Câu hỏi nghiên cứu Tỉ lệ có kiến thức chung đúng về nuôi dưỡng trẻ nhỏ của phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương năm 2017 là bao nhiêu? Tỉ lệ có nhu cầu tìm hiểu thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ của phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương năm 2017 là bao nhiêu? Có hay không mối liên quan giữa kiến thức về nuôi dưỡng trẻ nhỏ của phụ nữ mang thai với đặc tính của mẫu? Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung Xác định tỉ lệ có kiến thức chung đúng, tỉ lệ có nhu cầu tìm hiểu thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ và các mối liên quan của phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương, năm 2017. Mục tiêu cụ thể Xác định tỉ lệ có kiến thức chung đúng về nuôi dưỡng trẻ nhỏ của phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương năm 2017. Xác định tỉ lệ có nhu cầu tìm hiểu thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ của phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương năm 2017. Xác định mối liên quan giữa kiến thức về nuôi dưỡng trẻ nhỏ của phụ nữ mang thai với đặc tính của mẫu.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ THỊ THU HÀ
KIẾN THỨC VÀ NHU CẦU TÌM HIỂU THÔNG TIN
VỀ NUÔI DƯỠNG TRẺ NHỎ
CỦA PHỤ NỮ MANG THAI
ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG
NĂM 2017
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn: BSCK2 Đỗ Thị Ngọc Diệp
CN Đỗ Thị Hoài Thương
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do chính tôi thực hiện Các số liệu trong khóa luận này là được thu thập, nhập liệu và phân tích một cách trung thực Kết quả của khóa luận chưa từng được được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và mọi sự kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra
Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 5
1.1 Nuôi dưỡng trẻ nhỏ 5
1.1.1 Khái niệm cơ bản về nuôi dưỡng trẻ nhỏ 5
1.1.2 Giai đoạn “cửa sổ cơ hội” 5
1.1.3 Thực hành lý tưởng về nuôi dưỡng trẻ nhỏ 6
1.2 Nuôi con bằng sữa mẹ 6
1.2.1 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ 6
1.2.2 Đặc điểm của sữa mẹ 8
1.2.3 Nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu 10
1.2.4 Nhu cầu của trẻ và sự đáp ứng của sữa mẹ 11
1.3 Ăn bổ sung 12
1.3.1 Tầm quan trọng của ăn bổ sung 12
1.3.2 Chế độ ăn bổ sung 14
1.4 Các chiến lược hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ nhỏ 15
1.5 Một số nghiên cứu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ 16
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Thiết kế nghiên cứu 19
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
2.3 Đối tượng nghiên cứu 19
Trang 42.3.1 Dân số mục tiêu 19
2.3.2 Dân số chọn mẫu 19
2.3.3 Cỡ mẫu 19
2.3.4 Kỹ thuật chọn mẫu 20
2.3.5 Tiêu chí chọn mẫu 20
2.3.6 Kiểm soát sai lệch chọn lựa 20
2.4 Thu thập dữ kiện 21
2.4.1 Phương pháp thu thập dữ kiện 21
2.4.2 Công cụ thu thập dữ kiện 21
2.4.3 Kiểm soát sai lệch thông tin 21
2.5 Xử lý dữ kiện 21
2.5.1 Liệt kê và định nghĩa biến số 21
2.5.2 Phương pháp xử lý dữ kiện 31
2.6 Phân tích dữ kiện 31
2.6.1 Số thống kê mô tả 31
2.6.2 Số thống kê phân tích 32
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 32
2.8 Nghiên cứu thử 32
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 33
3.1 Đặc tính nền của đối tượng nghiên cứu 33
3.2 Kiến thức về nuôi dưỡng trẻ nhỏ của đối tượng 34
3.2.1 Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ 35
3.2.2 Kiến thức về việc cho trẻ ăn bổ sung 39
3.3 Tỉ lệ có kiến thức chung đúng về nuôi dưỡng trẻ nhỏ 41
3.4 Nhu cầu tìm hiểu thông tin của phụ nữ mang thai trong nghiên cứu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ 41
Trang 53.5 Mối liên quan giữa kiến thức về nuôi dưỡng trẻ nhỏ với đặc tính nền của
phụ nữ mang thai 43
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 47
4.1 Đặc tính về dân số - xã hội của mẫu nghiên cứu 47
4.2 Kiến thức về nuôi dưỡng trẻ nhỏ 48
4.3 Nhu cầu tìm hiểu thông tin của đối tượng nghiên cứu 52
4.4 Mối liên quan giữa đặc tính nền với kiến thức về nuôi dưỡng trẻ nhỏ của đối tượng trong nghiên cứu 54
4.5 Điểm hạn chế và điểm mạnh của nghiên cứu 55
4.5.1 Điểm mạnh của nghiên cứu 55
4.5.2 Điểm hạn chế của nghiên cứu 55
4.6 Tính ứng dụng 56
KẾT LUẬN 57
ĐỀ XUẤT – KIẾN NGHỊ 58
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
A & T Alive and Thrive
(Nuôi dưỡng và phát triển)
CDC Center for Disease Control and Prevention
(Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (Hoa Kỳ))
FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations
(Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp quốc)
KTC Khoảng tin cậy
NCBSM Nuôi con bằng sữa mẹ
(Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc)
WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm dân số - xã hội của đối tượng 33 Bảng 3.2 Nguồn thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ mà các đối tượng đã từng nghe 34 Bảng 3.3 Kiến thức của phụ nữ mang thai về việc bú sớm 35 Bảng 3.4 Tỉ lệ phụ nữ mang thai cho rằng nên thêm thức uống ngoài sữa mẹ cho trẻ trước thời kỳ ăn dặm 36 Bảng 3.5 Tỉ lệ phụ nữ mang thai có kiến thức đúng về lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ đối với trẻ và mẹ 36 Bảng 3.6 Kiến thức của đối tượng về cách duy trì nguồn sữa mẹ 37 Bảng 3.7 Kiến thức của phụ nữ mang thai về thời gian bú sữa mẹ hoàn toàn, thời gian cai sữa, lượng sữa liên quan với kích cỡ vú 38 Bảng 3.8 Kiến thức của phụ nữ mang thai trong nghiên cứu về việc cho trẻ ăn bổ sung 39 Bảng 3.9 Kiến thức của phụ nữ mang thai về số bữa ăn theo độ tuổi và tuổi trẻ có thể bắt đầu ăn cơm 40 Bảng 3.10 Tỉ lệ có kiến thức chung đúng của phụ nữ mang thai về nuôi dưỡng trẻ nhỏ 41 Bảng 3.11 Tỉ lệ có nhu cầu tìm hiểu thông tin của phụ nữ mang thai về nuôi dưỡng trẻ nhỏ 42 Bảng 3.12 Nhu cầu về đối tượng cung cấp thông tin, nơi được cung cấp, thời gian
và cách cung cấp thông tin của phụ nữ mang thai trong nghiên cứu 42 Bảng 3.13 Mối liên quan giữa kiến thức về nuôi dưỡng trẻ nhỏ với các đặc tính nền của phụ nữ mang thai 44
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Nuôi dưỡng trẻ nhỏ là một lĩnh vực quan trọng để cải thiện sự sống còn của trẻ và thúc đẩy tăng trưởng và sự phát triển lành mạnh của trẻ Đặc biệt trong hai năm đầu đời là vô cùng quan trọng vì dinh dưỡng tối ưu trong giai đoạn này làm giảm tỉ lệ bệnh tật và tử vong, giảm nguy cơ mắc bệnh mãn tính và thúc đẩy sự phát triển tốt hơn Bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu mang lại nhiều lợi ích cho cả mẹ và bé Đối với trẻ từ 6 đến 23 tháng tuổi, sữa mẹ vẫn là nguồn năng lượng, dinh dưỡng quan trọng Sữa mẹ có thể cung cấp một nửa nhu cầu về năng lượng cho một đứa trẻ trong khoảng từ 6 đến 12 tháng, một phần ba năng lượng khi trẻ từ 12 đến 24 tháng [47] Việc cho con bú sữa mẹ tối ưu là rất quan trọng để có thể cứu sống được hơn 800.000 trẻ em dưới 5 tuổi mỗi năm [24] Khi sữa mẹ không còn đủ để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh thì cần bổ sung thêm thức ăn vào chế độ ăn uống của trẻ, bắt đầu từ 6 tháng tuổi đến 18 hoặc 24 tháng tuổi và đây là giai đoạn mà trẻ rất dễ bị tổn thương [42] Dinh dưỡng đầy đủ trong thời kỳ mang thai và 2 năm đầu đời có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành não bộ của trẻ, đặt nền móng cho sự phát triển khả năng nhận thức, vận động và cảm xúc trong suốt thời thơ ấu cho tới khi trưởng thành [11] Nước ta, Bộ Y tế đã đưa ra khái niệm nuôi dưỡng trẻ nhỏ là cách chăm sóc dinh dưỡng trẻ từ 0 – 24 tháng tuổi [5]
Trên thế giới tỉ lệ trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn chỉ chiếm 36% số trẻ từ 0 – 6 tháng tuổi trong giai đoạn từ 2009-2014, dù đã có nhiều bằng chứng đã chứng minh lợi ích tối ưu của việc nuôi con bằng sữa mẹ cho sự sống còn, tăng trưởng và phát triển trẻ, làm giảm nguy cơ ung thư vú cho mẹ, lợi ích về kinh tế [47] Bú sữa mẹ dưới mức tối thiểu là một trong những nguyên nhân gây ra 45% tử vong ở trẻ em Bên cạnh đó, tình trạng dinh dưỡng trong 2 năm đầu đời là một yếu tố quan trọng quyết định đến SDD thấp còi cũng như béo phì ở trẻ và các bệnh không lây khi trưởng thành Tỉ lệ SDD thể thấp còi đang giảm dần trên toàn cầu, nhưng vẫn ảnh hưởng tới ít nhất 165 triệu trẻ dưới 5 tuổi vào năm 2011 [23] Vào năm 2015, nước ta có tỉ lệ SDD thấp còi
ở trẻ em dưới 5 tuổi là 24,6%, thể nhẹ cân là 14,1% [17]
Mỗi năm, nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đến 6 tháng tuổi phòng ngừa tử vong cho 1,3 triệu trẻ và việc triển khai thực hành nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu và ăn bổ
Trang 9sung hợp lý cứu sống được cho 1,5 triệu trẻ dưới 5 tuổi [14] Nhiều nghiên cứu đã chỉ
ra rằng cho trẻ ăn các thực phẩm bổ sung thích hợp, đủ lượng và an toàn kể từ 6 tháng trở lên sẽ dẫn tới kết quả tốt hơn về sức khoẻ và tăng trưởng [23] Ở những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, những thực hành cho ăn bổ sung tốt đã được chứng minh là làm giảm tỉ lệ còi cọc một cách rõ rệt và nhanh chóng [30, 34] Theo thống kê của UNICEF năm 2014, Việt Nam có 26,5% trẻ sinh ra được bú mẹ sớm trong 1 giờ đầu, 24,3% trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và được duy trì bú đến 2 tuổi chỉ 21,8% [38] Nhận thức chung của phụ nữ Việt Nam rằng họ không có đủ sữa cho con
bú hoặc thực hành cho bú những chất không phải là sữa mẹ trước khi trẻ được bú sữa
mẹ là những thách thức trong việc nuôi dưỡng trẻ [20]
Mỗi bà mẹ cần được chuẩn bị những kiến thức về sinh con, nuôi con bằng sữa mẹ
và chăm sóc trẻ sơ sinh Để củng cố tầm quan trọng của việc cho bú sớm và nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn cần có những biện pháp hỗ trợ như: thăm khám trước và sau sinh, tư vấn dinh dưỡng và chăm sóc trẻ nhỏ và huy động cộng đồng [3] Sự tư vấn
và hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ là rất cần thiết cho các bà mẹ và gia đình để họ bắt đầu và duy trì các hoạt động nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu [46] Đồng thời, trong Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến 2030 cũng đã đề cập đến mục tiêu huấn luyện cho nữ thanh niên kiến thức cơ bản về làm mẹ và dinh dưỡng [4] Thời kỳ mang thai là thời kỳ thuận lợi cho việc người phụ nữ bắt đầu chuẩn bị cho mình kiến thức đúng và đủ về nuôi dưỡng trẻ Nhằm đánh giá được kiến thức của phụ nữ mang thai cũng như nhu cầu tìm hiểu thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ hướng đến sự nâng cao kiến thức cho phụ nữ mang thai, nghiên cứu đã chọn Bệnh viện Hùng Vương làm địa điểm tiến hành nghiên cứu
Bệnh viện Hùng Vương được Sở Y tế công nhận là bệnh viện chuyên khoa Sản phụ tuyến 4 từ 1978, có quy mô 400 giường phục vụ 18 quận huyện nội ngoại thành,
là một trong những bệnh viện lớn về sản phụ khoa cả nước và khu vực miền Nam Thực hiện các nhiệm vụ, chức năng quan trọng như: khám và điều trị thuộc về Sản phụ khoa, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến – thực hiện y tế dự phòng, đào tạo, huấn luyện liên tục, hợp tác quốc tế [7] Là một bệnh viện công lớn và thu hút bệnh nhân từ nhiều nơi nên việc thực hiện nghiên cứu sẽ mang tính khách quan, đại diện
hơn
Trang 10Câu hỏi nghiên cứu
Tỉ lệ có kiến thức chung đúng về nuôi dưỡng trẻ nhỏ của phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương năm 2017 là bao nhiêu?
Tỉ lệ có nhu cầu tìm hiểu thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ của phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương năm 2017 là bao nhiêu?
Có hay không mối liên quan giữa kiến thức về nuôi dưỡng trẻ nhỏ của phụ nữ mang thai với đặc tính của mẫu?
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Xác định tỉ lệ có kiến thức chung đúng, tỉ lệ có nhu cầu tìm hiểu thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ và các mối liên quan của phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương, năm 2017
Trang 11Dàn ý nghiên cứu
Kiến thức
Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ
Thời gian bú sau khi sinh
Bú sữa mẹ hoàn toàn
Duy trì nguồn sữa mẹ
Thời gian duy trì bú mẹ
Mốc thời gian ăn bổ sung
Các nhóm thực phẩm
Số lượng bữa ăn
Đặc điểm thức ăn bổ sung
Muốn tìm hiểu thông tin về NDTN từ khi mang thai
Nội dung muốn tìm hiểu
Nhu cầu về đối tượng cung cấp thông tin
Nơi muốn được nhận thông tin
Thời gian muốn được cung cấp thông tin
Mong muốn về hình thức cung cấp thông tin
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Nuôi dưỡng trẻ nhỏ
1.1.1 Khái niệm cơ bản về nuôi dưỡng trẻ nhỏ
Nuôi dưỡng trẻ nhỏ là cách chăm sóc dinh dưỡng trẻ từ 0 – 24 tháng tuổi [5] Việc nuôi dưỡng trẻ hợp lý trong 2 năm đầu đời giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, có cân nặng và chiều cao đạt chuẩn, trẻ sẽ khỏe mạnh hơn, ít bị bệnh hơn [5] Trẻ không được chăm sóc dinh dưỡng đầy đủ sẽ có nguy cơ không đạt được tiềm năng phát triển về nhận thức, vận động và cảm xúc xã hội [11]
Tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ nhỏ là một trong những nguyên nhân dẫn đến 3,1 triệu/6,9 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong và 165 triệu trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh
dưỡng thể thấp còi (năm 2011) [24] [31] Trên 2/3 trong số tử vong trẻ dưới 5 tuổi là
trẻ dưới 1 tuổi và thường liên quan đến thực hành nuôi dưỡng trẻ không hợp lý [44] Suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi ảnh hưởng gián tiếp đến khả năng đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ về giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật ở trẻ em dưới 5 tuổi [39]
1.1.2 Giai đoạn “cửa sổ cơ hội”
Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra Chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ (2002), theo đó chứng minh rằng tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của bà mẹ và trẻ sơ sinh
có mối liên hệ mật thiết với nhau Dinh dưỡng không hợp lý trong 1000 ngày đầu tiên
(tính từ khi bà mẹ mang thai, trẻ sinh ra và đến khi trẻ 24 tháng tuổi) là nguyên nhân
chính dẫn đến tình trạng thấp còi, béo phì và các bệnh không lây ở tuổi trưởng thành
Vì vậy, 1000 ngày đầu tiên được gọi là giai đoạn “cửa sổ cơ hội” để dự phòng suy
dinh dưỡng thấp còi, các hậu quả chậm phát triển về thể chất và tinh thần do nuôi dưỡng trẻ không hợp lý [44]
Giai đoạn “Cửa sổ cơ hội” được chia thành 3 thời điểm quan trọng để tiến hành
các can thiệp và thông điệp truyền thông phù hợp Cụ thể là [5]:
Trang 13Ngay từ khi bà mẹ mang
thai (280 ngày)
Khi trẻ 0 - 6 tháng tuổi (180 ngày)
Khi trẻ 6 - 24 tháng tuổi (540 ngày)
Bà mẹ được chăm sóc thai
nghén và dinh dưỡng hợp lý
Trẻ được bú sữa non và
bú sớm ngay sau khi sinh
Cho trẻ ăn bổ sung hợp lý theo từng độ tuổi
Bà mẹ được cung cấp kiến
thức về NCBSM thời điểm
3 tháng cuối thai kỳ để tạo
một khởi đầu tốt cho việc
NCBSM sau này
Trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời
Duy trì cho trẻ bú mẹ đến
24 tháng tuổi hoặc hơn nữa
1.1.3 Thực hành lý tưởng về nuôi dưỡng trẻ nhỏ
Những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến suy dinh dưỡng trẻ em dưới 2 tuổi chủ yếu
là do là do thực hành nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung không hợp lý cùng với các bệnh nhiễm khuẩn [48] Do đó thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ có vai trò hết quan trọng đối với sức khỏe và sự sống còn của trẻ Để thực hành được tốt các bà mẹ trước tiên
là chuẩn bị cho mình kiến thức tốt về NDTN từ đó mới có cơ sở để quyết định lựa chọn nuôi con của mình
Cần quan tâm đến việc kết hợp cả hai vấn đề đó là nuôi con bằng sữa mẹ và thực cho ăn bổ sung
1.2 Nuôi con bằng sữa mẹ
1.2.1 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ
Giúp trẻ tăng trưởng, phát triển hài hòa và phòng chống suy dinh dưỡng
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo, dễ tiêu hóa, hấp thu đối với trẻ Trong sữa
mẹ có đầy đủ và hài hòa về tỉ lệ các thành phần các chất đường, đạm, béo, các vitamin
và chất khoáng cho trẻ hấp thu một cách tối ưu nhất [8]
Bảo vệ trẻ chống nhiễm khuẩn
Sữa mẹ chứa nhiều chất kháng khuẩn như một dịch thể sinh học tự nhiên giúp tăng cường hệ miễn dịch cho trẻ, nhiều yếu tố để bảo vệ cơ thể mà không một thức ăn nào
Trang 14thay thế được, đó là các globulin miễn dịch (chủ yếu là IgA), lysozym, lactoferin, bạch cầu và các yếu tố bifidus với những tác dụng vô cùng tốt đối với sức khỏe của
trẻ [8]
Giúp cải thiện tâm lý cho bà mẹ và trẻ
Bà mẹ nếu thường xuyên tiếp xúc, gần gũi con sẽ giúp tình cảm mẹ và con được gắn bó, bà mẹ thấy tinh thần thoải mái hơn, yên tâm hơn và giảm được sự lo âu, trầm cảm sau sinh Trẻ được gần gũi nhiều với mẹ, được âu yếm sẽ ít khóc hơn, có cảm giác an toàn hơn, phát triển tinh thần và trí tuệ tốt hơn [5]
Giúp giảm nguy cơ băng huyết, thiếu máu sau sinh [5]
Chi phí ít hơn và bảo vệ môi trường [47]
Bú mẹ hoàn toàn loại trừ được sự phụ thuộc vào các sản phẩm thay thế sữa mẹ tốn kém, dụng cụ cho ăn và chuẩn bị nguyên liệu Giúp gia đình tiết kiệm được tiền trong việc điều trị bệnh tật do sản phẩm thay thế sữa mẹ không phù hợp hay bị ô nhiễm Sữa mẹ góp phần bảo vệ môi trường: là một nguồn tài nguyên tự nhiên có thể tái tạo được, không cần nhiên liệu để đóng gói, vận chuyển hay thải bỏ
Góp phần bảo vệ sức khỏe của trẻ trong quá trình trưởng thành
Ở những trẻ em và tuổi thanh thiếu niên ít có khả năng bị thừa cân hoặc béo phì khi được bú sữa mẹ tối ưu [47]
Bên cạnh những lợi ích đã được chứng minh, trẻ được nuôi bằng sản phẩm thay thế sữa mẹ không những không có lợi mà còn gặp phải những bất lợi về thể chất, tinh thần của trẻ, sự phát triển và nguy cơ bệnh tật khi trưởng thành đồng thời không tốt với sức khỏe người mẹ như nguy cơ thiếu máu sau sinh, ung thư vú, buồng trứng, sự
dễ có thai trở lại,… [5]
Trang 151.2.2 Đặc điểm của sữa mẹ
❖ Sự sản xuất sữa
Sữa mẹ được tiết ra từ các tế bào tiết sữa của nang sữa trong tuyến vú Xung quanh nang là các tế bào cơ có chức năng co bóp đẩy sữa ra ngoài thông qua ống dẫn sữa [5]
❖ Cơ chế tạo – tiết sữa
Tạo sữa: Khi trẻ bú, xung động cảm giác từ núm vú truyền lên não làm kích thích
tuyến yên tiết ra prolactin Hormon này vào máu rồi đến tuyến vú, kích thích tế bào tiết sữa sản xuất sữa Phần lớn prolactin tồn tại trong máu 30 phút sau bữa bú giúp vú sản xuất sữa cho bữa bú tiếp theo Prolactin được tạo ra nhiều vào ban đêm, nên cho trẻ bú càng nhiều cả ban ngày và ban đêm vú càng sản xuất ra nhiều sữa Ngoài ra, prolactin còn có tác dụng ức chế sự rụng trứng, giúp bà mẹ chậm có thai lại [5]
Tiết sữa: cùng với prolactin, oxytoxin cũng được tiết ra từ tế bào não khi trẻ bú
Oxytocin vào máu, đến vú có tác dụng co bóp các tế bào cơ xung quanh nang sữa Nang sữa co lại đẩy sữa đã có sẵn bên trong chảy theo các ống dẫn sữa nhỏ tới những
ống dẫn lớn hơn (còn gọi là xoang sữa) nằm ở phần dưới quầng đen của vú Đây là
phản xạ oxytocin còn gọi là phản xạ tống hoặc phun sữa hoặc xuống sữa Oxytocin được sản xuất nhanh hơn prolactin, làm sữa chảy ra ngay khi trẻ bú Oxytocin có thể bắt đầu hoạt động trước khi trẻ bú, khi bà mẹ chuẩn bị cho con bú Nếu phản xạ oxytocin không hoạt động tốt sẽ làm sữa không chảy ra, trẻ khó có thể bú đủ sữa [5]
❖ Bảo vệ và duy trì nguồn sữa mẹ
Mẹ muốn có đủ sữa cho con trước tiên ngay từ thời kỳ mang thai phải có chế độ
ăn uống, nghỉ ngơi, lao động hợp lý, tinh thần thoải mái và có mức tăng cân tốt (10 –
12 kg) để tạo nguồn dự trữ sau sinh Khi cho con bú, người mẹ vẫn cần ăn uống đủ, ngủ đủ giấc Ăn tăng thêm năng lượng hơn bình thường theo khuyến nghị, ăn đa dạng
và đầy đủ các nhóm chất Hạn chế ăn gia vị như ớt, hành, tỏi có thể gây mùi khó chịu cho trẻ, khiến bỏ bú Nên hạn chế dùng thuốc vì một số thuốc có thể qua sữa trẻ có thể bị ngộ độc hay giảm tiết sữa [8]
Trang 16 Mẹ nuôi con bú nên uống nhiều nước, nhất là cháo, nước ép quả, sữa,…thường
là sau khi cho con bú (1 đến 2 lit/ngày) [8]
Sữa mẹ tiết theo cơ chế phản xạ nên cần giữ tinh thần thoải mái, tự tin, tránh căng thẳng, lo âu, mất ngủ Chế độ lao động và nghỉ ngơi sau sinh ảnh hưởng lớn đến bài tiết sữa [8]
Thường xuyên chăm sóc vú, nếu đầu vú tụt vào, hằng ngày phải xoa bóp kéo hai đầu vú ra cho trẻ dễ bú Khi bị nứt núm vú hoặc áp xe, cần thường xuyên vắt sữa bằng tay hoặc dùng bơm hút sữa Nếu núm vú bị nứt nhẹ, nên cho trẻ
bú để kích thích bài tiết sữa Khi bị áp xe vú, trong sữa thường có lẫn mủ vi khuẩn, không nên cho trẻ bú Điểm quan trọng trong việc giúp tạo tiết sữa tốt
là mẹ cần thường xuyên cho bú để tuyến sữa rỗng tạo phản xạ tốt hơn [8]
❖ Khác nhau giữa sữa non và sữa trưởng thành [5]
Sữa non được hình thành từ tuần thứ 14 - 16 của thai kỳ và được tiết ra trong 1 - 3 ngày đầu sau đẻ, có màu vàng nhạt hoặc trong, sánh đặc Sau 3-5 ngày, sữa non chuyển thành sữa trưởng thành [5]
Sữa trưởng thành gồm có: sữa đầu bữa (sữa đầu) có màu trắng hơi xanh, chứa nhiều nước và các chất dinh dưỡng khác; sữa cuối bữa (sữa cuối) có màu trắng sữa,
chứa nhiều chất béo, cung cấp nhiều năng lượng Vì vậy việc cho con bú đến khi cạn sữa của 1 lần cho bú thì mới nhận được đầy đủ chất dinh dưỡng và lượng nước cần thiết [21]
❖ Lợi ích của sữa non:
Giàu kháng thể Giúp phòng chống dị ứng và nhiễm khuẩn
Nhiều tế bào bạch cầu Giúp phòng chống nhiễm khuẩn
Có tác dụng xổ nhẹ Đào thải phân su
Giúp giảm mức độ vàng da của trẻ
Có yếu tố tăng trưởng biểu bì
ruột
Giúp cho ruột trưởng thành Phòng chống dị ứng, không dung nạp thức ăn khác Giàu vitamin A Giúp cải thiện tình trạng nhiễm khuẩn của trẻ
Trang 171.2.3 Nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu
Cho trẻ bú mẹ sớm trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh [47]
Không cho trẻ uống các loại nước uống trước bữa bú đầu tiên như cam thảo, mật ong, nước đường hoặc sữa công thức để tránh ảnh hưởng đến việc tạo sữa sau này của bà mẹ [5]
Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Chỉ cho trẻ bú mẹ mà không cho ăn, uống bất cứ thức ăn, nước uống nào khác kể
cả nước trắng, trừ các trường hợp phải uống bổ sung các vitamin, khoáng chất hoặc thuốc[5]
Sữa mẹ chứa 88% nước nên người mẹ không cần cho trẻ uống thêm nước khi trẻ được bú mẹ hoàn toàn Người mẹ cần cho trẻ bú thường xuyên hơn nếu trẻ có dấu hiệu khát [5]
Cho trẻ bú kéo dài đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn
Từ 6 tháng đến 24 tháng, sữa mẹ vẫn là nguồn quan trọng cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ Tuy nhiên sữa mẹ
sẽ không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng ngày càng tăng lên theo sự phát triển của trẻ, vì vậy cần cho trẻ bú kéo dài đến 24 tháng hoặc lâu hơn cùng với chế
độ ăn bổ sung hợp lý [47]
10 điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ
Sáng kiến toàn cầu do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) đưa ra năm 1991, “10 điều kiện NCBSM” là điểm cốt lõi nhất của
“Sáng kiến Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em (BVBHTE)” Tính đến năm 2015, Việt Nam
có 57 BVBHTE nhưng hiện tại việc duy trì và giám sát NCBSM tại các cơ sở này đang gặp nhiều khó khăn [5]
❖ Việc vắt sữa và bảo quản sữa mẹ
Trong những trường hợp cần thiết như mẹ đi làm muốn để lại sữa cho con, trẻ không bú được ( sinh nhẹ cân, bị bệnh,…), giảm căng tức của vú, duy trì nguồn sữa,…
mẹ có thể được vắt ra bằng tay hay dùng biện pháp hỗ trợ [5] Đây là vấn đề cần thiết
Trang 18mỗi người mẹ đều nên biết để khi gặp những trường hợp như trên hoặc tương tự sẽ biết tìm đến sự giúp đỡ hay tự mình làm, duy trì việc nuôi con bằng sữa mẹ của mình Tùy thuộc vào mục đích sử dụng mà sữa mẹ được bảo quả ở điều kiện thích hợp: ở nhiệt độ thường sữa mẹ có thể giữ được thời gian 4 tiếng, trong ngăn mát tủ lạnh (<4C) là 4 ngày và khi trong ngăn đá (-18 C đến -20 C) có thể giữ được 6 tháng Khi cần làm nóng sữa, không nên đun bằng lửa trực tiếp hay trong lò vi sóng mà chỉ nên làm nóng bằng cách ngâm bình sữa vào trong nước nóng cho ấm lên [5] Người
mẹ cần biết những thông tin này để đáp ứng được trong trường hợp cần thiết, việc nuôi trẻ sẽ thành công hơn
1.2.4 Nhu cầu của trẻ và sự đáp ứng của sữa mẹ
❖ Những ngày đầu sau sinh
Thực tế các bà mẹ lo lắng rằng trẻ sẽ bị đói trong ngày những ngày đầu sau sinh vì
sợ mình không đủ sữa Nhưng dạ dày của trẻ lúc mới sinh rất nhỏ và lượng sữa mẹ hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của trẻ
Dung tích dạ dày trẻ trong những ngày đầu [10]:
vú đúng để kích thích sữa tiết ra nhiều hơn [10]
❖ Với trẻ từ 0 – 6 tháng
Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến nghị trong 6 tháng đầu, sữa mẹ hoàn toàn có thể cung cấp đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cho trẻ mà không cần thêm thức uống hay thực phẩm nào khác kể cả nước trắng [40]
Sữa mẹ không phụ thuộc vào kích cỡ của vú, sự tạo sữa ở mọi bà mẹ là như nhau Sau mỗi lần bú hết sữa, prolactin sẽ tiết ra kích thích tạo sữa mới và oxytoxin kích
Trang 19thích phun sữa khi trẻ bú Ngoài ra tình trạng tâm sinh lý của mẹ cũng ảnh hưởng đến quá sự tiết sữa Mẹ lo lắng (sợ không đủ sữa), tức giận, mệt mỏi, sử dụng nhiều chất kích thích, thuốc lá,… sẽ làm giảm tiết sữa [10]
❖ Những rào cản trong việc nuôi con bằng sữa mẹ
Việc cải thiện nuôi dưỡng trẻ nhỏ tốt hiện nay còn gặp nhiều rào cản không nhỏ,
đó là: Nhận thức chung rằng phụ nữ Việt Nam không có đủ sữa cho trẻ bú sớm và hoàn toàn trong 6 tháng đầu; Thực hành chung cho trẻ sản phẩm thay thế trước khi cho trẻ bú mẹ; Sự tiếp thị và quảng bá sữa bột sẵn cho trẻ sơ sinh, nước và thực phẩm trước 6 tháng tuổi; và thiếu sự hỗ trợ từ gia đình và cơ quan làm việc [20]
Một nghiên cứu khảo sát các phụ nữ mang thai trong 3 tháng cuối thai kỳ tại bệnh viện lớn ở Brisbane, Australia, họ được làm bảng kiểm về sự tự tin cho con bú sữa
mẹ trước sinh 1 tuần và phỏng vấn qua điện thoại ở các thời điểm sau sinh về việc tự nuôi con bằng sữa mẹ Có đến 92% bà mẹ đã bắt đầu cho con bú nhưng sau 4 tháng chỉ có 28,6% duy trì cho con bú sữa mẹ hoàn toàn Lý do phổ biến của việc không cho con bú sữa mẹ là không đủ sữa, đồng thời cho thấy khả năng tự cho con bú sữa
mẹ là một yếu tố dự báo đáng kể về thời gian và mức độ cho bú sữa mẹ Tăng sự tự tin của người mẹ đối với việc cho con bú sữa mẹ có tác dụng đáng kể về quyết đinh nuôi con của họ [35]
1.3 Ăn bổ sung
1.3.1 Tầm quan trọng của ăn bổ sung
Ăn bổ sung là cho trẻ ăn thêm các thức ăn giàu năng lượng và chất dinh dưỡng khác ngoài sữa mẹ dưới dạng mềm hoặc đặc Thời điểm cho trẻ ăn bổ sung thích hợp
là khi tròn 6 tháng tuổi (180 ngày) để giúp trẻ phát triển tốt [1]
❖ Cho trẻ ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn đều không tốt [5]
Cho trẻ ăn bổ sung quá sớm
(trước 6 tháng hay 26 tuần)
Cho trẻ ăn bổ sung quá muộn
(sau 6 tháng hay 26 tuần)
Trẻ giảm bú mẹ vì vậy sẽ làm giảm khả
năng tạo sữa mẹ
Trẻ tăng nguy cơ mắc bệnh, mắc tiêu
chảy, suy dinh dưỡng, dị ứng do thức ăn
Trẻ không nhận được các thức ăn cần thiết để bổ sung thêm các chất dinh dưỡng mà sữa mẹ ở giai đoạn này
Trang 20Cho trẻ ăn bổ sung quá sớm
(trước 6 tháng hay 26 tuần)
Cho trẻ ăn bổ sung quá muộn
(sau 6 tháng hay 26 tuần)
bổ sung không phù hợp với khả năng
tiêu hóa và miễn dịch chưa hoàn thiện
của trẻ
Trẻ giảm bú mẹ sẽ làm tăng nguy cơ
mang thai của bà mẹ
không đáp ứng được đầy đủ cho sự phát triển của trẻ, đặc biệt là sắt
Chậm lớn và chậm phát triển
Nguy cơ suy dinh dưỡng và thiếu chất dinh dưỡng tăng lên
❖ Nguyên tắc cho trẻ ăn bổ sung [5]
Cho trẻ ăn bổ sung đúng độ tuổi (bắt đầu từ tháng thứ 6 - 180 ngày), không quá sớm hoặc quá muộn Vẫn tiếp tục cho trẻ bú mẹ càng nhiều càng tốt [43]
Cho trẻ ăn từ loãng đến đặc, từ ít đến nhiều, tập cho trẻ quen dần với thức ăn mới (thời gian tập cho ăn thức ăn loãng không quá 2 tuần)
Số lượng thức ăn và bữa ăn tăng dần theo tuổi, đảm bảo thức ăn hợp với khẩu vị của trẻ
Chế biến thức ăn đảm bảo mềm, dễ nhai và dễ nuốt, món ăn đẹp, nhiều màu sắc, hương vị hấp dẫn, kích thích sự thèm ăn của trẻ
Chế biến các thức ăn hỗn hợp giàu dinh dưỡng, sử dụng các thức ăn sẵn có tại địa phương Luôn luôn thay đổi thức ăn hàng ngày, cho trẻ ăn nhiều loại món ăn khác nhau Trong một ngày không nên cho trẻ ăn một món giống nhau
Thêm dầu, mỡ hoặc vừng, lạc (mè, đậu phộng) làm cho bát bột thơm, béo, mềm,
trẻ dễ ăn hơn và cung cấp thêm năng lượng giúp trẻ mau lớn
Tất cả dụng cụ chế biến phải sạch, rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi chế biến thức ăn và cho trẻ ăn
Trong và sau khi bị ốm, trẻ cần được ăn nhiều hơn, uống nhiều chất lỏng hơn đặc biệt khi bị tiêu chảy và sốt cao
Trước mỗi bữa ăn không cho trẻ ăn bánh, kẹo, uống nước ngọt vì cho trẻ ăn chất ngọt sẽ làm tăng đường huyết gây ức chế tiết dịch vị, làm trẻ chán ăn, trẻ sẽ bỏ bữa hoặc ăn ít đi trong bữa ăn
Bữa ăn là thời gian để trẻ tập ăn, cần giúp trẻ học cách ăn, khuyến khích, động viên trẻ ăn, trẻ sẽ ăn nhiều hơn nếu không khí bữa ăn vui vẻ, thoải mái Giúp trẻ
Trang 21nhận được đủ chất dinh dưỡng cần thiết theo nhu cầu của trẻ Không ép buộc trẻ
Chất béo: dầu, bơ, mỡ,
Các thức ăn giàu vitamin và chất khoáng: rau xanh, trái cây
❖ Thực phẩm giàu sắt hoặc bổ sung sắt: cần tăng cường thực phẩm giàu sắt hoặc được bổ sung sắt được thiết kế riêng cho trẻ hay được bổ sung tại gia đình [5] [45]
❖ Số lượng bữa ăn:
Tùy theo từng độ tuổi mà trẻ cần được ăn bổ sung khác nhau về số bữa, loại thức
ăn [5]:
Số lượng bữa ăn
Trang 22Theo số liệu của tổ chức Y tế Thế giới, tại các nước phát triển, ước lượng mức năng lượng cần từ thức ăn bổ sung (vẫn duy trì bú sữa mẹ) là: 200 kcal/ngày với trẻ
từ 6 – 8 tháng tuổi, 300 kcal/ngày với trẻ 9 – 11 tháng tuổi và 550 kcal/ngày đối với trẻ 12 – 23 tháng tuổi [32] Cần tăng đậm độ dinh dưỡng để đảm bảo lượng thức ăn vừa đủ cho trẻ mà vẫn cung cấp đủ chất dinh dưỡng
1.4 Các chiến lược hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ nhỏ
❖ Trên thế giới
Năm 1990, Tuyên bố Innocenti về bảo vệ, khuyến khích và hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ ra đời đưa ra các mục tiêu hành động, được các nước thông qua và sau đó thông qua bởi hội đồng Y tế thế giới lần thứ 40 và Ban điều hành của UNICEF [41] Đến 2005, tại cuộc họp kỷ niệm 15 năm ra đời tuyên bố Innocenti, đã đưa ra năm mục tiêu mới được xác định là một phần trong chiến lược toàn cầu đang diễn ra với việc nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [37]
Chiến lược Toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ nhằm mục đích hướng dẫn hành động, xác định các can thiệp với tác động tích cực đã được chứng minh, nhấn mạnh việc cung cấp cho các bà mẹ và gia đình sự hỗ trợ mà họ cần để thực hiện các vai trò quan trọng của mình; xác định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm của các chính phủ, các tổ chức quốc tế và các bên liên quan Đồng thời, chiến lược còn cam kết tiếp tục hành động chung phù hợp với sáng kiến của Bệnh viện thân thiện với trẻ em (1991), Bộ luật Quốc tế về tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ (1981) tập trung vào vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ [44]
❖ Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, hiện nay chính phủ đã ban hành Nghị định 100/2014/NĐ-CP dựa trên cơ sở các khuyến nghị và luật quốc tế về bảo trợ và hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ đưa ra các quy định về kinh doanh sữa và sử dụng các sản phẩm sữa dành cho trẻ em, giúp các gia đình nhận được thông tin thiết thực nhằm hỗ trợ các gia đình trong việc lựa chọn nuôi dưỡng trẻ một cách tối ưu nhất[6] Bên cạnh đó, Quốc hội ban hành Luật Bảo hiểm Xã hội số 58/2014/QH13 trong đó quy định về chế độ nghỉ thai sản,
Trang 23để hỗ trợ, tạo điều kiện cho phụ nữ có thể nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng
6 tháng đầu được hiệu quả [12]
Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn đến 2030 đã
đề cập đến mục tiêu thứ 5 về việc nâng cao hiểu biết và tăng cường thực hành dinh dưỡng hợp lý với những chỉ tiêu cần đạt được đến 2015 và 2030 [4]
Dự án Alive and Thrive (A & T) tại Việt Nam từ 2009 – 2014 đã phối hợp với Bộ
Y tế (BYT), Viện dinh dưỡng Quốc gia (VDD), Hội Liên hiệp Phụ nữ, và chính quyền các tỉnh dự án để triển khai các can thiệp nhằm tăng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM), cải thiện số lượng và chất lượng thức ăn bổ sung, và giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi A & T đã đưa ra sáng kiến về mô hình nhượng quyền xã hội - phòng tư vấn Mặt Trời Bé Thơ nhằm cung cấp dịnh vụ tư vấn NDTN chất lượng cao Mục đích của các dịch vụ nhượng quyền là tăng cường cung cấp các thông tin đúng
về NDTN thông qua tư vấn cá nhân và/hoặc tư vấn nhóm từ 3 tháng cuối của thai kỳ
và tiếp tục cho đến khi trẻ được 2 tuổi [2] Dự án đã đem lại kết quả khả quan, từ 01/2012 đến 03/2014 đã có 460.000 được tư vấn cá nhân dựa vào các nhóm hỗ trợ cộng đồng, trong 3 năm từ 2010 – 2013 tỉ lệ bú mẹ hoàn toàn đã tăng 19% lên 62% tại các khu vực của A & T, dịch vụ cung cấp được cải thiện [20] Dự án cũng đã để lại một hướng đi mới trước mắt cho thấy có thể áp dụng để nâng cao thực hành NDTN trong cộng đồng, cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em Việt Nam
1.5 Một số nghiên cứu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ
Một nghiên cứu định tính về kiến thức, thái độ và nhận thức về nuôi dưỡng trẻ nhỏ
ở vị thành niên và các bà mẹ trẻ ở nông thôn Bangladesh đã cho thấy khi được hỏi về các chỉ số trong các khuyến nghị quốc tế cho thấy kiến thức về người tham gia về NDTN rất hạn chế, không phân biệt có con hoặc chưa có con Một số người tham gia
ý thức về khuyến nghị trong NDTN (ví dụ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng) nhưng
họ lại giải thích sai lệch về thông điệp đó Các ý kiến về sữa mẹ không đầy đủ hoặc sai, các thành kiến trong ý định cho ăn dựa trên giới tính và nhu cầu của trẻ sơ sinh,
và các thay đổi về thực hành nuôi dưỡng theo thời đại đã được báo cáo Kết quả của nghiên cứu làm nổi bật những thiếu hụt lớn trong kiến thức của các bà mẹ trẻ và phụ
nữ trẻ về các khuyến cáo trong NDTN, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến việc
Trang 24cho con bú sớm và hoàn toàn, việc cho ăn các thực phẩm bổ sung giàu chất dinh dưỡng thích hợp Nghiên cứu đã cho thấy rằng tài liệu về kiến thức, thái độ và nhận thức của người nữ tuổi vị thành niên về NDTN là một ưu tiên nghiên cứu quan trọng bởi vì có thể ảnh hưởng đến hành vi nuôi dưỡng khi họ trở thành mẹ, và từ đó cải thiện sức khoẻ của trẻ em tương lai Họ kết luận, thanh thiếu niên nữ là cơ hội để cải thiện kết cục sức khỏe của trẻ em trong tương lai, và đầu tư tăng lên trong giáo dục sớm của vị thành niên nữ về NDTN an toàn có thể là một chiến lược hiệu quả để thúc đẩy và hỗ trợ thực hành nuôi dưỡng trẻ tốt hơn [26]
Một nghiên cứu khác trên các bà mẹ có con 0 - 9 tháng tuổi ở thành phố Alwara, Rajasthan cho thấy chỉ có 32,91% bà mẹ biết rằng nên cho con bú đến năm 2 tuổi, 50% bà mẹ biết trong sữa mẹ có kháng thể và đặc biệt chỉ có 10% bà mẹ biết nuôi con bằng sữa mẹ cũng là biện pháp tránh thai cũng như lợi ích với mẹ Nghiên cứu cũng đưa ra quan điểm việc bú sữa mẹ hoàn toàn cần được giáo dục cho các bà mẹ từ khi mang thai và cho con bú [36] Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung vào vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ chứ chưa đề cập đến ăn bổ sung
Một nghiên cứu cắt ngang tại Ấn Độ vào năm 2012 cho thấy sự thiếu kiến thức của người mẹ đã có con về tầm quan trọng của sữa mẹ, thời điểm cho bú sớm, thời gian cho bú mẹ hoàn toàn và thời gian duy trì bú sữa mẹ Chỉ có khoảng 20% trong tổng số các bà mẹ biết về thời gian bắt đầu ăn bổ sung là 6 tháng Ở các bà mẹ nông thôn chỉ có 56,7% biết rằng khi 1 tuổi trẻ có thể ăn được các thức ăn như bữa ăn gia đình Nghiên cứu cho thấy nhu cầu cấp bách về việc giáo dục bà mẹ qua các lần khám thai và các buổi tiêm chủng về cách cho con bú sữa mẹ và về việc cho trẻ ăn bổ sung [29]
Nghiên cứu khác ở Ethiopia (2013), với thiết kế cắt ngang mô tả trên 541 bà mẹ
về kiến thức nuôi dưỡng trẻ nhỏ, đồng thời đánh giá kiến thức về vi chất dinh dưỡng Kết quả nghiên cứu cho thấy các bà mẹ có kiến thức khá trong việc cho trẻ bú sớm
và kiến thức trung bình trong việc nuôi con bằng sữa mẹ nói chung Trong khi đó, các bà mẹ này lại có kiến thức rất ít về tần suất ăn cho trẻ từ 6 đến 8 tháng cần ít nhất
2 bữa/ngày, tuy nhiên họ có kiến thức khá trong việc nuôi trẻ 9-23 tháng 3 bữa/ngày [22]
Trang 25Ở Việt Nam, cuộc điều tra năm 2011 của Alive & Thrive cho kết quả kiến thức về nuôi dưỡng trẻ nhỏ của các bà mẹ, tỉ lệ khá cao biết về sữa non (74,4%) và nên cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh (78,8%), 52,2% biết rằng nên cho trẻ bú đến
24 tháng, nhưng chỉ 1/4 trong số phụ nữ biết nên làm thế nào nếu cảm thấy con mình không bú đủ sữa Kết quả kiến thức của các bà mẹ về thời gian hợp lý bắt đầu cho trẻ
ăn thức ăn bổ sung, đa số các bà mẹ (62,3%) nhận thức được nên cho trẻ ăn bổ sung vào thời điểm 6 tháng, 1 trong 10 người thì cho nên cho ăn sớm hơn và 1/4 cho rằng nên cho ăn vào thời điểm muộn hơn (ngoài 9 tháng) Khi được hỏi về số bữa chính
và phụ ở các giai đoạn khác nhau, trung bình các bà mẹ cho rằng nên cho trẻ tuổi 8,9 tháng ăn 2,4 bữa chính/ngày và 1,5 bữa phụ/ngày, kết quả này phù hợp với khuyến cáo của WHO [2] Tương tự báo cáo trên, nghiên cứu của Nguyễn Anh Vũ và cộng
6-sự tại huyện Tiên Lữ, Hưng Yên trên phụ nữ có con 12 – 24 tháng tuổi cũng cho kết quả 83% bà mẹ có kiến thức đúng về việc cho trẻ bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh, 58,5% cho rằng nên cho trẻ ăn bổ sung từ 6 – 8 tháng [18] Nhìn chung, các bà mẹ có kiến thức khá nhưng chưa đầy đủ về việc nuôi dưỡng trẻ nhỏ, do vậy việc phổ biến kiến thức rộng rãi cho phụ nữ về NDTN cần được chú trọng hơn nữa để các bà mẹ hay phụ nữ nói chung có cơ sở quyết định đúng hơn trong việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ Hơn nữa, việc này nên được chuẩn bị từ sớm, nhất là giai đoạn mang thai
Trang 26CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 4/2017 đến tháng 6/2017
Địa điểm: Bệnh viện Hùng Vương, thành phố Hồ Chí Minh
2.3 Đối tượng nghiên cứu
2 ×𝑝(1 − 𝑝)
𝑑2α: xác xuất xảy ra sai lầm loại 1 (α=0,05)
Z: trị số từ phân phối chuẩn (với khoảng tin cậy 95%, 𝑍
(1−𝛼2)=1,96) d: sai số ước tính (d = 0,05)
Với p là tỉ lệ phụ nữ mang thai có kiến thức chung đúng về nuôi dưỡng trẻ nhỏ Tham khảo một nghiên cứu cắt ngang tại Nepal về kiến thức và thực hành nuôi trẻ ăn, tỉ lệ các bà mẹ biết về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn và thời điểm ăn bổ sung là 87,3% [33] Đây là 2 nội dung quan trọng trong nuôi dưỡng trẻ nhỏ, nghiên cứu chọn để ước tính tỉ lệ kiến thức chung đúng cho đối tượng trong nghiên cứu
Tính được cỡ mẫu cần có ít nhất là 171
Trang 27 Với p là tỉ lệ phụ nữ mang thai có nhu cầu tìm hiểu thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ Theo thông tin giám sát dinh dưỡng năm 2014 của Viện Dinh dưỡng,
tỉ lệ bà mẹ tại Thành phố Hồ Chí Minh được tiếp cận với thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ là 81,8% [16], với mong muốn rằng việc cung cấp thông tin đáp ứng được nhu cầu của phụ nữ mang thai nên con số trên được giả định là
tỉ lệ có nhu cầu tìm hiểu thông tin của PNMT về NDTN
ra của nghiên cứu trong thời gian thu thập mẫu sẽ được đưa vào nghiên cứu
Tiêu chí loại ra:
Đối tượng không trả lời đủ 80% số câu hỏi của bộ câu hỏi
2.3.6 Kiểm soát sai lệch chọn lựa
Chỉ chọn những phụ nữ đã chắc chắn rằng mình mang thai (hỏi trực tiếp) đến khám thai tại bệnh viện và chưa từng trả lời bộ câu hỏi của nghiên cứu, bằng cách hỏi đối tượng đã từng trả lời bộ câu hỏi về nuôi dưỡng trẻ nhỏ trong thời gian gần đây chưa Nếu thỏa mãn thì mới đưa và nghiên cứu Mặt khác, thời gian lấy mẫu cũng không dài, chỉ gần bằng một nửa khoảng thời gian hẹn tái khám của PNMT nên cũng hạn chế việc chọn lại đối tượng
Trang 282.4 Thu thập dữ kiện
2.4.1 Phương pháp thu thập dữ kiện
Điều tra viên sẽ phỏng vấn mặt đối mặt đối tượng bằng bộ câu hỏi soạn sẵn
2.4.2 Công cụ thu thập dữ kiện
Sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn do nghiên cứu viên tự soạn bao gồm 3 phần, cụ thể như sau:
Phần A Câu hỏi về thông tin thuộc đặc điểm dân số - xã hội của đối tượng (8 câu) Phần B Kiến thức của đối tượng về NDTN (18 câu)
Phần C Nhu cầu tìm hiểu thông tin về NDTN của phụ nữ mang thai (6 câu)
2.4.3 Kiểm soát sai lệch thông tin
Thiết kế bộ câu hỏi rõ ràng, phù hợp với đối tượng nghiên cứu
Tập huấn kỹ cho cộng tác viên về cách chọn đối tượng nghiên cứu, cách phỏng vấn, chú ý đọc câu hỏi rõ ràng, rành mạch Ngoài ra, thể hiện sự thân thiện, gần gũi để tạo cảm giác thoái mái cho PNMT; không cần áp đặt, hay bắt buộc khi đối tượng bỏ ngang phỏng vấn hoặc không tập trung
Giải thích cho đối tượng hiểu rõ về mục đích nghiên cứu, hướng dẫn để thu được thông tin tốt nhất và tiết kiệm thời gian Chỉ phỏng vấn phụ nữ mang thai chứ không nghe ý kiến người thứ 3 (đi cùng, kế bên)
Phỏng vấn thử trên 30 đối tượng để kiểm tra lại bộ câu hỏi, đánh giá chất lượng phỏng vấn và tìm cách khắc phục những tình huống bất lợi có thể xảy ra
2.5 Xử lý dữ kiện
2.5.1 Liệt kê và định nghĩa biến số
A Đặc điểm dân số - xã hội
A1 Tuổi: Được tính bằng cách lấy năm hiện tại trừ cho năm sinh của đối tượng,
từ đó quy ra nhóm tuổi của đối tượng
Nhóm tuổi: Được chia theo các mốc tính của Tổng cục thống kê về điều tra mức
sinh theo từng nhóm tuổi [15] Là biến thứ tự, được chia làm 4 giá trị sau:
Trang 29o ≤ 24
o 25 – 29
o 30 – 34
o ≥ 35
A2 Nơi ở hiện tại: là nơi hiện tại đối tượng đang ở Được chia dựa theo Quyết
định số 24 của Chính phủ đến năm 2025 về Quy hoạch chung xây dựng Tp.HCM làm
2 khu vực nội thành và ngoại thành [13] Biến danh định, gồm 3 giá trị:
o Nội thành: gồm các quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, Thủ Đức, Bình Tân, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú, Phú Nhuận
o Ngoại thành: gồm các huyện Cần Giờ, Nhà Bè, Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn
o Tỉnh khác
A3 Dân tộc: là biến nhị giá, gồm 2 giá trị:
o Dân tộc Kinh
o Dân tộc khác ( Khmer, Hoa,…)
A4 Nghề nghiệp: là nghề nghiệp chính của đối tượng trước khi mang thai hoặc
việc làm gần đây nhất và kéo dài trên 3 tháng, là biến danh định gồm 6 giá trị:
o Nông dân: người lao động, sản xuất nông nghiệp
o Công nhân: người lao động chân tay làm việc ăn lương trong các nhà máy,
o Khác (ghi lại nếu không thuộc các nhóm kể trên)
A5 Trình độ học vấn: là trình độ học vấn cao nhất mà người tham gia đã hoàn
thành hoặc hiện tại đang học, biến thứ tự gồm 6 giá trị:
o Dưới tiểu học
Trang 30o Tiểu học (hoàn thành cấp tiểu học)
o THCS (hoàn thành cấp trung học cơ sở)
o THPT (hoàn thành hoặc hiện đang học trung học phổ thông)
o Trung cấp, Cao đẳng (hoàn thành hoặc hiện đang học)
o Đại học, sau Đại học (hoàn thành hoặc hiện đang học)
A6 Mức thu nhập trung bình/tháng của gia đình: Biến thứ tự gồm 5 giá trị:
A7 Số con hiện tại: là số con của đối tượng đã sinh ra và còn sống đến thời điểm
hiện tại Đây là biến nhị giá gồm 2 giá trị:
o Quý III ( ≥ 28 tuần)
B Kiến thức về nuôi dưỡng trẻ nhỏ
B1 Từng được nghe/biết về nuôi dưỡng trẻ nhỏ: trước đây đã từng được nghe
nói, biết đến thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ Biến nhị giá gồm 2 giá trị:
o Có
o Không
B2 Nguồn thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ: biến danh định gồm 12 giá trị:
o Chồng
Trang 31o Các buổi quảng cáo sữa bột
o Khác (đối tượng tự trả lời)
B3 Cho trẻ uống sữa công thức trước khi bú sữa mẹ: Biến danh định, gồm 3
giá trị:
o Có
o Không
o Không biết
Kiến thức đúng là “không”, kiến thức chưa đúng là “có”, “không biết”
B4 Thời điểm trẻ nên được bú sữa mẹ lần đầu sau sinh: Biến danh định, gồm
5 giá trị:
o Không quá 1 giờ đầu
o Sau sinh khoảng 2 – 6 giờ
o Sau sinh khoảng 6 – 24 giờ
o Không biết
o Khác (giá trị tự trả lời)
Kiến thức đúng là “không quá 1 giờ đầu”, kiến thức chưa đúng là các lựa chọn còn
lại
B5 Bú sữa mẹ hoàn toàn: Biến này nhằm khảo sát sự hiểu đúng về việc nuôi con
bằng sữa mẹ hoàn toàn của đối tượng Bú mẹ hoàn toàn nghĩa là chỉ cho trẻ bú mẹ
mà không cho ăn, uống bất cứ thức ăn, nước uống nào khác kể cả nước trắng trừ
Trang 32trường hợp phải bổ sung vitamin, khoáng chất hoặc thuốc Biến danh định, gồm 3 giá trị:
- Có
- Không
- Không biết
Kiến thức đúng là “không” Trả lời đúng có nghĩa là đối tượng biết rằng không
nên cho thêm bất kỳ thức uống nào khác ngoài sữa mẹ trong khi trẻ chưa ăn dặm (đánh giá là hiểu về bú sữa mẹ hoàn toàn), 2 lựa chọn còn lại là kiến thức chưa đúng
Những thức uống có thể được thêm vào: Biến này nhằm khảo sát những thức
uống mà đối tượng nghĩ là cần được thêm cho trẻ trước thời gian ăn bổ sung Biến danh định gồm 5 giá trị:
- Nước trắng
- Sữa công thức
- Nước cơm
- Nước trái cây
- Khác (đối tượng tự trả lời)
B6 Khoảng thời gian trẻ bú mẹ hoàn toàn: là khoảng thời gian trẻ chỉ bú sữa
mẹ mà không nhận thêm thức ăn khác Biến danh định, gồm 5 giá trị:
o Trong 4 tháng đầu (120 ngày)
o Trong 5 tháng đầu (150 ngày)
o Trong 6 tháng đầu (180 ngày)
o Không biết
o Khác (giá trị tự trả lời)
Kiến thức đúng là “Trong 6 tháng đầu (180 ngày)”, kiến thức chưa đúng là một
trong những lựa chọn còn lại
B7 Lợi ích của việc bú sữa mẹ đối với trẻ: những lợi ích khi trẻ được nuôi bằng
sữa mẹ, biến danh định gồm 6 giá trị:
o Sữa mẹ dễ tiêu hóa và hấp thu
o Có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ
Trang 33o Phòng chống suy dinh dưỡng
o Giúp phòng ngừa các bệnh nhiễm khuẩn cho trẻ
B8 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ đối với mẹ: lợi ích người mẹ nhận được
khi cho trẻ bú sữa của mình Biến danh định, gồm 5 giá trị:
o Giúp mẹ nhanh lấy lại vóc dáng sau sinh
o Giúp giảm mất máu sau sinh, phòng chống thiếu máu
o Giúp bà mẹ chậm có thai trở lại
o Tăng tình cảm giữa mẹ và con
o Giảm nguy cơ ung thư buồng trứng và ung thư vú
Kiến thức đúng là biết được từ 50% trở lên trong số lợi ích được nêu (chọn ít nhất 3/5 giá trị), kiến thức chưa đúng là biết ít hơn 3 lợi ích trong số các lợi ích
B9 Cách duy trì nguồn sữa mẹ: cách mà mẹ có thể tự làm để không bị thiếu sữa
cho chon bú
a, Đã từng biết về cách để có đủ sữa: Biến tạo bước nhảy, nếu lựa chọn “không”
sẽ chuyển qua B10 Biến nhị giá có 2 giá trị:
- Có
- Không
b, Những cách để duy trì và có đủ sữa cho con bú, biến danh định, gồm có 5 giá
trị:
o Cho trẻ bú theo nhu cầu, kể cả ngày và đêm
o Có thể dùng tay vắt sữa nếu trẻ không bú hết, hoặc không bú được
o Có chế độ ăn uống đầy đủ, lành mạnh và đa dạng
o Uống đủ nước trong ngày
o Giữ tâm lý thoải mái, ổn định, tránh tức giận
Trang 34Kiến thức đúng là biết được từ 50% trở lên trong số các cách được nêu trên (chọn được ít nhất 3/5 giá trị), kiến thức chưa đúng là biết được ít hơn 3 cách
B10 Thời gian duy trì bú sữa mẹ: là thời gian trẻ còn được bú sữa mẹ đến khi
ngừng hẳn (cai sữa) Biến danh định, gồm 6 giá trị:
Kiến thức đúng là “đến 2 tuổi (24 tháng) hoặc lâu hơn”, kiến thức chưa đúng là
một trong những giá trị còn lại
B11 Sự phụ thuộc của lượng sữa vào kích cỡ của vú: vú có kích thước, hình
dáng như thế nào đều chứa số lượng nang sữa như nhau, không ảnh hưởng đến việc tiết sữa và đều có thể tạo ra nhiều sữa như nhau [5] Biến danh định gồm 3 giá trị:
o Có
o Không
o Không biết
Kiến thức đúng là “không”, kiến thức chưa đúng là 2 giá trị còn lại
B12 Thời điểm ăn bổ sung: là thời điểm bắt đầu trẻ cần được ăn thêm thức ăn bổ
sung ở các dạng đặc, sệt hoặc mềm ngoài sữa mẹ để có đủ năng lượng và chất dinh dưỡng Biến danh định, có 5 giá trị:
o Khi hết tháng thứ 4
o Khi hết tháng thứ 5
o Khi hết tháng thứ 6
o Không biết
o Khác (đối tượng tự trả lời)
Kiến thức đúng là “khi hết tháng thứ 6”, kiến thức chưa đúng là một trong những
giá trị còn lại
Trang 35B13 Dạng thức ăn bổ sung dành cho trẻ: tính chất về thể của thức ăn bổ sung
nên được chế biến cho trẻ Biến danh định gồm 3 giá trị:
B14 Thành phần các nhóm thực phẩm: các nhóm thực phẩm nên có trong khẩu
phần ăn bổ sung của trẻ Biến danh định gồm 5 giá trị:
o Nhóm bột đường: gạo, khoai, củ,…
o Nhóm đạm: đạm động vật (thịt, cá, trứng,…), thực vật (các loại đậu)
o Nhóm vitamin và khoáng: rau, củ và trái cây
o Nhóm chất béo: dầu ăn, bơ, mỡ,…
o Khác (đối tượng tự trả lời)
Kiến thức đúng là khi lựa chọn cả 4 nhóm thực phẩm: “nhóm bột đường”, “nhóm đạm”, “nhóm vitamin và khoáng”, “nhóm chất béo”, khi lựa chọn không đủ 4 nhóm
thực phẩm là kiến thức chưa đúng
B15 Sữa bột (sữa công thức) là thức ăn bổ sung: các loại sản phẩm sữa thương
mại là thức ăn dạng lỏng, không được xem là thức ăn bổ sung [5] Biến danh định gồm có 3 giá trị:
o Có
o Không
o Không biết
Kiến thức đúng là “không”, kiến thức chưa đúng là 2 giá trị còn lại
B16 Số bữa ăn chính ít nhất của trẻ còn bú từ 6 – 8 tháng: bữa chính là các
bữa bột, cháo, cơm được chế biến phù hợp với nhu cầu và độ tuổi của trẻ [1] Cần tăng số lần ăn theo độ tuổi của trẻ Số lượng bữa ăn thích hợp phụ thuộc vào độ đậm năng lượng của thực phẩm địa phương và lượng tiêu thụ thông thường ở mỗi lần trẻ
Trang 36ăn [32] Ở đây chỉ đưa ra số bữa ăn tối thiểu mà trẻ cần được ăn Biến danh định gồm
Kiến thức đúng là “2 bữa”, kiến thức chưa đúng là những giá trị còn lại
B17 Số bữa ăn chính ít nhất của trẻ còn bú từ 9 – 23 tháng: biến danh định
Kiến thức đúng là “3 bữa”, kiến thức chưa đúng là những giá trị còn lại
B18 Độ tuổi trẻ có thể ăn được cơm và thức ăn gia đình: là độ tuổi mà khi đó
trẻ có thể bắt đầu tập ăn cơm và các thức ăn như của gia đình chế biến Biến danh định gồm 5 giá trị:
Kiến thức đúng là “12 tháng”, kiến thức chưa đúng là những giá trị còn lại
➢ Phần khảo sát kiến thức được tính từ câu B3 đến câu B18 trong bộ câu hỏi tương ứng với các biến đã được định nghĩa Chọn mốc kiến thức chung đúng là đạt từ 50% trở lên, cách chọn này dựa trên tham khảo theo cách chia của một nghiên cứu đánh giá kiến thức của người mẹ về lợi ích của việc cho con bú sữa mẹ được thực
Trang 37hiện tại Brazil vào năm 2014 [25] Kiến thức của đối tượng được đo lường theo tỉ
lệ phần trăm trả lời đúng từ 8 câu trở lên trên tổng số 16 câu khảo sát là có kiến thức chung đúng và dưới 8 câu là chưa đúng
C Nhu cầu tìm hiểu thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ
C1 a, Muốn tìm hiểu thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ từ khi mang thai: ý kiến
của phụ nữ mang thai trong việc muốn tìm hiểu thêm thông tin về NDTN trong quá trình mang thai, biến nhị giá, gồm 2 giá trị:
C2 Thông tin muốn tìm hiểu: biến danh định, gồm 3 giá trị:
o Thông tin về nuôi con bằng sữa mẹ
o Thông tin về việc cho trẻ ăn bổ sung
o Cả 2 thông tin trên
C3 Đối tượng cung cấp thông tin tin tưởng: biến danh định gồm 8 giá trị: