hiệu quả; công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễhiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: Thể chế chính sách thuếminh bạch, quy trình thủ tục hành
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƯƠNG THỊ HỒNG NHUNG
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ
GIA TĂNG TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 603850
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thương Huyền
Hà nội – 2013
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1 14
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 14
1.1 Quản lý thuế Giá trị gia tăng 14
1.1.1 Một số nhận thức về thuế Giá trị gia tăng 14
1.1.2 Khái niệm quản lý thuế Giá trị gia tăng 17
1.1.3 Các đặc điểm của hoạt động quản lý thuế Giá trị gia tăng 19
1.1.4 Sự cần thiết của hoạt động quản lý thuế Giá trị gia tăng 21
1.2 Pháp luật về quản lý thuế Giá trị gia tăng 22
1.2.1 Khái niệm pháp luật về quản lý thuế Giá trị gia tăng 22
1.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý thuế Giá trị gia tăng 24
CHƯƠNG 2 40
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 40
2.1 Thực trạng pháp luật về thủ tục hành chính thuế 40
2.1.1 Các quy định về đăng ký thuế GTGT 40
2.1.2 Các quy định về khai thuế GTGT 43
2.1.3 Các quy định về nộp thuế GTGT 46
2.1.4 Các quy định về hoàn thuế GTGT 50
2.1.5 Các quy định về xóa nợ tiền thuế, tiền phạt 61
2.2 Thực trạng pháp luật về giám sát và đảm bảo sự tuân thủ pháp luật quản lý thuế 65 2.2.1 Các quy định về quản lý thông tin người nộp thuế 65
2.2.2 Các quy định về kiểm tra, thanh tra thuế GTGT 68 2.2.3 Các quy định về xử lý vi phạm và cưỡng chế thi hành quyết định hành
Trang 5chính thuế 72
Trang 6GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG Ở VIỆT NAM 81
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật quản lý thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam ………81
3.2 Căn cứ để xác định giải pháp hoàn thiện pháp luật Quản lý thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam 82
3.2.1 Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay 82 3.2.2 Sự chi phối của nền Kinh tế thị trường Việt Nam 84 3.2.3 Kết quả nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm xây dựng, thực hiện pháp luật quản lý thuế ở nước ta và một số nước trên thế giới
Trang 7cầu quản lý thuế GTGT trở nên hết sức cần thiết.
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề quản lý thuế GTGT cũng như quản lý các sắcthuế khác được quy định trong một đạo luật về Quản lý thuế nói chung LuậtQuản lý thuế ban hành ngày 29/11/2006 đã có những thay đổi căn bản trongphương thức quản lý thuế theo hướng chặt chẽ, hiệu quả, thống nhất chínhsách quản lý thu thuế; tạo sự đồng bộ, nâng cao tính rõ ràng, minh bạch; tăngcường vai trò kiểm tra giám sát của Nhà nước, xã hội trong công tác quản lý thuếnói chung và quản lý thuế GTGT nói riêng Với nhiều quy định tiến bộ, Luật quản
lý thuế 2006 bước đầu đã phát huy được hiệu quả thực thi hệ thống chính sáchthuế nói chung và thuế GTGT nói riêng của Nhà nước
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, pháp luật về quản lý thuế GTGT đã bộc
lộ những bất cập nhất định như: Một số quy định không bảo đảm tính thống nhấthoặc chưa phù hợp, hoặc thiếu tính khả thi, hoặc chưa có quy định cụ thể, rõràng Các thủ tục hành chính thuế còn phức tạp, trùng lắp và thiếu đồng bộ, chiphí tuân thủ pháp luật của người nộp thuế còn cao, …Điều này đã gây khó khănnhất định cho công tác quản lý thuế GTGT cũng như cho người nộp thuế Đểpháp luật về quản lý thuế GTGT phát huy vai trò quan trọng đối với việc thực thi
có hiệu quả sắc thuế GTGT và để đảm bảo tốt hơn quyền và nghĩa vụ của ngườinộp thuế thì pháp luật về quản lý thuế GTGT nói riêng cũng như pháp luật vềQuản lý thuế nói
chung cần được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện
Trang 89Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 đã xác định mụctiêu tổng quát của Chính phủ: “Xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực,
Trang 9hiệu quả; công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễhiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: Thể chế chính sách thuếminh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp vớithông lệ quốc tế; Nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệthông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao, … phấn đấu đưaViệt Nam thuộc nhóm các nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á trong xếp hạngcác mức độ thuận lợi về thuế vào năm 2010” [6].
Từ thực tiễn nêu trên đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ lýluận về pháp luật điều chỉnh quan hệ về quản lý thuế GTGT để trên cơ sở đó đánhgiá một cách toàn diện, khách quan về thực trạng pháp luật về quản lý thuế GTGT
ở nước ta, từ đó xác định phương hướng và giải pháp hoàn thiện nhằm nâng caohiệu quả pháp luật quản lý thuế GTGT nói riêng cũng như pháp luật Quản lý thuếnói chung ở Việt Nam hiện nay
Với những lý do trên đây, luận văn“Pháp luật về quản lý thuế Giá trị gia
tăng tại Việt Nam” là vấn đề có tính cấp thiết cả về phương diện lý luận lẫn thực
tiễn, cần được nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống ở nước ta hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu luận văn
Qua nghiên cứu, tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học đã được công
bố, có thể nêu một số công trình có liên quan đến vấn đề quản lý thuế GTGT là:
- “Những vấn đề pháp lý về việc áp dụng thuế Giá trị gia tăng ở Việt Nam”
(2002), luận án tiến sĩ luật học; Nguyễn Thị Thương Huyền, Viện nghiên cứu nhà
nước và pháp luật
- Pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam – những
vấn đề lý luận và thực tiễn (2012), Luận án tiến sĩ Luật; Vũ Văn Cương, Đại học
Luật Hà Nội;
- Pháp luật về thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam, thực trạng và hướng hoàn
thiện(2006); Luận văn thạc sĩ luật học; Trần Thị Minh Hiền, người hướng dẫn
khoa học: TS Phạm Thị Giang Thu;
Trang 10- Pháp luật về thuế GTGT và các biện pháp bảo đảm thực hiện (2002), Luận
văn thạc sỹ, Lê Thị Bích Liên, Hà Nội;
- Một số ý kiến trao đổi về dự thảo luật thuế GTGT và Luật thuế thu nhập
Doanh nghiệp (2008), TS Phạm Giang Thu, Tạp chí Luật học số 4/2008;
- Luật quản lý thuế và những vấn đề cần bàn thêm (2008), TS Nguyễn Thị
Thương Huyền, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 29/2008;
- Thông tin về người nộp thuế trong pháp luật quản lý thuế ở nước ta hiện
nay; ThS.Vũ Văn Cương; Tạp chí Luật học; Trường Đại học Luật Hà Nội, Số
4/2009, tr 3 – 12;
- Pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam, thực trạng và hướng hoàn thiện (2006);
Khoá luận tốt nghiệp; Nguyễn Minh Phương; Người hướng dẫn: ThS Vũ VănCương, Đại học Luật Hà Nội
Có thể thấy, trong các công trình khoa học kể trên, các tác giả hướng tớinghiên cứu pháp luật nội dung về thuế giá trị gia tăng hoặc nghiên cứu về vấn đềquản lý thuế nói chung mà chưa có một nghiên cứu nào hoàn chỉnh về vấn
đề quản lý thuế GTGT
Tình trạng này xuất phát từ việc các công trình nghiên cứu đó được thựchiện trong điều kiện pháp luật thực định không có sự tách biệt giữa hai bộ phậnpháp luật là pháp luật quy định nội dung chính sách thuế và pháp luật về quản
lý thuế [9, 51]
Hơn nữa, do pháp luật thuế Việt Nam được cải cách, xây dựng và hoàn thiệntrong điều kiện nền kinh tế ở nước ta đang trong giai đoạn đầu của quátrình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, nên có quá nhiều vấn đề đặt ra đối vớichính sách thuế cần tập trung giải quyết Vì vậy, xu hướng hoàn thiện pháp luậtthuế trong những năm qua chủ yếu tập trung vào các quy định phản ánhchính sách thuế mà ít quan tâm đến bộ phận pháp luật về quản lý thuế [4, 5]
Trang 11Như vậy, nhìn lại các công trình nghiên cứu trong thời gian qua có thể khẳngđịnh cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về pháp luật quản lýthuế
Trang 12GTGT ở Việt Nam Bởi vậy, tác giả cho rằng, công trình nghiên cứu ở cấp độ luận
văn thạc sỹ về “Pháp luật về quản lý thuế Giá trị gia tăng ở Việt Nam” là cần
thiết và có ý nghĩa thiết thực cả trên phương diện lý luận và thực tiễn
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Qua luận văn “Pháp luật về quản lý thuế Giá trị gia tăng ở Việt Nam”, tác
giả muốn tập trung phân tích thực trạng pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng
ở Việt Nam hiện nay, những ưu điểm, thành tựu đạt được cũng như nhữngvướng mắc trên thực tế và chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc đó.Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn để luận chứng khoa học choviệc xác định phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng caohiệu quả pháp luật quản lý thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay Những kiến nghị củaluận văn hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện cácquy định pháp luật của Việt Nam nhằm mục đích đảm bảo một môi trường pháp
lý phù hợp và tăng cường hiệu quả công tác quản lý thuế GTGT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Các quan điểm khoa học, các số liệu thực tiễn có liên quan đến điều chỉnhpháp luật đối với quan hệ quản lý thuế nói chung và quản lý thuế GTGT nói riêng
- Các quy định của pháp luật quản lý thuế GTGT hiện hành và một số quyđịnh của pháp luật quản lý thuế GTGT trên thế giới
- Các văn kiện của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế và hoàn thiện thểchế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN liên quan đến quản lý thuế nóichung và quản lý thuế GTGT nói riêng
- Các văn bản của Bộ Tài chính, ngành thuế liên quan đến quản lý thuế
- Kinh nghiệm của một số nước về quản lý thuế GTGT và pháp luật điềuchỉnh quan hệ quản lý thuế GTGT
3.3 Phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Trang 13Hiện nay, khái niệm quản lý thuế có thể hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng vànghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là “quản lý hành chính nhà nước vềthuế, việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế, bao gồm các hoạtđộng mang tính chất hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế, là hoạt độngchấp hành theo kế hoạch và trình tự nhất định được thực hiện bởi các cơ quanquản lý thuế” Tùy thuộc vào mục đích của người nghiên cứu mà vấn đề quản lýthuế nói chung và quản lý thuế GTGT nói riêngsẽ được tiếp cận ở những phạm vikhác nhau Để phù hợp với mục đích của việc nghiên cứu, trong luận văn này, tácgiả nghiên cứu vấn đề quản lý thuế GTGT theo nghĩa hẹp, đồng thời tập trungnghiên cứu các quy định của pháp luật quản lý thuế GTGT trong hệ thống phápluật do Nhà nước Việt Nam ban hành, từ khi có Luật quản lý thuế năm 2006.
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên nền tảng phương pháp luận biện chứng duyvật và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Để thực hiện luận vănnày, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể là: Phươngpháp tiếp cận lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê để giảiquyết nội dung khoa học của luận văn
Phương pháp phân tích, so sánh được sử dụng nhiều ở chương 1 để làm rõnhững khái niệm, phạm trù mà luận án sử dụng từ đó rút ra được những kết luậnkhoa học làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng và xác định phương hướng, giảipháp cho việc hoàn thiện pháp luật quản lý thuế GTGT ở Việt nam hiện nay
Phương pháp tiếp cận lịch sử, phân tích, so sánh, phương pháp thống
kê được sử dụng trong chương 2 để luận giải cho nhận định, đánh giá về thựctrạng pháp luật quản lý thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
Phương pháp tổng hợp được sử dụng nhiều ở chương 3 để rút ra những kếtluận và định ra được các giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế trongnền kinh tế thị trường
5 Những đóng góp mới của luận văn
Trang 14Luận văn là chuyên khảo khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách
cơ bản, hệ thống về vấn đề quản lý thuế GTGT ở Việt Nam dưới giác độ pháp lý,
vì vậy luận văn có những điểm mới sau về mặt khoa học:
- Luận văn phân tích bản chất pháp lý của quản lý thuế GTGT, xây dựngkhái niệm quản lý thuế GTGT
- Luận văn đưa ra kết luận khoa học về thực trạng pháp luật quản lý thuếGTGT và thực tiễn áp dụng pháp luật quản lý thuế, kết luận về nguyên nhân củathực trạng để làm cơ sở cho việc xây dựng giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằmnâng cao hiệu quả pháp luật quản lý thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
- Luận văn xác định những tư tưởng cơ bản để định hướng chung cho cácgiải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT ở ViệtNam hiện nay
- Luận văn đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế GTGT
ở Việt Nam hiện nay dựa trên các căn cứ khoa học và thực tiễn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu có tính hệ thống, toàn diện về mặt pháp luậtquản lý thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ gópphần bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận và hoàn thiện pháp luật vềquản lý thuế nói chung và pháp luật về quản lý thuế GTGT ở Việt Nam nói riêng.Luận văn là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy khoa học pháp
lý phục vụ việc hoạch định chính sách; phục vụ quản lý hoạt động thực tiễn trongcác cơ quan tài chính, thuế, hải quan, … và các đối tượng thực hiện nghĩa vụ thuế.Các kết luận, các ý kiến được trình bày trong luận văn có thể giúp ích chocác cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong xây dựng chính sách, xây dựng phápluật quản lý thuế GTGT nói riêng và pháp luật Quản lý thuế nói chung cũng nhưtrong tổ chức thực hiện pháp luật thuế GTGT
7 Kết cấu của luận văn
Trang 15Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn đượctrình bày với kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật quản lý thuế giá trị gia tăngChương 2:Thực trạng pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng ở ViệtNam
Trang 16CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG 1.1 Quản lý thuế Giá trị gia tăng
1.1.1 Một số nhận thức về thuế Giá trị gia tăng
Thuế GTGT là một sắc thuế quan trọng trong hệ thống thuế hiện hành củathế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng Theo Điều 2 Luật thuế GTGT Việt
Nam năm 2008: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá,
dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”.
Xét về bản chất, thuế GTGT “là thuế gián thu, đánh vào việc sử dụng thunhập, tức đánh vào việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ mà cụ thể là đánh vào hành
vi chuyển giao tài sản và cung cấp dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưuthông, tiêu dùng thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ” [14, 9].Thuế GTGT mang một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, Thuế GTGT là thuế gián thu đánh trên bình diện rộng, nghĩa là
thuế GTGT không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế màđánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ Các nhà sản xuất,kinh doanh và cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng người tiêu dùngthực chất là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ Có thể thấy, mọiđối tượng tồn tại trong xã hội đều là chủ thể chịu thuế, chủ thể thực tế phải chitrả một phần thu nhập do hành vi tiêu dùng.Còn chủ thể nộp thuế GTGT lại là cácchủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và các tổ chức, cánhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế.Như vậy, người nộp thuế và người chịuthuế GTGT không đồng nhất với nhau, độc lập và có những thân phận pháp lýkhác nhau.[14,
12]
Với quy định này và các quy định khác có liên quan đến đối tượng nộp thuếGTGT được ghi nhận tại các điều luật khác, việc xác định điều kiện cần và đủ cho
Trang 17một chủ thể nằm trong diện nộp thuế GTGT là hoàn toàn cần thiết, đồng thờiloại
Trang 18trừ nghĩa vụ của những đối tượng không hội tụ đầy đủ các điều kiện đã đặt ra Các đối tượng nộp thuế GTGTđáp ứng các điều kiện sau:
- Có hoạt động sản xuất kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ thông thườngthuộc đối tượng chịu thuế GTGT (được hiểu có đăng ký kinh doanh và đăng kýnộp thuế GTGT) hoặc có hành vi nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế GTGT
- Có phần GTGT tăng thêm trên lãnh thổ Việt Nam
Việc xác định điều kiện cần và đủ cho đối tượng nộp thuế GTGT giúp cho
cơ quan quản lý, thu thuế GTGT và đối tượng sản xuất kinh doanh phân biệttrường hợp đăng ký, kê khai thuế GTGT với trường hợp phải nộp thực tế một sốtiền thuế GTGT vào NSNN
Cùng với quy định về chủ thể nộp thuế GTGT, pháp luật cũng quy địnhnhững đối tượng không nộp thuế GTGT Những đối tượng này mặc dù đều cóhoạt động kinh doanh, có phần giá trị tăng thêm từ hoạt động kinh doanh trênlãnh thổ quốc gia nhưng xuất phát từ những lí do, mục đích nhất định, pháp luậtquy định họ không phải nộp loại thuế này Đó là các đối tượng kinh doanh có kếtquả kinh doanh dưới mức quy định (Khoản 25 Điều 5 Luật Thuế GTGT 2008 quyđịnh về đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT: hàng hóa, dịch vụ của cánhân kinh doanh có thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểuchung áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp trong nước), hoặc đối tượng kinhdoanh hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT
Thứ hai, thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ
do vậy phương pháp tính thuế GTGT chủ yếu dựa trên phương pháp khấutrừ thuế, cụ thể:
Thuế GTGT được thu qua mỗi khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh Dựatrên đối tượng tính thuế là phần chênh lệch giữa giá trị đầu ra và phần giá trị đầuvào tương ứng, phương án khả thi xác định số thuế phải nộp là tính theo phầnthuế chênh lệch qua các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông (phương phápkhấu trừ thuế) hoặc tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm do chủ thể nộpthuế tạo ra
Trang 19Pháp luật thuế GTGT Việt Nam quy định hai phương pháp tính thuế: phươngpháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, trong đó phươngpháp khấu từ thuế được coi là phương pháp chủ yếu.
Nội dung cơ bản của phương pháp khấu trừ thuế là số thuế GTGT phải nộpđược tính trên cơ sở số thuế GTGT đầu ra trừ đi số thuế GTGT đầu vào ThuếGTGT đầu ra là số thuế xuất hiện ở khâu bán ra, chủ thể nộp thuế đã xác định vàtính trong giá bán cho người nhận hàng hóa dịch vụ (trong giá thanh toán) Phầnthuế này được tính trên toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho kháchhàng Thuế GTGT đầu vào xuất hiện ở khâu mua vào, được tính trong tổng giá màchủ thể nộp thuế đã trả để nhận được hàng hóa, dịch vụ Tương tự số thuế đầu
ra, thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hóađơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hóa nhậpkhẩu Như vậy, số thuế GTGT phát sinh ở các khâu được phản ánh rõ trên chứng
từ hóa đơn Bằng một nghiệp vụ phát hành hóa đơn, có thể là cơ sở xác định sốthuế đầu ra cho chủ thể cung ứng hàng hóa, dịch vụ; đồng thời lại là căn cứxác định số thuế đầu vào cho bên nhận hàng hóa, dịch vụ
Phương pháp khấu trừ thuế có những ưu điểm nhất định như xác địnhđúng số thuế phải nộp ở từng khâu, từng chủ thể nộp thuế, chống thất thu thuế;đảm bảo thu đủ số thuế cần thiết điều tiết thu nhập của người tiêu dùng; đơngiản hóa quá trình quản lí và thu thuế Với nhưng ưu điểm nêu trên, phươngpháp khấu trừ thuế khi tính thuế GTGT được xác định là phương pháp tính thuếchủ yếu Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi chủ thể nộp thuế theo phươngpháp khấu trừ phải đạt được những điều kiện nhất định:
- Chủ thể nộp thuế có hoạt động kinh doanh ổn định, chấp hành chế độhạch toán kế toán, chế độ sử dụng chứng từ hóa đơn theo quy định hiện hànhdành cho
các chủ thể kinh doanh
- Đăng ký thuế, đã được cơ quan quản lý thuế cấp mã số thuế theo đúngtrình tự luật định
Trang 20- Đăng ký với cơ quan thuế và được cơ quan thuế chấp nhận nộp thuế GTGTtheo phương pháp khấu trừ.
Thứ ba, Thuế GTGT mang bản chất liên hoàn Nói thuế GTGT mang bản
chất liên hoàn vì xét trong mối quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa cácdoanh nghiệp nộp thuế GTGT với nhau thì thuế đầu ra của doanh nghiệp bán làthuế đầu vào của doanh nghiệp mua Vì vậy, thuế GTGT phải nộp ở mỗi doanhnghiệp không chỉ phụ thuộc vào doanh số bán ra và thuế suất mà còn phụ thuộcvào thuế GTGT ở doanh nghiệp cung ứng đầu vào (thuế đầu vào) Sự phụ thuộclẫn nhau này giữa các doanh nghiệp là hệ quả của bản chất liên hoàn của thuếGTGT
1.1.2 Khái niệm quản lý thuế Giá trị gia tăng
Thuế là một phạm trù kinh tế, pháp lý mang tính lịch sử, sự xuất hiện, tồntại và phát triển của thuế luôn gắn với sự ra đời và phát triển của nhà nước Thuế
là nguồn thu vô cùng quan trọng của NSNN Chính vì tầm quan trọng và tínhchất đặc biệt của thuế nên bất cứ nhà nước nào cũng cần tìm ra phương thứcquản lý thuế sao cho có hiệu quả nhất để nhằm đạt được mục tiêu và phát huytối đa vai trò của thuế trong đời sống thực tiễn
Có thể thấy, hoạt động quản lý xuất hiện từ khi có hoạt động chung của conngười Theo từ điển Hán Việt, quản lý và việc trông nom, sắp đặt công việc trongmột tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Vậy quản lý là phạmtrù chỉ mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và đối tượng bịquản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định đã đề ra Hiện nay, có rấtnhiều cách hiểu khác nhau về quản lý thuế
Thứ nhất, theo nghĩa rộng, quản lý thuế là “quản lý của nhà nước trong lĩnh vực thuế, là quá trình xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành các luật thuế, tổ chức, quản lý, điều hành, thanh tra, giám sát việc thực hiện cácluật thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế, …”.[10, 93]
Như vậy, nội dung quản lý thuế theo nghĩa rộng bao gồm một số vấn đề chủyếu như:
Trang 21- Ban hành và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thuế,xây dựng chính sách, kế hoạch, chiến lược phát triển hệ thống thuế;
- Thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế;
- Áp dụng các biện pháp phòng chống trốn lậu thuế, chiếm đoạt tiền thuếcủa nhà nước, thực hiện cưỡng chế thuế;
- Tiếp nhận, xem xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế;
- Tổ chức thu thập, xử lý cung cấp thông tin về đối tượng nộp thuế;
- Ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế về thuế;
- Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo, xây dựng đội ngũcán bộ quản lý nghiệp vụ thuế…
Thứ hai, theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là “quản lý hành chính nhà nước về thuế, việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế, bao gồm các hoạt động mang tính chất hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế, là hoạt động chấp hành theo kế hoạch và trình tự nhất định được thực hiện bởi các cơ quan quản lý thuế”.
Theo cách hiểu này, quản lý thuế bao gồm các nội dung chủ yếu như sau:
- Xây dựng cơ chế quản lý thuế tạo cơ sở cho công tác quản lý thuế, trong đóxác định rõ chủ thể quản lý, đối tượng chịu sự quản lý;
- Xác định rõ các quyền, nghĩa vụ cho đối tượng nộp thuế, quyền hạn vàtrách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, cán bộ công chức ngành thuế, tráchnhiệm
của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong quản lý thuế;
- Xác định các thủ tục và nội dung quản lý hành chính thuế như: đăng kýthuế, cấp mã số thuế, mua bán hóa đơn, chứng từ; kê khai thuế, nộp thuế; quyếttoán thuế, miễn giảm thuế, hoàn thuế, xử phạt vi phạm thuế, cưỡng chếthuế, khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại tố cáo thuế;
- Xây dựng cơ chế quản lý thuế, quy trình nghiệp vụ quản lý thuế để áp dụngtại cơ quan quản lý thu thuế các cấp;
Trang 22- Tổ chức bộ máy quản lý thuế, quy trình nghiệp vụ quản lý thuế để áp dụngtại cơ quan quản lý thu thuế các cấp;
Trang 23- Tổ chức đội ngũ cán bộ, công chức thuế để thực hiện các nhiệm vụ quản lýthuế bằng các biện pháp quản lý hành chính thích hợp với diễn biến kháchquan của quá trình sản xuất kinh doanh ở cơ sở và điều kiện quản lý kinh tế trongtừng giai đoạn.
Luật quản lý thuế hiện hành của Việt Nam liệt kê các nội dung quản lý thuếtại Điều 3 (bao gồm đăng ký thuế, khai thuế, ấn định thuế, thủ tục hoàn thuế,miễn thuế, giảm thuế …) Từ điều luật này có thể thấy nhà lập pháp hiểu quản lýthuế theo nghĩa hẹp Tùy thuộc vào mục đích của người nghiên cứu mà địnhnghĩa về quản lý thuế sẽ được tiếp cận ở những phạm vi khác nhau Để phù hợpvới pháp luật thực định ở nước ta cũng như phù hợp với mục đích của việcnghiên cứu, trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm quản lý thuế theonghĩa hẹp
Với tính chất là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành, quản lý thuế GTGT là
một bộ phận của hoạt động quản lý thuế nói chung Quản lý thuế GTGT được
hiểu là hoạt động của các cơ quan hành chính thuế từ trung ương đến địa phương, bao gồm các hoạt độngtổ chức, chấp hành và điều hành các công việc liên quan đến quá trình thu, nộp thuế GTGT vào NSNN nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Việc hiểu đúng bản chất của hoạt động quản lý thuế GTGT có ý nghĩa quantrọng trong việc thể chế hóa thành pháp luật những nội dung của hoạt độngquản lý thuế, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý thuế và đảmbảo thực hiện đúng kế hoạch huy động nguồn thu cho NSNN hàng năm
1.1.3 Các đặc điểm của hoạt động quản lý thuế Giá trị gia tăng
Hoạt động quản lý thuế GTGT với tính chất là một bộ phận của hoạt độngquản lý thuế, vừa mang những đặc điểm của hoạt động quản lý thuế nói chung
và mang những đặc điểm riêng nhất định của lĩnh vực quản lý chuyênngành, cụthể:
Thứ nhất, về bản chất quản lý thuế là một bộ phận của quản lý tài chính
Trang 24công Vì vậy, quản lý thuế nói chung và quản lý thuế GTGT nói riêng được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý tài chính công và quản lý nguồn
Trang 25thu của NSNN Do thuế là khoản thu mang tính bắt buộc nên phương phápquản lý thuế nói chung và quản lý thuế GTGT nói riêng thường được sử dụngchủ yếu là phương pháp quản lý hành chính.
Thứ hai, về chủ thể trong quản lý thuế GTGT
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, là tài sản quốc gia để phục vụ lợi íchcho toàn xã hội Vì thế, tham gia quản lý thuế đồng thời là trách nhiệm của các cơquan nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong xã hội Việc xác định cơ quan, tổchức, cá nhân có trách nhiệm tham gia hoạt động quản lý thuế trong Luật quản lýthuế 2006 thể hiện tư tưởng xã hội hóa hoạt động quản lý thuế của nhà làm luật.Tuy nhiên, trách nhiệm quản lý thuế trước hết thuộc về Nhà nước Để đảm bảothực thi trách nhiệm này, Nhà nước trao quyền hạn, trách nhiệm quản lý thuếcho Bộ Tài chính, mà trực tiếp là hệ thống cơ quan quản lý thuế gồm cơ quanthuế và cơ quan hải quan chịu trách nhiệm chính trong thực thi nhiệm vụ quản
lý thuế Đối tượng chủ yếu chịu sự quản lý thuế của nhà nước là người nộp thuếđược xác định trong các Luật thuế cụ thể do nhà nước ban hành Trong pháp luật
về thuế GTGT, chủ thể chịu sự quản lý thuế của nhà nước bao gồm người chịuthuế và người nộp thuế Xét trong mối quan hệ tay ba: cơ quan quản lý thuế,người chịu thuế và người nộp thuế thì người nộp thuế đóng vai trò trung gian thuthuế hộ cơ quan quản lý thuế rồi nộp vào NSNN Cả ba loại chủ thể này đều cóthể tham gia quan hệ quản lý thuế vừa với tư cách là chủ thể quản lý thuế, vừa làđối tượng bị quản lý, giám sát trong quá trình thực hiện pháp luật thuế
Thứ ba, quản lý thuế cần các công cụ và phương tiện khác nhau, trong đó
chủ yếu và quan trọng nhất là công cụ pháp luật Pháp luật là chuẩn mực buộccác chủ thể phải tuân theo, dù là người thu thuế hay người nộp thuế Ngoài ra,
dư luận xã hội cũng đóng vai trò rất quan trọng Do đó bên cạnh việc nâng caohiệu lực của các quy định pháp luật thì tác động vào dư luận cũng là một giảipháp hiệu quả cần phải quan tâm nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuếcủa các chủ thể tham gia cũng như “cải thiện hình ảnh của thuế nói chung vàcông tác quản lý thuế nói riêng”
Trang 26Thứ tư, quản lý thuế thuộc lĩnh vực quản lý có tính kỹ thuật phức tạp, mang
tính chuyên môn cao Có nhiều yếu tố tác động và ảnh hưởng đến hiệu quả củacông tác quản lý thuế như: hệ thống pháp luật về quản lý thuế; ý thức chấp hànhcủa người dân; trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ; công chức quản lý thuế;
cơ sở vật chất của ngành thuế; hệ thống thể chế quản lý kinh tế, xã hội (quản
lý đất đai, quản lý đăng ký kinh doanh, chế độ kế toán)… Đặc điểm này đặt rayêu cầu muốn nâng cao hiệu quả quản lý thuế cần có các giải pháp đồng bộ, quantâm phát triển nhiều mặt thì Nhà nước mới có thể đạt được mục tiêu nâng caohiệu lực, hiệu quả trong quản lý thuế nói chung và quản lý thuế GTGT nói riêng
Thứ năm, Chi phí quản lý hành chính thuế GTGT khá cao Bởi lẽ thuế
GTGT là loại thuế gián thu đánh trên bình diện rộng, hoạt động chịu thuế GTGTkhông chỉ bao hàm các hoạt động chịu thuế doanh thu mà còn bao gồm cảcác hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, hoạt động sản xuất các mặt hàng chịuthuế tiêu thụ đặc biệt… Mặt khác thuế GTGT lại vận hành theo cơ chế khấu trừthuế, hoàn thuế vì vậy khối lượng công việc quản lý của cơ quan thuế sẽ tăng lênrất nhiều, bộ máy thuế phải được tăng cường, theo đó chi phí quản lý thuế GTGT
sẽ tốn kém và phức tạp
1.1.4 Sự cần thiết của hoạt động quản lý thuế Giá trị gia tăng
Thuế GTGT là một sắc thuế tiến bộ, có nhiều ưu điểm so với các loại thuếkhác Sau hơn 16 năm triển khai thực hiện, pháp luật thuế GTGT đã đạt đượcnhiều thành tựu đáng khích lệ, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và pháttriển kinh tế đất nước Nguồn thu từ thuế GTGT là nguồn thu quan trọng vàchiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựuđạt được, vẫn còn các tồn tại tình trạng trốn thuế, làm giả hóa đơn chứng từ,gian lận hoàn thuế giá trị gia tăng, nợ đọng thuế, …
Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Về phía ngườinộp thuế, do xuất phát từ những tính chất của thuế nên mặc dù ý thức được sựcần thiết và tính tất yếu của thuế nhưng thuế chưa bao giờ được người nộp thuế
Trang 27“cảm nhận như một thực tế dễ chịu” Chính vì vậy, phía các cơ quan quản lýthuế
Trang 28“thường phải đối mặt với những mối quan hệ khó điều chỉnh, thậm chí đôi khinảy sinh xung đột”[3, 263] Về phía người chịu thuế, thuế GTGT mang tính chấtlũy thoái so với thu nhập nên không đảm bảo công bằng giữa các tầng lớp dân
cư Vì vậy, khi áp dụng thuế GTGT thường phải kết hợp với nhiều loại thuế trựcthu khác như thuế thu nhập lũy tiến để điều tiết thu nhập của các đối tượng.Ngoài ra, điều kiện áp dụng thuế GTGT phải đạt đến một mức độ nhất định, phảiđáp ứng được các tiêu chuẩn về kế toán, chế độ chứng từ hóa đơn và khả năngquản lý của các cơ quan tham gia quản lý, thu thuế GTGT
Do đó có thể thấy quản lý thuế GTGT là hoạt động rất nhạy cảm, phức tạp,đòi hỏi phải đảm bảo lợi ích của tất cả các bên chủ thể Xuất phát từ những lý dotrên, việc đặt ra yêu cầu quản lý thuế GTGT là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp.Đặc điểm này cũng đặt ra yêu cầu các cơ quan quản lý thuế cần có nhữngphương thức quản lý linh hoạt, tránh việc quản lý tùy tiện đề ra các quy định
có tính áp đặt, độc đoán [3, 263]
1.2 Pháp luật về quản lý thuế Giá trị gia tăng
1.2.1 Khái niệm pháp luật về quản lý thuế Giá trị gia tăng
Theo chủ nghĩa Mác – Lê nin, pháp luật là kiến trúc thượng tầng còn kinh
tế-xã hội là cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, chính vìvậy mà các quốc gia trên thế giới có nền kinh tế-xã hội khác nhau dẫn tới hệthống pháp luật cũng khác nhau Pháp luật về thuế là một bộ phận quan trọngtrong pháp luật của mỗi quốc gia và mỗi quốc gia lại có một cách xây dựng hệthống pháp luật về thuế riêng để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình.Thực tiễn lập pháp cho thấy, có hai xu hướng ban hành pháp luật về thuếkhá phổ phiến Một là, quy định tất cả các sắc thuế trong 1 bộ luật chung vềthuế, gọi là bộ luật thuế vụ Trong bộ luật này, các nhà làm luật vừa quy định vềnội dung cụ thể của các loại thuế trong hệ thống thuế, vừa quy định về trình tự,thủ tục hành thu và cơ chế quản lý thu cũng như xử lý vi phạm và giải quyếtcác tranh chấp thuế Hai là, mỗi loại thuế được ban hành bằng một đạo luật
Trang 29riêng, độc lập với nhau nhưng vẫn đảm bảo tính tương thích với nhau và đồngthời tách bạch các
Trang 30quy định về quản lý thuế bằng một đạo luật riêng biệt so với các đạo luật thuế gọi là Luật quản lý thuế.
Ở Việt Nam hiện nay, các nhà làm luật áp dụng cách thức thứ hai, ban hànhtừng đạo luật riêng cho mỗi loại thuế và ban hành Luật quản lý thuế (2006) đểquy định về trình tự, thủ tục thực hiện công tác quản lý thuế: quy định về thủ tụcđăng ký thuế, cấp mã số thuế, thủ tục về mua hóa đơn, chứng từ; thủ tục về
kê khai thuế, thủ tục hoàn thuế, thủ tục miễn giảm thuế; quy định những hành vi
vi phạm và mức phạt vi phạm về thuế; quy định về khiếu nại, tố cáo và giảiquyết khiếu nại, tố cáo; thanh tra thuế, …
Xét về mặt lý thuyết, phápluật thuế bao gồm pháp luật vật chất (hay còn gọi
là pháp luật nội dung) ghi nhận, phản ánh chính sách thuế và pháp luật thủ tục(pháp luật hình thức) quy định các vấn đề về quản lý thuế Hay có thể thấy phápluật thuế bao gồm hai bộ phận cơ bản là:
- Pháp luật về chính sách thuế, được quy định trong các luật thuế baogồm các quy định về đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, đối tượng khôngchịu thuế, căn cứ tính thuế, thời hạn nộp thuế và trường hợp đượchưởng ưuđãi… thực chất các quy định về chính sách thuế đã chỉ rõ trong mỗi loại thuế là aiphải nộp thuế, số thuế và thời gian nộp, những trường hợp ngoại lệ (trường hợpkhông áp dụng, trường hợp được hưởng ưu đãi, miễn giảm thuế…)
- Pháp luật về quản lý thuế được quy định cụ thể trong Luật quản lý thuế(Luật thủ tục), bao gồm các quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của đốitượng nộp thuế, cơ quan quản lý thuế và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
có liên quan đến việc thực hiện pháp luật thuế; các quy định về thủ tục hànhchính thuế, cơ chế quản lý thuế, biện pháp quản lý thuế nhằm đảm bảo thực thi
có hiệu quả pháp luật thuế như tuyên truyền, hướng dẫn, tư vấn giúp đỡ đốitượng nộp thuế, thanh tra, kiểm tra pháp luật thuế, các quy định về khiếu nại, tốcáo và giải quyết tranh chấp về thuế
Trang 31Như vậy, trong lĩnh vực thuế thì chính sách thuế được coi là các quy địnhnội dung, xác định mục tiêu, còn quản lý thuế bao gồm các quy định mang tínhthủ tục nhằm thực hiện chính sách thuế Tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng:
“Ranh giới giữa pháp luật quản lý thuế và pháp luật về nội dung các sắc thuếkhông hoàn toàn rạch ròi trong cách thể hiện Điều này phụ thuộc vào kỹ thuật,trình độ lập pháp và sự lựa chọn của các nhà làm luật Chẳng hạn: các quy địnhquản lý có tính chất đặc thù của từng sắc thuế có thể sẽ được đưa vào các vănbản pháp luật nội dung của sắc thuế đó, còn các quy định quản lý mang tính chấtchung sẽ được đưa vào Luật Quản lý thuế Điều này không phá vỡ nguyên tắcchung đồng thời đạt được hiệu quả cao.” [9, 51]
Từ những phân tích trên, có thể hiểu pháp luật về quản lý thuế là tổnghợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hộiphát sinh trong hoạt động quản lý thuế của Nhà nước (quan hệ quản lý trong việcthu nộp thuế cho NSNN của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với đốitượng nộp thuế và các đối tượng khác có liên quan)
Pháp luật về quản lý thuế GTGTvới tư cách là một bộ phận của pháp luật
quản lý thuế, là tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý thuế GTGT của Nhà nướcnhằm đảm bảo tập trung đầy đủ, đúng hạn nguồn thu từ thuế GTGT vào NSNN.
1.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý thuế Giá trị gia tăng
Pháp luật quản lý thuế GTGT bao gồm các nội dung chủ yếu sau: (i) phápluật về thủ tục hành chính thuế bao gồm: quản lý việc đăng ký thuế, kê khai thuế,
tổ chức thu nộp thuế, thực hiện hoàn thuế GTGT và (ii) pháp luật về giám sát,đảm bảo sự tuân thủ pháp luật quản lý thuế, bao gồm pháp luật về quản lýthông tin người nộp thuế, pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế và xử lý viphạm pháp luật thuế
Trang 321.2.2.1 Pháp luật về thủ tục hành chính thuế
Pháp luật về thủ tục hành chính thuế bao gồm các nhóm quy phạmpháp luật sau: Nhóm quy phạm phápluật về đăng ký thuế GTGT;Nhóm quy phạmpháp luật về khai thuế GTGT; Nhóm quy phạm pháp luật về ấn định thuế GTGT;Nhóm quy phạm pháp luật về nộp thuế GTGT; Nhóm quy phạm pháp luật vềhoàn thuế
GTGT và Nhóm quy phạm pháp luật về xóa nợ tiền thuế, tiền phạt
Thứ nhất, nhóm quy phạm pháp luật về đăng ký thuế Giá trị gia tăng
Đăng ký thuế là việc người nộp thuế thực hiện khai báo sự hiện diện củamình và nghĩa vụ phải nộp thuế với cơ quan quản lý thuế Để xác định được đốitượng phải quản lý thuế GTGT, các chủ thể có hành vi kinh doanh phải đăng kýthuế với cơ quan quản lý thuế có thẩm quyền Pháp luật về đăng ký thuế GTGT làtổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi đăng ký thuếcủa các chủthể
có trách nhiệm đăng ký thuế
Sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ đăng ký thuế GTGT là sự ra đời, thayđổi hoặc chấm dứt của chủ thể kinh doanh Thời điểm phát sinh nghĩa vụ nàyđược xác định kể từ ngày đối tượng nộp thuế được cấp GCN đăng ký kinh doanh.[14, 94]
Khoảng thời gian mà đối tượng nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ đăng ký
mã số thuế với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền được gọi là thời hạnthực hiện nghĩa vụ đăng ký thuế
Kết quả của việc đăng ký thuế là mỗi chủ thể kinh doanh được cấp một mã
số thuế Về nguyên tắc, mã số thuế được cấp duy nhất cho một chủ thể nộpthuế và sử dụng suốt quá trình tồn tại của chủ thể nộp thuế, phục vụ cho việcnhận diện chủ thể nộp thuế Mã số thuế giúp cơ quan quản lí thực hiện hoạtđộng quản lí thuế trên phạm vi toàn lãnh thổ, trong hoạt động sản xuấtkinh doanh thông thường và quản lí thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu.Việc quản lí thuế theo mã số thuế giúp cơ quan có thẩm quyền giám sát về
Trang 33thuế của chủ thể nộp thuế, theo dõi các vấn đề phát sinh liên quan đến sửdụng chứng từ hóa đơn Trong
Trang 34trường hợp cần thiết, các thông tin về chủ thể nộp thuế giúp cho cơ quan nhànước giám sát hoạt động hoàn thuế hoặc áp dụng các biện pháp phi thuế đối vớitrường hợp vi phạm Để thực hiện mục đích quản lí thuế nói trên của cơ quannhà nước, người nộp thuế phải ghi mã số thuế được cấp vào hóa đơn, chứng từ,tài liệu khi thực hiện các giao dịch kinh doanh; kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế
và các giao dịch về thuế; mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại, tổ chứctín dụng khác Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác phải ghi mã số thuếtrong hồ sơ mở tài khoản của người nộp thuế và các chứng từ giao dịch qua tàikhoản.Cơ sở kinh doanh khi có quyết định giải thể hoặc chấm dứt hoạt động thì
mã số thuế đã được cấp sẽ không được sử dụng và không được dùng lại để cấpcho đối tượng nộp thuế khác
Việc đăng ký thuế kết thúc bằng hành vi cấp giấy chứng nhận đăng ký nộpthuế của cơ quan thuế cho chủ thể kinh doanh Như vậy, cấp giấy chứngnhận đăng ký thuế là hình thức chấp nhận đăng ký thuế của cơ quan thuế hay nóicách khác là việc cơ quan thuế xác nhận việc đăng ký thuế của chủ thể nộp thuế,đảm bảo cho chủ thể kinh doanh tiến hành hoạt động kinh doanh bình thường.Giấy chứng nhận đăng ký thuế bao gồm các thông tin cơ bản phục vụ cho mụcđích giúp cho cơ quan thuế quản lý thông tin, giám sát vi phạm của người nộpthuế
Đối với cơ quan thuế phải có trách nhiệm sử dụng mã số thuế của đốitượng nộp thuế để quản lý đối tượng nộp thuế, theo dõi số liệu nộp thuế của đốitượng nộp thuế và ghi mã số đối tượng nộp thuế trên mọi giấy tờ giao dịch vớiđối tượng nộp thuế như thông báo nộp thuế, thông báo phạt, biên bản kiểm tra
về thuế, …
Cơ quan thuế có trách nhiệm quản lý toàn bộ hệ thống mã số thuế củacác đối tượng nộp thuế và cập nhật mã số thuế vào hệ thống thông tin thuế, phốihợp với các Bộ, ngành liên quan để tổ chức đưa mã số thuế vào hệ thống thôngtin hiện
Trang 35có của các Bộ, ngành có chức năng quản lý liên quan đến đối tượng nộpthuế.
Trang 36Thứ hai, nhóm quy phạm pháp luật về khai thuế, tính thuế GTGT
Khai thuế là một nghĩa vụ bắt buộc của người nộp thuế khi phát sinh nghĩa
vụ thuế theo quy định của pháp luật thuế Kê khai thuế là việc khai báo tất cảnhững nghiệp vụ chịu thuế (hoạt động chịu thuế) phát sinh trong kỳ, sốthuế GTGT đã trả khi mua hàng, số thuế GTGT thu được khi bán hàng trong kỳ,
số thuế GTGT đã nộp, số thuế GTGT phải nộp trong kỳ cho cơ quan thuế Thôngthường, kỳ kê khai thuế đối với thuế GTGT được tính theo từng tháng hoặc khaitheo lần phát sinh áp dụng đối với trường hợp xuất nhập khẩu hàng hóa chịuthuế GTGT
Trên thế giới có hai loại cơ chế quản lý thuế chính: cơ chế cơ quan thuế tínhthuế và cơ chế người nộp thuế tự tính thuế, hay còn gọi là cơ chế tự khai, tựnộp
thuế
- Cơ chế cơ quan thuế tính thuế: Theo cơ chế này đòi hỏi cán bộ thuế phải
kiểm tra tất cả các tờ khai thuế, các khoản phải thu dựa trên những số liệu mà cơquan thuế có được để xác định số thuế chính thức phải nộp và ra thông báo thuếcho người nộp thuế thực hiện Cách thức quản lý thuế này mang nặng tính ápđặt và sử dụng quyền lực nhà nước là chủ yếu để quản lý thuế đối với người nộpthuế và tiến độ thu thuế thường chậm Việc xác định số thuế phải nộp là tráchnhiệm pháp lý của cơ quan thuế, không khuyến khích người nộp thuế tự giáctuân thủ Đồng thời, với cách thức này, đòi hỏi lực lượng đội ngũ cán bộ thuếngày càng đông đảo để tương ứng với số lượng người nộp thuế gia tăng nhanhchóng, kéo theo chi phí quản lý thuế cũng tăng cao
- Cơ chế tự khai, tự nộp thuế: Theo cơ chế này, việc kê khai, tính thuế, nộp
thuế được thực hiện trên cơ sở sự tuân thủ về nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.Người nộp thuế căn cứ các qui định của pháp luật thuế để xác định các loại thuếphải nộp, tự kê khai, tự tính thuế và tự nộp số thuế đã tính vào NSNN Người nộpthuế có trách nhiệm lưu giữ chứng từ, sổ sách kế toán để chứng minh các sốliệu đã kê khai Cơ quan thuế có nhiệm vụ hỗ trợ, hướng dẫn để người nộp thuế
Trang 37hiểu rõ chính sách thuế, các thủ tục về thuế, từ đó tự thực hiện nghĩa vụ thuếcủa mình.
Trang 38Cơ quan quản lý thuế tập trung nguồn lực để giám sát chặt chẽ việc tuân thủnghĩa vụ thuế của người nộp thuế, thông qua công tác kiểm tra, thanh tra đểphát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn hành vi gian lận, trốn thuế của người nộpthuế Việc kiểm tra, thanh tra của cơ quan thuế đối với người nộp thuế đượcthực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, đánh giá những rủi ro để lựa chọnchính xác những trường hợp cần thanh tra, kiểm tra thuế để giảm chi phí quản
lý và không gây phiền hà cho người nộp thuế Như vậy, thực hiện cơ chế tự khai,
tự nộp thuế không phải buông lỏng sự quản lý, giám sát người nộp thuế mà cơquan quản lý thuế thực hiện quản lý, giám sát bằng phương pháp mới hiện đại,hiệu quả hơn Cơ chế quản lý thuế này giúp tạo được sự cân bằng giữa hai chứcnăng chủ yếu của cơ quan quản lý thuế là chức năng phục vụ và chức năng giámsát, kiểm tra hoạt động tuân thủ luật thuế đối với người nộp thuế, tạo nên sựkết hợp hài hòa vai trò của cơ quan quản lý thuế: cơ quan công quyền thực hiệnchức năng quản lý nhà nước về thuế và đồng thời là một cơ quan cung cấp dịch
vụ thuế cho cộng đồng doanh nghiệp và xã hội
Hiện nay pháp luật Việt Nam đang áp dụng nguyên tắc tự khai tự nộp, ngườinộp thuế tự kê khai, tự tính số tiền thuế phải nộp trong hồ sơ khai thuế của mìnhnộp cho cơ quan quản lý thuế Người nộp thuế có trách nhiệm khai chính xác,trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu và nộp đầy đủcác loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lýthuế Nếu trong kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ thuế thì người nộp thuếvẫn phải nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế theo đúng quy định
Liên quan đến nội dung kê khai thuế GTGT, có nhiều hình thức kê khai thuế:
kê khai thuế GTGT theo tháng, kê khai thuế GTGT theo từng lần phát sinh và khaiquyết toán thuế năm đối với trường hợp tính thuế GTGT theo phương pháp trựctiếp trên GTGT…Đối với mỗi trường hợp khai thuế khác nhau sẽ tương ứng vớicác loại hồ sơ, giấy tờ, tài liệu khác nhau Người nộp thuế phải nộp hồ sơ khaithuế theo đúng thời hạn quy định tại các địa điểm nộp nhất định Sau khi nộp
Trang 39hồ sơ khai thuế lên cơ quan thuế, nếu phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơquan
Trang 40thuế có sai sót, nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì người nộpthuế có quyền khai bổ sung hồ sơ khai thuế.Về nguyên tắc, nhằm khuyến khíchngười nộp thuế tự kiểm tra và phát hiện, sửa chữa sai sót trong quá trình kê khai
và nộp thuế, người nộp thuế có quyền bổ sung hồ sơ khai thuế vào bất kỳ ngàylàm việc nào, không phụ thuộc vào thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của lần tiếptheo, nhưng phải khai trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra, thanhtra thuế tại trụ sở người nộp thuế Trong trường hợp này người nộp thuếkhông bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai thiếu cũng như xử phạt vềhành vi trốn thuế
Thứ ba, nhóm quy phạm pháp luật về ấn định thuế GTGT
Ấn định thuế GTGT là việc cơ quan thuế xác định số thuế phải nộp và yêucầu người nộp thuế chấp hành việc nộp thuế theo quyết định ấn định thuế của cơquan thuế trong trường hợp nhất định Việc ấn định thuế của cơ quan quản lýthuế phải đảm bảo nguyên tắc khách quan, công bằng, tuân thủ đúng quy địnhcủa luật, hạn chế việc ấn định thuế mang tính chủ quan, áp đặt, tùy tiện thiếucăn cứ gây thiệt hại cho người nộp thuế hoặc thất thu cho NSNN Đối tượng ápdụng phương pháp ấn định thuế GTGT hay còn gọi là khoán thuế là các hộ kinhdoanh, cá nhân kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ
kế toán, hoá đơn, chứng từ;hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không có đăng kýkinh doanh, không đăng ký thuế
Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là hình thức kinh doanh với qui mô nhỏ
lẻ, không có tư cách pháp nhân Xuất phát từ đặc thù nền kinh tế Việt Nam, loạihình hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tồn tại khá phổ biến ở Việt Nam Hiệnnay Việt Nam có khoảng 1, 7 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 2, 65% tổngthu ngân sách nhà nước [11] Trên thực tế, các hộ kinh doanh thường không thựchiện chế độ kế toán, chế độ lập hóa đơn, chứng từ khi mua bán hàng hóa, dịch
vụ Do đó, các hộ kinh doanh không đủ điều kiện để áp dụng phương pháp khấutrừ thuế GTGT mà áp dụng phương pháp nộp thuế theo một tỷ lệ % trên doanhthu, hay chính là việc khoán thuế GTGT