Các công trình nghiên cứu về sự hài lòng với hôn nhân dưới góc độ tâm lý học với tư cách một nghiên cứu độc lập, đặc biệt là sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ dư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Trịnh Thị Linh- Giảng viên khoa Tâm lý học, trường Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phan Thị Hạnh
Trang 4Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cặp vợ chồng trí thức trên địa bàn Hà nội đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu thực tiễn, giúp tôi có được những số liệu quý báu để góp phần vào việc hoàn thành luận văn cao học
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người bạn và người thân trong gia đình tôi, những người đã ủng hộ tôi về mặt tinh thần, giúp tôi có thể hoàn thành luận văn của mình
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài của tôi còn những thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến quý giá của các Thầy (cô) giáo
để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn Một lần nữa, tôi xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, 12 tháng 02 năm 2018
Học viên
Phan Thị Hạnh
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng1.1 Các công cụ đa chiều cạnh đo lường hài lòng, thích ứng và chất lượng hôn
nhân (dẫn theo Chung, 1990) 6
Bảng 2.1: Đặc điểm khách thể nghiên cứu 42
Bảng 2.2 Các nhân tố trong thang đo hài lòng với hôn nhân 46
Bảng 2.3 ĐTB của từng bình diện và điểm xếp hạng giá trị trung bình của các biến 49
Bảng 3.1 Thực trạng hài lòng với hôn nhân của trí thức trẻ 52
Bảng 3.2 Mối tương quan giữa các nhân tố của sự hài lòng 54
Bảng 3.3 Sự hài lòng về hỗ trợ, chia sẻ trong đời sống tình cảm 58
của trí thức trẻ 58
Bảng 3.4 Sự hài lòng về ra quyết định và quản lý tài chính của trí thức trẻ 60
Bảng 3.5 Thực trạng hài lòng về phân chia trách nhiệm 62
và việc nhà của trí thức trẻ 62
Bảng 3.6 Thực trạng hài lòng chung với hôn nhân của vợ và chồng 64
Bảng 3.7 Mức độ đồng thuận của các cặp vợ chồng về sự hài lòng hôn nhân 65
Bảng 3.8 Nghề nghiệp của nhóm khách thể “rất hài lòng” về đời sống hôn nhân 66
Bảng 3.9 Việc sử dụng thời gian ngoài giờ làm việc ở cơ quan của các cặp vợ chồng trí thức “rất hài lòng” về đời sống hôn nhân 67
Bảng 3.10 Nghề nghiệp nhóm khách thể “hài lòng” với hôn nhân 68
Bảng 3.11 Thời gian ngoài việc dành cho công việc của nhóm khách thể “hài lòng” với hôn nhân 70
Bảng 3.12 Nghề nghiệp nhóm khách thể “không hài lòng” với hôn nhân 71
Bảng 3.13 Việc sử dụng thời gian ngoài giờ làm việc ở cơ quan của nhóm khách thể “không hài lòng” với hôn nhân 72
Bảng 3.14 Hệ số hồi quy giữa yếu tố thu nhập với hài lòng chung của hôn nhân 74
Bảng 3.15 Hệ số hồi quy giữa yếu tố hoàn cảnh sống với ra quyết định và quản lý tài chính 75
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Hài lòng về khía cạnh con cái của trí thức trẻ 55
Biểu đồ 3.2 Thực trạng hài lòng về sự cố kết vợ chồng của trí thức trẻ 61
Biểu đồ 3.3 Hoàn cảnh sống của nhóm khách thể “rất hài lòng” về đời sống hôn nhân 67
Biểu đồ 3.4 Hoàn cảnh sống của nhóm khách thể “hài lòng” với hôn nhân 69 Biểu đồ 3.5 Hoàn cảnh sống của nhóm khách thể “không hài lòng” với hôn nhân 71
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Khách thể nghiên cứu 2
5 Giả thuyết nghiên cứu 2
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
8 Phương pháp nghiên cứu 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG VỚI HÔN NHÂN CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG 4
1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu về sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng 4
1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 11
1.2.1 Lý luận về hôn nhân 17
1.2.2 Lý luận về trí thức và trí thức trẻ 19
1.2.3 Lý luận về sự hài lòng với hôn nhân và sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ 22
1.2.4.Các bình diện của sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ.24 1.2.5 Các yếu tố tác động đến sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức 27
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Một vài nét địa bàn và khách thể nghiên cứu 40
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 40
2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu 41
2.2 Tổ chức nghiên cứu 42
2.3. Phương pháp nghiên cứu 43
Trang 92.3.1 phương pháp nghiên cứu tài liệu 43
2.3.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi 43
2.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệubằng thống kê toán học qua phần mềm spss 48
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG VỚI HÔN NHÂN CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG TRÍ THỨC TRẺ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 52
3.1 Thực trạng sự hài lòng với hôn nhân của trí thức trẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 52
3.1.1 Thực trạng hài lòng với hôn nhân nói chung 52
3.1.2 Thực trạng hài lòng với hôn nhân của trí thức trẻ xét trên từng bình diện 55 3.1.3 Thực trạng hài lòng với hôn nhân của trí thức trẻ xét trên phương diện cặp đôi 64
3.2 Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng với hôn nhân của trí thức trẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 73
3.2.1 Yếu tố thu nhập 73
3.2.2 Hoàn cảnh sống 75
3.2.3 Yếu tố tình dục 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 86
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gia đình là nền tảng của xã hội, là một trong những nhân tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Gia đình luôn gắn kết chặt chẽ với xã hội, xã hội lành mạnh tạo điều kiện cho gia đình phát triển, gia đình hạnh phúc góp phần cho sự phát triển hài hòa của xã hội Tuy nhiên trong những năm gần đây thiết chế hôn nhân đang có xu hướng suy giảm Tỷ lệ ly hôn tăng trong khi tỷ lệ tái hôn giảm Trong khi đó, trí thức luôn là nền tảng của tiến bộ xã hội, là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá trí thức Đặc biệt với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển[60] Theo đó sự êm ấm của gia đình, đặc biệt là gia đình trí thức càng có vai trò quan trọng, là hậu phương vững chắc giúp mỗi người chuyên tâm vào công việc hơn Xét trên phương diện gia đình trí thức, chúng tôi nhận thấy rằng trong những năm gần đây, tỉ lệ nữ trí thức tham gia vào thị trường lao động ngày càng tăng Ngày càng nhiều nữ trí thức tham gia vào đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo, quản lý, đòi hỏi sự hỗ trợ rất lớn từ phía gia đình Trong bối cảnh này các cặp vợ chồng trí thức nhìn nhận như thế nào về cuộc sống hôn nhân của họ? Mức hài lòng với đời sống hôn nhân của họ ra sao? Những yếu tố nào có liên quan đến mức độ hài lòng này?Chúng tôi cho rằng việc trả lời những câu hỏi này là vô cùng quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Trên thực tế sự hài lòng với hôn nhân là một trong những chủ đề nhận được sự quan tâm của rấtnhiều công trình nghiên cứu trên thế giới trong vòng 50 năm trở lại đây Tuy nhiên ở trong nước các công trình nghiên cứu về chủ đề này còn khá khiêm tốn Trong phạm vi hiểu biết của mình, chúng tôi chủ yếu ghi nhận sự lồng ghép của chủ
đề này trong các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống hay hài lòng với cuộc sống nói chung Các công trình nghiên cứu về sự hài lòng với hôn nhân dưới góc độ tâm
lý học với tư cách một nghiên cứu độc lập, đặc biệt là sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ dường như còn vắng bóng
Xuất phát từ thực trạng này, chúng tôi quyết định triển khai đề tài “Sự hài
lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ trên địa bàn thành phố Hà
Trang 11Nội” với mong muốn cung cấp cái nhìn thực tế hơn về đời sống hôn nhân của trí
thức trẻ, góp phần tạo nền móng cho các nghiên cứu về sau
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội, cũng như một số yếu tố có liên quan nhằm đưa ra các kiến nghị phù hợp, hướng tới việc tạo dựng cuộc sống hôn nhân hài hòa, hạnh phúc ở các cặp vợ chồng này
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ
trên địa bàn Hà Nội và một số yếu tố có liên quan đến sự hài lòng này
4 Khách thể nghiên cứu
289 vợ chồng trí thức trẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội
5 Giả thuyết nghiên cứu
Các cặp vợ chồng trí thức trẻ trên địa thành phố bàn Hà Nội khá hài lòng về đời sống hôn nhân của họ, trong đó mức độ hài lòng cao nhất được thể hiện trong bình diện con cái và đời sống tình cảm
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa vợ và chồng về các bình diện hài lòng trong hôn nhân
Đời sống tình dục, nghề nghiệp, thu nhập, hoàn cảnh sống, có mối liên quan với mức độ hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hài lòng hôn nhân nói chung cũng như hài lòng hôn nhân của trí thức nói riêng
- Xây dựng cơ sở lý luận phục vụ cho triển khai nghiên cứu thực tiễn
- Nghiên cứu thực tiễn nhằm tìm hiểu thực trạng hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ trên đia bàn thành phố Hà Nội cũng như các yếu tố có liên quan
- Đề ra một số kiến nghị cải thiện hơn nữa mức độ hài lòng với cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ trên đia bàn thành phố Hà Nội
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
-Về nội dung nghiên cứu:
Trang 12Nghiên cứu thực trạng hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trong các bình diện: Sự hài lòng về đời sống tình cảm; thu nhập và chi tiêu; con cái; chia sẻ công việc nhà; ra quyết định và sự hài lòng về sự gắn kết vợ chồng Cùng các yếu tố có liên quan tới sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ như: đời sống tình dục; thu nhập; hoàn cảnh sống
- Về khách thể nghiên cứu:
Những cặp vợ chồng trí thức trẻ (dưới 40) tuổi hiện đang làm việc và sinh sống trên địa bàn thành phố Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra ằng ảng hỏi
- Phương pháp phân tích số liệu ằng thống kê toán học
Trang 13Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG VỚI HÔN NHÂN CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG
1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu về sự hài lòng với hôn nhân
của các cặp vợ chồng
Hôn nhân và sự hài lòng với hôn nhân là một chủ đề nhận được sự chú ý của học giả trên thế giới Trong năm mươi năm trở lại đây và đặc biệt là trong vòng hai thập kỷ gần đây, cùng với sự phát triển chóng mặt của nền công nghiệp hoá và hiện đại hoá, cấu trúc gia đình ở khắp nơi trên thế giới đã có những biến chuyển đáng kể với tỷ lệ nữ giới tham gia vào thị trường lao động ngày một tăng Sự dịch chuyển nhanh chóng này đã dẫn đến nhiều biến chuyển trong cấu trúc, vai trò và giá trị trong gia đình Bắt đầu từ cuối những năm 1990, thế giới chứng kiến sự gia tăng đáng kể của tỷ lệ ly hôn ở các nước phương Tây bao gồm Mỹ và Châu Âu (Bradbury, Fincham, & Beach, 2000) [dẫn theo 17] Những thay đổi này đặt ra câu hỏi lớn cho các nhà nghiên cứu gia đình về vấn đề hài lòng hôn nhân của các cặp vợ chồng, đặc biệt là vợ chồng trí thức trẻ
1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Xét về mặt lịch sử, các nghiên cứu về sự hài lòng hôn nhân và hạnh phúc bắt đầu xuất hiện cùng lúc với thời kì được gọi là kỉ nguyên mới của những nghiên cứu khoa học về các hành vi gia đình Kể từ đó, các chủ đề điều chỉnh về hôn nhân, hạnh phúc, thỏa mãn, hay những thuật ngữ liên quan về mối quan hệ hôn nhân đã trở thành một trong những chủ đề nghiên cứu phổ biến nhất của những nghiên cứu
về gia đình trong khoảng thời gian 50 năm trở lại đây (Burr, 1967; Hicks & Platt, 1970; Nye, 1988; Spanier & Lewis, 1980) Công trình của Burgess và Cottrell (1939) cũng như của Terman (1939) đã được trích dẫn như là sự khởi đầu của các nghiên cứu mang tính lý thuyết trong lĩnh vực này Trên thực tế, những nghiên cứu này có sức ảnh hưởng lớn đến quá trình khái niệm hóa các cấu trúc và nghiên cứu trong lĩnh vực hôn nhân gia đình (Burr, 1967) Theo các nghiên cứu này, ban đầu, Burgess và Cottrell (1939) nhìn nhận hôn nhân thành công là một khái niệm rộng
mà bản thân nó cũng mang ý nghĩa là một khái niệm cụ thể Sau đó, Burgess và Wallin (1953) đi đến một vài yếu tố mang tính chỉ báo hay các tiểu chiều cạnh mà ở
Trang 14đó mỗi yếu tố có thể được xem xét một cách riêng biệt nhằm phát triển một hồ sơ hôn nhân Trong khi Burgess và Wallin tận dụng thuật ngữ hôn nhân thành công, Terman (1939) sử dụng thuật ngữ hôn nhân hạnh phúc để luận bàn về hiện tượng chung này Trong nghiên cứu của mình, Terman tìm hiểu tương quan của khoảng vài trăm yếu tố với mức độ hạnh phúc hôn nhân thu được nhờ vào tự báo cáo của khách thể nghiên cứu Những nghiên cứu đa dạng này đã dẫn đến sự phát triển của nhiều công cụ đo lường về sự thỏa mãn/hài lòng trong hôn nhân và hôn nhân thành công được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu (ví dụ:Phiếu Khảo sát sự Điều chỉnh trong Hôn nhân (Survey marital- Adjustment) của Burgess và Cottrell, Chỉ số Hạnh phúc trong Hôn nhân của Terman (Index marital happiness), Trắc nghiệm ngắn về Sự điều chỉnh trong Hôn nhân (Short marital-adjustment test) của Lock & Wallace,
Như vậy, có thể nói, trước năm 1960, nghiên cứu về hôn nhân có đặc điểm nổi bật là sự tìm hiểu chung về hôn nhân mà không chú trọng đến một lĩnh vực cụ thể hay chiều cạnh của những tương tác trong hôn nhân (Snyder, 1979) Nói một cách khác, ở thời điểm này vẫn còn nhiều điểm mơ hồ trong việc hình thành nên các khái niệm.Trong những năm của thập niên 60, những nghiên cứu thực nghiệm đã nhấn mạnh vào danh tính và tìm hiểu mối tương quan nhân khẩu-xã hội với sự hài lòng/điều chỉnh/thỏa mãn trong hôn nhân (1990) Trong phạm vi hiểu biết của bản thân, chúng tôi nhóm các nghiên cứu về hài lòng hôn nhân trong thời gian này thành các hướng như sau:
- Hướng thứ nhất: Tập trung nghiên cứu thực trạng mức độ hài lòng với cuộc sống của các cặp vợ chồng hay các cặp đôi, kể cả là những người đang “hẹn hò” với các công trình nghiên cứu nổi trội của Fincham và Bradbury (1987), Spanier (1976), Cox (2006), Tam và Lee (2011) Trong hướng tiếp cận này, chúng tôi dễ dàng nhận thấy rằng đôi khi sự hài lòng với hôn nhân cũng được nghiên cứu cùng nội dung với chất lượng hôn nhân hay hôn nhân hạnh phúc Bên cạnh đó, tổng quan các công trình nghiên cứu cũng cho phép chúng tôi ghi nhận rằng khi tìm hiểu
về thực trạng mức độ hài lòng với cuộc sống của các cặp vợ chồng, các tác giả cũng
cố gắng chỉ ra sự tác động khác nhau của mô hình gia đình đến sự hài lòng này (Ubesekera & al, 2008; Olson, 2010; )
- Hướng thứ hai: Tập trung vào việc xây dựng và phát triển các công cụ đo lường
Trang 15mức độ hài lòng của các cặp vợ chồng (cặp đôi) trong cuộc sống chung của hai người Việc xây dựng và phát triển các công cụ đo lường này xuất phát từ chính cách tiếp cận một chiều cạnh (unidimensional) hay đa chiều cạnh (multidimensional) trong nghiên cứu về hài lòng hôn nhân Một số tác giả cho rằng
“hài lòng hôn nhân” là cái nhìn tổng thể, trọn vẹn của vợ/chồng về đời sống hôn nhân của họ Và do đó, nó là một chiều cạnh Tuy nhiên, cách nhìn này nhận được nhiều quan điểm trái chiều Bởi lẽ, đời sống hôn nhân vô cùng phức tạp và đa dạng Các thành viên trong mối quan hệ vợ chồng đều có thể thể hiện sự hài lòng/không hài lòng nhất định ở một bình diện nào đó của cuộc sống hôn nhân song điều đó không có nghĩa là họ sẽ hài lòng/không hài lòng tương ứng về cuộc sống hôn nhân nói chung của họ Nói một cách khác, theo cách tiếp cận này, hài lòng hôn nhân được nhìn nhận là đa chiều cạnh Quan điểm này nhận được sự đồng thuận của đa
số các nhà nghiên cứu về lĩnh vực hôn nhân, gia đình trên thế giới, thể hiện qua các công cụ đo lường rất đa dạng, phong phú sau đây:
Bảng1.1 Các công cụ đa chiều cạnh đo lường hài lòng, thích ứng và chất lượng
hôn nhân (dẫn theo Chung, 1990)
- Thoả thuận thư giãn trong hôn nhân
- Đồng thuận chung trong hôn nhân
- Hài lòng trong hôn nhân Thấu hiểu trong giao tiếp Bowerman
(1957)
Thích ứng Bowerman Marital Adjustment Scales (Thang
đo thích ứng trong hôn nhân Bowerman)
- Chi tiêu trong gia đình
- Gỉai trí
- Mối quan hệ với nhà thông gia
- Mối quan hệ với bạn bè
Trang 16- Niềm tin và thực hành tôn giáo
đoán trong hôn nhân)
- Tâm sinh lý
- Ấn tượng về văn hoá
- Vai trò kinh tế Các mẫu tình cảm và phản ứng Burgess (1984) Thích ứng
hoặc thành công
A Marriage Adjustment Form (Bảng hỏi về thích ứng hôn nhân)
- Mức độ hài lòng của cá nhân
- Các hoạt động xã hội của cặp đôi
- Các công việc gia đình
- Tình nghĩa
- Tương tác tình dục Mối quan hệ với con cái Fink, Skipper,
Hallenback
(1968)
Hài lòng Marital Satisfaction Scale (Thang đo hài lòng
trong hôn nhân)
Bengston
(1979)
Hài lòng Two-Factor Marital Satisfaction Scale (Thang
đo hài lòng trong hôn nhân hai yếu tố)
- Tương tác tích cực
- Tương tác tiêu cực Honeycutt &
(1986)
Hài lòng Satisfaction with Marital Issues and Topics (Hài
lòng với các vấn đề và chủ đề trong hôn nhân)
- Chia sẻ liên cá nhân
- Quản lý tài chính
- Hưởng thụ trong tình dục
- Vấn đề về trung thực và lạm dụng thuốc/chất gây nghiện
Trang 17Locke &
Wallace (1959)
Thích ứng Short marital-adjustment test (Trắc nghiệm
ngắn về thích ứng trong hôn nhân)
- Thích ứng
- Gỉai quyết xung đột
- Sự gắn kết
- Giao tiếp Locke &
Williamson
(1958)
Thích ứng Marital Adjustment Test (Trắc nghiệm thích
ứng trong hôn nhân)
- Tình nghĩa và hiệu quả của cặp vợ chồng
- Đồng lòng hay đồng thuận
- Gần gũi về mặt tình cảm hay thích ứng cảm xúc
- Diễn giải của phái nam (người chồng) về
sự sắp xếp (các công việc trong gia đình) của người vợ
- Hiệu ứng hưng phấn hay hào quang (Euphoria or halo effect)
Manson
&Lerner (1970)
Thích ứng Marital Adjustment Test (Trắc nghiệm thích
ứng trong hôn nhân)
- Các mối quan hệ trong gia đình
& Druckman
(1982)
Hạnh phúc trong mối quan hệ
Enriching & Nurturing Relationship lssues, Communication & Happiness (Nuôi dưỡng và làm giàu các vấn đề, giao tiếp và hạnh phúc trong mối quan hệ)
Trang 18Bradburn
(1968)
ứng trong hôn nhân)
- Tính xã hội (xã giao) trong hôn nhân
- Tình nghĩa
- Căng thẳng Rofe (1988) Hài lòng Marital Happiness Scale (Thang đo hạnh phúc
trong hôn nhân)
- Sự hài lòng chung trong hôn nhân và cảm giác được yêu thương
- Bất đồng trong hôn nhân
- Sự thoả mãn tình dục
- Đặc điểm thể chất bề ngoài Snyder (1983) Hài lòng Marital Satisfaction Inventory (Bộ câu hỏi hài
lòng trong hôn nhân)
- Quy ước hoá
- Sự phiền muộn toàn cầu (global distress)
- Giao tiếp về mặt cảm xúc
- Giao tiếp để giải quyết vấn đề
- Thời gian cùng nhau
- Bất đồng về tài chính
- Sự không hài lòng về tình dục
- Định hướng vai trò
- Lịch sử đau buồn của gia đình
- Không hài lòng về con cái
- Xung đột về việc nuôi dạy con cái
- Tranh chấp và bất đồng Spanier (1976) Thích ứng Dyadic Adjustment Scale (Thang đo điều chỉnh
trong hôn nhân)
- Cởi mở trong giao tiếp
Thích ứng Marital Need Satisfaction Scale (Thang đo nhu
cầu hài lòng trong hôn nhân)
- Tình yêu
- Hoàn thiện bản thân
- Tôn trọng
- Giao tiếp
- Tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống
- Tích hợp các kinh nghiệm sống trong quá khứ
Trang 19Bên cạnh đó, gần đây, chúng tôi ghi nhận công trình nghiên cứu của Russell
và Wells (1993) với bảng hỏi về hôn nhân và mối quan hệ - Marriage and Relationship questionnaine (MARQ) được Lucan và cộng sự (2008) nhìn nhận là có hiệu lực trong nhiều nền văn hóa khác nhau Bảng hỏi tập trung tìm hiểu hài lòng hôn nhân trong 12 bình diện: tình yêu; đối tác; ghen tuông; tình dục; vai trò quan hệ gia đình; vấn đề với mối quan hệ; vấn đề cá nhân; sự hấp dẫn; giá trị; vấn đề hoàn cảnh; vấn đề với người bạn đời và sự hòa giải
Như vậy, có thể thấy rằng có rất nhiều công cụ đo lường với nhiều bình diện khác nhau của hài lòng hôn nhân đã được đề cập Chúng tôi sẽ đề cập vấn đề này sâu hơn ở phần viết tiếp theo
- Hướng thứ ba: Tập trung vào việc tìm hiểu tác động của sự phân công lao động cũng như vai trò giới trong gia đình đối với sự hài lòng của các thành viên Trong đó, có thể kể đến công trình nghiên cứu khá nổi tiếng của Forste (2012) tại
31 quốc gia về “phân công lao động trong gia đình, vai trò giới và sự hài lòng trong gia đình: So sánh xuyên quốc gia” Kết quả của công trình nghiên cứu này khẳng định rằng đàn ông hạnh phúc hơn phụ nữ trong cuộc sống gia đình một phần là vì phụ nữ phải làm nhiều việc nhà hơn Đặc biệt, đàn ông trong các gia đình truyền thống (đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm) là những người hạnh phúc hơn cả Ngược lại, phụ nữ hiện đại là những người ít hài lòng hơn cả về cuộc sống gia đình
- Hướng thứ tư: Nghiên cứu về các yếu tố có liên quan tới sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng
Những nghiên cứu thuộc lĩnh vực hôn nhân gia đình giai đoạn đầu thường tập trung vào sự tương tác hành vi giữa hai đối tượng trong hôn nhân: vợ và chồng Hầu hết các nghiên cứu giai đoạn 1970 này là các báo cáo ca lâm sàng với khẳng định rằng những hành vi giao tiếp tiêu cực và né tránh là nguyên nhân chủ yếu có thể dẫn đến sự thất bại trong hôn nhân của các cặp đôi (Al-Darmaki et al., 2016) Tuy nhiên, nhận thấy rằng tương tác qua lại mới là yếu tố quan trọng trong hôn nhân chứ không phải là hành vi đơn lẻ từ một trong hai phía, từ những năm 1980 trở
đi, phong trào nghiên cứu được chuyển dần sang các quá trình liên cá nhân giữa cặp đôi (Fincham, Beach, & Kemp-Fincham, 1997) Một trong những nghiên cứu tiêu biểu của giai đoạn này là nghiên cứu của hai tác giả Margolin và Wampold (1981),
Trang 20cho thấy rằng điểm khác biệt lớn nhất giữa những cặp đôi có vấn đề và những cặp đôi hạnh phúc đó là sự tương tác đầy căng thẳng với mức độ tương tác tiêu cực (negative reciprocal) cao giữa cả hai bên (hành vi tiêu cực của một bên dẫn đến hành vi tiêu cực của bên còn lại và ngược lại) cùng với sự phản ứng tiêu cực (negative reaction) nói chung đối với mọi hành vi và tình huống (bỏ qua các chi tiết tích cực của bạn đời và chỉ chú ý vào các chi tiết tiêu cực) Các nhà nghiên cứu về sau tiếp nối các nghiên cứu của Margolin và cộng sự nhưng mở rộng tìm hiểu các cấu trúc giao tiếp nói chung và các khía cạnh hỗ trợ giữa vợ và chồng nói riêng chứ không chỉ tập trung vào các phản ứng tức thời giữa hai bên Các yếu tố được xem là nổi trội nhất và có ảnh hưởng lớn đến mức độ hài lòng trong hôn nhân được tổng hợp từ các nghiên cứu nói trên sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể hơn tại mục 1.2.7 các yếu tố tác động đến sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức
Như vậy, có thể thấy rằng nghiên cứu sự hài lòng với hôn nhân đã được thực hiện rất đa dạng phong phú với nhiều hướng nghiên cứu khác nhau Đa phần các nghiên cứu này đều tiến hành trên nhóm khách thể là những cặp đôi đang hẹ hò, những cặp vợ chồng đã kết hôn nói chung, mà chưa có sự tách bạch nghiên cứu chuyên sâu trên nhóm khách thể là trí thức và trí thức trẻ
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Tiếp cận các công trình nghiên cứu trong nước, chúng tôi nhận thấy rằng mặc dù chủ đề hài lòng hôn nhân được đề cập rất đa dạng và phong phú trên thế giới song ở Việt Nam vẫn còn rất ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu bàn về vấn đề này Vì vậy, chúng tôi phải tiếp cận hướng nghiên cứu này từ góc độ tìm hiểu các nghiên cứu về sự hài lòng nói chung Trong quá trình tìm hiểu các công trình nghiên cứu đã được công bố, trong phạm vi hiểu biết của bản thân, chúng tôi ghi nhận 4 hướng nghiên cứu chủ yếu trong lĩnh vực này, cụ thể như sau:
Hướng thứ nhất: nghiên cứu sự hài lòng trong lĩnh vực kinh doanh-thương
mại, tập trung tìm hiểu sự hài lòng của khách hàng, người tiêu dùng, nhân viên về một loại sản phẩm, dịch vụ hay một mô hình kinh doanh nào đó Có thể kể đến một
số công trình nghiên cứu theo hướng này như:
“Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách khi đến du lịch ở Kiên Giang (Lưu Thanh Đức Hải và Nguyễn Hồng Giang, 2011) Kết quả
Trang 21nghiên cứu cho thấy, sự hài lòng của du khách có liên quan đến 5 thành phần: (1) tiện nghi cơ sở lưu trú, (2)phương tiện vận chuyển thoải mái, (3) thái độ của hướng dẫn viên, (4) hạ tầng cơ sở và (5) hình thức của hướng dẫn viên, trong đó, thái độ của hướng dẫn viên tác động mạnh nhất đến sự hài lòng du khách, kế đến là hình thức của hướng dẫn viên, sự thoải mái trong phương tiện vận chuyển, hạ tầng cơ sở
và cuối cùng là tiện nghi cơ sở lưu trú [9] “Sự hài lòng của khách hàng đối với dịch
vụ Internet – Banking của Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi Nhánh Gia Lai” của tác giả Nguyễn Hoàng Hà (2016) cho thấy rằng ngày càng có nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ, đối tượng sử dụng chủ yếu là khách hàng đang đi làm
và có xu hướng ngày càng tăng, sau đó là học sinh, sinh viên và thấp nhất là khách hàng hưu trí [7] “Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ truyền hình MyTV tại TP Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Thời Thế (2012) cho thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ truyền hình MyTV tại TP Đà Nẵng: dịch vụ gia tăng, chất lượng dịch vụ cốt lõi, dịch vụ khách hàng, giá cả hợp lý [27]; …
Hướng nghiên cứu thứ hai: nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
với các nghiên cứu liên quan tới sự hài lòng về chất lượng đào tạo, chương trình đào tạo, về giảng viên, công việc… Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu theo hướng này như: "Khảo sát sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo tại trường Đại Học Kinh Tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội” của Bùi Thị Ngọc Ánh, Đào Thị Hồng Vân (2013) Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 thành phần chất lượng đào tạo tác động đến sự hài lòng của sinh viên, bao gồm: Cơ sở vật chất; chương trình đào tạo; Khả năng phục vụ; Giảng viên Trong đó mức độ tác động nhất đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo là chương trình đào tạo, tiếp đó lần lượt là cơ sở vật chất, khả năng phục vụ, giảng viên [2]; “Nghiên cứu sự hài lòng của nhân viên đối với công việc tại trường Cao đẳng Công nghệ thông tin hữu nghị Việt-Hàn” (Nguyễn Thanh Hoài, 2013) với kết quả cho thấy nhân viên có mức độ hài lòng khá cao, các yếu tố có mức độ hài lòng cao là: công việc, điều kiện làm việc và đào tạo, thăng tiến Những yếu tố có mức hài lòng thấp hơn: thu nhập, phúc lợi và đồng nghiệp [11]; “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên với điều kiện cơ
sở vật chất và phục vụ của trường đại học Lâm nghiệp” của tác giả Nguyễn Thị
Trang 22Xuân Hương, Nguyễn Thị Phượng, Vũ Thị Hồng Loan, đăng trên tạp chí Khoa học
và Công nghệ Lâm nghiệp số 12-2016 Được tiến hành trên 423 sinh viên trường đại học Lâm nghiệp, nghiên cứu đã tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của sinh viên là: (1) yếu tố cơ sở vật chất, (2) sự tin cậy trong các cam kết của nhà trường, (3) sự đáp ứng các yêu cầu của nhà trường, (4) năng lực phục vụ và (5) quan tâm đến nhu cầu của sinh viên Nghiên cứu đã giúp đưa ra những căn cứ quan trọng, để xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp, nâng cao mức hài lòng của sinh viên ở trường [14]
Hướng nghiên cứu thứ a: nghiên cứu về sự hài lòng trong lĩnh vực y tế
Theo hướng này, chúng tôi ghi nhận một số công trình nghiên cứu cụ thể như: Nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ y tế tại bệnh viện Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới - Quảng Bình (Phùng Thị Hồng Hà, Trần Thị Thu Hiền, 2012) Theo nghiên cứu bệnh nhân chưa hài lòng với các dịch vụ mà bệnh viện cung cấp, đặc biệt là vấn đề đội ngũ cán bộ y tế, chất lượng khám chữa bệnh và chi phí chữa bệnh [8]; Nghiên cứu của UNICEF về sự hài lòng của người dân đối với các dịch vụ y tế tuyến xã tỉnh Điện Biên năm 2013 cho thấy một tỷ lệ rất thấp từ
1 đến 5% người sử dụng cảm thấy chưa hài lòng với từng dịch vụ y tế do tuyến xã cung cấp [32]; Nghiên cứu của tác giả Bùi Thái Nguyên về “Sự hài lòng của người lao động với công việc (Trường hợp bệnh viện đa khoa huyện Krông Pắc và bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk)” năm 2016 đã chỉ ra mức độ hài lòng với công việc của bác sỹ, điều dưỡng và nữ hộ sinh tại bệnh viện đa khoa huyện Krông Pắc và bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk ở mức cao (với điểm trung bình 3.96/5) không có sự khác biệt về mức độ hài lòng giữa hai nhóm nam và nữ Giữa hai bệnh viện đa khoa huyện Krông Pắc và bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk cũng không có sự khác biệt về mức hài lòng chung với công việc của bác sỹ, điều dưỡng và nữ hộ sinh Không có
sự khác biệt giữa các nhóm tuổi về sự hài lòng chung nhưng có sự khác biệt đối với một số khía cạnh như: Giá trị đạo đức, tính sáng tạo, giá trị công việc, quyền lực [21]
Hướng nghiên cứu thứ tư: nghiên cứu về sự hài lòng với cuộc sống Theo
hướng nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận một số công trình cụ thể như: Nghiên cứu “sự hài lòng về cuộc sống của người Việt Nam: một số phát hiện ban đầu và hàm ý chính sách” của tác giả Hoàng Bá Thịnh đăng trên tạp chí Nghiên cứu Con
Trang 23người, số 4 năm 2012 Bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu “sự hài lòng về cuộc sống” thuộc đề án cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, thực hiện năm 2011, tại 4 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Dương, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả nghiên cứu sự hài lòng về cuộc sống của người dân Việt Nam trên các bình diện: (1) hài lòng về quan hệ gia đình, con cái; (2) hài lòng về cuộc sống của bản thân; (3) hài lòng về điều kiện sinh hoạt của gia đình; (4) hài lòng về điều kiện cư trú của gia đình Kết quả cho thấy người dân Việt Nam có mức độ hài lòng cao nhất ở lĩnh vực: quan hệ cha mẹ - con cái, hôn nhân, gia đình, con cái Mức độ hài lòng thấp nhất thuộc lĩnh vực chi tiêu, học vấn, thu nhập, cơ sở hạ tầng [29] Cũng trong khuôn khổ của đề án này, tác giả Dương Thị Thu Hương (2012) đã tìm hiểu về “các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng về đời sống tinh thần” của người dân Kết quả cho thấy điểm trung bình mức độ hài lòng về đời sống tinh thần của người được hỏi là 3.94 Nghiên cứu không ghi nhận sự khác biệt hay chênh lệch về mức độ hài lòng
về đời sống tinh thần của những nhóm người khác nhau về đặc điểm nhân khẩu học
và đặc điểm xã hội Các đặc điểm nhân khẩu học có tác động đến mức độ hài lòng
về đời sống tinh thần bao gồm: giới tính, vùng miền Nam giới có xu hướng hài lòng về đời sống tinh thần cao hơn so với nữ giới và người miền Bắc có xu hướng hài lòng về đời sống tinh thần cao hơn so với người miền Nam Tuy nhiên, yếu tố thực sự có tác động đáng kể đến mức độ hài lòng về đời sống tinh thần chính là kinh
tế của bản thân và gia đình (thu nhập, tài sản), đặc biệt là sự hài lòng về thu nhập [13] Cũng xuất phát từ đề án này, tác giả Nguyễn Thị Vân Hạnh (2013) đã tập trung tìm hiểu “ Sự hài lòng về cuộc sống của người Việt Nam hiện nay xét trên góc
độ nghề nghiệp, việc làm và mức sống” Nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa nghề nghiệp hiện tại và sự hài lòng đối với nghề nghiệp, có sự khác biệt nhất định giữa các cá nhân sở hữu những nghề nghiệp khác nhau Trình độ học vấn cũng có tác động đáng kể tới sự hài lòng trong nghề nghiệp lựa chọn của cá nhân Trình độ học vấn càng cao, cá nhân càng có xu hướng hài lòng với nghề nghiệp của mình hơn Mức độ hài lòng đối với nghề nghiệp của người dân ở 4 tỉnh thành về cơ bản là giống nhau [10]
Trong khi tìm hiểu về sự hài lòng của người dân nói chung về các lĩnh vực khác nhau của đời sống, công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Bá Thịnh cũng đã
Trang 24có đề cập đến sự hài lòng với đời sống hôn của người dân Sử dụng thang đo Likert
5 bậc, trong đó 1 là hoàn toàn không hài lòng, 5 là hoàn toàn hài lòng, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ hài lòng đối với hôn nhân được người dân đánh giá rất cao, đứng thứ 2 so với 22 khía cạnh của cuộc sống Tỉ lệ người được hỏi cho điểm “hoàn toàn hài lòng” về hôn nhân với điểm số cao nhất (5 điểm: rất hài lòng) chiếm gần 63,4%, chỉ có 1,9% người trả lời cho rằng hôn nhân hoàn toàn không đáp ứng mong muốn của họ Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương được đánh giá có mức độ hài lòng với hôn nhân thấp hơn so với Hà Nội và Hải Dương Tuy nhiên sự khác biệt này rất nhỏ và không mang ý nghĩa thống kê Về giới tính, nam có xu hướng hài lòng với hôn nhân cao hơn so với nữ giới Về khu vực cư trú, mức độ hài lòng về hôn nhân của người dân đô thị được đánh giá cao hơn ở nông thôn Có sự khác biệt về mức độ hài lòng với hôn nhân giữa nhóm hiện đang có vợ, có chồng với nhóm ly hôn, ly thân, góa Điểm số trung bình về mức độ hài lòng về hôn nhân của nhóm ly thân, ly hôn, góa thấp hơn hẳn so với nhóm đang có vợ, có chồng (3,1
và 4,5) Về nghề nghiệp, nhóm công chức là nhóm có xu hướng hài lòng về hôn nhân cao nhất so với nhóm khác: tiểu thủ công nghiệp, y dược, lao động tự do, không có việc làm [28]
Cũng trong khoảng thời gian này, chúng tôi ghi nhận sự quan tâm nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hà Đông (Viện nghiên cứu gia đình và Giới) về chủ đề này Trên cơ sở phân tích số liệu “Nghiên cứu Gia đình Việt Nam năm 2010: Nhận thức
và thái độ về gia đình” do Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện năm 2010 tại 24 Phường/xã trên địa bàn Hà Nội mở rộng, Nguyễn Hà Đông đã tìm hiểu về “sự hài lòng với hôn nhân và các yếu tố tác động” của người dân Kết quả khảo sát số liệu cho thấy người dân hài lòng cao về đời sống hôn nhân của họ Mức độ hài lòng này chịu sự tác động của các yếu tố: sự hòa hợp về tình dục, sự hỗ trợ về tình cảm, việc thường xuyên tổ chức các sự kiện đặc biệt, mức sống hộ gia đình, nhóm nghề nghiệp của cặp vợ chồng và nơi cư trú [6] Có thể thấy rằng nghiên cứu của Nguyễn
Hà Đông đã mô tả sâu hơn được một số chiều cạnh của sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân song các kết quả chủ yếu cũng mới chỉ dừng lại dưới dạng thống kê mô tả
mà chưa có sự phân tích theo chiều sâu về các chiều cạnh này
Trang 25Bên cạnh hai công trình nghiên cứu này, chúng tôi cũng nhận thấy rằng sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân cũng đã được đề cập đến ở một số đề tài, nghiên cứu khoa học khác, cụ thể:
Nghiên cứu của tác giả Bùi Vân Anh (2008) về “Quan hệ tình dục vợ chồng: mối tương quan của nó với sự hài lòng về đời sống hôn nhân trong gia đình ở nông thôn hiện nay” Khảo sát số liệu trên 370 người dân đang có vợ, có chồng, phần lớn làm nghề nông với độ tuổi từ 21 đến ngoài 50 tuổi cho thấy hơn một nửa người được hỏi rất hài lòng về gia đình của họ (54,6%); gần một nửa trả lời phần lớn hài lòng về gia đình của họ (41,1%); chỉ có 3,8% cho biết rằng phần lớn họ không hài lòng và 0,3% trả lời rất không hài lòng về gia đình [1]
Ở khía cạnh các yếu tố tác động đến chất lượng hôn nhân, tác giả Lê Việt Nga, Viện nghiên cứu Gia đình và giới đã tập trung tìm hiểu “Các yếu tố tác động đến hạnh phúc vợ chồng, mức độ hài lòng với hôn nhân và cuộc sống gia đình của người dân” dựa trên dữ liệu điều tra “Quan niệm, mức độ và các yếu tố tác động đến hạnh phúc gia đình: nghiên cứu trường hợp tỉnh Quảng Ngãi”do Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện trong 2 năm (2013-2014) Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số người dân rất hài lòng hoặc hài lòng với cuộc hôn nhân hiện tại và cuộc sống gia dình Những yếu tố được nhiều người dân đánh giá cao là: lòng chung thủy; sự quan tâm; là chỗ dựa lẫn nhau giữa vợ và chồng và sự thống nhất trong giáo dục con cái Mức độ hài lòng với hôn nhân có mối quan hệ với các yếu tố nơi
cư trú, quan hệ hàng xóm, thu nhập, điều kiện nhà ở Trong khi mức độ hài lòng với cuộc sống gia đình lại gắn liền với các yếu tố tuổi, giới tính, học vấn và nghề nghiệp, thu nhập, điều kiện nhà ở và tình trạng nghèo [20]
Gần đây nhất, chúng tôi ghi nhận bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hoa (2016) trên Tạp chí Tâm lý học về “sự hài lòng với cuộc sống gia đình của phụ nữ bị bạo lực gia đình” Kết quả nghiên cứu trên 622 phụ nữ ở hai tỉnh miền núi phía Bắc là Quảng Ninh và Lào Cai cho thấy nhìn chung nhóm phụ nữ trong nghiên cứu khá hài lòng với cuộc sống gia đình Các khía cạnh của cuộc sống gia đình được đưa ra trong nghiên cứu gồm: Đời sống tình cảm vợ chồng, cách giải quyết vấn đề của hai
vợ chồng, đời sống tình dục, mức độ chăm sóc gia đình, những hoạt động giải trí, cách chồng đối xử với bố mẹ vợ, quan hệ bạn bè bên gia đình, cách thức bố mẹ
Trang 26chồng đối xử với con dâu, công việc của vợ, kinh tế gia đình, điều kiện về nhà ở, sức khỏe của thành viên trong gia đình, học tập/việc làm của con, quan hệ hàng xóm, cách hành xử của con Nghiên cứu đã chỉ ra mức độ hài lòng thấp nhất về đời sống vật chất của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình, mức độ hài lòng cao nhất được nhóm khách thể này nhìn nhận trong các lĩnh vực quan hệ bên ngoài gia đình
Như vậy, có thể nói rằng ở Việt Nam các nghiên cứu về hài lòng hôn nhân dưới góc độ tâm lý học chưa thực sự được chú trọng trong thời gian qua Chủ yếu chúng tôi chỉ ghi nhận việc tìm hiểu về nội dung này lồng ghép trong nghiên cứu về
sự hài lòng với cuộc sống hoặc một vấn đề nào đó khác
Tóm lại, tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho phép chúng tôi khẳng định rằng hài lòng hôn nhân là một chủ đề hấp dẫn đối với nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực tâm lý học Ở Việt Nam, chủ
đề này cũng đã được nghiên cứu song vẫn còn là một chủ đề mới, chưa có các nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ tâm lý học với tư cách là một nghiên cứu độc lập, đòi hỏi cần có nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa về chủ đề này
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản
1.2.1 Lý luận về hôn nhân
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội phức tạp, bao hàm trong đó các mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực như: sinh lý, kinh tế, xã hội, văn hóa, tâm lý, tình cảm… Vì vậy trong giới nghiên cứu khái niệm hôn nhân được nêu lên dưới nhiều góc độ khác nhau [4]
Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên) do NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 1988, đưa ra một khái niệm ngắn gọn “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng” [20]
Khi coi hôn nhân là một quy tắc xã hội, Nguyễn Văn Tiệp cho rằng “nếu gia đình là hình thức kết hợp cá nhân có tính lịch sử của tổ chức đời sống xã hội loài người, đó là sự kết hợp giữa đàn ông và đàn bà thì hôn nhân là những quy tắc của sự kết hợp đó, sự kết hợp mang yếu tố giới tính Những hình thức của hôn nhân phản ánh những quy luật chung nhất sự phát triển của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử và mang những đặc thù văn hóa tộc người” [dẫn theo 4] Chú ý đến mối quan hệ trong hôn nhân, các tác giả Emily A.schultz và Robert H.Lavenda cho rằng
“Một hôn nhân mẫu (1) đòi hỏi phải có một người nam và một người nữ và (2) quy
Trang 27định mức độ quan hệ tính giao các thành viên trong hôn nhân có thể có với nhau, xếp từ quan hệ độc quyền đến quan hệ ưu tiên Hôn nhân (3) tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra và (4) thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên
vợ và họ hàng bên chồng” Hoặc như G.Endruweit và G.Trommsdorff định nghĩa
“Hôn nhân là một dạng liên kết khác giới thuộc loại đặc biệt được tập quán và pháp luật công nhận, có giá trị lâu dài [dẫn theo 4]
Trong công trình nghiên cứu “Gia đình truyền thống - một số tư liệu nghiên cứu Xã hội học” xuất bản năm 1977, tác giả Khuất Thu Hồng cho rằng hôn nhân, thứ nhất, chỉ quá trình chung sống trong hôn thú của một cặp vợ chồng, với nghĩa này, hôn nhân là một thiết chế xã hội và thứ hai, hôn nhân chỉ các sự kiện và quá trình dẫn đến sự hình thành một gia đình mới hay là một việc kết hôn [dẫn theo 4]
Trong tác phẩm “Hôn nhân và các gia đình dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam”, một công trình đề cập nhiều đến lý thuyết hôn nhân và gia đình, tác giả Đỗ Thú Bình nhận định: “Hôn nhân và gia đình là các thiết chế xã hội rất đa dạng và phức tạp phản ánh các mối quan hệ sinh học và xã hội, vật chất và tinh thần, tư tưởng và tâm lý” và “Hôn nhân – một thể chế xã hội luôn là đối tượng của kiểm soát xã hội, còn trong xã hội có giai cấp là đối tượng của pháp luật”
Như vậy, dưới góc độ tiếp cận khác nhau, các khái niệm trên đều có sự thống nhất cơ bản rằng: tuy hôn nhân nhằm tới việc quan hệ giới tính nhưng hôn nhân không đồng nhất với quan hệ giới tính Chỉ quan hệ giới tính đơn thuần thì không cần có hôn nhân, hôn nhân phân biệt với quan hệ giới tính ở những chức năng văn hóa xã hội của nó… “tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra và thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng”; “được tập quán và pháp luật công nhận, có giá trị lâu dài”; “là những quy tắc của sự kết hợp mang yếu
tố giới tính” …và đó chính là bản chất của quan hệ hôn nhân [dẫn theo 4]
Theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (2010) “Hôn nhân là quan hệ giữa
vợ và chồng sau khi kết hôn” Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Về điều kiện kết hôn: Nam phải đủ 20 tuổi trở lên, nữ đủ 18 tuổi trở lên; việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định; không bị mất năng lực, hành vi dân sự; việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định các điều khoản
Trang 28trên Về đăng ký kết hôn, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thực hiện theo những quy định của luật này và pháp luật về hộ tịch Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp
lý Quan hệ giữa vợ và chồng: bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng [16]
Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam hiện nay của
Ủy ban dân số, Gia đình và trẻ em, (2004), đưa ra khái niệm về hôn nhân: “Hôn nhân là sự cam kết chung sống giữa những người trưởng thành khác giới, được sự phê chuẩn của pháp luật Những người kết hôn có những quyền và nghĩa vụ đối với nhau cũng như quyền và nghĩa vụ đối với con cái do họ sinh ra.”[dẫn theo 31]
Như vậy, có thể thấy là có nhiều quan điểm khác nhau về hôn nhân song nhìn chung các định nghĩa đều đồng thuận rằng hôn nhân là mối quan hệ giữa vợ và chồng Do vậy trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm hôn nhân theo luật hôn nhân và gia đình làm khái niệm công cụ của đề tài Theo đó khác với gia đình, hôn nhân chỉ với tư cách là một quan hệ xã hội Hôn nhân được coi như là cơ sở cho sự hình thành gia đình
1.2.2 Lý luận về trí thức và trí thức trẻ
Theo từ điển triết học “Trí thức là tập đoàn người gồm những người làm nghề lao động trí óc.Giới trí thức bao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viên chức” [dẫn theo 26] Định nghĩa này không chỉ xác định trí thức là những người “làm nghề lao động trí óc” mà còn chỉ ra các nhóm nghề nghiệp khác nhau được xem là trí thức
Tuy nhiên với cách hiểu định danh như thế này, việc xác định đội ngũ trí thức quả là không dễ dàng Vì vậy, trong thực tế, nhiều cách hiểu đơn giản hơn về
trí thức đã được đưa ra
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chí đầu tiên của người trí thức là người đó phải có trình độ từ cử nhân trở lên Bác khẳng định “Một người học xong đại học có thể gọi là trí thức” song “Muốn trở thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế” Như vậy học vấn đại học mới chỉ là điều kiện cần, quan trọng là phải sử dụng có hiệu quả trí thức trong đời sống xã hội, phục vụ dân sinh
Trang 29Ngày nay, ở Việt Nam, theo các nhà nghiên cứu, các học giả thì trí thức là những người có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên; lao động trí óc, có sự sáng tạo,
có lương tri, phẩm chất đạo đức trong sáng, có nhiều cống hiến cho xã hội bằng những công trình khoa học, phát minh, sáng chế Họ là những người đức độ, biểu hiện ở sự toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc Ngày nay, trí thức được xem là một tầng lớp xã hội có những đặc thù riêng trong cấu trúc xã hội Việt Nam Đó là cộng đồng những người có cùng một loại hoạt động nghề nghiệp đặc biệt Trí thức có mặt ở tất cả mọi lĩnh vực, mọi ngành, mọi khu vực lãnh thổ Các nhà nghiên cứu đã phân chia trí thức thành những nhóm khác nhau dựa vào trình độ chuyên môn và lĩnh vực nghề nghiệp Các nhà khoa học Việt Nam đã khẳng định tầng lớp trí thức Việt Nam có phẩm chất nhân cách văn hóa đặc trưng, gắn với bối cảnh phát triển của xã hội” Phần đông người trí thức xuất thân từ tầng lớp lao động, được học tập, đào tạo rèn luyện trong điều kiện của công cuộc xây dựng và đổi mới của đất nước…Vì vậy đa số trí thức đều gắn bó với Đảng, với chủ nghĩa xã hội, với giai cấp công nhân, nông dân, những người lao động chân chính nói chung” [25]
Nghị quyết số 27- NQ/TW (6-8-2008) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng khẳng: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội”[70]
Đồng quan điểm với nghị quyết số 27 về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tiến sĩ Trần Thị Vân Anh trong báo cáo tham luận tại hội thảo khoa học: Nữ trí thức Việt Nam đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đã đề cập Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ chuyên môn, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo tạo ra sảng phẩm vật chất và tinh thần có giá trị đối với xã hội
Theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết, trí thức không nhất thiết là người có bằng cấp cao và ngược lại người có bằng cấp cũng chưa hẳn là trí thức Điều quan trọng đối với người trí thức là có hiểu biết sâu rộng và có khả năng sáng tạo trong một hoặc một số lĩnh vực chuyên môn nhất định Hoặc thực hiện những công việc có
Trang 30tầm quan trọng, đòi hỏi có trình độ chuyên môn cao, sự huy động nỗ lực trí óc nhiều
Như vậy theo cách hiểu trên thì tầng lớp trí thức là môt tập hợp mở và đa dạng, không giống bất kỳ một tập hợp nào khác trong xã hội như nông dân, công nhân, thợ thủ công, quân nhân, thương nhân hay buôn bán nhỏ Trí thức có thể là bất kỳ ai trong các tập hợp trên, miễn là có hiểu biết sâu rộng và tham gia lao động trí óc Tuy nhiên bộ phận hạt nhân của tầng lớp trí thức là các nhà nghiên cứu; các giảng viên đại học, các bác sĩ, dược sĩ cao cấp, các nhà văn , nhà thơ, nhạc sĩ, họa
sĩ, nhà báo, các nhà quản lý và công chức, viên chức trong bộ máy tham mưu cho quản lý
Tác giả Nguyễn Minh Thuyết chỉ ra một số đặc điểm của trí thức:
- Ham học hỏi, luôn tiếp cận mới do vậy trình độ lý luận không ngừng nâng cao
- Luôn sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm; ít chịu rập khuôn theo công thức sẵn có
- Có tư duy lật lại vấn đề, tư duy phản biện, có hoài bão vươn lên
- Có nguyên tắc sống, khẳng khái, tự trọng, cư xử lịch thiêp, sống khiêm tốn Tiếp cận khái niệm trí thức dưới góc độ xã hội chính trị, trong luận án tiến sĩ
“Đặc điểm và vai trò đội ngũ trí thức trong sự nghiệp đổi mới của đất nước hiện nay” Nguyễn Thanh Tuấn quan niệm: trí thức là một tầng lớp xã hội đặc thù và độc lập tương đối chuyên làm các nghề lao động trí óc phức tạp và sáng tạo Tác giả cũng chỉ ra đặc điểm của đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay:
- Sản xuất, truyền bá và ứng ứng dụng tri thức khoa học
- Có mặt trong mọi lĩnh vực, mọi ngành, mọi khu vực lãnh thổ và gắn bó chặt chẽ với mọi giai cấp, tầng lớp khác
- Lao động sáng tạo của trí thức là sáng tạo tri thức khoa học ở lĩnh vực sản xuất tinh thần là chính
- Về chuyên môn và học vấn: cơ cấu học vấn gồm cao đẳng, đại học, phó tiến
sĩ, tiến sĩ khoa học; cơ cấu chuyên môn gồm khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu lý luận và triển khai công nghệ vào thực tiễn đời sống
Trang 31- Các nhóm trí thức xã hội bao gồm:
+ Trí thức khoa học tự nhiên, kỹ thuật, nông, lâm nghiệp
+ Trí thức nghiên cứu giảng dạy
+ Trí thức giáo dục và đào tạo
+ Trí thức văn nghệ sĩ và nhà báo
+ Trí thức y và dược
+ Trí thức lãnh đạo và quản lý chính trị, kinh tế và xã hội
Xuất phát từ các quan điểm này, chúng tôi cho rằng có thể định nghĩa trí thức
là những người có trình độ từ cao đẳng trở lên, làm công việc có liên quan đến hoạt động trí tuệ và có tính sáng tạo, tạo ra sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị cho
xã hội Vậy trí thức trẻ được hiểu như thế nào?
Theo “trí thức khoa học trẻ ở Việt Nam hiện nay thách thức và triển vọng” của tác giả Trần Cao Sơn thì trí thức khoa học trẻ là người còn trẻ về tuổi đời và tuổi nghề, có độ tuổi dưới 40 tuổi làm việc trong các cơ quan nghiên cứu khoa họ, các trường đại học cao đẳng [24]
Như vậy, có thể hiểu trí thức trẻ là những người có trình độ từ cao đẳng trở lên, làm công việc liên quan đến hoạt động trí tuệ và có tính sáng tạo, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị cho xã hội, có độ tuổi dưới 40 tuổi
1.2.3 Lý luận về sự hài lòng với hôn nhân và sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ
Graham và cộng sự (2011) ghi nhận rằng trong đời sống cặp đôi hay đời sống hôn nhân, sự hài lòng về mối quan hệ này luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều các nhà nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực tâm lý học và xã hội học Mặc dù vậy, trong suốt những thập kỷ qua, dù rất nhiều các nghiên cứu được xuất bản với hàng trăm các tác giả nghiên cứu khác nhau, cho đến nay, định nghĩa về sự hài lòng với hôn nhân vẫn là một câu hỏi gây tranh cãi chưa
có hồi kết Hầu hết các nghiên cứu trước đây định nghĩa sự hài lòng với hôn nhân là
sự tự lượng giá của cá nhân về chất lượng của mối quan hệ giữa hai người với những điểm tích cực nổi trội và không có những điểm tiêu cực Trong khi đó, sự không hài lòng hay bất mãn trong hôn nhân là sự tự lượng giá của cá nhân về chất lượng mối quan hệ mà ở đó, điểm tiêu cực nhiều hơn điểm tích cực (Bradbury et al.,
Trang 322000) Fenell (1993) đã chỉ ra 10 đặc điểm của một mối quan hệ hôn nhân hạnh phúc, bao gồm: (1) sự cam kết của cá nhân với một mối quan hệ lâu dài; (2) chung thuỷ với bạn đời; (3) có những giá trị đạo đức riêng; (4) tôn trọng bạn đời như một người bạn; (5) có sự cam kết đối với mối quan hệ tình dục với bạn đời; (6) mong muốn được trở thành những ông bố bà mẹ tốt; (7)có niềm tin vào chúa hoặc một tôn giáo nào đó; (8) mong muốn được hỗ trợ bạn đời; (9) đồng hành với bạn đời; (10) sẵn lòng để tha thứ và được tha thứ Một mối quan hệ hôn nhân không tạo nên sự hài lòng cho các cá nhân, theo Fenell, sẽ vắng mặt các yếu tố trên Hài lòng và không hài lòng trong hôn nhân, theo cách nhìn nhận này, luôn là hai khái niệm được đặt đối lập nhau và thường được đo lường trên cùng một thang đo Shackelford và Buss (1997, dẫn theo Marcotte, 2015) cũng cho rằng, sự hài lòng với cuộc sống hôn nhân tương ứng với trạng thái tâm lý được hình thành sau khi đánh giá những điều hơn, thiệt trong cuộc sống vợ chồng và nhận thấy sự nổi trội của các điểm tích cực
Sự hài lòng này có thể thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, lối nhìn nhận này nhận được rất nhiều ý kiến phê bình (Bradbury et al., 2000) Các nghiên cứu về mối tương quan giữa sự hài lòng trong hôn nhân và stress khẳng định rằng một mối quan
hệ hôn nhân hạnh phúc không đơn giản chỉ mang những đặc điểm trái ngược so với những cặp hôn nhân không hạnh phúc (Halford, Markman, Kline, & Stanley, 2003) Fincham và các cộng sự của mình đã khẳng định rằng sự hài lòng và không hài lòng
là hai cấu trúc mặc dù có liên quan nhưng hoàn toàn tách rời khỏi nhau và nên được
đo lường một cách tách biệt (Fincham, Beach, & Kemp-Fincham, 1997) Các dữ liệu thống kê riêng biệt mối liên hệ giữa sự hài lòng và không hài lòng với hôn nhân cho thấy sự hài lòng và không hài lòng có những mối liên hệ và biến thiên không giống nhau với các biến khác trong hôn nhân như hành vi hay nhận thức (Fincham, Beach, & Kemp-Fincham, 1997)
Ngày nay, với sự ảnh hưởng của lý thuyết nhận thức xã hội và sự xuất hiện của ngày càng nhiều các nghiên cứu khẳng định vai trò của các yếu tố văn hoá xã hội trong mối quan hệ hôn nhân, các nhà nghiên cứu tiến bộ trong lĩnh vực hôn nhân gia đình bắt đầu rời xa lối cấu trúc cũ với việc đối lập sự hài lòng và không hài lòng trong hôn nhân với nhau, thay vào đó, chiều sâu của khái niệm được nhấn mạnh (Bradbury et al., 2000) Nhà nghiên cứu và cũng là nhà trị liệu lâm sàng lâu
Trang 33năm trong lĩnh vực hôn nhân gia đình Harway (2005) khẳng định: Sự hài lòng trong hôn nhân là mức độ hạnh phúc thể hiện ra của đối tượng với mối quan hệ hôn nhân nói chung và với đối tượng hôn nhân của mình nói riêng Đó là quá trình thích nghi của cả vợ và chồng theo cách nào đó để tránh hoặc giải quyết các xung đột, làm cho
cả vợ và chồng đều cảm thấy hài lòng với hôn nhân và với mỗi người (Locke, 1968, dẫn theo Ayub, 2010) Trên thực tế, ngay từ năm 1976 Spanier đã cho rằng sự hài lòng với hôn nhân là sự đánh giá chủ quan của chủ thể về chất lượng của mối quan
hệ vợ chồng Đấy chính là “cảm nhận chủ quan về sự bất hạnh, sự hài lòng và niềm vui được trải nghiệm bởi vợ/chồng khi xem xét tất cả các khía cạnh hiện tại của cuộc sống hôn nhân của họ Biến số này được nhìn nhận như là một chuỗi liên tục
từ rất hài lòng tới rất không hài lòng Hài lòng hôn nhân rõ ràng là một biến số thái
độ và nó thuộc về cá nhân vợ/chồng” (Hawkins, 1968, dẫn theo Chung, 1990) Nói một cách khác, dù nhấn mạnh tới mặt thái độ hay cảm xúc thì đa phần các tác giả đều thống nhất trong việc coi hài lòng với hôn nhân chính là cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực mà các cặp vợ chồng lượng giá về các khía cạnh khác nhau của cuộc sống hôn nhân của họ
Từ sự phân tích trên, chúng tôi nhìn nhận rằng sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ chính là phản ứng về mặt cảm xúc và hành vi của các cặp vợ chồng trí thức dưới 40 tuổi về các khía cạnh khác nhau của đời sống hôn nhân của họ
1.2.4 Các bình diện của sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức
trẻ
Cũng như định nghĩa về sự hài lòng với hôn nhân, các bình diện của nó cũng nhận được sự quan tâm từ rất nhiều các công trình nghiên cứu trên thế giới Mặc dù vậy, việc xác định cấu trúc hay bình diện của hài lòng với hôn nhân cho đến nay vẫn còn là một vấn đề chưa nhận được sự đồng thuận hoàn toàn từ các nhà nghiên cứu trên thế giới Trong khi các nghiên cứu theo cách tiếp cận một chiều cạnh (unidimensional) nhìn nhận sự hài lòng hôn nhân như là một khái niệm tổng thể và đơn nhất, các nghiên cứu theo cách tiếp cận đa chiều cạnh (multidimensional) lại đưa ra rất nhiều bình diện của khái niệm này Theo đó, sự hài lòng với hôn nhân chính là tổng thể của các bình diện hài lòng thu được (xem bảng 1, trang 6)
Trang 34Như vậy, có thể thấy rằng tùy theo cách tiếp cận mà các tác giả có thể đề xuất các bình diện hài lòng về hôn nhân rất đa dạng và phong phú Một số tác giả đồng thuận với Spanier (1976) (dẫn theo Russell & Bowman, 2000) khi cho rằng hài lòng hôn nhân bao gồm 4 bình diện: (1) mức độ đồng thuận giữa vợ và chồng trong các vấn đề quan trọng của gia đình (quan niệm về cuộc sống, giải trí, bạn bè, vv); (2) mức độ hài lòng nói chung về quan hệ vợ chồng; (3) mức độ gắn kết quan
hệ (ví dụ tần suất một vấn đề thường được vợ chồng đưa ra thảo luận, mức độ chia
sẻ, trao đổi ý kiến và quan điểm với nhau, mức độ cùng tham gia hoạt động giải trí vv); (4) sự đồng tình và hài lòng với việc thể hiện tình cảm của hai vợ chồng Một
số khác lại cho rằng không thể không đề cập đến khía cạnh phân chia công việc nhà, quản lý chi tiêu, chăm sóc con cái như là các bình diện chính của đời sống hôn nhân (Bowerman, 1957; Burr, 1970; Mason & Lerner, 1970; Honeycutt, 1986;Snyder, 1983; Russell & Wells, 1993) Trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi trên bối cảnh văn hóa-xã hội-lịch sử của Việt Nam, dựa trên cơ sở các công trình nghiên cứu
đi trước đã thực hiện cũng như dựa vào kết quả thăm dò thực tế mà chúng tôi đã tiến hành, chúng tôi tập trung tìm hiểu hài lòng hôn nhân của trí thức trẻ trên các bình diện cụ thể sau đây:
a) Sự hài lòng về đời sống tình cảm: Trong phạm vi của nghiên cứu này, sự hài lòng về đời sống tình cảm được chúng tôi tìm hiểu dưới góc độ chia sẻ, hỗ trợ trong đời sống tình cảm của các cặp vợ chồng Cụ thể: Vợ/chồng có chăm sóc, đồng cảm, hiểu, chia sẻ với nhau trước những áp lực, khó khăn của cuộc sống, vợ/ chồng có cảm nhận được tình cảm cũng như sự quan tâm từ phía người bạn đời của mình? Chúng tôi cho rằng đây là nét quan trọng phản ánh mức độ hài lòng về đời sống tình cảm của các cặp vợ chồng
b) Sự hài lòng về thu nhập và chi tiêu: Là một trong những yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến sự hài lòng với đời sống hôn nhân của các cặp vợ chồng Trong gia đình các cặp vợ chồng, liệu có thống nhất về thu nhập và chi tiêu? Có trao đổi kỹ lưỡng trước khi mua những vật dụng quan trọng trong gia đình?
Trang 35c) Sự hài lòng về con cái: Con cái giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống hôn nhân mỗi người Thường con cái sẽ giúp cho mối quan hệ vợ chồng tiến triển theo chiều hướng tốt đẹp hơn Câu hỏi đặt ra là liệu trí thức có hài lòng với người bạn đời của mình trong việc nuôi dạy con cái? Họ trao đổi với nhau trong các quyết định liên quan đến các con ? và điều quan trọng nữa là họ có thể hiện sự đồng thuận trong các quyết định liên quan đến con cái d) Sự hài lòng về việc chia sẻ công việc nhà: Ngày nay khi nữ trí thức tham gia ngày càng nhiều vào thị trường lao động, với các vai trò,
vị trí đảm nhiệm khác nhau, thì sự tham gia vào các công việc gia đình cũng đã khác so với trước Để có thể “đảm việc nước, giỏi việc nhà” họ rất cần sự chia sẻ hỗ trợ từ phía gia đình, đặc biệt là người bạn đời trong các công việc thường ngày Vì vậy trong phạm vi bình diện này, chúng tôi mong muốn tìm hiểu sự nhìn nhận của trí thức về sự công bằng trong việc phân chia công việc nhà, chăm sóc con cái
e) Sự hài lòng về việc ra quyết định: Trong gia đình truyền thống, thường người chồng là người đưa ra các quyết định quan trọng về những công việc liên quan đến gia đình Tuy nhiên ngày nay bình đẳng giới được đề cao thì người vợ cũng có giữ vai trò không nhỏ trong việc đưa ra các quyết định này Vì vậy chúng tôi cho rằng sẽ
là thiếu sót nếu không tìm hiểu mức độ đồng thuận của vợ chồng trong việc ra quyết định khi tìm hiểu sự hài lòng với đời sống hôn nhân của họ
f) Sự hài lòng về mức độ đồng thuận vợ chồng: Khi đứng trước các vấn đề phát sinh trong cuộc sống vợ chồng, liệu người vợ/chồng
có đồng thuận trong việc cùng giải quyết vấn đề? Hay cùng đồng thuận trước khi ra quyết định?
g) Sự hài lòng về sự gắn kết vợ chồng: chúng tôi tập trung tìm hiểu
xem liệu các cặp vợ chồng có thường xuyên trao đổi cùng nhau về những ý tưởng trong cuộc sống hay có cùng nhau thực hiện một kế
Trang 36hoạch nào đó? Khi phát sinh vấn đề họ sẽ cùng nhau tranh luận
một cách điềm đạm hay gay gắt? Họ có cùng cười vơi nhau?
1.2.5 Các yếu tố tác động đến sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức
Tác giả Cramer (dẫn theo Russell & Bowman, 2000) tổng hợp các nghiên cứu tiến hành trong 30 năm qua đã đưa ra kết luận rằng một số yếu tố sau có thể giúp dự báo về sự hòa hợp trong hôn nhân: tình yêu, hài lòng về tình dục, duy trì sự giao tiếp trao đổi thường xuyên và luôn giữ được tình cảm cho nhau Rất nhiều nghiên cứu khác chỉ ra sự tương tác và trao đổi, giao tiếp qua lại giữa vợ và chồng
có vai trò quan trọng đến chất lượng hôn nhân và quan hệ vợ chồng (Allan Sillars et all., 2004; Ann van den Troost, 2005; Constance T Gager and Laura Sanchez, 2003; Graeme Russell và Lyndy Bowman, 2000; John DeFrain, 1999) Một số nghiên cứu khác lại cho rằng kiểu nhân cách (Terman, Buttenwieser, Ferguson, Johnson, & Wilson, 1938; Zaleski & Galkowska, 1978; Zuckerman, Eysenck, & Eysenck, 1978), trải nghiệm thơ ấu của vợ chồng (Webster, Orbuch, & House, 1995; Sanders, Halford, & Behrens, 1999) hay con cái (Belsky & Rovine, 1990; Waite & Lillard, 1991) [dẫn theo, 17] Dưới đây chúng tôi tập trung trình bày một
số yếu tố có thể được xem là nổi trội nhất và có tác động lớn đến mức độ hài lòng trong hôn nhân được tổng hợp từ các nghiên cứu nói trên
a) Yếu tố sự thân mật
Trong nghiên cứu “Đánh giá sự thân mật: Bản kiểm PAIR” (Assessing intimacy: The PAIR Inventory) trên nhóm khách thể là 192 cặp vợ chồng kết hôn trung bình 12 năm, tuổi từ 21-60, Schaefer và Olson (1981) nhận thấy rằng mỗi loại gần gũi/thân mật có ý nghĩa tương quan với sự hài lòng của hôn nhân nhưng với
mức độ khác nhau (có sự tương quan cao giữa mối quan hệ tình cảm và giải trí)
Cũng bàn luận về chủ đề này, các tác giả Tolstedt, B.E., và Stokes, J.P (1983) đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ thân mật, tình cảm và thể chất với
sự hài lòng của hôn nhân Theo đó, các tác giả này cũng khẳng định mối quan hệ của sự gần gũi với sự hài lòng với hôn nhân song đây không phải là mối quan hệ trực tiếp Những người tham gia nghiên cứu là 43 cặp vợ chồng (độ tuổi từ 18 đến 59), đã kết hôn trung bình 8 năm và đang tìm kiếm sự trợ giúp của các bác sỹ chuyên khoa Nghiên cứu yêu cầu người tham gia hoàn thành một bản câu hỏi 10
Trang 37mục đánh giá nhận thức của họ về sự gần gũi của mối quan hệ, một bản câu hỏi tự tiết lộ và một bảng câu hỏi đánh giá các hoạt động thể chất và tình dục Kết quả của cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng sự thân mật bằng lời nói, tình cảm và thể chất đều liên quan đến sự hài lòng của hôn nhân Tuy nhiên, sự thân mật bằng lời nói và tình cảm
đã dự đoán được sự hài lòng về hôn nhân hơn sự thân thiết về thể xác Tầm quan trọng tương đối của ba loại thân mật này có thể khác biệt đối với nam và nữ
Kết quả này cũng tương tự với những gì mà Schaefer và Olson (1981) đã chỉ
ra Theo đó, mối quan hệ cảm xúc hay tình cảm gần gũi có ý nghĩa quan trọng hơn đối với sự hài lòng với hôn nhân hơn là sự thân thiết về thể xác hoặc tình dục Đối với phụ nữ, các nghiên cứu ghi nhận sự tương quan giữa các kiểu gần gũi/thân mật với hài lòng hôn nhân cao hơn so với nam giới
b) Yếu tố tình dục
Khi tìm hiểu về mối quan hệ giữa yếu tố tình dục và sự hài lòng với hôn nhân, Jennifer A Volsky (1998) đã tiến hành nghiên cứu trên 30 cặp vợ chồng độ tuổi từ 39 đến 69 tuổi, kết hôn được ít nhất một năm, thời gian kết hôn trung bình gần 20 năm (SD = 10.98) Các nhóm khách thể này được chia thành 3 nhóm dựa trên mối quan hệ gần gũi theo thời gian: nhóm 1 gồm các cá nhân có mối quan hệ gần gũi từ 1-10 năm, nhóm 2- các cá nhân có mối quan hệ gần gũi từ 11- 19 năm, nhóm 3- có mối quan hệ kéo dài trên 20 năm Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù tất cả các loại thân mật tương quan với sự hài lòng của hôn nhân, một số loại thân mật (nghĩa là tình cảm, trí tuệ) có liên quan nhiều hơn đến sự hài lòng với hôn nhân so với những yếu tố tình dục Đối với nam giới, tình cảm thân mật, tình dục và trí tuệ có liên quan chặt chẽ đến sự hài lòng của hôn nhân Sự thân thiết về cảm xúc (tính dễ thương trong việc chia sẻ cảm xúc và được hiểu) và sự giải trí (sự tham gia lẫn nhau trong bất cứ hoạt động giải trí nào) đã tiên đoán được sự hài lòng của hôn nhân đối với phụ nữ Điều này cho thấy tương tác tình dục là một thành phần quan trọng của đàn ông, nhưng không phải của phụ nữ Sự gần gũi trong việc giải trí dường như đóng vai trò quan trọng đối với phụ nữ, nhưng không phải hạnh phúc hôn nhân của nam giới
C) Đặc điểm nhân cách
Trang 38Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ tương đồng trong nhân cách giữa
vợ và chồng có ảnh hưởng không hề nhỏ đến mức độ hài lòng trong hôn nhân (Cattell & Nesselroade, 1967) và nó cũng chính là hệ quả của hôn nhân (Schumm, Figley and Fuhs, 1980 (Schumm, 1980) Nhân cách thường được đánh giá theo năm chiều cạnh, bao gồm Tính hướng ngoại (Tính tích cực hoạt động, thống trị, hướng ngoại vs phục tùng, hướng nội), Tính dễ chịu (ấm áp, tin tưởng vs lạnh lùng, hoài nghi), Tính tận tâm (đáng tin cậy, có tổ chức tốt vs không đáng tin cậy, thiếu tổ chức), Tính nhiễu tâm (ổn định cảm xúc, an toàn, điềm đạm vs lo lắng, tính khí thất thường) và Tính mở đối với trải nghiệm (thông minh, sâu sắc, tò mò vs không sâu sắc) Sự không hài lòng trong hôn nhân thường xuyên nhất liên quan tới tính thiếu
ổn định cảm xúc của người vợ/chồng, nhưng sự không hài lòng đồng thời cũng liên quan tới việc có một đối tác thấp về Tính tận tâm, tính dễ chịu, và tính Cởi mở Những người kết hôn với người có những đặc điểm nhân cách này thường phàn nàn rằng vợ/chồng họ thiếu quan tâm, phụ thuộc, có tính sở hữu, hạ thấp người khác, ghen tuông, không chung thủy, không đáng tin cậy, nông cạn về mặt cảm xúc, tự lấy mình làm trung tâm, và lạm dụng rượu Do đó, những đặc điểm nhân cách của mỗi người vợ/chồng có đóng góp lớn vào mối quan hệ, tiếp tục là một cuộc hôn nhân hài lòng hoặc kết thúc bằng việc ly hôn
Nghiên cứu của Michael D Botwin, Davis M Buss và Todd K Shackelford (1997) về “Nhân cách và sự yêu thích bạn đời/người yêu: năm nhân tố trong việc lựa chọn bạn đời/người yêu và sự hài lòng trong hôn nhân” trên hai nhóm khách thể: nhóm thứ nhất gồm 59 cặp đôi đang trong giai đoạn hẹn hò, và nhóm thứ hai gồm 107 cặp đôi mới cưới cho thấy: phụ nữ có xu hướng chọn bạn đời có những đặc điểm hướng ngoại và có khả năng giao thiệp Chất lượng của các mối quan hệ hôn nhân được dự đoán có ảnh hưởng nhiều nhất khi một trong hai người bạn đời thuộc các nhóm tính cách: (1) Khó thoả hiệp; (2) Không ổn định về cảm xúc và (3) khó chấp nhận thay đổi Như vậy, đặc điểm nhân cách của người bạn đời chiếm một vai trò quan trọng trong hạnh phúc hôn nhân của những người được hỏi Nói một cách tổng quát, nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa các kiểu tính cách với chất lượng hôn nhân
Trang 39Năm 2000, một nghiên cứu bổ dọc được tiến hành trong vòng 13 năm của Caughlin và các cộng sự cũng cho thấy những đặc điểm nhân cách như lo âu (xuất hiện nhiều ở những cặp mới cưới) có tương quan nghịch với mức độ hài lòng trong hôn nhân của bạn đời Kết quả nghiên cứu này đã được một số các nghiên cứu khác khẳng định rằng kiểu tính cách lo âu không những có ảnh hưởng đến chất lượng quan hệ hôn nhân từ cảm nhận của cá nhân mà còn từ cảm nhận của bạn đời Tuy nhiên, kiểu nhân cách lo âu không có khả năng dự đoán tỷ lệ ly hôn hay sự suy giảm chất lượng hôn nhân (Caughlin, Huston, & Houts, 2000)
Gần đây hơn, nghiên cứu của Samaneh Najarpourian về các kiểu tính cách và
sự hài lòng với hôn nhân (2007), cũng cho thấy tác động của việc kết hợp các nhân
tố nhân cách cơ bản (tính ổn định thần kinh/ nhiễu tâm, hướng ngoại, tận tâm/ tính ý thức) đối với sự hài lòng trong hôn nhân Mô hình phân loại kiểu nhân cách (dựa vào việc kết hợp 3 nhân tố nhân cách cơ bản tạo thành 8 kiểu nhân cách) được sử dụng: tham dự (spectating), không an toàn (insecure), hoài nghi (sceptical), suy nghĩ
ủ rũ (brooding), hưởng thụ (hedonistic), bốc đồng (impulsive), đầu tư (entrepreneurial), và phức tạp (complicated) (Torgersen, 1995) Tiến hành trên 164 cặp vợ chồng được chọn theo mẫu ngẫu nhiên với độ tuổi trung bình của người tham gia là 43 (SD = 11.10; nhóm tuổi: 25-59 tuổi), thông qua bảng hỏi ENRICH, kết quả phân tích số liệu cho phép ghi nhận những tác động độc lập về cả giới tính
và kiểu nhân cách Theo đó, các kiểu nhân cách đầu tư và hưởng thụ, ở cả đàn ông
và phụ nữ, hai kiểu nhân cách đều là kết hợp của nhiễu tâm thấp và hướng ngoại cao có điểm cao về sự hài lòng trong hôn nhân Ở đàn ông, kiểu hoài nghi có cùng mức độ hài lòng trong hôn nhân với kiểu hưởng thụ.Trong khi đó, những người phụ
nữ hoài nghi thì có điểm số về sự hài lòng trong hôn nhân thấp nhất Ở đàn ông, kiểu không an toàn, là kết hợp của nhiễu tâm cao và hướng ngoại thấp, có sự hài lòng trong hôn nhân thấp nhất Ở phụ nữ, kiểu không an toàn có mức độ hài lòng trong hôn nhân chỉ xếp ngay trên kiểu hoài nghi
d) Tương tác vợ/chồng
Những nghiên cứu thuộc lĩnh vực hôn nhân gia đình giai đoạn đầu thường tập trung vào sự tương tác hành vi giữa hai đối tượng trong hôn nhân: vợ và chồng Hầu hết các nghiên cứu gia đoạn 1970s này là các báo cáo ca lâm sàng với khẳng
Trang 40định rằng những hành vi giao tiếp tiêu cực và né tránh là nguyên nhân chủ yếu có thể dẫn đến sự thất bại trong hôn nhân của các cặp đôi(Al-Darmaki et al., 2016) Tuy nhiên, nhận thấy rằng tương tác qua lại mới là yếu tố quan trọng trong hôn nhân chứ không phải là hành vi đơn lẻ từ một trong hai phía, từ những năm 1980 trở
đi, phong trào nghiên cứu được chuyển dần sang các quá trình liên cá nhân giữa cặp đôi (Fincham, Beach, & Kemp-Fincham, 1997) Một trong những nghiên cứu tiêu biểu của giai đoạn này là nghiên cứu của hai tác giả Margolin and Wampold (1981), cho thấy rằng điểm khác biệt lớn nhất giữa những cặp đôi có vấn đề và những cặp đôi hạnh phúc đó là sự tương tác đầy căng thẳng với mức độ tương tác tiêu cực (negative reciprocal) cao giữa cả hai bên (hành vi tiêu cực của một bên dẫn đến hành vi tiêu cực của bên còn lại và ngược lại) cùng với sự phản ứng tiêu cực (negative reaction) nói chung đối với mọi hành vi và tình huống (bỏ qua các chi tiết tích cực của bạn đời và chỉ chú ý vào các chi tiết tiêu cực) Các nhà nghiên cứu về sau tiếp nối các nghiên cứu của Margolin và cộng sự nhưng mở rộng tìm hiểu các cấu trúc giao tiếp nói chung và các khía cạnh hỗ trợ giữa vợ và chồng nói riêng chứ không chỉ tập trung vào các phản ứng tức thời giữa hai bên
Mở đầu cho các nghiên cứu về mối liên hệ giữa các kiểu tương tác và sự hài lòng trong hôn nhân phải kể đến là các nghiên cứu của Christensen và Shenk (1991), Jackson, Watzlawick và Beavin (1967) Theo các nghiên cứu này, khi đòi hỏi của một trong hai bên vợ hoặc chồng tăng lên thì thường kéo theo sự né tránh của bên còn lại Tuy nhiên, khi một bên càng né tránh thì nhu cầu được giao tiếp giữa bên còn lại càng tăng lên và kết quả cuối cùng là sự hài lòng của cả vợ và chồng giảm sút đáng kể (D Jackson et al., 1967) Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa kiểu tương tác và sự hài lòng trong hôn nhân chủ yếu sử dụng phương pháp quan sát hoặc nghiên cứu bổ dọc (Klinetob & Smith, 1996; Heavey, Christensen, & Malamuth, 1995)
Nghiên cứu về hài lòng với hôn nhân được tác giả Karyl MacEwen và Julian Barling (1993) tiếp cận ở góc độ những hành vi của người chồng/vợ ảnh hưởng đến
sự hài lòng với hôn nhân của người bạn đời như thế nào Nghiên cứu tiến hành trên
323 cặp đôi, đáp ứng tiêu chuẩn: Các cặp đôi đã cưới hoặc đang sống chung với nhau, và một người trong số họ phải có việc làm Trung bình số năm kết hôn: 13.2