Theo đó, tiếp cận HTĐM là việc sử dụng các tri thức về HTĐM cấu trúc của HTĐM, mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành để xây dựng một mô hình liên kết đảm bảo được hiệu quả liên kết giữa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
Phạm Hồng Trang
XÂY DỰNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC - VIỆN NGHIÊN CỨU – DOANH NGHIỆP
DƯỚI TIẾP CẬN HỆ THỐNG ĐỔI MỚI
Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS Nguyễn Văn Học
2 PGS.TS Đào Thanh Trường
Hà Nội - 2018
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Bằng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, trên cơ sở lý thuyết và khảo sát thực tiễn mà bản thân tiến hành thu thập, tôi xin cam đoan tất cả thành quả nghiên cứu trên là trung thực, là sản phẩm đích thực của bản thân tôi Nếu sai, tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn trước Nhà trường và Pháp luật
Người cam đoan
NCS Phạm Hồng Trang
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Đề tài được hoàn thành ngoài những nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trong Khoa Khoa học Quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
Trước hết tôi xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến các thầy cô trong Khoa Khoa học Quản lý, Lãnh đạo Khoa Khoa học Quản lý Đặc biệt, tôi xin gửi lời cám
ơn sâu sắc đến hai thầy giáo hướng dẫn là TS Nguyễn Văn Học và PGS.TS Đào
Thanh Trường đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành Luận án Tiến sỹ
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới các đồng chí, đồng nghiệp, nhà khoa học trong Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học Lao động – Xã hội, Trường Đại học Công nghệ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Y Hà Nội, Viện Máy
và Dụng cụ Công nghiệp, Viện Vật lý Kỹ thuật, Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm, Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận án
Tuy đã hết sức cố gắng song do kinh nghiệm, kiến thức còn hạn chế nên Luận án Tiến sỹ này không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được
ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn.!
Hà Nội, ngày 12 tháng 4 năm 2018
NCS Phạm Hồng Trang
Trang 4iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do nghiên cứu 1
2 Ý nghĩa của Luận án 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Mẫu khảo sát 4
6 Câu hỏi nghiên cứu 5
7 Giả thuyết nghiên cứu 5
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 6
9 Kết cấu của Luận án 9
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10
1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về HTĐM và những vấn đề liên quan 10
1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về liên kết và các mô hình liên kết giữa trường đại học với viện nghiên cứu và doanh nghiệp 20
Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC – VIỆN NGHIÊN CỨU – DOANH NGHIỆP THEO TIẾP CẬN HỆ THỐNG ĐỔI MỚI 33
2.1 Hệ khái niệm công cụ 33
2.1.1 Đổi mới 33
2.1.2 Hệ thống đổi mới, hệ thống đổi mới quốc gia 36
2.1.3 Chính sách đổi mới 40
2.1.4 Liên kết, tam giác liên kết 43
2.1.5 Mô hình, mô hình liên kết 47
2.2 Tiến trình phát triển của mô hình liên kết và lý thuyết ba vòng xoắn 48
2.2.1 Tiến trình phát triển của mô hình liên kết 48
2.2.2 Lý thuyết ba vòng xoắn trong việc xây dựng mô hình liên kết 51
Trang 5iv
2.3 Tiếp cận HTĐM trong việc xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học
– viện nghiên cứu – doanh nghiệp 55
2.3.1 Bản chất của tiếp cận HTĐM 55
2.3.2 Tiến hóa của lý thuyết đổi mới 58
2.3.3 Chức năng của các phân hê ̣ trong HTĐM quốc gia 61
Tiểu kết chương 2 64
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG MỐI LIÊN KẾT GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC – VIỆN NGHIÊN CỨU – DOANH NGHIỆP 65
3.1 Thực trạng hoạt động liên kết của trường đại học 65
3.1.1 Các nguồn lực phục vụ cho hoạt động liên kết của trường đại học 65
3.1.2 Thực trạng liên kết của trường đại học với viện nghiên cứu và doanh nghiệp 72
3.2 Thực trạng hoạt động liên kết của viện nghiên cứu 91
3.2.1 Các nguồn lực phục vụ cho hoạt động liên kết của viện nghiên cứu 91
3.2.2 Thực trạng liên kết của viện nghiên cứu với trường đại học và doanh nghiệp 96
3.3 Thực trạng hoạt động liên kết của doanh nghiệp 108
3.3.1 Các nguồn lực phục vụ cho hoạt động liên kết của doanh nghiệp 108
3.3.2 Thực trạng liên kết của doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu 112 Tiểu kết chương 3 117
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH LIÊN KẾT GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC – VIỆN NGHIÊN CỨU – DOANH NGHIỆP 119
4.1 Cơ sở đề xuất mô hình liên kết giữa trường – viện – doanh nghiệp 119
4.1.1 Những yếu tố thúc đẩy liên kết trường – viện – doanh nghiệp 119
4.1.2 Nguyên nhân cản trở mối liên kết 125
4.2 Mô hình liên kết mới và các biện pháp đảm bảo nhằm tăng cường sự liên kết giữa trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp 130
4.2.1 Đề xuất mô hình liên kết mới 130
4.2.2 Giải pháp chung để vận hành mô hình mới 134
4.2.3 Giải pháp cụ thể cho các phân hệ của mô hình mới 141
Tiểu kết chương 4 149
Trang 6v
KẾT LUẬN 150 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 152 TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC 157
Trang 7ĐHLĐXH Đại học Lao động – Xã hội
ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
HTĐMQG Hệ thống đổi mới quốc gia
HVNNVN Học viện Nông nghiệp Việt Nam
IMI Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp
KH&CN Khoa học và Công nghệ
NCPTCT Viện Nghiên cứu và Phát triển Cây trồng
R&D Nghiên cứu và triển khai
VLKT Viện Vật lý Kỹ thuật
Trang 8vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Chi cho R&D theo loại hình hoạt động 70
Bảng 3.2 Tỷ lệ giảng viên nhận định về mức độ hợp tác giữa trường đại học với các đối tác trong nghiên cứu khoa học 78
Bảng 3.3 Mức độ hợp tác giữa trường đại học với các đối tác trong phát triển công nghệ 85
Bảng 3.4 Tỷ lệ giảng viên nhận định về mức độ hợp tác giữa trường đại học với các đối tác trong dịch vụ KH&CN và đào tạo 86
Bảng 3.5 Xếp hạng những nguồn thông tin trường đại học thường tham khảo cho hoạt động KH&CN 89
Bảng 3.6 Số nhân lực KH&CN trung bình theo trình độ học vấn của các viện 91
Bảng 3.7 Thống kê kết quả tham gia đào tạo giai đoạn 2006 – 2012 96
Bảng 3.8 Tỷ lệ nhà khoa học nhận định về mức độ liên kết của viện nghiên cứu với các đối tác trong nghiên cứu khoa học 100
Bảng 3.9 Tỷ lệ nhà khoa học nhận định về mức độ hợp tác của viện nghiên cứu với các đối tác trong phát triển công nghệ 104
Bảng 3.10 Tỷ lệ nhà khoa học nhận định về mức độ hợp tác của viện nghiên cứu với các đối tác trong dịch vụ KH&CN và đào tạo 105
Bảng 3.11 Xếp hạng nguồn thông tin viện nghiên cứu thường tham khảo
cho hoạt động KH&CN 106
Bảng 3.12 Nguồn thông tin doanh nghiệp thu nhận cho hoạt động R&D 112
Bảng 3.13 Tỷ lệ các sản phẩm, quy trình mới doanh nghiệp đang triển khai 115
từ những nguồn khác nhau so với tổng sản phẩm của doanh nghiệp 115
Bảng 4.1 Số lượng giảng viên của trường đại học nhận định về mức độ nhu cầu liên kết của trường với viện và doanh nghiệp 119
Bảng 4.2: Đánh giá về mức độ quan trọng của các lý do trường liên kết 121
với đối tác khác 121
Bảng 4.3: Đánh giá về mức độ quan trọng của các lý do viện liên kết 122
với đối tác khác 122
Bảng 4.4 Cá nhân đánh giá các lý do doanh nghiệp liên kết với các đối tác 124
Trang 9viii
Bảng 4.5 Các nguyên nhân cản trở hoạt động liên kết của trường đại học với
viện nghiên cứu và doanh nghiệp 126
Bảng 4.6 Các nguyên nhân cản trở hoạt động liên kết của viện nghiên cứu với trường đại học và doanh nghiệp 128
Bảng 2 Các nội dung KH&CN của trường ĐHBKHN giai đoạn 2013 - 2014 157
Bảng 3 Nguồn nhân lực của các đơn vị do HVNNVN quản lý 158
Bảng 4 Nguồn nhân lực của các đơn vị do các Khoa quản lý 159
Bảng 4 Kinh phí thực hiện hoạt động KH&CN giai đoạn 2011 – 2015 của ĐHBKHN 160
Trang 10ix
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nhân lực KH&CN theo trình độ của các trường đại học 69
Biểu đồ 3.2 Quan điểm của nhân lực KH&CN về các mức độ hợp tác trong hoạt động KH&CN giữa ba khu vực trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp 78 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ phần trăm nhân sự theo nhiệm vụ trong hoạt động KH&CN của doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn 109
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ phần trăm nhân sự theo trình độ chuyên môn và chức danh
phân theo quy mô doanh nghiệp 110
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ phần trăm các hình thức tư vấn mà doanh nghiệp sử dụng 114
Hình 2.1 Thứ bậc các mối liên kết trong tam giác liên kết 45
Hình 2.2 Tiến trình phát triển của mô hình liên kết 51
Hình 2.3 Xác suất bất định của mô hình 2, 3 vòng xoắn 54
Hình 2.4 Mô hình hoạt động đổi mới theo tuyến tính 56
Hình 2.5 Mô hình HTĐM theo OECD 57
Hình 4.1 Mô hình liên kết đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp có sự điều tiết của Chính phủ theo tiếp cận HTĐM 131
Trang 11tổ chức sản xuất đáp ứng phương tiện và cơ hội cho việc sử dụng các kết quả nghiên cứu, đưa vào sản xuất, ứng dụng để tạo ra sản phẩm xã hội cần với giá cả hợp lý Đối với các tổ chức KH&CN, mối liên kết này có thể nâng cao hiệu quả hoạt động nhờ nguồn vốn của doanh nghiệp, các hướng nghiên cứu mang tính lý thuyết cũng hướng vào thực tiễn nhiều hơn Lợi ích mà khu vực sản xuất có được trong mối liên kết với trường đại học, viện nghiên cứu thể hiện qua việc doanh nghiệp được cung cấp nhân lực có trình độ chuyên môn, được đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ, giúp doanh nghiệp phát hiện và giải quyết những nhu cầu nội tại Đây là một trong các biện pháp để thu được bí quyết công nghệ, tăng cường nguồn lực thông qua việc cấp vốn, dùng chung thiết bị và chia sẻ kinh nghiệm Nhờ vậy, mối liên kết chặt chẽ giữa ba khu vực trên có thể tạo ra năng lực phát triển công nghệ nội sinh cho đất n-ước, sử dụng một cách có hiệu quả công nghệ nhập, đồng thời tạo ra năng lực mới cho các tổ chức KH&CN và cuối cùng dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế của đất nước
Tuy nhiên, mối liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp ở Việt Nam tại mỗi giai đoạn có sự khác nhau, chịu ảnh hưởng của triết lý KH&CN từng thời kỳ
Thời kỳ trước đổi mới (1986): Ủy ban Khoa học Nhà nước được thành lập năm 1959, đây cũng là thời điểm hình thành hệ thống KH&CN ở miền Bắc Mô hình hệ thống KH&CN ở Việt Nam thời kỳ này có đặc điểm là nghiên cứu khoa học tách rời sản xuất và đào tạo Trường đại học có chức năng duy nhất là đào tạo vì quan niệm nghiên cứu là nhiệm vụ của các viện trực thuộc cơ quan Bộ do Nhà nước quản lý Mọi hoạt động sản xuất, nghiên cứu khoa học và ứng dụng kết quả nghiên cứu đều thực hiện theo chỉ đạo, kế hoạch của Nhà nước Các viện nghiên cứu đa phần chỉ liên kết với khu vực sản xuất, doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ chủ quản
Trang 122
Thời kỳ từ 1986 đến 2005 (trước khi Nghị định 115/2005/NĐ-CP ban hành): Vấn đề liên kết được đặt ra một cách nghiêm túc vào đầu những năm 90 sau khi có Nghị định số 35/HĐBT năm 1992 và sau đó là Quyết định 324/ CT của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng năm 1993 Vào những năm đầu thiên niên kỷ, Luật KH&CN, Luật Giáo dục và các văn bản dưới luật khác đều tập trung các công cụ chính sách để giải quyết vấn đề liên kết này Tuy nhiên, vai trò của trường đại học trong nghiên cứu khoa học chưa mạnh
Thời kỳ từ khi ban hành Nghị định 115/2005 đến nay: Nghị định 115 là một bước tiến về triết lý tự chủ trong hoạt động KH&CN, là dấu ấn quan trọng về cải cách triết lý KH&CN Ở giai đoạn này, các trường đại học đã chú ý hơn đến chức năng nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội, nhu cầu của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng định hướng hoạt động nghiên cứu của trường, viện
Mặc dù có sự dịch chuyển khung mẫu trong triết lý KH&CN theo hướng tích cực như trên, mối liên kết giữa trường-viện-doanh nghiệp ở nước ta thực tế không
mạnh Doanh nghiệp chưa có sự chuẩn bị để áp dụng “đầu ra” của trường đại học, viện
nghiên cứu do năng lực kỹ thuật và các tính toán kinh tế Sự hạn chế trong liên kết đã tạo ra xu thế phát triển biệt lập, cát cứ và sự đóng góp yếu kém cho nền kinh tế
Để tăng cường mối liên kết giữa trường – viện – doanh nghiệp có khá nhiều cách tiếp cận với giải pháp khác nhau Mỗi cách tiếp cận đều có những ưu, nhược điểm Tiếp cận theo lý thuyết ba vòng xoắn đặt vai trò của chính phủ ngang bằng với trường đại học và công nghiệp Mặc dù ưu điểm của tiếp cận này là nhấn mạnh
sự cần thiết phát huy vai trò của trường đại học kinh thương song lại dễ mắc phải cái gọi là độc quyền công nghệ (thường được gọi là “bẫy công nghệ”) [7, 2008] Tiếp cận theo quan điểm HTĐM đặt hành vi tương tác đổi mới là đối tượng chính sách trung tâm và doanh nghiệp là chủ thể thực hiện hành vi đó, nhà nước là người quản lý, tạo điều kiện Theo nhiều học giả, đây là cách tiếp cận hiện đại, có khả năng tìm ra một hệ thống giải pháp toàn diện để thúc đẩy mối liên kết trường – viện – doanh nghiệp Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay chưa có chính sách đổi mới đầy
đủ, chưa có đủ các điều kiện để thực hiện liên kết theo mô hình HTĐM Do đó, cần thiết tiếp thu những ý tưởng của tiếp cận HTĐM để xây dựng một mô hình liên kết mới có đặc tính ưu việt của HTĐM mà vẫn phù hợp với bối cảnh nước ta hiện nay
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc thúc đẩy liên kết trường – viện – doanh nghiệp, từ thực trạng mối liên kết này ở Việt Nam hiện nay còn lỏng lẻo và từ việc nghiên cứu các tiếp cận khác nhau trong việc xây dựng những cách thức liên kết
Trang 133
hiệu quả, nghiên cứu sinh (NCS) đã chọn đề tài: “Xây dựng mô hình liên kết giữa
trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp dưới tiếp cận hệ thống đổi mới” làm đề tài Luận án của mình
2 Ý nghĩa của Luận án
2.1 Ý nghĩa lý thuyết của Luận án
Việc nghiên cứu Luận án có ý nghĩa lý thuyết thể hiện trên các mặt:
- Đưa ra khái niệm đổi mới xuất phát từ việc phân tích các khái niệm trước đây, trong đó nhấn mạnh đổi mới là tập hợp các hoạt động xã hội phức tạp nhằm tạo
ra sản phẩm mới hoặc cải tiến, thực hiện qui trình theo phương pháp mới hoặc áp dụng cách thức mới để một đưa một sáng chế ra thị trường, đem lại lợi ích kinh tế Các hoạt động xã hội bao gồm: Nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ, sản xuất, tiếp thị, đào tạo giáo dục v.v Chủ thể thực hiện đổi mới bao gồm các tổ chức, tác nhân liên quan như viện R&D, doanh nghiệp, trường đại học, cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội nghề nghiệp, v.v Các hình thức đổi mới gồm: Đưa ra sản phẩm mới, quy trình mới, nguồn cung cấp nguyên liệu sản xuất (đầu vào) mới, thị trường mới, cách thức tổ chức mới Mục đích của đổi mới là thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu, đem lại lợi ích kinh tế và sự phát triển xã hội
- Làm rõ thêm lý luận về HTĐM từ việc phân tích thuật ngữ HTĐM Theo
đó, tiếp cận HTĐM là việc sử dụng các tri thức về HTĐM (cấu trúc của HTĐM, mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành) để xây dựng một mô hình liên kết đảm bảo được hiệu quả liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp, đạt
mục tiêu của đổi mới phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay
- Phân tích tiến trình phát triển của mối liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp qua các giai đoạn lịch sử, qua đó thấy được tiến hóa của từng mô hình sau so với mô hình của giai đoạn trước, đồng thời làm rõ tính bất định – xác suất hình thành các mối liên kết trong tam giác liên kết
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của Luận án
- Chỉ ra những hạn chế trong liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu - doanh nghiệp ở nước ta hiện nay;
- Xây dựng mô hình hiện thực và các giải pháp đảm bảo mô hình vận hành tốt dưới tiếp cận HTĐM có điều chỉnh phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay
2.3 Tính mới của Luận án
Trên cơ sở phân tích thực trạng mối liên kết giữa trường – viện – doanh nghiệp, Luận án chỉ ra những hạn chế, cản trở việc hình thành và phát triển mối liên
Trang 144
kết ba chức năng nghiên cứu – sản xuất và đào tạo; xây dựng một mô hình liên kết
mới theo tiếp cận hệ thống đổi mới khắc phục được hạn chế đồng thời phát huy những điểm mạnh của các mô hình trước đây; đề xuất các giải pháp để vận hành tốt
mô hình liên kết mới này
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát : Xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp ở Việt Nam dưới tiếp cận HTĐM
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
a) Nghiên cứu cơ sở lý luận về đổi mới, HTĐM, chính sách đổi mới; cơ sở lý luận về mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp và tiếp cận HTĐM trong việc xây dựng mô hình liên kết này;
b) Thực trạng mối liên kết trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp
và các yếu tố tác động đến mối liên kết ba bên;
c) Đề xuất mô hình liên kết và giải pháp đảm bảo mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp vận hành tốt dưới tiếp cận HTĐM
có điều chỉnh phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi nội dung: Luận án nghiên cứu thực trạng mối liên kết giữa
trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp trong hoạt động trao đổi nhân lực, chuyển giao kết quả nghiên cứu và trao đổi thông tin; đề xuất mô hình liên kết theo tiếp cận HTĐM có sự điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay
4.2 Phạm vi không gian khảo sát: Luận án nghiên cứu, khảo sát tại 04 Viện:
Viện IMI, Viện VLKT, Viện CNSH&CNTP, Viện NCPTCT; 04 trường đại học: ĐHBKHN, đại học Nông nghiệp I (HVNNVN), ĐHCN - ĐHQGHN và đại học LĐ-XH; 104 doanh nghiệp
4.3 Phạm vi thời gian: Luận án khảo sát từ năm 2014 đến nay, phân tích tài
liệu từ năm 2004 trở lại đây với lý do là năm Quyết định 171/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, trong đó có quy định về mối liên kết nói trên; Một số dẫn liệu sẽ được sử dụng từ năm trước đó với tư cách phân tích lịch sử
5 Mẫu khảo sát
Để thực hiện Luận án, NCS đã khảo sát trên:
- Phỏng vấn sâu cá nhân 12 nhà quản lý, giảng viên và nhà khoa học đang công tác tại trường đại học (4 người), viện nghiên cứu (4 người), doanh nghiệp (4 người)
Trang 155
- Khảo sát bằng bảng hỏi 193 phiếu, trong đó gồm 100 cán bộ, giảng viên của 4 trường đại học (ĐHBKHN, HVNNVN, Trường ĐHCN - ĐHQGHN và ĐHLĐXH), 93 nhà nghiên cứu của 4 Viện nghiên cứu (Viện IMI, Viện VLKT, Viện CNSH&CNTP, Viện NCPTCT ) và sử dụng kết quả điều tra 104 doanh nghiệp của đề tài KX.06.06.11-15 do PGS.TS Đào Thanh Trường làm chủ nhiệm
6 Câu hỏi nghiên cứu
6.1 Câu hỏi chủ đạo:
Mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp cần được thiết kế như thế nào dưới tiếp cận HTĐM?
6.2 Câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Vì sao dựa vào tiếp cận HTĐM để xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp?
- Thực trạng mối liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp đang diễn ra như thế nào?
- Cần có những điều kiện gì đế vận hành tốt mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp theo tiếp cận HTĐM trong bối cảnh nước ta hiện nay?
7 Giả thuyết nghiên cứu
7.1 Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo:
Trong bối cảnh nước ta hiện nay, mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp cần được thiết kế trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm, là nhà đầu tư và tiêu thụ sản phẩm KH&CN của trường, viện; hoạt động KH&CN của trường, viện ngoài mục tiêu tăng cường năng lực bản thân sẽ chủ yếu phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp; Chính phủ vừa đóng vai trò hỗ trợ, đảm bảo cho mối liên kết thông qua tạo dựng khung hành lang pháp lý vừa tham gia vào quá trình liên kết theo hình thức hợp tác công - tư
7.2 Luận điểm cụ thể:
- Tiếp cận HTĐM là kết quả của quá trình tiến hóa các lý thuyết đổi mới, có khả năng tạo ra sản phẩm đổi mới
- Việc liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp ở nước
ta đã có song mối liên kết còn hạn chế nhiều so với tiềm năng
Trang 166
- Cần có tổng hợp các điều kiện về cơ chế chính sách, tài chính, nhân lực, bảo hộ SHTT và các điều kiện cụ thể cho từng phân hệ của tam giác liên kết để có thể vận hành tốt mô hình liên kết trường – viện – doanh nghiệp
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết
8.1 Các hướng tiếp cận được sử dụng:
- Tiếp cận quản lý: Nhận diện các tác động của chính sách hiện nay đối với
hoạt động nghiên cứu – tiền đề quan trọng cho việc thúc đẩy mối liên kết đào tạo – nghiên cứu – sản xuất trong các trường đại học nước ta;
- Tiếp cận tâm lý học: Nhận diện tâm lý của các giảng viên – nghiên cứu
viên dưới tác động của các chính sách hiện nay
- Tiếp cận hệ thống và cấu trúc: Đây là tiếp cận xuyên suốt trong nghiên cứu
Luận án bởi tiếp cận này cho phép phân tích hệ thống trường đại học như là một phân hệ của hệ thống KH&CN, của HTĐMQG, phục vụ mục tiêu cao nhất của hệ thống này là đổi mới kinh tế- xã hội bằng KH&CN; đồng thời giúp cho cho tác giả
có cái nhìn hệ thống trong phân tích và tổng hợp đối tượng nghiên cứu
- Tiếp cận nội quan và ngoại quan: Dựa trên các nhận xét đánh giá chủ quan
và khách quan để đưa ra nhận định về thực trạng hoạt động KH&CN trong các trường, viện, doanh nghiệp, về thực trạng mối liên kết trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp, những cản trở đối với hoạt động liên kết
- Tiếp cận so sánh: So sánh ưu, nhược điểm của các mô hình liên kết đã có,
từ đó đề xuất mô hình liên kết mới hiệu quả hơn
- Tiếp cận hệ thống đổi mới: Sử dụng các tri thức về HTĐM như các thành
phần tạo hệ, mối liên hệ giữa các thành tố, các dòng tri thức trong HTĐMQG để làm cơ sở phân tích thực trạng liên kết đào tạo – nghiên cứu – sản xuất và xây dựng
mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp hiệu quả
8.2 Phương pháp nghiên cứu:
8.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu:
Phương pháp này được áp dụng để tìm hiểu, phân tích các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp rất hữu ích trong việc xây dựng bảng hỏi Các tài liệu được phân tích gồm:
- Các sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu về đổi mới, HTĐM, liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và khu vực sản xuất
Trang 17Trong khuôn khổ Luận án, NCS phỏng vấn sâu 4 nhà quản lý đào tạo và giảng viên đang công tác tại trường đại học, 4 nhà quản lý KH&CN và nhà khoa học tham gia giảng dạy tại 4 viện và 4 giám đốc doanh nghiệp có liên kết với viện, trường
Nội dung phỏng vấn: Tình hình liên kết với các đối tác bên ngoài, mục đích liên kết, nhu cầu liên kết, những cản trở đối với hoạt động liên kết của đơn vị và mong muốn, đề xuất để thúc đẩy mối liên kết viện-trường-doanh nghiệp
8.2.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi:
Phương pháp trưng cầu ý kiến giúp thu thập những số liệu định lượng quan trọng cho Luận án NCS đã trưng cầu ý kiến theo cơ cấu như sau:
- 100 phiếu hỏi dành cho cán bộ quản lý, giảng viên của 4 trường đại học (ĐHBKHN, HVNNVN, Trường ĐHCN - ĐHQGHN và Trường Đại học Lao động – Xã hội)
- 93 phiếu hỏi dành cho nhà nghiên cứu của 4 Viện nghiên cứu (Viện IMI, Viện VLKT, Viện CNSH&CNTP, Viện NCPTCT )
- Sử dụng kết quả điều tra 104 doanh nghiệp của đề tài KX.06.06.11-15 do PGS.TS Đào Thanh Trường làm chủ nhiệm
Cách chọn mẫu khảo sát 100 phiếu tại trường đại học:
Luận án tiến hành nghiên cứu định lượng trên 100 cán bộ quản lý, giảng viên của các trường đại học ở Hà Nội Số phiếu phát ra là 108, thu về là 100 phiếu hợp lệ
Các bước tiến hành chọn mẫu khảo sát:
Bước 1: Lập danh sách các trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Bước 2: Chọn trường khảo sát: Luận án chọn 4 trường để khảo sát gồm:
- ĐHBKHN: Đại diện cho khối trường kỹ thuật, có nhiều kết quả nghiên cứu mang tính ứng dụng cao
- HVNNVN: Đại diện cho lĩnh vực nông nghiệp, có nhiều kết quả nghiên cứu mang tính ứng dụng cao
Trang 188
- ĐHCN: Đại diện cho lĩnh vực công nghệ, công nghiệp, trực thuộc ĐHQGHN – là cơ sở đào tạo được quốc tế công nhận về chất lượng đào tạo
- Đại học Lao động – Xã hội: Đại diện cho lĩnh vực khoa học xã hội
Cơ cấu mẫu: Mỗi trường đại học khảo sát 27 phiếu, trong đó 2 phiếu dành cho cán bộ quản lý, 25 phiếu là các giảng viên Cách chọn ngẫu nhiên, không phân biệt giới tính, độ tuổi nhưng chú ý về trình độ học vấn (khoảng 1/4 người được hỏi
có học vị tiến sỹ trở lên, 1/2 có học vị thạc sỹ và 1/4 có trình độ đại học, trung cấp)
Cách chọn mẫu khảo sát 93 phiếu tại viện nghiên cứu:
Luận án tiến hành nghiên cứu định lượng trên 93 cán bộ quản lý, nhà khoa học của các viện nghiên cứu Số phiếu phát ra là 108, thu về là 93 phiếu hợp lệ
Các bước tiến hành chọn mẫu khảo sát:
Bước 1: Lập danh sách các viện nghiên cứu
Bước 2: Chọn viện khảo sát: Luận án chọn 4 viện để khảo sát gồm:
- Viện IMI: Là viện nghiên cứu hoạt động theo mô hình doanh nghiệp KH&CN, có nhiều thành công trong việc chuyển giao kết quả nghiên cứu
- Viện VLKT, Viện CNSH&CNTP trực thuộc ĐHBKHN: Là những đơn vị trực thuộc trường đại học, có sản phẩm nghiên cứu mang tính ứng dụng cao
- Viện NCPTCT: Mặc dù trực thuộc HVNNVN song độc lập và tự chủ về tài chính, là đơn vị chuyển giao kết quả nghiên cứu mạnh
Cơ cấu mẫu: Mỗi viện nghiên cứu khảo sát 27 phiếu, trong đó 1 phiếu dành cho cán bộ quản lý, 26 phiếu dành cho nghiên cứu viên Cách chọn ngẫu nhiên, không phân biệt giới tính, độ tuổi nhưng chú ý về trình độ học vấn (khoảng 1/4 người được hỏi có học vị tiến sỹ trở lên, 2/4 có học vị thạc sỹ và 1/4 có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp)
Để lấy ý kiến của doanh nghiệp về tình hình liên kết, Luận án sử dụng kết quả điều tra 104 doanh nghiệp của đề tài KX.06.06.11-15 do PGS.TS Đào Thanh Trường làm chủ nhiệm
8.2.4 Phương pháp quan sát tự do
Phương pháp này giúp phát hiện vấn đề, đồng thời làm rõ thêm một số thông tin trong phiếu trưng cầu ý kiến Quan sát các điều kiện phục vụ cho hoạt động nghiên cứu như: Hệ thống phòng thí nghiệm, thiết bị công nghệ, đất dành cho ươm trồng,
8.3 Phương pháp xử lý thông tin
- Thông tin định lượng được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học
- Thông tin định tính: NCS đã triển khai gỡ băng, đánh máy 12 biên bản phỏng vấn sâu
Trang 199
9 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung Luận án gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2 Cơ sở lý luận của việc xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp theo tiếp cận hệ thống đổi mới
Chương 3 Thực trạng mối liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp
Chương 4 Đề xuất mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp
Trang 2010
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về HTĐM và những vấn đề liên quan
Về khái niệm HTĐM
Khái niệm HTĐMQG xuất hiện lần đầu trong một nghiên cứu của Freeman năm 1982 nhằm mô tả sự tương hợp trong xã hội Nhật Bản giữa những dạng khác nhau của các mạng lưới thể chế Freeman là người đầu tiên nhấn mạnh nhân tố thể chế giữa hàng loạt các nhân tố của HTĐMQG Freeman cho rằng HTĐMQG gồm
4 yếu tố: Chính sách của Nhà nước; Vai trò R&D của doanh nghiệp, đặc biệt là cách thức R&D được sử dụng để tiếp nhận tri thức và tạo ra một loạt lợi thế về công nghệ; Vai trò của vốn con người và việc tổ chức công việc ở các doanh nghiệp và các ngành; Cấu trúc đoàn hội để tránh được cạnh tranh [34, 1982b]
Như vậy, bối cảnh của HTĐM mà nghiên cứu của Freeman đề cập là HTĐM ở các nước phát triển
Nghiên cứu về khái niệm HTĐM được tiếp tục thực hiện vào các thập niên
80, 90 của thế kỷ XX bởi các nhà kinh tế học như Freeman, Lundvall và các học giả của lý thuyết tiến hóa như Metcalfe, Nelson, Winter Theo các tác giả này, HTĐM
là một quá trình liên tục, nơi các thể chế (thói quen và cách hành xử), việc học hỏi, mạng lưới tác nghiệp đóng một vai trò trung tâm tạo ra đổi mới và sự thay đổi công nghệ Đây là dòng nghiên cứu về đổi mới theo thể chế, HTĐM được xem xét theo tầm bao quát khác nhau: HTĐMQG, HTĐM vùng và HTĐM ngành
Trong tác phẩm của mình công bố năm 1992, Lundvall đã giải thích chi tiết khái niệm HTĐM Theo Lundvall, HTĐMQG được hiểu là một hệ thống xã hội trong đó việc học tập, nghiên cứu và khai thác là những hoạt động trung tâm Tri thức là tài nguyên quý giá nhất trong các nền kinh tế hiện đại [40, 1992] Tiếp cận của Lundvall về HTĐM mang tính lý thuyết hơn các học giả khác và tập trung vào
ba vấn đề: Nguồn gốc của đổi mới, bản chất của đổi mới và những thể chế phi thị trường trong hệ thống, nghĩa là sự tương tác giữa người dùng và nhà sản xuất và những qui tắc bất thành văn trong hành xử
Nelson và Rosenberg trong một công bố năm 1993 cho rằng HTĐMQG là việc tạo lập những yếu tố thể chế, đồng thời đóng một vai trò chính trong việc ảnh
Trang 2111
hưởng tới tiến trình đổi mới Các tác giả nhìn nhận đổi mới đồng nghĩa với KH&CN, đổi mới được thực hiện theo mô hình: Khoa học – Công nghệ - Đổi mới HTĐM do vậy đồng nghĩa với hệ thống khoa học quốc gia, chính sách công nghệ quốc gia [7, 2008] Nghiên cứu này chưa đề cập đến các chính sách khác có tham gia vào quá trình đổi mới
Nghiên cứu của Phòng Công nghiệp và KH&CN của Australia năm 1996 tập trung vào các yếu tố tác động đến đổi mới kinh doanh trong phạm vi ngành Theo
đó, các nhân tố liên quan đến đổi mới kinh doanh gồm:
- Động lực đổi mới: Gồm các nhân tố năng động tác động trực tiếp đến hoạt động đổi mới của các hãng;
- Việc chuyển các cơ quan có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của những liên kết, các luồng thông tin và các kỹ năng, sự say mê học tập
- Nền tảng khoa học và kỹ thuật bao gồm các thể chế KH&CN
- Phạm vi thể chế rộng lớn của các nhân tố quốc gia và cơ cấu cũng như luật pháp, tài chính, giáo dục được nhóm lại để tạo nên những thước đo và hàng loạt các
cơ hội cho những người năng nổ
Nghiên cứu này mới tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến đổi mới kinh doanh trong phạm vi ngành, công ty, chưa đề cập đến cách thức liên kết giữa các thành tố của HTĐM để tạo ra sản phẩm đổi mới, nền kinh tế đổi mới ở các cấp
độ quốc gia, vùng
Nguyễn Võ Hưng đã phân tích các quan niệm khác nhau về đổi mới, từ đó đưa ra khái niệm của tác giả về đổi mới, phân tích cách tiếp cận HTĐM, HTĐMQG, HTĐM vùng và ngành Tác giả nhận định Việt Nam đang hình thành HTĐM Hệ thống đang hình thành này có đặc điểm:
- Tính không đầy đủ Do đang hình thành nên HTĐMQG ở Việt Nam chưa
có đủ các yếu tố như: Các loại tổ chức và liên kết giữa các tổ chức, thể chế thị trường và phi thị trường, thể chế chính sách
- Tương tác của doanh nghiệp là chủ đạo Các doanh nghiệp chủ yếu đầu tư, học hỏi nâng cao năng lực sản xuất, năng lực thiết kế, năng lực thị trường chưa phát triển Mặt khác, hệ thống pháp luật còn yếu, điều kiện về cầu không thuận lợi, sự bất ổn về kinh tế vĩ mô gây khó cho hoạt động đổi mới của doanh nghiệp
- Các tổ chức nghiên cứu, trường đại học đóng vai trò hỗ trợ thay vì dẫn dắt đổi mới Đại học ở các nước đang phát triển tham gia vào HTĐM chủ yếu với chức năng cung cấp một đội ngũ lao động qua đào tạo
Trang 2212
- Các thể chế chính thức còn thiếu và yếu
- Chính phủ bị phân tán bởi nhiều mục tiêu và phải ưu tiên nhiều thứ khác Với ngân sách hạn hẹp, khả năng quản lý có hạn, bị cạnh tranh bởi những ưu tiên cơ bản khác, nhiều chương trình tham vọng đã không đạt được kỳ vọng ban đầu [6, 2013]
Nghiên cứu về các HTĐMQG với ý định nhằm phát triển các chỉ số mô tả các dòng tri thức được trình bày trong tài liệu của Nguyễn Mạnh Quân [15, 2001] Tài liệu tập trung đánh giá các liên kết về tổ chức, nguồn cán bộ, các chùm ngành công nghiệp và hành vi của các doanh nghiệp đổi mới Phân tích về các dòng tri thức trong HTĐMQG, các tác giả đề cập đến vấn đề:
Thứ nhất là các hoạt động phối hợp trong công nghiệp Bởi vì khu vực kinh doanh là nơi tiến hành chủ yếu các hoạt động R&D và là khởi nguồn các đổi mới tại các nước OECD, nên một trong những dòng tri thức quan trọng nhất trong HTĐMQG là hợp tác kỹ thuật giữa các doanh nghiệp, kể cả chính thức và không chính thức Hợp tác kỹ thuật làm gia tăng năng lực, khả năng tìm kiếm và tiếp thu công nghệ mới Điều chưa chỉ ra được trong các nghiên cứu này là vai trò của tiếp xúc phi chính thức giữa các doanh nghiệp theo cả chiều dọc và chiều ngang
Thứ hai là quan hệ tương tác giữa khu vực công và tư nhân Theo tác giả, khu vực công bao gồm các trường đại học, viện nghiên cứu còn khu vực tư nhân là các doanh nghiệp Chất lượng của cơ sở hạ tầng nghiên cứu công và mối liên hệ với khu vực công nghiệp là tài sản quan trọng nhất của quốc gia trong hỗ trợ các đổi mới Các dòng tri thức lưu chuyển giữa khu vực công (trường đại học, viện nghiên cứu) và tư nhân (doanh nghiệp) có thể được đánh giá theo bốn kỹ thuật chính sau: Thống kê các hoạt động nghiên cứu phối hợp; Phân tích các sáng chế và ấn phẩm chung; Phân tích chỉ số trích dẫn; Điều tra tại các doanh nghiệp Đây sẽ là những gợi suy để nghiên cứu sinh thực hiện các điều tra phục vụ cho luận án của mình
Thứ ba là phổ biến công nghệ Tài liệu này đề cập đến ý nghĩa và những cản trở của quá trình áp dụng công nghệ của các doanh nghiệp
Thứ tư là di chuyển cán bộ Đây là kênh giao lưu tri thức chủ yếu trong HTĐMQG Đa số các nghiên cứu về phổ biến công nghệ đã chỉ ra rằng: Kỹ năng và năng lực liên kết của cán bộ là chìa khóa cho thực thi và áp dụng công nghệ mới
Sau cùng, nhóm tác giả đưa ra những kiến nghị về chính sách, bao gồm: Hoàn thiện chính sách liên kết và nâng cao năng lực tiếp thu công nghệ của các doanh nghiệp; đề cao vai trò của nghiên cứu phối hợp và hợp tác giữa doanh nghiệp
Trang 2313
– các tổ chức nghiên cứu công Đây là những gợi ý cho NCS để xác lập các chỉ báo nhằm khảo sát thực trạng liên kết tại các trường đại học, viện nghiên cứu như: Dòng chuyển giao nhân lực, kết quả nghiên cứu và trao đổi thông tin v.v
Về vai trò của lý thuyết đổi mới và điều kiện áp dụng
Bàn về vai trò của lý thuyết đổi mới trong việc vận dụng vào thực tiễn nhằm phát triển kinh tế - xã hội, Nguyễn Mạnh Quân [17, 2012] đã giới thiệu những nội dung cơ bản của học thuyết kinh tế học tân cổ điển, học thuyết kinh tế Keynes mới
và học thuyết kinh tế học đổi mới Việc so sánh ba học thuyết kinh tế trên về các tiêu chí như mục tiêu chủ yếu, đối tượng, quá trình kinh tế then chốt, lý thuyết thương mại, tổ chức của chính phủ, quỹ đạo hoạt động làm cơ sở để tác giả đưa ra các gợi suy cho Việt Nam về chính sách phát triển KH&CN theo tiếp cận đổi mới
Theo tác giả, nhiều nghiên cứu và kinh nghiệm hoạch định chính sách kinh tế tại Hoa Kỳ và một số nước phát triển trong thập kỷ gần đây đã cho thấy xu thế bất cập của kinh tế học tân cổ điển và kinh tế học Keynes mới trong giải thích nguyên nhân tăng trường và tạo lập khuôn khổ chính sách đổi mới phù hợp với bối cảnh nền kinh tế dựa trên tri thức trong thế kỷ XXI Việt Nam mặc dù có nhiều thành tựu về tăng trưởng kinh tế song những thành tựu đó chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp Có thể nhận định là mô hình và chính sách kinh tế áp dụng những năm gần đây ở Việt Nam dựa quá nhiều vào thâm dụng vốn đầu tư kiểu tân cổ điển hoặc các biện pháp kích cầu kiểu Keynes
Để có một tương lai phát triển bền vững và một nền kinh tế có năng lực đổi mới, sáng tạo cao khả dĩ, Việt Nam cần nhanh chóng chuyển sang mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, sử dụng nhiều hơn tri thức khoa học, công nghệ và đổi mới để tạo ra các hợp lực phục vụ phát triển Để có thể hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi đó, ít nhất về mặt lý thuyết, học thuyết kinh tế học đổi mới cần được nghiên cứu sâu hơn và đưa dần vào trong tư duy, cách tiếp cận và tạo lập khuôn khổ cho hoạch định chính sách đổi mới thay vì hoạch định riêng rẽ các chính sách kinh
tế, tài chính, tài khóa, chính sách công nghiệp và chính sách KH&CN như trong thực tế ở Việt Nam hiện nay
Như vậy, qua bài viết của tác giả Nguyễn Mạnh Quân, việc hoạch định chính sách quản lý cần được thực hiện theo tiếp cận HTĐM, nghĩa là phải hoạch định đồng bộ hệ thống các chính sách như giáo dục, khoa học, kinh tế, tài chính Những chính sách này là khuôn khổ pháp lý, là công cụ phục vụ cho hoạt động đổi mới mà trong đó doanh nghiệp là trung tâm Đây là những gợi suy cho các giải pháp chính
Trang 24Chương đầu tiên - Kinh tế tri thức đã phân tích các xu hướng và các tính năng, cung cấp một bức tranh tổng quát về kinh tế Sáu chương chuyên đề tập trung vào các lĩnh vực chính sách quan trọng đang được quan tâm Báo cáo cũng đề cập đến vai trò của đổi mới, các chỉ số liên quan đến đầu tư cho đổi mới như: Tài trợ công, thuế R&D, hợp tác trong khoa học, sở hữu trí tuệ, hỗ trợ doanh nghiệp v.v Đây là những thông tin góp phần khẳng định thêm sự cần thiết của đổi mới và những yếu tố cần chuẩn bị khi thực hiện liên kết để tạo ra sản phẩm đổi mới như mục tiêu của Luận án
Trong báo cáo của OECD còn đưa ra khái niệm “đổi mới mở” (open innovation) Theo đó, đổi mới mở là việc sử dụng các nguồn lực tri thức bên ngoài phục vụ cho hoạt động đổi mới [44, 124] Khái niệm “đổi mới mở” cũng được Henry Chesbrough định nghĩa là "một khung mẫu giả định rằng khi doanh nghiệp muốn cải tiến công nghệ thì có thể và nên sử dụng các ý tưởng bên ngoài cũng như các ý tưởng nội bộ, các kênh nội bộ cũng như ngoài tổ chức để tiếp cận thị trường" Đổi mới mở cũng có thể được hiểu là "đổi mới mà các đối tác cùng chia sẻ rủi ro và lợi nhuận" [43, 3] Như vậy, có thể hiểu để thực hiện đổi mới theo nghĩa hiện đại yêu cầu cần có sự tham gia không những của các chủ thể đổi mới mà còn phải quan tâm đến các nguồn lực hỗ trợ khác, môi trường và các yếu tố đảm bảo cho hoạt động đổi mới
Một trong những điều kiện để thực hiện đổi mới được phân tích sâu tại
nghiên cứu của trường đại học Quản lý Singapore trong bài viết “Công viên
KH&CN – một chất xúc tác đổi mới để tạo ra giá trị” Theo bài viết, công viên
KH&CN muốn vận hành tốt phải được quản lý một cách hiệu quả, tạo được môi trường thuận lợi để các thành tố chính của nó hoạt động như một mạng lưới mạnh
mẽ, thường xuyên Năm thành tố chính của công viên KH&CN gồm: Doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu thí nghiệm, chính phủ và các quỹ tài trợ Các yếu tố
Trang 2515
quan trọng được cho là tạo ra thành công của công viên KH&CN theo OECD gồm: Các nguồn tài nguyên với quy mô linh hoạt (có thể thích nghi với doanh nghiệp lớn, vừa, nhỏ hay khởi nghiệp); Các hội thảo, tập huấn; Các dịch vụ hỗ trợ; Mạng lưới hợp tác; Tiếp cận sớm khách hàng [43, 4]
Công viên KH&CN có vai trò cầu nối quan trọng để thực hiện đổi mới mở Đổi mới mở liên quan đến hai chiều dòng chảy của sở hữu trí tuệ và có lẽ đi kèm với vốn con người giữa các doanh nghiệp và người chuyển giao sở hữu trí tuệ cũng như nhân lực KH&CN từ trường đại học, viện nghiên cứu đến các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ Công viên KH&CN là cầu nối đa chiều một cách tự nhiên cho sự đổi mới mở trong các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp khởi nghiệp hay các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ Đây là một trong những gợi ý để Luận án đề xuất các giải pháp đảm bảo vận hành mô hình liên kết mới xây dựng
Bàn về các chính sách ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng, đổi mới và chuyển giao công nghệ trong các doanh nghiệp nông nghiệp ở Việt Nam, nhóm tác giả Trần
Ngọc Ca, Nguyễn Võ Hưng đã nhận định: “Chưa có chính sách nào trực tiếp quy
định về đổi mới công nghệ và chuyển giao công nghệ đối với các doanh nghiệp nông nghiệp vừa và nhỏ, các chủ trương này nằm rải rác đan xen trong nhiều văn bản chính sách” [2, 2012] Mặc dù ở Việt Nam hiện nay chưa có chính sách đổi mới
hoàn chỉnh song đã tồn tại một số chính sách thúc đẩy đổi mới gồm: Chính sách hỗ trợ chuyển giao công nghệ; Chính sách thuế; Chính sách nhân lực; Các chính sách
về nghiên cứu và tiếp thu công nghệ, tiếp cận thông tin và thị trường
Tuy nhiên, theo nhận định của tác giả, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chưa tận dụng được các hỗ trợ này, xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và từ phía chính sách của Nhà nước HTĐM với các tác nhân (trường, viện, doanh nghiệp) chưa liên kết chặt chẽ Nhiều kết quả tích cực của sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc vào những yếu tố không bền vững, các chức năng đổi mới trong hệ thống chưa được thực thi đầy đủ, các tác nhân đổi mới hoạt động không đồng đều, thậm chí nhiều trường hợp còn triệt tiêu nhau
Nghiên cứu này đã xây dựng một khung phân tích các chức năng đổi mới, nhấn mạnh về các hoạt động đổi mới, gồm các thành tố:
Thứ nhất là cung cấp đầu vào tri thức cho quá trình đổi mới Nhóm tác giả nhận định R&D là một cơ sở quan trọng cho đổi mới Một phần cũng rất quan trọng của quá trình đổi mới là xây dựng năng lực, bao gồm: Giáo dục và đào tạo chính
Trang 26- Học tập lẫn nhau, mạng lưới và liên kết tri thức Cách tiếp cận HTĐM nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau và sự phi tuyến tính Quá trình đổi mới không chỉ bị tác động bởi các thành phần của hệ thống mà cả bởi những mối quan hệ giữa chúng Mối quan hệ giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp chỉ được điều phối ở mức độ giới hạn thông qua thị trường Vì thế, cơ chế ươm tạo, khu công nghệ cao và quỹ đầu tư mạo hiểm có thể đóng vai trò hỗ trợ Như vậy khu vực công
có thể tạo ra các tổ chức để hỗ trợ đổi mới hoặc tạo ra các thiết chế để điều chỉnh quan hệ của khu vực nhà nước và khu vực công
- Tạo ra và hình thành các thiết chế Việc hình thành, xóa bỏ và thay đổi các thiết chế là những hoạt động chủ chốt để duy trì động lực của HTĐM Những thiết chế quan trọng trong HTĐM là luật SHTT, tiêu chuẩn công nghệ, luật về thuế, môi trường và các tiêu chuẩn an toàn, thủ tục đầu tư nghiên cứu và phát triển, quy định của công ty
Thứ tư là hỗ trợ các công ty đang đổi mới bằng việc ươm tạo, cung cấp tài chính và tư vấn
Tóm lại, các tác giả cho rằng cần có cách tiếp cận phù hợp và linh hoạt, không cứng nhắc đi theo cách tiếp cận của OECD về đổi mới và HTĐM Các vấn
đề kinh tế, xã hội, văn hóa, tập quán có ảnh hưởng không nhỏ đến việc vận hành các chức năng đổi mới trong các bối cảnh khác nhau Vai trò của các cá nhân, tập thể nhỏ đôi khi có ý nghĩa quyết định cho hoạt động đổi mới công nghệ Trong hệ thống lý luận quốc tế đang hình thành, cách tiếp cận HTĐM ở các quy mô khác nhau như HTĐM ở quy mô quốc gia, quy mô vùng hoặc ngành đang được sử dụng rộng rãi và đã có những ý nghĩa ban đầu đối với Việt Nam Thật vậy, trong bối cảnh
Trang 2717
một cuộc Cách mạng mới về KH&CN đang xuất hiện với ba yếu tố AI, IOT và in 3D đã có sự dịch chuyển các yếu tố tư liệu sản xuất, biến đổi nhanh chóng chất lượng của lực lượng sản xuất và năng suất lao động Hơn nữa một quốc gia không thể tách rời với bối cảnh quốc tế xung quanh, do vậy HTĐMQG cần được đặt trong mối quan hệ với chuỗi toàn cầu
Về vai trò của Nhà nước trong HTĐM
Trần Công Yên [31, 2012] đã bàn về khái niệm đổi mới, chính sách đổi mới, quản lý các dự án đổi mới và đặc biệt là phân tích về đổi mới trong các doanh nghiệp, vai trò của trường đại học và viện nghiên cứu trong hoạt động đổi mới
Trong quá trình hoạch định chính sách đổi mới, các tác giả cho rằng cần xác định rõ vai trò của Nhà nước, đặc biệt về ba vai trò chủ yếu sau: Hỗ trợ phát triển một môi trường thuận lợi cho hoạt động đổi mới thông qua việc tích hợp các lực lượng trong một hệ thống có lợi cho đổi mới; Cho phép các quá trình đổi mới diễn ra thông qua sự hợp tác chủ động; Hỗ trợ việc tạo ra đề xuất đổi mới có giá trị gia tăng cao thông qua việc hỗ trợ tạo ra tri thức và truyền bá tri thức từ thực tiễn tốt nhất
Về vai trò trong hoạt động đổi mới, nhóm nghiên cứu cho rằng trường đại học và viện nghiên cứu đóng vai trò là người nhận dạng công nghệ, giải mã công nghệ thông qua việc kiến tạo tri thức và nghiên cứu ứng dụng Trở ngại chính trong tiếp cận các thành tựu KH&CN tiên tiến trên thế giới nằm ở phía các doanh nghiệp, bởi vì tiếp cận của các nước đang phát triển như Việt Nam với kết quả nghiên cứu khoa học tạo ra từ các nước phát triển thường gặp phải các trở ngại như: Nhiều tri thức không thể truyền đi xa bằng các phương tiện truyền thông do chưa được mã hóa; Tri thức của người tiếp nhận, v.v Với mặt bằng trình độ KH&CN của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, mặc dù là nơi ứng dụng kết quả nghiên cứu nhưng họ không thể tự mình giải quyết những khó khăn trên Hệ thống các viện nghiên cứu, trường đại học chính là lực lượng hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứu từ bên ngoài
Đối với Việt Nam, việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học của viện, trường còn gặp nhiều vấn đề Nước ta đã thiết lập được quan hệ đối tác giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp nhưng chưa nhiều và thường tồn tại ở các hình thức như: Chia sẻ thông tin KH&CN, hợp tác nghiên cứu và phát triển, tổ chức sự kiện KH&CN Các tổ chức KH&CN trong nước thường nghiên cứu tiếp nhận những thành tựu KH&CN của thế giới và vận dụng vào Việt Nam, ít
Trang 2818
công trình sáng tạo Để việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu đạt hiệu quả trong thời gian tới, nhóm tác giả đã khuyến cáo một số lưu ý cho trường, viện gồm:
- Thương mại hóa kết quả nghiên cứu là một quá trình lâu dài, trung bình mất
7 – 12 năm để thu được lợi nhuận từ một sáng chế thành công
- Thành công của thương mại hóa kết quả nghiên cứu phụ thuộc vào năng lực đổi mới, năng lực tiếp thu và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp
- Sản phẩm của nghiên cứu khoa học là những hàng hóa đặc biệt, phần lớn là tài sản vô hình nên rất khó định giá
Để thúc đẩy mối liên kết ba bên này, nhóm tác giả cho rằng cần khuyến khích và hỗ trợ các trường đại học, viện nghiên cứu hình thành và phát triển các dịch vụ chuyển giao công nghệ, văn phòng SHTT
Tóm lại, những đề xuất và phân tích trong tác phẩm đã cho thấy một cái nhìn khái quát về đổi mới, chính sách đổi mới và các những vấn đề liên quan, gợi suy các giải pháp và điều kiện cần thiết để tạo dựng, thúc đẩy mối liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp Mặc dù tác phẩm cũng nêu một số trường hợp điển cứu về vận dụng đổi mới trong phát triển doanh nghiệp song chưa bàn luận sâu đến mối liên hệ ba bên mà luận án đang nghiên cứu, tác đề xuất cũng chỉ dừng lại ở tính gợi mở, chưa cụ thể
Vai trò của Nhà nước trong HTĐM đang hình thành ở Việt Nam được trình bày trong báo cáo của Nguyễn Võ Hưng [6, 2013] Theo đó, những lỗi hệ thống được chỉ ra như: Môi trường thể chế không thuận lợi cho tương tác học hỏi, đổi mới và hạn chế của các thực thể và tương tác trong hệ thống Trong bối cảnh đó, nhà nước thực hiện vai trò: Xây dựng nền tảng cho HTĐM: Xây dựng môi trường thể chế thân thiện với đổi mới, xây dựng nền tảng tri thức, chuẩn mực, năng lực công nghệ; Hỗ trợ đổi mới: Phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ, công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp học hỏi thông qua các kết nối và ươm tạo, đảm bảo tài chính cho đổi mới
Như vậy, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Võ Hưng đã chỉ ra một số giải pháp mang tính định hướng về vai trò của nhà nước đối với HTĐM ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra được một mô hình liên kết cụ thể giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp – một mắt xích quan trọng trong việc hình thành và phát triển HTĐM ở Việt Nam
Vai trò của các thành tố trong HTĐM, đặc biệt là Nhà nước được tác giả Đặng Duy Thịnh [25, 2012] đề cập trong bài viết của mình Trước hết tác giả đề
Trang 292000 và Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17/10/2002 hướng dẫn luật KH&CN đã quy định nhiều vấn đề về miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu đối với hoạt động R&D của doanh nghiệp; Luật chuyển giao công nghệ năm 2006, Luật Công nghệ cao năm 2008, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 đã quy định về Quỹ đầu tư mạo hiểm, miễn giảm thuế với hoạt động R&D và sản phẩm sản xuất thử
Về biện pháp thúc đẩy đầu tư cho R&D, tác giả cho rằng cần thực hiện tổng hợp các biện pháp cụ thể sau: Biện pháp tổ chức, hợp đồng kinh tế; Thông qua quỹ, chương trình, huy động vốn; Các biện pháp về thuế; Các biện pháp về tín dụng để khuyến khích cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, phát triển KH&CN; Các biện pháp về đầu tư mạo hiểm; Các biện pháp về nhân lực R&D; Các biện pháp về hạ tầng kỹ thuật cho R&D
Tiếp đó, tác giả đã phân tích về cơ chế thúc đẩy chuyển giao công nghệ với các nội dung như: Thể chế pháp luật, các chương trình KH&CN/kinh tế kỹ thuật của Nhà nước, hệ thống các tổ chức hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao công nghệ, chính sách thuế, tín dụng và các cơ chế, chính sách khác thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ Sau cùng, tác giả đã đi đến các kết luận:
Một là, cần triển khai mạnh việc chuyển đổi tổ chức KH&CN theo tinh thần Nghị định số 115/2005 và Nghị định số 96/2010; thành lập quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, chương trình đổi mới công nghệ quốc gia, quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia, quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp
Hai là, Nhà nước cần đánh giá sự tác động, hiệu lực của các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư cho R&D và chuyển giao công nghệ đã ban hành để nghiên cứu, cải tiến, hoàn thiện chính sách phù hợp với tình hình phát triển kinh tế -
xã hội và năng lực tiếp thu, làm chủ, cải tiến KH&CN của nước ta
Trang 3020
Ba là, để loại bỏ cơ chế tuyến tính trong cơ chế quản lý KH&CN và xây dựng cơ chế theo cách tiếp cận HTĐMQG thì cần lấy doanh nghiệp làm điểm khởi đầu và trung tâm cho mọi cơ chế, chính sách về hoạt động đổi mới, chuyển giao công nghệ Nhà nước và doanh nghiệp liên kết trong nâng cao đầu tư cho R&D và đẩy mạnh chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp cần được thực hiện trên quan điểm “hai bên cùng có lợi”, “Nhà nước và nhân dân cùng làm”
Như vậy, qua bài viết của Đặng Duy Thịnh, tiếp cận HTĐM lấy doanh nghiệp làm điểm khởi đầu, làm trung tâm của mọi cơ chế, chính sách về đối mới KH&CN Tác giả cũng nêu lên một số khuyến nghị về cơ chế, chính sách song lại chưa chỉ ra cụ thể cần làm thế nào để đảm bảo cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp và nhà nước là đôi bên cùng có lợi Bởi vì, trên thực tế mặc dù nhà nước đã ban hành nhiều chính sách miễn, giàm thuế khi doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn chưa “mặn mà” với ưu đãi này Phần lớn doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay phải lấy lợi nhuận trước mắt làm hướng đi, không muốn liên kết với viện nghiên cứu “từ A đến Z” vì muốn giữ bí quyết công nghệ cho riêng doanh nghiệp của mình Những nội dung này sẽ được Luận án tiếp tục phân tích ở các chương tiếp theo
1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về liên kết và các mô hình liên kết giữa trường đại học với viện nghiên cứu và doanh nghiệp
Nhóm tác phẩm nghiên cứu về liên kết và các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với trường đại học và viện nghiên cứu ở nước ta được tiến hành dưới da ̣ng các đề tài khoa học, các báo cáo trình bày trong các hội thảo , hô ̣i nghi ̣ khoa ho ̣c Do
vâ ̣y, các kết quả này thường đi sâu vào mô ̣t số khía ca ̣nh chính sách cu ̣ thể
Về liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp
Claes Brundenius và cô ̣ng sự trong mô ̣t nghiên cứu về chức năng thứ ba của trường đa ̣i ho ̣c năm 2009 và Yusuf, Nabeshin trong nghiên cứ u về các hình thức liên kết giữa nghiên cứu hàn lâm – công nghiê ̣p năm 2007 đã cố gắng làm rõ điều đó Kết luâ ̣n chung là: Trường đa ̣i ho ̣c là mô ̣t thiết chế (institution) quan tro ̣ng trong
xã hội tri thức Trường đa ̣i ho ̣c có chứ c năng cung cấp nguồn nhân lực sau đào ta ̣o
và tri thức (kết quả nghiên cứu ) cho xã hô ̣i , công nghiê ̣p [7, 2008] Brundenius và
cô ̣ng sự nhấn ma ̣nh rằng các nước đang phát triển không nên kỳ vo ̣ng thái quá vào những lĩnh vực công ng hê ̣ cao và đào ta ̣o trong các lĩnh vực này mà cần quan tâm đến việc khuyến khích đổi mới trong các khu vực công nghiệp thích hợp trong điều kiê ̣n khó khăn thiếu nguồn lực Sự liên kết nô ̣i ta ̣i trong các trường đa ̣i ho ̣c (giảng
Trang 3121
dạy và nghiên cứu ) tạo tiền đề quan trọng để phát triển mối liên kết với xã hội Mô ̣t
mă ̣t, các trường đại học nhận được kinh phí từ xã hội , cung cấp nguồn nhân lực cho
xã hội, tìm hiểu và phát hiện các vấn đề của th ực tiễn; mă ̣t khác các doanh nghiê ̣p cung cấp nguồn lực cho nghiên cứu , kinh nghiê ̣m thực tế cho nghiên cứu – đă ̣t ra nhu cầu và nguồn lực Đây chính là con đường dẫn đến chức năng thứ 3 của trường
đa ̣i ho ̣c – chức năng liên kết với công nghiệp nói riêng và với xã hội nói chung
Để thực hiê ̣n chức năng thứ 3 này, đối với các trường đa ̣i ho ̣c ta ̣i các nước đang phát triển thì viê ̣c hỗ trợ cho hoa ̣t đô ̣ng nghiên cứu là hết sức cần thiết Đây là phát hiê ̣n của Brundenius và cô ̣ng sự sau khi tiến hành mô ̣t nghiên cứu về ba chức năng của các trường đa ̣i ho ̣c ở 12 quốc gia Tác giả kết luận về sự cần thiết thực hiê ̣n nghiên cứu khoa ho ̣c và sự ủng hô ̣ của chính phủ cho hoa ̣t đô ̣ng này vì như trên đã nói đây chính là con đường tối ưu để dẫn tới mối liên kết chă ̣t chẽ giữa giáo du ̣c
và đào tạo với xã hội
Nghiên cứu của Sara Guri và cô ̣ng sự năm 2004 đã chỉ ra rằng hoa ̣t đô ̣ng nghiên cứu được thực hi ện ở hầu hết các trường đại học trên thế giới và kết quả hoạt động đó là một trong các chỉ số quan trọng trong xếp hạng (ranging) uy tín của các trường đại học [7, 2008] Không phải ngẫu nhiên mà không mô ̣t trường đại ho ̣c Nga nào được nằm trong danh sách 100 các trường đại học trên thế giới
Có lẽ đó hậu quả của một thời hành chính hóa khoa học cao độ của Liên Xô trước đây Tuy nhiên , cũng phải nhấn mạnh rằng , phần lớn các quốc gia trên th ế giới , hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu lý thuyết đều được tiến hành ở các trường đa ̣i ho ̣c Song bên ca ̣nh đó cũng còn nhiều quốc gia tiến hành các nghiên cứu này ta ̣i các trung tâm KH &CN uy tín như Pháp với CNRS , Đức với hiệp hội Max Plank hay các nước xã hội chủ nghĩa chuyển đổi Trung -Đông Âu với các viê ̣n hàn lâm khoa ho ̣c
Khi đề cập đến vai trò của trường đại học trong HTĐMQG, ở các quốc gia
có nền kinh tế thị trường phát triển, ví dụ như Thụy Điển, vị trí của trường đại học trong HTĐMQG được thể hiện qua các khía cạnh như:
- Sự mở rộng của đào tạo sau đại học Đây là một trong những bằng chứng cho thấy nhu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực có trình độ, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội
- Chủ thể nghiên cứu Trường đại học, viện nghiên cứu là những chủ thể chính thực hiện các nghiên cứu được đặt hàng của khu vực công Ở Thụy Điển, nguồn tài chính phục vụ cho nghiên cứu của các trường đại học, viện nghiên cứu
Trang 3222
được nhận từ liên minh châu Âu, ngành công nghiệp của Thụy Điển và các hiệp hội nghiên cứu Những nguồn tài trợ này chiếm khoảng 50% tổng kinh phí cho nghiên cứu của trường đại hoc, viện nghiên cứu Thụy Điển
- Các mối quan hệ phi chính thức Từ trước đến nay, rất nhiều trường đại học, viện nghiên cứu ở Thụy Điển liên kết với các doanh nghiệp thông qua vai trò truyền thống hàn lâm của họ Các mối quan hệ thường ở dạng chuyển giao các kết quả nghiên cứu đến những cá nhân có nhu cầu, giải quyết các vấn đề liên quan đến sinh viên và hoạt động tư vấn Vai trò chuyên môn của họ bị giới hạn nghiêm ngặt khi tham gia các hoạt động bán thời gian và tư vấn cá nhân Vì thế, khi tham gia các hoạt động hợp tác, họ bị giới hạn về thời gian và tài chính hỗ trợ và hiếm khi phát triển được thành mối quan hệ lâu dài với khách hàng Do vậy, có một khoảng cách
rõ rệt giữa hoạt động tư vấn và công việc hàn lâm
- Chức năng thứ ba Năm 1997, các trường đại học ở Thụy Điển đã được trao thêm chức năng thứ ba theo quy định tại Đạo luật về giáo dục đại học, ngoài chức năng đào tạo và nghiên cứu còn có chức năng hỗ trợ nền kinh tế và sự phát triển xã hội, giữ vai trò chủ chốt hơn trong việc đưa các kiến thức hàn lâm đến với toàn thể
Tổng quan nghiên cứu của các ho ̣c giả nước ngoài trên đây cho thấy hoa ̣t
đô ̣ng nghiên cứu như là mô ̣t hoa ̣t đô ̣ng bản năng của các trường đa ̣i ho ̣c ta ̣i các nước phát triển và kết quả của hoa ̣t đô ̣ng này được xem như là mô ̣t trong các chỉ số quan trọng để đánh giá , xếp ha ̣ng thứ bâ ̣c của các trường đa ̣i học Các nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng, đối với các nước đang phát triển hoă ̣c chuyển đổi như nước ta, mối liên kết nghiên cứu – giảng dạy trong các trường đại học cần được củng cố bởi nó là tiền đề quan tro ̣ng để liên kết với xã hô ̣i với tư cách là chức năng thứ 3 Nhưng các nghiên cứu này chỉ dừng la ̣i mức đô ̣ phát hiê ̣n , các khuyến nghị chính sách quá chung và thường khuyến nghi ̣ cho có đủ mă ̣c dù chúng có mang tính gợi suy Đối với các nước phát triển , chính sách đổi mới được hoạch định và vận dụng vào cuối những năm 1950 và trở nên phổ cập vào đầu thập kỷ 70 Vì vậy cũng là điều dễ hiểu
Trang 3323
vì sao các trường đại học của họ đạt được những thành tựu tầm cỡ quốc tế và có vai trò to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội
Về các nguồn lực phục vụ liên kết trong hoạt động KH&CN
Vụ Khoa học , giáo dục – Bô ̣ Kế hoa ̣ch và Đầu tư năm 1997 đã thực hiê ̣n
nghiên cứu “ Điều tra tài chính cho đào tạo ở Viê ̣t nam” Kết quả là các số liê ̣u về
tài chính chi cho các trường trong đó có tài chính chi cho hoa ̣t đô ̣ng nghiên cứu Vào thời kỳ , con số này thường rất nhỏ bởi nhu cầu , năng lực cho nghiên cứu của các trường là rất thấp Có lẽ đây là phát hiện duy nhất liên quan đến hoạt động nghiên cứu trong các trường đa ̣i ho ̣c của đề án này và vì vâ ̣y khuyến nghi ̣ về chính sách tăng cường nghiên cứu trong các trường đại học thuần túy mang tính gợi suy
Một nghiên cứu khác về lịch sử hình thành và thực trạng mối liên kết giữa trường – viện – doanh nghiệp ở Việt Nam phải kể đến là nghiên cứu của nhóm tác giả Lê Đình Tiến, Trần Chí Đức [24, 2001] Nghiên cứu đã trình bày về quá trình hình thành và phát triển hệ thống nghiên cứu – triển khai, hệ thống đào tạo sau đại học ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới và từ 1991 đến nay Nghiên cứu cũng phân tích, đánh giá về tình hình nhân lực nghiên cứu – triển khai và đào tạo trong các cơ quan nghiên cứu – triển khai và trường đại học Từ những số liệu điều tra, các tác giả đã chỉ ra rằng “nhân lực của các cơ quan R&D đã giảm sút nghiêm trọng trong giai đoạn 1985 – 1994, riêng trong khu vực Nhà nước giảm trung bình 10% hàng năm Số nhân lực R&D trong các trường đại học nói riêng và số giảng viên nói chung vẫn được duy trì và tăng lên do sự tăng nhu cầu học tập của nhân dân” Ở các phần tiếp theo, nhóm tác giả đã nghiên cứu về tài chính, cơ sở vật chất và hoạt động, liên kết giữa R&D và đào tạo sau đại học Qua những phân tích đó, nhóm tác giả đã đi đến các kết luận:
(1) Nghị định 35-HĐBT ngày 18/1/1992 đánh dấu mốc quan trọng trong đổi mới hoạt động KH&CN, cho phép các tập thể và cá nhân được thành lập tổ chức R&D, hoạt động theo cơ chế tự chủ về nhân lực, cơ sở vật chất và tài chính
(2) Nhân lực trong các cơ quan R&D ở thập niên 1990 có xu thế giảm, lực lượng nghiên cứu trong doanh nghiệp rất nhỏ Nhân lực cho R&D và đào tạo ở Việt Nam được phân bổ chủ yếu cho các trường đại học và viện nghiên cứu
(3) Kinh phí cho KH&CN từ ngân sách nhà nước hiện nay còn rất hạn hẹp (2% năm 2000), cùng với cơ chế quản lý chưa hiệu quả nên chất lượng hoạt động R&D còn thấp Ngân sách nhà nước cho hoạt động nghiên cứu hầu như chỉ cung
Trang 34(5) Hệ thống đánh giá hoạt động R&D thiếu các tiêu chuẩn về giá trị khoa học, chế độ bản quyền thiếu hiệu lực Nhóm tác giả nhận định thực trạng này là do tính dàn trải trong đầu tư cho khoa học cộng với việc đánh giá nghiệm thu đề tài còn mang tính hình thức
Về liên kết giữa viện và trường, các viện nghiên cứu tham gia tích cực vào các hoạt động đào tạo sau đại học, tuy nhiên có sự khác biệt trong các loại ngành khoa học được đào tạo Sự lưu chuyển cán bộ diễn ra theo chiều từ các trường sang các viện nhiều hơn là theo chiều ngược lại Việc các học viên sau đào tạo tại các viện, trường tham gia nghiên cứu chiếm tỷ lệ cao nhưng chủ yếu diễn ra trong hình thức đào tạo không tập trung
Về liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp, các trường đại học đã đóng góp tích cực cho nhu cầu xã hội về nhân lực trình độ cao Tuy nhiên, các cơ quan đào tạo là khách hàng lớn nhất của loại hoạt động này và doanh nghiệp còn ít được phục vụ Trong cơ cấu ngành nghề đào tạo còn tình trạng thiên lệch, các ngành gắn nhiều hơn với sản xuất thực tiễn còn ít được đào tạo Về loại hình cơ quan đặt hàng, các chương trình đào tạo sau đại học chủ yếu thực hiện theo đơn đặt hàng của Nhà nước và còn ít chương trình xuất phát từ nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp Việc lưu chuyển cán bộ cũng mới diễn ra giữa khu vực trường đại học và viện nghiên cứu, còn rất ít đối với khu vực sản xuất – kinh doanh
Về nguyên nhân cản trở mối liên kết trường – viện – doanh nghiệp
Năm 1997 -1999 mô ̣t dự án do SAREC – Thụy Điển tại trợ cho Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách KH &CN thực hiê ̣n về nghiên cứu và đào ta ̣o sau đa ̣i học ở Việt nam Nhóm thực hiện đã tiến hành điều tra , phân tích kết quả điều tra họat động nghiên cứu và đào tạo sau đại học của 28 trường đa ̣i ho ̣c, đã đưa ra 17 kết luâ ̣n và 7 khuyến nghi ̣ chính sách , trong đó có 9 kết luâ ̣n liên quan đến hoa ̣t đô ̣ng nghiên cứu ta ̣i các trường đa ̣i ho ̣c và đều là “âm tính” Đó là các kết luâ ̣n về đầu tư nhỏ không đáng kể, năng lực nghiên cứu yếu , thiếu, trình độ của các kết quả nghiên
Trang 3525
cứu thấp, mối liên kết giữa giảng da ̣y và đào ta ̣o , với thực tiễn – xã hội yếu thông qua số lươ ̣ng hợp đồng đã giao kết…Trong số 7 khuyến nghi ̣, có 4 khuyến nghi ̣ liên quan trực tiếp đến khuyến khích hoa ̣t đô ̣ng nghiên cứu trong các trường đa ̣i ho ̣c Trong đó đáng kể là khuyến nghi ̣ về tăng cường quyền tự chủ tự chi ̣u t rách nhiệm cho các trường đa ̣i ho ̣c - mô ̣t khuyến nghi ̣ mà thời nào cũng đúng bởi đó là quyền bẩm sinh của bất kỳ pháp nhân hay thể nhân nào Vấn đề là cơ chế và các biê ̣n pháp
cụ thể để thực hiện và việc tổ chức thực h iê ̣n la ̣i không được thiết kế Không phải ngẫu nhiên mà gần 30 năm nay (kể từ năm 1983) quy đi ̣nh ấy vẫn chưa được thực hiê ̣n triê ̣t để
Khi phân tích về kết quả liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu và doanh nghiệp, các tác giả Lê Đình Tiến, Trần Chí Đức đã nhận định: Thực tế sự phối hợp này còn kém và tồn tại những khó khăn như: Cơ chế quản lý còn hạn chế khả năng tìm kiếm cơ hội hợp tác; Quan hệ giữa các viện nghiên cứu chuyên ngành còn chưa chặt chẽ; Thiếu các cơ quan hoạt động môi giới hợp đồng trong nghiên cứu; Còn tồn tại tâm lý chưa coi trọng kết quả nghiên cứu trong nước hoặc tâm lý cục bộ gây cản trở hoạt động hợp tác nghiên cứu; chế độ sử dụng nhân lực kiêm nhiệm giữa viện – trường đại học – doanh nghiệp chưa rõ ràng [24, 2001]
Nguyễn Mạnh Quân và cộng sự lại cho rằng liên kết giữa các tổ chức nghiên cứu công và khu vực doanh nghiệp bị hạn chế bởi một số yếu tố về cơ cấu và sự trì trệ
Cơ sở hạ tầng R&D không đủ và việc thiếu các chương trình nghiên cứu áp dụng cho
khu vực tư nhân đã hạn chế sự phát triển những liên kết khoa học - công nghiệp Nói
chung, các mối liên kết ngành công nghiệp - trường đại học theo truyền thống yếu kém
và hoạt động kinh doanh cho đến gần đây vẫn là hiện tượng đơn lẻ [18, 2015]
Trước đây, các đặc điểm về cơ cấu đã hạn chế sự phát triển mối quan hệ công nghiệp - khoa học Ở nhiều nước, các hoạt động thương mại của các trường đại học và các nhà nghiên cứu đã (hoặc vẫn đang) chịu sự điều tiết cao hoặc bị cấm đoán theo quy định luật pháp khu vực công Các doanh nghiệp thường phàn nàn về
sự không tương thích của các chương trình giáo dục và nghiên cứu, và không phù hợp với các nhu cầu phát triển của ngành công nghiệp Sự cách biệt giữa các nhà nghiên cứu với các tổ chức R&D đã được trích dẫn là một trong những lý do của việc thực hiện yếu kém trong xây dựng năng lực công nghệ
Các khung chính sách đã không tạo điều kiện để đạt được lợi nhuận từ thương mại hóa công nghệ tại các trường đại học nghiên cứu ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp Nhiều cơ quan tài trợ nghiên cứu, đã nắm giữ (hoặc vẫn
Trang 3626
còn giữ) quyền SHTT từ nghiên cứu do nhà nước tài trợ được tiến hành tại các trường đại học Trong một số trường hợp, các chính sách không tương xứng vẫn chiếm ưu thế
Theo một nghiên cứu gần đây về các trường đại học Mỹ Latinh của Pila Network năm 2009, những hạn chế chính trong chuyển giao tri thức từ trường đại học cho ngành công nghiệp như sau: i) thiếu năng lực nghiên cứu trong các tổ chức (đủ mạnh để cung cấp các giải pháp công nghệ cho các vấn đề của doanh nghiệp); ii) chất lượng và các yêu cầu công nghệ cần để cạnh tranh toàn cầu; iii) không khuyến khích và sẵn sàng hợp tác với khu vực sản xuất; iv) sự công nhận hạn chế các hoạt động chuyển giao công nghệ trong chương trình giảng dạy; v) thiếu khuôn khổ thể chế cho các trường đại học thương mại hóa các dịch vụ và công nghệ; vi) thiếu chuyên môn và nhân lực có trình độ để quản lý chuyển giao công nghệ tại các văn phòng chuyển giao công nghệ của các trường đại học, và viii) thiếu một khuôn khổ quy chuẩn và các chính sách rõ ràng để quản lý những liên kết thể chế với khu vực tư nhân [18, 2015]
Về các giải pháp tăng cường mối liên kết trường – viện – doanh nghiệp
Nghiên cứu của Nguyễn Thi ̣ Minh Nga năm 2000 về tổ chức nghiên cứu và triển khai trong trường đa ̣i ho ̣c , tâ ̣p trung điều tra khảo sát 2 trung tâm nghiên cứu thuô ̣c trường đa ̣i ho ̣c Bách khoa và trường Kinh tế quốc dân Các khuyến nghị của nghiên cứu này chủ yếu xoay quanh cơ chế tổ chức cho hoa ̣t đô ̣ng nghiên cứu trong trường đa ̣i ho ̣c Các vấn đề còn lại vẫn còn để ngỏ trong nghiên cứu này
Tác giả Lê Đình Tiến, Trần Chí Đức cũng đưa ra giải pháp tăng cường liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp gồm một số nội dung:
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới đánh giá kết quả thực hiện nhiệm
vụ KH&CN Các đề tài, dự án nghiên cứu ứng dụng phải xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cần thường xuyên tổng kết rút kinh nghiệm để nhân rộng các điển hình về liên kết nghiên cứu
- Xây dựng một số trường đại học đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, vừa là trung tâm đào tạo chất lượng cao, vừa là trung tâm mạnh về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chủ động hội nhập và tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế
- Tăng cường liên kết giữa đào tạo và nghiên cứu thông qua biện pháp sáp nhập một số viện nghiên cứu và trường đại học Xây dựng cơ chế tạo động lực thu hút cán bộ các viện nghiên cứu tham gia đào tạo và giảng viên đại học tham gia nghiên cứu Cân nhắc chủ trương chuyển các viện nghiên cứu vào doanh nghiệp
Trang 3727
bằng biện pháp hành chính; khuyến khích thành lập cơ sở sản xuất, doanh nghiệp trong các viện nghiên cứu và trường đại học; khuyến khích các doanh nghiệp lập ra
tổ chức R&D theo hướng hình thành các học viện và doanh nghiệp KH&CN
- Đa dạng hóa nguồn tài chính cho nghiên cứu và đào tạo: Ngoài kinh phí từ ngân sách Nhà nước, trên cơ sở cở chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, các trường đại học và viện nghiên cứu có thể khai thác các nguồn tài chính khác như: Hợp tác quốc
tế, liên kết với doanh nghiệp thông qua hợp đồng nghiên cứu
- Tạo lập cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động, tài chính và nhân
sự, hợp tác quốc tế trong các viện và trường để nâng cao tính chủ động, sáng tạo cho các khu vực này Nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật [23, 2001]
Như vậy, các tác giả đều khẳng định sự cần thiết của việc liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu đổi mới hiện nay Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa hướng đến một trường hợp cụ thể để phân tích các yếu tố liên quan nên những đề xuất mới mang tính chung chung, khái quát
Về các mô hình liên kết
Năm 2004, các nghiên cứu của Gibbons và cộng sự , V.P Soloviov đã chỉ ra các mô hình liên kết nghiên cứu – giảng dạy nội tại các trường đại học, với hê ̣ thống các tổ chức R &D và với thực tiễn xã hô ̣i thông qua viê ̣c hình thành các nhóm nghiên cứu theo kiểu ad-hoc, các phòng thí nghiệm dùng chung hoặc hội nghị khách hàng Hình thức ad– hoc và phòng thí nghiê ̣m dùng chung cũng khá được phổ biến
- Mô hình "Khoa học mở" trong đó các PRO không nắm giữ bất cứ quyền SHTT nào, các tổ chức nghiên cứu công (trường đại học, viện nghiên cứu) được
Trang 3828
thừa nhận là nguồn lực của đổi mới thông qua hai con đường chủ yếu sau: Công bố các kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học; Hợp đồng với ngành công nghiệp, trong đó các PRO đóng góp cho sự phát triển các công nghệ mới Ở đây không có
sự cần thiết phải quản lý tài sản trí tuệ, bởi các PRO không nắm giữ chúng và do đó cũng không cần đến các văn phòng chuyển giao công nghệ Đổi mới hoàn toàn phụ thuộc vào trách nhiệm và sự chuyên nghiệp của công nghiệp tư nhân Mô hình
"Khoa học mở" hấp dẫn đối với các nhà khoa học, bởi vì nó làm hài hòa giá trị phổ
quát của khoa học và với dòng chảy không bị hạn chế các thông tin mới Chất lượng
và danh tiếng của các nhà nghiên cứu được đo bằng số lượng và chất lượng các công trình công bố đã được bình duyệt
- Mô hình nhượng quyền (Licensing model): Luật Bayh-Dole của Hoa Kỳ đã khuyến khích mạnh mẽ các PRO trong việc nhận tài trợ nghiên cứu từ chính phủ liên bang để xúc tiến chức năng chuyển giao công nghệ Các đặc điểm chính của bộ luật này là: Quyền sở hữu đối với các sáng chế do chính phủ liên bang tài trợ thuộc
về trường đại học, trừ khi trường đại học từ chối không nhận danh hiệu; Trường đại học cần chia sẻ một phần thu nhập từ khai thác bản quyền với nhà phát minh; Chính phủ nắm quyền march-in right (quyền phát hành mới hoặc thu hồi một giấy phép)
để tiến hành thương mại hóa nếu như người nhận thầu không thực hiện trọn vẹn các nghĩa vụ như đã được quy định theo luật; Ưu tiên cấp phép li-xăng cho các doanh nghiệp nhỏ; Nếu như giấy phép độc quyền được trao ở Hoa Kỳ, thì người được cấp phép li-xăng phải đồng ý "về cơ bản" là sẽ chế tạo các sản phẩm được cấp phép trong biên giới nước Hoa Kỳ
Do mục đích đặt ra của bộ luật này là tạo điều kiện thúc đẩy chuyển giao công nghệ phục vụ sử dụng và vì lợi ích công cộng, sự hình thành các Văn phòng chuyển giao công nghệ gần như là điều tất yếu Ở mô hình nhượng quyền, các trường đại học, viện nghiên cứu bắt đầu nắm giữ, bảo vệ và thương mại hóa các sáng chế từ các công trình nghiên cứu của mình, thông qua con đường cấp phép li-xăng quyền SHTT cho ngành công nghiệp hay cho các công ty mới khởi nghiệp Có thể nói, luật Bay-Dole là luật “công ty hóa” trường đại học, tăng cường tối đa chức năng thứ ba của trường đại học
- Mô hình đổi mới: Trong mô hình này, mô hình nhượng quyền tuy vẫn còn quan trọng nhưng đã được bổ sung bằng một chính sách tích cực hơn thúc đẩy hợp tác nghiên cứu với ngành công nghiệp, và chủ động tham gia vào sự hình thành các công ty spin - off Theo mô hình đổi mới, có hai con đường chủ yếu đối với các tổ
Trang 39Lý thuyết về đổi mới sáng tạo hiện nay chỉ ra rằng, đổi mới hiệu quả không phải
là một quy trình tuyến tính và nó cần đến những thông tin phản hồi và tương tác thường xuyên ở các mức độ khác nhau giữa giới khoa học và ngành công nghiệp Khía cạnh
này cũng phản ánh định nghĩa đã được sửa đổi về đổi mới, đó là "sự chuyển hóa tri
thức mới thành những lợi ích kinh tế và xã hội - giờ đây được công nhận là diễn ra như kết quả của những mối tương tác phức hợp lâu dài giữa nhiều thành phần tham gia"
Đây chính là điều mà mô hình đổi mới đặt mục tiêu hướng đến
Tuy nhiên, theo nhóm tác giả, mô hình đổi mới vẫn cần thiết tồn tại song song với mô hình khoa học mở Mô hình "Khoa học mở" đã chứng tỏ rất có hiệu quả trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học và tri thức Mô hình này có thể thích hợp hơn với các lĩnh vực khoa học nền tảng hay cơ bản và các khoa học xã hội Trong những trường hợp nhất định, khi công nghệ có những ảnh hưởng rộng và khi sự không tương hợp với lợi ích tư nhân có thể gây bất lợi cho lợi ích công cộng, mô hình khoa học mở thậm chí còn được coi là hiệu quả nhất để thúc đẩy đổi mới Quản lý SHTT trong trường hợp này đóng một vai trò rất hạn chế
Sau khi phân tích các ưu, nhược điểm của các mô hình và kinh nghiệm quốc
tế trong việc chuyển giao tri thức, nhóm tác giả Nguyễn Mạnh Quân, Đặng Bảo Hà, Nguyễn Lê Hằng đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm áp dụng thành công mô hình nhượng quyền - Đạo luật Bayh-Dole – gồm:
Về phía Chính phủ: Cần có Luật sáng chế ổn định và minh bạch với sự thực thi hiệu quả Chính phủ vẫn giữ vai trò là nguồn tài trợ cho giáo dục kỹ thuật và khoa học, nghiên cứu và cơ sở hạ tầng liên quan, là điều kiện cần thiết để cho nghiên cứu của các trường đại học không bị ảnh hưởng bởi ngành công nghiệp và thương mại Tài trợ của nhà nước dồi dào cho phép các giáo sư và các nhà nghiên cứu toàn tâm vào nghiên cứu học thuật (chứ không phải nghiên cứu ứng dụng) Quỹ nghiên cứu quốc gia cũng cho phép lực lượng học thuật này thực hiện nghiên cứu
cơ bản, dẫn đến sự tăng trưởng trong các lĩnh vực mới của KH&CN Cuối cùng, tài trợ nhà nước dồi dào cung cấp vốn sở hữu cần thiết để hình thành các công ty mới
từ những đổi mới của trường đại học Ngoài ra, chính phủ về cơ bản nên cho phép các trường đại học tự chủ trong nghiên cứu, do đó, vô số các dự án nghiên cứu khác
Trang 4030
nhau có thể được theo đuổi Hơn nữa, chính phủ không nên cố chỉ đạo ngành công nghiệp Nhu cầu thị trường sẽ dẫn dắt ngành công nghiệp, do đó, nhu cầu sẽ kéo theo thương mại hóa Cuối cùng, các trường đại học phải là một thực thể pháp lý độc lập với chính phủ
Về phía trường đại học: Hợp đồng lao động rõ ràng và phù hợp với các chính sách và hướng dẫn chính thức về bằng sáng chế Quyền sở hữu bằng sáng chế được phát triển với sự tài trợ của chính phủ nên trao cho các trường đại học Điều này có thể được thực hiện bằng pháp luật và/hoặc bằng hợp đồng lao động Việc thành lập một văn phòng chuyển giao công nghệ có khả năng và kinh nghiệm thích hợp là điều cần thiết để thương mại hóa các sáng chế của trường đại học, cấp phép li-xăng công nghệ, quản lý giảng viên và các nhà nghiên cứu trong trường đại học [18, 2015] Tóm lại, đối với các nước thu nhập trung bình và thấp, các chính sách chuyển giao công nghệ tốt nhất sẽ là chính sách đáp ứng tốt hơn các nhu cầu chuyển giao công nghệ quốc gia, phù hợp với các hoàn cảnh địa phương và với sự đồng thuận của các thành phần liên quan
Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế (12/2005): “Chính sách nghiên cứu và đào
tạo trong quá trình chuyển đổi ở Việt nam” do trường đa ̣i ho ̣c Khoa học Xã hội và
Nhân văn - Đa ̣i ho ̣c quốc gia Hà nô ̣i tổ chức có khá nhiều báo cáo nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu và triển khai trong trường đại học và mô hình đại học định hướng nghiên cứu Các tác giả Vũ Cao Đàm , Hoàng Văn Luân, Mai Hà, Đào Thanh Trường đã đề câ ̣p những nét cơ bản về giải pháp nâng cao năng lực R &D và chính sách thúc đẩy liên kết đào tạo với nghiên cứu trong trường đại học Giải pháp tổ chức về xây dựng trường đa ̣i ho ̣c đi ̣ nh hướng nghiên cứu được tác giả Tri ̣nh Ngo ̣c Thạch và Trương Quang Học trình bày Nhìn chung, kết quả hô ̣i nghi ̣ là các khuyến nghị xung quanh việc tăng cường đầu tư , kinh phí cho R&D, hình thành các thể chế khoa ho ̣c trong trườn g đa ̣i ho ̣c để sớm hình thành đa ̣i ho ̣c đi ̣nh hướng nghiên cứu ở Viê ̣t Nam
Về mô hình đa ̣i ho ̣c đi ̣nh hướng nghiên cứu , cần phải kể đến báo cáo
“Phương hướng , yêu cầu và giải pháp phát triển mô hình đại học nghiên cứu”
đươ ̣c tr ình bày trong Hội thảo về “Đổi mới tổ chức , cơ chế quản lý , cơ chế hoa ̣t
đô ̣ng KH&CN” do Ban Tuyên giáo Trung ương và Bô ̣ KH &CN phối hợp tổ chức
Đa ̣i ho ̣c đi ̣nh hướng nghiên cứu là mô hình phổ biến , phát triển tốt ở các nước k hu vực và trên thế giới , song đang còn là vấn đề treo của nước ta Đây cũng sẽ là vấn
đề sẽ được góp bàn trong luận án này