Vì thế việc nghiên cứu văn hóa làng đồng bằng sông Hồng trong quá trình đô thị hóa có thể tổng kết và khái quát được một số khía cạnh cơ bản của quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
Phạm Quỳnh Chinh
VĂN HÓA LÀNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
Phạm Quỳnh Chinh
VĂN HÓA LÀNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNXHKH
Mã số: 62 22 85 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG VĂN THỊNH
PGS.TS NGÔ THỊ PHƯỢNG
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN
Luận án Tiến sĩ
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Tên luận án không trùng với bất cứ nghiên cứu nào đã được công bố Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận án đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Phạm Quỳnh Chinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bản luận án này được hoàn thành với sự nỗ lực học tập, nghiên cứu khoa học của bản thân cùng với sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên từ các thầy
cô, đồng nghiệp, gia đình và bè bạn
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Dương Văn Thịnh và PGS.TS Ngô Thị Phượng, hai thầy hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, cung cấp thông tin, tư liệu quý báu và giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án, cũng như trong quá trình nghiên cứu khoa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến những nhà nghiên cứu trong và ngoài Trường, các thầy giáo cô giáo và đồng nghiệp ở Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, những người đã chỉ bảo, góp ý, gợi mở cho tôi những ý tưởng khoa học, động viên, khích lệ tôi hoàn thành luận án
Tôi cũng gửi lời tri ân tới gia đình, bè bạn, những người luôn bên cạnh, động viên, khích lệ, chia sẻ, gánh vác công việc, tạo điều kiện để tôi hoàn thành nhiệm vụ khoa học của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Phạm Quỳnh Chinh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 4
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án 4
5 Những đóng góp mới của luận án 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 5
7 Kết cấu của luận án 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6
1.1 Các công trình nghiên cứu về văn hóa làng và văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng 6
1.2 Các công trình nghiên cứu về đô thị hóa và đô thị hóa ở đồng bằng
sông Hồng 14
1.3 Các công trình nghiên cứu về văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa
ở đồng bằng sông Hồng 19
1.4 Đóng góp của các công trình đã tổng quan và những vấn đề luận án
tiếp tục nghiên cứu 28
Chương 2 BIẾN ĐỔI CỦA VĂN HÓA LÀNG TRONG QUÁ TRÌNH
ĐÔ THỊ HÓA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 31
2.1 Quan niệm về văn hóa làng và văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng 31
2.1.1 Quan niệm về làng và văn hóa làng Việt 31
2.1.2 Đặc trưng văn hóa làng vùng đồng bằng sông Hồng 40
2.2 Quan niệm về đô thị hóa và đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng 48
2.2.1 Quan niệm về đô thị và đô thị hóa 48
2.2.2 Đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng hiện nay 53
2.3 Quan niệm về biến đổi văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng trong
quá trình đô thị hóa 58
2.3.1 Khái niệm biến đổi văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng 58
2.3.2 Cấp độ biến đổi văn hóa và những yếu tố tác động đến sự biến đổi
văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng 61
2.3.3 Biểu hiện của sự biến đổi văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa
ở đồng bằng sông Hồng 65
Tiểu kết chương 2 74
Trang 6Chương 3 BIỂN ĐỔI VĂN HÓA LÀNG TRONG QUÁ TRÌNH
ĐÔ THỊ HÓA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 75
3.1 Biến đổi văn hóa làng biểu hiện trên lĩnh vực phong tục - tập quán 75
3.1.1 Biến đổi văn hóa làng biểu hiện trong hôn nhân 76
3.1.2 Biến đổi văn hóa làng biểu hiện trong tang ma 80
3.1.3 Biến đổi văn hóa làng biểu hiện trong tôn giáo, tín ngưỡng 83
3.2 Biến đổi văn hóa làng biểu hiện trên lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật 88
3.2.1 Biến đổi văn hóa làng biểu hiện trong sinh hoạt và tổ chức lễ hội 88
3.2.2 Biến đổi văn hóa làng biểu hiện trong hoạt động văn hóa - văn nghệ 93
3.3 Biến đổi văn hóa làng biểu hiện trên lĩnh vực tổ chức quản lý
cộng đồng làng 97
3.3.1 Biến đổi văn hóa làng biểu hiện ở hương ước 98
3.3.2 Biến đổi văn hóa làng biểu hiện ở dòng họ 104
3.4 Những vấn đề đặt ra từ sự biến đổi của văn hóa làng dưới tác động
của quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng hiện nay 108
3.4.1 Bất cập giữa giữa tăng trưởng kinh tế và biến đổi văn hóa làng
ở đồng bằng sông Hồng 108
3.4.2 Khác biệt giữa các nhóm dân cư về việc tiếp nhận sự biến đổi
văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng trong quá trình đô thị hóa 111
3.4.3 Mâu thuẫn giữa việc bảo tồn các di sản văn hóa với việc nâng cao,
hiện đại hóa đời sống văn hóa cho cư dân ở đồng bằng sông Hồng trong quá trình biến đổi văn hóa làng 114
Tiểu kết chương 3 118
Chương 4 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỊNH HƯỚNG SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA LÀNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY 119
4.1 Quan điểm cơ bản định hướng sự biến đổi văn hóa làng trong quá trình
đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng hiện nay 119
4.2 Một số giải pháp chủ yếu định hướng sự biến đổi văn hóa làng
trong quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng hiện nay 127
4.2.1 Nâng cao nhận thức của tổ chức Đảng, chính quyền và nhân dân
đồng bằng sông Hồng về xây dựng đời sống văn hóa mới trong cộng đồng làng hiện nay 127
4.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn đảm bảo hài hòa giữa phát huy vai trò của các thành phần kinh tế với phát triển văn hóa làng
ở đồng bằng sông Hồng 130
Trang 74.2.3 Tăng cường đổi mới và tiếp tục xã hội hóa việc xây dựng đời sống
văn hóa làng 133
4.2.4 Xây dựng những chuẩn mực của lối sống đô thị hiện đại,
lành mạnh hóa các quan hệ xã hội và quan hệ gia đình 137
4.2.5 Tiếp tục hoàn thiện quy hoạch và phát triển đô thị 141
4.2.6 Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa làng ở đồng bằng
sông Hồng 144
Tiểu kết chương 4 147
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 163
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với một nước có phần lớn dân số sống và làm việc tại khu vực nông thôn như Việt Nam thì việc nghiên cứu về làng, văn hóa làng và sự biến đổi của văn hóa làng là một khâu cần thiết và rất quan trọng Điều đó góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa không chỉ ở nông thôn mà còn trên cả nước, trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đô thị hóa hiện nay Văn hóa làng, nhất là ở đồng bằng sông Hồng, thể hiện tập trung nhiều giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam Làng là cơ sở xã hội của văn hóa với tính chất là một công xã nông thôn Trong lịch sử, nhìn chung nhà nước không can thiệp sâu vào nội bộ của từng làng, cho nên làng cơ bản là một thiết chế xã hội - văn hóa có tính tự trị Cùng với sự xuất hiện của làng, văn hóa làng ra đời và trở thành nét đặc trưng của văn hóa dân tộc Văn hóa làng là văn hóa của một cộng đồng với bản sắc riêng, gồm toàn bộ đời sống và hoạt động của làng với những đặc điểm mang tính truyền thống từ ăn, ở, đi lại, cách thức tổ chức, lối ứng xử, văn hóa nghệ thuật, (ca dao, tục ngữ, dân ca, nghệ thuật chèo, quan họ, hát xoan…) cho đến lệ làng, hương ước Có thể coi văn hóa làng là khuôn mẫu ứng xử nằm sâu trong quan hệ giữa người với người Quan hệ giữa người với thiên nhiên, và quan hệ giữa các cộng đồng làng với nhau được tổng kết qua kinh nghiệm sống đã trở thành văn hóa Bản sắc văn hóa làng Việt là sự thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa Việt Nam - văn hóa gốc nông nghiệp
Những năm gần đây, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã thúc đẩy kinh tế và văn hóa, ở cả đô thị và nông thôn phát triển khá nhanh, hệ quả tất yếu
là đã và sẽ thúc đẩy đô thị hóa tại nhiều vùng nông thôn Bởi lẽ, đô thị vừa là kết quả
cơ bản, vừa là môi trường thiết yếu cho việc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhưng đây là hiện tượng kinh tế - văn hóa phức tạp Đô thị hóa đòi hỏi con người phải hoạt động, kể cả sinh hoạt, theo tốc độ và cách thức vận động, phát triển của nó, nghĩa là, ở nơi nào đã diễn ra quá trình đô thị hóa thì nơi ấy đòi hỏi một lối sống, một cách thức ứng xử văn hóa không hoàn toàn giống với lối sống văn hóa làng
Cho đến nay đặc trưng của đô thị Việt Nam là chưa đứt đoạn hoàn toàn với
mô hình văn hóa nông nghiệp - nông thôn Đó là sự đan xen giữa nông thôn và thành thị ở nhiều phương diện, không gian địa lý, cơ sở hạ tầng, dân cư, các hoạt
Trang 9động kinh tế, văn hóa và lối sống Vấn đề đặt ra là làm thế nào tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa để tạo nên sự thay đổi đời sống kinh tế - xã hội của nông thôn nhưng không mất đi bản sắc văn hóa làng Việt Nam Trong xu thế phát triển chung của thế giới và đất nước, văn hóa làng Việt đang đứng trước một thách thức to lớn là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa truyền thống và đổi mới, giữa dân tộc và hiện đại Làng Việt vừa phải đổi mới, hiện đại hóa, lại vừa phải giữ được bản sắc căn cốt của văn hóa dân tộc Trong quá trình đó, yếu tố cổ truyền nào của làng Việt được bảo lưu, yếu tố nào đang bị mai một trước sự tác động khá toàn diện và sâu sắc của đô thị hóa, là vấn đề hiện đang được các nhà khoa học và quản lý quan tâm, nghiên cứu
Sự biến đổi văn hóa làng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng đang diễn ra toàn diện, sâu sắc, song cũng không tránh khỏi theo hướng tự phát ở phương diện này hay phương diện khác, từ cách thức sản xuất, trao đổi đến tiêu dùng, từ nếp ăn, ở, đi lại đến nếp ứng xử, cách vui chơi giải trí Sự phân hóa xã hội và phân tầng xã hội - văn hóa trong cộng đồng làng đồng bằng sông Hồng đã làm biến đổi toàn diện, sâu sắc những giá trị căn cốt của văn hóa làng, như coi trọng tình nghĩa, tính cộng đồng, tương thân tương ái Những biểu hiện tự phát càng làm biến động các giá trị ấy, nhất là trước sự xâm lấn của các chuẩn mực hiện đại thuộc về đời sống đô thị, như quan hệ hàng - tiền, tính
cá nhân, lối sống thị dân Những biến đổi ấy cho thấy phát triển văn hóa chưa đi liền với tăng trưởng kinh tế
Văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đô thị hóa diễn ra khá đồng đều tại các tỉnh, thành đồng bằng sông Hồng Cho đến nay, tuy chưa có bước phát triển đô thị một cách tập trung và đột phá tại đồng bằng sông Hồng, nhưng do văn hóa nơi đây vốn tập trung
rõ nét và sâu sắc nhiều giá trị văn hóa Việt Nam cổ truyền nên quá trình biến đổi của nó bộc lộ nhiều mâu thuẫn trong quan hệ giữa nông thôn và đô thị, giữa truyền thống và hiện đại Vì thế việc nghiên cứu văn hóa làng đồng bằng sông Hồng trong quá trình đô thị hóa có thể tổng kết và khái quát được một số khía cạnh cơ bản của quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đô thị hóa
Trang 10Con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là một phương thức phát triển có văn hóa Trên con đường phát triển này, đời sống văn hóa tinh thần giữ vị trí, vai trò rất quan trọng Quan niệm này càng có ý nghĩa thực tiễn, khi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đô thị hóa ở Việt Nam nói chung và ở đồng bằng sông Hồng nói riêng, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đang làm thay đổi nhận thức và cách thức ứng xử của không ít người, từ chỗ thiên về các giá trị tinh thần như trong nền văn hóa truyền thống Việt Nam sang thiên về các giá trị vật chất, có khi thái quá Kết quả nghiên cứu văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa có thể góp phần tìm ra cách tiếp cận đúng hơn đối với vị trí, vai trò của đời sống văn hóa tinh thần trên con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Vì những lý do đó, tôi chọn
vấn đề“Văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng hiện nay”
làm đề tài luận án tiến sĩ, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích của luận án
Trên cơ sở lý luận chung về văn hóa làng, đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng
và biến đổi văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng, luận án làm rõ thực trạng biến đổi văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng dưới tác động của quá trình đô thị hóa,
từ đó đề xuất những giải pháp định hướng những biến đổi đó vì mục tiêu phát triển bền vững
2.2 Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và chỉ ra những vấn đề cần đi sâu nghiên cứu trong luận án
- Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận chung về văn hóa làng, đô thị hóa
và biến đổi văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng dưới tác động của quá trình đô thị hóa
- Phân tích thực trạng biến đổi văn hóa làng trên một số lĩnh vực cơ bản dưới tác động của quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng, khái quát những vấn đề đặt ra từ sự biến đổi ấy
- Đề xuất một số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu định hướng sự biến đổi văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự biến đổi văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng trong quá trình đô thị hóa Đây chính là biểu hiện thực chất văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
Văn hóa làng là lĩnh vực rộng, luận án chỉ tập trung vào nghiên cứu biến đổi của văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng trên một số lĩnh vực của đời sống văn hóa, xã hội như: phong tục - tập quán, văn hóa - nghệ thuật, tổ chức quản lý làng xã trong giai đoạn đổi mới đất nước
Phạm vi về thời gian: Từ Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1998) cho đến nay
Phạm vi về không gian: nông thôn đồng bằng sông Hồng bao gồm 11 tỉnh nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh có quá trình đô thị hóa cao như: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn của luận án
Luận án được thực hiện trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự vận dụng của Đảng được thể hiện trong đường lối, chủ trương, chính sách, luật pháp của Đảng, Nhà nước về làng, văn hóa làng, đô thị, đô thị hóa, quản lý đô thị v.v , đồng thời dựa trên cơ sở thực tiễn biến đổi văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa vùng đồng bằng sông Hồng trong những năm gần đây
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
- Phương pháp tiếp cận nghiên cứu của luận án: phương pháp logic - lịch sử; phương pháp liên ngành triết học, xã hội học; phương pháp phân tích so sánh và
hệ thống
- Phương pháp tiến hành nghiên cứu: Khảo cứu tài liệu trong và ngoài nước, điền dã…
5 Những đóng góp mới của luận án
- Luận giải từ góc độ triết học sự biến đổi của văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng trên một số phương diện cơ bản như: phong tục- tập quán; văn hóa - nghệ thuật; tổ chức quản lý làng xã
Trang 12- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những biến đổi tích cực và hạn chế biến đổi tiêu cực của văn hóa làng vùng đồng bằng sông Hồng trong quá
trình đô thị hóa, góp phần xây dựng nông thôn phát triển toàn diện, bền vững
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về văn hóa làng và thực tiễn biến đổi của văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng trong quá trình đô thị hóa hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các vấn đề liên quan đến văn hóa, văn hóa làng, nông thôn Việt Nam ở các cơ sở giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương,
13 tiết
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu về văn hóa làng và văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng
Làng, văn hóa làng nói chung và văn hóa làng vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng là đối tượng nghiên cứu vừa phong phú vừa phức tạp, thu hút nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu Mặc dù đứng dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau với mục đích, quan niệm và phương pháp khác nhau nhưng những nhận định của họ đều có giá trị lịch sử, góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về văn hóa làng xã Việt Nam
Cuốn sách Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng (1991), NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội của tác giả Vũ Tự Lập là một trong những công trình tiêu biểu có nhiều đóng góp vào nghiên cứu về văn hóa làng Đứng dưới góc nhìn của các nhà địa lý, tác giả đã nghiên cứu không gian địa lý văn hóa của một lãnh thổ cụ thể là đồng bằng sông Hồng với các tỉnh, huyện của nó Cuốn sách này, tác giả đã nghiên cứu khung cảnh môi trường tự nhiên của văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng
và cho rằng cư dân chính là người sáng tạo ra văn hóa đồng bằng sông Hồng Văn hóa đồng bằng sông Hồng dưới góc nhìn của tác giả là một vùng văn hóa đặc sắc của Việt Nam, bao gồm 3 vùng, vùng địa văn hóa thềm phù sa cổ, vùng địa văn hóa châu thổ trung tâm, vùng địa văn hóa duyên hải Cuốn sách đã khái quát những đặc trưng của văn hóa đồng bằng sông Hồng, từ văn hóa phong tục ăn, ở, mặc, đi lại, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa pháp lý, văn hóa dân gian, tính cộng đồng cộng cảm cộng mệnh và tính tự quản, tự trị của cộng đồng làng đồng bằng sông Hồng
Những năm 1996, 1997, 1998, 1999 đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu
về văn hóa làng và làng văn hóa Điển hình là: Hoàng Anh Nhân, Văn hóa làng và
làng văn hóa xứ Thanh, (1996), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Văn
Trường, Văn hóa làng xã huyện Phúc Thọ, (1997), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Văn Mạnh, Văn hóa làng và làng văn hóa ở Quảng Ngãi, (1999),
NXB Thuận Hóa… Nhìn chung, đây là những cuốn sách thể hiện sự suy tư của các nhà nghiên cứu về văn hóa, văn hóa làng và việc bảo lưu, giữ gìn các giá trị văn hóa làng thông qua việc xây dựng làng văn hóa Theo đó, các tác giả này đều chung quan điểm cho rằng văn hóa làng có thể hiểu một cách khái quát nhất là “bản sắc riêng của làng, là toàn bộ cuộc sống của làng với những đặc điểm mang tính chất
Trang 14truyền thống từ ăn, ở, đi lại, mọi hoạt động, cách tổ chức, những quy ước, lối ứng
xử, những phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng cho đến cả tâm lý của mọi thành viên trong làng với những đặc trưng riêng của nó”[105, tr.32] Đó là “kết quả của quá trình lao động đầy sáng tạo nhưng vô cùng gian nan vất vả của bao thế hệ
đã qua”[105, tr.46] Vì vậy, khi tiến hành xây dựng làng văn hóa phải dựa trên cơ sở văn hóa làng Các tác giả trên cũng đã so sánh và chỉ ra sự khác nhau giữa văn hóa làng và làng văn hóa để từ đó thấy được văn hóa làng và làng văn hóa không có gì mâu thuẫn, thậm chí còn là cơ sở để tạo điều kiện cho nhau tồn tại và phát triển Cũng nghiên cứu về vấn đề này, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Viện Viễn Đông Bác Cổ phối hợp
thực hiện công trình Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ Đây là
cuốn sách nghiên cứu sâu sắc về làng xã và đời sống làng xã Việt Nam trong lịch
sử Mười tám bài viết cùng nhiều bản đồ phác họa và hình ảnh minh họa được tập hợp nghiên cứu về làng xã Việt Nam thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng được khởi đầu từ năm 1996, dưới sự cộng tác của tác giả Nguyễn Duy Quý, Lê Bá Thảo và Phillippe Papin.Thông qua việc nghiên cứu đặc trưng tiêu biểu của làng
Mộ Trạch (Hải Dương), làng Hay (Phú Thọ), làng Tả Thanh Oai (Hà Nội) và làng Ninh Hiệp (Hà Nội), các tác giả đã dựng lên một không gian làng với cảnh quan nông nghiệp cùng con người và xã hội ở đồng bằng Bắc Bộ, từ đó nhìn thấy sự biến đổi về hôn nhân, về dòng họ, về tôn giáo, về hiện tượng di dân và các hoạt động kinh tế nông nghiệp nông thôn
Diệp Đình Hoa (2000), Người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, chi tiết và đồ sộ (1026 trang) về người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ Từ môi trường sống (điều kiện tự nhiên, địa lý, địa hình) đến lịch sử của quá trình chiếm lĩnh vùng đồng bằng Bắc bộ của người Việt Đặc biệt, cuốn sách (với 9 chương mục) đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh về đồng bằng Bắc Bộ vào cuối thế kỷ XX với nhiều mảnh ghép, từ tự nhiên đến kinh tế xã hội, từ văn hóa đến nghệ thuật, tâm linh Đó là những tư liệu quý giá cho tác giả luận án này khi nghiên cứu về biến đổi của văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng
Vũ Duy Mền (2001), (chủ biên), Hương ước làng xã Bắc Bộ Việt Nam với
luật làng Kanto Nhật Bản (thế kỷ XII - XIX), Viện Sử học, Hà Nội Đây là công
trình nghiên cứu công phu về sự tương đồng và khác biệt giữa hương ước (của
Trang 15làng xã Việt Nam) và luật làng (làng xã vùng Kanto của Nhật Bản) Các tác giả không những chỉ ra nguồn gốc ra đời của hương ước và luật làng, còn phân tích cả nội dung, vai trò của nó đối với đời sống nhân dân làng xã Tác giả cho rằng hương ước và luật làng có sự khác nhau về tính pháp chế Tính pháp chế của hương ước thấp hơn so với luật pháp và luật làng Luật làng đề cao tính pháp chế, quy định xử phạt hà khắc, ít thấy quy định tặng thưởng Mặc dù, không thể so sánh với luật pháp nhưng tính khả thi của nó trong thực tế cao Vì thế, đời sống của người nông dân Nhật Bản cũng khác với người nông dân đồng bằng Bắc Bộ, như kết luận của tác giả: Sự hiện diện của luật làng khiến những người nông dân Nhật Bản sớm quen với pháp trị, luật trị hơn là đức trị theo kiểu hương ước Và từ đức trị đến pháp trị đó là cả một chặng đường mà các làng xã dù ở Kanto hay ở Bắc Bộ đều phải trải qua để tiến tới nền văn minh chung Qua cuốn sách, không chỉ cho chúng ta hình dung về một hai bức tranh làng xã ở Nhật Bản và Việt Nam khá rõ nét mà còn thấy rõ vai trò của hương ước khi nghiên cứu về sự thay đổi của
nó trong quá trình đô thị hóa hiện nay
Nguyễn Viết Chức (2002), (chủ biên), Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với
môi trường thiên nhiên, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Nội dung
cuốn sách bàn về mối quan hệ giữa môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội và môi trường văn hóa, ứng xử văn hóa truyền thống của người Việt Nam - người Hà Nội với môi trường thiên nhiên, phát huy các giá trị truyền thống ứng xử với thiên nhiên của người Hà Nội trong điều kiện hiện nay, văn hóa ứng xử với thiên nhiên của người
Hà Nội trước thách thức của toàn cầu hóa, phương hướng, quan điểm, giải pháp xây dựng văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thủ đô Hà Nội Một điểm cần nhấn mạnh
là công trình này trực tiếp bàn về văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên, nên có thể kế thừa một số quan niệm, cách thức đánh giá biến đổi của văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa ở đồng bằng Bắc Bộ
Piere Gourou (2003), Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ do Hội Khoa học lịch
sử Việt Nam, Viện Viễn Đông Bác Cổ - NXB Trẻ xuất bản Trong đó Pierre Gourou đã nghiên cứu chi tiết về người nông dân, nông nghiệp gia đình, về hệ thống nông nghiệp và địa lý nhân văn của châu thổ sông Hồng Từ việc nghiên cứu môi trường vật chất như địa hình, khí hậu, hệ thống sông ngòi tác giả đã đi vào nghiên cứu tỉ mỉ cư dân nông thôn và phương tiện sống của nông dân Bắc Kỳ thông
Trang 16qua lịch sử di dân đến châu thổ Bắc Kỳ, mật độ dân số, sự vận động của dân số, làng mạc, nhà cửa, nông nghiệp, vấn đề sở hữu đất nông nghiệp, công nghiệp làng
xã và trao đổi hàng hóa ở nông thôn diễn ra như thế nào Điển hình khi nghiên cứu
về làng, tác giả cho rằng làng mạc ở châu thổ Bắc Kỳ khiến người ta phải chú ý do cảnh quan (một ngôi làng có ranh giới rõ ràng của bờ rào bao bọc xung quanh, nó được bao bọc bởi một rào tre với những ngọn cây dày đặc tạo thành một lũy vững chắc), do làng còn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh và xã hội của người nông dân Tác giả nghiên cứu diện tích và cư dân, nghiên cứu các địa vực
cư trú thông qua làng trên đất cao, các loại làng khác, làng đông dân, làng thưa dân, nghiên cứu các thành phần của làng từ rào làng, lối đi vào làng, bên trong làng, ao làng, giếng làng, các kiến trúc công cộng và đời sống tôn giáo, đời sống chính trị, đời sống xã hội của người nông dân Nông dân không phải là những cá thể sống cô độc mà tham gia một cách nhiệt tình, chân thành vào những hoạt động của làng Vì thế nông dân - dưới con mắt nghiên cứu của Gourou - hiện lên rất chi tiết và sắc nét P.Gourou đã thực hiện nhiều cuộc điều tra trên thực địa, tiếp xúc với nông dân, chú
ý đến cấu trúc gia đình, tín ngưỡng tôn giáo, tập quán ăn uống dẫn đến phương thức
sử dụng đất Có thể nói, đây là một tác phẩm đặc sắc đã nghiên cứu khá chi tiết và nghiêm túc về nông dân và đời sống của người nông dân ở châu thổ sông Hồng, cho đến nay, nó vẫn còn mang tính thời sự
Trịnh Cao Tưởng (2005), Thành Hoàng ở Việt Nam và Shinto ở Nhật Bản –
Một nghiên cứu so sánh, NXB Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội Trong
cuốn sách này, tác giả đã trình bày rất chi tiết nguồn gốc ra đời và sự phong phú của Thành hoàng làng ở Việt nam và Shinto ở Nhật Bản, từ đó, so sánh sự giống và khác nhau để thấy điểm tương đồng và khác biệt giữa đời sống tâm linh của người dân miền Bắc và miền Nam, của Nhật Bản và Việt Nam Mặc dù, không nhắc nhiều
về làng xã ở Nhật Bản nhưng qua cách so sánh của tác giả, người đọc có thể hiểu thêm về tín ngưỡng làng xã ở đồng bằng sông Hồng nói riêng và Việt Nam nói chung Cuốn sách này góp phần cho người đọc hiểu thêm về sự đa dạng về tín ngưỡng làng xã ở đồng bằng sông Hồng
Khi nghiên cứu về làng, về văn hóa làng, không thể không nhắc đến tác giả
Phan Đại Doãn với một loạt các cuốn sách nghiên cứu về làng xã như:Mấy vấn đề
về văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử, (2004), NXB Chính trị quốc gia; Làng Việt Nam đa nguyên và chặt, (2006), NXB Đại học quốc gia Hà Nội; Làng xã Việt
Trang 17Nam - Một số vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội, (2010), NXB Chính trị quốc gia; Từ làng đến nước - Một cách tiếp cận lịch sử, (2010) NXB Đại học Quốc gia Hà Nội…
Các công trình trên chủ yếu đề cập đến kết cấu kinh tế - xã hội ở nông thôn truyền thống như tái sản xuất tiểu nông, ruộng công, ruộng tư và kinh tế hộ gia đình, sự kết hợp giữa nông thôn và thành thị Theo tác giả, đặc trưng của làng Việt Nam là một cộng đồng đa chức năng nhưng có sự liên kết chặt chẽ Làng Việt Nam không chỉ là một khu vực cư trú đơn thuần của gia đình tiểu nông mà chính bản thân nó còn là một tổ chức sản xuất, tổ chức quân sự, một tổ chức xã hội, “cộng đồng làng
là một sự hợp thành một hệ thống có gia đình cá thể, có họ hàng, có phường hội, có xóm giáp và những mối liên kết vật chất và tinh thần như tộc ước, phường lệ, hương ước và tín ngưỡng tôn giáo, hội hè, đình đám”[20, tr.97] làm cho con người không tồn tại với tư cách cá nhân độc lập mà phải luôn là thành viên trong một cộng đồng nhất định Trong làng có sản xuất và tái sản xuất, nhưng tái sản xuất nhỏ tiểu nông ở Việt Nam trong lịch sử có điểm khác so với sản xuất nhỏ trên thế giới Đây là một loại kinh doanh có tính chất tổng hợp trên cơ sở của nền nông nghiệp lúa nước, và tái sản xuất không ổn định mặc dù có tính chất mở rộng Xuất hiện kinh tế hàng hóa, sự trao đổi hàng hóa diễn ra ở chợ làng song quy mô nhỏ, vốn liếng ít, “lấy công làm lãi” nên kinh tế hàng hóa và sản xuất nông nghiệp hòa lẫn vào nhau, trở thành nhân tố kìm hãm quá trình đô thị hóa và sự phát triển của xã hội Do đó, thành thị ở Việt Nam ra đời sớm nhưng không phản ánh sự phát triển của phân công lao động và trao đổi hàng hóa
Tác giả cũng đề cập đến gia đình, dòng họ của người Việt, quá trình hình thành và vai trò của hương ước làng xã, các thiết chế chính trị xã hội ở nông thôn Việt Nam, tôn giáo, tín ngưỡng Xuất phát từ góc độ lịch sử, xã hội học gắn với thực tiễn nước ta và kinh nghiệm của các nước, những nghiên cứu của tác giả Phan Đại Doãn chủ yếu tập trung phân tích những vấn đề chính từ truyền thống đến hiện đại, từ kết cấu kinh tế đến kết cấu văn hóa, xã hội của làng xã Việt Nam Qua đó, có thể thấy vấn đề sở hữu ruộng đất và kinh tế hộ gia đình rất quan trọng trong chiến lược đưa làng xã phát triển theo mô hình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vẫn đảm bảo kết hợp hài hòa giữa văn minh hiện đại và bản sắc văn hóa truyền thống xóm làng Theo tác giả, văn hóa làng có nội dung rất phong phú, nhiều khi làng đã giải thể, nhưng văn hóa làng vẫn tiếp tục tồn tại lâu dài và “giao lưu văn hóa kinh tế đã làm cho văn hóa làng có nét chung, đồng dạng về tư tưởng, về tín
Trang 18ngưỡng, về kiến trúc” nhưng “xét tổng thể cho thấy không có sự đối lập văn hóa giữa làng với làng, giữa làng với nước”[20, tr.25]
Cùng với tác giả Phan Đại Doãn trong cuốn sách Làng Việt Nam đa nguyên
và chặt của khoa Lịch Sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học
quốc gia Hà Nội, còn có một số bài viết của các tác giả khác như “Cấu trúc làng xã
ở đồng bằng Bắc Bộ và mối quan hệ của nó với nhà nước thời Lê” của tác giả Yu
Insun, “Làng Việt với phố, trước phố” của nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Kế, “Biến
đổi kinh tế và nếp sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ trong thời gian qua” của tác giả Nguyễn Đình Lê Các tác giả này đã khẳng định tính chất truyền
thống trong làng xã, tuy nhiên thông qua việc nghiên cứu một làng cụ thể như Đồng
Kỵ, Trang Liệt hay Dục Tú, để khẳng định sự vận động của làng trong giai đoạn mới, do đó “làng không phải là cộng đồng khép kín, hoàn toàn bị cô lập”[84, tr.49]
Sự biến đổi của làng, biến đổi của lối sống, nếp sống là điều tất yếu Vì vậy, làng trở thành một bộ phận không thể thiếu trong quá trình phát triển đô thị hiện đại
Công trình của các nhà nghiên cứu trên rất sâu sắc Nhóm tác giả đã xây dựng một bức tranh tương đối hoàn chỉnh, chi tiết về làng xã Việt Nam trong lịch
sử Đây là những tác phẩm có giá trị khi nghiên cứu về làng xã Việt Nam Luận án
đã kế thừa những tri thức sâu rộng về kết cấu kinh tế, kết cấu xã hội và kết cấu văn hóa làng Việt, từ đó làm cơ sở nghiên cứu sự biến đổi làng xã Việt Nam trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ hiện nay
Nguyễn Văn Cương (2006), Mỹ thuật ở đình làng đồng bằng Bắc Bộ, NXB Văn
hóa thông tin, Hà Nội Đây là quá trình nghiên cứu về mỹ thuật đình làng Tuy nhiên, trong cuốn sách này, tác giả có khái quát chung về đồng bằng Bắc Bộ và làng ở đồng bằng Bắc Bộ thông qua yếu tố tự nhiên, yếu tố lịch sử và xã hội của làng Việt Theo tác giả, hầu hết các nền văn minh lớn trên thế giới đều bắt nguồn từ những dòng sông, văn hóa Việt được hình thành ở đồng bằng Bắc Bộ, nơi có con sông Hồng là nguồn nước cho cư dân Việt cổ định cư Đồng bằng Bắc Bộ là địa bàn của làng Việt cổ Ở
đó, làng hình thành, phát triển và trở thành một yếu tố cơ bản, một hằng số của văn hóa Việt Nam Không chỉ khái quát những điểm riêng biệt của đồng bằng Bắc Bộ, tác giả còn khái quát về quá trình hình thành và phát triển của làng trong lịch sử, cơ sở hành chính, cơ sở kinh tế của làng, những đặc trưng văn hóa, tôn giáo Từ góc nhìn văn hóa, mỹ thuật, tác giả cho rằng, đình làng thể hiện tâm thức phồn thực và cái nhìn sinh thái nhân văn, từ đó, tác giả nêu ra ý nghĩa và biểu tượng của những mô típ trang
Trang 19trí trong điêu khắc đình làng Mỹ thuật đình làng còn phản ánh bản sắc văn hóa dân tộc, vì vậy cần phải bảo tồn và phát huy di sản này
Hội Khoa học lịch sử Việt Nam (2007), Làng Việt đối diện tương lai, hồi
sinh quá khứ của NXB Đà Nẵng là công trình nghiên cứu của nhà nhân học người
Hà Lan John Kleinen chủ biên, đã chứng tỏ “cuốn sách không đơn thuần chỉ là một công trình của lý trí, mà còn là kết quả của sự gắn bó chân thành của tác giả với con người Việt Nam, tình yêu của ông với đất nước Việt Nam”[83, tr.7] Tác giả đã nghiên cứu sự biến đổi xã hội hai ngôi làng nổi tiếng của tỉnh Hà Tây cũ Nhưng để làm được điều đó, tác giả đã phải đi ngược thời gian tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của làng qua các giai đoạn: thành lập, đấu tranh cách mạng và đặc biệt là thời kỳ hợp tác hóa Bằng nhiều phương pháp khác nhau, tác giả đã chỉ ra một số yếu tố bất biến trong đời sống làng xã Những yếu tố ấy có thể chìm đi nhưng không mất hẳn, có lúc lại trở thành vai trò chủ đạo, cụ thể là mối quan hệ thân tộc, dòng họ, đời sống tinh thần và các nghi lễ, tính tự trị, tính cố kết của làng… Cũng theo tác giả, rất khó có thể mô tả đầy đủ, chi tiết, toàn diện về làng Việt điển hình vì mỗi làng lại có một phong cảnh, đặc điểm, điều kiện sống khác nhau, nhưng khi nghiên cứu nông thôn Việt Nam, đặc biệt là nông thôn miền Bắc cho thấy “làng là nơi dân cư ẩn mình sau những rặng tre, và truyền thống thì được lưu giữ từ đời này sang đời khác”[83, tr.9] nhưng đó không phải là những ngôi làng bất biến theo thời gian Qua quá trình nghiên cứu, tác giả cho rằng xã hội làng xã ở châu thổ đồng bằng Bắc Bộ luôn cởi mở và phóng khóang hơn nhiều
so với những gì mà tài liệu của các học giả Pháp và Việt Nam từng nghiên cứu, do
đó, để nhận thức đầy đủ về sự biến động của làng xã trong bối cảnh mở cửa chuyển sang nền kinh tế thị trường, người dân làng quê đang hòa nhập hơn với bối cảnh rộng lớn xung quanh, cần phải “hồi sinh quá khứ” bởi “hồi sinh” dường như
là “câu hỏi cần thiết đối với câu hỏi cái gì được coi như sự phát triển của mối đe dọa về kinh tế và chính trị đối với văn hóa nói riêng hoặc đối với các vấn đề bản sắc”[83, tr.242]
Mai Văn Hai (2009), Gia đình, dòng họ và thôn làng với tư cách là các giá trị
cơ bản của văn hóa làng Việt, tạp chí Xã hội học, số 1 (105) Khác so với rất nhiều
quan điểm lo ngại rằng trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đô thị hóa nhanh và mạnh, cùng với sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường sẽ làm ba giá trị cơ bản của văn hóa làng (gia đình, dòng họ và thôn làng) đang mất dần đi ý
Trang 20nghĩa với người dân làng xã Tác giả bài viết thông qua những số liệu điều tra thực
tế cho thấy ba yếu tố trên có sự biến đổi mạnh mẽ về mặt thiết chế, tất yếu cũng có
sự biến đổi về mặt giá trị nhưng không phải theo chiều hướng bị lãng quên và mai một dần Gia đình biến đổi theo chiều hướng no đủ, bình đẳng và ngày càng văn minh sẽ ngày càng làm tăng thêm vai trò của gia đình Đây là nơi “ không chỉ đáp ứng nhu cầu tình cảm và tái sinh giống nòi mà còn là nơi tốt nhất cho việc di dưỡng tuổi già, cho sự phát triển của trẻ em”[57, tr.37] Tương tự như vậy, dòng họ và thôn làng cũng vẫn được người dân nhiệt tình tham gia, không phải do tính chất kéo
bè kéo cánh mà do nó tạo ra “một nền cộng cảm dựa trên huyết thống”, là chỗ dựa vững chãi của từng thành viên Từ đó, tác giả khẳng định “trong điều kiện kinh tế -
xã hội mới, cụ thể là trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường mà gia đình, dòng họ và thôn làng đã chứng minh thêm được sức sống của mình, tức là đã có thêm ý nghĩa mới mà trước đây chưa hề có”[57, tr.41]
Vũ Ngọc Khánh (2010), Văn hóa làng ở Việt Nam, NXB Văn hóa - Thông
tin Hà Nội cũng nghiên cứu chi tiết về văn hóa làng Cuốn sách đề cập đến cơ cấu làng Việt, việc thành lập làng, chính quyền làng và kinh tế ở làng xã và tín ngưỡng, tôn giáo của người dân làng Qua đó, tác giả cho người đọc thấy người dân trong làng không có hoạt động tôn giáo rành mạch, rõ ràng như ở đô thị mà họ tin và thờ
cả Trời, Phật, Thánh, Thần Họ có tinh thần mộ đạo nhưng không theo hẳn một tôn giáo nào Tín ngưỡng của người Việt rất thực tiễn, tâm lý thiên về sự cân bằng, sự
bù đắp, mong mỏi một kết thúc có hậu, nỗi khổ hôm nay phải được bù đắp về sau Con người tin có cõi tiên nhưng cần cuộc sống thực ở chốn nhân gian vì vậy họ muốn được sống và chết ở làng Cũng vì thế mà họ không sợ hãi trước cái chết mà chỉ sợ chết tha phương, không được quay về quê hương Đây cũng là một vấn đề văn hóa của làng Cùng với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, cuốn sách cũng đề cập đến dòng họ và hương ước - hai thiết chế không thể thiếu trong làng Trong quá trình vận động của lịch sử, dòng họ và hương ước có một vai trò quan trọng và tác động lớn lao đến văn hóa làng Đặc điểm văn hóa dân gian ở làng thông qua văn học nghệ thuật, kho tàng văn hóa phi vật thể và các lễ hội của làng cũng là vấn đề được tác giả quan tâm ở cuốn sách này
Nhìn chung, viết về làng, văn hóa làng Việt đã và đang là đối tượng của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Đây thực sự là “mảnh đất” vô cùng phong phú để các học giả xem xét trên những góc độ và khía cạnh khác nhau
Trang 21Nhưng dù có khai thác ở những góc nhìn khác nhau thì họ đều dựng nên một bức tranh sinh động về làng xã Việt Nam truyền thống Qua một số công trình trên cho thấy các tác giả cung cấp cho luận án những lý luận chung về làng xã Việt Nam nói chung và ở đồng bằng sông Hồng nói riêng, từ đó luận án kế thừa để thực hiện nhiệm vụ của mình
1.2 Các công trình nghiên cứu về đô thị hóa và đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng
Nguyễn Duy Quý (1998), (chủ biên), Đô thị hóa trong quá trình công nghiệp
hóa, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Đây là cuốn sách tập hợp nhiều bài viết của các
tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu về quá trình đô thị hóa ở Nhật Bản và một số nước châu Á Sự phát triển nhanh và mạnh của đô thị đã tạo ra cho Nhật Bản, Trung Quốc một bộ mặt văn minh mới Quá trình đó vừa là kết quả, vừa là nguyên nhân của quá trình phát triển kinh tế Song, tốc độ đô thị quá nhanh ở các nước này còn gây ra hàng loạt các vấn đề nghiêm trọng khác, như môi trường ô nhiễm, nạn ùn tắc giao thông, sự chênh lệch lớn về mức sống Việc khái quát những cái được và chưa được trong quá trình đô thị hóa của một số nước, nhằm mục đích tìm những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam - một nước đang trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cuốn sách có thể làm tài liệu tham khảo khi đưa ra những giải pháp cho văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa Đô thị hóa là tất yếu, cuốn vào cơn lốc của sự phát triển ấy, cần phải tỉnh táo, đưa ra được những giải pháp để quá trình đô thị hóa vùng đồng bằng sông Hồng được phát triển lành mạnh và bền vững, góp phần phát huy những giá trị tốt đẹp văn hóa làng vùng đồng bằng sông Hồng
Nghiên cứu về đô thị hóa ở Hà Nội, các tác giả Lê Du Phong, Nguyễn Văn
Áng, Hoàng Văn Hoa (2002), (đồng chủ biên), Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nông
thôn ngoại thành Hà Nội Thực trạng và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội Theo các nhà nghiên cứu, đô thị hóa là quá trình tất yếu diễn ra trên tất cả các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Do đó, ngay chương đầu tiên, tác giả đề cập đến đô thị và vai trò của đô thị trong nền kinh tế quốc dân; đô thị hóa và sự hình thành các đô thị mới ở Việt Nam, đó là “sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao… đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ngày một được cải thiện và nâng cao”[111, tr.208]; các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa; các hình thái biểu hiện của đô thị hóa; kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh cũng như một số nước và vùng lãnh thổ trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình
Trang 22đô thị hóa Đô thị hóa ở Việt Nam có thể diễn ra theo chiều rộng và chiều sâu nhưng đều dẫn tới xu hướng hình thành các trung tâm thương mại, công nghiệp dịch vụ lớn trong các khu đô thị và các vùng ngoại ô; mở rộng các đô thị hiện có và chuyển một
số vùng nông thôn thành đô thị Vì vậy, cần phải giải quyết hàng loạt các vấn đề như: mở rộng diện tích đất đô thị, thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, vấn đề dân số, lao động và việc làm đối với nông dân trong quá trình đô thị hóa, vấn đề môi trường, từ đó phân tích ảnh hưởng của đô thị hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội, đề xuất phương hướng và giải pháp Như vậy, từ việc hệ thống lại những vấn
đề cơ bản của đô thị và đô thị hóa, cũng như nghiên cứu thực tiễn ảnh hưởng của đô thị hóa, tập thể tác giả đã cố gắng góp phần khẳng định lại những tác động tích cực của quá trình đô thị hóa nhưng cũng không quên dành một phần đáng kể đề cập đến tình trạng một bộ phận nông dân bị mất đất sản xuất nông nghiệp, những đảo lộn trong cuộc sống của họ Cuốn sách đã góp phần làm sáng tỏ quan điểm về đô thị và
đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng nói riêng và Việt Nam nói chung, đồng thời cung cấp cho luận án nguồn tư liệu phong phú cũng như những ảnh hưởng tích cực và hạn chế của quá trình đô thị hóa đến mọi mặt của đời sống xã hội
Nguyễn Thị Thiềng, Phạm Thúy Hương, Patrick Gubry, Franck Castiglioni,
Jean-Michel Cusset (2006), Đô thị Việt Nam trong thời kỳ quá độ, NXB Thế giới
Cuốn sách này giới thiệu những kết quả nghiên cứu của nhóm các nhà nghiên cứu Pháp, Canada và Việt Nam về chủ đề đô thị trong thời kỳ quá độ Nhóm tác giả đã cho thấy cái nhìn đa dạng về đô thị Việt Nam Có nhóm nghiên cứu bối cảnh, đối tượng, hướng đi của đô thị, có nhóm lại nghiên cứu sự biến đổi của đô thị trong thời
kỳ quá độ, nhóm khác lại nghiên cứu về vấn đề di dân nội thị tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, quản lý môi trường đô thị Tuy nhiên, ta có thể thấy những nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào hai thành phố lớn: Hà Nội và Hồ Chí Minh Christian Pesdelahore de Loddis nhận định “Bí hiểm và khó hiểu, không chắc chắn và hay thay đổi, đầy mâu thuẫn, vừa ngẫu hứng vừa hình thức, vừa trật tự vừa vô kỷ luật, đó là một số tính từ thường được dùng để khắc họa bối cảnh phát triển đô thị ở Việt Nam”[134, tr.20] Có lẽ bởi từ khi bắt đầu chính sách đổi mới (1986), và đặc biệt khi thực hiện việc xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã có những thay đổi to lớn trên tất cả các lĩnh vực Đây là thời kỳ quá độ kinh
tế nhưng cũng là thời kỳ quá độ trong lĩnh vực xã hội và đô thị Các nhóm nghiên cứu
đã cho người đọc thấy những “thách thức của quá trình phát triển đô thị Việt Nam
Trang 23dưới hai áp lực - kinh tế và dân số, một mặt do sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa và mặt khác do dân số đô thị tăng nhanh Hội nhập quốc tế và đô thị hóa nhanh, phát triển kinh tế như vũ bão, phân quyền, phân cấp quản lý đô thị, hiện đại hóa hình thức xây dựng nhưng chưa kiểm soát tốt việc đô thị hóa vùng ven đô, biến đổi trong quản lý dịch vụ đô thị v.v là những đòi hỏi chính quyền địa phương phải tăng cường quản lý công trình đô thị”[134, tr.11]
Nguyễn Thanh Tuấn (2006), Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay, NXB
Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội Nội dung cuốn sách bàn về đô thị và biến đổi văn hóa tại các đô thị lớn (Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh) trong thời
kỳ đổi mới, sự biến đổi từ trong sinh hoạt, ăn, ở, mặc, sử dụng thời gian nhàn rỗi, tiêu dùng và hưởng thụ các giá trị văn hóa, sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, nhân tố thúc đẩy và xu hướng biến đổi văn hóa đô thị hiện nay, quan điểm và biện pháp điều tiết quá trình tiếp tục biến đổi văn hóa đô thị hiện nay Tác giả cho rằng văn hóa đô thị của người Hà Nội là nếp sống thanh lịch nhưng từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường và bước đầu tiến hành công nghiệp hóa đã tác động không nhỏ đến lối sống của người Hà Nội, vì thế đòi hỏi phải mở rộng nội hàm khái niệm nếp sống thanh lịch Đây là công trình trực tiếp bàn về biến đổi văn hóa đô thị trên cả nước Do đó có thể kế thừa một số quan niệm, cách thức tiếp cận, đánh giá và thông tin khi nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa ở Hà Nội từ 1986 đến nay
Phùng Hữu Phú, Đô thị hóa Việt Nam - từ góc nhìn nông nghiệp, nông thôn,
nông dân, Tạp chí Tuyên giáo, số 3- 2009 Tác giả khẳng định “đô thị hóa đã thổi
luồng sinh khí mới vào nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam”[118, tr.16]
Đô thị hóa làm cho cơ sở hạ tầng, mạng lưới thông tin mở rộng, quan hệ làm ăn được tăng cường, diện mạo nông thôn và đời sống tinh thần ngày càng phong phú,
đa dạng, văn hóa làng quê mang sắc thái mới Bên cạnh đó, đô thị hóa cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề về quy hoạch, quản lý sử dụng đất đai, sự chuyển dịch chậm chạp,
ít hiệu quả trong cơ cấu kinh tế; sự ùn đọng lao động trong nông thôn và sự phân tán chia cắt trong quy hoạch, tổ chức không gian đô thị tạo gánh nặng lớn cho việc xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là những hệ lụy về văn hóa, xã hội và môi trường
Sự thiếu chuẩn bị, thiếu định hướng, chọn lọc và do cả những bất cập trong công tác quy hoạch, quản lý văn hóa, những yếu tố phi văn hóa từ các phương tiện truyền thông, internet đã thâm nhập vào đời sống nông thôn và xuất hiện những vấn nạn làm “tha hóa một bộ phận cư dân nông thôn, đặc biệt là giới trẻ; làm vẩn đục môi
Trang 24trường văn hóa, xã hội; bào mòn và làm rạn nứt mối quan hệ tương thân, tương ái, đồng thuận, thuần phác trong cộng đồng nông thôn”[118, tr.16] Từ đó, tác giả đưa
ra những định hướng chính góp phần nâng cao trình độ chất lượng đô thị hóa phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và mục tiêu phấn đấu của đất nước
Phạm Xuân Đương, Đô thị hóa ở Việt Nam nhìn từ thách thức và bài học đô
thị hóa ở châu Á, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 160, tháng 5 - 2009 Tác giả khái
quát quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong xu hướng đô thị hóa khu vực Nhìn chung, đồng quan điểm với nhiều nhà nghiên cứu, tác giả cũng cho rằng đô thị hóa
ở Việt Nam là xu thế tất yếu, xu hướng và tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng so với thế giới, Việt Nam còn ở trình độ phát triển thấp Nguyên nhân là do chiến tranh và thể chế kinh tế Vì vậy, tác giả nhận định “Việt Nam sẽ sớm trở thành một nước công nghiệp hóa và có tỷ lệ đô thị hóa vào mức trung bình trên thế giới trong một vài thập kỷ nữa”[51, tr.29] Nhưng trước mắt, những thách thức trong quản lý đô thị như: khan hiếm đất đô thị, quy hoạch quốc gia với địa phương có tích hợp để đáp ứng được yêu cầu của quá trình đô thị hóa, vốn phát triển đô thị đã được tác giả đặt ra và có sự so sánh đối chiếu cụ thể với các nước trong khu vực Từ đó tác giả rút ra một số bài học về quản lý phát triển từ quá trình đô thị hóa ở Việt Nam và một số nước trong khu vực
Nguyễn Duy Thắng (2009), Tác động của đô thị hóa đến các mặt kinh tế - xã
hội của vùng ven đô và những vấn đề cần quan tâm, tạp chí Xã hội học, số 1 (105)
Theo tác giả, ven đô là nơi không đồng nhất về các hoạt động kinh tế và không thuần nhất về các thành phần dân cư, do có sự pha trộn giữa lối sống nông thôn và thành thị Vì thế, ven đô là “vùng đệm của bước chuyển hóa từ nông thôn sang thành thị, nơi phản ánh rõ nét nhất những ảnh hưởng của đô thị hóa đối với nông thôn”[131, tr.82] Không chỉ có sự tăng trưởng về mặt kinh tế mà còn cả những tác động về mặt xã hội, “chúng không đơn giản là các mối quan hệ họ hàng, cộng đồng làng xã mà là các quan hệ xã hội đa chiều, phức tạp do sự pha trộn nhiều tầng lớp dân cư và sự chuyển đổi các mô hình tổ chức”[131, tr.83] Tuy nhiên, những yếu tố của cấu trúc văn hóa làng xã thay đổi không giống nhau trong quá trình đô thị hóa,
có những yếu tố dần biến mất, có những yếu tố được duy trì hoặc chuyển hóa để hội nhập với môi trường mới Tác giả cũng khẳng định rằng, cần phải xem xét và đánh giá đầy đủ tác động của đô thị hóa đến văn hóa làng xã vùng ven đô, đặc biệt là những biến đổi về chuẩn mực văn hóa, các khuôn mẫu gia đình và lối sống Từ đó
Trang 25tác giả đặt ra một số vấn đề của đô thị hóa vùng ven đô Hà Nội như: dân số, di dân, tình trạng mất đất nông nghiệp Bài viết đã đưa ra cái nhìn tổng quan về sự tác động của đô thị hóa đối với vùng ven đô, tuy có nhắc tới sự tác động tới văn hóa làng nhưng tác giả chưa nghiên cứu sâu mà chỉ dừng lại ở việc nêu vấn đề
Lê Hồng Kế (2010), (chủ biên), Thăng Long - Hà Nội 1000 năm đô thị hóa,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách tập trung trình bày quá trình đô thị hóa ở Thăng Long Hà Nội trong suốt chặng đường dài lịch sử, từ đó tổng kết những bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa ở Hà Nội, đảm bảo phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm của thủ đô Trong chương I trình bày cơ sở khoa học về đô thị hóa và những vấn đề cơ bản về phát triển của thủ
đô Hà Nội Sau khi đưa ra những khái niệm công cụ cơ bản về đô thị hóa thời kỳ tiền văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, thời kỳ công nghệ cao, tác giả đã có những khái quát về quá trình đô thị hóa trên thế giới (thời kỳ cổ đại, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và thời kỳ hiện đại), đô thị hóa ở Việt Nam, những nét đặc thù của đô thị hóa ở châu Á, những quy luật và động lực phát triển quản lý đô thị ở châu Á Để
từ đó trong chương II, tác giả trình bày quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị 1000 năm Thăng Long - Hà Nội Đây là phần mà người đọc có thể kế thừa và tham khảo khi nghiên cứu về đồng bằng sông Hồng, bởi trong phần này, cuốn sách đã tập trung trình bày khá chi tiết về đặc thù của đô thị nước ta Đô thị được hình thành phần “đô”
và phần “thị”, đồng thời cũng phân tích vị trí của Hà Nội gắn liền với châu thổ Bắc
Bộ Hà Nội nằm ở vị trí trung gian giữa miền “thượng châu thổ”, tức miền đất về thượng nguồn lên tới Sơn Tây, Việt Trì và miền “hạ châu thổ” xuôi về Hà Nam, Hải Dương, phù xa trải diện rộng, chiều dày trầm tích lớn, địa hình thoải dần về phía biển tạo cho sông Hồng một vùng châu thổ rộng lớn và giàu có nhất, nhiều thuận lợi cho
sự khai phá sau này, phát sinh trung tâm văn hóa lớn là văn hóa Đại Việt Từ đó, có thể thấy điều kiện địa tự nhiên là một trong những yếu tố góp phần làm nên văn hóa làng vùng đồng bằng sông Hồng Trong chương III là dự báo về quá trình đô thị hóa, định hướng phát triển thủ đô Hà Nội và bảo vệ môi trường thời kỳ 2010 - 2020 và là
cơ sở để có những chính sách cũng như giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững thủ đô Hà Nội Người đọc
có thể tham khảo làm tư liệu để có những nhận định chính xác hơn trong quá trình dự báo và đưa ra giải pháp cần thiết đối với văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng
Trang 26Cũng nghiên cứu về đô thị hóa, Hoàng Cao Liêm (2013), có bài Đô thị hóa ở
Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 11(547) Theo
tác giả, đô thị hóa ở Việt Nam “diễn ra khá sớm và tăng nhanh trong những năm gần đây nhưng tốc độ đô thị hóa vẫn thuộc nhóm thấp của thế giới” [98, tr.61] và cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế Điển hình là số lượng các đô thị tăng lên nhanh chóng, dân số đô thị liên tục tăng, kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị được cải thiện rõ rệt nhưng chưa đồng bộ, thiếu hoàn chỉnh, thậm chí có những nơi đã bị xuống cấp trầm trọng “dẫn đến các đô thị đứng trước nguy cơ phát triển không bền vững”[98, tr.61] Từ đó tác giả đã đề xuất giải pháp rất cụ thể góp phần hạn chế những tiêu cực nảy sinh trong quá trình đô thị hóa Thực tế, bài nghiên cứu này chủ yếu tập trung
và nghiên cứu những bất cập của đô thị hóa, chưa đề cập cụ thể sự ảnh hưởng của
đô thị hóa ở vùng nông thôn, nhưng quan điểm mà tác giả đưa ra cũng giúp cho luận án có cái nhìn chi tiết hơn, đa chiều hơn về đô thị hóa
Ở Việt Nam, các công trình viết về quá trình đô thị hóa cho đến nay được tiến hành nghiên cứu trong điều kiện Việt Nam chưa thóat khỏi tình trạng kém phát triển Hơn thế, cũng chưa có một công trình nào nghiên cứu về đô thị và quá trình
đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là nghiên cứu sâu về văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng trong quá trình đô thị hóa Vì thế, việc nghiên cứu về văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng vẫn còn là một chủ đề mở, đặc biệt nghiên cứu văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng như một chỉnh thể, kể cả các phương diện khác nhau của đời sống văn hóa làng
1.3 Các công trình nghiên cứu về văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng
Bàn về sự biến đổi của văn hóa làng xã truyền thống, tác giả Trần Đức Ngôn
(2004), với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Văn hóa truyền thống làng xã ngoại
thành Hà Nội dưới tác động của nền kinh tế thị trường Sau khi tổng quan chung về
làng xã ngoại thành Hà Nội, tác giả xem xét sự biến đổi của văn hóa truyền thống thông qua sự biến đổi của văn hóa vật thể (các công trình thờ tự, kiến trúc làng xóm, các nghề truyền thống) và văn hóa phi vật thể (các sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán, truyền thống khoa bảng, lễ hội) Tuy nhiên, theo tác giả “khó có thể có được một định lượng chính xác tuyệt đối và cụ thể cho những biến đổi của văn hóa truyền thống làng xã ngoại thành Hà Nội hiện nay”[110, tr.119] nhưng sự biến đổi là tất yếu, song không có nghĩa là phải mặc nhiên chấp nhận Một trong
Trang 27những vấn đề đang được coi là bức xúc hiện nay của cư dân vùng ven đô khi cơn lốc đô thị hóa ập tới, đó là việc người dân bỗng nhiên rơi vào tình cảnh ly nông bất
ly hương vì sức ỳ của ý thức hoặc tâm lý mặc cảm đã không quan tâm trang bị cho mình những kiến thức tối thiểu về một nghề nghiệp khác để có thể chuyển đổi nghề
Do đó, cần có những giải pháp điều chỉnh để giữ được mối cân bằng giữa bảo tồn
và phát triển, tránh khuynh hướng cực đoan Đây cũng là một góc nhìn về sự biến đổi của làng xã mà luận án có thể tiếp thu
Đinh Xuân Dũng (2005), (chủ biên), Xây dựng làng văn hóa ở đồng bằng
Bắc Bộ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Cuốn sách cũng đề cập đến đặc điểm của văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ và những biến đổi của nông thôn và văn hóa làng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng bằng Bắc Bộ là vùng đất lịch sử văn hóa, nó vừa mang trong mình truyền thống lâu đời bền chắc, vừa thích ứng với những biến động của lịch
sử cùng với những sắc thái văn hóa rất riêng biệt làm cho đồng bằng Bắc Bộ trở thành biểu tượng cao đẹp của văn hóa truyền thống Việt Nam Tuy nhiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vùng văn hóa này đã có những thay đổi lớn lao, phong phú và phức tạp Vì vậy, tác giả tập trung phân tích sự biến đổi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đồng thời đánh giá sự biến đổi đó cả trên phương diện tích cực và tiêu cực, phù hợp với quy luật phát triển để đưa nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ lên thời kỳ hiện đại, tác giả đề cập đến những vấn đề phức tạp nảy sinh trong quá trình đô thị hóa nông thôn và tác động của nền kinh tế thị trường, từ đó xác định vị trí mới của văn hóa truyền thống trong sự biến đổi của nông thôn ngày nay
Cùng nghiên cứu về sự biến đổi kinh tế - xã hội trong quá trình đô thị hóa,
Nguyễn Hữu Minh có bài Biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá
trình đô thị hóa, số 1/2005, tr.56-64, tạp chí Xã hội học Nhìn chung, tác giả ghi
nhận những biến đổi do đô thị hóa tác động, đặc biệt là về đời sống văn hóa - xã hội
“người dân có điều kiện hưởng thụ một cuộc sống vật chất dồi dào và cuộc sống tinh thần phong phú”[101, tr.61] Do sự tác động của đô thị hóa và các chính sách của Nhà nước, cơ cấu nghề nghiệp, nguồn thu, mức sống thay đổi Đi cùng với những biến đổi đó, là sự biến đổi về kiến trúc nhà ở, cơ sở hạ tầng, môi trường và đời sống văn hóa - xã hội, trong đó có hôn nhân, quan hệ ứng xử và việc sử dụng thời gian rỗi Sự pha trộn giữa những đặc trưng của đô thị và nông thôn xuất hiện cả
Trang 28ở kiến trúc nhà ở, đời sống hôn nhân, vui chơi giải trí, văn hóa giáo dục, quan hệ láng giềng cũng thay đổi Tuy nhiên, tính chất cộng đồng làng xã vẫn còn được duy trì trong quá trình đô thị hóa
Nguyễn Lâm Tuấn Anh, Ảnh hưởng của mô hình làng xã truyền thống tới sự
biến đổi làng xã đồng bằng sông Hồng, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 4 - 2005
Tác giả chủ yếu đề cập đến những năng lực truyền thống để thấy sự khác nhau giữa các làng xã trong quá trình lựa chọn và khả năng chuyển đổi cơ cấu lao động nghề nghiệp ở đồng bằng sông Hồng Từ những số liệu khảo sát ở ba làng với ba mô hình kinh tế văn hóa khác nhau là Phù Lưu, Tam Sơn và Đồng Kỵ, tác giả cho rằng khả năng chuyển đổi của cộng đồng làng xã không chỉ do những nguyên nhân kinh tế
mà còn do cộng đồng đó tích lũy được những gì trong suốt chiều dài lịch sử (truyền thống của làng, năng lực kinh tế, giá trị tên làng như một thương hiệu) Chắc chắn rằng sự chuyển đổi cơ cấu lao động nghề nghiệp ở đồng bằng sông Hồng là sự chuyển đổi từ kinh tế trọng nông nghiệp truyền thống sang trọng phi nông nghiệp hiện đại, từ nền kinh tế tự cung, tự cấp sang nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, các làng xã có lịch sử khác nhau, có những truyền thống khác nhau, không chỉ tạo nên
sự đa dạng, phong phú về văn hóa mà còn ảnh hưởng đến những chuyển biến về mặt kinh tế trong công cuộc đổi mới nông thôn hiện nay Do đó, “cần có những chính sách phát triển cho từng loại hình làng xã dựa trên sự tôn trọng các năng lực
và các giá trị truyền thống đa dạng của từng làng xã Cần có những chiến lược phát triển phù hợp với đặc trưng riêng của từng làng xã để có thể phát huy hết nội lực của từng làng xã trong chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn”[3, tr.35] Luận
án cũng đồng tình với quan điểm của tác giả khi nhận định về sự ảnh hưởng của mô hình làng xã truyền thống, tuy nhiên, luận án sẽ không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra sự ảnh hưởng đó mà muốn đi sâu nghiên cứu những biểu hiện cụ thể sự biến đổi ấy như thế nào, đặc biệt dưới góc độ văn hóa
Ngô Văn Giá (2007), (chủ biên), Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền
thống ở các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội Nội dung cuốn sách trình bày về sự thay đổi của văn hóa làng xã vùng ven đô
Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay Hà Nội
và các vùng ven đô vốn đã có một nền văn hóa lâu đời và rực rỡ, nằm trong tổng thể không gian làng đồng bằng Bắc Bộ, đang chịu sự tác động mạnh mẽ của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xu hướng đô thị hóa và nền kinh tế thị trường Văn
Trang 29hóa làng ven đô là một lĩnh vực khá lớn, bao hàm những phương diện và cấp độ khác nhau, tuy nhiên trong đó nổi lên một vấn đề quan trọng là các giá trị văn hóa truyền thống có sự biến đổi cả theo chiều hướng tích cực và tiêu cực Cụ thể ở đây, các tác giả xem xét chủ yếu qua 3 giá trị cơ bản: giá trị cộng đồng làng, giá trị cộng đồng gia đình, giá trị đạo đức cá nhân, từ đó, xây dựng hệ giá trị văn hóa ở các làng ven đô trong công cuộc đổi mới hiện nay Đây là tài liệu có thể tham khảo khi nghiên cứu về sự biến đổi các giá trị cộng đồng làng
Phan Thị Mai Hương (2010), Những biến đổi tâm lý của cư dân vùng ven đô
trong quá trình đô thị hóa”, NXB Từ điển Bách Khoa Cùng nghiên cứu về sự ảnh
hưởng của đô thị hóa nhưng tác giả chú trọng xem xét sự thay đổi tâm lý của người dân vùng ven đô thành phố Hà Nội Đô thị hóa là quá trình tất yếu, đi cùng với nó là
sự thay đổi cảnh quan môi trường, hoạt động nghề nghiệp, lối sống, phong tục tập quán Sự biến đổi trên diện rộng nhưng mang tính tự phát, chưa được kiểm soát chặt chẽ, lại diễn ra quá nhanh và với tốc độ cao khiến “cư dân vùng ven đô đã được đô thị hóa chưa thích nghi ngay được với nhịp sống mới”[79, tr.6] Tuy nhiên, tác giả nhận diện sự biến đổi tâm lý của cư dân vùng ven đô thông qua bốn khía cạnh: giao tiếp, quan hệ cộng đồng, quan hệ gia đình; hệ thống các nhu cầu; sự thích nghi với lối sống đô thị và chiến lược sống cá nhân Theo đó, hệ thống nhu cầu của người dân ven đô có nhiều thay đổi cả về vật chất và tinh thần nhưng đều dựa trên sự nỗ lực của bản thân người dân là chủ yếu Họ có xu hướng thóat khỏi nghề nông, chuyển đổi nghề nghiệp vào thị trường tự do Tập trung vào thị trường này là những người có trình độ học vấn thấp, không được đào tạo chuyên môn nên thường có công việc bấp bênh và gặp nhiều rủi ro Vì vậy, nhận thức của người dân có nhiều thay đổi về nghề nghiệp, về việc làm và cơ hội của bản thân Nhưng theo tác giả, đô thị hóa chắc chắn sẽ biến đổi những nhận thức liên quan đến hoạt động kinh tế song không làm biến đổi nhận thức liên quan đến lĩnh vực văn hóa cộng đồng và “xã hội vùng ven đô dù đã được đô thị hóa ở mức cao hay thấp nhưng từ trong sâu thẳm, đó vẫn còn mang phong cách của một xã hội nông thôn”[79, tr.124] Qua cách nhìn của tác giả, luận án tiếp thu những nhận định về sự biến đổi tâm lý cư dân ven đô trong quá trình đô thị hóa, từ đó có thể phân tích chi tiết hơn về sự biến đổi văn hóa phong tục, tập quán, lối sống của người dân vùng đô thị hóa
Ngô Đức Thịnh (2010), Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
Trang 30Tác giả khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của yếu tố văn hóa, trong đó có văn hóa truyền thống đối với sự phát triển của các quốc gia thời kỳ toàn cầu hóa Bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia đóng vai trò như là nhân tố nội lực, động lực và mục đích của sự phát triển Tác giả cho rằng chính văn hóa và thông qua hệ giá trị được hình thành trong môi trường tự nhiên và hoàn cảnh cụ thể, có thể điều tiết sự biến đổi của xã hội và kinh tế của mỗi quốc gia Song, trong điều kiện hội nhập và mở cửa như hiện nay, việc hiểu biết một cách đầy đủ và toàn diện về những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc để bảo tồn và chủ động tham gia hội nhập là một vấn
đề hết sức quan trọng
Phan Thanh Tá (2011), Văn hóa cổ truyền trong làng xã Việt Nam hiện nay,
NXB Lao Động là một trong những cuốn sách nghiên cứu sự thay đổi của văn hóa truyền thống trước những thử thách của nền kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ Cuốn sách chủ yếu bàn về các khái niệm cơ bản như văn hóa cổ truyền
và đặc điểm, văn hóa làng, định chế Theo tác giả, văn hóa cổ truyền, văn hóa làng chủ yếu bàn về nông dân, nông nghiệp, xóm làng và Folklore vì một đất nước nông nghiệp mà cư dân “vẫn chiếm trên 70% dân số thì nói đến văn hóa cổ truyền cũng chính là nói đến văn hóa xóm làng”[126, tr.2] Khi trình bày tổng quan về văn hóa cổ truyền, Phan Thanh Tá cho rằng văn hóa làng là “văn hóa nông thôn mà diện mạo của
nó là cây đa bến nước, ngõ xóm, đình làng, là tâm tính những người nông dân biểu hiện trong kho tàng văn hóa dân gian, trong đất quê lề thói vốn là sản phẩm của kết cấu xóm làng với vô số những quan hệ khác nhau”[126, tr.30] Và văn hóa làng là phương thức vận hành của văn hóa cổ truyền Do đó, để hiểu rõ hơn sự biến động của văn hóa cổ truyền, tác giả xem xét và phân tích sự thay đổi của các yếu tố, văn hóa kinh tế, văn hóa chính trị, văn hóa gia đình, văn hóa giáo dục, văn hóa tín ngưỡng tôn giáo thông qua ba làng đại diện cho vùng châu thổ sông Hồng: Đa Tốn, Ninh Hiệp và Bát Tràng Khi phân tích không gian tự nhiên xã hội và khảo sát những sinh hoạt cổ truyền thông qua các định chế, tác giả đã xây dựng một bức tranh chi tiết về làng xã
cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ Theo tác giả, văn hóa làng không nhất thành bất biến
mà nó vận động biến đổi đồng hành với diễn trình văn hóa dân tộc - quốc gia Vì vậy, tác giả nghiên cứu xu hướng biến đổi của văn hóa cổ truyền trong đời sống xã hội hiện nay Tác giả cũng đưa ra những nhân tố cơ bản tác động đến sự biến đổi văn hóa
cổ truyền: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền
và xã hội dân sự, nền giáo dục hiện đại, công nghệ thông tin và truyền thông đại
Trang 31chúng Những nhân tố này đã và đang làm thay đổi bản thân người nông dân, hơn nữa, những làng ven đô sẽ từng bước chuyển đổi thành “phố làng” mà yếu tố “làng” ngày càng nhạt, yếu tố “phố” ngày càng đậm Văn hóa cổ truyền gắn với nguồn gốc làng nông nghiệp lúa nước có nguy cơ mai một Mặt khác khi yếu tố “phố” ngày càng đậm, văn hóa đô thị có điều kiện tràn về làng lại không tránh khỏi tình trạng lai tạp,
xô bồ Do đó, xuất hiện hai xu hướng: một là, bảo lưu mặt tiêu cực của văn hóa cổ truyền; hai là, phát huy mặt tích cực của văn hóa cổ truyền Tuy nhiên, theo tác giả, khi chất lượng cuộc sống được nâng cao sẽ xuất hiện những nhu cầu văn hóa mới, phong phú và đa dạng Để đáp ứng được những nhu cầu đó, người dân sẽ sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới nhưng cũng không có nghĩa là họ từ bỏ hết những giá trị văn hóa truyền thống Vì vậy, việc “bảo tồn và phát huy văn hóa cổ truyền không đơn giản chỉ là phục hiện các di sản văn hóa phi vật thể hay tôn tạo các di sản văn hóa vật thể Vấn đề là ở chỗ, phải được tái tạo lại, cấu trúc lại xuất phát từ đòi hỏi của cuộc sống mới, phát sinh chức năng mới nhằm đáp ứng nhu cầu của những con người đã đổi mới”[126, tr.187-188]
Nguyễn Đình Tuấn (2013), Biến đổi văn hóa trong cộng đồng dân cư vùng đô
thị hóa Luận án tiến sĩ Nhân học Đây là công trình nghiên cứu sự biến đổi văn hóa ở
hai địa bàn là Định Công và Minh Khai Tuy nhiên, dưới góc nhìn nhân học, sau khi khái quát về sự phát triển đô thị Hà Nội trước và sau đổi mới, tác giả chủ yếu xem xét
sự biến đổi trong quan hệ gia đình, họ hàng, cộng đồng, sự biến đổi trong tục cưới xin, tang ma, sự biến đổi trong tổ chức lễ hội và sử dụng thời gian rỗi vào giải trí Tác giả cho rằng, đô thị hóa là một quá trình tất yếu tác động đến tất cả các lĩnh vực, làm cho đời sống vật chất được nâng lên Vì vậy, “những thay đổi trong đời sống vật chất
là một trong những tiền đề quan trọng dẫn đến sự thay đổi trong đời sống văn hóa”[138, tr.137] Quan hệ cộng đồng và quan hệ làng xóm diễn ra theo chiều hướng tôn trọng quyền tự do cá nhân, một số phong tục như ma chay, cưới xin có xu hướng
“thành thị hóa” nhưng có hoạt động lễ hội đang được khôi phục mạnh mẽ, và thu hút nhiều người tham gia Qua nghiên cứu, tác giả cho rằng “mức độ và thời gian diễn ra quá trình đô thị hóa có tác động khác nhau đến sự biến đổi văn hóa của cộng đồng cư dân vùng đô thị hóa Nơi chịu tác động của đô thị hóa càng lâu thì xu hướng biến đổi văn hóa theo hướng văn hóa đô thị càng rõ nét hơn”[138, tr.139] Như vậy, mặc dù khác góc độ nghiên cứu nhưng Nguyễn Đình Tuấn cũng đã đưa ra những nhận định sâu sắc về sự biến đổi cơ bản trong làng xã trước quá trình đô thị hóa
Trang 32Philippe Papin (2013), Histoire des territoires de Hà Nội, NXB Les Indes
Savantes Mặc dù, chưa được dịch ra tiếng Việt nhưng đây là cuốn sách mà Philippe Papin viết về lịch sử các vùng đất ở Hà Nội bao gồm 4 nội dung cơ bản: lãnh thổ, sở hữu đất, làng đô thị hóa là gì và dân số Ngoài việc bàn về quá trình hình thành lãnh thổ đất đai ở Hà Nội, địa giới Hà Nội có quá trình hình thành và phát triển như thế nào, sự biến động về kinh tế chính trị có ảnh hưởng như thế nào đối với làng xã ở Hà Nội Việc sở hữu đất cũng diễn ra tương đối phức tạp đặc biệt khi bắt đầu đô thị hóa,
đô thị hóa về đất đai tạo ra những sự thay đổi nhất định trong đời sống kinh tế chính trị xã hội, cơ cấu dân cư của vùng trung tâm, ngoại ô và cả các làng xã Trọng tâm của cuốn cách này mà tác giả luận án chú ý đến là khi Philippe Papin bàn đến quá trình đô thị hóa ở Hà Nội Theo tác giả, Hà Nội thực sự là những ngôi làng đang trong giai đoạn chuyển mình thành đô thị nhưng đó là một đô thị không điển hình bởi Hà Nội gồm 36 phố phường Philippe cho rằng sự phân biệt giữa phố và phường làm cho
ta thấy Hà Nội vừa là làng vừa là phố, là một thành phố gồm các làng buôn bán Đặc trưng lớn nhất là quá trình lưu thông hàng hóa diễn ra ở đô thị nhưng đây không phải
là nơi sản xuất Nơi sản xuất hàng hóa thực sự của các thương nhân chính là ở các làng nghề Vì thế, các thương nhân ra phố buôn bán nhưng có xu hướng tích tiền và quay về mua đất tại làng Ngay cả khi họ có di cư ra phố sinh hoạt thì họ vẫn có xu hướng quay về, hoặc nếu có ở lại thì họ lại mang theo cả văn hóa làng nơi họ sinh ra đến phố thị Họ di cư và mang theo cả kiến trúc đình chùa, lối sống, nghề truyền thống ra thành phố, điển hình nhất là sự di dân của 3 dòng họ: họ Vũ ở Quỳnh Lôi, họ Nguyễn ở Nguyên Xá, và họ Phó ở Phúc Kiến “Les trois villages ruruax étaient présents en ville, y avaient dupliqué l‟image de leur villages d‟ origine, mais ils étaient cependant représentés de manière inégale, à proportion de leur population et
de l‟ anciennéte de leur migration”[115, tr.178] (Ba ngôi làng khi được xây dựng ở đô thị đều tái hiện lại hình ảnh của làng quê gốc nhưng được mô phỏng tùy thuộc vào quy mô dân số và quá trình định cư của người dân.) Vì thế, ở Hà Nội, mặc dù là thành phố và là thủ đô lớn của cả nước nhưng trong con mắt của Philippe Papin, nó thực sự rất đặc biệt “reste que cette partition est importante dans la définition d‟ un
“village en ville” : il est à la fois village et ville, ancréà l‟ extérieur et dans son quartier, lié à la campage et à ses voisins immédiats, satelites d‟un autre et pourtant autonome, doté d‟annexes aux bâtiments ruruax et de lieux bien à lui, criblé de
Trang 33référence qui sont tout ansi bien paysannes que purement citadines”[115, tr.187] (Chỉ
có định nghĩa “làng đô thị” là quan trọng: nó vừa là làng vừa là thành phố, ăn sâu ra bên ngoài và bên trong của khu phố, gắn liền với miền quê và những ngôi làng vệ tinh bên cạnh, tuy nhiên lại rất tự chủ, nó xây dựng những công trình theo kiểu nông thôn mang đặc điểm riêng của nó, sàng lọc những gì tinh túy của người nông dân và của người thành thị) Do đó, theo nhận định của Philippe, quá trình đô thị hóa ở Hà Nội từ thế kỷ thứ XIX đến đầu thế kỷ XX diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội, nhưng lại mang nét đặc trưng riêng biệt, đó là sự hòa trộn giữa nông thôn và thành thị, là sự xung đột và đan xen giữa lối sống, kiến trúc, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo do quá trình di dân và xen dân Đô thị hóa các làng ở Hà Nội là sự biến đổi văn hóa làng tại chỗ, sự biến đổi văn hóa ở nơi di dân đến và sự biến đổi do người dân quay trở về làng và đem theo luồng văn hóa mới Đây là cuốn sách mà Philippe Papin đã dày công nghiên cứu trong thời gian ở Việt Nam Do đó, luận án có thể tham khảo và kế thừa những nhận định cũng như các minh chứng mà Philippe Papin đưa ra, làm tư liệu tham khảo cho mình
Lê Quang Hưng (2015), (chủ biên), Sự biến đổi văn hóa truyền thống vùng
ven đô Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa, NXB Thế Giới Tập thể tác giả nghiên
cứu sự biến đổi của văn hóa truyền thống thông qua ba xã vùng ven thành phố
Hà Nội là Phú Thị, Kim Chung và An Khánh Trên cơ sở những khái quát chung
về ba địa phương và xuất phát điểm từ những khái niệm công cụ, các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu sự biến đổi trên ba phương diện: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa tổ chức cộng đồng làng xã Cuốn sách thể hiện sự đồng tình với nhiều quan điểm nghiên cứu hiện nay khi cho rằng sự biến đổi văn hóa vật chất, về kinh tế, là sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, gia tăng tỷ trọng sản xuất dịch vụ - thương nghiệp, công nghiệp, tính chất chuyên môn hóa của nền kinh tế gia tăng, đặc biệt, tư duy định hướng nghề nghiệp của người lao động có bước đột phá Vì vậy, trong ẩm thực và kiến trúc
đã có rất nhiều thay đổi theo xu hướng hiện đại, đô thị Về sự biến đổi của văn hóa tinh thần, tác giả đề cập đến sự biến đổi của ba hoạt động nổi trội nhất là lễ hội, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục truyền thống (hôn nhân và tang ma) Dựa trên những số liệu điều tra thực địa, tác giả nhận định quá trình đô thị hóa đã tác động to lớn đến sự biến đổi văn hóa tinh thần, làm xuất hiện hai xu
Trang 34hướng Xu hướng thứ nhất là phục hồi văn hóa truyền thống Sở dĩ “phục hồi” là bởi khi phải đối mặt với các vấn đề của xã hội hiện đại, những thay đổi nhiều khi
là đột ngột, sự khủng hoảng…nên con người tìm đến các giá trị truyền thống để tìm lại sự cân bằng trong cuộc sống Tất nhiên sự phục hồi các giá trị văn hóa này cũng đã có sự biến đổi không ít, thậm chí “có những sáng tạo theo tâm lý và mục đích cụ thể của dân làng Đây có thể coi là quá trình tái cấu trúc văn hóa truyền thống”[78, tr.231], nghĩa là quá trình lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại các yếu tố văn hóa truyền thống để chúng có thể phát huy tốt trong bối cảnh hiện đại
Xu hướng thứ hai là du nhập, hình thành và phát triển những yếu tố văn hóa mới Quá trình đô thị hóa là văn hóa đô thị, lối sống công nghiệp tràn vào làng xã, văn hóa truyền thống được tái cấu trúc lại nhưng không đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu dùng văn hóa ngày càng đa dạng phong phú của người dân thì tất yếu các yếu tố văn hóa mới sẽ nảy sinh Nhưng đó cũng là những yếu tố “tân truyền thống mang đặc trưng của làng”[78, tr.232] Cũng trong cuốn sách này, tác giả tập trung nghiên cứu sự biến đổi văn hóa tổ chức cộng đồng làng xã, cụ thể là sự phục hồi
rõ nét của các tổ chức cộng đồng quan phương, phi quan phương, bán quan phương Đặc biệt, tác giả nhận định không gian sinh hoạt cộng đồng của làng gắn với đình làng nhưng hiện nay, khi đô thị hóa vào làng, xuất hiện nhiều hoạt động văn hóa cộng đồng khác, vì vậy tất cả mọi hoạt động văn hóa sẽ không thể diễn ra ở đình, do đó, nhà văn hóa ra đời, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân Điều đó chứng tỏ địa điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng đang dần dịch chuyển từ đình làng sang nhà văn hóa Cuối cùng, công trình nghiên cứu này cũng đặt ra vấn đề cần suy nghĩ khi quá trình chuyển dịch nhanh, gấp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ xuất hiện xu hướng tập trung hóa, nhà nước hóa dễ dẫn đến sự quan liêu, cứng nhắc, sự tương tác đa chiều của các tổ chức cộng đồng, yêu cầu kết hợp giữa tập trung với dân chủ trong quản lý, trong hoạt động của các tổ chức ở làng xã Đây là công trình nghiên cứu cung cấp cho luận
án những tư liệu quý giá khi nghiên cứu sự biến đổi của văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng, tuy nhiên các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu trong phạm vi vùng ven đô thành phố Hà Nội Do đó trên cơ sở kế thừa tiếp thu những kết quả đạt được từ công trình này, luận án tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về sự biến đổi văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng
Trang 351.4 Đóng góp của các công trình đã tổng quan và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
Văn hóa làng luôn là đề tài vô cùng phong phú và là một trong những nội dung cơ bản khi nghiên cứu về văn hóa Việt Nam Đặc biệt từ khi đổi mới đất nước, nhất là từ khi Việt Nam đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, những công trình nghiên cứu về làng, văn hóa làng và văn hóa làng đồng bằng sông Hồng đã có rất nhiều thành tựu Mặc dù có mục đích và quan niệm không giống nhau, nhưng các nhà nghiên cứu đã cung cấp thêm nhiều tư liệu mới, đưa ra nhiều nhận định có giá trị, nâng cao nhận thức về thực thể làng xã và sự chuyển mình của làng xã Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại Nhìn chung, các công trình đề cập đến những vấn đề sau:
Về văn hóa làng và văn hóa làng vùng đồng bằng sông Hồng, các tác giả đã
phân tích làng xã truyền thống thông qua các mối quan hệ kinh tế cổ truyền mà chủ yếu là về ruộng đất, sở hữu ruộng đất, nông nghiệp, thủ công nghiệp, thông qua cơ cấu xã hội và cơ cấu văn hóa ở làng xã, từ đó có đánh giá sâu sắc về vai trò của các thiết chế và thể chế trong làng xã cổ truyền Dù nghiên cứu ở góc độ nào thì bức tranh về làng xã cổ truyền và văn hóa làng, đặc biệt là văn hóa làng đồng bằng sông Hồng với phương thức sinh hoạt kinh tế, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, lối sống, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian, hương ước, lệ làng hiện ra vô cùng sinh động và rõ nét Văn hóa làng đồng bằng sông Hồng thể hiện
ra không chỉ thông qua các giá trị vật thể như cây đa, bến nước, sân đình, mà còn thể hiện qua các giá trị phi vật thể do chính người dân trong làng trải qua nhiều thế
hệ đã tạo ra Đây là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm hơn cả, do đó, có những công trình chuyên chú về văn hóa dân gian, văn hóa pháp lý hoặc phong tục, tập quán làng xã,
Hầu hết các công trình này cũng đều đưa ra những nhận xét, lý giải về di sản văn hóa làng xã, về mặt kinh tế, xã hội và văn hóa Các tác giả cũng không quên đưa ra những đánh giá sâu sắc về mặt mạnh, mặt yếu, điểm tích cực và hạn chế của làng xã trong quá trình dựng, giữ nước và giai đoạn hội nhập Đây thực sự là nguồn tài liệu vô cùng phong phú cho nghiên cứu sinh có thể kế thừa và tiếp thu khi tiếp cận và giải quyết nhiệm vụ và mục tiêu đề ra
Về đô thị hóa và quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng, các công trình
không chỉ thống kê, lược lại quá trình đô thị hóa ở Việt Nam nói chung và đồng
Trang 36bằng sông Hồng nói riêng, mà còn đưa ra những đánh giá, nhận xét về đặc trưng đô thị hóa nơi đây, lý giải vì sao quá trình đô thị hóa ở nước ta lại là quá trình đô thị hóa không điển hình Một số công trình tập trung nghiên cứu về kinh nghiệm tiến hành đô thị hóa ở các nước phát triển nhằm có cái nhìn xác thực và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Các tác giả cũng không quên phân tích cái được và chưa được trong quá trình đô thị hóa, mặc dù biết đây là một quy luật tất yếu Những công trình trên đã cung cấp tư liệu quý giá khi nghiên cứu về đô thị hóa ở Việt Nam Với đồng bằng sông Hồng, các nhà nghiên cứu đã nhận định rằng quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh và mạnh nhưng không mang tính chất điển hình nên
đã tạo ra sự thay đổi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy, không thể đánh giá một cách phiến diện về tác động của đô thị hóa Mặc dù chưa có công trình nào đánh giá một cách toàn diện đầy đủ về quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng nhưng các công trình này cũng đã cung cấp tài liệu tham khảo bổ ích, tạo điều kiện rút ngắn con đường và gợi mở hướng tiếp cận cho nghiên cứu sinh trong việc thực hiện nhiệm vụ và mục đích của luận án
Về sự biến đổi của văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng, đây là đề tài được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều nhất Hàng loạt các
công trình nghiên cứu về sự biến đổi của văn hóa làng từ khi nước ta bắt đầu thực hiện đổi mới đất nước, đã thể hiện sự suy tư của các học giả trước việc giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa Nhìn chung, các tác giả đều xem xét sự biến đổi của văn hóa làng đồng bằng sông Hồng thông qua nhiều cách thức khác nhau, có thể là thông qua văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, hoặc cũng có thể thông qua văn hóa kinh tế, văn hóa chính trị, văn hóa phong tục, văn hóa pháp lý Đồng thời, các tác giả cũng không quên có những nhận xét, lý giải mặt tích cực và tiêu cực, những thời
cơ và thách thức của văn hóa làng đứng trước làn sóng đô thị hóa Có quan điểm lo lắng và đề cao việc gìn giữ bảo tồn văn hóa làng, nhưng cũng có quan điểm cho rằng đô thị hóa là một quá trình tất yếu giúp Việt Nam thóat nghèo nàn, lạc hậu, trở thành một nước phát triển mạnh với nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thực tế, đứng ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, các tác giả lại có nhận định khác nhau,
do đó, qua phần tổng quan cho thấy, vấn đề này được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau và nằm trong những công trình nghiên cứu về văn hóa, văn hóa làng, kiến trúc văn hóa làng nhưng chưa được nghiên cứu dưới góc độ Triết học chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
Trang 37Kế thừa và tiếp thu những thành quả các công trình nghiên cứu của các học giả
đi trước, luận án tiếp tục làm rõ một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, một số vấn đề lý luận chung về văn hóa làng, đô thị hóa và biến đổi
văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng dưới tác động của quá trình đô thị hóa
Thứ hai, sự biến đổi như một quá trình tất yếu của văn hóa làng dưới ảnh
hưởng của đô thị hóa vùng đồng bằng sông Hồng và vấn đề đặt ra với tư cách là sự biến đổi của một bộ phận ý thức xã hội trước những thay đổi của tồn tại xã hội
Thứ ba, đề xuất một số quan điểm và giải pháp định hướng sự biến đổi của
văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng nhằm hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xây dựng nông thôn Việt Nam phát triển, hiện đại, bền vững
Trang 38Chương 2 SỰ BIẾN ĐỔI CỦA VĂN HÓA LÀNG TRONG QUÁ TRÌNH
ĐÔ THỊ HÓA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 2.1 Quan niệm về văn hóa làng và văn hóa làng ở đồng bằng sông Hồng
2.1.1 Quan niệm về làng và văn hóa làng Việt
Theo “Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam”, làng là tiếng cổ dùng để chỉ đơn
vị tụ cư của người Việt Thuật ngữ này có sự phân biệt với thuật ngữ xã Xã là từ Hán Việt dùng để chỉ đơn vị hành chính thấp nhất ở nông thôn trong lịch sử xã hội Việt Nam, xã có thể gồm một hoặc nhiều làng Về mặt ngôn ngữ, từ “làng” cũng chưa rõ có từ bao giờ Đối chiếu với chữ Hán, làng cũng có thể hiểu là thôn, là lý, là hương, là xã Ngoài ra cũng có nhiều từ được dùng để chỉ một khái niệm tương đương, đồng nhất hoặc gần gũi với làng như: trang, xá, kẻ, phường, thôn Tuy nhiên, các địa phương hiểu những khái niệm này không giống nhau, bản thân các nhà nghiên cứu cũng có những quan điểm khác nhau về thuật ngữ này Song, cho dù cách gọi có khác nhau, nhưng thuật ngữ nào cũng chứa đựng ý nghĩa về bản chất của làng
Làng là đơn vị cơ bản của xã hội nông thôn truyền thống Quá trình lập làng, tách làng diễn ra trong lịch sử khá phức tạp, song dù trong một đơn vị hành chính lớn hơn hay nhỏ hơn làng, thì làng vẫn có tính độc lập tương đối với tính cách là một thực thể văn hóa, một cộng đồng tự quản, từ đó tạo cho làng có diện mạo với những đường nét riêng khác biệt và tương đối ổn định Vì vậy, theo tác giả Phan Thanh Tá, ở Việt Nam có cộng đồng văn hóa làng nhưng rất khó có cộng đồng văn hóa xã vì “làng có nguồn gốc bản địa sâu xa và bền vững nên trong lịch sử, xã có
Trang 39thể bị thu hẹp hay phình to tuỳ theo các quyết định hành chính, nhưng làng là đơn vị khá ổn định, không dễ thay đổi”[44, tr.8]
Làng ở Việt Nam không hoàn toàn giống với làng ở các nước trong khu vực như Thái Lan, Lào, Trung Quốc Làng Việt không phải là sự dập khuôn làng của Trung Quốc Làng ở Trung Quốc trước hết là một tổ chức hành chính và không có đình, không có tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng (ở Trung Quốc, Thành Hoàng được thờ ở thành thị và không phổ biến), trong khi đó làng của người Việt trước hết
là một tổ chức xã hội - văn hóa, sau đó mới là một tổ chức hành chính và dưới hành chính, đình và Thành Hoàng làng là một yếu tố không thể thiếu của làng Việt
Quá trình chiếm lĩnh và làm chủ vùng đồng bằng, phát triển nghề trồng lúa nước, người Việt đã lấy làng làm chỗ dựa Ở giai đoạn đầu tiên, làng là giai đoạn làng - công xã thị tộc và được tổ chức dựa trên cơ sở huyết thống Sau đó, để phù hợp với sự phát triển của xã hội và lịch sử, làng được tổ chức không chỉ dựa trên quan hệ huyết thống mà dựa trên quan hệ địa vực, đó là giai đoạn công xã nông thôn Từ thế kỷ thứ X trở đi, làng Việt dần dần bị phong kiến hóa Cùng với thời gian, làng trở thành một cơ cấu tổ chức khá hoàn thiện, là nơi lưu giữ truyền thống dân tộc, đảm bảo sự thích nghi và sinh tồn của con người trong một không gian ổn định tương đối Làng chứa đựng những giá trị cốt lõi và là cái nôi của văn hóa dân tộc Việt Trong những điều kiện lịch sử khác nhau, dẫu làng có thay đổi về cơ cấu kinh tế, xã hội thì giá trị văn hóa ấy vẫn cứ tồn tại
Như vậy, có thể hiểu, “làng” là tổ chức quần cư tự nhiên của cư dân Việt, là nơi họ cùng chung sống và đoàn kết với nhau chống lại thiên tai, địch hoạ, cùng lao động sản xuất và tổ chức đời sống văn hóa tinh thần Làng là nơi thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mỗi người dân, làng có giới hạn lãnh thổ và môi trường văn hóa
tín ngưỡng xác định Làng vừa là đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước đồng thời
là một tổ chức tự quản hoạt động theo các quy ước của làng Theo tác giả, làng là
một đơn vị tụ cư truyền thống của người Việt, có địa vực riêng, có cơ cấu kinh tế và
cơ sở hạ tầng riêng, có phong tục, tập quán, tâm lý, tính cách, “thổ ngữ” (tiếng làng) riêng, được hình thành, phát triển qua các thời kỳ lịch sử và tương đối ổn định, gắn với đặc thù của sản xuất nông nghiệp
Như vậy, từ khi Nhà nước ra đời, làng là một đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước và là một tổ chức tự quản, quân sự và văn hóa khá hoàn chỉnh Làng là đơn vị
cơ bản hình thành nên quốc gia dân tộc Quốc gia là kết quả của sự liên kết các làng,
Trang 40là liên làng, siêu làng Làng xã có vai trò trung gian gắn kết giữa cá nhân, gia đình, làng xã và tổ quốc Làng không chỉ là “cái nôi” nuôi nấng văn hóa Việt, mà còn là thành trì vững chắc chống lại các cuộc xâm lăng và đồng hóa văn hóa Làng Việt có thể hình thành bằng nhiều cách thức khác nhau nhưng dù bằng cách nào đi nữa, bao giờ các tên gọi của làng cũng mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc và có một số đặc trưng
cơ bản khác hẳn với đô thị:
Thứ nhất, làng trước hết là một cộng đồng có địa vực riêng Đây là không gian
sinh tồn, là tài sản chung của cộng đồng làng, là ranh giới phân định giữa các làng được thể hiện trong hương ước làng Các gia đình quần tụ với nhau theo quan hệ họ hàng và quan hệ “tối lửa tắt đèn có nhau” Khác so với làng, đô thị là một vùng lãnh thổ xác định được ghi cụ thể trong các văn bản hành chính về địa giới, có sự tập trung
và phát triển thiên về công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, giáo dục, khoa học - công nghệ, có mật độ dân số cao hơn so với các khu vực khác Các gia đình quần tụ với nhau theo quan hệ láng giềng nhưng mối quan hệ này không khăng khít và chặt chẽ như quan hệ trong làng mà chủ yếu là theo kiểu “đèn nhà nào nhà ấy rạng”
Thứ hai, làng cổ truyền là một cộng đồng kinh tế tiểu nông tự cấp, tự túc, chủ
yếu gồm ba yếu tố căn bản: nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, trong
đó nông nghiệp là hoạt động kinh tế cơ bản và nổi bật Vì lẽ đó, phạm vi sinh sống, làm ăn của cư dân thường chỉ “gói gọn” trong một làng, không phức tạp Ngược lại,
ở đô thị, đại bộ phận dân cư sinh sống gắn liền với các hoạt động phi nông nghiệp
và sự tập trung chuyên môn hóa Kinh tế hàng hóa phát triển với nhiều ngành nghề
đa dạng và phong phú
Thứ ba, làng có tính biệt lập về xã hội và tính độc lập tương đối về chính trị
theo kiểu dân chủ làng xã Kết cấu xã hội trong làng phân tầng theo chức tước, theo khoa mục, theo tuổi tác, theo trật tự thân tộc và được quản lý một cách chặt chẽ Làng với tư cách là một đơn vị hành chính cấp cơ sở, có nghĩa vụ với Nhà nước, nhưng ngoài nghĩa vụ đó, mỗi làng đều có một cơ chế tự quản lý công việc làng thông qua hương ước và các thiết chế xã hội của làng Khác so với làng, đô thị là địa bàn được quản lý theo đơn vị hành chính, hoạt động theo những văn bản pháp quy và chịu sự quản lý trực tiếp từ các cơ quan Nhà nước Các mối quan hệ thân tộc, các thiết chế gia đình, dòng họ, hương ước không phải là những yếu tố cơ bản để quản lý đô thị
Thứ tư, làng là một cộng đồng về phong tục - tín ngưỡng, tâm lý, tính cách
và ngôn ngữ riêng Làng là một đơn vị hoạt động và giao tiếp khép kín, đồng thời là