mà trước hết là ngôn ngữ, thứ đến là văn tự

và thứ nữa là hình thức ngâm vịnh gồm nhiều làn điệu bằng lời” [117; tr 13] Từ đó,

tác giả đánh giá cao lượn cọi trong đời sống văn hóa của người Tày

Năm 2010, với công trình Lượn then ở miền đông Cao Bằng, tác giả Triệu Thị

Mai đã giới thiệu đến đông đảo công chúng lượn then – một hình thức hát giao duyên

của người Tày ở các huyện Trà Lĩnh, Quảng Hòa, Trùng Khánh, Hạ Lang thuộc miền

đông Cao Bằng Theo tác giả, “lượn then nghĩa là hát những bài hát theo ý của trời,

cao siêu và đẹp đẽ, linh thiêng” [78; tr 15] Cách thức hát và nội dung các cuộc hát có được tác giả nhắc đến một cách ngắn gọn nhằm minh họa cho phần tư liệu dân ca được tác giả sưu tầm, biên soạn ở phía sau Điểm đặc biệt ở đây là tác giả đã nhìn ra sự ảnh

hưởng của văn hóa Kinh đối với sinh hoạt văn hóa dân tộc Tày khi nhận thấy lượn

Trang 22

then có sự pha lẫn nhiều từ tiếng Việt và có những lời ca được sáng tác bằng tiếng Việt

hoặc tiếng Tày theo thể thơ lục bát của người Kinh Đây là gợi ý quan trọng đối với chúng tôi trong việc lí giải các đặc điểm của DCTTSH Tày

Năm 2012 đánh dấu sự xuất hiện của các công trình công bố tư liệu dân ca

thuộc các mảng lượn slương, lượn cọi, lượn nàng ới, iếu Trong đó, các tác giả luôn

dành vài trang để giới thiệu đôi nét về những nhóm bài hát được công bố

Công trình Lượn Tày: Lượn Tày Lạng Sơn, lượn slương [108] được tạo thành

bởi sự hợp sức của nhiều tác giả Về lượn ở Lạng Sơn, các tác giả đã có giới thiệu khá chi tiết về quy trình và nội dung lượn, các giá trị văn hóa và vấn đề bảo tồn, phát huy hát lượn Tày ở Lạng Sơn Về lượn slương, tác giả Phương Bằng đã khái quát vài nét

về lượn slương ở các khía cạnh: hình thức, sự phân bố, đặc trưng hát xướng, đối tượng

tham gia, trình tự cuộc hát, nội dung Với tính chất một công trình công bố các văn bản

dân ca Tày là chủ yếu, phần giới thuyết về lượn Tày Lạng Sơn, lượn slương của các

tác giả mang tính chất tả hơn là khảo song lại cung cấp những chỉ dẫn quý báu với chúng tôi khi tìm hiểu về DCTTSH Tày

Nhà nghiên cứu Phương Bằng trong cuốn Phong Slư đã giới thiệu 40 bài phong

slư – những bức thư tình yêu của trai gái Tày Tác giả nhận thấy điểm đặc biệt của thư

tình yêu Tày là “được nâng lên thành một thể loại, có kết cấu và có quy cách biểu đạt riêng,… có cách ngâm vịnh riêng biệt” [6; tr 11] và có đặc điểm nội dung nổi bật là yếu tố bi và yếu tố hư mang theo tính tao nhã, thanh cao

Mở đầu cuốn Iếu – dân ca dân tộc Tày [22], các tác giả đã giới thiệu về một

hình thức hát đối đáp giao duyên của người Tày là iếu Làn điệu này chưa được quan tâm sưu tầm và đang có nguy cơ mất mát vĩnh viễn Iếu lưu truyền chủ yếu ở phía tây tỉnh Hà Giang và phía đông tỉnh Yên Bái Đặc biệt, các tác giả nhận thấy iếu có một số điểm gần gũi với khắp của người Thái ở Tây Bắc và có những đặc điểm riêng so với

các nhóm bài hát khác của người Tày như về nội dung, trình tự cuộc hát, cách thức tổ

chức, luật tục liên quan đến iếu Những phát hiện này là rất quan trọng với chúng tôi

trong việc tìm hiểu những điểm tương đồng trong DCTTSH Tày, Thái

Về đặc điểm chung cho toàn bộ DCTTSH Tày hoặc vốn DCTTTSH Tày ở một

địa phương: Công trình Văn hóa dân gian Cao Bằng xuất bản năm 1993 [102] có

nhiều bài viết về DCTTSH của người Tày ở Cao Bằng Tác giả Vương Hùng có bài

viết Sli lượn Tày Nùng ở Cao Bằng đã chỉ ra đặc điểm phân bố, giai điệu, cấu trúc,

Trang 23

môi trường diễn xướng và tình hình diễn xướng sli lượn Tày Nùng trong cuộc sống

hiện tại ở Cao Bằng Trong bài viết Vài nét về ca nhạc dân gian Tày Cao Bằng, nhạc

sĩ Vĩnh Long quan tâm nhiều đến những nét chung về sinh hoạt âm nhạc qua khảo sát

các mảng dân ca Tày như lượn, phong slư, thơ lẩu, ứ noọng, hát then, phường ca… Từ

đó, nhạc sĩ đi đến khẳng định về sự phong phú và độc đáo, mang màu sắc địa phương của dân ca Tày xét về mặt âm nhạc

Với công trình Sli lượn hát đôi của người Tày Nùng ở Cao Bằng [92], tác giả

Hoàng Thị Quỳnh Nha có nhắc tới bốn điệu dân ca của người Tày, Nùng: lượn Ngạn,

lượn phủ, sli giang, hêu phượn Trong đó, chúng tôi chú ý tới lượn Ngạn là dân ca của

một nhóm Tày địa phương Lượn Ngạn được tác giả giới thiệu vắn tắt ở các khía cạnh:

thể thơ, nội dung phản ánh và đặc điểm âm nhạc

Trong cuốn Văn hóa dân gian Tày - Nùng ở Việt Nam, tác giả Hà Đình Thành

có dành ra một phần nhỏ để giới thiệu khái quát về nội dung và nghệ thuật của ca dao Tày Nùng Ca dao bao gồm các nội dung về thiên nhiên hùng vĩ, về tình yêu nam nữ, với các cách biểu hiện thú vị như cấu tứ theo lối phú, tỉ, hứng, nghệ thuật sử dụng các biện pháp tu từ Bên cạnh đó, tác giả điểm qua những hạn chế của ca dao Tày Nùng như “mang tư tưởng của giai cấp thống trị, hoặc mang tư tưởng mê tín dị đoan về số phận” [140; tr 154] Với tính chất là một phần giới thiệu để minh họa cho văn hóa dân gian Tày Nùng ở Việt Nam, những luận điểm tác giả đưa ra còn khá mờ nhạt, chưa khảo tả hết được sự phong phú, giàu có của ca dao Tày Nùng

Trong cuốn Thành ngữ - tục ngữ - ca dao dân tộc Tày [127], tác giả Hoàng

Triều Ân đã giới thuyết về phuối rọi và lượn Nhắc đến lượn có thể kể lượn nàng ới ở Cao Bằng, lượn cọi ở Bắc Kạn, Tuyên Quang, lượn slương ở Cao Bằng, Bắc Kạn,

Lạng Sơn với các cách gieo vần khác nhau Hoàng Triều Ân đặc biệt đi sâu vào tìm hiểu nội dung phản ánh của ca dao Tày như: tâm tư, nguyện vọng, tình cảm một thời của dân tộc; hiện thực xã hội bất công và ý thức dân chủ của người Tày; phản ánh nỗi niềm trăn trở với đời; tình yêu con người

Như thế, sự nghiên cứu ở các công trình trên mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu khái quát về DCTTSH Tày theo mục đích sưu tầm, biên soạn và phổ biến văn hóa, văn nghệ dân gian DCTTSH Tày được giới thiệu ở các phương diện: tên gọi, sự phong phú của các nhóm bài hát và đi vào giới thiệu khái quát về các đặc điểm của một nhóm bài hát nào đấy, hoặc ở một địa phương cụ thể, hoặc chung cho cả kho tàng DCTTSH

Trang 24

Tày Bởi thế, những sự nghiên cứu ở các công trình này chỉ gói gọn trong vài trang mở đầu, dẫn luận, còn phần sau là kết quả sưu tầm, biên dịch dân ca nhằm chứng minh cho những nhận định chung nhất của phần dẫn luận Sự nghiên cứu chuyên sâu dù là

về một bộ phận của DCTTSH Tày là chưa có ở những công trình này

Thứ hai là nhóm các nghiên cứu sâu hơn về một vấn đề hoặc một bộ phận cụ thể của DCTTSH Tày trong các chuyên khảo, luận văn Trong đó, công trình đầu tiên

phải kể đến là Sli, lượn dân ca trữ tình Tày Nùng của Vi Hồng xuất bản năm 1979

[52] Ở đây, tác giả coi lượn là toàn bộ các hình thức dân ca của người Tày, phân biệt

lượn với sli của người Nùng Đây là cách hiểu theo nghĩa rộng, với cách dịch lượn

nghĩa là hát Theo đó, dân ca Tày sẽ có lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới,

lượn phong slư, lượn quan lang… Tuy nhiên, ông chỉ tập trung nghiên cứu lượn giao

duyên với nhiều khía cạnh như: đề tài, nội dung phản ánh, ý nghĩa của lượn, mối quan

hệ giữa lượn với thơ Tày hiện đại Hoàn cảnh diễn xướng của lượn ngày hội, lượn

trong nhà có được tác giả nhắc đến song chưa được phân tích kĩ càng Vi Hồng cũng

giới thiệu qua về lượn quan lang nhưng để ở mục phụ lục tư liệu Sự khảo sát như vậy chưa củng cố được sự vững chắc cho quan điểm coi lượn là toàn bộ dân ca Tày của Vi

Hồng Tuy thế, đây vẫn là công trình nghiên cứu công phu, dày dặn nhất về DCTTSH của người Tày Những nhận định của nhà nghiên cứu Vi Hồng đem tới cho chúng tôi những gợi ý hữu ích cho việc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của DCTTSH Tày

Cũng là chuyên khảo nghiên cứu về dân ca, nhưng tác giả Nông Thị Nhình của

chuyên luận Âm nhạc dân gian các dân tộc Tày – Nùng – Dao Lạng Sơn [97] lại

hướng sự quan tâm tới khía cạnh âm nhạc Bên cạnh âm nhạc của các dân tộc Nùng, Dao, tác giả Nông Thị Nhình đã nghiên cứu về dân ca Tày ở Lạng Sơn trên những phương diện như: các hình thức sinh hoạt âm nhạc dân gian, các làn điệu, giai điệu, quan hệ giữa giai điệu và thơ ca, các nhạc cụ dân gian và dàn nhạc

Bên cạnh các công trình chuyên khảo như trên là sự xuất hiện của hàng loạt các

luận văn Chẳng hạn, trong luận văn Yếu tố tự sự trong dân ca Tày [164], tác giả Vũ

Ánh Tuyết đã chỉ ra các dạng thức biểu hiện của yếu tố tự sự là những bài ca có cốt truyện và những bài ca không có cốt truyện Từ đó, tác giả nêu lên vai trò phản ánh

hiện thực và kể sự tả tình của yếu tố tự sự trong DCTTSH Tày Với luận văn Khảo sát

ý nghĩa hình ảnh trong ca dao – dân ca Tày Nùng [84], Đỗ Vân Nga đã phân tích

các hình ảnh nổi bật của ca dao – dân ca Tày Nùng như các hình ảnh thiên nhiên, vũ

Trang 25

trụ, các hình ảnh về vật dụng sinh hoạt, các hình ảnh liên quan đến con người Tác giả cũng phần nào làm rõ được mối liên quan giữa các hình ảnh đó của ca dao – dân ca với đời sống sinh hoạt, phong tục, tín ngưỡng của cư dân Tày – Nùng Năm 2016, với

việc công bố kết quả nghiên cứu của luận văn Nhân vật trữ tình trong cắm nôm – dân

ca dân gian Tày huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái [85], Nguyễn Thị Bích Ngọc đã phân

tích các hệ thống nhân vật nữ, nhân vật nam, nhân vật biểu tượng, đồng thời làm rõ

nghệ thuật xây dựng nhân vật trữ tình trong cắm nôm

Tìm hiểu về một thể loại DCTTSH Tày ở một địa phương cụ thể, năm 2009, Hoàng Minh Nguyệt giới thiệu và nghiên cứu về một làn điệu độc đáo của DCTTSH

Tày là iếu – một hình thức mang tính địa phương của lượn cọi – thông qua luận văn

Hát iếu của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang – Những đặc điểm nội dung và nghệ thuật [91]; năm 2011, Lê Thị Phương Thảo thực hiện luận văn với đề tài Hát lượn slương của người Tày (Qua khảo sát ở xã Yên Cư, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn) [141] Đóng góp của hai công trình là ở chỗ chỉ ra được những đặc điểm nội

dung, thi pháp của hai mảng dân ca này, nhưng lại hạn chế ở chỗ chưa chỉ ra được cái hay và tính đặc thù dân tộc của âm nhạc và diễn xướng

Như vậy, dù đã nghiên cứu sâu hơn nhưng do tính chất cụ thể, nhỏ lẻ của đối tượng nghiên cứu, các luận văn kể trên vẫn chưa thể nhận thức được DCTTSH Tày trong tính chỉnh thể, tính hệ thống của nó, do đó, chưa làm rõ được đầy đủ các đặc điểm của mảng dân ca này Tuy thế, đây lại là những chỉ dẫn quý báu đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án này

Qua điểm lại tình hình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu DCTTSH Tày một cách có hệ thống Do tính chất là những công trình công bố tư liệu dân ca nên hầu hết sự nghiên cứu ở các bài giới thiệu mới dừng lại ở mức độ chỉ dẫn sơ bộ, chung chung trong một vài trang Các luận văn tuy nghiên cứu công phu hơn song cũng mới dừng sự quan tâm ở một vài mảng DCTTSH Tày

như lượn slương, iếu, cắm nôm với địa bàn nghiên cứu cụ thể là một địa phương nào

đấy, hoặc nghiên cứu về một khía cạnh cụ thể của DCTTSH Tày như hình ảnh, yếu tố

tự sự… Công trình khảo tả dân ca để nghiên cứu âm nhạc tuy nghiên cứu về âm nhạc dân gian Tày khá chuyên sâu song vẫn chỉ là một công trình phục vụ cho một chuyên ngành khác, nên các yếu tố như nội dung, thi pháp, đặc điểm diễn xướng bị bỏ qua

Trang 26

Công trình nghiên cứu chuyên sâu nhất là của tác giả Vi Hồng lại chủ yếu tập trung

vào lượn giao duyên và chưa làm rõ được sự đặc sắc về phương diện diễn xướng

1.1.2 Tình hình sưu tầm, nghiên cứu dân ca trữ tình sinh hoạt của người Thái

1.1.2.1 Tình hình sưu tầm dân ca trữ tình sinh hoạt của người Thái

Trong lịch sử sưu tầm, công bố tư liệu dân ca các DTTS, dân ca của người Thái được sưu tầm sớm thứ tư, sau dân ca của các dân tộc Tày, H’Mông và Mường Người Thái cư trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc và vùng núi Thanh Hóa, Nghệ An Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ quan tâm đến lịch sử sưu tầm DCTTSH của người Thái ở Tây Bắc và phân các công trình này sưu tầm này ra làm hai nhóm

Thứ nhất là nhóm các công trình công bố tư liệu DCTTSH Thái dưới hình thức

tiếng Việt Công trình đầu tiên phải kể đến là cuốn Ẳm ệt luông, trường ca dân ca tục

ngữ dân tộc Thái huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình của Khà Văn Tiến năm 1972

[135] Trong cuốn sách này, tác giả đã giới thiệu đến bạn đọc nhiều bài hát giao duyên,

hát chơi và hát phong tục ở hình thức đã dịch ra tiếng Việt Năm 1979, cuốn Dân ca

Thái (Hai trăm lẻ sáu bài dân ca Thái về tình yêu) [119] của Mạc Phi được xuất bản

Tác giả giới thiệu các bài dân ca theo trình tự của một cuộc hát đối đáp Theo đó, cuốn sách có các phần là: gặp gỡ, ướm hỏi, yêu, thương dặn 206 bài dân ca được giới thiệu

dưới hình thức tiếng Việt, không có phần phiên âm tiếng Thái Năm 1991, cuốn Dân

ca Thái Mai Châu [150] do Nguyễn Hữu Thức chủ biên được xuất bản đã giới thiệu

các bộ phận của dân ca Thái ở Mai châu, bao gồm mo (các bài hát dùng trong cúng bái), khắp (các bài hát giao duyên), pháng (các bài hát ngẫu hứng), sằng (các bài hát dặn), xềnh (các bài hát ngợi ca), sườn (các bài hát kể) Tương tự như ở các công trình

sưu tầm dân ca Thái xuất bản trước, các bài dân ca Thái được giới thiệu ở đây chỉ có bản được dịch ra tiếng Việt, không có bản phiên âm tiếng Thái

Thứ hai là nhóm các công trình công bố tư liệu DCTTSH Thái dưới hình thức song ngữ Thái – Việt Công trình đầu tiên công bố tư liệu DCTTSH Thái dưới dạng

song ngữ Thái – Việt là Dân ca Thái vùng Tây Bắc – Việt Nam [50] của Nguyễn Văn

Hòa, xuất bản năm 2001, muộn hơn khá nhiều so với công trình công bố tư liệu DCTTSH Tày dưới dạng song ngữ Tày – Việt (năm 1970) Trong công trình này, tác giả Nguyễn Văn Hòa đã giới thiệu 52 bài hát trong các trường hợp diễn xướng khác

nhau như: Khắp mú lẳu pan khẳu (Hát ở mâm cơm, mâm rượu), khắp báo xao (hát thương yêu), khắp xư (hát thơ), khắp khơ nay chơi (hát rong chơi), khắp tặc tuộng (hát

Trang 27

chào hỏi), khắp xe (hát múa xòe), khắp xáng buôn (hát giải sầu), khắp cóm lụk (hát ru con), khắp khí chọn cha (hát đánh đu), khắp hạn khuống (hát ở sàn chơi)

Năm 2012, cuốn sách Khắp sứ lam của người Thái đen xã Noong Luống,

huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên [49] của Tòng Văn Hân được xuất bản Tuy đây là

cuốn sách có tính chất giới thiệu các bài khắp sứ lam – mảng dân ca được dùng để hát

trong đám cưới của người Thái ở Điện Biên, song tác giả cũng giới thiệu bốn bài hát đối đáp giao duyên giữa nam và nữ dưới hình thức song ngữ

Hai tác giả Đỗ Thị Tấc, Hà Mạnh Phong là những người dày công sưu tầm và

đã giới thiệu tới bạn đọc một số lượng lớn các tác phẩm DCTTSH Thái Năm 2012,

Đỗ Thị Tấc công bố tư liệu DCTTSH Thái bao gồm 47 bài trong cuốn Dân ca Thái

Lai Châu, Quyển 1 – Chiêng xoong mố bók (Mùa xuân mùa hoa) [134] Hai năm

tiếp theo, DCTTSH Thái Đỗ Thị Tấc lại cùng Hà Mạnh Phong tiếp tục công bố 190

bài DCTTSH Thái trong công trình Dân ca Thái Lai Châu, Quyển 2 - Thơ và dân ca

tình yêu của người Thái Mường So [121] Các bài dân ca được giới thiệu dưới cả ba

hình thức: chữ Thái cổ, bản phiên âm tiếng Thái và bản dịch nghĩa ra tiếng Việt Đây

là điều hết sức đáng quý Tuy nhiên, các tác giả lại không ghi rõ nguồn gốc của tư liệu được công bố, bao gồm tên sách hoặc tên nghệ nhân, địa chỉ

Tư liệu DCTTSH Thái đã được quan tâm sưu tầm, giới thiệu dưới dạng song ngữ Tuy thế, thực tế số lượng văn bản được công bố dưới dạng song ngữ chưa thực sự

tương xứng với sự phong phú của kho tàng dân ca này Bên cạnh đó, trừ các bài khắp

hạn khuống trong công trình của tác giả Nguyễn Văn Hòa, sự sắp xếp các bài dân ca

còn chưa theo một trật tự nào, gây khó khăn cho người đọc khi hình dung về một trình

tự diễn xướng hoặc về các nhóm bài hát của DCTTSH của người Thái ở Tây Bắc

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu dân ca trữ tình sinh hoạt của người Thái

Năm 1992, trong bài viết Quan điểm về phương pháp khái quát diện mạo và

tiến trình văn học Thái, Phan Đăng Nhật đã nhận xét: “Từ trước đến nay, chưa có một

công trình khái quát về diện mạo và tiến trình văn học Thái, bao gồm cả VHDG và văn học thành văn” [94; tr 28] Sau bài viết của Phan Đăng Nhật đến nay vẫn chưa có một công trình chuyên biệt nào về văn học Thái nói chung, DCTTSH Thái nói riêng Qua xem xét các công trình nghiên cứu về DCTTSH Thái, chúng tôi thấy có thể phân kết quả nghiên cứu làm hai dạng, tương tự như thành tựu nghiên cứu về DCTTSH Tày

Trang 28

Thứ nhất là nhóm các chỉ dẫn sơ bộ, khái quát trong các bài giới thiệu ở đầu sác sách công bố tư liệu DCTTSH Thái và các bài viết trên tạp chí

Về đặc điểm của lời ca trong DCTTSH Thái, cuốn Dân ca Thái (Hai trăm lẻ

sáu bài dân ca Thái về tình yêu) của Mạc Phi xuất bản năm 1979 [119] có lẽ là công

trình thuộc loại sớm nhất đề cập đến Trong đó, tác giả Mạc Phi đã dành vài trang đầu sách để giới thiệu về bộ phận dân ca này Về nội dung, Mạc Phi nhận thấy dân ca Thái

về tình yêu có nhiều đắm say, lại cũng nhiều cười cợt, khinh ghét những bất công, và sâu sắc nhất là những lời khuyên nhủ hữu ích Đáng tiếc, những nội dung đặc sắc đó

của Tản chụ xiết xương, Tản chụ xống xương, Tản chụ xắng xương (trò chuyện với

người bạn tình theo cách bóng gió/ thương yêu/ thương xót) mới chỉ được tác giả giới thiệu sơ qua, chưa nói gì đến những giá trị nghệ thuật của loại dân ca đặc sắc này

Về đặc điểm của diễn xướng DCTTSH Thái, bài viết Hạn Khuống, một hình

thức hội diễn ca nhạc cổ truyền của đông bào Thái Tây Bắc của Trần Lê Văn [172]

đã giới thiệu về lễ hội Hạn khuống của người Thái, qua đó cung cấp cho người đọc cái nhìn rõ nét hơn về môi trường diễn xướng của một điệu hát cụ thể của DCTTSH Thái

là khắp hạn khuống

Nghiên cứu về dân ca Thái ở một địa phương cụ thể, các tác giả Hà Mạnh

Phong, Đỗ Thị Tấc giới hạn địa bàn nghiên cứu ở Lai Châu Công trình Dân ca Thái

Lai Châu gồm có hai quyển: Quyển 1 - Chiêng xoong mố bók (Mùa xuân mùa hoa)

[134], Quyển 2 - Thơ và dân ca tình yêu của người Thái Mường So [121] Ở quyển

2, các tác giả có bài giới thiệu về khắp hặc xơng – một làn điệu dân ca tình yêu của

người Thái ở Lai Châu trên các khía cạnh: làn điệu, nội dung, nhạc cụ, môi trường diễn xướng Đáng tiếc, những gợi ý ấy quá ngắn gọn, rất khó để người đọc có thể hình dung được hết những cái độc đáo của bộ phận dân ca này

Các công trình trên đã bước đầu đề cập đến những đặc điểm nội dung, thi pháp,

sự diễn xướng của DCTTSH Thái Tuy thế, do chỉ giới hạn trong khuôn khổ ngắn gọn của một bài báo, hoặc một bài giới thiệu, bài dẫn luận ở đầu cuốn sách sưu tầm, biên dịch, công bố tư liệu dân ca nên những nghiên cứu đó chỉ dừng lại ở sự trình bày, mô

tả mang tính ấn tượng ban đầu về mảng DCTTSH đang được giới thiệu Sự thiếu sâu sắc, toàn diện vì thế là không tránh khỏi

Thứ hai, nhóm các nghiên cứu sâu hơn về một vấn đề của DCTTSH Thái trong chuyên khảo, luận văn, luận án gồm có:

Trang 29

Công trình Ngôn ngữ với việc hình thành âm điệu đặc trưng trong dân ca

Thái của tác giả Dương Đình Minh Sơn [130] đã nghiên cứu về dân ca Thái Tây Bắc ở

các nội dung: hát thơ và các dạng hát thơ, âm điệu c a x làm nét dạo đầy láy đuôi trong các làn điệu dân ca, những làn điệu “lòng bản” trong dân ca, nhận xét tính chất của các

làn điệu, sự ra đời của tên gọi làn điệu khắp xai peng, điệu nhạc múa cúng mường

Đây là một trong những cơ sở quan trọng để tác giả đi đến kết luận về mối liên hệ giữa ngôn ngữ với việc hình thành những âm điệu đặc trưng trong âm nhạc dân gian Thái ở Tây Bắc Việt Nam Nhìn chung, trong chuyên khảo công phu này, nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn chủ yếu quan tâm đến khía cạnh âm nhạc chứ chưa chú ý đến các yếu

tố văn bản và phương thức diễn xướng của dân ca Thái

Luận văn Giải mã một số biểu tượng trong ca dao – dân ca dân tộc Thái [122]

của tác giả Cầm Bá Phượng đã phân loại biểu tượng, đồng thời giải mã ý nghĩa các

biểu tượng của dân ca Thái như: hạn khuống, sợi chỉ, chim cu gáy, còn, Khun Lú –

Nàng Ủa, rượu cần, khăn piêu Cũng về vấn đề biểu tượng, năm 2012, tác giả Đặng

Thị Oanh công bố kết quả luận án Biểu tượng nước từ văn hóa đến văn học dân gian

của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam [113] Ở luận án này, tác giả đã tìm hiểu về

VHDG Thái, trong đó có DCTTSH từ việc tiếp cận biểu tượng nước Với việc khẳng định nguồn gốc và quá trình chuyển nghĩa của biểu tượng nước từ trong văn hóa vào VHDG, tác giả cho thấy nước trong DCTTSH mang sức mạnh của sự hủy diệt, sự thử thách, là chất kết nối tình cảm, thiết lập và cố kết cộng đồng Thái Như thế, cả hai công trình này đều chỉ nghiên cứu về một vấn đề thuộc thi pháp của dân ca Thái

Từ việc tìm hiểu các công trình như trên, chúng tôi nhận thấy DCTTSH Thái đã được quan tâm nghiên cứu chuyên sâu ở một vài vấn đề cụ thể như biểu tượng, âm nhạc Sự nghiên cứu để chỉ ra được diện mạo, đặc điểm của bộ phận dân ca này là có song mới dừng ở mức độ khái quát, mang tính giới thiệu Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về DCTTSH Thái còn khá thưa thớt, thiếu vắng những công trình chuyên sâu, nghiên cứu một cách có hệ thống

1.1.2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về dân ca trữ tình sinh hoạt của người Tày và người Thái theo hướng so sánh

Chúng tôi chưa thấy một công trình nào so sánh công phu về sự giống và khác nhau giữa DCTTSH của dân tộc Tày và dân tộc Thái Sự so sánh mới chỉ được điểm đến trong những nhận định khá chung chung mà chưa đi sâu vào phân tích thỏa đáng

Trang 30

Đầu tiên, phải kể đến nhận định của Lê Chí Quế trong bài viết Việc phân loại

dân ca các dân tộc ở miền Bắc nước ta in trong tạp chí Văn học, số 6, năm 1975, in

lại trong Tổng tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt nam, tập 23 Trên cơ

sở đưa ra bảng hệ thống dân ca các DTTS, nhìn vào sự phân bố không đồng đều giữa các ô của từng bộ phận, ông cho rằng dân ca lao động và dân ca nghi lễ của người Việt

và các DTTS có nhiều điểm khác hơn là giống Ngược lại, ở DCTTSH, đặc biệt là dân

ca đối đáp giao duyên nam nữ của các dân tộc này sự tương đồng nhiều hơn dị biệt bởi

nó “là tiếng lòng của con người trước những mối quan hệ tác động trực tiếp đến đời sống tình cảm của chính họ… Những con người tuy ở các dân tộc khác nhau mà lại trong cùng một quốc gia thì chắc chắn là dễ tìm gặp nhau hơn” [178; tr 850] Nhận định này của ông bao hàm sự tương đồng của DCTTSH Tày, Thái

Trong chuyên khảo Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam, với

gần 150 trang nghiên cứu về dân ca các DTTS, Võ Quang Nhơn đã dành một phần nhỏ cho sự quan tâm đến sắc thái dân ca của các dân tộc Tác giả viết: “Trong sự thống nhất của các truyền thống nghệ thuật, dân ca mang tính cộng đồng khá sâu bền, nảy nở nhiều phong cách sáng tạo thông minh, mang nhiều âm điệu phong phú ở các dân tộc,

ở các miền của đất nước: sắc thái hồn nhiên, vui tươi của các dân tộc Tây Nguyên, âm điệu trữ tình sâu lắng của các dân tộc ở Tây Bắc, cấu tứ ít nhiều thiên về chất trí tuệ của các dân tộc ở Việt Bắc, phong cách trữ tình thâm trầm ít nhiều pha màu sắc đạo đức, tôn giáo của các dân tộc Chăm và Khơ Me ở miền Nam” [109; tr 343] Với nhận xét này, tác giả đề cập đến sự khác nhau về phong cách dân ca Việt Bắc và Tây Bắc, trong đó có dân tộc Tày và Thái Tuy nhiên, nhận định so sánh này mới ở mức độ điểm qua và mang màu sắc vùng miền nói chung mà thôi

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Huế trong công trình Những xu hướng biến đổi

văn hóa các dân tộc miền núi phía bắc Việt Nam, khi phân tích một số hình thức sinh

hoạt dân ca đã đi đến nhận định về sự khác nhau của dân ca Tày, Thái Theo đó, dân

ca Thái đậm chất trữ tình, dân ca Tày có chút thiên về lý trí, thể hiện ở loạt các bài hát

có tính chất đua tài, thử trí khá phổ biến Đồng thời, ở tầm chung cho dân ca các DTTS miền núi phía bắc, tác giả cũng cho rằng dân ca giao duyên có tổ chức tương đồng ở

sự chặt chẽ của lề lối, quy củ và khác nhau ở địa điểm diễn xướng, tổ chức lực lượng (hát thành đoàn hoặc không), trình tự hát và cấu tạo thành phần bài ca trong trình tự ấy [53; tr 265 – 290] Sự phân tích của tác giả chủ yếu ở sự diễn xướng chứ chưa đi sâu

Trang 31

vào nội dung phản ánh và thi pháp lời ca Song, chỉ xét riêng ở góc độ so sánh diễn xướng thôi thì đây đã là những gợi ý quan trọng định hướng cho chúng tôi trong khi so sánh DCTTSH Tày, Thái

Trong công trình về âm nhạc dân gian của các DTTS Đặc điểm dân ca Mông

Tày Nùng Thái [37], Tuấn Giang đã nghiên cứu dân ca Mông Tày, Nùng, Thái trên

các phương diện: khái niệm phong cách dân ca các dân tộc, không gian xã hội các loại dân ca, sự ra đời dân ca các dân tộc, hệ thống làn điệu dân ca, quy luật phát triển giai điệu loại thể dân ca, quan hệ nhạc và lời dân ca, cấu trúc giai điệu các tiểu loại dân ca, nhận diện hình tượng, giai điệu âm nhạc, đặc điểm của dân ca các dân tộc Với công trình này, tác giả đã có đóng góp nhằm phân loại dân ca, cấu trúc thang âm giai điệu

hệ hình dân ca, nhận diện phong cách, đặc điểm dân ca từng dân tộc Ở góc độ tìm hiểu về DCTTSH Tày, Thái, chúng tôi chú ý đến chương 3 của công trình với nội dung về sự ra đời dân ca các dân tộc Ở đây, tác giả có giới thiệu về nội dung, giá trị nghệ thuật và đặc điểm lời ca của hát ru, đồng dao, tiếng hát giao duyên, tiếng hát lao động Tác giả chỉ ra sự tương đồng về mặt nội dung của dân ca các dân tộc là phản ánh hiện thực đời sống xã hội Tuy nhiên, ông không chỉ rõ sự khác nhau về nội dung, nghệ thuật lời ca, sự diễn xướng của dân ca các dân tộc Nhìn chung, vì đây là một chuyên luận về so sánh âm nhạc dân gian nên các đặc điểm của dân ca Tày, Thái không được ông đi sâu tìm hiểu và chưa có sự so sánh rõ ràng

Trên cơ sở điểm lại tình hình nghiên cứu như trên, chúng tôi nhận thấy, cho đến thời điểm này, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, một chuyên luận nào xem xét, nghiên cứu về DCTTSH của các dân tộc Tày, Thái dưới góc độ so sánh một cách toàn diện Đây vẫn còn là một khoảng trống để ngỏ Trong khi, trên thực tế, vấn

đề này lại rất có ý nghĩa đối với việc làm rõ những đặc sắc văn hóa của dân tộc

1.2 Luận án, sự kế thừa và phát triển

Người Tày và người Thái có vị trí quan trọng trong tiến trình lịch sử và văn hóa Việt Nam Hai tộc người đều nắm giữ vai trò chủ thể văn hóa vùng và có đời sống văn hóa vô cùng đặc sắc, đóng góp những mảng màu không thể thiếu trong bức tranh văn hóa Việt Nam Bởi thế, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu về DCTTSH của hai dân tộc này trên nhiều phương diện, với nhiều hướng tiếp cận khác nhau: thi pháp học, văn hóa học, âm nhạc… Tuy thế, đến nay vẫn chưa có một tiếng nói cuối cùng nào về tính riêng, đặc thù của hai dân tộc được thể hiện qua DCTTSH

Trang 32

Nhận thức được tầm quan trọng và cần thiết của việc so sánh DCTTSH Tày,

Thái, chúng tôi chọn vấn đề So sánh dân ca trữ tình sinh hoạt của người Tày và người

Thái ở Việt Nam làm đề tài cho luận án của mình Luận án của chúng tôi đặt vấn đề so

sánh những điểm giống và khác nhau giữa DCTTSH của dân tộc Tày và Thái ở Việt Nam, với sự kết hợp các phương pháp điền dã, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp liên ngành Đây là nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên theo hướng so sánh DCTTSH của hai DTTS ở Việt Nam là dân tộc Tày và dân tộc Thái

Nghiên cứu về DCTTSH, rộng hơn là văn hóa của DTTS, là công việc vô cùng khó khăn, vừa đòi hỏi phương pháp và tri thức nền tảng, vừa đòi hỏi sự am hiểu văn hóa dân tộc, lại phải căn cứ trên nguồn tư liệu dân ca mang tính tin cậy Từ việc điểm lại tình hình nghiên cứu như trên, chúng ta thấy tham gia vào công việc đó có các đại diện của giới trí thức Tày, Thái và các đại diện của người Kinh ở miền xuôi Nếu như các đại diện Tày, Thái có điều kiện trưởng thành trong suối nguồn văn hóa dân tộc, cắm rễ sâu ở địa bàn thì các đại diện người Kinh lại có điều kiện về nghiệp vụ và phương pháp Các kết quả nghiên cứu về dân ca Tày, Thái là sự tổng hợp công sức của nhiều người, nhiều thế hệ, nhiều thành phần dân tộc trong khoảng thời gian nửa thế kỉ Những thành tựu đó là những chỉ dẫn hết sức quý báu đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án Song, để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi rất cần đến sự thống nhất của nguồn tư liệu làm đối tượng cho sự khảo sát

Từ việc điểm lại tình hình sưu tầm DCTTSH của người Tày và người Thái như

ở phần trước, chúng tôi nhận thấy có những điểm đáng lưu ý như sau:

Thứ nhất, xét về mặt thời gian: Theo lí thuyết, dân ca của hai tộc người vừa nêu

ra đời rất sớm Song, việc ghi chép lại dân ca Tày mới chỉ diễn ra sớm nhất vào những năm ba mươi của thế kỉ XX với Nguyễn Văn Huyên Trong công trình nổi tiếng của mình, Nguyễn Văn Huyên lại dịch thơ ca dân gian Tày ra tiếng Pháp chứ không dịch

ra tiếng Việt Những bản dịch dân ca Tày ra tiếng Việt sớm nhất ở miền Bắc là vào những năm sáu mươi Công trình công bố tư liệu DCTTSH Tày theo hình thức song

ngữ Tày – Việt sớm nhất là Rọi – Vốn cổ văn học dân tộc Tày - Nùng của nhóm tác

giả sưu tầm, biên dịch Trương Lạc Dương, Nông Đình Tuấn, Trần Vĩnh, Võ Quang Nhơn vào năm 1970 Công trình công bố tư liệu DCTTSH Thái sớm nhất theo hình

thức song ngữ Thái – Việt là Truyện cổ, dân ca Thái vùng Tây Bắc Việt Nam của

Nguyễn Văn Hòa vào năm 2001 Ngôn ngữ và văn hóa luôn biến đổi Những văn bản

Trang 33

dân ca hiện chúng ta đang quan sát có lịch sử vài trăm năm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Cho nên, chúng tôi không đặt nhiệm vụ so sánh về nguồn gốc và quá trình phát triển của DCTTSH của hai dân tộc Tày, Thái, ảnh hưởng của DCTTSH Tày lên DCTTSH Thái hay ngược lại Chúng tôi chỉ xin khảo sát, tìm hiểu về nội dung, thi pháp, đặc điểm diễn xướng, lấy đó làm cơ sở cho sự phân tích các điểm tương đồng và khác biệt giữa hai bộ phận dân ca của hai dân tộc, chỉ ra nội hàm văn hóa, lịch sử, địa lí… được bao chứa trong các đặc điểm đó Từ đó, chúng tôi cung cấp cho mọi người cái nhìn rõ hơn về cái phổ biến và cái đặc thù trong văn hóa các dân tộc

Thứ hai, xét về mặt phân loại: Trong các cuốn sách công bố tư liệu DCTTSH Tày, Thái, các tác giả phân loại dân ca theo những cách khác nhau Chẳng hạn, ở DCTTSH của người Tày, nhiều công trình đã giới thiệu về từng mảng dân ca được sưu

tầm và ghi rõ tên gọi như lượn cọi, lượn slương, lượn nàng ới, lượn rọi, iếu…, hoặc

phân loại dựa vào nội dung của bài hát xét trong toàn bộ quá trình diễn xướng như

cách làm của PGS TS Trần Thị An trong cuốn Tổng tập văn học dân gian các dân

tộc thiểu số Việt Nam, tập 17 [177], tập 18 [175], tập 19 [176] Song, bên cạnh đó, có

những công trình lại không hề ghi rõ những bài hát được giới thiệu đó thuộc mảng

nào, theo quan điểm phân loại nào Có thể kể đến như: Thơ ca dân gian Tày – Nùng

xứ Lạng [5], Chồm bjoóc mạ [14], phần lượn Tày Lạng Sơn trong công trình Lượn Tày: Lượn Tày Lạng Sơn, lượn slương [108], Thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân tộc Tày [127], Tàng pây kết chụ - Đường đi kết bạn tình [128], Tục ngữ, ca dao Tày vùng hồ Ba Bể [192] Tình trạng ấy tương tự ở các cuốn sách công bố tư liệu

DCTTSH của người Thái Chỉ duy nhất trong công trình Truyện cổ và dân ca Thái

vùng Tây Bắc Việt Nam [50], tác giả Nguyễn Văn Hòa có ghi rõ các bài hát thuộc các

mảng có tên gọi khắp hạn khuống, khắp khí chọn cha, khắp khơ nay chơi

Thứ ba, về nguồn gốc dân tộc của tác phẩm: Khi tập hợp các bài hát dân gian vào các tập sách giới thiệu tư liệu DCTTSH của người Tày, có trường hợp những bài hát không phải chỉ của riêng người Tày mà còn được sử dụng trong cộng đồng người

Nùng Vì thế mới có tên gọi của các cuốn sách: Rọi – Vốn cổ văn học dân tộc Tày –

Nùng, Lượn cọi Tày – Nùng, Thơ ca dân gian Tày – Nùng xứ Lạng, Sli lượn hát đôi của người Tày Nùng ở Cao Bằng Thực tế sự hỗn hợp về mặt nhân chủng giữa

người Tày và người Nùng, dẫn đến hiện tượng Nùng hóa Tày và điều kiện xen cư trên cùng một vùng lãnh thổ của hai tộc người này khiến cho họ có sự giao lưu văn hóa khá

Trang 34

mạnh mẽ mà hệ quả của nó là làm cho kho tàng VHDG của người Tày phong phú hơn, song cũng vì thế mà khó khăn hơn trong việc phân định nguồn gốc, lai lịch, tính chất dân tộc của tác phẩm

Thứ tư, về vấn đề hình thức song ngữ: Trong khi sưu tầm VHDG các DTTS, có một nguyên tắc là cần ghi chép nguyên bản bằng tiếng DTTS, sau đó dịch ra tiếng Việt Cả hai tài liệu (bằng tiếng dân tộc và tiếng Việt) mới được coi là văn bản hoàn chỉnh của tác phẩm Việc sưu tầm DCTTSH Tày, Thái không nằm ngoài quy luật ấy Nhưng, trên thực tế, không phải công trình nào cũng làm được điều đó Vẫn có nhiều công trình công bố tư liệu DCTTSH Tày, Thái chỉ có bản dịch tiếng Việt Hơn thế, ở DCTTSH Tày, có trường hợp các tác giả còn dịch sang tiếng Việt dưới hình thức thơ lục bát chứ không phải dịch nguyên nghĩa và giữ nguyên đặc điểm thể loại thất ngôn của người Tày Do vậy, chúng chưa thật đảm bảo tính chính xác, khoa học của tác phẩm sưu tầm và mất đi cái mĩ cảm của dân tộc Ngay ở những công trình giới thiệu DCTTSH dưới hình thức song ngữ, các bản phiên âm và bản dịch cũng chưa hẳn là khớp nhau về số câu và về nghĩa

Thứ năm, về mặt số lượng: Trong tương quan so sánh với DCTTSH của các DTTS khác, DCTTSH của người Tày được quan tâm sưu tầm và công bố từ khá sớm

và đạt được nhiều thành tựu Cho đến nay, hầu hết các mảng của DCTTSH Tày đều đã

được công bố, bao gồm: lượn cọi, lượn slương, lượn then, iếu, rọi, phong slư… Không

nói đến những tài liệu sưu tầm dân ca dưới hình thức tiếng Việt, chỉ tính thành tựu sưu tầm, giới thiệu DCTTSH Tày dưới dạng song ngữ, chúng tôi đã thống kê được số lượng bài ca lên tới con số 1572 lời So với kết quả công bố tư liệu DCTTSH Tày, nguồn tư liệu về DCTTSH Thái không phong phú bằng Theo thống kê của chúng tôi, đến nay, mới có 4 công trình giới thiệu DCTTSH Thái dưới dạng song ngữ với số lượng bài ca là 292 Con số này khá khiêm tốn so với DCTTSH Tày Nó có thể được lí giải bằng sự quan tâm sưu tầm của những người làm công tác công bố và phổ biến văn hóa, văn nghệ dân gian Thứ nữa, điều này xuất phát từ thực tế dung lượng lời ca của DCTTSH Thái Mỗi lời DCTTSH Thái đều khá dài Trong khi đó, đa phần lời DCTTSH Tày khá ngắn, thường dưới mười dòng thơ Do vậy, dễ hiểu là DCTTSH Tày chiếm số lượng lời nhiều hơn so với DCTTSH Thái

Trên cơ cở thực trạng kho tàng DCTTSH của hai dân tộc Tày, Thái với những đặc điểm kể trên, ở luận án này, chúng tôi lựa chọn nguồn tư liệu với tiêu chí là chỉ

Trang 35

chọn những lời dân ca dưới hình thức song ngữ, có nguồn gốc dân tộc rõ ràng và bản dịch sát nghĩa Chúng tôi lựa chọn 500 bài DCTTSH Tày và 286 bài DCTTSH Thái làm đối tượng khảo sát, nghiên cứu Sự hạn chế nguồn tư liệu như vậy là có chủ ý và

đã được chúng tôi trình bày trong phần phạm vi nghiên cứu

Kế thừa thành quả của các công trình sưu tầm và nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi tiến hành so sánh DCTTSH của hai dân tộc Tày, Thái Các công trình công bố tư liệu dân ca đã cung cấp tư liệu đáng tin cậy để chúng tôi lựa chọn cho sự nghiên cứu, khảo sát Các công trình nghiên cứu về DCTTSH Tày, Thái đã cung cấp cho chúng tôi những gợi ý, những ý tưởng khoa học quý báu, dù nhiều khi mới ở dạng phác thảo Đóng góp của chúng tôi chủ yếu là ở chỗ chúng tôi đã cố gắng làm sáng rõ những gợi ý đó và hệ thống hóa chúng, soi chiếu chúng dưới một góc nhìn mới là so sánh để làm bật lên được cái phổ biến và cái đặc thù của DCTTSH Tày, Thái Chúng tôi hi vọng qua luận án này sẽ thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với việc

so sánh dân ca Tày, Thái nói riêng, VHDG Tày, Thái nói chung nhằm tương xứng với thực tế kho tàng phong phú và giá trị của VHDG hai dân tộc

1.3 Cơ sở lí luận

Chúng tôi xác định các câu hỏi nghiên cứu chính của đề tài là:

- DCTTSH Tày, Thái có những điểm tương đồng và khác biệt nào?

- Nguyên nhân gì dẫn đến những điểm tương đồng và khác biệt đó?

- Ý nghĩa của những điểm tương đồng và khác biệt đó trong DCTTSH của hai dân tộc Tày, Thái?

Từ các câu hỏi nghiên cứu như trên, chúng tôi xác định cơ sở lí luận liên quan đến đề tài gồm các nội dung chính là: lí luận về VHSS, về bản sắc văn hóa dân tộc, về dân ca và diễn xướng

với nhiều nền văn học khác Trong công trình Lí luận về văn học so sánh, tác giả

Trang 36

Nguyễn Văn Dân định nghĩa về VHSS như sau: “VHSS là một bộ môn khoa học có chức năng so sánh một nền văn học này với một hay nhiều nền văn học khác, hoặc so

sánh các hiện tượng của các nền văn học khác nhau” [24; tr 18] VHSS có hai mục

đích cơ bản: Một là, xác định tính khái quát của văn học nhân loại; Hai là, chứng minh tính đặc thù của các nền văn học dân tộc [24; tr 55] Nó có ba đối tượng nghiên cứu chính: Một là, những mối quan hệ trực tiếp giữa các nền văn học dân tộc (những sự ảnh hưởng và vay mượn lẫn nhau giữa các nền văn học) Hai là, những điểm tương đồng (những điểm giống nhau giữa các nền văn học sinh ra không phải do ảnh hưởng giữa chúng mà là do điều kiện lịch sử, xã hội giống nhau) Ba là, những điểm khác biệt độc lập, biểu hiện bản sắc của các hiện tượng văn học dân tộc hay của các nền văn học dân tộc, được chứng minh bằng phương pháp so sánh

Trong nghiên cứu VHSS, điều tối kị là so sánh nhằm mục đích chỉ ra sự hơn kém Ở Việt Nam, đã có sai lầm như thế trong lĩnh vực văn học viết Đó là trường hợp

nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ và học giả Phan Ngọc khi so sánh Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Quốc với Truyện Kiều của Nguyễn Du [24; tr

151 - 155] Năm 1968, Đinh Gia Khánh đã cho rằng, việc so sánh hơn thua giữa hai tác phẩm của hai dân tộc “là cái việc rất không khoa học” [24; tr 152] Việc suy diễn

võ đoán là nguy cơ dẫn đến chủ nghĩa sô vanh, kì thị dân tộc Đúng như Trần Nho Thìn đã chỉ ra khi so sánh văn học Việt Nam với văn học Trung Quốc, sau khi phân tích những chỗ giống và khác nhau, chúng ta cần trả lời câu hỏi tại sao cùng ở khu vực đồng văn với văn hóa Trung Quốc, người Việt Nam lại tiếp nhận văn học Trung Quốc khác với người Nhật Bản, Triều Tiên tiếp thu văn học Trung Quốc [133; tr 44 – 54]

Đáng lưu ý là trong nghiên cứu VHSS, có thể có hai loại là nghiên cứu ảnh hưởng và nghiên cứu song song như tác giả Hồ Á Mẫn – một học giả người Trung

Quốc đã chỉ ra trong công trình Giáo trình văn học so sánh Trong đó, nghiên cứu ảnh

hưởng là nghiên cứu hai nền văn học mà giữa chúng không cùng nguồn gốc nhưng có quan hệ ảnh hưởng Nghiên cứu ảnh hưởng cần chú trọng đến điều kiện sản sinh ra ảnh hưởng, loại hình ảnh hưởng, phạm vi nghiên cứu ảnh hưởng Nghiên cứu song song là nghiên cứu hai nền văn học mà giữa chúng không có quan hệ trực tiếp Nó có

cơ sở từ tính phổ quát và tính khác biệt của văn hóa, văn học, với hai loại phương pháp

là loại tỷ và đối tỷ Việc xác định tính chất của công trình là nghiên cứu ảnh hưởng hay nghiên cứu song song có ý nghĩa phương pháp luận [79; tr 70 – 93]

Trang 37

Đã nói tới VHSS là nói tới phương pháp so sánh nằm trong lí thuyết về VHSS Trong một nền văn học hay một trào lưu văn học, chúng ta cũng sử dụng phương pháp

so sánh nhưng lúc này chúng ta không gọi đấy là VHSS bởi nhắc đến VHSS là nhắc đến các nền văn học của các dân tộc khác nhau Ở cấp độ là một bộ môn, VHSS có thể

sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm của đối tượng và mục đích nghiên cứu

Từ trước đến nay, lí luận VHSS chủ yếu được áp dụng ở lĩnh vực văn học viết Tuy nhiên, do tính khả thi và những hiệu quả to lớn mà VHSS mang lại, lí luận VHSS

đã được áp dụng ở lĩnh vực nghiên cứu văn hóa dân gian, VHDG Trong nghiên cứu văn hóa dân gian, VHDG, phương pháp so sánh được dùng để xác định, đánh giá các hiện tượng trong mối quan hệ giữa chúng với nhau Sự phát triển sôi động của các phương pháp nghiên cứu so sánh dẫn tới sự ra đời của các trường phái Lí luận và thành quả nghiên cứu của các trường phái đó trong lĩnh vực văn hóa dân gian ở thế kỉ XIX đánh dấu sự phát triển của folklore so sánh – một nhánh nhỏ của VHSS

Ở Việt Nam, với bài viết Về phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn hóa

dân gian in trong tập san Khoa học số 1 – 1994 của Trường Đại học Tổng hợp thành

phố Hồ Chí Minh, in lại trong cuốn Nghiên cứu văn hóa dân gian, phương pháp,

lịch sử, thể loại [29; tr 83 - 96], nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên đã tổng kết và thấy

rằng VHSS có vai trò quan trọng đối với folklore học Tiêu đề bài viết tuy nói đến phương pháp so sánh nhưng kì thực, tác giả đã tiếp cận lí luận về VHSS trong nghiên cứu văn hóa dân gian và VHDG Ông cho rằng các thao tác nghiên cứu và hệ vấn đề nghiên cứu của nó đã được hình thành từ khá lâu Cụ thể, tác giả giới thiệu sự xuất hiện của 4 dạng thức của phương pháp so sánh trên thế giới: Trường phái địa lí – lịch

sử (trường phái Phần Lan), sự kết hợp phương pháp so sánh và phương pháp cấu trúc của Orik và Propp, phương pháp so sánh trong folklore từ cách tiếp cận dân tộc học của các nhà khoa học phương Tây, phương pháp nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử của các nhà khoa học Nga [29; tr 83 – 96] Ở từng dạng thức này, Chu Xuân Diên cũng điểm qua tình hình ứng dụng nghiên cứu trong văn hóa dân gian ở Việt Nam

Trên thực tế, 4 dạng thức của phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn hóa dân gian mà Chu Xuân Diên giới thiệu đều có những ưu thế riêng

Phương pháp địa lí – lịch sử là điểm cốt yếu dẫn tới sự hình thành của trường phái VHDG Phần Lan Phương pháp này đòi hỏi các nhà khoa học phải so sánh các dị

Trang 38

bản với nhau Quá trình so sánh phải tuân theo những nguyên tắc lịch sử và địa lí Nhờ

đó, các nhà khoa học sẽ xác định dạng thức khởi thủy và quê hương ban đầu của tác phẩm VHDG Đây là cơ sở để nhà nghiên cứu tiến hành phân loại tác phẩm theo các type hoặc motif nhằm tiến tới tổ chức các bộ sưu tập truyện kể, xây dựng các bộ mục lục tra cứu Tính đến hiện tại, những nguyên tắc lí luận của trường phái Phần Lan vẫn còn khả năng ứng dụng vào nghiên cứu và xử lí tác phẩm VHDG Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã có sự tiếp xúc, kế thừa và vận dụng phương pháp này trong nghiên cứu của mình, chẳng hạn như Nguyễn Đổng Chi, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Thị Huế…

Nếu như các nhà khoa học thuộc trường phái Phần Lan so sánh các dị bản khác nhau của từng cốt truyện riêng rẽ thì các nhà khoa học với cách kết hợp phương pháp

so sánh với phương pháp cấu trúc lại có cách làm khác hẳn Sự lồng ghép phương pháp cấu trúc vào quá trình nghiên cứu đã khiến các nhà khoa học quan tâm tới các bộ phận cấu thành cái toàn thể, tức coi các thể loại tự sự là một hệ thống, một chỉnh thể, mỗi cốt truyện là một yếu tố trong chỉnh thể ấy Sự so sánh ở đây là so sánh liên cốt truyện nhằm tìm ra các dạng thức và quy luật kết cấu của các thể loại tự sự dân gian Cách làm này tuy có đóng góp ít nhiều trong việc tìm hiểu quy luật sáng tạo của VHDG, song có hạn chế là đã tách văn bản tác phẩm ra khỏi môi trường diễn xướng của nó Do đó, phương pháp nghiên cứu so sánh này có hạn chế là chưa phản ánh đúng được đời sống của tác phẩm VHDG

Sự ra đời của phương pháp so sánh trong folklore từ cách tiếp cận dân tộc học

đã khắc phục hạn chế trên của phương pháp so sánh cấu trúc Theo dạng thức này, các nhà khoa học đặc biệt quan tâm tới đời sống thực của tác phẩm VHDG, nghiên cứu so sánh VHDG trong mối liên hệ với môi trường sinh thành, tồn tại và biến đổi của nó Hướng đi này là đúng đắn và cần thiết bởi nó nói lên đặc trưng của VHDG Tuy nhiên,

ở giai đoạn đầu, do là con đẻ của thuyết tiến hóa đơn tuyến nên trong khi đối chiếu các yếu tố của văn hóa dân gian như phong tục, tập quán giữa các dân tộc, địa phương khác nhau để tái hiện lịch sử nguồn gốc các xã hội, phương pháp này đã bàn đến sự hơn kém, đánh giá xã hội có học, văn minh hay dã man, nguyên thủy… Đây là hạn chế lớn nhất của thuyết tiến hóa đơn tuyến Về sau, khi thuyết tiến hóa bị đánh đổ, thuyết tương đối về sự phát triển văn hóa trở thành lí thuyết thống trị trong khoa dân tộc học, phương pháp so sánh dần bị rời bỏ Tuy thế, folklore học vẫn rất cần đến phương pháp

so sánh Các nhà khoa học đã tìm cách khắc phục những hạn chế và phiến diện của

Trang 39

dạng thức so sánh này mà một trong những con đường hiệu quả chính là quan niệm về kiểu sinh thái như A Dundes đã chỉ ra Theo đó, nghiên cứu so sánh về một thành tố văn hóa dân gian có thể đưa đến kết quả là rút ra được một kiểu sinh thái nhất định, gắn với bối cảnh văn hóa riêng biệt Đây là cơ sở để nhà nghiên cứu nhận diện đặc tính của nền văn hóa “Phương pháp nghiên cứu so sánh như thế không những có khả năng phân biệt, nhận thức rõ được những mô hình của tính cách địa phương hoặc tính cách dân tộc, mà còn giúp ta hiểu rõ được cái cách thức folklore đã biến đổi như thế nào để thích ứng với môi trường” [29; tr 94]

Phương pháp so sánh loại hình lịch sử xuất hiện khá muộn và được xây dựng bởi các nhà khoa học Nga Khi thuật ngữ “văn học thế giới” ngày càng được sử dụng nhiều, các nhà khoa học càng chú ý đến việc so sánh những hiện tượng văn học tương đồng Các nhà khoa học Nga đã nghiên cứu văn hóa dân gian theo phương pháp kết hợp phương pháp loại hình và phương pháp so sánh, trên cơ sở học thuyết Mác về lịch

sử - văn hóa Chu Xuân Diên đã dẫn ý kiến của viện sĩ V.M Zhirmunski về ba nội dung được nghiên cứu trong phương pháp so sánh loại hình lịch sử như sau:

“1 Nghiên cứu so sánh lịch sử - cội nguồn nhằm khám phá sự giống nhau giữa các hiện tượng như là kết quả của sự phát sinh từ một chủng hệ và sau đó phân hóa theo những điều kiện lịch sử khác nhau

2 Nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử nhằm giải thích sự giống nhau của các hiện tượng có cội nguồn từ những điều kiện giống nhau của sự phát triển lịch sử

3 Nghiên cứu so sánh nhằm xác lập những mối tác động ảnh hưởng hoặc di chuyển vùng văn hóa trên thế giới giữa những dân tộc có sự gần gũi về mặt lịch sử và những tiền đề phát triển xã hội” [29; tr 95]

Sự phát triển của phương pháp so sánh loại hình lịch sử trong nghiên cứu văn học dẫn tới sự hình thành của trường phái Nga – Xô Viết, đánh dấu một giai đoạn phát triển của VHSS khi nó đã trở thành một bộ môn khoa học Một trong những đặc điểm nổi bật của trường phái này là tập trung vào nghiên cứu các mối quan hệ giữa hiện tượng văn học và sự phát triển lịch sử, xã hội Các nhà khoa học đã làm VHSS dưới sự chi phối của quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác, cho rằng sự giống nhau về thể loại của loại hình học hay những mối liên hệ, ảnh hưởng của văn hóa dân gian đều

do những nhân tố lịch sử, xã hội quyết định

Trang 40

Như thế, nói về phương pháp so sánh, hay thực chất là tổng kết lí luận của folklore so sánh, PGS Chu Xuân Diên hướng tới việc chỉ ra rằng, trong nghiên cứu văn hóa dân gian, VHDG có thể lựa chọn sử dụng nhiều dạng thức khác nhau của phương pháp so sánh Mỗi dạng thức khác nhau lại có những hướng nghiên cứu so sánh và xử lí kết quả so sánh riêng Việc lựa chọn dạng thức nào hay kết hợp các dạng thức ấy ra sao phụ thuộc vào tính chất của những hiện tượng được dùng làm đơn vị so sánh; cấp độ, quy mô so sánh; mục đích của việc so sánh; cách tiếp cận

Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh trong khi bàn về phương pháp luận folklore cũng có nói tới phương pháp so sánh [62; tr 970 – 973] Ông gọi đó là phương pháp

so sánh song thực chất đó không đơn giản là một phương pháp cơ bản để nghiên cứu các hiện tượng của một nền folklore, mà nó thuộc về lí luận folkore so sánh khi ông chủ yếu nói tới sự so sánh các hiện tượng văn hóa dân gian ở những vùng, những nước khác nhau GS Đinh Gia Khánh nhấn mạnh mục đích của việc so sánh là tìm hiểu và phân tích nguyên nhân, ý nghĩa những mặt tương đồng và đa dạng của các hiện tượng theo một nhãn quan đồng đại sẽ giúp người ta tìm hiểu một cách sâu sắc hơn bản chất của các hện tượng folklore Khi so sánh, cần chú chọn lựa các đối tượng đồng đại, đồng loại, đồng dạng và tiêu biểu cho những vùng văn hóa tiêu biểu

Đinh Gia Khánh đã trình bày sự phát triển từ phương pháp so sánh loại hình đến phương pháp loại hình lịch sử Theo đó, phương pháp này chọn những loại hình tiêu biểu nhất để so sánh nhằm tìm hiểu bản chất chung nhất, cơ bản nhất của mỗi nền văn hóa Nhưng, việc sử dụng phương pháp này rất dễ sa vào chủ nghĩa hình thức nếu như quá coi trọng cấu trúc, xem nhẹ hoặc bỏ qua nội dung trong khi thông qua so sánh loại hình để xây dựng hình thái học của các hiện tượng Sự ra đời của phương pháp loại hình lịch sử đã ra đời trên cơ sở nhận thức rằng sự giống nhau về cấu trúc của các hiện tượng folklore có những nguyên nhân lịch sử của nó Phương pháp này “một mặt

có thể xác định được bản chất các hiện tượng qua cấu trúc của chúng, không tách rời hoàn cảnh lịch sử đã quy định cấu trúc ấy cũng như những sự biến dịch của cấu trúc ấy qua lịch sử, mặt khác lại có thể chú trọng đến nội dung của hiện tượng, của sự vật, tức

là của các yếu tố nằm trong cấu trúc, mà nội dung này thì lại tùy thuộc hiện thực khách quan và được quy định bởi tiến trình lịch sử” [62; tr 973]

Những lí luận của folklore so sánh như trên đã được vận dụng vào nghiên cứu văn hóa, VHDG ở nước ta và đạt được ít nhiều thành tựu Chẳng hạn, Đường Tiểu Thi

Ngày đăng: 18/01/2019, 10:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w