1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp thu hút FDI vào dịch vụ môi trường tại việt nam

91 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 647 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT1 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài 2 WTO Tổ chức thương mại thế giới 3 UNCTAD Diễn đàn Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc 4 OECD Tổ chức Hợp tác và Phát t

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, các số liệu trong luận văn có nguồn gốc

rõ ràng.

Tác giả

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG - BIỂU ĐỒ ii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 6

TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ FDI VÀO CÁC DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG 6

1.1 Cơ sở lý luận về vốn đầu tư và thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường 6

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 6

1.1.2 Sự cần thiết khi thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường 10

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường 12

1.1.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường 17

1.2 Cơ sở thực tiễn về thu hút vốn đầu tư nói chung và thu hút vốn đầu tư vào dịch vụ môi trường nói riêng 23

1.2.1 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư tại một số nước trên thế giới 23

1.2.2 Bài học rút ra từ thành công của các nước 37

1.3 Bài học kinh nghiệm cho quá trình thu hút vốn đầu tư nói chung và thu hút vốn đầu tư vào dịch vụ môi trường nói riêng tại Việt Nam 38

CHƯƠNG 2 44

THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ FDI VÀO CÁC DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2016 44

2.1 Tổng quan về tình hình vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường tại Việt Nam trong những năm qua 44

2.1.1 Số lượng dự án đầu tư vào các dịch vụ môi trường tại Việt Nam trong những năm qua 44

Trang 3

2.1.2 Quy mô của các dự án đầu tư vào các dịch vụ môi trường tại Việt Nam

trong những năm qua 46

2.2 Thực trạng thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016 50

2.2.1 Thực trạng hoạch định kế hoạch, chiến lược thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016 50

2.2.2 Thực trạng nguồn nhân lực thực hiện thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016 53

2.2.3 Thực trạng đánh giá kết quả thực hiện quá trình thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016 56

2.3 Đánh giá chung về thực trạng thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016 57

2.3.1 Nguyên nhân thành công 61

2.3.2 Nguyên nhân hạn chế 64

CHƯƠNG 3 68

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ FDI VÀO CÁC DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỚI (ĐẾN NĂM 2020) 68

3.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển ngành môi trường Việt Nam đến năm 2020 68

3.1.1 Quan điểm chỉ đạo 68

3.1.2 Mục tiêu đến năm 2020 69

3.1.3 Định hướng phát triển ngành công nghiệp môi trường đến năm 2020 69

3.2 Giải pháp tăng cường thu vút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường tại Việt Nam giai đoạn tới (đến năm 2020) 70

3.2.1 Giải pháp chính 70

3.2.2 Các giải pháp hỗ trợ 75

3.3 Một số kiến nghị 76

3.3.1 Đối với nhà nước 76

3.3.2 Đối với các cơ quan hữu quan 78

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

2 WTO Tổ chức thương mại thế giới

3 UNCTAD Diễn đàn Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc

4 OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

5 NSNN Ngân sách nhà nước

6 ODA Hỗ trợ phát triển chính thức

7 CNMT Công nghệ môi trường

8 BVMT Bảo vệ môi trường

9 AFTA Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN

10 SX Sản xuất

11 KCN Khu công nghiệp

12 KKT Khu kinh tế

13 IESF Quỹ Hỗ trợ sáng kiến vì sự bền vững về môi trường

14 BOI Ủy ban xúc tiến luật đầu tư

Trang 6

DANH MỤC BẢNG - BIỂU ĐỒ BẢNG

Bảng 1.1: Tóm tắt các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ môi trường củaThái Lan đối với các nước thành

viên WTO 30

Bảng 1.2: Phí và thời hạn của các loại thị thực của Thái Lan 31

Bảng 2.1: Thực trạng số lượng dự án đầu tư nước ngoài 45

Bảng 2.2 Tỷ trọng vốn FDI của DVMT trong tổng vốn FDI của toàn xã hội 57

BIỂU Biểu đồ 2.1: Quy mô các dự án đầu tư vào dịch vụ môi trường tại Việt Nam 2012-1016 48

Biểu đồ 2.2 Quy mô đầu tư theo đối tác 49

Trang 7

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng thì việc mở cửathị trường ngành dịch vụ môi trường (DMVT) trở thành một trong những nội dungquan trọng trong các đàm phán thương mại song phương và đa phương, cũng nhưcác khuôn khổ hợp tác quốc tế

Hiện trạng DVMT của Việt Nam được nhận định còn rất sơ khai, chỉ mớiđịnh hình rõ và phát triển ở lĩnh vực chất thải và nước thải với tham gia của cácdoanh nghiệp Nhà nước Về năng lực cung ứng dịch vụ: Hiện nay các doanh nghiệpDVMT của Việt Nam hoạt động tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nước thải và rácthải Mặc dù có sự gia tăng đáng kể về số lượng và quy mô các tổ chức DVMTnhưng về cơ bản mới chỉ xử lý được một phần rất nhỏ chủ yếu là hoạt động thu gom

và xử lý sơ bộ so với nhu cầu của ngành, nhiều dịch vụ đòi hỏi công nghệ cao như

xử lý khí thải… thì các doanh nghiệp DVMT hầu như chưa đáp ứng được Cho đếnnay, năng lực ngành DVMT mới đáp ứng được 2-3% nhu cầu xử lý nước thải đô thị,15% nhu cầu xử lý chất thải rắn, khoảng 14% nhu cầu xử lý chất thải nguy hại;nhiều lĩnh vực như tái chế dầu thải, nhựa phế liệu, chất thải điện, điện tử chưa pháttriển

Trong quá trình phát triển, đặc biệt cần đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo

vệ môi trường, bao gồm từ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, chế tạo thiết bị đếncung cấp các dịch vụ bảo vệ môi trường, quản lý và sử dụng tài nguyên Đặc biệtcần khuyến khích, hỗ trợ công tác nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh hợp tác quốc tếtrong hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ phục vụ bảo vệ môi trường

Trang 8

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đối với những nước đang phát triển và tích lũy vốn nội bộ trong nền kinh tếcòn thấp như Việt Nam thì cần phải thu hút vốn từ bên ngoài cho đầu tư phát triển,trong đó việc thu hút vốn FDI là một tất yếu khách quan Đây được coi là “cúhuých” nhằm giúp đất nước thoát khỏi “cái vòng luẩn quẩn” về kinh tế Thực tếcho thấy, thời gian vừa qua vốn FDI đã và đang là một kênh bổ sung vốn rất quantrọng cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế.Những thành tựu đạt được trong việc thu hút nguồn vốn FDI thời gian qua đã tạocho đất nước nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực cho các ngànhcông nghiệp như dầu khí, hóa chất, lắp ráp ô tô, công nghệ thông tin…Bên cạnh

đó, nguồn vốn FDI cũng góp phần hình thành và phát triển hệ thống các khu côngnghiệp, khu chế xuất và đặc biệt gần đây là khu công nghệ cao

Thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, Việt Nam đã đạt được nhiều thànhtựu quan trọng trong phát triển kinh tế và an sinh xã hội Đời sống của nhân dânliên tục được cải thiện Tuy nhiên, bên cạnh các thành công thì Việt Nam cũngđang đối mặt với nhiều vấn đề bức xúc, đặc biệt là sự xuống cấp của chất lượngmôi trường Ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên đang diễn ra gay gắt vớimức độ phức tạp ngày càng gia tăng, làm thiệt hại lớn về kinh tế và gây ra nhiều hệquả nghiêm trọng khác Trong bối cảnh đó, nhu cầu về xử lý chất thải và cải thiệnmôi trường ngày càng cao, đòi hỏi cần có những bước phát triển mới trong lĩnhvực dịch vụ môi trường (DVMT) Thực tế cho thấy, năng lực cung ứng DVMT vàchất lượng DVMT còn thấp, khu vực tư nhân tham gia chưa nhiều, chỉ mới pháttriển ở các thành phố lớn Trước đây, các hoạt động làm sạch, khôi phục môitrường và bảo vệ tài nguyên được xem là những dịch vụ công, do các chính phủcung cấp Nhưng hiện nay, do gánh nặng đối với ngân sách ngày càng lớn, cộngvới một thực tế là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả, các chínhphủ đã tìm cách xã hội hoá lĩnh vực dịch vụ môi trường và tạo ra các cơ chếkhuyến khích tư nhân cũng như doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này

Xuất phát từ thực tiễn quan trọng đó, đề tài “ Giải pháp thu hút FDI vào

Trang 9

nghiên cứu sâu và toàn diện về thực trạng thu hút và sử dụng FDI, cũng như hệthống chính sách FDI của Việt Nam đối với dịch vụ môi trường trong thời gian vừaqua Đồng thời xác định mức độ thu hút FDI phù hợp để tối ưu hóa lợi ích thuđược từ nguồn vốn này.

2 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này là nhằm:

Hiểu rõ lý luận chung về vốn đầu tư và thu hút vốn đầu tư FDI vào dịch vụmôi trường tại Việt Nam

Vận dụng những lý thuyết nghiên cứu được để tìm hiểu về thực trạng thu hútvốn đầu tư vào các dịch vụ môi trường tại Việt Nam

Rút ra những hạn chế còn tồn tại trong công tác thu hút vốn đầu tư FDI vàocác dịch vụ môi trường của Việt Nam

Trên cơ sở phân tích, đề xuất các giải pháp và kiến nghị để tăng cường thuhút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

- Thu hút FDI vào dịch vụ môi trường tại Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Giải pháp thu hút FDI vào các dịch vụ môi trường tại Việt Nam.

- Phạm vi không gian: Dịch vụ môi trường tại Việt Nam

- Phạm vi thời gian: Khoảng thời gian nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2016.

Dữ liệu được tập hợp từ Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, Cục Đầu tư nướcngoài (Bộ Kế hoạch và đầu tư), Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, BộTài nguyên và Môi trường

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học của kinh tế chính trị Mác Lênin để nghiên cứu những dấu hiệu, thuộc tính đặc trưng của các hoạt động dịchvụ môi trường để đi đến quan niệm khoa học về dịch vụ môi trường, đặc điểm vàphân ngành hoạt động dịch vụ môi trường

Trang 10

-tư vào dịch vụ môi trường của các doanh nghiệp.

Sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh trên cơ sở thông tin đã có để đánh giá thực trạng đầu tư vào dịch vụ môi trường tại Việt Nam

Sử dụng các phương pháp kết hợp lôgíc và lịch sử, phân tích, để xác định quanđiểm, giải pháp phát thu hút đầu tư vào hoạt động dịch vụ môi trường thời gian tới

5 Tổng quan các công trình nghiên cứu

Để bảo vệ môi trường, ngày nay quan điểm phát triển kinh tế môi trường,trong đó có dịch vụ môi trường với vai trò của một ngành kinh tế trong nền kinh tếquốc dân được các quốc gia nhìn nhận, đánh giá một cách đúng đắn hơn Từ thựctiễn đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về dịch vụ môi trường

Dự án:“Điều tra đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ môi trường ở Việt Nam Đề xuất chính sách phát triển dịch vụ môi trường phù hợp với các cam kết quốc tế trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” của Viện nghiên cứu Thương

mại, Bộ Công thương Dự án đã hệ thống các quan niệm và cách phân loại khácnhau về dịch vụ môi trường trên thế giới; nghiên cứu kinh nghiệm phát triển dịchvụ môi trường và thực hiện các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ môi trường củamột số nước trên thế giới (Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Thái Lan) và rút ra bàihọc đối với Việt Nam; khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động dịch vụ môi trườngcủa Việt Nam và mức độ đáp ứng yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế và đề xuấtcác giải pháp phát triển hoạt động dịch vụ môi trường

Công trình nghiên cứu: Ngành hàng hóa và dịch vụ môi trường toàn cầu.

Công trình đề cập thực trạng, giải pháp phát triển ngành hành hóa và dịch vụ môitrường trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế

Cuốn sách: Chính sách quản lý tài nguyên và môi trường Trong cuốn sách

này, tác giả đã đề cập nhiều nội dung liên quan đến đề tài luận án, như: Sự cần thiếtcủa công cụ chính sách trong quản lý tài nguyên và môi trường; một số hình thứcdịch vụ bảo vệ hệ sinh thái môi trường; nghiên cứu quy định về tiêu chuẩn môitrường, giảm ô nhiễm; cấp phép phát thải ô nhiễm; thuế, lệ phí, quỹ và trợ cấp cho

Trang 11

chính sách quốc gia về môi trường v.v

Đề án: “Dự án xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ môi trường đến năm 2030”, của Bộ Tài nguyên và Môi trường Đề án đã xác định quan điểm, mục tiêu,

nhiệm vụ và giải pháp phát triển các hoạt động dịch vụ môi trường

Nhìn chung các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn đã phântích quan niệm, phân ngành và vai trò dịch vụ môi trường

Về quan niệm dịch vụ môi trường: Qua các công trình nghiên cứu cho thấy

hiện nay trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất Các khái niệm về dịch vụmôi trường được hình thành từ thực tiễn hoạt động kinh doanh cũng như bảo vệ môitrường của các tổ chức và mỗi quốc gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế(OECD) định nghĩa về dịch vụ môi trường như sau: “Dịch vụ môi trường là nhữngdịch vụ được cung cấp nhằm quản lý, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu hoặc khắcphục những thiệt hại về môi trường nước, không khí, đất, cũng như giải quyết nhữngvấn đề liên quan đến chất thải, tiếng ồn và hệ sinh thái”

Về phân ngành dịch vụ môi trường: Qua các công trình nghiên cứu cho thấy,

do còn tồn tại những quan niệm khác nhau về dịch vụ môi trường nên hiện nay trênthế giới cũng tồn tại những cách phân ngành khác nhau về dịch vụ môi trường, trong

đó nổi lên là cách phân ngành của WTO (GATS), OECD và EU

- Phân ngành của WTO (GATS): phân loại dịch vụ môi trường bao gồm 4phân ngành

Mặc dù liên quan đến đề tài của luận văn đã có nhiều công trình nghiên cứu;nhiều kết quả nghiên cứu của các công trình này sẽ được kế thừa trong thực hiện

đề tài luận văn, song đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệthống về giải pháp thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường tại ViệtNam

6.Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kết cấu của luận văn được bố cục làm 3 chương

Trang 12

trường tại Việt Nam.

Chương 2 Thực trạng thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường tại Việt

Nam từ năm 2012 đến năm 2016

Chương 3 Định hướng và giải pháp thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi

trường tại Việt Nam giai đoạn tới (tính đến năm 2020)

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ FDI VÀO

CÁC DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG 1.1 Cơ sở lý luận về vốn đầu tư và thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch

Theo Luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam thì “đầu tư là việc nhà đầu tư bỏvốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành cáchoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật

có liên quan” Theo khái niệm này, đã là đầu tư thì phải bỏ vốn, chính là các tài sảnhữu hình và vô hình để tiến hành các hoạt động đầu tư được pháp luật cho phép,như vậy tất cả các nhà đầu tư đều được tham gia đầu tư vào tất các lĩnh vực trongnền kinh tế mà không vi phạm các quy định của pháp luật Tuy nhiên, quan niệmnày lại chưa phản ánh được mục tiêu của các nhà đầu tư là phải sinh lợi

Cũng có quan điểm cho rằng đầu tư là “việc sử dụng các nguồn lực hiện tạinhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai", với quan niệm này

đã nhấn mạnh đến mục đích của đầu tư là thu được lợi ích trong tương lai nhưng lạichưa phản ánh chủ thể mong muốn thu được lợi ích trong tương lai Xét trên góc độkinh tế, đầu tư là hy sinh tiêu dùng hiện tại để hy vọng có được thu nhập cao hơntrong tương lai Đối với từng chủ thể trong nền kinh tế, đó là tạo ra hoặc tăng thêmlợi ích, những giá trị riêng biệt cho các chủ thể Đối với toàn bộ nền kinh tế, chính

là tạo ra hoặc gia tăng giá trị tổng thể cho toàn xã hội Đầu tư là phải ứng ra mộtlượng vốn nhất định và được sử dụng trong tương lai, do đó đầu tư luôn gắn với rủiro

Trang 14

Với phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả xin đưa ra quan điểm về đầu tưnhư như sau: Đầu tư là quá trình ứng ra một lượng vốn nhất định (bằng tiền mặt, tàisản) ở hiện tại với mục đích là làm tăng thêm giá trị trong tương lai cho chủ thể bỏvốn.

b).Vốn đầu tư

Vốn đầu tư là giá trị bằng tiền của các nguồn lực được huy động và sử dụngvào thực hiện đầu tư qua đó hình thành vốn sản xuất của nền kinh tế Hay nói cáchkhác vốn đầu tư là toàn bộ các chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư

c).Dịch vụ môi trường

Trong xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuấtkinh doanh, sinh hoạt của con người ngày càng sử dụng nhiều nguồn tài nguyênthiên nhiên và thải ra môi trường các chất thải với khối lượng ngày càng lớn đã làmgia tăng nhu cầu xử lý ô nhiễm môi trường, nên dịch vụ môi trường đã trở thànhmột phân ngành trong khu vực kinh tế dịch vụ ở nhiều nhiều quốc gia Đồng thời,thuật ngữ "dịch vụ môi trường" (environmental service) cũng đã xuất hiện trong hệthống phân ngành kinh tế của nhiều tổ chức quốc tế, như Liên Hợp quốc, Tổ chứcThương mại thế giới (WTO) v.v

Mặc dù dịch vụ môi trường đã trở thành một ngành kinh tế ở nhiều quốc gia

và trong thương mại dịch vụ quốc tế, song hiện nay trên thế giới chưa có một địnhnghĩa thống nhất về dịch vụ môi trường Các khái niệm về dịch vụ môi trường đượchình thành từ thực tiễn hoạt động dịch vụ môi trường của các tổ chức và mỗi quốcgia

Trong phần nghiên cứu tổng quan của luận văn đã đề cập một số quan niệm vềdịch vụ môi trường trên thế giới Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)

định nghĩa về dịch vụ môi trường như sau: Dịch vụ môi trường là những dịch vụ được cung cấp nhằm quản lý, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu hoặc khắc phục những thiệt hại về môi trường nước, không khí, đất, cũng như giải quyết những vấn

đề liên quan đến chất thải, tiếng ồn và hệ sinh thái [9, tr.32.]

Diễn đàn Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) quan niệmdịch vụ môi trường bao hàm 4 nhóm chính: Dịch vụ hạ tầng môi trường (cốt lõi),

Trang 15

gồm quản lý nước và quản lý chất thải; các dịch vụ như thiết kế, xây dựng, lắp đặt,vận hành; Phục hồi gồm làm sạch địa điểm, phản ứng khẩn cấp đối với các sự cố,phục hồi, đánh giá; dịch vụ hỗ trợ môi trường gồm phân tích, luật pháp, tham vấn,kiểm toán, nghiên cứu và phát triển

Cách định nghĩa và phân loại DVMT theo Hiệp định chung về thương mại

và dịch vụ ( GATS).

DVMT trong WTO và đàm phán gia nhập của Việt Nam: Nhiều khái niệmkhác nhau về DVMT, tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm tự do hóa thương mại thìkhái niệm của WTO được coi là đơn giản hơn cả, theo đó, DVMT gồm các loại hìnhdịch vụ có thể mang lại lợi ích môi trường Một điều đặc biệt là do chưa có mộtđịnh nghĩa thống nhất về DVMT nên khi đàm phán WTO không bắt buộc tuân theomột danh mục nào Các nước có thể tự do sử dụng hoặc xây dựng cho mình mộtdanh mục riêng để phục vụ cho mục đích đàm phán và cam kết thương mại Quátrình đàm phán vẫn đang tiếp diễn kể từ sau Hội nghị Bộ trưởng WTO tại Doha năm

2001 DVMT, hiện nay được phân loại theo 2 quan điểm:

Phân loại của WTO (GATS): Dựa trên quan điểm tự do hóa thương mại, các

DVMT trong GATS, bao gồm 4 phân ngành:

- Các dịch vụ về nước thải (CPC 9401);

- Các dịch vụ về rác thải (CPC 9402) hay còn được gọi là dịch vụ chất thải rắn

- Dịch vụ vệ sinh và các dịch vụ tương tự (CPC 9403)

- Các DVMT khác (CPC 9404), gồm: làm sạch không khí bị ô nhiễm, hạnchế tiếng ồn, bảo vệ thiên nhiên và cảnh quan môi trường

Cách phân loại này hạn chế, tập trung nhiều hơn vào những dịch vụ liên quantới việc xử lý các hậu quả về môi trường (cách tiếp cận cuối đường ống); chỉ baogồm các loại hình dịch vụ được cung cấp trong quá trình hoạt động của các trangthiết bị, máy móc, nhà xưởng và cũng chỉ quan tâm dịch vụ cung cấp cho cộngđồng Cách phân loại của OECD và EU: Dựa trên quan điểm lợi ích môi trường,đàm phán về DVMT sẽ dựa trên danh mục mới gồm 7 phân ngành: nước sinh hoạt

Trang 16

và quản lý nước thải; quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại; bảo vệ khí quyển

và khí hậu; khôi phục và làm sạch đất, nước; giảm độ rung và tiếng ồn; bảo vệ đadạng sinh học và cảnh quan môi trường; các dịch vụ hỗ trợ và DVMT khác

Với cách phân loại này, trước hết, DVMT được đặt trong ngành công nghiệpmôi trường có tính linh hoạt và gắn kết cao (các hoạt động liên quan tới quản lý ônhiễm, xây dựng và lắp đặt trang thiết bị nhằm phục vụ cho mục đích trên bao gồm

cả việc vận hành các công nghệ và sản phẩm sạch hơn); Hai là, các công nghệ vàsản phẩm nhằm làm giảm rủi ro và giảm thiểu sự ô nhiễm lãng phí các nguồn lực;

Ba là, DVMT được xác định là những dịch vụ được cung cấp để xác định, ngănchặn, hạn chế, giảm thiểu hoặc khắc phục những thiệt hại môi trường xảy ra đối vớiđất, nước, không khí, cũng như những vấn đề liên quan tới chất thải, tiếng ồn và hệsinh thái

BVMT và phát triển bền vững đã trở thành quan điểm của Đảng, đường lốichính sách của Nhà nước và được khẳng định: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bềnvững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và BVMT”(Nghị quyết ĐH Đảng toàn quốc lần thứ IX) Phát triển kinh tế, xã hội gắn chặt vớibảo vệ, cải thiện môi trường, đảm bảo sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môitrường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học, với nguyên tắc “kết hợp chặt chẽ giữaphát triển kinh tế, phát triển xã hội và BVMT với bảo đảm quốc phòng, an ninh vàtrật tự an toàn xã hội” (Chương trình nghị sự 21), thể hiện rõ môi trường là mộttrong 3 trụ cột chính (Kinh tế - Xã hội - Môi trường) của phát triển bền vững và cómối quan hệ hữu cơ

Cam kết của Việt Nam liên quan đến tài nguyên và môi trường trong WTO:Theo các nguyên tắc của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), cam kếtliên quan đến tài nguyên và môi trường của Việt Nam, bao gồm: Một cam kết đaphương “tất cả các văn bản, nếu được chỉnh sửa hoặc bổ sung, phải tuân theo cácquy định của WTO”, hành động thực hiện của ta là“Phát triển kinh tế thị trường - thịtrường đất đai và bất động sản” (một trong 10 chủ trương, chính sách lớn củaChương trình hành động của Chính phủ); và cam kết mở cửa thị trường dịch vụ,

Trang 17

gồm 11 ngành, trong đó, DVMT gồm 5 nhóm (xử lý rác thải, xử lý nước thải, làmsạch khí thải, xử lý tiếng ồn và đánh giá tác động môi trường), cụ thể:

Phạm vi mở cửa thị trường, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được cung cấpcác dịch vụ: xử lý nước thải - CPC 9401 (thu gom, xử lý, tẩy rửa cống rãnh, các ốngnước thải, bể phốt ); xử lý rác thải - CPC 9402 (thu gom và xử lý chất thải, dịch vụchuyên chở và xử lý chất thải ); Làm sạch khí thải - CPC 94040 (quan trắc, kiểmsoát việc thải các chất bẩn và giảm thiểu các chất gây ô nhiễm không khí); xử lýtiếng ồn - CPC 94050 (quan trắc, kiểm tra và làm giảm tiếng ồn); đánh giá tác độngcủa môi trường - CPC 94090 (các hoạt động thu thập dữ liệu, phân tích, dự báo cáctác động môi trường của một dự án cụ thể) Ta cho phép bên nước ngoài thành lậpliên doanh với các đối tác Việt Nam được cấp phép trong các lĩnh vực dịch vụ nướcthải, xử lý rác thải, xử lý tiếng ồn, làm sạch khí thải và đánh giá tác động của môitrường… kể từ khi gia nhập với phần vốn góp tối đa là 49% hoặc 50%, và doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài và chỉ được phép thành lập trong khoảng 4, 5 năm saukhi gia nhập

Mặc dù trên thế giới chưa thống nhất trong quan niệm về dịch vụ môi trường,

song có thể thấy những điểm chung của các quan niệm là: Dịch vụ môi trường thuộc khu vực kinh tế dịch vụ, nên có đầy đủ đặc điểm của ngành kinh tế dịch vụ; ngoài ra, dịch vụ môi trường có những đặc điểm riêng, gắn liền với việc bảo vệ, tái tạo, bảo đảm môi trường cho phát triển kinh tế - xã hội

1.1.2 Sự cần thiết khi thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường

Hiện nay dịch vụ môi trường ngày càng đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vựckinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường hướng tới xu thế chung là phát triển bềnvững của các quốc gia Dịch vụ môi trường góp phần ngăn ngừa và giảm thiểu ônhiễm môi trường, tạo ra môi trường xanh, sạch cho xã hội, nâng cao chất lượngcuộc sống của con người

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng thì việc mở cửathị trường ngành dịch vụ môi trường (DMVT) trở thành một trong những nội dungquan trọng trong các đàm phán thương mại song phương và đa phương, cũng như

Trang 18

các khuôn khổ hợp tác quốc tế Đây được xem là một ngành kinh tế mới không chỉđóng góp cho tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm, mà quan trọng hơn là đóng gópvào cung cấp hàng hóa và dịch vụ giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường, biếnđổi khí hậu và suy giảm tài nguyên Trong khi các doanh nghiệp đang gặp phảinhững thách thức trong việc đáp ứng các yêu cầu về môi trường trong xuất khẩusang các thị trường của các nước phát triển thì việc mở cửa thị trường DVMT sẽ tạođiều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện các yêu cầu này với chi phí thấp hơn.Đối với Việt Nam, dịch vụ môi trường đang ngày càng trở thành một nhu cầuhết sức bức thiết Bởi lẽ, nước ta đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm môi trường

do quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa Đồng thời, thu nhập của người dân ngàycàng được nâng cao, do đó, nhu cầu về chất lượng cuộc sống thân thiện với môitrường cũng ngày càng cao Mặt khác, nhu cầu bảo đảm dịch vụ môi trường cho cácdoanh nghiệp cũng ngày càng tăng do yêu cầu về hàng hoá và dịch vụ thân thiện vớimôi trường Bên cạnh đó, Việt Nam đang phải cam kết thực hiện ngày càng nhiềuhơn các hiệp định quốc tế về môi trường, đặc biệt là các cam kết về dịch vụ môitrường sau khi nước ta chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thếgiới (WTO) Ngoài ra, với quá trình tự do hoá thương mại và sự phát triển nhanhcủa các hoạt động công nghiệp, mức chi ngân sách cho các dịch vụ công về bảo vệmôi trường ngày càng tăng, tạo ra gánh nặng lớn cho ngân sách nhà nước Do đó,cần phải đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ môi trường Nhận thức sâu sắc vấn đềnày, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 249/QĐ-TTg, ngày 10/2/2011

về việc phê duyệt "Đề án phát triển dịch vụ môi trường đến năm 2020", với mụctiêu phát triển dịch vụ môi trường nhằm cung ứng dịch vụ bảo vệ môi trường chocác ngành, lĩnh vực, địa phương; tăng tỷ trọng đóng góp của khu vực dịch vụ trongnền kinh tế, tạo thêm việc làm và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước

Để đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ môi trường, huy động tối đa sự tham giacủa xã hội vào công tác bảo vệ môi trường, Nghị quyết 41-NQ/TW, ngày15/11/2004 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX) đề ra chủtrương đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích cá nhân, tổ chức và mọi thành phần kinh

tế tham gia các hoạt động dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải vàcác dịch vụ khác về bảo vệ môi trường Nghị quyết Đại hội XI của Đảng xác định

Trang 19

một trong những nội dung trọng tâm trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011

- 2020 là: "Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, phát triển các dịch vụmôi trường, xử lý chất thải" Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ươngĐảng lần thứ 7, khóa XI, về "Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cườngquản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường" (số 24-NQ/TW) cũng xác định: "Pháttriển ngành kinh tế môi trường trên cơ sở ngành công nghiệp môi trường, dịch vụbảo vệ môi trường và tái chế chất thải"

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường

a).Sự ổn định của môi trường chính trị

Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô như ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội làđiều kiện hết sức quan trọng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tưnước ngoài sẽ rất hạn chế khi tham gia đầu tư vào những nước có môi trường kinh

tế vĩ mô kém ổn định vì khi đầu tư vào những nơi này sẽ tạo ra những rủi ro kinhdoanh mà các nhà đầu tư không thể lường trước được

Khi có sự bất ổn về môi trường kinh tế vĩ mô, rủi ro tăng cao thì các dòng vốnFDI trên thế giới sẽ chững lại và vốn đầu tư sẽ di chuyển đến những nơi an toàn và

có mức sinh lời cao hơn, ngay cả khi đã đầu tư rồi mà có sự bất ổn nhất là bất ổn vềchính trị thì các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tìm mọi cách để rút lui vốn

Vì vậy, môi trường kinh tế vĩ mô có tác động trực tiếp tạo điều kiện hoặc cảntrở việc thu hút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài và muốn thu hút được vốn từ cácnhà đầu tư nước ngoài thì các nước phải ổn định được môi trường kinh tế vĩ môtrước

b).Hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế liên quan đến dịch vụ môi trường

Hệ thống pháp luật của nước sở tại bao gồm các luật liên quan đến hoạt độngđầu tư như Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Bảo vệ môi trường… và các vănbản hướng dẫn luật, các quy định về hoạt động đầu tư đối với người nước ngoài,các văn bản về quản lý Nhà nước trong hoạt động đầu tư…Đây chính là hành langpháp lý đảm bảo sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài Hệ thống pháp luật đượcxây dựng theo hướng thông thoáng, đầy đủ chặt chẽ là cơ sở tạo môi trường đầu tư

Trang 20

thuận lợi Hoạt động FDI liên quan đến nhiều chủ thể tham gia và có yếu tố nướcngoài vì vậy các văn bản ngoài yếu tố đồng bộ, chặt chẽ, tránh chồng chéo gây khóhiểu, còn phải phù hợp với thông lệ quốc tế Các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tưvào một nước nào đó thì họ sẽ quan tâm đến cá nhân họ khi đầu tư được bảo vệ nhưthế nào, tài sản của họ có được đảm bảo không, các quy định chuyển phần lợi nhuận

về nước họ ra làm sao…đây cũng chính là nhân tố ảnh hưởng đến các quyết địnhđầu tư của nhà đầu tư nước ngoài Mặt khác, hệ thống pháp luật không chỉ tạo điềukiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn có chức năng ngăn cản nhữngtác động tiêu cực mà các nhà đầu tư cố tình vi phạm ảnh hưởng đến lợi ích cộngđồng, an ninh quốc gia và tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư đồngthời với việc xây dựng hệ thống pháp luật, phải xây hệ thống chính sách kinh tế liênquan đến đầu tư nước ngoài thực sự mềm dẻo, hấp dẫn cũng là điều kiện quan trọng

để thu hút vốn FDI như:

Chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài: Đây cũng là một trongnhững chính sách mà các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm khi xem xét quyết địnhđầu tư vào một địa điểm nào đó, một chính sách khuyến khích phù hợp sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho nhà đầu tư, ngược lại một chính sách khuyến khích đầu tư bấthợp lý sẽ tạo rào cản lớn, tạo ra một môi trường đầu tư không thuận lợi đối với cácchủ đầu tư

Chính sách quản lý ngoại tệ: Chính sách này tác động trực tiếp đến tâm lý củanhà đầu tư nước ngoài, một quốc gia quản lý ngoại hối theo nguyên tắc thả nổi theothị trường sẽ dẫn đến sự thay đổi liên tục trong tỷ giá hối đoái theo nhu cầu thịtrường, do đó các nhà đầu tư có tâm lý rụt rè, lo sợ trong đầu tư trực tiếp nước ngoàitại quốc gia đó Một quốc gia quản lý theo nguyên tắc thả nổi có điều tiết hoặc cốđịnh sẽ tạo tâm lý yên tâm hơn cho các nhà đầu tư

Chính sách thương mại: Chính sách này liên quan đến hoạt động xuất nhậpkhẩu của các dự án FDI, hạn ngạch xuất nhập khẩu thấp và các rào cản thương mạikhác sẽ gây khó khăn cho các dự án đó bởi vì các dự án FDI khi đi vào hoạt độngđều liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu: nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyênvật liệu, sản phẩm…chính sách thương mại bất hợp lý sẽ là rào cản đối với hoạtđộng của FDI

Trang 21

Các chính sách ưu đãi về tài chính: Muốn các nhà đầu tư nước ngoài đầu tưvào quốc gia, vào địa phương, vào ngành, lĩnh vực ưu tiên thì phải dành cho nhàđầu tư nước ngoài những ưu đãi, hỗ trợ nhất định về tài chính nhằm tạo điều kiệntốt nhất để các nhà đầu tư tìm kiếm được lợi nhuận.

Chính sách ưu đãi về thuế: Để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, các quốc giaphải có chính sách miễn giảm thuế nhất định, thông thường trong những năm đầutriển khai dự án các nhà đầu tư được giảm thuế, thậm chí miễn thuế và tăng dần ởnhững năm sau nó khi các nhà đầu tư nước ngoài có lợi nhuận Để đảm bảo lợi íchcho cả nước nhận đầu tư và cả nhà đầu tư nước ngoài, mức thuế được ưu đãi phụthuộc vào chính sách ưu tiên về ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế mà quốc gia khuyếnkhích đầu tư như ưu đãi về thuế đối với những dự án sử dụng công nghệ hiện đại,thời gian đầu tư dài, quy mô lớn, hướng về xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động, sửdụng nhiều nguyên liệu trong nước, sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư Hệ thống thuế

sẽ càng hiệu quả nếu càng rõ ràng, đơn giản, dễ áp dụng và mức thuế phù hợp (sovới lãi suất, lợi nhuận bình quân, so với mức thuế ở các nước trong khu vực…) cácthủ tục thuế, cũng như các thủ tục quản lý FDI khác phải được tinh giảm hợp lý,tránh vòng vèo nhiều khâu trung gian, công khai và thuận lợi cho đối tượng chịuquản lý và nộp thuế

c).Sự phát triển cơ sở hạ tầng về dịch vụ môi trường tại địa phương

Sự phát triển cơ sở hạ tầng là một điều kiện vật chất hàng đầu để các nhà đầu

tư nước ngoài đầu tư vốn FDI Cơ sở hạ tầng bao gồm mạng lưới giao thông, mạnglưới thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp năng lượng, cấp thoát nước, các công trìnhcông cộng phục vụ sản xuất kinh doanh như cảng biển, sân bay,…cơ sở hạ tầng tốt

là một trong các yếu tố quan trọng giúp các nhà đầu tư nước ngoài giảm các chi phígián tiếp trong sản xuất kinh doanh và có thể triển khai các hoạt động đầu tư Thực

tế thu hút tại các địa phương trong cả nước cho thấy các dòng vốn chỉ đổ vào nơinào có hạ tầng phát triển, đủ khả năng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa các nhà đầu tư Mạng lưới giao thông cũng đóng góp một phần quan trọng vàothu hút vốn FDI, là cơ sở để vận chuyển vật liệu, đi tiêu thụ sản phẩm và quan trọngnhất là các đầu mối giao thông tiếp giáp với thế giới như cảng biển, cảng hàng

Trang 22

không… Các tuyến đường giao thông trọng yếu cũng làm cầu nối sự giao lưu pháttriển kinh tế giữa các địa phương của một quốc gia Một mạng lưới giao thông đaphương tiện và hiện đại sẽ giúp các nhà đầu tư giảm được chi phí vận chuyển khôngcần thiết.

Hệ thống thông tin liên lạc là nhân tố quan trọng trong bối cảnh bùng nổ thôngtin như hiện nay, khi mà thông tin về tất cả các biến động trên thị trường ở mọi nơiđược truyền tải liên tục trên thế giới Chậm trễ trong thông tin liên lạc sẽ đánh mất

cơ hội kinh doanh Môi trường đầu tư hấp dẫn dưới con mắt của nhà đầu tư đó phải

có hệ thống thông tin liên lạc rộng lớn và cước phí rẻ Ngoài ra, hệ thống các ngànhdịch vụ như: tài chính ngân hàng, bưu chính viễn thông, tư vấn hay cung cấp nănglượng và nước sạch… đảm bảo cho việc sản xuất quy mô lớn và liên tục, các dịchvụ này nếu không đáp ứng được nhu cầu sản xuất thì sẽ gây rất nhiều trở ngại chonhà đầu tư

d).Đặc điểm thị trường của nước nhận vốn

Địa phương muốn phát triển kinh tế cần có nhiều yếu tố và điều kiện khácnhau, ngoài các yếu tố về cơ sở hạ tầng được xây dựng cần có thêm các điều kiệnkhác như: vị trí địa lý thuận lợi, địa chất nơi đó ổn định, quy mô thị trường rộnglớn, nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ, nguồn tài nguyên phong phú…Với vị trí địa lý thuận lợi sẽ tạo ra khả năng phát triển du lịch, xuất khẩu, vậnchuyển khẩu hàng hóa qua các vùng, các khu vực trên thế giới Những địa phươngbiết phát huy lợi thế vị trí địa lý của từng vùng kinh tế của đất nước sẽ có cơ hội thuhút được nhiều vốn FDI Những địa phương biết phát huy lợi thế vị trí địa lý bằngviệc hiện đại hóa hệ thống cảng biển, miễn lệ phí cảng biển, cảng hàng không làmgiảm và tạo các tiện ích cho các nhà đầu tư sẽ tạo ra sức hấp dẫn tối đa vốn FDI.Với tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng cho phép phát triển kinh tếtại địa phương đó theo hướng đa ngành và tham gia tích cực vào phân công laođộng quốc gia và quốc tế Địa phương có tài nguyên thiên nhiên phong phú, gầnnguồn nguyên liệu sẽ làm cho chi phí sản xuất trở nên rẻ hơn, thu hút được nhiềunhà đầu tư nước ngoài hơn

Nguồn lực dồi dào, giá nhân công rẻ là lợi thế so sánh của địa phương tronghoạt động thu hút vốn FDI Xu hướng đầu tư ngày nay của các nhà đầu tư nước

Trang 23

ngoài trong việc lựa chọn địa điểm đang chuyển từ việc xem xét gần thị trường tiêuthụ sang ưu tiên tiêu chí trình độ, giá cả sức lao động của công nhân, trình độ ngoạingữ của dân bản địa bởi vì công nghệ thông tin phát triển sẽ giúp cho các nhà sảnxuất dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các thị trường ở xa.

Một trong những yếu tố xã hội quan trọng của thu hút vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài vào địa phương là chất lượng nguồn nhân lực và giá cả sức lao động.Đây là một trong những yếu tố rất cần thiết để các nhà đầu tư lập kế hoạch kinhdoanh Một nhà đầu tư muốn mở một nhà máy thì trên phương diện nguồn nhân lựcnhà đầu tư sẽ chọn khu vực có thể đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng củalao động, ngoài ra giá cả sức lao động là một trong những chỉ tiêu đánh giá của cácnhà đầu tư Chất lượng lao động là một lợi thế cạnh tranh đối với các nhà đầu tư vàolĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao hay có sử dụng nhiều công nghệ hiện đại.Ngoài ra, yếu tố văn hoá cũng ảnh hưởng tới yếu tố lao động như sự cần cù, tính kỷluật, ý thức trong lao động…

Vì vậy, yếu tố lao động là một trong những điều kiện tác động tới các nhà đầu

tư nước ngoài khi tiến hành kinh doanh Tuy nhiên, để có lực lượng lao động tốt thìlại phụ thuộc vào hệ thống giáo dục, đào tạo, chất lượng đào tạo nghề…

e).Hướng dịch chuyển của các dòng vốn FDI quốc tế về dịch vụ môi trường

Đây là nhân tố bên ngoài có ý nghĩa quyết định đến khả năng thu hút vốn FDIcủa quốc gia nói chung và địa phương nói riêng Mức độ tăng, giảm của việc thuhút vốn FDI chịu sự chi phối của xu hướng vận động của các dòng vốn FDI trên thếgiới Nếu quốc gia nằm trong khu vực mà dòng vốn FDI đang hướng tới thì khảnăng tiếp nhận vốn FDI của quốc gia hay địa phương đó là thuận lợi và ngược lạikhi các quốc gia nằm ngoài vùng dịch chuyển của dòng vốn FDI thì sẽ rất khó chocác quốc gia thu hút được nguồn vốn này

Đón bắt được xu hướng chuyển dịch vốn FDI trên thế giới là một yếu tố quantrọng để chính quyền Trung ương và địa phương đưa ra các chính sách phù hợp đểtiếp nhận dòng vốn FDI chuyển về Nằm trong vùng kinh tế phát triển năng độngcủa thế giới, trong những năm gần đây khu vực Đông Nam Á đã trở thành khu vựchấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài Điều này là do so với các nước phát triểnthì khu vực này có mức độ cạnh tranh thấp hơn, hơn nữa giá nhân công của khu vực

Trang 24

này tương đối rẻ, môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện Là một quốc gia nằmtrong khu vực hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, nước ta có cơ hội đón dòng chảyFDI đổ về nếu biết tận dụng lợi thế so sánh của mình và cải thiện tốt hơn nữa vềmôi trường đầu tư Khi vốn FDI vào quốc gia thì việc thu hút vốn FDI vào vùngkinh tế nào đó của đất nước sẽ dễ dàng hơn bằng các chính sách thích hợp riêng chotừng vùng.

1.1.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả thu hút vốn đầu tư FDI vào các dịch vụ môi trường

Hoạt động thu hút và sử dụng FDI có thể được đánh giá trên nhiều góc độkhác nhau Trong phạm vi luận văn, việc đánh giá hoạt động thu hút và sử dụng FDItrên các phương diện sau đây: (1) kết quả thu hút và thực hiện vốn FDI thể hiệnthông qua quy mô và cơ cấu dòng vốn; (2) hiệu quả kinh tế của khu vực FDI đối vớiphát triển kinh tế xã hội; (3) chất lượng FDI thể hiện qua tác động xã hội, môitrường và tác động lan tỏa của khu vực FDI; (4) chỉ số ngưỡng quy mô FDI

a).Hệ thống chỉ tiêu về kết quả thu hút và thực hiện FDI

Hệ thống chỉ tiêu này cho phép đánh giá trực tiếp kết quả thu hút và thực hiệnFDI tại nước chủ nhà Đây là nhóm chỉ tiêu truyền thống với các tiêu chí đánh giábao gồm:

(1) Quy mô vốn đăng ký: là tổng số vốn góp bằng tiền hoặc tài sản hợppháp, lợi nhuận để lại và các hình thức vốn khác do nhà đầu tư nước ngoài cam kếtđưa vào nước chủ nhà để tiến hành các hoạt động đầu tư trực tiếp3 (World Bank,2016) Vốn đăng ký bao gồm vốn cam kết của nhà đầu tư nước ngoài theo giấyphép cấp mới (đối với các dự án thực hiện lần đầu hoặc dự án độc lập với các dự ánđang hoạt động mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư trong kỳ); và cấp bổ sung(đối với các dự án đầu tư nhằm mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực sảnxuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễmmôi trường của dự án đầu tư hiện có đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư trong cácnăm trước)

Quy mô vốn đăng ký cho thấy sức hấp dẫn của môi trường đầu tư cũng nhưmức độ tin cậy của nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư trong nước

Trang 25

(2) Quy mô vốn thực hiện: là số vốn đầu tư thực tế do các nhà đầu tư nướcngoài đã chi ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh tại nước sở tại, bao gồm chi phíxây dựng các công trình, nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị… Quy mô vốn thựchiện thể hiện hiệu quả của hoạt động xúc tiến đầu tư, cơ chế quản lý nhà nước, cũngnhư hiệu lực thực thi của các văn bản pháp luật Về mặt lý thuyết, vốn FDI thựchiện thường nhỏ hơn vốn FDI đăng ký của dự án Quy mô vốn FDI đăng ký và thựchiện càng lớn càng thể hiện quốc gia đó thành công trong công cuộc thu hút vốnFDI Theo UNCTAD (2016), FDI ngày càng được quan tâm thu hút hơn ở các nướcđang phát triển Năm 2015, FDI toàn cầu chảy vào các nước đang phát triển (khôngtính các trung tâm tài chính Caribe) đã tăng 9%, đạt kỷ lục mới 765 tỷ USD Bêncạnh đó, khi xem xét khoảng cách giữa quy mô vốn đăng ký và vốn thực hiện có thểđánh giá được mức độ thực hiện của hoạt động đầu tư trong năm đó Khoảng cáchgiữa được thể hiện thông qua tỷ lệ giải ngân Đây là tỷ lệ phần trăm của vốn FDIthực hiện trên tổng vốn FDI đăng ký theo thời gian, được tính bằng công thức:

Quy mô vốn thực hiện

Quy mô vốn đăng ký

Tỷ lệ giải ngân lớn thể hiện sự thống nhất giữa cam kết và thực hiện của hoạtđộng đầu tư Ngược lại, tỷ lệ nhỏ hàm ý những vấn đề nảy sinh trong quá trình giảingân vốn như thủ tục hành chính, sự lưỡng lự của nhà đầu tư khi bắt tay vào hoạtđộng đầu tư, hay điều kiện toàn cầu và khu vực có biến động…

(3) Cơ cấu FDI: là chỉ tiêu thể hiện sự cân bằng hay mất cân bằng trong xuthế phát triển của dòng vốn FDI Cơ cấu FDI có thể được phân theo các tiêu chíkhác nhau: hình thức đầu tư, ngành kinh tế, vùng kinh tế Nhóm chỉ tiêu này chophép đánh giá sự thay đổi về mẫu hình (pattern) của dòng vốn tại quốc gia tiếp nhậnvốn Nhìn chung trên thế giới, xét theo hình thức đầu tư, FDI thông qua các thươngvụ M&A xuyên quốc gia chiếm ưu thế và có xu hướng tăng lên, trong khi các dự ánđầu tư mới giảm xuống Xét theo ngành, dòng vốn FDI toàn cầu có xu hướng chảynhiều nhất vào lĩnh vực dịch vụ, chiếm đến 64% tổng FDI toàn cầu (năm 2015), gấphơn 2 lần lĩnh vực công nghệ

b Hệ thống chỉ tiêu về chất lượng FDI

Trang 26

Nhóm chỉ tiêu này bao hàm các tác động trực tiếp của FDI đối với xã hội vàmôi trường, cũng như tác động gián tiếp (tác động lan tỏa) của khu vực này đối vớihoạt động đầu tư trong nước Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm: (1) Khả năng tạo việclàm: được thể hiện thông qua số lượng việc làm mà khu vực FDI tạo ra trong tươngquan với các khu vực kinh tế khác, thông thường được xác định bằng tỷ lệ phầntrăm trong tổng lao động có việc làm trong các ngành kinh tế.

Tỷ lệ lao động tạo ra của khu vực FDI cao cho biết dòng vốn FDI có chấtlượng tốt trong việc tạo công ăn việc làm tại nước sở tại, và ngược lại (2) Tác độngcủa khu vực FDI đến môi trường: Đây là một chỉ tiêu rất khó để chuẩn hóa Trongphạm vi của luận văn, tác giả sử dụng một số tiêu chí sau đây:

- Tỷ trọng doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm môi trường được xác định thôngqua tỷ lệ phần trăm số lượng doanh nghiệp không tuân thủ quy định về bảo vệ môitrường trên tổng số các doanh nghiệp

- Chi phí cho hoạt động cải tạo môi trường hàng năm của khu vực FDI

- Chi phí môi trường dự kiến tiết kiệm được của các doanh nghiệp FDI khiđầu tư vào một quốc gia

Tỷ trọng doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm môi trường càng lớn cho thấy nướcsở tại đang tiếp nhận dòng vốn FDI kém chất lượng, gây ảnh hưởng tới môi trườngcủa quốc gia đó Chi phí cho cải tạo môi trường hàng năm của khu vực FDI và chiphí môi trường dự kiến tiết kiệm được của các doanh nghiệp FDI khi đầu tư vàomột quốc gia lại cho biết mức độ quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường của cácdoanh nghiệp FDI tại nước sở tại (3) Mức độ chuyển giao công nghệ: được thểhiện thông qua (i) số hợp đồng chuyển giao công nghệ tại nước sở tại; (ii) tỷ trọngcác dự án đầu tư đến từ các nước nắm giữ công nghệ nguồn (như EU, Nhật Bản,Hoa Kỳ…); (iii) mức độ hiện đại và cập nhật của các công nghệ được chuyển giao;(iv) chỉ tiêu năng suất các yếu tố tổng hợp TFP của khu vực FDI4 ; (v) tỷ lệ nội địahóa Các chỉ tiêu này càng cao càng cho thấy mức độ chuyển giao công nghệ lớncủa các doanh nghiệp FDI vào nước sở tại

(4) Mức độ liên kết của khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước: Sự liênkết chặt chẽ của khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước được thể hiện qua một sốchỉ tiêu sau đây:

- Hình thức liên kết trong hoạt động FDI (tỷ trọng lớn các hoạt động FDIdưới hình thức liên doanh, liên kết); - Mức độ phát triển chuỗi và hình thành công

Trang 27

nghiệp phụ trợ của nước chủ nhà (sự hoàn thiện của khu vực công nghiệp phụ trợ);

- Mức độ liên kết trong hệ thống quản trị điều hành (CEO) giữa doanh nghiệp trong

và ngoài nước (sự liên kết chặt chẽ của giới điều hành doanh nghiệp giữa doanhnghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước); - Mức độ đào tạo và nâng cao kỹ năngcủa người lao động trong khu vực FDI (tần suất và bậc đào tạo đối với người laođộng trong khu vực FDI)

c Hệ thống chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế FDI

Hiệu quả kinh tế FDI là sự hài hòa giữa quy mô, cơ cấu và chất lượng củaFDI Nhóm chỉ tiêu này được thể hiện thông qua phần đóng góp của khu vực FDIđối với phát triển kinh tế tại quốc gia tiếp nhận vốn Các tiêu chí đánh giá bao gồm:

(1) Đóng góp của khu vực FDI vào tổng đầu tư xã hội: là tỷ lệ phần vốn FDItrong tổng nguồn vốn đầu tư xã hội của nước chủ nhà Các nghiên cứu lý thuyết vàthực nghiệm đều cho thấy FDI có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế củanước tiếp nhận FDI tăng làm tăng tổng nguồn vốn đầu tư xã hội, đồng thời tạo ratác động tràn đến đầu tư nội địa, thị trường lao động, và công nghệ của nước chủnhà Do đó, đóng góp của FDI vào tổng đầu từ toàn xã hội càng cao càng cho thấyhiệu quả kinh tế của FDI là lớn

Tuy nhiên xét về tổng thể, tỷ lệ FDI/tổng nguồn vốn đầu tư xã hội còn phụthuộc vào sự thay đổi đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước và ngoài nhà nước Vìvậy, cần đánh giá chỉ tiêu này trong mối tương quan với chỉ tiêu đóng góp vào tăngtrưởng kinh tế để biết sự tương xứng về đóng góp kinh tế và tiềm năng của khu vựcFDI

(2) Đóng góp của FDI vào tăng trưởng kinh tế: được thể hiện qua tỷ lệ đónggóp của khu vực FDI vào GDP của quốc gia

Đóng góp vào GDP lớn là một trong những dấu hiệu quan trọng để nhận biếthiệu quả kinh tế cao của khu vực FDI Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ nói lên hiệu quảkinh tế FDI về mặt lượng Theo đó, cần xem xét chỉ tiêu này trong mối quan hệ vớicác chỉ tiêu khác trong nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế FDI

(3) Tác động của FDI đối với cán cân thanh toán quốc tế: được thể hiệnthông qua giá trị xuất khẩu ròng của khu vực FDI tại nước chủ nhà Một mặt, dòngvốn FDI chảy vào góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nhờ tận dụng được lợi thế

về chi phí, vị thế sẵn có của các công ty đa quốc gia (MNCs) trên thị trường Mặtkhác, các doanh nghiệp FDI vẫn phải nhập khẩu hàng hóa, máy móc vào nước chủ

Trang 28

nhà Đây là một bộ phận đáng kể trong tổng kim ngạch nhập khẩu Khi giá trị xuấtkhẩu ròng của khu vực này tăng lên, cho biết FDI có tác động bổ sung vào thặng dựcán cân vốn, từ đó cải thiện cán cân thanh toán

Bên cạnh đó, hiệu quả kinh tế của khu vực FDI còn được thể hiện qua đónggóp của khu vực FDI vào ngân sách nhà nước thông qua chỉ tiêu (4) hiệu quả thunhập (được tính bằng tiền lương trung bình của một lao động trong khu vực FDItrong tương quan với các khu vực kinh tế khác); (5) thu ngân sách nhà nước (đượctính bằng tỷ lệ phần trăm thu NSNN từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trêntổng thu NSNN), và (6) khả năng giúp quốc gia tiếp nhận vốn thực hiện chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo chiến lược phát triển kinh tế của mình

Đóng góp của khu vực FDI trong mối tương quan với các thành phần kinh tếkhác càng lớn, càng thể hiện hoạt động sử dụng FDI đạt hiệu quả cao Nhiều bằngchứng thực nghiệm cho thấy, không phải lúc nào kết quả thu hút FDI tốt cũng songhành với hiệu quả kinh tế cao Do đó, cũng cần xem xét khía cạnh: (i) đóng góp củakhu vực FDI có tương xứng với tiềm năng hay quy mô vốn đã thu hút được haykhông; (ii) nội lực hấp thụ vốn của nền kinh tế có đủ khả năng hấp thụ và khai tháctối ưu những lợi ích từ nguồn vốn này hay không

d).Chỉ số ngưỡng FDI

Khi mà hầu hết các quốc gia đang phát triển đều theo đuổi mục tiêu kết quảthu hút và thực hiện FDI (quy mô FDI) nhưng lại cùng một lúc muốn thu được hiệuquả kinh tế và chất lượng FDI, thực tế này dẫn đến một mâu thuẫn rằng: Mặc dùquy mô FDI càng lớn thể hiện kết quả thu hút tốt, nhưng điều đó không đảm bảohiệu quả kinh tế và chất lượng FDI tại nước chủ nhà sẽ cao Bởi, bên cạnh những lợiích mà dòng vốn FDI mang lại như nguồn vốn, việc làm, điều kiện để nước chủ nhàtiếp cận thị trường nước ngoài, tạo ra công nghệ, hiệu ứng lan tỏa, FDI cũng cókhông ít những tác động tiêu cực đối với phát triển kinh tế như mất cân bằng cáncân thanh toán, kiềm chế sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước, cạn kiệtnguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường, rủi ro phụ thuộc của nền kinh tế vào nguồnlực bên ngoài

Như vậy, một quốc gia khi tiếp nhận vốn FDI, không chỉ hướng đến hiệu quảkinh tế của FDI mà mục tiêu là phải khai thác được hiệu quả cuối cùng của FDI

Trang 29

Hiệu quả FDI là kết quả của một quy mô phù hợp với năng lực hấp thụ, thể hiện ởchất lượng của các khoản FDI đó Nó được kỳ vọng đóng góp vào ngân sách, GDP,thu nhập sau khi tính tới các tác động tiêu cực về môi trường, hỗ trợ giá, thuế…Hay nói cách khác, đó là đóng góp ròng của khu vực FDI đối với phát triển kinh tế

xã hội của nước chủ nhà sau khi trừ đi những chi phí cơ hội, giá phải trả cho nhữngvấn đề tiêu cực nảy sinh khi thu hút và sử dụng FDI Tuy nhiên, rất khó có thểlượng hóa tất cả các yếu tố trên để định lượng hiệu quả cuối cùng của FDI Theo đó,luận án giới thiệu khái niệm ngưỡng FDI, với mục tiêu là một chỉ tiêu hỗ trợ cho chỉtiêu hiệu quả FDI

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy khái niệm ngưỡng có thể đượctiếp cận theo hướng tương đối rộng Cụ thể là:

Thứ nhất, có thể có nhiều biến ngưỡng khác nhau trong một mô hình Mô hình

tăng trưởng kinh tế là một mô hình phức tạp và chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tốkhác nhau Do đó, chiều hướng ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng kinh tế cũng sẽcùng một lúc phụ thuộc vào nhiều biến ngưỡng Thật vậy, các nghiên cứu thựcnghiệm từ nhiều góc độ khác nhau đã đề xuất các biến ngưỡng và giá trị ngưỡngkhác nhau Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng biến quy mô FDI (tỷ

lệ % trên GDP) để ước lượng giá trị ngưỡng

Thứ hai, với mỗi biến ngưỡng, có thể có nhiều hơn một giá trị ngưỡng Phần

lớn các nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng đều đề cập đến giá trịngưỡng là giá trị mà tại đó tác động của FDI lên tăng trưởng đảo chiều từ tích cực(hoặc không ảnh hưởng) sang tiêu cực, hoặc ngược lại Tuy nhiên, khi nghiên cứu

về lý thuyết các mô hình ngưỡng, tác giả nhận thấy, giá trị ngưỡng không chỉ đơnthuần mang hàm ý làm tác động của các nhân tố đảo chiều mà thực chất giá trịngưỡng là giá trị phân tách mẫu ra thành hai hay nhiều chế độ, trong đó chiều vàmức độ tác động giữa các nhân tố trong từng chế độ sẽ thay đổi

Thứ ba, “biến xác định ngưỡng” và “biến có hệ số thay đổi trong vùng

ngưỡng” không nhất thiết trùng nhau Trong mô hình ngưỡng, ở mỗi chế độ ngưỡng(nếu có), sẽ tồn tại một hoặc một số biến có hệ số thay đổi trong vùng ngưỡng.Trong đó, biến xác định ngưỡng và biến có hệ số thay đổi không nhất thiết trùngnhau

Trang 30

Thứ tư, “tác động tiêu cực” lên tăng trưởng không nhất thiết là sự đảo chiều

tác động giữa các nhân tố trong mô hình Cũng dựa trên lý thuyết các mô hìnhngưỡng, giá trị ngưỡng được xác định không nhất thiết khiến cho tác động giữa cácnhân tố trong mô hình đảo chiều mà có thể chỉ làm thay đổi độ dốc của mô hình.Như vậy, giá trị ngưỡng quy mô FDI có thể chỉ là giá trị mà tại đó mức độ ảnhhưởng của các nhân tố đối với tăng trưởng kinh tế bị sút giảm, chứ không nhất thiếtphải là giá trị làm hướng tác động của các nhân tố lên tăng trưởng đảo chiều

Về ý nghĩa của chỉ số ngưỡng FDI, chỉ số này có nhiều ý nghĩa đối với quốc

gia tiếp nhận vốn Thứ nhất, chỉ số này có tính tham khảo lớn trong quá trình xâydựng kế hoạch thu hút vốn FDI tại từng quốc gia để đảm bảo lượng vốn FDI thu hútđược kiểm soát và khai thác hết tiềm năng Thứ hai, so sánh lượng vốn FDI với giátrị ngưỡng cung cấp chỉ báo quan trọng trong quá trình điều hành, đặc biệt là trongquá trình xây dựng hệ thống chính sách FDI Khi quy mô FDI dưới ngưỡng, các nhàchính sách có thể sử dụng các chính sách ưu đãi, xúc tiến đầu tư để thu hút thêm cácnhà đầu tư nước ngoài Ngược lại, khi quy mô FDI vượt ngưỡng, việc sàng lọc vàloại bỏ các dự án FDI kém hiệu quả, gây ảnh hưởng xấu đến kinh tế, xã hội, môitrường của nước tiếp nhận là cần thiết Thứ ba, việc xác định ngưỡng FDI còn giúpcho nền kinh tế neo giữ kỳ vọng FDI tốt hơn Theo đó, tác động của FDI đối vớinền kinh tế là tối ưu nhất Thứ tư và quan trọng hơn cả, chỉ số ngưỡng FDI cầnđược so sánh với nhu cầu thực tế của nước sở tại Như đã để cập ở phần trên, chỉ sốngưỡng cho biết quy mô FDI nào thu hút vào quốc gia nước sở tại là tối ưu nhất đốivới nền kinh tế Do đó, trong trường hợp nhu cầu thực tế về vốn của nước sở tại làlớn hơn chỉ số ngưỡng, để khai thác được tối ưu lợi ích từ nguồn vốn, việc cần làm

là phải nâng cao nội lực hấp thụ vốn của nền kinh tế làm cơ sở để mở rộng dư địathu hút FDI Hay nói cách khác, các nhà làm chính sách cần có những chính sáchFDI phù hợp để mở rộng hấp thụ nguồn vốn này

1.2 Cơ sở thực tiễn về thu hút vốn đầu tư nói chung và thu hút vốn đầu

tư vào dịch vụ môi trường nói riêng

1.2.1 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư tại một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Trung quốc

Trang 31

Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trong quá trình thương lượng gia nhập WTO, Trung Quốc đã có những camkết liên quan đến mở cửa thị trường và hạn chế đối xử đối với dịch vụ môi trường.Trung Quốc đã mở cửa hầu như tất cả các phân ngành, trừ quan trắc chất lượng môitrường và điều tra nguồn thải gây ô nhiễm Đối với phương thức 1, Trung Quốc đưa

ra những hạn chế "chưa cam kết" về hạn chế tiếp cận thị trường trừ đối với dịch vụ

tư vấn môi trường và cam kết toàn bộ đối với hạn chế quốc gia Đối với phươngthức 2 không có bất kỳ hạn chế gì về hạn chế tiếp cận thị trường cũng như đối xửquốc gia Đối với phương thức 3 hiện diện thương mại đưa ra những giới hạn là chỉđược phép theo hình thức liên doanh, trong đó phía nước ngoài có quyền sở hữuphần lớn Đối với phương thức 4, Trung Quốc chưa có cam kết cả về hạn chế tiếpcận thị trường và hạn chế đối xử quốc gia [2,tr.129]

Trung Quốc cũng đã cam kết mở cửa thị trường dịch vụ môi trường theomột số Hiệp định tự do thương mại (FTA) Ví dụ, trong FTA giữa Trung Quốc vàASEAN, Trung Quốc đã cam kết rằng "các nhà cung cấp nước ngoài trong lĩnh vựcdịch vụ môi trường được phép cung cấp dịch vụ thông qua hình thức liên doanhtrong đó phía nước ngoài được sở hữu trên 50% số vốn hoặc hình thức công ty100% vốn nước ngoài"

Hiện tại, Trung Quốc chưa có chính sách cụ thể về thương mại dịch vụ môitrường Chính sách này, nếu có, sẽ bị ảnh hưởng bởi các chính sách liên quan nhưđầu tư nước ngoài, mua sắm của chính phủ, giá và thu nhập và chính sách môitrường cũng như các cam kết chung về thương mại quốc tế

Trong Luật Ngoại thương của Trung Quốc, Chương 3, Điều 15 khẳng định nhànước "cho phép nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa và công nghệ, trừ những hànghóa bị cấm theo các bộ luật và quy định khác" Theo Điều 22 thuộc Chương 4, nhànước "khuyến khích thương mại quốc tế đối với ngành dịch vụ" Từ đó có thể thấyTrung Quốc ủng hộ tự do hóa thương mại, trong đó có tự do hóa ngành dịch vụ môitrường

Các chính sách đầu tư nước ngoài cũng có ảnh hưởng trực tiếp tới việc gianhập thị trường dịch vụ môi trường, đồng thời quyết định mức độ tự do hóa thương

mại Các chính sách quan trọng nhất được thể hiện trong Hướng dẫn đầu tư nước

Trang 32

ngoài lĩnh vực công nghiệp (sửa đổi năm 2006), Một số giải pháp chính sách đẩy mạnh ngành dịch vụ trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 10, Các giải pháp tăng tốc quá trịnh phát triển theo định hướng thị trường đối với ngành dịch vụ công ích, Đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp xử lý nước thải và rác thải đô thị v.v

Hướng dẫn đầu tư nước ngoài lĩnh vực công nghiệp (sửa đổi năm 2006) có

hiệu lực từ tháng 1/2007 Văn bản này tiếp tục đi theo định hướng trước đó củachính phủ Trung Quốc với những chính sách, giải pháp và khung pháp lý khuyếnkhích đầu tư nước ngoài Đồng thời, văn bản này cũng nêu ra những lĩnh vựckhuyến khích đầu tư từ nước ngoài, ví dụ công nghệ tái sản xuất tài nguyên, côngnghệ khai thác và bảo tồn năng lượng, công nghệ xử lý và quan trắc ô nhiễm, xâydựng và vận hành cơ sở thu gom nước thải và rác thải, nhà máy xử lý chất thải độchại, xây dựng và quản lý các công trình xử lý môi trường, dịch vụ tư vấn bảo vệ môitrường, v.v Đồng thời, Trung Quốc cũng mở rộng phạm vi đối với những ngành đãcho phép đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh các chính sách khuyến khích đầu tư nướcngoài trong lĩnh vực dịch vụ

Thực tế là Trung Quốc là quốc gia thu hút FDI hàng đầu trong khu vực Đó lànhờ những chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, cụ thể baogồm:

Thứ nhất: Chính sách phát triển ngành sản xuất: Trong từng giai đoạn,

Chính Phủ Trung Quốc ban hành những quy định hướng dẫn đầu tư đối với nhà đầu

tư nước ngoài và danh mục hướng dẫn về ngành sản xuất để thu hút FDI

Thứ hai: Chính sách phát triển vùng lãnh thổ: Chính phủ Trung Quốc chủ

yếu thông qua các biện pháp như thành lập khu kinh tế đặc biệt, khu phát triển khoahọc kỹ thuật và mở cửa các thành phố ven biển, tạo điều kiện thuận lợi và tập trungthu hút FDI vào đó

Từ năm 1999, trọng điểm chiến lược phát triển kinh tế từng bước chuyển vềphía tây Chính phủ Trung Quốc đã đề ra chính sách nâng đỡ và hỗ trợ các tỉnhMiền Tây Trung Quốc Đồng thời tích cực hướng dẫn thương nhân nước ngoài đầu

tư vào địa phương này bằng các biện pháp:

- Ban hành "danh mục ngành sản xuất ưu thế của miền Trung và Miền tâyTrung Quốc kêu gọi các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư"

- Chính phủ gia tăng một cách thích đáng nguồn vốn tín dụng trong nước, cáckhoản vay chính phủ nước ngoài và các khoản vay ưu đãi của các tổ chức tài chính

Trang 33

tiền tệ quốc tế nhằm sử dụng chủ yếu vào xây dựng các công trình hạ tầng, côngtrình bảo vệ môi trường trọng điểm của miền trung và miền tây

- Đối với những hạng mục trong danh mục khuyến khích đầu tư nước ngoài,nếu đầu tư vào miền trung và miền tây Trung Quốc, sau khi hết thời hạn đượchưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp thì tiếp tục được giảm 15% thuế thunhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo

- Khuyến khích nhà đầu tư đã đầu tư vào khu vực miền Đông Trung Quốc táiđầu tư vào khu vực miền tây và miền Trung

- Cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các thành phố venbiển nhận khoán quản lý kinh doanh các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vàcác doanh nghiệp Trung Quốc tại các tỉnh miền tây và miền Trung

-Cho phép các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc tỉnh và khu vực tự trị củamiền tây và miền trung lựa chọn thành lập khu phát triển cấp nhà nước

- Nhà nước ưu tiên lựa chọn một số hạng mục về nông nghiệp, giao thông,năng lượng, nguyên vật liệu để bảo vệ đầu tư nước ngoài vào các tình miền tây vàmiền Trung Đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của chính phủ về vốn và các biện phápkhác đối với các hạng mục trên

Thứ ba: Chính sách hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

- Doanh nghiệp đầu tư tại Trung Quốc có nhu cầu về vốn căn cứ theo quyđịnh của pháp luật được vay vốn của các ngân hàng tại Trung Quốc Thời hạn, lãisuất và phí vay về cơ bản áp dụng như các doanh nghiệp của Trung Quốc

- Doanh nghiệp nước ngoài khi muốn vay vốn tại Trung Quốc được các ngânhàng thương mại của Trung Quốc bảo lãnh Các khoản tiền vốn ngoại tệ của cácđơn vị này có thể dùng để thế chấp vay vốn

- Cho phép doanh nghiệp nước ngoài đầu tư dùng tài sản của họ ở hải ngoại

để thế chấp vay vốn tại các chi nhánh ngân hàng Trung Quốc ở nước ngoài

- Các doanh nghiệp nước ngoài ở Trung Quốc nếu có đủ tiêu chuẩn được xinphép phát hành cổ phiếu

- Căn cứ theo nguyên tắc chủ động và thoả đáng, Chính phủ Trung Quốccung cấp sự đảm bảo về rủi ro chính trị, bảo hiểm về thực hiện hợp đồng, bảo hiểm

về bảo lãnh đối với những hạng mục đầu tư trọng điểm trong các lĩnh vực nănglượng, giao thông mà chính phủ khuyến khích đầu tư

Trang 34

Thứ tư: Ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trung Quốc ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tưnước ngoài như: như Luật doanh nghiệp chung vốn kinh doanh giữa Trung Quốcvới nước ngoài của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Điều lệ chi tiết thi hànhLuật Doanh nghiệp chung vốn kinh doanh giữa Trung Quốc với nước ngoài: Luậtdoanh nghiệp do nước ngoài đầu tư, các quy định và ưu đãi về thuế, ưu đãi về vayvốn đầu tư, về quyền sử dụng đất

Từ năm 2010, Trung Quốc áp dụng thêm chính sách mới, trong đó tập trungvào tối ưu hóa việc sử dụng FDI, khuyến khích đầu tư vào vùng miền trung và tâyTrung Quốc, đa dạng hóa các biện pháp sử dụng đầu tư nước ngoài, cải cách mạnhcông tác quản lý đầu tư nước ngoài và hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối

Giải pháp thứ nhất là tối ưu hóa sử dụng FDI Chính phủ sẽ sửa đổi bảnHướng dẫn cho nhà đầu tư nước ngoài Nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế sẽ đượcmở cửa cho đầu tư nước ngoài, trong đó khuyến khích họ đầu tư vào ngành chế tạocông nghệ cao, công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, năng lượng mới, tiếtkiệm năng lượng và bảo vệ môi trường Các biện pháp được nêu trong Kế hoạch táicấu trúc và phục hồi ngành công nghiệp cũng áp dụng cho các nhà đầu tư nướcngoài Các doanh nghiệp nước ngoài có nhu cầu sử dụng đất cao sẽ được ưu đãi vềquyền sử dụng đất

Giải pháp thứ hai là tiếp tục khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tưvào miền trung và tây Trung Quốc Nếu họ thành lập các doanh nghiệp sử dụngnhiều lao động và đáp ứng được yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường thì họ sẽ được hỗtrợ về vốn và công nghệ

Giải pháp thứ ba là đa dạng hóa các biện pháp sử dụng đầu tư nước ngoài.Các nhà đầu tư nước ngoài được phép và được khuyến khích tham gia tái cấu trúc,tái xây dựng doanh nghiệp nhà nước, qua đó mở rộng thêm kênh đầu tư cho cácdoanh nghiệp nước ngoài và các tổ chức tài chính trong nước cũng có điều kiện hỗtrợ vốn hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài

Giải pháp thứ tư là cải cách hơn nữa công tác quản lý đầu tư nước ngoài,trong đó cần cải cách toàn bộ quy trình phê duyệt các dự án đầu tư và tối thiểu hóaphạm vi hoạt động kiểm tra, phê duyệt

Trang 35

Giải pháp thứ năm là cải thiện môi trường đầu tư Các vùng kinh tế mở mới

sẽ có nhiều chính sách khuyến khích đầu tư hơn Đẩy mạnh xây dựng các khu hợptác kinh tế Hệ thống quản lý ngoại hối sẽ được cải thiện và quy trình mua bánngoại hối sẽ được đơn giản hóa

Đồng thời, riêng với ngành dịch vụ môi trường, chính phủ Trung Quốc cónhững chính sách thuế ưu đãi để thu hút doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư.Những ưu đãi về thuế liên quan đến dịch vụ môi trường bao gồm:

• Miễn thuế ba năm đầu tiên và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong

ba năm tiếp theo đối với các doanh nghiệp đang thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng(cầu tàu, bến cảng, sân bay, đường bộ, đường sắt, nhà máy điện) của chính phủ vàcác dự án liên quan đến bảo vệ môi trường, bảo tồn năng lượng và nguồn nước, ápdụng từ năm đầu tiên có doanh thu

• Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng được ưu đãi thuế nếu thựchiện chuyển giao công nghệ Cụ thể, doanh nghiệp sẽ được miễn thuế thu nhập doanhnghiệp đối với 5 triệu NDT thu nhập từ chuyển giao công nghệ, phần thu nhập vượtquá sẽ chịu thuế suất bằng một nửa so với thuế suất thông thường là 25%

• Mức thuế suất ưu đãi 15% sẽ áp dụng cho các các doanh nghiệp có côngnghệ cao và mới và có giải pháp thúc đẩy việc ứng dụng và phát triển công nghệ.Chi phí nghiên cứu và triển khai (R&D) được ưu đãi miễn trừ đặc biệt 150%

• Các công ty đầu tư mạo hiểm đầu tư vốn vào doanh nghiệp vừa và nhỏcông nghệ cao cũng như các doanh nghiệp thân thiện với môi trường được hưởngthêm ưu đãi (thu nhập chịu thuế được khấu trừ 70% tổng vốn đầu tư)

Kinh nghiệm cho Việt Nam

Cải thiện môi trường đầu tư trong nước

Việc thu hút các nhà cung cấp dịch vụ môi trường nước ngoài thành lập hiệndiện thương mại cũng nằm trong nhiệm vụ thu hút vốn đầu tư nước ngoài Do đó,xây dựng lộ trình phát triển dịch vụ môi trường phải đi kèm với cải thiện mô trườngđầu tư, minh bạch và đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện ưu đãi đối với nhàđầu tư nước ngoài về quyền sử dụng đất, thuế v.v

Xây dựng chính sách ưu đãi về thuế

Ưu đãi về thuế có thể đa dạng, áp dụng cho một số đối tượng, một số lĩnhvực khác nhau tùy vào lĩnh vực nào cần thu hút đầu tư mạnh hơn Tuy nhiên cũng không

Trang 36

nên có quá nhiều mức ưu đãi khác nhau, gây khó khăn khi thực hiện và giám sát

Tiêu chí hưởng ưu đãi cụ thể và rõ ràng

Tuy nhiên, các ưu đãi đặc biệt đối với nhà đầu tư nước ngoài chỉ được ápdụng nếu nhà đầu tư đáp ứng được yêu cầu như tuân thủ quy định trong nước vềmôi trường, thực hiện chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước… Nhưvậy, cần xây dựng các tiêu chí liên quan đến môi trường để được hưởng ưu đãi thật rõ ràng

1.2.1.2 Kinh nghiệm Thái Lan

Khái quát chung về chính sách của Thái Lan đối với nhà đầu tư nước ngoài

Theo đánh giá của tổ chức thương mại thế giới thì Thái Lan duy trì một

chế độ đầu tư tương đối mở đối với các nhà đầu tư nước ngoài Thái Lan quan điểmđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nhân tố quan trọng cho sự tăngtrưởng của nềnkinh tế và Thái Lan khuyến khích các nhà đầu tư từ tất cả các nguồn ; dòng vốn FDIvào Thái Lan trong những năm vừa qua vẫn mạnh

Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, thì môi trường đầu tư của Thái Lankhá thuận lợi và đạt tiêu chuẩn quốc tế, mặc dù các công ty khi tham gia đầu tư vàoThái Lan vẫn gặp phải những cản trở bởi gánh nặng pháp lý nặng nề, thiếu các kỹnăng và thiếu hụt hệ thống cơ sở hạ tầng đặc biệt là những khuvực ngoại ô (ngoàiBăngkok) Tuy nhiên, theo báo cáo của Chính phủ Thái Lan mới đây thì tình hình

cơ sở hạ tầng của Thái Lan đã có những cải thiện đáng kể, tình hình mất điệnthường xuyên ở những khu vực đã giảm dần Ngoài ra, Thái Lan cũng có những cảithiện về đầu tư nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có thể cạnhtranh hiệu quả hơn trong khu vực và trên thế giới[2,tr.136]

Các chính sách mở cửa của Thái Lan cho các nhà cung cấp dịch vụ môi trường nước ngoài thành lập hiện diện thương mại

a Khái quát về các cam kết của Thái lan liên quan đến mở cửa thị trường dịch vụ môi trường

Khi tham gia vào thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) tronglĩnh vực dịch vụ môi trường, Thái Lan cam kết mở cửa toàn bộ các lĩnh vực này(theo phân ngành của trung tâm phân loại sản phẩm CPC) Bảng dưới đây chochúng ta thấy các cam kết cụ thể của Thái Lan

Trang 37

Bảng 1.1: Tóm tắt các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ môi trường củaThái

Lan đối với các nước thành viên WTO

Dịch vụ vệ sinh và tương tự

Nhóm dịch vụ

(Nguồn: Bộ tài nguyên và môi trường)

b Các chính sách và quy định cụ thể của Thái Lan về vấn đề dịch vụ môi trường đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài

Trên cơ sở những cam kết chung và cụ thể của Thái Lan trong việc mở cửa thịtrường hàng hóa và dịch vụ môi trường, Chính phủ Thái Lan đã có những quy định

và chính sách cụ thể nhằm thực hiện những cam kết cũng như để bảo vệ các nhà cungcấp dịch vụ trong nước và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các lĩnh vực nàytrên đất nước Thái Lan

Về cơ bản Thái Lan không có các hàng rào chống xâm nhập đối với các dịchvụ và thiết bị môi trường từ nước ngoài Thái Lan không hạn chế nhập khẩu cũngnhư các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan đến bảo vệ tài nguyên và môitrường Đồng thời Chính phủ Thái Lan cũng có những chính sách hỗ trợ thị trườnghàng hóa và dịch vụ môi trường bằng cách giảm thuế nhập khẩu Hàng hóa nhậpkhẩu vào Thái Lan cũng cần đáp ứng những yêu cầu về xuất xứ, nhãn mác đăng ký

và các tài liệu cần thiết khác đối với cơ quan Hải Quan

Đặc biệt, các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ môi trườngmuốnthành lập hiện diện thương mại trên đất Thái Lan lại gặp phải những khó khăn

về các chính sách như các chính sách đặc quyền, đặc lợi; kiểm tra về mặt kinh tế;kiểm tra về mức độ mạo hiểm trong đầu tư; giới hạn về mức vốn trong đầu tư, thậmchí là sự hạn chế ở một số lĩnh vực … Do vậy, việc các nhà đầu tư nước ngoàimuốn thành lập hiện diện thương mại trên đất Thái Lan lại gặp phải nhiều cản trở.Hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ môi trường quốc tế vào Thái Lan thông qua việcchỉ định các đại lý hoặc nhà phân phối ở địa phương hoặc mở văn phòng ở địa

Trang 38

phương Điều này tạo thuận lợi hơn cho các nhà cung cấp dịch vụ môi trường nướcngoài bởi chi phí thấp

Ngoài ra, các nhà đầu tư và người lao động nước ngoài tại Thái Lan cũng phảiđáp ứng các yêu cầu về giấy phép lao động (theo Luật tuyển dụng lao động ngườinước ngoài năm 1979) Một số ngành nghề bị đóng cửa cho người nước ngoài thamgia lao động (theo nghị định Hoàng gia năm 1979) Ủy ban xúc tiến luật đầu tư(BOI) cũng thiết lập văn phòng một cửa nhằm tạo thuận lợi cho việc cấp giấy phéplao động Người lao động nước ngoài tại Thái Lan cũng phải đáp ứng các yêu cầu

về nhập cư Bảng 1.2 sẽ cho chúng ta thấy được những điều kiện của Thái Lan đốivới các nhà đầu tư nước ngoài và người lao động làm việc tại Thái Lan

Bảng 1.2: Phí và thời hạn của các loại thị thực của Thái Lan

Loại thị thực Phí

(bath)

Giá trị pháp

lý của thịthực

Thời gian ở hiệu lực

Thị thực quá

cảnh

8.00 3 tháng Được phép ở lại trong khoảng thời

gian không quá 30 ngàyThị thực du lịch

(một người)

1.000 3 tháng Được phép ở lại trong khoảngthời

gian không quá 30 ngàyThị thực không

nhập cư (Một

người)

2.000 3 tháng Được phép ở lại trong khoảng thời

gian không quá 90 ngày trừ khi cóchỉ thị của Cục di trú

Thị thực 3 năm

không nhập cư

10.000 3 năm Được phép ở lại trong khoảng thời

gian không quá 90 ngày trừ(mỗingười)khi có chỉ thị của cục di trú

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường) + Đối với các nhà đầu tư nước ngoài tại Thái Lan : Các nhà đầu tư nước

ngoài tại Thái Lan có thể áp dụng hình thức thị thực không nhập cư (Visa B) cóthời hạn từ 1 năm đến 3 năm Với loại thị thực này thì các nhà đầu tư có thể đếnThái Lan nhiều lần và mỗi lần không được quá 90 ngày Ngoài ra, qua nghiên cứu

Trang 39

chúng tôi nhận thấy phí thị thực của Thái Lan là thấp hơn rất nhiều so với các nướckhác như : mỹ, trung quốc, Hàn quốc Đặc biệt, với vai trò là thành viên của cácnước thuộc khối kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC32) các doanh nhân cóthể đăng ký loại hình thẻ doanh nhân APEC (ABTC) có thể coi như là một loại thịthực và có thể đến Thái Lan nhiều lần.

+ Người lao động nước ngoài tại Thái Lan : Người lao động nước ngoài

muốn làm việc tại Thái Lan thì phải đáp ứng 2 yêu cầu chủ yếu sau : (i) Thị thựckhông nhập cư (Visa B); (ii) Giấy phép làm việc Để đáp ứng được 2 yêu cầu nàythì các bước mà người lao động phải tiến hành là : Trước hết phải có người nhậnlàm việc (người chủ lao động) ; thứ hai là phải đáp ứng các yêu cầu về giấy phépcủa Bộ Lao động và Bộ Việc làm và sau đó phải tiến hành xin thị thực không nhập

cư (visa B)

Như vậy, người lao động nước ngoài tại Thái Lan cũng phải đáp ứng rấtnhiều các yêu cầu và thủ tục phức tạp có liên quan Điều này vừa là một khó khănđối với những người nước ngoài muốn đến Thái Lan làm việc đồng thời cũng là cơhội và tạo ra một lợi thế cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi lẽ việc thuê lao động ởThái Lan rẻ hơn nhiều so với việc phải thuê người lao động nước ngoài Điều này

sẽ tạo ra một lợi thế cạnh tranh lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vựcdịch vụ môi trường nói riêng và thương mại nói chung

Thêm vào đó, để bảo vệ các doanh nghiệp trong nước hoạt động trong

lĩnh vực dịch vụ môi trường thì chính phủ Thái lan còn có những định hướng ưutiên cho các doanh nghiệp địa phương trong việc giải quyết các vấn đề môi trườngnhư: môi trường nước, xử lý chất thải nguy hai Do đó, khi tham gia vào thị trườnghàng hóa và dịch vụ môi trường ở Thái Lan thì các nhà đầu tư nước ngoài thường

có xu hướng hợp tác với các công ty địa phương để cung cấp các dịch vụ liên quan

đế lĩnh vực này

Bài học kinh nghiệm về chính sách mở cửa cho các nhà cung cấp dịch vụ môi trường nước ngoài thành lập hiện diện thương mại của Thái Lan

Thái Lan và Việt Nam là hai nước có điều kiện kinh tế, xã hội và môi trườngkhá tương đồng Qua nghiên cứu những vấn đề liên quan đến phát triển dịch vụ môi

Trang 40

trường ở Thái Lan, nghiên cứu nhận thấy Việt Nam nên tham khảo học hỏi nhữngkinh nghiệm sau từ Thái Lan Qua việc phân tích các cam kết thực hiện, các chínhsách và quy định hiện nay của Thái Lan đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi thamgia kinh doanh trong các lĩnh vực của dịch vụ môi trường, nghiên cứu đúc rút ramột số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:

Một là, mở cửa thị trường dịch vụ môi trường, tạo điều kiện cho các nhà

cung cấp dịch vụ môi trường nước ngoài tham gia vào thị trường của Việt Nam là

cơ hội cho chúng ta phát triển bền vững, đạt được các chỉ tiêu về môi trường, kinh

tế và cả xã hội

Hai là, coi trọng và tăng cường xúc tiến các nguồn vốn đầu tư nước

ngoài thông qua hình thức đầu tư trực tiếp (FDI) là hết sức quan trọng để phát triểnkinh tế nói chung và dịch vụ môi trường nói riêng

Ba là, tận dụng các rào cản phi thương mại như: các yêu cầu về thị thực,

xuất nhập cảnh … cũng là giải pháp giúp Việt Nam tạo ra các rào cản phù hợp vớiquy định và cam kết của tổ chức thương mại thế giới Một số loại công cụ nên đượcvận dụng là: các chính sách đặc quyền, đặc lợi; kiểm tra về kinh tế và nhu cầu laođộng; vấn đề hạn chế liên doanh; kiểm tra về chuyên môn

Bốn là, các quy định và chính sách đối với người lao động nước ngoài

cũng cần phải được cân nhắc phù hợp với bối cảnh hiện nay ở Việt Nam Cần tránhtrường hợp như Thái Lan, khi các quy định về người lao động nước ngoài quá chặttrong khi giá lao động trong nước lại thấp hơn bên ngoài nên đã tạo ra những lợithế cạnh tranh cho các nhà cung cấp dịch vụ môi trường nước ngoài

Năm là, trong điều kiện Việt Nam là thành viên mới của tổ chức thương mại

thế giới, nên chúng ta còn một lộ trình dài để thực hiện hết các cam kết mở cửa.Cần khai thác triệt để những lĩnh vực còn được ưu tiên

Sáu là, chính phủ cũng cần có những định hướng ưu tiên cho từng lĩnh vực

cụ thể của phân ngành dịch vụ môi trường Những nhóm nào chỉ do Nhà nước làm;những nhóm dịch vụ nào khuyến khích tư nhân tham gia và những nhóm dịch vụnào cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia… Đồng thời các chính sách về pháp

lý, tổ chức và định hướng chiến lược cũng cần phải được tiến hành thực hiện songsong và đồng bộ

1.2.1.3 Kinh nghiệm của Singapore

Ngày đăng: 17/01/2019, 18:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam (2006), Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam (2006), Biểu cam kết cụ thể vềdịch vụ
Tác giả: Ban công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam
Năm: 2006
2. “Báo cáo tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về dịch vụ môi trường”, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về dịch vụ môi trường”
3. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2008), Kỷ yếu 20 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nhà xuất bản Thống nhất Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu 20 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và đầu tư
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống nhất Hà Nội
Năm: 2008
4. Bộ Tài nguyên Môi trường (2009), Nghị quyết về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tàinguyên và môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên Môi trường
Năm: 2009
5. Bộ Tài nguyên môi trường (2010) Dự án xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ môi trường đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án xây dựng chiến lược phát triển dịch vụmôi trường đến năm 2030
6. Bộ tài nguyên và môi trường (2004), Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đếnnăm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ tài nguyên và môi trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2004
7. Bùi Huy Nhượng (2006), Một số biện pháp thúc đẩy việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trường đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr 20 - 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp thúc đẩy việc triển khai thực hiện cácdự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Bùi Huy Nhượng
Năm: 2006
8. Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường (1995) Tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường con người, về môi trường và phát triển, các Công ước cụ thể và hướng dẫn, Nghị định thư, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 20 -21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường (1995) Tuyên bố của Hội nghị LiênHợp Quốc về môi trường con người, về môi trường và phát triển, các Công ướccụ thể và hướng dẫn, Nghị định thư
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
9. Đảng cộng sản Việt Nam (2013),”Nghị quyết về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”, Báo Quân đội nhân dân, số 21083, tr 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về chủ động ứng phó với biến đổikhí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2013
10. Đặng Văn Sánh (2013), “Vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong hoạt động dịch vụ môi trường”, Luận án Tiến sĩ kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong hoạtđộng dịch vụ môi trường”
Tác giả: Đặng Văn Sánh
Năm: 2013
11. Lê Công Toàn (2001), Các giải pháp tài chính nhằm tăng cường thu hút và quản lý FDI tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, 18 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp tài chính nhằm tăng cường thu hút và quảnlý FDI tại Việt Nam
Tác giả: Lê Công Toàn
Năm: 2001
12. Lê Tiến Cơi (2011), “Xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của các tập đoàn xuyên quốc gia”, Thông tin tài chính, số 8/2011, tr 26-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của cáctập đoàn xuyên quốc gia”
Tác giả: Lê Tiến Cơi
Năm: 2011
13. Nguyễn Bích Ngọc (2010), “FDI: Giải quyết những “nút thắt cổ chai””,Tạp chí Tài chính, số tháng 3/2010, tr 30 - 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: FDI: Giải quyết những “nút thắt cổ chai”
Tác giả: Nguyễn Bích Ngọc
Năm: 2010
14. Nguyễn Đình Kiệm - Bạch đức Hiển (2006), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội, tr 30 -35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đình Kiệm - Bạch đức Hiển
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w