Hiện nay, pháp luật đã có nhiều quy định mở tạo điều kiện chongười nộp thuế có thể thực hiện nghĩa vụ của mình một cách thuận tiện nhấtnhư: cơ chế tự kê khai nộp thuế, kê khai thuế qua m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ THÙY LINH
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HàN – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ THÙY LINH
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
Hà nội - 2013
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu: 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3
4 Tính mới và những đóng góp của đề tài: 4
5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu: 4
7 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ 6
1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý thuế 6
1.1.1 Khái niệm quản lý thuế 6
1.1.2 Đặc điểm của quản lý thuế 9
1.1.3 Yêu cầu của quản lý thuế 13
1.2 Những nội dung cơ bản của Pháp Luật quản lý thuế 18
1.2.1Nguyên tắc quản lý thuế 18
1.2.2 Tổ chức thu thuế 19
1.2.3 Biện pháp chống thất thu thuế 31
1.2.4 Bảo vệ quyền lợi của người nộp Thuế 35
1.3 Áp dụng pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên tài nguyên đá 36
1.3.1 Sự cần thiết QLT đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá 36
1.3.2 Đặc điểm của QLT đối với hoạt động khai thác khai thác tài nguyên đá 38
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ
NAM 41
2.1 Khái quát về tình hình khai khai thác đá trên địa bàn Tỉnh Hà Nam 41
2.1.1 Một số nét về tỉnh Hà Nam và tình hình khai thác khoáng sản của Tỉnh 41
2.1.2 Hiện trạng phân bổ và khai thác đá tại địa bàn tỉnh Hà Nam 45
2.1.3 Sự cần thiết phải tiến hành thu thuế đối với các hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn Tỉnh Hà Nam 52
2.2 Tổ chức thu thuế tài nguyên đá theo quy định của Pháp Luật quản lý thuế tại Tỉnh Hà Nam 55
2.2.1 Mục đích đánh thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá 55
2.2.2 Tổ chức thu thuế tài nguyên đá 59
2.3 Đánh giá thực tiễn áp dụng Pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá tại Tỉnh Hà Nam 77
2.3.1 Những kết quả đạt được 77
2.3.2 Về hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 80
2.3.3 Về tình hình nộp thuế 81
2.4 Những vấn đề tồn tại khi áp dụng pháp luật quản lý thuế đối với khai thác tài nguyên đá 84
2.5 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, tồn tại trong quá trình áp dụng pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá89 2.5.1 Nguyên nhân từ những bất cập của hệ thống pháp luật 89
2.5.2 Nguyên nhân từ người nộp thuế 94
2.5.3 Nguyên nhân từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền 95
Trang 5CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ
NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 97
3.1 Quan điểm của Tỉnh Hà Nam về công tác quản lý thuế đối với khai thác tài nguyên đá 97
3.1.1 Quản lý thuế là nhiệm vụ chung của các cấp chính quyền địa phương và các cơ quan, sở, ban, ngành có liên quan 97
3.1.2 Đảm bảo sự bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế của các chủ thể khai thác, sản xuất, chế biến tài nguyên đá 99
3.1.3 Phát triển nguồn thu bền vững trên cơ sở hoàn thiện chức năng của từng sắc thuế và cả hệ thống thuế 101
3.2 Một số kiến nghị 102
3.2.1 Đối với các cơ quan Thuế 102
3.2.2 Xác định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước co thẩm quyền trong việc quản lý thu thuế đối với tài nguyên đá 108
3.2.3 Đối với các Doanh nghiệp khai thác tài nguyên đá 112
3.2.4 Thực hiện tốt công tác tuyên truyền chính sách thuế 113
3.2.5 Hoàn thiện hệ thống pháp luật 115
KẾT LUẬN 117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
"Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN", hàng năm số thu về thuếchiếm khoảng 80% đến 90% tổng thu ngân sách của nước ta Từ năm 1990đến nay, Nhà nước ta đã từng bước thực hiện cải cách hệ thống chính sáchthuế, bộ máy ngành thuế cũng được tổ chức lại thống nhất theo ngành dọc từTrung ương đến các quận, huyện Công tác quản lý thuế theo đó cũng đượcđổi mới căn bản, từng bước hiện đại hóa và phát huy được vai trò tích cực đốivới việc thực hiện các chính sách thuế
Trong quản lý thuế ở các lĩnh vực, hoạt động khai thác khoáng sản luôn
là lĩnh vực được đặc biệt quan tâm, bởi với nền kinh tế như nước ta hiện nay,việc sử dụng tài nguyên khoáng sản để sản xuất trong nước cũng như xuấtkhẩu đã đóng góp không nhỏ cho nguồn ngân sách nước nhà Tuy nhiên, hiệnnay hoạt động khai thác khoáng sản diễn ra ngày một nhiều và với tốc độnhanh dẫn đến nguy cơ trữ lượng khoáng sản của nước ta ngày càng cạn kiệt,vấn đề ô nhiễm môi trường ngày một trầm trọng, tình trạng xuống cấp của các
hệ thống giao thông cũng bắt đầu diễn ra Để quản lý có hiệu quả việc khaithác khoáng sản cũng như bảo vệ môi trường, Nhà nước đã quy định cácnghĩa vụ, trong đó có các nghĩa vụ về thuế, phí và lệ phí đồng thời đề ra các
cơ chế quản lý thu và nộp thuế đối với các chủ thể khai thác, sử dụng khoángsản trên phạm vi cả nước
Trên địa bàn tỉnh Hà Nam, do những đặc thù về điều kiện vị trí địa lýnên nguồn tài nguyên khoáng sản không có sự phong phú Tuy nhiên, tỉnh HàNam đặc biệt chú trọng khai thác một loại tài nguyên có trữ lượng khá lớnphục vụ chủ yếu cho xây dựng và sản xuất xi măng - đó là tài nguyên đá.Hàng năm, nguồn thu thuế từ khai thác đá chiếm một tỷ trọng lớn trong cơcấu kinh tế của tỉnh Qua khảo sát, việc khai thác tài nguyên đá đều do các
Trang 7doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thực hiện Các doanh nghiệp tự kê khai và nộpcác loại thuế theo quy định của Pháp luật, dưới sự kiểm tra, giám sát của các
cơ quan chuyên môn, trực tiếp là các cơ quan thuế Bên cạnh những thành tựuđạt được trong quá trình thực hiện quản lý thuế theo các lĩnh vực, hoạt độngquản lý thuế cũng đã bộc lộ những bất cập về quy trình quản lý, ứng dụngcông nghệ, bố trí nguồn nhân lực, thêm vào đó, tình trạng trốn thuế, nợ đọngthuế vẫn còn diễn ra tại nhiều đơn vị trong tỉnh Trước những vấn đề đặt ranhư trên, đòi hỏi phải có những nghiên cứu cơ bản từ lý luận đến thực tiễn đểtìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục, góp phần hoàn thiện hệ thốngthuế nói chung và hoạt động quản lý thuế nói riêng đối với hoạt động khai
thác đá tại địa bàn Tỉnh Hà Nam Do vậy, việc chọn đề tài: “Thực tiễn áp
dụng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam” có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận và thực
tiễn, phần nào giải quyết những vấn đề nêu trên
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu xung quanh vấn đề về thuế công tác quản lý thu thuế Mỗi đề tài nghiên cứu đều có mục đích, đối tượng,phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và mục tiêu cụ thể khác nhau Có thể kểđến một số đề tài như:
“Những vấn đề Lý luận và thực tiễn của việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế ở Việt Nam” (Luận án tiến sĩ luật học của Trần Trung Nhân – Hà
Trang 8- “Pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay- những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Luận án tiến sĩ của Vũ Văn
Cương- Trường Đại học luật Hà Nội, năm 2012)
- “Những định hướng cơ bản để hoàn thiện pháp luật thuế ở nước ta”
(Bài viết của TS Võ Đình Toàn – Tạp chí Luật học số 5, 1995);
Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào nghiên cứu bàn về vấn đề quản lýthu thuế đối với lĩnh vực khai thác khoáng sản, cụ thể là tài nguyên đá trênđịa bàn tỉnh Hà Nam Vì vậy, việc luận văn đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vựctrên là điều cần thiết, qua đó chỉ ra những hạn chế trong quản lý thu thuếkhai thác tài nguyên đá, đề xuất những giải pháp quản lý thuế mang tínhkhả thi ở địa bàn tỉnh Hà Nam, nhằm thực hiện được mục tiêu của hệ thốngthuế tại địa phương
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Tìm hiểu thực trạng khai thác tài nguyên đá của các doanh nghiệp trên địabàn Tỉnh
Trang 9- Đưa ra các số liệu minh họa cụ thể về tình trạng kê khai và nộp thuế củacác Doanh nghiệp, từ đó đưa ra những nhận định đánh giá và tìm ra nguyênnhân dẫn đến hiện tượng thất thu thuế
- Đề xuất các giải pháp để tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước trên địabàn Tỉnh và đưa các Doanh nghiệp khai thác đá hoạt động theo các quyđịnh của pháp luật, tự giác thực hiện trách nhiệm của mình với cơ quanchức năng
4 Tính mới và những đóng góp của đề tài:
- Hiện nay, đã có các công trình nghiên cứu về quản lý thuế, về quản lýhoạt động khai thác khoáng sản…nhưng chưa có đề tài nghiên cứu nào vềvấn đề kiểm soát hoạt động quản lý thuế trong quá trình khai thác tàinguyên đá tại Tỉnh Hà Nam Đề tài nghiên cứu mang tính cụ thể, thời sự
- Chuyên đề làm rõ tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước về mặthành chính đối với các hoạt động khai thác tài nguyên đá mà cụ thể là hoạtđộng thu thuế, quản lý nguồn thu đối với hoạt động khai thác tài nguyêntrên địa bàn tỉnh Hà Nam, nêu lên những thực trạng đồng thời đưa ra nhữnggiải pháp và kiến nghị có tính khả thi để nâng cao hiệu quả của hoạt độngnày
5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
- Về phạm vi: Việc thực hiện các quy định luật của nhà nước trong lĩnhvực quản lý các hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh HàNam
- Về đối tượng: Các cơ quan chính quyền địa phương, các cơ quan quản
lý nhà nước chuyên ngành quản lý hoạt động khai thác tài nguyên đá vàcác tổ chức hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam
6 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 10Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phươngpháp tổng hợp, phân tích các số liệu, thống kê thông qua xử lý các nguồntài liệu thu thập và khảo sát thực tế Các phương pháp này sẽ giúp cho việcgiải quyết các yêu cầu đề tài một cách thuận lợi hơn.
7 Kết cấu luận văn
Luận văn được kết cấu thành 03 chương
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT QUẢN
LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ 1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý thuế
1.1.1 Khái niệm quản lý thuế
QLT là lĩnh vực quản lý chuyên nghành, vì vậy, để tiếp cận khái niệmQLT, trước hết cần tiếp cận khái niệm quản lý Khái niệm quản lý xuất hiện
từ khi có hoạt động chung của con người Tuỳ theo yêu cầu, mục tiêu vàphạm vi nghiên cứu mà ta có thể hiểu chủ thể quản lý và những đối tượng bịquản lý ở chừng mực nhất định [19,tr.11]
Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “Tổ chức và điều khiển các hoạtđộng theo những yêu cầu nhất định”
Theo một cách hiểu khác, quản lý là một phạm trù để chỉ những mốiquan hệ và giữa các chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý nhằm đạt đượcnhững mục tiêu đề ra trong điều kiện có sự biến đổi của môi trường [23, tr.6]
Có một số định nghĩa về quản lý được ghi nhận ở các tài liệu khác:
“Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục
đích đúng ý chí và phù hợp với quy luật khách quan” [13, tr.61].
Hoặc “Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động của con người nhằm sắp xếp
tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất” [22, tr.136]
Nhìn chung, các khái niệm về quản lý đều đưa đến một quan điểm thốngnhất rằng, quản lý là hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu
Trang 12định thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và thúc đẩy những hoạt động của con người trong tổ chức đó.
Quản lý thuế là một dạng quản lý xã hội kể từ khi có Nhà nước và gắnliền với quyền lực Nhà nước Khái niệm QLT cũng đã là vấn đề đã đượcnhiều nhà khoa học nghiên cứu và cũng đã có nhiều cách tiếp cận.Mỗi quanniệm đều nhìn nhận QLT ở một góc độ, phạm vi khác nhau, với những mụcđích và ý nghĩa thực tiễn khác nhau
Tổng cục Thuế Latvia cho rằng “QLT là một hệ thống những quá trình
có quan hệ ch t ch với nhau nhằm mục tiêu đảm bảo thu thuế đúng, đủ và
c ng bằng trên cơ sở quy định của pháp luật thuế, bao g m các hoạt động thu nhận h sơ khai thuế, tính toán số thuế phải nộp, đ n đốc thu nộp thuế và cung cấp dịch vụ tư vấn cho người nộp thuế”.
Theo Luật QLT Trung Quốc: “QLT là một chuỗi các hoạt động bảo đảm mục tiêu thu NSNN bao g m: quản lý đăng ký thuế, quản lý sổ sách chứng từ, quản lý khai báo nộp thuế, truy thu tiền thuế, kiểm tra thuế và đảm bảo trách nhiệm pháp luật về thuế” [18, tr.18]
Theo Giáo trình quản lý tài chính nhà nước của trường đại học Tàichính (2000) thì QLT được xem như là quản lý thu thuế bằng các biện pháphành chính của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Khái niệm QLT theo Tài liệu Bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức mớicủa Tổng cục Thuế được hiểu là “hoạt động tổ chức, điều hành và giám sátcủa cơ quan thuế nhằm đảm bảo cho người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp
thuế vào Ngân sách nhà nước theo quy định của Pháp luật”
Tuy nhiên, dù tiếp cận dưới khía cạnh nào thì QLT cũng đều được xácđịnh là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành được thực hiện bởi những chủ thểmang quyền lực nhất định, được nhà nước giao phó nhằm hướng tới mục đích
đã đặt ra trong quá trình quản lý hành chính và quản lý kinh tế của đất nước
Trang 13Có thể tiếp cận khái niệm QLT dưới hai góc độ sau:
Theo nghĩa rộng : QLT là quản nhà nước trong lĩnh vực thuế, là quá
trình xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành các luật thuế, tổchức, quản lý, điều hành, thanh tra, giám sát việc thực hiện các luật thuế;thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Theo nghĩa hẹp : QLT là quản lý hành chính nhà nước về lĩnh vực thuế,
là việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu - nộp thuế theo một trình tựnhất định, là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật vềthuế thông qua sự tự giác của chính đối tượng nộp thuế, sự hỗ trợ của cơ quanthuế cũng như các cơ quan nhà nước có liên quan
Luật QLT số 78/2006/QH11 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 (sau đây viết tắt làluật QLT) tiếp cận vấn đề QLT theo nghĩa hẹp Luật không đưa ra khái niệm
cụ thể về QLT mà chỉ nêu ra các nội dung trong QLT tại Điều 3 của luật.
Theo đó, nội dung quản lý thuế bao gồm: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế,
ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiềnphạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế;cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật vềthuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế Từ điều luật này có thể thấy, phápluật QLT bao gồm các quy định mang tính thủ tục được xây dựng để thựchiện các chính sách thuế của nhà nước Đối tượng tác động của QLT baogồm: người nộp thuế, cơ quan QLT và các cơ quan, tổ chức có liên quan.Trong đó, mỗi đối tượng giữ một vai trò và vị trí khác nhau nhằm đảm bảocho các luật thuế được thi hành nghiêm chỉnh và thuận lợi, cụ thể
Người nộp thuế (NNT) là đối tượng được quy định cụ thể trong các vănbản pháp luật về chính sách thuế Các tổ chức có trách nhiệm nộp thuế thayngười nộp thuế, tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí thuộc NSNN cũngđược coi là người nộp thuế, chịu sự điều chỉnh của luật QLT và có các quyền
Trang 14hạn, trách nhiệm như tổ chức, cá nhân nộp thuế Các chính sách thuế có đượcthực thi nhanh chóng hay không phụ thuộc vào ý thức tự giác và trung thựccủa NNT Hiện nay, pháp luật đã có nhiều quy định mở tạo điều kiện chongười nộp thuế có thể thực hiện nghĩa vụ của mình một cách thuận tiện nhấtnhư: cơ chế tự kê khai nộp thuế, kê khai thuế qua mạng…Đó cũng là yếu tốtạo nên tính hiện đại của QLT trong giai đoạn hiện nay.
Theo Luật QLT, cơ quan QLT thuế bao gồm hệ thống các cơ quanthuế và cơ quan hải quan, được tổ chức theo ngành dọc thống nhất từ Trungương đến địa phương để quản lý các khoản thuế, thu NSNN phát sinh trongnội địa (đối với cơ quan thuế) và quản lý các khoản thuế, thu NSNN phát sinhtại cửa khẩu hải quan (đối với cơ quan hải quan) Pháp luật giao cho các cơquan QLT các chức năng, nhiệm vụ nhất định để tổ chức thực hiện chính sáchthuế hiệu quả nhất
Các tổ chức, cá nhân có liên quan bao gồm các CQNN, tổ chức chínhtrị, tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, cá nhân có liên quan đến hoạt động phátsinh nghĩa vụ nộp thuế, tình hình tuân thủ pháp luật của người nộp thuế hoặcliên quan đến công tác quản lý của cơ quan thuế Họ có vai trò quan trọngtrong việc nâng cao trách nhiệm pháp lý của cộng đồng xã hội trong việc thựcthi và giám sát chấp hành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, có thể kể đến nhưKho bạc Nhà nước, cơ quan Tài Nguyên- môi trường, Công an, Tòa án…
Sự phối hợp giữa các nhóm đối tượng trong hoạt đông thu- nộp thuếđược đặt dưới sự tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế với mụcđích đảm bảo yếu tố nghiêm chỉnh chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào ngânsách Nhà nước, tránh tình trạng thất thoát nguồn thu do trốn thuế, nợ thuế gâyra
1.1.2 Đặc điểm của quản lý thuế.
Vấn đề QLT là nội dung được ghi nhận tại một văn bản độc lập- Luật
Trang 15chung, áp dụng thống nhất trong quá trình thực thi tất cả các chính sách thuế,khắc phục được tình trạng chia cắt, tách biệt về phương thức quản lý giữa cácloại thuế, tạo nền tảng cho việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp Về bản chất,QLT là quản lý hành chính nhà nước về Thuế Do đó, bên cạnh các đặc điểmchung về tính bắt buộc và cưỡng chế thi hành, QLT mang những đặc điểmđặc trưng sau:
Thứ nhất, QLT là một hệ thống thống nhất giữa các cơ quan quản lý
Nhà nước với nhau, giữa xây dựng chính sách thuế với tổ chức hành thu Điều
đó có nghĩa là quản lý thuế vừa là hoạt động ban hành các văn bản pháp luật
về thuế, về quy trình thu- nộp thuế, vừa là quá trình các CQNN có thẩmquyền đưa các quy định đó vào thực tế trên cơ sở có sự trao đổi, phối hợpgiữa các cơ quan với mục đích vừa duy trì ổn định nguồn thu cho NSNN vừađảm bảo được quyền lợi cho các đối tượng nộp thuế
Với tính chất là hoạt động quản lý hành chính trong một lĩnh vực cụthể, QLT là một hoạt động nhạy cảm, phức tạp, đòi hỏi phải đảm bảo lợi íchcủa cả hai bên: nhà nước và NNT Đặc điểm này đặt ra yêu cầu đổi với các
cơ quan QLT phải có những phương thức quản lý linh hoạt, tránh tuỳ tiện đề
ra các quy định có tính áp đặt, độc đoán Lịch sử đã chứng minh những bứcxúc với chế độ thuế khoá có thể kéo theo những chuyển biến chính trị rất cănbản Việc đóng thuế trước hết ảnh hưởng tới thu nhập của đối tượng chịu thuế,
do đó, các quy định về thuế phải căn cứ trên tình hình kinh tế- xã hội của từngthời kì để có sự điều chỉnh thích hợp, mặt khác, không ngừng đổi mới, nângcao cách thức thu- nộp thuế để người dân dễ dàng tiếp cận với các quy địnhcủa nhà nước, tạo điều kiện cho người dân thực hiện nghĩa vụ của mình mộtcách nhanh chóng, thuận lợi mà vẫn đảm bảo tính hiệu quả, chính xác, hạn chế,tiến tới xóa bỏ tình trạng trốn thuế, nợ đọng hay thất thu thuế
Thứ hai, QLT là quản lý bằng pháp luật và các biện pháp nghiệp vụ,
biện pháp hành chính khác, trong đó pháp luật là công cụ chủ yếu, là chuẩn
Trang 16mực bắt buộc đối với mọi đối tượng thuộc sự điều chỉnh của luật QLT thuế,
dù là người thu thuế hay người nộp thuế Có những nước quy định tất cả cácsắc thuế trong một Bộ luật chung về thuế, gọi là Bộ luật thuế vụ Trong bộluật này, nhà làm luật vừa quy định về nội dung cụ thể của các loại thuế trong
hệ thống thuế, vừa quy định về trình tự, thủ tục hành thu và cơ chế quản lýthuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp về thuế Giải phápnày đã từng được áp dụng tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975( Xem: Bộluật thuế vụ, Nguyễn Hùng Trương sao lục, Sài Gòn, 1972) Hiện tại, giảipháp này cũng đang được áp dụng tại Cộng òa Pháp (25) Ngược lại, có một
số nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam lựa chọn giải pháp thiết kế mỗiloại thuế được ban hành bằng một đạo luật riêng, độc lập với nhau nhưng vẫnđảm bảo tính tương thích với nhau và đồng thời tách bạch các quy định vềQLT bằng một đạo luật riêng biệt so với các đạo luật thuế Trong bối cảnhtoàn cầu hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, xu hướng chung của các nước là banhành những đạo luật riêng về từng loại thuế, từng bước tách bạch các quyđịnh về hành chính thuế ra khỏi các đạo luật về thuế, gọi là luật về QLT Giảipháp này được đánh giá là thích hợp hơn với điều kiện hội nhập kinh tế toàncầu, nó cho phép nhà làm luật có thể sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh các quyđịnh trong các đạo luật thuế một cách dễ dàng hơn, so với việc đưa tất cả cácquy định về thuế trong một Bộ luật chung về thuế Luật QLT ra đời vừa làcông cụ chủ yếu để xác định phạm vi, giới hạn hoạt động cũng như yêu cầuđối với hoạt động QLT
Ở Việt Nam, trước năm 2006, nước ta chưa có một văn bản luật thốngnhất về QLT, các quy định về QLT nằm rải rác trong nhiều các văn bản phápluật khác nhau như: trong các văn bản pháp luật ở từng sắc thuế có nhữngquy định riêng về thủ tục đăng ký thuế, cấp mã số thuế, thủ tục về mua hoáđơn, chứng từ,thủ tục về kê khai thuế, thời hạn nộp thuế, thủ tục về quyết toánthuế, thời hạn nộp quyết toán thuế Ngoài ra còn có các văn bản pháp luật
Trang 17khác có những quy định liên quan đến QLT như : các văn bản pháp luật về kếtoán, về hoá đơn chứng từ; các văn bản về khiếu nại, tố cáo; các văn bản vềthanh tra, kiểm tra; các văn bản về xử phạt hành chính Điều đó đã dẫn đếntình trạng tồn tại nhiều quy định mâu thuẫn, thậm chí chồng chéo nhau, gâykhó khăn cho việc thực hiện.
Sự ra đời của luật QLT năm 2006 đã khắc phục được tình trạng chiacắt, tách biệt về phương thức quản lý giữa các loại thuế; tạo nền tảng cho việc
áp dụng một cơ chế quản lý thuế tiên tiến, hiện đại theo hướng tự tính thuế, tựkhai thuế, tự nộp thuế đồng thời tạo lập khung pháp lý chung để thực thi tất
cả các luật thuế, pháp lệnh thuế và các khoản thu khác thuộc NSNN Đây làmột cơ chế đề cao quyền và trách nhiệm của các chủ thể chấp hành pháp luậtthuế So với các quy định hiện hành về thuế của Nhà nước, luật QLT có phạm
vi điều chỉnh rộng và thống nhất cho toàn bộ các loại thuế, các khoản thukhác thuộc NSNN do cơ quan QLT quản lý thu theo quy định của pháp luật.Luật quy định rõ 4 nhóm đối tượng áp dụng bao gồm: người nộp thuế, cơquan quản lý thuế, công chức quản lý thuế và cơ quan Nhà nước, tổ chức, cánhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế Các thủ tục hànhchính thuế được quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch nhằm nâng cao tráchnhiệm và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế, tạo điều kiện chongười nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế
Thứ ba, hiệu quả của công tác QLT phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : ý
thức chấp hành pháp luật thuế của người dân, trình độ năng lực của cán bộ,công chức QLT, cơ sở vật chất của ngành thuế, hệ thống thể chế quản lý kinh
tế - xã hội (quản lý đất đai, quản lý đăng ký kinh doanh, chế độ kế toán ).Đặc điểm này đặt ra yêu cầu: mọi cuộc cải cách hệ thống thuế phải được tiếnhành đồng bộ, có chiến lược tổng quát, tránh lối cải cách khập khiễng, chắp vá
Trang 181.1.3 Yêu cầu của quản lý thuế
Thứ nhất: Hoạch định mục tiêu
Mục tiêu là trạng thái tương lai, là đích mà hệ thống quản lý mong muốnđạt tới Nó có vai trò chi phối và định hướng hoạt động của toàn hệ thống.Mục tiêu quản lý luôn được xác định trước, nó chi phối, dẫn dắt cả chủ thể vàđối tượng quản lý trong toàn bộ quá trình hoạt động Xác định mục tiêu đúng
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động quản lý
Mục tiêu của QLT nói chung được xác định bằng các chỉ tiêu cụ thể như:
số thuế thu trong một thời gian nhất định; tỷ lệ huy động nguồn thu từ thuếvào ngân sách Nhà nước; tốc độ tăng trưởng về số thu của thời kỳ kế hoạch sovới thời ký trước; tỷ trọng các sắc thuế cần đạt được trong từng thời kỳ…Tuynhiên, vì thuế có các chức năng cơ bản là huy động nguồn lực tài chính choNhà nước và điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước, do đó xétđến cùng, mục tiêu của QLT là nhằm làm cho đối tượng nộp thuế thực hiệnđầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ luật định về thuế của mình phải đóng, đồng thờiNhà nước thực hiện được các mục tiêu vốn có của mỗi sắc thuế
Mục tiêu cụ thể của QLT đối với các đối tượng nộp thuế là làm cho đốitượng nộp thuế thực hiện kịp thời, đầy đủ các nghĩa vụ luật định về thuế trên
cơ sở mức độ tuân thủ tự nguyện pháp luật Điều đó cũng có nghĩa là số thuếthu được từ đối tượng nộp thuế sẽ tiến dần đến số thuế tiềm năng hay thất thuthuế ngày càng giảm thiểu và tiến dần tới 0; số thu ngân sách nhà nước từ đốitượng nộp thuế sẽ là lớn nhất trong điều kiện chính sách ổn định đồng thời chiphí của cơ quan thuế cũng sẽ giảm khi mức độ tuân thủ của đối tượng nộpthuế ngày càng tăng Theo đó, mục tiêu vốn có của mỗi sắc thuế cũng đượcthực hiện Bên cạnh mục tiêu quản lý đối với các đối tượng nộp thuế, mụctiêu và phương hướng hoạt động cho các cơ quan thuế và cán bộ thuế cũngđược đặt ra Đó chính là việc xây dựng một đội ngũ thuế trong sạch, vững
Trang 19mạnh, có chuyên môn nghiệp vụ cao, đảm bảo thực hiện một cách đúng đắn
và nghiêm túc các quy định về thuế để có thể hướng dẫn, kiểm tra, giám sátviệc tuân thủ pháp luật thuế của các đối tượng nộp thuế, góp phần vào việcgiảm thiểu hành vi vi phạm của đối tượng nộp thuế và tình trạng thất thu thuế
từ đó cũng được giảm dần Mặt khác, cần đặt mục tiêu phát huy tốt nhất vaitrò của công cụ thuế trong nền kinh tế thị trường như: ổn định kinh tế vĩ mô,đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập và điều tiết các hoạt động sảnxuất kinh doanh theo mục tiêu của nhà nước đã định trong từng thời kỳ
Trong các mục tiêu nói trên, mục tiêu tăng cường sự tuân thủ pháp luậtthuế là mục tiêu cơ bản để đạt được các mục tiêu còn lại trong QLT Bởi vì,khi sự tuân thủ thuế của người nộp thuế ở mức cao nhất (nộp đầy đủ, đúnghạn và tự nguyện) chính là cơ sở để duy trì những nguồn thu hiện tại và mởrộng nguồn thu trong tương lai Khi sự tuân thủ thuế của người nộp được thựchiện một cách tự nguyện, tự giác sẽ làm giảm chi phí quản lý của cơ quanquản lý thuế và chi phí của người nộp thuế Một số công trình nghiên cứu vềQLT gần đây cho rằng: Hệ thống QLT có hiệu lực, hiệu quả là phải đạt được
sự vui lòng hợp tác của đa số những người nộp thuế Cơ quan QLT sẽ có lợinhiều hơn khi giúp đỡ người nộp thuế tuân thủ, đáp ứng những yêu cầu của
họ, tạo điều kiện cho họ tuân thủ nghĩa vụ thuế hơn là tiêu tốn quá nhiềunguồn lực vào việc dùng sức mạnh quyền lực để ngăn chặn và hạn chế đốitượng trốn thuế, gian lận Trong nhiều công trình nghiên cứu đều khẳng định:
“QLT có mục tiêu quan trọng nhất là phải làm sao cho người nộp thuế tuânthủ nghĩa vụ thuế một cách tự nguyện, đầy đủ và kịp thời trên cơ sở tạo môitrường quản lý thuế dân chủ hơn, tối thiểu hóa sự miễn cưỡng thực hiện nghĩa
vụ thuế của người nộp thuế, kích thích sự tuân thủ thuế tiềm năng” [40] Từvệc xác định được mục tiêu chính này, một số quốc gia đã định ra chiến lượcđổi mới quản lý thuế theo hướng: Lấy người nộp thuế làm trung tâm, coi
Trang 20người nộp thuế là khách hàng mà cơ quan quản lý thuế phải phục vụ, tạo rađiều kiện thuận lợi nhất cho người nộp thuế thực hiện tốt các quyền và nghĩa
vụ của họ [25]
Thứ hai: Phân cấp quản lý đối với ĐTNT
Hệ thống quản lý là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều tầng nấc, mỗitầng nấc là một hệ thống nhỏ có sự độc lập tương đối, có mục tiêu hoạt độngriêng và điều kiện vận động dặc thù Ở nhiều nước trên thế giới, hệ thống thuếđược tổ chức phù hợp với tổ chức của Nhà nước như thuế Liên Bang, thuếBang (như Hoa Kỳ, Úc), hoặc thuế Trung ương và thuế địa phương (nhưTrung Quốc, Nhật Bản, Philipin) Đối với Việt Nam, hệ thống cơ quan thuếđược tổ chức lại thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến quận, huyện(từ năm 1990), chịu trách nhiệm quản lý thu tất cả các khoản thu nội địa Việcphân cấp quản lý trong ngành thuế mang lại nhiều lợi ích, một mặt đảm bảo
sự tập trung, thống nhất vào những nhiệm vụ quan trọng của các chủ thể quản
lý cấp cao, mặt khác phát huy tính năng động, sáng tạo của cấp dưới, mở rộngdân chủ hóa trong quản lý, từ đó tạo nên bầu không khí tâm lý dân chủ vàlành mạnh trong tập thể của hệ thống quản lý, mở rộng dân chủ hóa trongquản lý
Việc phân cấp trong ngành thuế thường căn cứ vào đối tượng quản lý Mộtđối tượng có thể phải nộp nhiều loại thuế khác nhau nhưng hầu hết chỉ chịu sựquản lý của một cơ quan thuế Điều này tránh được sự phiền hà cho các đốitượng nộp thuế (chỉ phải liên hệ với một cơ quan thuế) Trong tổng số đốitượng nộp thuế hiện nay: khoảng hơn 140.000 doanh nghiệp, gần 1,5 triệu hộkinh doanh cá thể, hơn 10 triệu hộ nộp thuế nhà đất, hành trăm nghìn đốitượng nộp thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế khác, tất yếu phải được phâncấp quản lý cho từng cấp trong nghành thuế một cách phù hợp Có như vậymới tạo ra sức mạnh tổng hợp để quản lý thu có hiệu quả
Trang 21 Thứ ba: Xây dựng, ban hành và thực hiện các quy trình quản lý thu đối với các đối tượng nộp thuế
Quy trình quản lý thu thuế quy định trình tự, thủ tục, các bước cần tiếnhành để quản lý thu thuế Việc ban hành quy trình quản lý giúp cho cơ quanthuế chỉ đạo, điều hành hoạt động của cả hệ thống một cách thống nhất, khoahọc, theo một trình tự hợp lý, đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật thuế, thực hiệndân chủ hóa, công khai minh bạch và rõ ràng để đối tượng nộp thuế dễ thựchiện và kiểm soát cơ quan thuế Mỗi loại đối tượng nộp thuế có đặc điểmkhác nhau, các sắc thuế áp dụng cũng khác nhau Vì vậy, quy trình quản lýthuế cũng có quy định phù hợp với từng đối tượng VD: Quy trình quản lý thuđối với các doanh nghiệp bao gồm các quy trình nhỏ như: đăng ký thuế, kêkhai nộp thuế, kiểm soát thuế, thông báo thuế, thu thuế, tuyên truyền hỗ trợđối tượng nộp thuế, cưỡng chế thu nợ thuế, thanh tra, kiểm tra và xử lý các viphạm pháp luật Đối với mỗi khâu, vai trò của cơ quan thuế và cán bộ thuế làrất quan trọng, trực tiếp quyết định tới việc đảm bảo tuân thủ pháp luật củađối tương nộp thuế và số thuế thu được trong mỗi kỳ Việc xây dựng, banhành và thực hiện các quy trình quản lý thu đối với các đối nộp thuế là mộttrong các nội dung nằm trong nội dung cơ bản của luật quản lý thuế
Thứ tư : xây dựng cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
- Về cơ cầu tổ chức: Cơ cấu tổ chức quản lý là một chỉnh thể gồm các bộphận có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, có mối quan hệ phụthuộc lẫn nhau, được bố trí thành từng cấp, từng khâu khác nhau, thực hiệnchức năng quản lý được chuyên môn hóa nhằm đạt được những mục tiêu nhấtđịnh (26) Hầu hết mô hình tổ chức quản lý của cơ quan thuế gồm 3 cấp:Trung ương, vùng, địa phương Ở nhiều quốc gia, có sự phân chia thuế Trungương và thuế địa phương hoặc thuế Liên bang, thuế Bang Thông thường, bộmáy thuế Trung ương hay Liên bang có nhiệm vụ thu những loại thuế quantrọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu của Quốc gia, ngược lại, bộ máy
Trang 22thuế địa phương hoặc Bang thu những khoản thu nhỏ hơn gắn với chínhquyền địa phương…
Về mô hình tổ chức cụ thể, có 3 hình mẫu phổ biến nhất, đó là tổ chứctheo sắc thuế, tổ chức theo chức năng và tổ chức theo đối tượng nộp thuế.Trong đó, mô hình tổ chức bộ máy theo sắc thuế là mô hình tổ chức cácphòng, ban riêng biệt để quản lý một số loại thuế cụ thể (VD: cục hay phòngthuế thu nhập doanh nghiệp, phòng thuế GTGT…), từng phòng ban thực hiệncác khâu công việc quản lý của sắc thuế đó; mô hình tổ chức bộ máy theochức năng là việc tổ chức các phòng thực hiện một hoặc một số chức năngnhất định trong quy trình quản lý thu thuế (phòng dịch vụ hỗ trợ đối tượngnộp thuế, phòng xử lý tờ khai, phòng thanh tra, kiểm tra…); mô hình tổ chức
bộ máy theo nhóm đối tượng nộp thuế là tổ chức các đơn vị (Cục) theo nhómđối tượng, mỗi cục chịu trách nhiệm cung cấp toàn bộ các chức năng quản lýthuế cho nhóm đối tượng như cục quản lý các doanh nghiệp lớn, cục quản lýcác doanh nghiệp vừa và nhỏ, cục quản lý tiền công và lương hưu…Hiện nay,trên thế giới ¾ cơ quan thuế các nước đang hoạt động với cơ cấu tổ chức theochức năng hoặc hỗn hợp các mô hình, trong đó có Việt Nam Các quốc giađều cần nghiên cứu kỹ những ưu và nhược điểm của mỗi mô hình cũng nhưđặc điểm của đất nước mình để tổ chức cơ quan thuế cho phù hợp
- Về cán bộ quản lý: Cán bộ quản lý bao gồm tất cả các cá nhân thực hiệnchức năng quản lý nhất định trong bộ máy quản lý của một hệ thống Đội ngũcán bộ nói chung gồm 2 thành phần chính: cán bộ lãnh đạo và cán bộ chuyênmôn nghiệp vụ Để nâng cao hiệu lực của bộ máy nói chung và thuế nói riêng,việc lựa chọn, bố trí , quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để đápứng yêu cầu công việc có vai trò hết sức quan trọng Chất lượng của quản lýthuế phụ thuộc vào trình độ cán bộ, việc bố trí nhân lực cho các khâu để quản
lý các đối tượng nộp thuế trong quy trình hợp lý Đối với các nước có trình độ
Trang 23quản lý thuế tiên tiến thì tỷ lệ cán bộ bố trí cho khâu xử lý tờ khai và kế toánthuế chiếm từ 14-22%, khâu tuyên truyền và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệpchiếm từ 12-24%, khâu thanh tra chiếm từ 24-40%, khâu cưỡng chế thu nợthuế chiếm từ 12-17% ( Nguồn: Quỹ tiền tệ Quốc tế năm 2009) Cùng vớiviệc xác định tỷ lệ cán bộ ở các khâu thì cũng cần bố trí cán bộ có trình độphù hợp vào quản lý các đối tượng tương ứng Việc đào tạo và quản lý cán bộthuế phải được tiến hành thường xuyên, theo hướng hiện đại trên cơ sở thamkhảo mô hình của các nước tiên tiến trên thế giới.
1.2 Những nội dung cơ bản của Pháp Luật quản lý thuế
1.2.1Nguyên tắc quản lý thuế
Đối với mỗi hoạt động nói chung và hoạt động QLT nói riêng, để đạtđược mục tiêu đã đặt ra được phát triển đúng phương hướng, cần xác địnhnhững nguyên tắc hoạt động cụ thể, coi đó là yêu cầu xuyên suốt trong từnghành động của các chủ thể Những nguyên tắc của QLT được Luật QLT quyđịnh cụ thể tại điều 4 với những nội dung sau:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Nộp thuế theo quy định củapháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Tất cả các cơquan, tổ chức, cá nhân trong xã hội đều có trách nhiệm tham gia QLT;
Việc QLT được thực hiện theo quy định của luật QLT và các quy địnhcủa pháp luật có liên quan
Việc quản lý thuế phải đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng; bảođảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
Những nguyên tắc của QLT không chỉ một lần nữa làm rõ bản chất, vai tròcủa thuế- là nguồn thu của NSNN mà còn làm nổi bật lên phạm vi điều chỉnhcác quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình QLT tức quy định trình tự, thủtục, cách thức, phương pháp QLT hay nói cách khác quy định việc tổ chứcthực hiện các luật thuế cũng như các quy định có liên quan Dựa trên những
Trang 24nguyên tắc nhất định, pháp luật QLT đã xây dựng thành những nhóm các quyđịnh: Nhóm quy định về quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế, của các cơquan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện QLT; nhóm các quy định vềquy trình thu- nộp thuế, các biện pháp thanh tra, kiểm tra, cưỡng chế, thu nợthuế và xử lý các vi phạm pháp luật về thuế nhằm đảm bảo tính công khai,minh bạch của luật pháp; nhóm các quy định của pháp luật về khiếu nại, tốcáo các hành vi vi phạm pháp luật thuế Mỗi một nhóm đều có những quyđịnh chi tiết, cụ thể và từng bước thể hiện được những nội dung cơ bản, quantrọng của những nguyên tắc QLT.
1.2.2 Tổ chức thu thuế
1.2.2.1 Một số khâu cơ bản trong quy trình quản lý Thuế
Đăng ký, kê khai, ấn định thuế và nộp thuế
Đăng ký thuế: là việc người nộp thuế thực hiện khai báo với cơ quan
QLT về sự hiện diện của mình, theo đó, họ có trách nhiệm nộp một (hoặc mộtsố) loại thuế nhất định theo quy định của pháp luật
Khi đăng ký thuế, NNT kê khai những thông tin của mình theo mẫu quyđịnh và nộp tờ khai những thông tin của mình theo mẫu, sau đó nộp tờ khaicho cơ quan QLT và được cấp một mã số thuế để thực hiện quyền và nghĩa vụ
về thuế Cơ quan QLT thiết lập đầu mối quan lý thông qua việc cấp mã sốthuế cho NNT Theo quy định của pháp luật, những người có nghĩa vụ thuếmang tính thường xuyên, định kỳ mới phải đăng ký thuế Pháp luật QLT quyđịnh cụ thể về đăng ký thuế, thời hạn đăng ký thuế, hồ sơ đăng ký thuế, cấpgiấy chứng nhận đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế và chấm dứt hiệu lực mã
số thuế của người nộp thuế
Kê khai thuế: là việc người nộp thuế tự xác định số thuế phải nộp phát
sinh trong thời kỳ kê khai thuế theo quy định của từng loại luật thuế NNT sửdụng hồ sơ khai thuế của từng loại thuế để kê khai số thuế phải nộp với cơ
Trang 25quan thuế theo quy định của pháp luật quản lý thuế và tự chịu trách nhiệm vềtính chính xác trong số liệu của hồ sơ khai thuế.
Cơ quan thuế tôn trọng việc tự tính thuế và kê khai thuế của người nộpthuế đồng thời có các biện pháp giám sát hiệu quả, vừa đảm bảo khuyến khích
sự tuân thủ tự nguyện của NNT, vừa đảm bảo phát hiện, ngăn chặn nhữngtrường hợp vi phạm pháp luật thuế
Ấn định thuế: là việc cơ quan thuế xác định số thuế phải nộp và yêu cầu
NNT chấp hành nộp thuế theo quyết định ấn định thuế của cơ quan thuế trongtrường hợp NNT không kê khai hoặc kê khai không trung thực
Nộp thuế: Pháp luật QLT quy định cụ thể về thời hạn nộp thuế, đồng tiền
nộp thuế, địa điểm và hình thức nộp thuế, thứ tự thanh toán tiền thuế, xử lý sốtiền thuế nộp thừa, gia hạn thời gian nộp thuế
Trường hợp NNT tự tính thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuốicùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế Thời hạn nộp thuế được quy định gắnliền với thời hạn nộp hồ sơ khai thuế vừa bảo đảm phù hợp với tính chất củatừng loại thuế, vừa tạo thuận lợi cho NNT dễ thực hiện các thủ tục hành chính
về thuế, giảm phiền hà cho NNT Trường hợp cơ quan thuế tính thuế hoặc ấnđịnh thuế, thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan QLT
Xử lý tờ khai và kế toán thuế
Xử lý tờ khai và kế toán thuế là một khâu quan trọng trong quá trình quản
lý thuế, theo đó, các bộ phận được phân công thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nhận tờ khai thuế, phát hiện các lỗi kê khai và hướng dẫn đối tượngnộp thuế sửa lỗi kịp thời, xác định nghĩa vụ theo kê khai của người nộp thuế
- Theo dõi tình hình thực hiện kê khai của người nộp thuế và cung cấpthông tin này cho các khâu quản lý tiếp theo có biện pháp xử lý phù hợp như:hướng dẫn người nộp thuế để tránh các lỗi đã mắc trong kê khai nếu việc mắclỗi là do chưa hiểu rõ, xem xét sửa đổi mẫu tờ khai thuế nếu tờ khai chưa phù
Trang 26hợp hoặc đó là một dấu hiệu để xem xét, lựa chọn các trường hợp thanh tra,kiểm tra
- Nhận chứng từ nộp thuế, hạch toán số thuế đã nộp của đối tượng nộpthuế, theo dõi thanh toán thuế, đảm bảo đúng nợ thuế của đối tượng nộp thuếtheo từng khoản thuế phải nộp để khâu cưỡng chế thu nợ thuế thực hiện đônđốc và cưỡng chế người nộp thuế vào ngân sách Nhà nước
Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế
Miễn thuế, giảm thuế: là việc NNT được cơ quan thuế miễn hoặc giảm
một phần thuế phải nộp vào NSNN khi đáp ứng đủ yêu cầu theo quy định củapháp luật về QLT Cơ quan thuế trực tiếp kiểm tra hồ sơ và quyết định miễn,giảm thuế đối với các trường hợp khi có đủ các điều kiện theo quy định củapháp luật QLT như: miễn hoặc giảm thuế thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặcbiệt, thuế sử dụng đất nông nghiệp cho NNT gặp khó khăn do thiên tai, dịchhọa, tai nạn bất ngờ, bị thua lỗ hoặc không có khả năng nộp thuế NNT phảilàm hồ sơ gửi lên cơ quan thuế đề nghị miễn, giảm thuế theo quy định củapháp luật
Theo quy định tại Điều 64 luật QLT, thời hạn giải quyết hồ sơ miễn, giảmthuế là 30 ngày kể từ ngày cơ quan thuế nhận đủ sồ sơ xin miễn, giảm Cơquan thuế ra quyết định miễn thuế, giảm thuế theo mẫu số 03/MGTH hoặcthông báo cho NNT lý do không thuộc diện miễn, giảm thuế theo mẫu quyđịnh Trường hợp cần kiểm tra thực tế để có đủ căn cứ giải quyết hồ sơ thì thờihạn ra quyết định miễn thuế, giảm thuế là 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ
Hoàn thuế: là việc cơ quan QLT hoàn lại số thuế mà NNT vào NSNN khi
đáp ứng đủ các yêu cầu mà pháp luật QLT quy định, VD như các tổ chức, cánhân thuộc diện được hoàn thuế GTGT theo quy định của luật thuế GTGT; tổchức, cá nhân thuộc diện hoàn thuế xuất nhập khẩu theo quy định của luật
Trang 27thuế xuất nhập khẩu; tổ chức, cá nhân nộp các loại thuế khác có số tiền thuế
đã nộp vào NSNN lớn hơn số tiền thuế phải nộp
Hồ sơ hoàn thuế bao gồm: Văn bản yêu cầu hoàn thuế; chứng từ nộp thuế;các tài liệu khác có liên quan đến yêu cầu hoàn thuế Với mỗi loại thuế, phápluật đều có những quy định hướng dẫn cụ thể về hồ sơ hoàn thuế Hồ sơ hoànthuế được nộp tại cơ quan QLT trực tiếp hoặc tại cơ quan Hải quan có thẩmquyền hoàn thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế
Kiểm tra, thanh tra có liên quan đến mọi cấp quản lý, nhằm đo lường vàđiều chỉnh hoạt động các bộ phận cấp dưới căn cứ vào mục tiêu và kế hoạch
đã định Mục đích của kiểm tra nhằm đảm bảo kế hoạch thành công, nhờ pháthiện kịp thời những sai sót, tìm nguyên nhân và biện pháp sửa chữa kịp thờisai sót đó Vì vậy cần tiến hành thường xuyên, linh hoạt nhiều hình thức kiểmtra Kiểm tra là việc làm bình thường, không được cản trở đối tượng thực hiệnmục tiêu [26]
Kiểm tra, thanh tra là một nội dung quan trọng quản lý thuế Lịch sử pháttriển của công tác quản lý của các nước trên thế giới đã chứng minh chứcnăng thanh tra thuế là tất yếu và là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của cơquan thuế để đảm bảo chính sách thuế được thi hành nghiêm túc Pháp luậtquản lý thuế hiện nay cùng các văn bản hướng dẫn quy định khá cụ thể vềnội dung thanh tra, kiểm tra thuế, trong đó:
- Đối tượng của kiểm tra, thanh tra thuế là các tổ chức và cá nhân cónghĩa vụ thuế cho Nhà nước, Kiểm tra, thanh tra thuế nói chung và kiểm tra,thanh tra thuế đối với đối tượng nộp thuế nói riêng đều nhằm hướng vào cácmục tiêu chủ yếu đã vạch ra từ trước [28, tr.38]
- Mục đích của hoạt động trên là phát hiện để từ đó có biện pháp xử lýkịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế như khai man, trốn thuế, nợ
Trang 28đọng thuế, nhằm hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng thất thu thuế cho Nhànước và đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế trong việc thực hiệnnghĩa vụ thuế; làm cho người nộp thuế tin rằng mọi vi phạm về thuế, đặc biệt
là các trường hợp trốn thuế sẽ bị cơ quan thuế phát hiện và xử phạt Từ đónâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế Bên cạnh
đó, thanh tra, kiểm tra còn là một trong những phương pháp để phát hiệnnhững nội dung không phù hợp trong các văn bản pháp quy về thuế, nhữngđiểm bất hợp lý trong quy trình quản lý thuế, cơ cấu tổ chức, từ đó kiến nghịcác cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung kịp thời để không ngừng hoàn thiệnchính sách thuế và quản lý thuế
- Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế đối với người nộp thuế: kiểm tra,thanh tra việc chấp hành những quy định về đăng ký, kê khai và nộp thuế,việc chấp hành chế độ sổ sách kế toán và hóa đơn, chứng từ của đối tượngnộp thuế
- Về hình thức thanh tra: nếu xét theo thời gian có thanh tra đột xuất vàthanh tra theo kế hoạch Trong đó:
Thanh tra theo kế hoạch chỉ áp dụng đối với DN có ngành nghề kinhdoanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm khôngquá một lần Việc thanh tra thuế được thực hiện căn cứ vào kế hoạch thanh trahàng năm Việc lập kế hoạch thanh tra phải dựa trên cơ sở phân tích thông tin
về người nộp thuế, từ đó phát hiện, lập danh sách người nộp thuế có dấu hiệubất thường trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế để lựa chọn đối tượng lập kếhoạch thanh tra Kế hoạch thanh tra của cơ quan thuế cấp dưới phải được gửiđến cơ quan thuế cấp trên Trường hợp có sự trùng lặp về đối tượng thanh trathì cơ quan thuế cấp trên sẽ thực hiện kế hoạch thanh tra với đối tượng thanhtra đó Trường hợp cơ quan thanh tra nhà nước có kế hoạch thanh tra về thuế
Trang 29trùng với kế hoạch thanh tra của cơ quan thuế thì ưu tiên kế hoạch thanh trathuế của cơ quan thanh tra nhà nước.
Thanh tra không theo kế hoạch được áp dụng cho các đối tượng sau:
+ Người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế Trong trường hợpnày cơ quan thuế chỉ được tiến hành thanh tra khi có căn cứ xác định ngườinộp thuế khai thiếu nghĩa vụ thuế, trốn thuế, gian lận thuế nhưng chưa đếnmức truy cứu trách nhiệm hình sự Cơ quan Hải quan thực hiện thanh tra thuếtrong trường hợp phát hiện người nộp thuế có một trong những dấu hiệu viphạm pháp luật về thuế như: Người nộp thuế có hành vi vi phạm pháp luật vềthuế nhưng đã vi phạm nhiều lần, vi phạm tại nhiều địa bàn khác nhau, liênquan đến nhiều tổ chức, cá nhân hoặc có dấu hiệu trốn thuế; Hoặc trong khikiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế, người nộp thuế có dấu hiệu tẩu tántài liệu, tang vật liên quan nhằm trốn thuế, gian lận thuế; Hoặc sau khi tiếnhành kiểm tra thuế hoặc sau khi gia hạn thời gian kiểm tra thuế, cơ quan hảiquan có căn cứ về việc người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm mới, hoặc vụ việckiểm tra có tính chất phức tạp, nghiêm trọng
+ Thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của Thủtrưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Luật QLT và các văn hướng dẫn thi hành có quy định chi tiết về thẩmquyền ra quyết định thanh tra thuế; các nội dung cần có trong quyết địnhthanh tra; thời hạn thanh tra thuế; nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyếtđịnh thanh tra thuế của trưởng đoàn thanh tra thuế, thành viên đoàn thanh trathuế; nghĩa vụ và quyền của đối tượng thanh tra thuế và kết luận thanh trathuế Đặc biệt, Luật Quản lý thuế quy định rõ các biện pháp áp dụng trongthanh tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế, cụ thể:Khi người nộp thuế có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế liên quan đến tổ chức,
cá nhân khác hoặc khi dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế có tính chất phức tạp
Trang 30Các biện pháp áp dụng bao gồm: Thu thập thông tin liên quan đến hành vitrốn thuế, gian lận thuế; tạm giữ tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốnthuế, gian lận thuế; khám nơi cất giấu tài liệu, tang vật liên quan đến hành vitrốn thuế, gian lận thuế.
Cưỡng chế thu nợ thuế
Mục tiêu của công tác cưỡng chế thu nợ thuế là kịp thời phát hiện và xử
lý các đối tượng nộp thuế cố ý chây ỳ, nợ thuế, chiếm đoạt tiền thuế và cáckhoản tiền phạt liên quan đến thuế, để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thờicác khoản thu vào ngân sách nhà nước, phù hợp với pháp luật Thuế
Nội dung của công tác cưỡng chế thu nợ thuế bao gồm:
- Giám sát chặt chẽ việc thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế của đốitượng nộp thuế, có biện pháp kịp thời để đôn đốc, xử phạt việc kê khai, chậmnộp thuế của doanh nghiệp theo quy định của luật thuế
- Theo dõi được số thuế nợ của đối tượng nộp thuế theo từng loại thuế,mức nợ, tuổi nợ, nguyên nhân của từng khoản nợ thuế và kết hợp với việcphân tích thông tin về tình hình sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính củađối tượng nộp thuế để xây dựng kế hoạch và có biện pháp tổ chức thu nợ phùhợp
Điều 92 luật QLT quy định về các trường hợp bị cưỡng chế thi hànhquyết định hành chính thuế bao gồm: Người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền phạttrong trường hợp quá thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ thuế, tiềnphạt; hết thời hạn gia hạn tiền nộp thuế; có hành vi phát tán tài sản hoặc bỏtrốn
Trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết địnhhành chính thuế thuộc về thủ trưởng cơ quan quản lý thuế ban hành quyếtđịnh hành chính thuế, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đối tượngthuộc diện cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có trách nhiệm chỉ
Trang 31chế thi hành quyết định hành chính thuế Các biện pháp cưỡng chế thi hànhquyết định hành chính thuế được quy định cụ thể tại điều 93 luật QLT.
Tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế
Cơ quan thuế thực hiện tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế cho doanhnghiệp và mọi tầng lớp dân cư trong xã hội để các cấp, các ngành và mọingười dân đều hiểu biết về thuế, thực hiện luật thuế và lên án những hành vi
vi phạm pháp luật thuế, hỗ trợ các cơ quan thuế trong quản lý thu thuế
Cơ quan thuế nắm bắt nhu cầu và tổ chức các hoạt động tuyên truyền, hỗtrợ người nộp thuế sát với yêu cầu, đặc điểm của nhóm đối tượng nộp thuếvới những nội dung, hình thức phù hợp, đảm bảo đáp ứng yêu cầu của ngườinộp thuế nhanh nhất và đầy đủ nhất, nhằm hỗ trợ tối đa để người nộp thuếhiểu biết pháp luật thuế và kê khai nộp thuế đúng quy định của Pháp luật
1.2.2.2 Các hình thức quản lý thu thuế
Cơ quan thuế tính thuế
- Là hình thức quản lý thu trong đó các đối tượng nộp thuế phải kê khaithuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuế Cơ quan thuế nhận tờ khai, kiểm tra tờkhai và tính thuế, thông báo số thuế phải nộp gửi đối tượng nộp thuế Trongkhoảng thời hạn theo thông báo, đối tượng nộp thuế phải có trách nhiệm nộpđầy đủ số thuế theo thông báo vào KBNN Theo cơ chế này, tất cả các đốitượng nộp thuế đều được cơ quan kiểm tra, tính thuế do đó đảm bảo việc tínhtoán chính xác số thuế phải nộp trên cơ sở tờ khai của các đối tượng, phù hợpvới một nền kinh tế trong đó ý thức và trình độ hiểu biết về pháp luật nóichung và luật thuế của đối tượng nộp thuế chưa cao Tuy nhiên, khối lượngcông việc mà cơ quan quản lý thuế đảm nhiệm sẽ rất nhiều, đặc biệt khi sốlượng đối tượng nộp thuế tăng lên nhanh chóng sẽ gây áp lực lên cơ quanquản lý thuế đồng thời trong một số trường hợp, cách quản lý này gây lãngphí nguồn nhân lực; hơn nữa cơ chế này không tạo điều kiện và khuyến khích
Trang 32các đối tượng nộp thuế tân thủ tốt nghĩa vụ thuế (vì 100% đối tượng nộp thuếđều được kiểm soát như nhau) Mặt khác, với cơ chế này cách thức quản lýthuế mang nặng tính áp đặt, sử dụng quyền lực nhà nước là chủ yếu để quản
lý thuế đối với người nộp thuế và tiến độ thu thuế thường chậm Việc xácđịnh số thuế phải nộp trở thành trách nhiệm pháp lý của cơ quan quản lý thuế,không khuyến khích người nộp thuế tự giác tuân thủ pháp luật Hiện nay cùngvới sự phát triển kinh tế, số lượng của người nộp thuế gia tăng nhanh chóng,
để QLT có hiệu quả đòi hỏi nguồn nhân lực của cơ quan QLT phải gia tăngtương ứng, chi phí quản lý thuế cũng tăng cao
Trên thế giới hầu hết các nước phát triển đã trải qua cơ chế quản lý này.Tuy nhiên, đến nay các nước phát triển đã chuyển sang cơ chế đối tượng nộpthuế tự kê khai, tự nộp thuế
Đối tượng nộp thuế tự kê khai- tự nộp thuế
Đối tượng nộp thuế tự kê khai- tự nộp thuế hay còn gọi là tự khai- tựnộp là cơ chế quản lý thuế trong đó các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanhcăn cứ nghĩa vụ thuế được quy định tại luật thuế, tự kê khai thuế và tự nộpthuế đầy đủ, đúng hạn vào NSNN Theo cơ chế này cơ quan thuế không canthiệp vào quá trình kê khai , nộp thuế của tổ chức, cá nhân kinh doanh mà chỉtăng cường tuyên truyền và cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho đối tượng nộp thuế,đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trên cơ sở kỹ thuật thanhtra, kiểm tra theo rủi ro (tức là thanh tra, kiểm tra các đối tượng có nguy cơtrốn lậu thuế thông qua việc phân tích các thông tin) nhằm tạo kiện cho đốitượng nộp thuế hiểu và thực hiện đúng nghĩa vụ thuế của mình, đồng thời tiếnhành công tác thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế thuế có hiệu quả hơn đối vớicác đối tượng nộp thuế có khả năng rủi ro cao (khả năng trốn lậu thuế lớn)
Cơ chế tự khai, tự nộp là cơ chế quản lý thuế hiện đại, hiệu quả, được hầuhết các nước trên thế giới áp dụng, nó cho phép các cơ quan thuế phân bổ
Trang 33nguồn lực theo hướng chuyên môn hóa, chuyên sâu trong quản lý cải tiến cácquy trình quản lý rõ ràng làm tăng sự minh bạch trong quản lý thuế, đồng thờigiảm bớt chi phí quản lý, thúc đẩy cải cách hành chính thuế.
- Ưu điểm của cơ chế tự khai- tự nộp:
+ Nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế: mục đích của cơ chế này lànhằm nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của đối tượng nộp thuế trên cơ sở tăngcường tuyên truyền hỗ trợ đối tượng nộp thuế và đẩy mạnh thanh tra, kiểmtra, do đó tỷ lệ đối tượng nộp thuế tuân thủ tự nguyện thực hiện các quy địnhpháp luật về thuế ngày càng cao, có nghĩa là số thu ngày càng lớn, thất thungày càng giảm Hiệu quả quản lý còn được thể hiện ở chỗ: khi đối tượng nộpthuế tăng lên nhanh chóng, sẽ không gây áp lực cho cơ quan QLT do cơ quanthuế không phải kiểm tra và tính thuế đối với tất cả các tờ khai như cơ chế cơquan thuế tính thuế mà trách nhiệm kê khai tính thuế là của đối tượng nộpthuế Cơ quan thuế chỉ tập trung tăng cường công tác tuyên truyền hỗ trợ đốitượng nộp thuế và kiểm tra, thanh tra các đối tượng nộp thuế có dấu hiệu nghingờ, gian lận thuế, vì vậy có điều kiện phân bổ nguồn lực có hiệu quả hơn,tiết kiệm được chi phí quản lý chi phí giấy, mực, in ấn, cước phí bưu điện…nhờ việc hàng tháng không phải gửi thông báo Mặt khác, theo cơ chế này,đối tượng nộp thuế phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của sốliệu kê khai và cả tính chính xác của việc tính toán số thuế phải nộp hay nóicách khác, đối tượng nộp thuế được nâng cao trách nhiệm pháp lý trong việc
kê khai thuế với Nhà nước
- Một số hạn chế
+ Nguy cơ trốn lậu, thất thoát thuế lớn nếu trình độ dân trí thấp và không
có biện pháp quản lý phù hợp như công tác thanh tra, kiểm tra không kịp thời,việc phổ biến pháp luật kém hiệu quả… Trong trường hợp do hiểu biết cácluật thuế của đối tượng nộp thuế kém và công tác hướng dẫn của cơ quan
Trang 34Thuế không hiệu quả thì có thể có tình trạng kê khai sai số thuế phải nộp mộtcách vô ý Với trình độ dân trí của nước ta còn thấp ,ý thức tự giác và tuân thủpháp luật của người dân chưa cao thì nguy cơ thất thoát thuế là rất lớn [33]+ Đòi hỏi cao về cơ sở vật chất và trình độ quản lý của Nhà nước
Để áp dụng cơ chế mới một cách hiệu quả, đòi hỏi cơ sở vật chất củangành Thuế phải được hiện đại hóa, đặc biệt là hệ thống cơ sở vật chất phục
vụ cho công tác thông tin, hỗ trợ cho việc kiểm tra, đối chiếu số liệu có thểđược thực hiện nhanh chóng và chính xác Nghĩa là, cần có sự đầu tư ban đầurất lớn, trong khi ngân sách nhà nước còn hạn hẹp Mặt khác, trình độ quản lýcủa các cơ quan hành pháp hiện nay chưa cao, nếu không có sự chuẩn bị kỹcàng có thể xảy ra tình trạng thả nổi, buông lỏng công tác quản lý thuế [29]
1.2.2.3 Các phương thức kê khai nộp thuế
Các phương thức kê khai nói chung hiện nay bao gồm có: Kê khai thuếtrên giấy và kê khai thuế thông qua các phương tiện điện tử, chủ yếu là quamạng Internet, sau đây gọi là kê khai thuế qua mạng
Kê khai thuế trên giấy: Là phương thức kê khai trong đó đối tượng nộpthuế kê khai vào các mẫu tờ khai bằng giấy (viết tay hoặc sử dụng máy tính)
và gửi đến cơ quan thuế trực tiếp hoặc qua đường bưu điện Với phương thức
kê khai này, cơ quan Thuế phải nhập toàn bộ dữ liệu trên tờ khai vào máy tính
để lập sổ thuế và theo dõi thu nộp Do đó, vào kỳ kê khai thuế, lượng tờ khaiphải nhập rất lớn đòi hỏi cơ quan Thuế phải làm thêm giờ, tăng nhân lực và
dễ có sai sót Tuy nhiên, đây là phương thức truyền thống mà nhiều nước đã
và đang áp dụng
Kê khai thuế qua mạng Internet
Kê khai thuế qua mạng Internet là quá trình truyền tờ khai thuế hoặc thôngtin liên quan tới cơ quan quản lý thuế thông qua mạng Internet Việc kê khai
Trang 35này đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và trong nhiều lĩnh vực khácnhau như: Kê khai thuế, kê khai hải quan, kê khai xuất nhập cảnh, đăng kýkinh doanh…
Ở Việt Nam, kê khai qua mạng đầu tiên được áp dụng thí điểm trên một sốlĩnh vực và địa phương như: Bắt đầu thí điểm kê khai Hải Quan ở một số cụcHải quan từ thàng 9/2004, học tập theo mô hình của Trung Quốc: thay việcmang nộp hồ sơ đến khai báo ở cở quan Hải quan, doanh nghiệp chỉ cần khaibáo các số liệu tờ khai theo mẫu rồi truyền dữ liệu qua mạng đến cơ quan Hảiquan Tiếp theo, doanh nghiệp phải trình bộ tờ khai giấy tại cơ quan Hải quan
để đối chiếu và tiếp nhận làm thủ tục Quy trình khai báo hải quan điện tử cókhả năng rút ngắn thời gian làm thủ tục Hải quan còn 15 phút so với thời gian
từ 3-4 ngày trước đây
Những ưu điểm của kê khai thuế qua mạng Internet
- Đối với cơ quan thuế: thực hiện kê khai thuế qua mạng Internet, cơ quanthuế không còn phải nhập dữ liệu bằng tay, khắc phục được sự nhầm lẫn, saisót; thông tin được nhận nhanh hơn, đáp ứng tốt hơn cho công tác quản lý; tiếtkiệm được thời gian và nhân lực của khâu nhập dữ liệu để tăng cường bố trícho các khâu quản lý trọng yếu khác hoặc giảm biên chế cơ quan Thuế
- Đối với đối tượng nộp thuế: thực hiện kê khai qua mạng Internet, đốitượng nộp thuế chỉ cần từ văn phòng truyền dữ liệu lên mạng Internet gửi tới
cơ quan thuế Cơ quan thuế cũng thông qua mạng Internet để tiếp nhận vàthông cho đối tượng nộp thuế biết nhanh chóng và thuận tiện Do đó, đốitượng nộp thuế cũng tiết kiệm được cả thời gian và vật chất
- Điều kiện để được thực hiện kê khai thuế qua mạng Internet: trước hếtphải có quy định hợp pháp hóa các giao dịch điện tử dưới hình thức văn bảnquy phạm pháp luật, có hệ thống công nghệ thông tin tương đối phát triển,
Trang 36trong đó cơ sở vật chất và hệ thống tin học của cơ quan thuế cũng như của đốitượng nộp thuế đạt đến một trình độ nhất định
Vì vậy, hiện nay chỉ có các nước phát triển và một số nước đang pháttriển có nền công nghệ thông tin ở mức tương đối cao đã áp dụng phươngthức kê khai thuế qua mạng Internet Đặc biệt phương thức này mới phát triểnmạnh trong những năm gần đây và trở thành xu hướng tất yếu của kê khaithuế trong quản lý thuế hiện đại Việt Nam là một trong những nước đã bướcđầu triển khai hình thức kê khai thuế qua mạng Internet Đó là một trongnhững nội dung nằm trong chiến lược cải cách, hiện đại hóa ngành thuế đếnnăm 2020, nhằm tạo thuận lợi cho người nộp thuế (NNT) trong việc thực hiệnnghĩa vụ kê khai thuế, góp phần tích cực vào công cuộc cải cách thủ tục hànhchính nói chung và thủ tục thuế nói riêng Năm 2009, Tổng cục thuế đã triểnkhai thí điểm dịch vụ khai thuế qua mạng tại 4 địa bàn : Tp Hồ Chí Minh, HàNội, Đà Nẵng và Bà Rịa – Vũng Tàu Đến thời điểm hiện nay, hình thức kêkhai thuế qua mạng đã được áp dụng rộng rãi trên các Tỉnh, Thành và mụctiêu đến năm 2015 sẽ thực hiện triển khai trên toàn bộ các Tỉnh, Thành phốtrên cả nước
1.2.3 Biện pháp chống thất thu thuế
Trước năm 2006, trình độ quản lý thuế ở Việt Nam được đánh giá làcòn lạc hậu khá xa so với trình độ quản lý thuế ở những nước tiên tiến trongkhu vực Nhận thức được vấn đề đó, Đảng, Nhà nước ta đã định ra chiến lược
cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010 là: “Hiện đại hoá toàn diện c ng tác quản lý thuế để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, kiểm soát cho được tất cả các đối tượng nộp thuế, chịu thuế, hạn chế thất thu thuế ở mức thấp nhất, bảo đảm thu đúng, đủ, kịp thời các khoản thu cho NSNN.” [31].
Ngày 29/11/2006 Quốc hội ban hành Luật Quản lý thuế để thống nhấtcác quy định về quản lý thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chủ động
Trang 37trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ thuế của mình theo đúng quy địnhcủa pháp luật đồng thời tích cực triển khai các biện pháp chống thất thu thuế.Pháp luật quản lý thuế hiện hành không dành ra các chương hoặc các điềukhoản về các biện pháp chống thất thu thuế, tuy nhiên, việc đưa ra những quytrình quản lý thuế, chính sách hỗ trợ người nộp thuế, thông qua việc mở rộng
và nâng cao các khâu của quá trình nộp thuế giúp người nộp thuế dễ dàngthực hiện được các thủ tục hành chình trong thuế, quy định về sự phối hợpgiữa cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đoàn thể trong quátrình thực hiện quyền thu cũng như đưa ra các quy trình về thanh tra, kiểm trathuế … đã góp phần đáng kể vào quá trình chống thất thu NSNN
Luật QLT hiện nay đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng chủthể trong hoạt động thu- nộp thuế tại từng chương, bao gồm nghĩa vụ củangười nộp thuế, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thuế, các cán bộ thuế cũngnhư trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan trong hoạt động thuthuế Theo đó, người nộp thuế có trách nhiệm thực hiện theo đúng các quyđịnh của pháp luật về đăng ký, kê khai, nộp thuế và kế toán thuế…, đảm bảotính “trung thực, đầy đủ”; các cán bộ thuế và cơ quan thuế có trách nhiệmhướng dẫn cho các đối tượng nộp thuế về các trình tự liên quan đến hoạt độngnộp thuế của đối tượng nộp thuế, kiểm tra, giám sát tính trung thực của cácđối tượng nộp thuế, áp dụng các biện pháp cần thiết để xử lý những hành vi viphạm pháp luật, từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các đối tượng,hạn chế được tình trạng thất thu, nợ đọng thuế của các chủ thể
Một trong những biện pháp được luật quản lý thuế chú trọng nhằmchống thất thu NSNN, đó là việc đưa ra các quy định về hình thức kiểm tra,thanh tra tại điều 75 đến điều 87- chương X của Luật Ngay từ khi xây dựng
Luật QLT, nội dung “Kiểm tra, thanh tra thuế” đã đặt ra yêu cầu là: “Phải làm thế nào để việc kiểm tra, thanh tra thuế trở thành một c ng cụ hữu hiệu
Trang 38hạn chế thất thu cho NSNN, nhưng cũng kh ng bị lợi dụng để gây khó khăn, cản trở hoạt động bình thường của người nộp thuế” [34, tr.219] Để giải quyết yêu cầu này, pháp luật quản lý thuế phải quy định rõ: “Các trường hợp tiến hành kiểm tra, thanh tra; thủ tục kiểm tra,thanh tra phải chi tiết; căn cứ
để ra kết luận kiểm tra, thanh tra phải khách quan; thẩm quyền của đoàn kiểm tra, thanh tra phải đủ mạnh” Trên cơ sở đó, Pháp luật quản lý thuế đã
đưa ra những nguyên tắc của thanh tra, kiểm tra nhằm định hướng cho đổimới và nâng cao công tác kiểm tra, thanh tra thuế; quy định về trình tự cũngnhư nội dung kiểm tra, thanh tra thuế tại địa chỉ của người nộp thuế và tạitrụ sở cơ quan thuế… Trên cở sở các quy định của luật, một số văn bản dướiluật được ban hành với mục đích hướng dẫn cụ thể các chủ thể tham gia vàoquá trình kiểm tra, thanh tra thuế như Q u y ế t đ ị n h 5 2 8 / QĐ - T C T n ăm 2 00 8 qu ytr
ì n h k i ể m t r a t h u ế , Q u y ế t địn h 4 6 0 / Q Đ - T C T n ăm 200 9 về q u y t r ìn h t h a n h t r athu
ế …Chính sự đổi mới và tiến bộ trong công tác thanh tra, kiểm tra đã manglại những dấu hiệu tích cực Trong 4 năm qua, cơ quan thuế đã thanh tra, kiểmtra tại trụ sở người nộp thuế bình quân 29.583 doanh nghiệp/năm; pháthiện truy thu bình quân 3.513 tỷ đồng/năm, phạt bình quân 530 tỷ đồng/năm[35, tr.2] Đó là một kết quả cho thấy sự tiến bộ vượt bậc trong công tácchống thất thu thuế của cơ quan thuế so với thời gian trước năm 2006
Từ các quy định của Pháp luật, các cơ quan thuế đã triển khai nhiềubiện pháp nhằm phát huy hiệu quả các các quy định trên thực tế, phù hợp vớiđiều kiện, hoàn cảnh trong từng giai đoạn, cụ thể như:
- Tổ chức, đánh giá tổng kết công tác chống thất thu, nợ đọng thuế đểxác định thất thu thuế, nợ đọng thuế nằm ở khu vực nào, lĩnh vực kinh doanhnào, đối tượng nộp thuế nào để lập danh sách các doanh nghiệp cần thanh tra,kiểm tra, tập trung thu nợ thuế Tập trung vào sáu lĩnh vực chủ yếu: kiểm tra,thanh tra chống chuyển giá; hoàn thuế, khấu trừ thuế GTGT; thu thuế với lĩnh
Trang 39vực bất động sản, thuế thuê và sử dụng đất; chống thất thu đối với kinh doanhthương mại, dịch vụ du lịch, khai thác mỏ; chống thất thu thuế với loại hìnhkinh doanh mới phát sinh như thương mại điện tử, kinh doanh qua mạng,
- Triển khai đồng bộ các biện pháp thu hồi nợ đọng thuế, đôn đốc,cưỡng chế nợ thuế theo đúng thủ tục, trình tự quy định của pháp luật đảm bảotổng số tiền nợ thuế; thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế theo đúng kế hoạch đãđược phê duyệt; đẩy manh việc ứng dụng và phát triển kỹ thuật quản lý rủi rotrong công tác thanh tra, kiểm tra, phân loại người nợ thuế, các khoản nợthuế, ; tổ chức xử lý miễn, giảm, hoàn thuế kịp thời, đuún quy định của phápluật, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế; Tiếp nhận và phản hồi đầy
đủ, kịp thời các khiếu nại, kiến nghị của người nộp thuế đối với các kết luậnthanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế theo đúng quy định của pháp luật, đúngchức trách nhiệm vụ được giao
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hỗ trợ cho người nộp thuế như tổchức hội nghị đối thoại với người nộp thuế, phối hợp cung cấp thông tin vớicác cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên tuyền, phổ biến chính sáchthuế, tổng hợp đẩy đủ các thông tin liên quan đến công tác thuế trên cácphương tiện thông tin đại chúng và coi đây là các ý kiến phản hồi khách quan
về cơ chế, chính sách, quy trình quản lý thuế: đối với những vấn đề mà dưluận phản ánh đúng thì tiếp thu và giải quyết kịp thời; đối với những vấn đềphản ánh chưa đúng thì phải giải thích, tuyên truyền cho đúng đường lốichính sách pháp luật,
- Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ban, ngành, chính quyền địa phươngcác cấp, các cơ quan thông tin đại chúng trong việc quản lý người nộp thuế,công tác chống trốn thuế, gian lận thuế, thanh tra đối với hoạt động chuyểngiá, xử lý nợ đọng thuế như: phối hợp với Kho bạc nhà nước để tăng cườngquản lý thuế nhà thầu đối với hoạt động xây dưng cơ bản, thực hiện thi côngcác công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước đa được bố trí trong dự
Trang 40toán chi ngân sách nhà nước; phối hợp với Ngân hàng nhà nước, ngân hàngthương mại trong việc quản lý thanh toán không dùng tiền mặt, đấu tranh đốivới các hành vi vi phạm trong việc lập doanh nghiệp “ma”, mở tài khoản giaodịch chuyển tiền qua ngân hàng nhằm “hợp pháp hoá” các thủ tục để khấu trừthuế; phối hợp với cơ quan quản lý đất đai, tài nguyên để quản lý thu đúng,thu đủ, thu kịp thời đối với khoản tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, các khoảnthu phát sinh từ hoạt động khai thác khoáng sản
Việc triển khai tích cực các biện pháp nêu trên cùng với sự lãnh đạocủa Đảng, Nhà nước và tinh thần đoàn kết, đồng lòng của ngành Thuế cảnước bước đầu đã đem lại những hiệu ứng tích cực Theo báo cáo của Tổngcục Thuế năm 2012, công tác thuế năm 2012 đã đạt được kết quả thu NSNNvới tổng thu ước được 607.844 tỷ đồng, bằng 104,5% so dự toán Quốc Hộigiao, tăng 12.4% so với thực hiện năm 2011 Trong đó thu nội địa ước đạt467.737 tỷ đồng, bằng 94.6% so dự toán năm Ngoài ra, có 47/63 địa phươngtỉnh, thành phố ước hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán [36] Tronggiai đoạn tiếp theo, những biện pháp chống thất thu thuế sẽ ngày càng đượctriển khai rộng rãi và triệt để nhằm đạt được ở mức cao nhất những mục tiêucủa Nhà nước đã đặt ra với ngành thuế nói chung và thu ngân sách nói riêng
1.2.4 Bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế
NNT là chủ thể một bên đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ pháp luậtthuế Đây là chủ thể có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết và trực tiếp sáng tạo,quản lý các lợi ích vật chất được hình thành trong xã hội Cũng như các chủthể tham gia vào quan hệ pháp luật khác, để trở thành NNT trong quan hệ phápluật thuế đòi hỏi các tổ chức, cá nhân phải hội đủ năng lực chủ thể - năng lựchành vi Nghĩa là tổ chức, cá nhân có thể là NNT khi họ thực hiện một hoặcmột số hành vi nhất định để thiết lập mối quan hệ với các giá trị vật chất, đánhdấu quyền sở hữu với giá trị mà mình tạo lập để từ đó, nhà nước có cơ sở để