ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ---o0o--- NÔNG ĐỨC DUẨN Chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH PHÒNG, TRỊ BỆNH VÀ NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC ĐÀN LỢN NÁI NUÔI CON TẠI TRẠI BẢY TUÂN – CHƯƠNG
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -
NÔNG ĐỨC DUẨN
Chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH PHÒNG, TRỊ BỆNH VÀ NUÔI DƯỠNG,
CHĂM SÓC ĐÀN LỢN NÁI NUÔI CON TẠI TRẠI
BẢY TUÂN – CHƯƠNG MỸ - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -
Chuyên đề:
NÔNG ĐỨC DUẨN
THỰC HIỆN QUY TRÌNH PHÒNG, TRỊ BỆNH VÀ NUÔI DƯỠNG,
CHĂM SÓC ĐÀN LỢN NÁI NUÔI CON TẠI TRẠI
BẢY TUÂN - CHƯƠNG MỸ - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K45 - TY - N01 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Minh Châu
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân tại trại lợn nái Bảy Tuân– Chương Mỹ - Hà Nội đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thực hiện đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luônủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nông Đức Duẩn
Trang 4ii
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi của trại năm 2016 và năm 2017 37
Bảng 4.2 Lịch sát trùng trại lợn nái 39
Bảng 4.3 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại 40
Bảng 4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái 43
Bảng 4.5 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con tại trại 46
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện một số biện pháp kỹ thuật trên đàn lợn của trại 48
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn 50
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
cs: Cộng sự
Trang 84
Trang 9MỤC LỤC
Trang
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Điều kiện khí hậu 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại 4
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại 5
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 6
2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 6
2.2.2 Những hiểu biết về một số bệnh thường mắc tại cơ sở 10
2.2.3 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 19
2.2.4 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 22
2.2.5 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 27
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32 3.1 Đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32
3.3 Nội dung thực hiện 32
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 32
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 32
Trang 103.4.2 Phương pháp thực hiện 32
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 33
Số liệu thu được từ kết quả nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm Excel 33
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản tại trại 34
4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại trại 38
4.3.1 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 38
4.3.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin 39
4.4 Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn tại trại 41
4.4.1 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái 41
4.4.2 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con 44
4.4.3 Kết quả thực hiện một số kỹ thuật trên đàn lợn tại trại 46
4.5 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn 49
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
I Tài liệu tiếng Việt
II Tài liệu tiếng Anh
PHỤ LỤC
Trang 11Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu củangành nông nghiệp để dần tiến tới một nền nông nghiệp hiện đại Sản phẩmcủa ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhucầu đời sống con người Trong đó, chăn nuôi lợn đang rất phổ biến và trởthành một nghề quan trọng để phát triển kinh tế hộ gia đình và các trang trại.Với mục đích đa ngành của nền kinh tế hiện nay, chăn nuôi lợn đã trở thànhmũi nhọn trong cơ cấu ngành chăn nuôi nói riêng và phát triển công nghiệphóa, hiện đại hóa nói chung
Chính vì tầm quan trọng của ngành chăn nuôi, đồng thời để hoàn thànhchương trình học trong Nhà trường, thực hiện phương châm “Học đi đôi vớihành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại cơ
sở trước khi ra trường rất quan trọng đối với mỗi sinh viên, nhằm củng cố và
hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, nâng cao tay nghề, đồng thời tạocho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phương pháp làm việc đúng đắn,đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất Thực tập tại các trại chăn nuôilợn sẽ giúp sinh viên nắm được phương pháp tổ chức và ứng dụng cáctiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, khi ra trường sẽ trởthành một người cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thựctiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước
Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự đồng ýcủa Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm TháiNguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở thực
tập, tôi tiến hành thực hiện đề tài : ‘’Thực hiện quy trình phòng, trị bệnh và
nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Bảy Tuân – Chương Mỹ - Hà Nội’’.
Trang 12- Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm thực tế
- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở
- Xác định được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đànlợn nái nuôi con tại trại
1.2.2 Yêu cầu
- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái nuôi con
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Vị trí địa lý
Trại lợn Bảy Tuân được xây dựng năm 2014, là trại của Công ty TNHHĐầu Tư kinh Doanh và Dich Vụ Bảo Lộc với quy mô 800 nái Trại được xâydựng tại xã Tiên Phương, Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, trên một quả đồivới diện tích 7 ha
Tiên phương là một xã nằm gần trung tâm của huyện, phía Đông nam
xã giáp thị trấn Trúc Sơn, phía Đông giáp xã phục Châu, Phía nam giáp xãNgọc Hòa, phía tây giáp xã Phú Nghĩa, phía bắc giáp xã Tân Hòa (huyệnQuốc Oai) Địa hình xã một nửa là đồng bằng, một nửa là đồi có diện tích3,19km² với dân số năm 2005 là 12.672 người mật độ dân số đạt 3.972 người/km² Có tuyến đường 419 nối liền các xã huyện, quốc lộ 6 với chiều dài
18 km và đường Hồ Chí Minh dài 16,5 km tạo điều thuận lợi cho việc giaothông, vận chuyển thức ăn cũng như việc trao đổi buôn bán, vận chuyển hànghóa của trại
2.1.2 Điều kiện khí hậu
Huyện Chương Mỹ nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, chịu ảnhhưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Do đó, trại lợn Bảy Tuân chịu ảnhhưởng chung của khí hậu vùng, nhiệt độ thay đổi theo mùa rõ rệt Mùa hènóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 8), mùa đông lạnh, khô (từ tháng
Trang 14trung nhiều vào tháng 7, tháng 8 Độ ẩm không khí 86,1% Vùng thấp thườngkhô hanh vào
Trang 15tháng 12, tháng 1 Từ độ cao 400m trở lên không có mùa khô Mùa Đông cógió Bắc, mùa Hạ có gió Đông Nam Với điều kiện khí hậu như vậy, tương đốithuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại
Trại gồm có 21 người, trong đó có:
+ 1 quản lý
+ 3 kỹ sư chính của công ty De Heus (1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 1 cai
Trang 16+ 2 Kỹ thuật điện nước
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại
Trại được xây dựng nên cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng đều được quantâm và chú trọng
* Về cơ sở vật chất của trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư:
- Trại được xây dựng trên diện tích khoảng 7ha với 11 dãy chuồng lớnchạy dài lợp mái tôn Mỗi dãy lớn lại được chia làm 2 dãy chuồng nhỏ
- Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng bầu) và sàn nằm(đối với chuồng đẻ) được lắp đặt theo dãy
- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện thắp sáng, vòi uống nước tựđộng cho lợn
- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông
- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấpđiện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện
- Về cơ sở hạ tầng:
+ Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: khu nhà ở và sinh hoạt của côngnhân, sinh viên và khu chuồng nuôi
Trang 17+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi.
+ Khu nhà ăn cũng được tách biệt có nhà ăn chung
+ Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ
+ Trại có 3 nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và kho thiết bị tách biệt
là kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹthuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại
- Hệ thống chuồng nuôi:
Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễthoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân,gồm: 3 chuồng đẻ, 3 chuồng bầu, 3 chuồng cai sữa và 2 thịt Chuồng đượcxây dựng theo hướng Đông - Nam Chuồng nuôi xây dựng theo kiểu 2 máigồm 11 dãy chuồng chạy dài Trong đó có 3 dãy chuồng đẻ, mỗi dãy đượctách ra làm 2 chuồng nhỏ với 52 ô chuồng sàn Chuồng lợn bầu gồm 3 chuồngvới kiểu chuồng cũi sắt Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điệnchiếu sáng và hệ thống vòi uống nước tự động ở mỗi ô chuồng Mùa hè có hệthống làm mát bằng quạt thông gió và dàn mát Mùa đông có hệ thống làm ấmbằng đèn hồng ngoại
*Về cơ sở vật chất phục vụ cán bộ công nhân trong trại:
- Có các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinhhoạt hàng ngày như tắm nóng lạnh, quạt gió
- Những vật dụng cá nhân như: Kem đánh răng, xà phòng tắm, dầu gộiđầu cũng được trại chuẩn bị
- Trại còn đầu tư một ao cá với diện tích 1500 m² phục vụ câu cá cảithiện bữa ăn cho cán bộ công nhân sau giờ làm việc
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại
- Thuận lợi:
+ Trại được xây dựng trên một khu đất rộng cách xa khu dân cư
Trang 18+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực,năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công việc.
+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay
- Khó khăn:
+ Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biếnphức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn Năm 2014, khi trạivừa bắt đầu vào hoạt động ổn định thì dịch bệnh tai xanh bùng phát làm trạithiệt hại khá lớn về kinh tế và làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của trại
2.2, Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.1.1 Phòng bệnh
Như chúng ta đã biết trong khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu,nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Cácbiện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, tác đọng lên các yếu
tố như môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trịbệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng 2004 [20] bệnh xuất hiện trong một đàn lợnthường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc khôngtruyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa
ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phầnlớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhângây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Lê Văn Tạo và cs, 1993 [21] vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn là vi
khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trườngquá ô nhiễm do vê sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi nhiễm vikhuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi cảm nhiễm
E coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn
Trang 19trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật làđiều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻmạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phảiđược vê sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo
27 - 300C đối với lợn sơ sinh và 28 - 300C với lợn cai sữa Chuồng phải luônkhô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùađông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trongnhững ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng, mang lạihiệu quả cao trong chăn nuôi
Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [19] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ôchuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn náitrước khi đẻ
Theo Gardner (1990) [28], Smith (1995) [29] tăng cường vệ sinhchuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong việc phòngngừa nhiễm trùng sau khi sinh
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi:
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoángmát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh
Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô.
Thay tấm nan hoặc ngâm trong bể sát trùng, rửa sạch sau đó phun sát trùngbằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôithương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưucữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng
thể và triệt để Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn
của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướngdẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường
Trang 20xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thugom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để
xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuầntrong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụchăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh
và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đốitượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễndịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh củamầm bệnh tương ứng
-Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnhngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
2.2.1.2 Điều trị bệnh
Để điều trị bệnh được hiệu quả ta cần áp dụng các phương pháp
+ Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng,dùng thuốc
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạnchế lây lan
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
Trang 21+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơthể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bịtái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền.
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thểchữa lành mà không giảm chất lượng sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kémvượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thìkhông nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2012 [10] các biện phápchữa bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện
vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hôhấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thờiđối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậythường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnhbằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn,
có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh khángđộc tố)
+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầmbệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vikhuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc vàtính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phốihợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, nếu một loại thuốc chưa cótác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụngngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụngkháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
Trang 22do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làmgiảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gâynên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của khángsinh Khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽchữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xácđịnh Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian đểphát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng vàđộc tính của từng loại, tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị
và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia cần tăng cường , bổ xungcác loại khoáng vi lượng như canxi và photpho (P), Natri (Na) Clo (Cl),…
* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs 2002 [8] viêm tử cung là một quá trìnhbệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ
Trang 23các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở giasúc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.Theo Bilkei 1994 [1] viêm tử cung thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm vi
khuẩn E.coli gây dung huyết và các vi khuẩn gram dương.
Theo Urban (1983) [31], Bilkei (1994) [1], các vi khuẩn gây nhiễmtrùng tử cung có nguồn gốc từ nước tiểu, các tác giả đã phân lập vi khuẩn từ
mẫu nước tiểu lợn nái sắp sinh thường có chứa các vi khuẩn E coli,
Staphylococcus aureus, Streptococcus spp Tuy nhiên, các nghiên cứu của các
tác giả khác lại ghi nhận các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung là các vikhuẩn cơ hội thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí có mặt ở nền chuồng, lúc lợnnái sinh cổ tử cung mở, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh Do đó theo Gardner(1990) [28], Smith (1995) [29], Taylor (1995) [30], tăng cường vệ sinhchuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong việc phòngngừa nhiễm trùng sau khi sinh
Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs,
2002 [14], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằngphương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫntinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tửcung lợn nái gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vậthoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âmđạo truyền sang cho lợn khoẻ
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêmmạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đếnviêm tử cung
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm,
Trang 24Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm tử cung
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau
đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện đểxâm nhập vào gây viêm
Theo Đoàn Kim Dung và Lê Thị Tài, 2002 [7] nguyên nhân gây viêm
tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.
coli….
Lê Văn Năm, 1999 [17] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoạicảnh gây bệnh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằngdụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến chất nhày trong cơ quan sinhdục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý
và thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trongđiều kiện cai sữa bình thường dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầukhoảng 3 tuần sau đẻ) Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cunggây bệnh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây ratrong thời gian động đực (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹthuật
Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: Khẩu phầnthiếu hay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tửcung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xâyxát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung
* Triệu chứng:
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày, cá biệttới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sangvàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màuđục, mùi tanh rất khó chịu
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 - 42oC trong vài ngày đầu âm môn sưngtấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ
Trang 25tử cung lan sang thai làm chết thai.
* Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quansinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đềuảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, pháttriển của lợn con
Theo Trần Tiến Dũng và cs, 2002 [8] Trần Thị Dân (2004) [5] khi lợnnái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co
thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có
thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử
cung tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ởbuồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây
co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi
đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử
cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thaichết lưu
Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung đểgiúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng
Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử
cung giảm, do đó
Trang 26Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có
mặt của vi khuẩn E coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân
tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳnsữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bịtiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dụctrở lại
Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF 2α giảm, do đó thể
vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone.
Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự
phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trởlại được và không thải trứng được
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung saukhi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻsau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trongcác nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôisống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnhhưởng tới hoạt động của buồng trứng
* Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểuhiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mởnên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài mlcho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung
Trang 27dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màumáu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấptính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượngchảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi cónhững mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kếttinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợnnái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủchảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì
có thể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối.Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủnên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặtkhác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán chochính xác
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểuhậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất,thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
2.2.2.2 Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân gây bệnh viêm vú:
Trần Minh Châu (1996) [4] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi không
đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn
đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây
ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảmkhẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết raquá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu làmôi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm
Trang 28- Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ,viêm bàng quang… Khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu vềtuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh
- Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú mộthàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợncon bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (TrươngLăng, 2000) [13] Ở Pháp, các tác giả Pierre Brouillet và Bernard Faroult
2003 [3] đã nghiên cứu và kết luận Điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ chosữa là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú Nó phải được tiếnhành sớm và đạt kết quả, xác định nguyên nhân không chỉ dựa vào triệuchứng lâm sàng mà phải tính đến các chỉ tiêu chăn nuôi và có thể dựa vào cáckết quả của 30 phòng thí nghiệm Sự hiểu biết đầy đủ các phương pháp điềutrị, nhất là về dược lực học và dược động học cho phép đáp ứng tốt hơn cáchđiều trị
Các nghiên cứu của Trekaxoa 1983 [26] về chữa bệnh viêm vú cho lợnnái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp Dùng Novocainphong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bếthần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch Novocain 0,5% liều từ 30 -40ml cho mỗi lá vú Thuốc tiêm vào mỗi thuỳ vú bệnh, sâu 8 - 10cm Dungdịch Novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị Penicillin hay khángsinh khác Đồng thời lợn nái còn được tiêm bắp cùng một số loại thuốc khángsinh trong Novocain này, từ 400 – 600 đợn vị, mỗi ngày 2 – 3 lần
- Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn,sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú,thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm
* Triệu chứng:
Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 5 giờ cho đến 5
-7 ngày có khi đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [23], viêm vú
Trang 29thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú
có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứngđau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dàitrong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vúxuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹđòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy , tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê HồngMận, 2002) [16] Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa cónhững cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh casein màu vàng,xanh lợn cợn, đôi khi có máu
* Hậu quả của bệnh viêm vú:
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
- Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004 [15] bệnh viêm tửcung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợnnái nuôi con
- Theo Nguyễn Xuân Bình 2000 [2], Mất sữa sau khi đẻ là do kế phát
từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liêntục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quátrình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêuhóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bịhạn chế, thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa cónhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh vàtrọng lượng cai sữa thấp
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khóchữa, lợn nái có thể chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnhhưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
Trang 302.2.2.3 Bệnh sót nhau
Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết,can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại.Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy đượcnhau ra
* Nguyên nhân:
Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh, (2010) [24] sau khi đẻ
tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vậtkhông được vận động đầy đủ Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca
và P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quánhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quámức
+ Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác
+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh
truyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellaloes (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu
tạo của nhau
- Triệu chứng:
Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:
+ Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khimắc thường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn
+ Sót nhau không hoàn toàn: Ở động vật đơn thai một phần màng nhaucòn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau rangoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ
Theo Đỗ Quốc Tuấn 2005 [27], biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bị sótnhau Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sảndịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cholợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm sốnhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không
Trang 31- Điều trị: Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không đểquá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnhtay, tránh những tổn thương Tiêm Oxytocin dưới da để kích thích co bóp tửcung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nướcmuối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục Trịnh Đình Thâu vàNguyễn Văn Thanh 2010 [24]
2.2.3 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.3.1 Sự thành thục về tính và thể vóc
* Sự thành thục về tính:
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục
và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục
đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục.Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối
Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: Giống, chế
độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại
+ Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau.Những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giốngthuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơnnhững giống có tầm vóc lớn
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 2003 [6] cho rằng: Tuổi động dụcđầu tiên ở lợn nội (ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ
20 - 25kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần,
ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng
cơ thể đạt 50 - 55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúcđộng dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80kg Tuỳ theo giống, điềukiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau.Lợn ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158
Trang 32về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là48,4 kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác độngxấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnhhưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồngtrứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng Mặtkhác do béo quá ảnh hưởng tới các hormone estrogen và progesterone trongmáu làm cho hàm lượng của trong trong cơ thể không đạt mức cần thiết đểthúc đẩy sự thành thục.
- Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Theo Dwane và cs, 1992 [9], mùa vụ
và thời kỳ chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợnnái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu - Đông, điều đó có thể do ảnhhưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trongcác tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thụcsớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày(mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với cácmùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so vớinhững biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày
- Tuổi thành thục về tính của gia súc:
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc,nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn
Trang 33lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh vàLưu Kỷ, 2003 [6] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầutiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chấtdinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệuquả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dụclần đầu rồi mới cho phối giống
* Sự thành thục về thể vóc:
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs 2003 [12], tuổi thành thục về thể vóc làtuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc
ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục
về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầutiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, tronggiai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn
mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt,nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xươngchậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năngsuất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm.Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nêncho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 -110kg mới nên cho phối
2.2.3.2 Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơthể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không cóhiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãnbao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trìnhthải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàngloạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi
đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính
Trang 34Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh 1993 [25], chu kỳ tính của lợnnái thường diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thườngkéo dài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), vàđược chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạnchịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)
+ Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết,chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượngtrên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40h, với lợn nội là 25 - 30h
+ Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi đặt tay lênlưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yênkhi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu đượcphối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30h
+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở,đuôi cụp và không chịu đực
- Thời điểm phối giống thích hợp
Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh 1993 [25] trứng rụng tồn tạitrong tử cung 2 - 3h và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48h Thờiđiểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phốivào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đốivới lợn nái nội sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 dothời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnhhưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quảkém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu
2.2.4 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
Đặc điểm về sinh trưởng, phát dục:
Trang 35Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ giasúc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh conkhỏe mạnh vì vậy khâu chăm sóc luôn được chú trọng
Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [19] so với khối lượng sơ sinh thìkhối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần,lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đềuqua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm vàhàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảmsinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng củalợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho tập ăn sớm Dolợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh
Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gamprotein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được0,3
- 0,4 gam protein/1kg khối lượng cơ thể theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [19]
Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượngnghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợncon chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn đểtạo ra 1kg mỡ
Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu,thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn
Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh,các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa cònnhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần
Trang 36Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu Dung tích dạdày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổităng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngàytuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh
Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức
ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất
Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặcbiệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tốtác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn concũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa
Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCltrong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên.Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu củalợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein màchỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa Còn huyết thanh chứa albumin vàglobulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu
Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dàykhông còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm cótác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoànthiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sungthức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự dosớm hơn, tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với contrưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)
Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2005 [22] cho rằng: Lợn con dưới 1tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít vànhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi làhypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn