Cùng với định hướng trên, luận án áp dụng lí thuyết và hệ các vấn đề của phân tích diễn ngôn vào nghiên cứu diễn ngôn xã luận DNXL, một kiểu loại diễn ngôn vừa mang tính điển hình trong
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ HỒNG NGA
PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN XÃ LUẬN
(TRÊN NGỮ LIỆU BÁO NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 1964-1975)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 62 22 02 40
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ VIỆT THANH
Hà Nội - 2018
Trang 31
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………… 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận án 7
6 Bố cục của luận án 8
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 10
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 10
1.1.1 Nghiên cứu phân tích diễn ngôn trên thế giới 10
1.1.2 Nghiên cứu phân tích diễn ngôn ở Việt Nam 12
1.1.3 Phân tích diễn ngôn báo chí nói chung và diễn ngôn chính luận,
xã luận nói riêng 15
1.2 Cơ sở lí thuyết về phân tích diễn ngôn xã luận 16
1.2.1 Cơ sở lí thuyết về phân tích diễn ngôn 16
1.2.2 Các khuynh hướng tiếp cận phân tích diễn ngôn 22
1.2.3 Khái niệm “diễn ngôn xã luận” và đặc điểm của diễn ngôn xã luận
báo Nhân Dân 28
1.3 Quan điểm phân tích diễn ngôn của luận án 31
1.4 Các cơ sở lí luận được áp dụng để phân tích diễn ngôn xã luận 32
1.4.1 Ba siêu chức năng ngôn ngữ của Halliday 32
1.4.2 Hành động ngôn từ 33
1.4.3 Lập luận 34
1.5 Ngữ cảnh và vai trò của ngữ cảnh trong quá trình giao tiếp
của diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 35
1.5.1 Ngữ cảnh chung 36
1.5.2 Ngữ cảnh riêng, cụ thể 36
1.6 Tiểu kết 38
Chương 2 CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CHỨC NĂNG TƯ TƯỞNG
TRONG DIỄN NGÔN XÃ LUẬN BÁO NHÂN DÂN 40
2.1 Chủ đề trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975 40
Trang 42
2.2 Từ ngữ, phương thức thể hiện giá trị kinh nghiệm, tư tưởng
trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 43
2.2.1 Hệ thống trường từ vựng thể hiện chủ đề, biểu thị giá trị thời đại 43
2.2.2 Hiện tượng chuyển nghĩa từ mang tính thời đại, những kết hợp
từ ngữ mới 45
2.2.3 Hệ thống từ ngữ biểu cảm, mang sắc thái đánh giá, nhận định 47
2.3 Một số thủ pháp ngôn ngữ thể hiện chức năng tư tưởng
trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 52
2.3.1 Thủ pháp ẩn dụ 52
2.3.2 Thủ pháp so sánh 53
2.3.3 Thủ pháp hoán dụ 54
2.4 Các quá trình chuyển tác biểu thị chức năng tư tưởng
trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 55
2.4.1 Biểu hiện qua hệ thống các quá trình vật chất 57
2.4.2 Biểu hiện qua hệ thống các quá trình tinh thần 58
2.4.3 Biểu hiện qua hệ thống các quá trình quan hệ 59
2.4.4 Biểu hiện qua hệ thống các quá trình phát ngôn 59
2.5 Hiện tượng danh hoá trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 62
2.6 Các phương thức lập luận thể hiện giá trị tư tưởng
trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 64
2.6.1 Dấu hiệu nhận diện lập luận 65
2.6.2 Các phương thức lập luận 70
2.7 Tiểu kết 81
Chương 3 CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CHỨC NĂNG LIÊN NHÂN
TRONG DIỄN NGÔN XÃ LUẬN BÁO NHÂN DÂN 83
3.1 Phương tiện biểu thị tình thái thể hiện chức năng liên nhân
trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 83
3.1.1 Phụ từ tình thái tính “hãy” 83
3.1.2 Vị từ tình thái 85
3.1.3 Các động từ và tổ hợp tình thái 89
3.1.4 Quán ngữ tình thái 91
3.1.5 Tiểu từ tình thái 91
3.2 Hành động ngôn từ thể hiện chức năng liên nhân
trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 92
3.2.1 Nhóm hành động cầu khiến/điều khiển (directives) 93
Trang 53
3.2.2 Nhóm hành động kết ước (commisives) 94
3.2.3 Nhóm hành động biểu cảm/bộc lộ (expressives) 96
3.3 Các thức thể hiện chức năng liên nhân trong diễn ngôn xã luận
báo Nhân Dân 97
3.3.1 Thức nghi vấn 97
3.3.2 Thức cầu khiến 99
3.3.3 Thức cảm thán 101
3.4 Quan hệ xưng hô thể hiện chức năng liên nhân
trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 102
3.5 Chiến lược lịch sự thể hiện chức năng liên nhân trong diễn ngôn
xã luận báo Nhân Dân 108
3.6 Tiểu kết 112
Chương 4 CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CHỨC NĂNG VĂN BẢN
TRONG DIỄN NGÔN XÃ LUẬN BÁO NHÂN DÂN 113
4.1 Cấu trúc tổ chức diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 113
4.1.1 Tiêu đề trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 113
4.1.2 Phần Mở đầu trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 118
4.1.3 Phần Triển khai vấn đề trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 120
4.1.4 Phần Kết luận trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 129
4.2 Mạch lạc trong triển khai thông điệp của diễn ngôn xã luận
báo Nhân Dân 133
4.2.1 Mạch lạc trong diễn ngôn 133
4.2.2 Mạch lạc biểu hiện trong cách duy trì và triển khai chủ đề
của diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 134
4.3 Mạng quan hệ lập luận trong tổ chức thông điệp của diễn ngôn
xã luận báo Nhân Dân 140
4.3.1 Mạng quan hệ lập luận chuyển tiếp 140
4.3.2 Mạng quan hệ lập luận diễn dịch/quy nạp 142
4.3.3 Mạng quan hệ lập luận tổng - phân - hợp 144
4.3.4 Mạng quan hệ lập luận kết hợp 145
4.4 Tiểu kết 150
KẾT LUẬN..… 152
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 156 TÀI LIỆU THAM KHẢO 156
PHỤ LỤC………161
Trang 64
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) trong vài thập kỷ gần đây đã thu hút
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài và Việt Nam và đang phát triển hết sức mạnh mẽ, thể hiện là một ngành khoa học thực sự Một số nhà nghiên cứu tập trung phân tích diễn ngôn hoàn toàn từ góc độ lí luận nhằm xây dựng một bộ khung
lí thuyết cho phân tích diễn ngôn vừa với tư cách là một khoa học, vừa với tư cách là một phương pháp Một số nhà nghiên cứu lại đi sâu vận dụng các lí thuyết phân tích diễn ngôn hiện có vào phân tích các kiểu loại diễn ngôn Trong cả hai hướng nghiên cứu, không ít người đã đạt được những kết quả mặc dù mới là bước đầu nhưng rất đáng trân trọng
Diễn ngôn nghị luận chính trị - xã hội là một loại diễn ngôn có tính đặc thù cao không chỉ bởi tính phong phú, đa dạng của các thể loại (diễn văn, bài phát biểu của các chính trị gia, lời kêu gọi của các nguyên thủ quốc gia, các bài nghị luận về các vấn đề chính trị hay vấn đề xã hội quan trọng trên báo chí, ) mà còn bởi đặc điểm điều kiện, môi trường hoạt động và định hướng tác động của chúng Cho tới nay, đã có một số công trình lựa chọn một kiểu loại nào đó thuộc thể loại diễn ngôn chính trị - xã hội như Diễn văn của các nguyên thủ, Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, làm đối tượng nghiên cứu của mình, góp phần làm rõ đặc trưng của thể loại này từ góc độ phân tích diễn ngôn Cùng với định hướng trên, luận án áp dụng lí thuyết và hệ các vấn đề của phân tích diễn ngôn vào nghiên cứu diễn ngôn xã luận (DNXL), một kiểu loại diễn ngôn vừa mang tính điển hình trong thể loại báo chí, đồng thời cũng rất tiêu biểu với tư cách là một thể loại diễn ngôn nghị luận chính trị xã hội Có thể nói, đây là công trình đầu tiên
đi sâu nghiên cứu thể loại diễn ngôn này từ cách tiếp cận và phương pháp phân tích diễn ngôn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là phân tích chiến lược tổ chức diễn ngôn dưới tác động của
tư tưởng, kinh nghiệm, chức năng liên nhân của ngôn ngữ trong diễn ngôn theo hướng kết hợp các khía cạnh văn hoá - xã hội vào quá trình kiến tạo diễn ngôn và giải thích quá
Trang 75
trình đó bằng các phân tích ngôn ngữ theo lí thuyết chức năng hệ thống của M A K Halliday Đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa văn bản và thực tiễn xã hội được chuyển tải bởi kinh nghiệm diễn ngôn, nhờ đó con người sử dụng ngôn ngữ để tổ chức và giải
mã văn bản
Với mục đích này, luận án nghiên cứu tổng thể đặc điểm tổ chức cấu trúc và nội dung DNXL bằng việc phối hợp đồng thời hai cách tiếp cận của phân tích diễn ngôn là cách tiếp cận vĩ mô (khảo sát diễn ngôn với tư cách là một chỉnh thể hoàn chỉnh, khảo sát mô hoá hình, sơ đồ hoá kết cấu diễn ngôn) và cách tiếp cận vi mô (khảo sát những hành vi tạo ngôn, những tổ chức liên kết, phương thức lập luận nối kết các nội dung bên trong, những đặc điểm làm nên đặc trưng phong cách riêng của diễn ngôn trong những ngữ cảnh cụ thể), thể hiện mối quan hệ biện chứng, các chức năng kinh nghiệm, liên nhân, văn bản của DNXL trong những điều kiện chính trị - xã hội rất đặc thù của thời điểm lịch sử được lựa chọn khảo sát: giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1964-1975)
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với việc lựa chọn DNXL báo Nhân Dân làm đối tượng nghiên cứu, luận án đặt
ngôn ngữ biểu hiện nhằm thể hiện chức năng tư tưởng của DNXL báo Nhân Dân
- Nhận diện mối quan hệ liên nhân, sức mạnh của ngôn ngữ trong DNXL, sự
tương tác giữa ngôn ngữ - tư tưởng được thể hiện trong ngôn ngữ xã luận báo Nhân
Dân thông qua khảo sát tình thái trong diễn ngôn, hành động ngôn từ, từ ngữ xưng
hô sự tác động và hiệu ứng của mối quan hệ đó trong DNXL
- Khảo sát các phương thức tổ chức cấu trúc và tổ chức thông điệp của DNXL, bao gồm các phương thức truyền thống và những phương thức riêng, đặc trưng Trên
cơ sở đó, luận án khảo sát cụ thể mạng quan hệ lập luận trong diễn ngôn như là một phương thức đặc biệt của DNXL, các dấu hiệu nhận diện và mục tiêu của việc tổ
chức lập luận trong DNXL báo Nhân Dân
Trang 86
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Diễn ngôn xã luận là tiếng nói chính thức của Đảng, Nhà nước hoặc của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp về một vấn đề nóng, cấp thiết của xã hội hoặc được đông đảo người dân quan tâm, nên thực tế có thể xuất hiện trên một số báo là
cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng, quân đội hay tổ chức chính trị xã hội như
báo Nhân Dân, Quân đội Nhân dân, Lao động, Tiền phong, Trong phạm vi luận án, chúng tôi tập trung khảo sát các DNXL được đăng trên báo Nhân Dân - tờ báo chính
thức đại diện cho tiếng nói của Đảng, Nhà nước, trong đó có DNXL luôn chiếm số lượng lớn và giữ vị trí quan trọng của tờ báo
Về mẫu khảo sát, luận án chọn các DNXL báo Nhân Dân trong giai đoạn 1964
- 1975, giai đoạn cả nước tập trung vào cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
Theo thống kê của chúng tôi, tổng số xã luận xuất hiện trên báo Nhân Dân
trong 12 năm, từ năm 1964 tới năm 1975 là 3787 bài Thông thường mỗi số có 1 bài
xã luận, đặc biệt có một số trường hợp xuất hiện 2 bài và rất ít số báo không có bài
nào Do số liệu quá lớn, trong khuôn khổ luận án, chúng tôi chọn 250 DNXL trong
giai đoạn này làm đối tượng khảo sát trực tiếp, trung bình mỗi năm chọn 20 hoặc 21 bài, phân bố theo tỉ lệ xuất hiện của 7 mảng chủ đề cơ bản trong từng năm là: chính
trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận án sử dụng các nhóm phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: là phương pháp cơ bản nhất mà luận án sử
dụng khi nghiên cứu DNXL trong bối cảnh tác động đa chiều của lịch sử, chính trị, văn hoá, xã hội Luận án phân tích diễn ngôn xã luận trong quá trình hành chức với những đặc trưng ngôn ngữ từ các bình diện cấu trúc, tổ chức ngữ nghĩa, cấu trúc diễn ngôn trong mối tương tác với ngữ cảnh, kênh giao tiếp, mục đích giao tiếp, người phát/người nhận diễn ngôn Trên cơ sở phân tích ngữ liệu, luận án phân tích, lí giải quan hệ giữa ngôn ngữ của diễn ngôn với đặc trưng tâm lí, văn hoá, xã hội, nhận diện và mô tả diễn ngôn xã luận trong một ngữ cảnh đa chiều Cụ thể, luận án chọn đường hướng phân tích diễn ngôn dựa trên cơ sở ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday
Trang 97
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: là phương pháp phân tích mối quan hệ
nghĩa của các đơn vị trong từ vựng, các nghĩa được sử dụng trong ngữ cảnh, ý nghĩa lịch sử, văn hoá của từ vựng Trên cơ sở đó, luận án lí giải, phân xuất các đặc điểm thuộc ngữ cảnh văn hoá, ngữ cảnh tình huống của diễn ngôn được khảo sát, nhằm giải thuyết diễn ngôn ở tầm rộng và chiều sâu của văn hoá, đời sống xã hội, tâm lí người nhận diễn ngôn
Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số thủ pháp nghiên cứu khác:
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Luận án thống kê tần số sử dụng các đơn vị
ngôn ngữ phục vụ cho mục đích nghiên cứu như: chủ đề diễn ngôn, hành động ngôn
từ, các từ, ngữ tình thái, chủ đề của diễn ngôn, các quá trình, phương tiện biểu thị giá trị kinh nghiệm, liên nhân của diễn ngôn, , để đưa ra những đánh giá, nhận xét khoa học về đối tượng
- Thủ pháp phân tích, miêu tả: được sử dụng liên tục và xuyên suốt trong luận
án Từ kết quả thu được sau khi thống kê, phân loại và so sánh, luận án phân tích, miêu tả, tổng hợp những đặc điểm, những nét điển hình của việc sử dụng ngôn ngữ
trong DNXL báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975
5 Đóng góp của luận án
Về lí luận:
- Luận án là một ứng dụng về việc sử dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn vào việc khảo sát, nghiên cứu một kiểu loại cụ thể của diễn ngôn nghị luận chính trị - xã hội, qua đó góp phần làm rõ thêm cơ sở lí luận của phân tích diễn ngôn vừa với tư cách là một phương pháp, vừa với tư cách là một cách tiếp cận trong nghiên cứu của ngôn ngữ học
- Luận án cung cấp một cái nhìn hệ thống về thể loại xã luận - một thể loại quan
trọng trong báo chí chính luận từ cách tiếp cận của phân tích diễn ngôn với đường hướng phân tích chức năng của ngôn ngữ học
Về thực tiễn:
- Kết quả nghiên cứu chủ đề, cấu trúc chủ đề và cách tổ chức/phân tích mạng quan hệ chủ đề giúp các phóng viên, biên tập viên có một cái nhìn hệ thống và tổng thể
Trang 10- Số liệu thống kê toàn bộ DNXL báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975 gồm 3787
bài với các chủ đề khác nhau và việc phân tích đặc trưng ngôn ngữ gắn với bối cảnh
xã hội cho phép các thế hệ sau có dịp hiểu rõ hơn một giai đoạn lịch sử khốc liệt nhưng hết sức hào hùng của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng là một minh chứng về vai trò của các phương tiện ngôn ngữ trong chức năng định hướng, tác động, thuyết phục và tổ chức hoạt động xã hội trong những hoàn cảnh đặc biệt
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm
4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Trình bày tổng quan vấn đề nghiên cứu như: lịch sử, các đường hướng nghiên cứu về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn trên thế giới và Việt Nam hiện nay; giới thiệu một số khái niệm quan trọng liên quan đến phân tích diễn ngôn xã luận; các đặc trưng điển hình của thể loại diễn ngôn này; cơ sở lí luận của phương pháp phân tích diễn ngôn trong đó có mối quan hệ giữa đường hướng phân tích diễn ngôn chức năng
hệ thống với thể loại xã luận
Chương 2: Các phương thức thể hiện chức năng tư tưởng trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân
Tập trung nghiên cứu các chiến lược lựa chọn chủ đề, đặc điểm sử dụng từ ngữ, các quan hệ ngữ pháp thể hiện giá trị kinh nghiệm, chức năng tư tưởng trong DNXL báo
Nhân Dân Trên cơ sở đó làm rõ mối quan hệ hai chiều giữa tư tưởng và ngôn ngữ
Trang 11Chương 4: Các phương thức thể hiện chức năng văn bản trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân
Khảo sát những phương thức thể hiện chức năng văn bản của DNXL ở bình diện cấu trúc (khuôn hình thể loại của DNXL, được quy định bởi phong cách diễn ngôn) và bình diện nội dung (hệ thống lập luận, liên kết, mạch lạc, những phương thức ngôn ngữ học nhằm triển khai nội dung cho phù hợp với khuôn hình thể loại văn bản, với ngữ cảnh cụ thể và mục đích của diễn ngôn) Trên cơ sở đó, nghiên cứu
đi sâu khảo sát mạng quan hệ lập luận như là một phương thức tổ chức văn bản điển hình của thể loại diễn ngôn xã luận
Trang 1210
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu phân tích diễn ngôn trên thế giới
Bắt đầu hình thành từ những năm 60 và cho tới giữa những năm 70 của thế kỉ XX,
phân tích diễn ngôn tập trung lấy văn bản mà cụ thể là văn bản viết làm đối tượng
nghiên cứu Việc xuất hiện khái niệm “diễn ngôn” thường đặt trên cơ sở so sánh với khái niệm “văn bản” Theo đó “văn bản” thuộc bề mặt ngôn từ, “diễn ngôn” thuộc về ngữ nghĩa, chức năng Giai đoạn này văn bản và diễn ngôn vẫn chưa được phân biệt một cách rạch ròi, những gì được sử dụng làm lí luận, phương pháp nghiên cứu cho phân tích diễn ngôn vẫn là lí luận, phương pháp của nghiên cứu câu, Vì thế, nghiên cứu diễn ngôn giai đoạn này vẫn dừng ở “ngữ pháp văn bản”, chủ yếu căn cứ vào các đặc điểm hình thức ngôn ngữ mà chưa đi sâu vào nghiên cứu các đặc điểm về ngữ cảnh, tri thức, vai xã hội, trong việc tổ chức, duy trì và phát triển diễn ngôn
Từ những năm 80-90 của thế kỉ XX, phân tích diễn ngôn phát triển mạnh mẽ cả
bề rộng lẫn chiều sâu Thời kì này có rất nhiều đường hướng tiếp cận phân tích diễn ngôn khác nhau như: đường hướng dụng học với hai nhánh chính là dựa trên lí thuyết hành động ngôn từ (J.L Austin, J Searle) và dựa trên tư tưởng triết học của Grice về phân biệt các loại ý nghĩa khác nhau; đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác; đường hướng dân tộc học giao tiếp, mà tiêu biểu là S.C Dik (1978), T Givon (1979), M.A.K Halliday (1985), F.R Palmer (1986), Tất cả các đường hướng trên đều có mục tiêu là phân tích diễn ngôn để làm rõ những mối quan hệ của nội dung phát ngôn và hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ để tạo ra những cách diễn đạt đúng và đạt hiệu quả giao tiếp cao, hoặc làm bộc lộ các ý sâu chứa đựng trong văn bản khép kín Điều này có nghĩa là ngôn ngữ học văn bản giai đoạn này nghiên cứu cả văn bản viết
và văn bản nói Giai đoạn này cũng bắt đầu xuất hiện đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán, trọng tâm là vấn đề quyền lực và tư tưởng trong diễn ngôn
Trang 1311
Trong giai đoạn này một số công trình về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn của
các tác giả nước ngoài cũng đã được dịch ra tiếng Việt như: Dụng học, một số dẫn
luận nghiên cứu ngôn ngữ (George Yule, 1997), Dẫn nhập phân tích diễn ngôn
(David Nunan, 1998), Phân tích diễn ngôn (Gillian Brown - George Yule, 2002),
Dẫn luận ngữ pháp chức năng (M.A.K Halliday, 2004), Cấu trúc thông tin và hình thức câu: Chủ đề, Tiêu điểm và các biểu hiện tinh thần của sở chỉ diễn ngôn (Knud
Lambrecht, 2015), Trong đó, Gillian Brown - George Yule, M.A.K Halliday xem
“văn bản” cũng chính là một trong những đơn vị biểu hiện của diễn ngôn, đồng thời
đề cập đến vấn đề cơ sở lí luận phân tích diễn ngôn chuyển từ nghiên cứu bậc câu sang nghiên cứu mặt nghĩa của diễn ngôn, chỉ ra việc khai thác diễn ngôn từ các phương diện khác nhau; phương pháp nghiên cứu diễn ngôn, phân tích đối tượng diễn ngôn dựa vào ngữ cảnh tình huống, đóng góp sự hiểu biết về văn bản: phân tích ngôn ngữ có thể chỉ ra và làm thế nào mà ngôn bản lại có nghĩa như chính nó có, từ
đó có thể làm bộc lộ các hiện tượng đa nghĩa, chuyển nghĩa, ẩn dụ
Tuy nhiên M.A.K Halliday đưa ra một cấp độ cao hơn trong phân tích diễn ngôn đó là phân tích, đánh giá văn bản, trên cơ sở đó chỉ ra được hiệu quả giao tiếp (thành công/ít thành công/thất bại) của ngôn bản Ở cấp độ này đòi hỏi việc phân tích diễn ngôn không chỉ lí giải chính nó mà còn phải lí giải cả ngữ cảnh mà nó xuất hiện (ngữ cảnh văn hoá, ngữ cảnh tình huống), hơn nữa, còn phải chỉ ra mối quan hệ hệ thống giữa diễn ngôn và ngữ cảnh Còn Knud Lambrecht “phác hoạ một mô hình đơn giản về vũ trụ diễn ngôn” “Vũ trụ diễn ngôn được chia thành hai phần: a) thế giới trong văn bản, bao gồm: (i) các ngôn thể, nghĩa là người nói và một hoặc một vài người nghe, và (ii) ngôn trường, nghĩa là không gian, thời gian và tình huống trong đó sự kiện ngôn từ xảy ra; b) thế giới ngoài văn bản, bao gồm các ngôn biểu (từ, ngữ, câu) và ý nghĩa của chúng” Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rằng “vũ trụ diễn ngôn là các yếu tố thuộc thế giới ngoài văn bản không phải được thiết lập bởi người nói thông qua các hình ảnh diễn ngôn mà được xác nhận bởi sự có mặt của chúng trong ngôn trường, hoặc tính có thể khôi phục từ ngôn trường” [Knud Lambrecht, 2015: 52]
Điều này cho thấy, các đơn vị diễn ngôn (bất luận ở hình thức nói hay viết) không thể tồn tại ở dạng tự nó, biệt lập Nếu được tách ra riêng rẽ, không một đơn vị
Trang 1412
nào có khả năng hoạt động thực sự Đây cũng chính là quan điểm nghiên cứu của tác giả luận án này
1.1.2 Nghiên cứu phân tích diễn ngôn ở Việt Nam
Trong Việt ngữ học, từ thập niên 80 của thế kỉ XX những vấn đề về văn bản đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu Công trình đầu tiên đánh dấu sự mở đầu của
khuynh hướng nghiên cứu này là Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc
Thêm (1985) Tiếp đó là một số công trình của Đỗ Hữu Châu (1985), Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), Diệp Quang Ban (2002, 2009), Nguyễn Hoà (2003), Nguyễn Thiện Giáp (2008), lần lượt xuất hiện, tập trung vào những vấn đề khác nhau của văn bản/diễn ngôn Về cơ bản, tại Việt Nam, nghiên cứu diễn ngôn có thể khái quát thành hai giai đoạn tiếp cận:
- Giai đoạn tiếp cận tĩnh, khép kín: Chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi ngôn ngữ học
cấu trúc, các nhà nghiên cứu giai đoạn này tập trung vào khám phá cấu trúc tĩnh tại, bất biến của các văn bản - chỉ mô tả đến bản thân văn bản Tư tưởng này đã loại trừ tất cả thuộc tính đơn nhất, cá thể của lời nói, chỉ chú ý đến phương diện ổn định, bất biến của ngôn ngữ như một bản thể xã hội Và đối tượng hướng tới của các nhà nghiên cứu không phải là những văn bản/diễn ngôn cụ thể, mà họ chỉ coi đó là chất liệu để tìm kiếm các mô hình cấu trúc “khung” cho các văn bản Dưới cái nhìn của các nhà cấu trúc, tất cả các hành động của con người và các cơ cấu tổ chức của xã hội đều liên quan đến ngôn ngữ, và có thể được tìm hiểu như một hệ thống gồm các yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau Mỗi yếu tố trong hệ thống chỉ có ý nghĩa khi nó được đặt trong một cấu trúc tổng thể Diễn ngôn trong giai đoạn này cũng được xem là một cấu trúc khép kín, nội tại, vì thế, khi phân tích diễn ngôn, các nhà nghiên cứu đặc biệt chú trọng đến phương diện cấu trúc và nỗ lực tìm kiếm những mô hình của tổ chức ngôn từ trong văn bản cũng như diễn ngôn, với các khái niệm điển hình: liên kết, mạch lạc, cấu trúc, Trên cơ sở đó, các nghiên cứu chủ yếu đi sâu phân tích những
biểu hiện cụ thể trong cấu tạo của văn bản Tiêu biểu là: Hệ thống liên kết văn bản
tiếng Việt (Trần Ngọc Thêm), Văn bản và liên kết văn bản trong tiếng Việt (Diệp
Quang Ban), Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt (Nguyễn Thị Việt Thanh), Phép tỉnh
lược và ngữ trực thuộc trong tiếng Việt (Phạm Văn Tình),
Trang 1513
- Giai đoạn tiếp cận “động”: Diễn ngôn giai đoạn này không chỉ được coi như
một cái gì tồn tại cố hữu, tự thân và có thể được phân tích một cách cô lập mà là những quy tắc và cấu trúc nhằm tạo ra những phát ngôn và những văn bản cụ thể - quan tâm đến sự diễn giải diễn ngôn Đó là một hệ thống của những tư tưởng, quan điểm, khái niệm, cách thức tư duy và hành xử, những cái được hình thành trong một bối cảnh xã hội cụ thể, có một hiệu lực chung đối với cách suy nghĩ và nói năng của mỗi nhóm người cũng như mỗi cá nhân Giai đoạn này các nhà nghiên cứu tập trung
đi sâu phân tích diễn ngôn dưới góc độ dụng học, với các vấn đề: ngữ cảnh diễn ngôn, diễn ngôn và văn hoá, tác động liên nhân của diễn ngôn Các nhà nghiên cứu không nghiên cứu diễn ngôn như một thực thể biệt lập, mà có xu hướng đặt nó trong mối liên hệ với những loại hình diễn ngôn khác; không chỉ nghiên cứu văn bản và những hình thức tổ chức ngôn từ của nó mà cố gắng tìm hiểu những cơ chế tạo lập và chi phối các văn bản ngôn từ - yếu tố nằm ẩn sâu, đằng sau các văn bản Vì thế, có thể nói các phân tích diễn ngôn theo cách tiếp cận này tập trung phân tích chức năng của ngôn ngữ trong việc thiết lập, duy trì các mối quan hệ xã hội, sự tác động, điều khiển xã hội của văn bản diễn ngôn
Tuy nhiên, có thể do xu hướng tiếp cận về phân tích diễn ngôn trên thế giới nên phần lớn các công trình này dù đi theo hướng phân tích ứng dụng đối với một kiểu loại diễn ngôn nhất định của tiếng Việt, song chủ yếu vẫn theo lối phân tích đối chiếu cấu trúc diễn ngôn, chưa đi sâu vào ngữ cảnh văn hoá, mối quan hệ giữa tư tưởng - ngôn ngữ được thể hiện trong diễn ngôn tiếng Việt Có thể kể đến một số công trình
sau: Phân tích thư tín thương mại (Nguyễn Trọng Đàn, 1996) phân tích đối chiếu một số đặc điểm về ngữ vực giữa thư tín tiếng Anh và tiếng Việt, Một số đặc điểm
của ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt (Lê Hùng Tiến, 1999) đưa ra các đặc điểm diễn
ngôn văn bản luật pháp và một số ứng dụng trong biên dịch văn bản luật pháp từ tiếng Việt sang tiếng Anh,
Bằng việc tiếp tục và bổ khuyết vào hành trình nghiên cứu về văn bản, liên kết,
mạch lạc, công trình mang tính lí luận rất dày dặn Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo
văn bản của Diệp Quang Ban (2009) đã tập trung trình bày các vấn đề lí luận cơ bản
của phân tích diễn ngôn như: phân tích hội thoại, phân tích diễn ngôn từ ngữ cảnh
Trang 1614
đến cấu trúc diễn ngôn, mạng mạch, trường, thức, không khí diễn ngôn, , đồng thời
đề xuất ứng dụng phân tích diễn ngôn vào phân tích ngôn ngữ nghệ thuật
Tiếp đó, như một sản phẩm cập nhật tình hình nghiên cứu diễn ngôn trên thế
giới vào Việt ngữ học, Nguyễn Hoà trong các công trình: Nghiên cứu diễn ngôn về
chính trị - xã hội trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại (1999); Phân tích diễn ngôn: một số vấn đề lí luận và phương pháp (2003), Phân tích diễn ngôn phê phán: lí luận và phương pháp (2006) đã tập trung hệ thống hoá, đi sâu vào các
vấn đề về lí luận cũng như thực tiễn phân tích diễn ngôn, những đường hướng chính trong phân tích diễn ngôn: dụng học, biến đổi ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội tương tác, nhân học, phân tích hội thoại, tâm lí học xã hội, phân tích diễn ngôn phê phán (CDA), giao tiếp liên văn hoá, phương pháp phân tích tổng hợp Trên cơ sở đó, Nguyễn Hoà đi vào phân tích cụ thể một số thể loại diễn ngôn trong tiếng Anh và tiếng Việt như: diễn ngôn bình luận chính trị, diễn ngôn tin để chứng tỏ rằng phân tích diễn ngôn có thể áp dụng cho nhiều ngôn ngữ có loại hình khác nhau Trong
công trình Phân tích diễn ngôn phê phán: lí luận và phương pháp, ông cho rằng,
CDA quan tâm chủ yếu đến quan hệ quyền lực, quan hệ xã hội và sự tác động của thực tại xã hội đến ngôn ngữ Ngôn ngữ được sử dụng như một phương tiện tư tưởng, điều khiển và làm thay đổi xã hội Giai đoạn này hình thành một xu hướng mới là vận dụng lí thuyết và phương pháp phân tích diễn ngôn vào nghiên cứu một
số kiểu loại diễn ngôn cụ thể như diễn ngôn bản tin, diễn ngôn tiểu thuyết, diễn ngôn phóng sự, diễn ngôn lời kêu gọi, diễn ngôn kí, diễn ngôn thông cáo báo chí, diễn ngôn hợp đồng, diễn ngôn khẩu hiệu,…
Nhìn chung, phân tích diễn ngôn đến giai đoạn này đã bắt đầu khẳng định được
vị trí riêng của mình trong nghiên cứu ngôn ngữ học, hơn nữa còn trở thành phương pháp nghiên cứu cho các ngành khoa học xã hội nhân văn khác: văn học, dân tộc học, văn hoá học, nhân học, triết học,… và khẳng định không ít thành quả Dẫu vậy,
dù đã qua giai đoạn phân biệt văn bản hay diễn ngôn, phân tích diễn ngôn hay phân tích văn bản mà đi vào phân tích các đường hướng tiếp cận, mảnh đất phân tích diễn ngôn - đặc biệt là phân tích diễn ngôn nghị luận chính trị, xã hội trong tiếng Việt vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm nghiên cứu
Trang 1715
1.1.3 Phân tích diễn ngôn báo chí nói chung và diễn ngôn chính luận, xã luận nói riêng
Hiện nay, ở Việt Nam, nghiên cứu diễn ngôn báo chí chính luận, đáng kể nhất
là công trình của Nguyễn Hoà với phân tích diễn ngôn bình luận chính trị trong Phân
tích diễn ngôn: một số vấn đề lí luận và phương pháp Ngoài ra, số lượng các luận
án, luận văn, các bài nghiên cứu chọn đối tượng này để khảo sát vẫn còn rất khiêm tốn so với sự phong phú của bản thân đối tượng Có thể liệt kê một vài công trình ở
bậc tiến sĩ như: Luận án Phân tích diễn ngôn phóng sự (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2001) tập trung phân tích đặc trưng tổ chức thông tin của một số thể loại phóng sự trên báo Tiền phong; luận án Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản lí nhà
nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn (Nguyễn Thị Hà, 2010) nghiên cứu các
chức năng chính của văn bản quản lí nhà nước, chỉ ra được sự tác động tích cực của phương tiện ngôn ngữ đến chất lượng và hiệu quả của văn bản quản lí nhà nước; luận
án Nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hợp đồng tiếng Việt từ bình diện phân tích diễn
ngôn (Trần Thị Thuỳ Linh, 2016), luận án Đối chiếu đặc điểm diễn ngôn của khẩu hiệu tiếng Anh và tiếng Việt (Đỗ Thị Xuân Dung, 2016), Ngoài ra, một số luận văn
cũng sử dụng cách tiếp cận và phương pháp phân tích diễn ngôn để khảo sát một số
kiểu loại diễn ngôn, như Khảo sát đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của diễn ngôn có
mục đích kêu gọi - lời kêu gọi (Vũ Thị Oanh, 2011); Huỳnh Thị Chuyên (2014) với Ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng Việt hiện nay,
Nhìn chung, trong tất cả các công trình nhắc trên còn một khoảng trống nhỏ, đó
là mặc dù đi sâu phân tích, ứng dụng phương pháp phân tích diễn ngôn theo một kiểu loại văn bản nhất định, song phần lớn đề cập đến phân tích diễn ngôn trên bình diện
so sánh đối chiếu hoặc theo một lĩnh vực cụ thể; hoặc mô tả định lượng, hoặc theo phương pháp phân tích cấu trúc truyền thống Mặt khác, đối với thể loại diễn ngôn chính luận xã luận báo chí, những công trình nghiên cứu chuyên sâu về thể loại này còn rất ít Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu đặc trưng thể loại này của diễn ngôn và phân tích cách mà diễn ngôn xã luận tác động, thể hiện sức mạnh của diễn ngôn báo chí để điều khiển và tác động đến xã hội Tình hình này là cơ sở thôi thúc
tác giả luận án lựa chọn DNXL báo Nhân Dân làm đối tượng khảo sát và đi theo
Trang 1816
hướng phân tích diễn ngôn Theo đường hướng này, DNXL được phân tích ở thể
“động”, nghĩa là nó đang hoạt động trong ngữ cảnh phát ngôn, ngữ cảnh xã hội cụ thể, chỉ ra được quyền lực của ngôn ngữ và khả năng quyền biến, điều chỉnh, tác động xã hội, đồng thời cho thấy mối quan hệ giữa ngôn ngữ với chức năng tác động, chức năng liên nhân của thể loại diễn ngôn chính luận
1.2 Cơ sở lí thuyết về phân tích diễn ngôn xã luận
1.2.1 Cơ sở lí thuyết về phân tích diễn ngôn
1.2.1.1 Khái niệm “diễn ngôn” và “phân tích diễn ngôn”
Trong các công trình nghiên cứu về diễn ngôn, với mỗi giai đoạn phát triển của phân tích diễn ngôn - tuỳ thuộc vào việc xác định đối tượng, mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, góc độ tiếp cận, mà mỗi nhà nghiên cứu lại xây dựng hay lựa chọn cho mình một định nghĩa khác nhau về diễn ngôn Sự phân hoá phức tạp về nghĩa của thuật ngữ khi xuất hiện trong những khung lí thuyết khác nhau đã dẫn đến
sự chồng chéo của các tầng nghĩa, tạo nên một ma trận đầy thách thức đối với nhà nghiên cứu
Từ khái niệm “diễn ngôn” với cách hiểu là văn bản liên kết ở cấp độ cao hơn
câu (Z Harris, dẫn theo Nguyễn Hoà, 2006] và coi diễn ngôn như là một hệ phương
pháp hình thức phân tích văn bản thành các đơn vị nhỏ hơn, các nhà nghiên cứu cũng
tập trung phân biệt khái niệm diễn ngôn (discourse) và khái niệm văn bản (text) Tuy
nhiên, trong thực tế, cho đến nay, các nhà ngôn ngữ học chưa đi đến sự thống nhất trong việc định nghĩa hai khái niệm này
Các tác giả như Barthes (1970), Ballert (1971), Halliday và Hassan đều có chung quan niệm diễn ngôn trùng với văn bản Nhưng Brown G và Yule G, Cook, David Nunan, lại cố gắng để phân biệt diễn ngôn với văn bản Ví dụ Brown G và Yule G xem “Văn bản như là một thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp” hay “văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn” [Brown G, Yule G, 2002: 22] Fairclough đồng nhất diễn ngôn với tập quán xã hội, hành động xã hội, thực tiễn xã hội; diễn ngôn thể hiện đời sống xã hội và tri thức, diễn ngôn được tạo lập và
sử dụng để hợp thức hoá các vấn đề xã hội
Theo David Nunan “diễn ngôn như là một chuỗi ngôn ngữ gồm một số câu, những câu này được nhận biết là có liên quan với nhau theo một cách nào đó không
Trang 1917
chỉ theo ý tưởng mà chúng cùng có, mà còn theo các công việc mà chúng thực hiện
trong diễn ngôn - nghĩa là theo các chức năng của chúng” [David Nunan, 1997: 19)
Ở Việt Nam, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng hai khái niệm này coi như đồng nhất, có thể thay thế cho nhau “Phân tích diễn ngôn bao trùm một phạm vi rất rộng các hoạt động, từ việc nghiên cứu cách dùng các từ như thế nào trong các cuộc thoại đến việc nghiên cứu tư tưởng nổi bật của một nền văn hoá đã được thể hiện trong thực tiễn chính trị và giáo dục, v.v Trong phạm vi ngôn ngữ học, phân tích diễn ngôn tập trung vào quá trình sử dụng ngôn ngữ để thể hiện ý định trong ngữ cảnh nào đó” [Nguyễn Thiện Giáp, 2008: 345] Vì thế, ông đi sâu giải thuyết diễn ngôn qua các khái niệm trường diễn ngôn, không khí và thức diễn ngôn
Đỗ Hữu Châu quan niệm mỗi diễn ngôn có thể do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo ra Diễn ngôn có nội dung thông tin và nội dung liên cá nhân, hai nội dung này thống nhất với nhau thể hiện các chức năng khác nhau của giao tiếp trong diễn ngôn Mỗi diễn ngôn gồm nhiều phát ngôn, các phát ngôn này gắn bó với nhau,
lệ thuộc nhau ở mức độ nhất định về nội dung và hình thức Như vậy, Nguyễn Thiện Giáp và Đỗ Hữu Châu đều dùng khái niệm diễn ngôn để chỉ ngôn ngữ đang hoạt động, ngôn ngữ trong sử dụng, ngôn ngữ trong ngữ cảnh
Tác giả Nguyễn Hoà lại cho rằng “Diễn ngôn như là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích, không giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể”, và “với tư cách là một quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp, nó còn bao hàm cả các yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh tình huống, yếu
tố dụng học, và tác động của các chiến lược văn hoá ở người sử dụng ngôn ngữ”; và
“diễn ngôn như là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” [Nguyễn Hoà, 2003: 32, 33] Như vậy, theo Nguyễn Hoà, diễn ngôn và văn bản được phân biệt nhau ở góc độ sản phẩm/quá trình nhưng ông cũng cho rằng chúng không phải là hai thực thể độc lập, hoàn toàn tách biệt nhau mà chỉ là những biểu hiện khác nhau của ngôn ngữ hành chức trong những điều kiện ngữ cảnh giao tiếp cụ thể
Diệp Quang Ban đã dựa vào một định nghĩa văn bản và cho rằng có thể dùng chung cho cả diễn ngôn khi chưa cần có sự phân biệt: “Văn bản là một loại đơn vị được hình thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu
Trang 20Tựu trung lại, khái niệm diễn ngôn được các nhà nghiên cứu định nghĩa không
giống nhau, nhưng vẫn thống nhất với nhau ở quan điểm diễn ngôn là những chỉnh thể có cấu trúc xác định, nội dung hoàn chỉnh, có chức năng giao tiếp xác định Ở đây, luận án sử dụng khái niệm diễn ngôn với nghĩa này, và đồng nhất diễn ngôn với văn bản
Trên cơ sở đó, luận án xác định phân tích diễn ngôn là phân tích ngôn ngữ trong sử dụng Diễn ngôn là khái niệm còn phân tích diễn ngôn là phương pháp và cách tiếp cận Vì vậy ngữ cảnh chính là yếu tố quan trọng trong phân tích diễn ngôn Các nhà ngữ pháp chức năng - hệ thống cho rằng người ta không thể hiểu được ý nghĩa của những điều được nói ra nếu không biết gì về ngữ cảnh xung quanh chúng Hay là, nếu hiểu được những gì viết hoặc nói ra thì cũng có thể hình dung ra được ngữ cảnh của chúng Như vậy, để giải thích và hiểu được một diễn ngôn người ta không những chỉ cần phân tích bản thân diễn ngôn đó mà còn phải phân tích ngữ cảnh diễn ngôn đó được sử dụng Ví dụ, trong các diễn ngôn báo chí, người nhận không cùng chung ngữ cảnh với người phát, do đó người phát chỉ có thể sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt, đồng thời phải dự đoán trước thái độ và phản ứng của người nhận, nhằm lựa chọn những phương thức phù hợp và hạn chế tới mức tối đa những sai lệch trong quá trình giao tiếp
1.2.1.2 Các cách phân loại diễn ngôn
Từ khái niệm diễn ngôn cũng cho thấy, các kiểu loại diễn ngôn hết sức đa dạng Diễn ngôn được các nhà nghiên cứu phân tích nằm trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống: có thể là diễn ngôn giao tiếp hàng ngày trong gia đình, giữa bạn bè và những người thân thuộc; có thể là diễn ngôn trong văn chương hay trong khoa học; có thể là diễn ngôn trong sách giáo khoa hay trong lĩnh vực giáo dục; trong quảng cáo và truyền thông đại chúng; trong những bài diễn văn chính trị, hay trong văn bản hành chính hay pháp luật, v.v… Vì thế, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân loại chúng Tuy vậy, việc phân loại diễn ngôn cũng không dễ dàng, bởi có nhiều cách phân loại
Trang 2119
theo những tiêu chí khác nhau như: phương thức biểu đạt; thể thức cấu tạo văn bản (theo khuôn hình cứng nhắc hay mềm dẻo); theo mức độ đơn giản/phức tạp, tính độc lập/lệ thuộc, tính liên tục/gián đoạn của cấu trúc nội tại của diễn ngôn; theo chức năng ngôn ngữ; Về cơ bản có các cách phân loại diễn ngôn sau:
a) Phân loại diễn ngôn theo cấu trúc
Theo Hausenblas, để có sự phân loại có hệ thống và thoả đáng thì phải cần đến
sự hợp tác của cả hai bộ phận cùng quan tâm đến việc miêu tả ngôn ngữ Đó là ngữ pháp và phong cách học Theo đó, ông đưa ra các cách phân loại diễn ngôn như sau:
- Phân loại diễn ngôn theo cấu trúc: các tiêu chí để phân loại diễn ngôn theo cách này là tính đơn giản/ phức tạp trong cấu trúc văn bản của diễn ngôn, tính độc lập/lệ thuộc của các diễn ngôn, và tính liên tục/ gián đoạn của các diễn ngôn
- Phân loại diễn ngôn dựa trên cấu tạo khuôn hình văn bản: có hai loại cấu tạo khuôn hình văn bản chính là khuôn hình cứng nhắc và khuôn hình mềm dẻo Các diễn ngôn có khuôn hình cứng nhắc là các văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ và một số văn bản pháp lí thuộc lĩnh vực khoa học - kĩ thuật; các diễn ngôn
có khuôn hình mềm dẻo như: các văn bản khoa học (bài báo, luận án khoa học) và một số văn bản báo chí, các tác phẩm văn chương, [theo Cù Đình Tú, 2001: 175] Theo cách phân loại này, diễn ngôn xã luận thuộc loại diễn ngôn có cấu tạo khuôn hình mềm dẻo
b) Phân loại diễn ngôn theo phong cách học
Quan điểm này xuất phát từ việc đối lập giữa ngôn ngữ văn học và khẩu ngữ - ngôn ngữ viết và nói; dựa vào chức năng giao tiếp, chức năng thông báo, tác động, trao đổi, thẩm mĩ; sự phân chia ba bình diện của các hiện tượng ngôn ngữ: hệ thống ngôn ngữ, hoạt động lời nói và lời nói (hay sản phẩm của hoạt động lời nói) Trong phong cách học, chức năng kết hợp với thuật ngữ phong cách để biểu đạt một phạm
vi sử dụng ngôn ngữ Với sự phân giới ba bình diện của hiện tượng ngôn ngữ: hệ thống ngôn ngữ, hoạt động lời nói và tư liệu ngôn ngữ, tác giả Môrôkhốpxki đã phân định phong cách học thành các bậc: phong cách học ngôn ngữ; phong cách học hoạt động lời nói; phong cách học lời nói; phong cách học ngôn ngữ nghệ thuật Ứng dụng vào tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc đã phân chia các phong cách chức năng của
hoạt động lời nói thành: phong cách hành chính công vụ là khuôn mẫu thích hợp để
Trang 2220
xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh
vực hành chính công vụ (mệnh lệnh, công hàm, hiệp ước, hợp đồng,…); phong cách
khoa học là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của
người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực khoa học (tạp chí, báo cáo khoa học, giáo
trình,…), phong cách báo chí - công luận là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp
văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực báo chí -
công luận (tin tức, quảng cáo, điều tra, phỏng vấn,…), phong cách chính luận là
khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực chính trị - xã hội (báo cáo chính trị, lời kêu gọi, xã luận,
bình luận báo chí, ), phong cách sinh hoạt hằng ngày là khuôn mẫu thích hợp để
xây dựng lớp phát ngôn trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày (lời trò chuyện, tâm sự, nhật kí, lời tâm sự,…)
Tác giả Hữu Đạt, dựa vào chức năng giao tiếp, hình thức thể hiện, phạm vi giao tiếp, cho rằng trong tiếng Việt có 6 phong cách chức năng khác nhau, đó là: phong cách sinh hoạt hằng ngày, phong cách hành chính - công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cách văn học nghệ thuật [Hữu Đạt, 1999] Mỗi loại phong cách có các thể loại diễn ngôn khác nhau Điều này cũng quy định cách thức tổ chức diễn ngôn, nội dung diễn ngôn,…
Theo các cách phân loại này, xã luận thuộc loại diễn ngôn có phong cách chính luận
c) Phân loại diễn ngôn theo chức năng
Căn cứ vào chức năng của ngôn ngữ, Brown và Yule cho rằng diễn ngôn có hai chức năng cơ bản: chức năng giao dịch (để chuyển tải nội dung mệnh đề) và chức năng tương tác (để diễn đạt quan hệ xã hội) Còn theo D Nunan có thể chia diễn ngôn thành diễn ngôn “có tính chất giao dịch”, là ngôn ngữ được dùng để đạt được hàng hoá và dịch vụ, và ngôn ngữ “liên cá nhân” là ngôn ngữ được dùng cho sự xã hội hoá” [David Nunan, 2003: 38] DNXL có cả hai chức năng trên nhưng chức năng giao dịch được thể hiện nổi trội hơn
d) Phân loại diễn ngôn theo nội dung
Căn cứ vào nội dung các diễn ngôn phản ánh, các diễn ngôn lại được phân loại thành: diễn ngôn khoa học, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn kinh tế, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn văn học, diễn ngôn hành chính,…
Trang 2321
Theo sự phân loại này, DNXL thuộc diễn ngôn báo chí, nhưng đồng thời cũng
là diễn ngôn chính trị, vì DNXL vừa đảm nhiệm chức năng thông tin, giao dịch (nội dung đặc trưng của diễn ngôn báo chí) vừa phải đảm nhiệm chức năng tác động, liên nhân (nội dung đặc trưng của diễn ngôn chính trị); vừa thông báo sự kiện (nội dung đặc trưng của diễn ngôn báo chí) vừa thông qua sự kiện đó, tác động tới người nhận nhằm định hướng, lôi kéo sự đồng thuận, chia sẻ của người nhận (nội dung đặc trưng của diễn ngôn chính trị)
e) Phân loại diễn ngôn theo ngữ vực
Ngữ vực (register), theo Halliday và Hassan, là một cấu hình có tính chất nghĩa tiềm năng của văn bản, gắn liền với đặc điểm tình huống, được đặc trưng bởi trường (field), thức (mode), không khí chung (tenor) Trong đó, trường biểu thị điều được nói ra hay viết ra, là phạm vi hoạt động xã hội trong đó ngôn ngữ được sử dụng như là một phương tiện để giao tiếp, để hành động; không khí thể hiện mối quan hệ giữa người phát và người nhận hay nói cách khác là nó quy chiếu đến các vai tham gia giao tiếp, thể hiện địa vị và quyền lực cũng như mối quan hệ giữa các vai; cách thức biểu thị kiểu loại ngôn bản được tạo lập Ba thông số này cùng xác lập ngữ cảnh tình huống của văn bản, chỉ cần một trong ba thông số có sự thay đổi là chúng ta đã có ngữ cảnh khác nhau, từ đó tạo ra những văn bản khác nhau Như vậy, ngữ vực được hiểu rộng hơn phong cách học, nó bao chứa các thể loại, các phong cách văn bản khác nhau
“Các ngữ vực có thể được nhìn nhận như là một tập hợp các thể loại con” [Nguyễn Hoà, 2003: 38] Chẳng hạn, ngữ vực văn chương được phân loại thành các ngữ vực như: văn xuôi, thơ, văn học dân gian, văn học bác học, văn học cổ đại, văn học trung đại, văn học hiện đại,…; các tiểu ngữ vực là các thể loại con như: truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện cổ tích, truyện truyền kì,… Ngữ vực báo chí gồm các thể loại như: tin, bài phóng sự, bài bình luận, bài tường thuật, bài xã luận,…
Từ những cách phân loại đó, luận án xác định: DNXL thuộc loại diễn ngôn có
cấu tạo khuôn hình mềm dẻo, mang phong cách chính luận, thuộc diễn ngôn báo chí, nhưng đồng thời cũng là diễn ngôn chính trị và thuộc ngữ vực báo chí Sự phân loại
theo các tiêu chí trên giúp luận án có những phân xuất ban đầu về các đặc điểm thể loại của văn bản trong hướng tiếp cận phân tích Qua đó cũng có thể thấy rằng bức
Trang 2422
tranh phân loại diễn ngôn rất đa dạng, tuy nhiên vẫn chủ yếu căn cứ trên bình diện cấu trúc (đơn giản/phức tạp; cứng nhắc/mềm dẻo/tự do) hoặc căn cứ trên bình diện chức năng và mục đích giao tiếp Vì thế, dù có thuộc thể loại diễn ngôn nào thì việc tiếp cận phân tích diễn ngôn vẫn phải xuất phát từ trọng tâm là nghiên cứu ngôn ngữ hành chức trong mối quan hệ với xã hội - văn hoá
1.2.2 Các khuynh hướng tiếp cận phân tích diễn ngôn
Những năm gần đây, sự thâm nhập mạnh mẽ của phân tích diễn ngôn vào khoa học nhân văn và chính trị - xã hội học đã dẫn tới sự bùng nổ của các lí thuyết diễn ngôn khác nhau, trong đó nền móng của những lí thuyết này là các quan niệm về thế giới và phương pháp luận cụ thể trong việc giải thích bản thân khái niệm diễn ngôn, là những truyền thống nghiên cứu khác nhau, là phương thức giải thích và mô tả các thực tiễn diễn ngôn cùng cấu trúc và chức năng của chúng Hàng năm, số lượng các ấn phẩm, các hội thảo khoa học, các giáo trình đại học, các luận văn, luận án dành cho những lĩnh vực khác nhau trong việc vận dụng các lí thuyết diễn ngôn và phân tích diễn ngôn đang không ngừng tăng lên Trong phạm vi khoa học hàn lâm, đã thấy xuất hiện các trường phái và khuynh hướng khởi xướng nhiều mô hình lí thuyết diễn ngôn
và phương pháp ứng dụng phân tích diễn ngôn độc đáo, đồng thời xuất hiện một số khuynh hướng phân loại và hệ thống hoá các lí thuyết diễn ngôn và phân tích diễn ngôn từ các góc độ khác nhau
1.2.2.2 Khuynh hướng tiếp cận Ngôn ngữ học
Theo hướng này phải kể đến các lí thuyết diễn ngôn của Van Dijk Quan điểm của Van Dijk thể hiện “hướng tiếp cận khoa học - nguồn gốc”, “cho phép tiến hành phân chia các lí thuyết diễn ngôn, với điểm xuất phát là công cụ, phương pháp luận của bộ môn khoa học nào đó có ảnh hưởng nhiều nhất tới sự phát triển của diễn ngôn phân tích ở một lát cắt thời gian cụ thể” [Lã Nguyên, 2013] Tại đây, Van Dijk đã trình bày phân tích diễn ngôn như một khoa học liên ngành, phát triển gắn với việc
mở rộng phạm vi đối tượng nghiên cứu, với việc vận dụng tất cả các môn khoa học mới vào nghiên cứu diễn ngôn Đồng thời, quá trình này kéo theo ứng dụng quan điểm phương pháp luận từ các bộ môn khoa học khác vào lí thuyết diễn ngôn Nhờ vậy, phạm vi đối tượng của phân tích diễn ngôn được mở rộng sang việc nghiên cứu
Trang 2523
sản phẩm văn hoá và giao tiếp đại chúng, và được phân tích như một lĩnh vực tri thức liên ngành Điều này cũng cho thấy cách tiếp cận của Van Dijk rất gần với quan niệm của diễn ngôn trong xã hội học
Cách tiếp cận của M Jorgensen và L Phillips: Trong cuốn Discourse Analysis
as Theory and Method của M Jorgensen và L Phillips, việc phân loại các lí thuyết
diễn ngôn được thực hiện thông qua sự so sánh ba quan điểm lí thuyết - phương pháp luận phân tích diễn ngôn mà theo các tác giả có thể xếp chung vào cùng một lĩnh vực khoa học liên ngành Tuy nhiên, cả ba hướng tiếp cận phân tích diễn ngôn đều có chung một nguồn gốc, đều ra đời ngay trong lòng chủ nghĩa cấu trúc và hậu cấu trúc luận Chúng đều dựa vào cách giải thích ngôn ngữ trên quan điểm cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận, xem ngôn ngữ là những sức mạnh kiến tạo thế giới Cơ sở phân loại của M Jorgensen và L Phillips là nguyên tắc phân biệt các lí thuyết diễn ngôn kiến tạo - xã hội, xuất phát từ chỗ, các lí thuyết ấy đã diễn giải như thế nào về mối quan hệ tương hỗ giữa thực tiễn diễn ngôn và thực tiễn phi diễn ngôn Các tác giả phân tích so sánh các lí thuyết diễn ngôn từ việc khám phá các điều kiện cơ bản, có tính tiên quyết, tạo thành nền tảng của hướng tiếp cận diễn ngôn theo quan điểm của thuyết kiến tạo xã hội Các điều kiện tiên quyết được nhấn mạnh như sau: 1 Tri thức
và ý niệm của con người về thế giới không phải là sự phản ánh trực tiếp thế giới bên ngoài, mà là kết quả phân loại hiện thực bằng các phạm trù; tri thức của con người là sản phẩm của diễn ngôn do nó được biểu đạt bằng ngôn ngữ phân tích diễn ngôn; 2 Các phương thức nhận thức và biểu đạt thế giới chịu sự quy định của ngữ cảnh lịch
sử và văn hoá; “diễn ngôn là hình thức của hành vi xã hội dùng để mô tả thế giới xã hội (bao gồm tri thức, con người và các quan hệ xã hội)”; 3 Tri thức xuất hiện trong quá trình tương tác xã hội, ở đó con người kiến tạo chân lí, chứng minh cho nhau, cái
gì là đúng đắn, cái gì là sai lầm; 4 Ứng với một thế giới quan nào đó, những loại hành vi nào đó sẽ được định hình như những hành vi tự nhiên, còn những hành vi khác thì bị cự tuyệt, quan niệm xã hội khác nhau về thế giới sẽ dẫn tới hành vi xã hội khác nhau, vì thế cấu trúc xã hội của tri thức và chân lí có những hệ quả xã hội”
Ở Việt Nam, theo hướng tiếp cận ngôn ngữ học, khi phân tích diễn ngôn, các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu các phương thức xây dựng diễn ngôn, trên cơ sở tham
Trang 2624
chiếu mục đích và chức năng mà vì chúng diễn ngôn được tạo lập Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã tiếp cận theo hướng này và bắt đầu đưa ra những vấn về nội dung, về mạch lạc, tổ chức văn bản,… những tiền đề ban đầu cho sự ra đời của phân tích diễn ngôn
Còn Diệp Quang Ban cho rằng, “trong cách hiểu ngắn gọn nhất, phân tích diễn ngôn là một cách tiếp cận phương pháp luận đối với việc phân tích ngôn ngữ bậc trên bậc câu, gồm các tiêu chuẩn như tính kết nối, hiện tượng hồi chiếu, Hiểu một cách
cụ thể hơn thì phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng.” [Diệp Quang Ban, 2012: 158] Theo ông, phân tích diễn ngôn nhằm làm nổi bật mối quan hệ mật thiết giữa kết cấu ngôn từ bên trong văn bản với những yếu tố ngoài văn bản như: trường (hoàn cảnh bao quanh diễn ngôn), thức (vai trò của ngôn ngữ trong tình huống), không khí chung (các vai xã hội trong giao tiếp) Trên cơ sở tổng quát tình hình phân tích diễn ngôn trên thế giới, Diệp Quang Ban đã làm rõ hàng loạt các khái niệm mà phân tích diễn ngôn cần phải áp dụng khi phân tích các thể loại văn bản/diễn ngôn cụ thể, như: văn bản truyện kể, lời kêu gọi,… Từ đó, ông cũng đưa ra cách tiếp cận vi mô đối với phân tích diễn ngôn
Theo Nguyễn Thiện Giáp, “ Trong phạm vi ngôn ngữ học, phân tích diễn ngôn tập trung vào quá trình sử dụng ngôn ngữ để thể hiện ngôn ngữ trong ngữ cảnh nào đó” [Nguyễn Thiện Giáp, 2008: 443-444]
Đinh Văn Đức lại cho rằng phân tích diễn ngôn dù ở dạng nói hay viết đều có liên kết, có mạch lạc Nội dung tổng thể diễn ngôn là dùng phương pháp ngôn ngữ học để phân tích các yếu tố ngôn ngữ, cách thức tổ chức, chức năng của chúng trong phạm trù diễn ngôn [Đinh Văn Đức, 2013: 39]
Theo hướng này các nhà phân tích diễn ngôn dựa trên việc phân tích các diễn ngôn cụ thể, cố gắng chỉ ra những cấu trúc khái quát, những thuộc tính bản chất của từng loại hình diễn ngôn Điều này vô hình chung đã mô hình hoá các diễn ngôn vào một cấu trúc khép kín, nội tại trong đó các yếu tố đều liên quan đến ngôn ngữ và phụ thuộc phần lớn vào một ngữ cảnh cố định mà bỏ qua những vấn đề như tâm lí xã hội
Trang 2725
của người nhận, các đặc điểm tri thức, vai trò của ngôn ngữ trong việc tổ chức diễn ngôn,
- Từ giữa những năm 1990, trong nghiên cứu diễn ngôn xuất hiện một nhánh
mới: Phân tích diễn ngôn phê phán (Critical discourse analysis - CDA) do Fairclough
đề xướng, tiêu biểu là các nhà ngôn ngữ: Fairclough, Fowler, Van Dijk, Wodak, Trên cơ sở đó các nhà ngôn ngữ học đã chuyển đổi và kết hợp các khái niệm cốt lõi
từ hai khái niệm hoàn toàn khác nhau và điều chỉnh chúng cho phù hợp Theo hướng
này, nghiên cứu CDA chủ yếu dựa trên ba siêu chức năng của ngôn ngữ, đó là: chức
năng kinh nghiệm, chức năng liên nhân, chức năng văn bản Cũng chính họ đã tìm ra
cơ sở cho việc sử dụng chức năng hệ thống của M.A.K Halliday để làm rõ các cấu trúc thể hiện quyền lực trong văn bản Đây là hướng nghiên cứu ngôn ngữ theo điểm nhìn chính trị nhằm chỉ ra mối quan hệ tư tưởng - ngôn ngữ - quyền lực
Tiếp cận theo hướng này, ở Việt Nam, Nguyễn Hoà đi sâu phân tích thể loại văn bản điển hình (văn bản tin) Trên cơ sở tiếp thu các đường hướng phân tích CDA trên thế giới, ông đã áp dụng đường hướng CDA ở Việt Nam Đây là bước đi quan trọng trong phân tích diễn ngôn nói chung, CDA ở Việt Nam nói riêng Nguyễn Hoà cho rằng “phê phán” tức là làm rõ tính quan hệ của các sự vật, hiện tượng, làm cho diễn ngôn trở nên có thái độ Đồng thời, theo ông, ngay từ những ngày đầu, CDA đã đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu quan hệ quyền lực được thể hiện, tái tạo, hay bị phản kháng qua văn bản hội thoại trong hoàn cảnh xã hội và chính trị Hơn nữa, CDA sử dụng một loạt các thao tác để nghiên cứu, phân tích các thực tiễn sử dụng diễn ngôn hay ngôn ngữ như là một tập quán xã hội và văn hoá Theo đó, “thuật ngữ
“phân tích diễn ngôn phê phán” được hiểu như là phân tích diễn ngôn nhằm khám phá một cách hệ thống các mối quan hệ về tính nguyên nhân mờ ảo và quy định giữa (a) thực tiễn suy diễn, sự kiện và văn bản, (b) các cấu trúc xã hội và văn hoá, các mối liên hệ và quá trình rộng lớn hơn nhằm nghiên cứu xem thực tiễn, sự kiện và văn bản được phát sinh hay được định hình bởi các mối quan hệ và đấu tranh vì quyền lực như thế nào, nhằm khám phá bằng cách nào mà tính mờ ảo của các mối quan hệ này giữa diễn ngôn và xã hội lại là một yếu tố trong việc giành quyền lực và bá quyền” [Nguyễn Hoà, 2006: 20]
Trang 2826
1.2.2.3 Khuynh hướng tiếp cận Phong cách học
Tiên phong cho xu hướng này là M Bakhtin với các công trình Vấn đề các thể
loại lời nói, Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Những vấn đề thi pháp Đôxtoiepxki v.v…
Đối lập với F.de Saussure, M Bakhtin xem diễn ngôn là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động, là một hiện tượng xã hội “Ông đề xuất một lĩnh vực nghiên cứu mới mà ông gọi là siêu ngôn ngữ, một ngành khoa học chuyên nghiên cứu “đời sống của lời nói”, “dòng chảy của ngôn từ”, nói cách khác là ngôn ngữ như một thực thể đa dạng, sống động, mang tính lịch sử chứ không phải là ngôn ngữ như một hệ thống khép kín
và trừu tượng” [Nguyễn Thị Ngọc Minh, 2012] Đối với M Bakhtin, diễn ngôn là ngôn ngữ có tư tưởng, có tính hoạt động xã hội, có thực tiễn vì thế nó không ngừng biến đổi theo lịch sử và mang tính tư tưởng hệ
Tại Việt Nam, trong một mức độ nhất định, cách tiếp cận này có thể thấy trong
công trình Phong cách học văn bản của Đinh Trọng Lạc (2004) Từ góc độ phong
cách, công trình đã tổng kết thành các phạm trù của văn bản (diễn ngôn), trong đó có những phạm trù là bất biến, có mặt ở mọi văn bản thuộc mọi phong cách như phạm trù về tính nhất thể, phạm trù về tính khả phân, nhưng cũng có những phạm trù thể hiện ở những mức độ khác nhau đối với các phong cách khác nhau như tính định hướng giao tiếp, tính cá thể/phi cá thể của văn bản Việc áp dụng cách tiếp cận phân tích diễn ngôn vào khảo sát thể loại thơ, văn học dân gian, truyện kể cho thiếu nhi cũng bước đầu được áp dụng nhằm làm rõ đặc trưng tổ chức diễn ngôn thông qua các block, mạng mạch và hoạt động ngôn từ
1.2.2.4 Khuynh hướng tiếp cận Xã hội học
Không hoàn toàn thống nhất với quan điểm của Van Dijk, J Torfing cho rằng mục đích cơ bản của lí thuyết diễn ngôn là mở rộng viễn cảnh cho sự phân tích kiểu mới trong việc nghiên cứu các phương thức kiến tạo căn tính xã hội, chính trị và văn hoá Tính đa trị và sự cởi mở của các lí thuyết diễn ngôn mới có sức hấp dẫn đối với phần đông giới nghiên cứu, những học giả tìm thấy ở đó một sơ đồ làm việc không giáo điều để phát triển những xu hướng trí tuệ mới dựa trên nền tảng trực giác hậu cấu trúc luận và chủ nghĩa hậu hiện đại Theo J Torfing, hậu cấu trúc luận là trào lưu có ảnh hưởng lớn nhất, trào lưu đề xuất một hướng kiến giải cụ thể về lí thuyết diễn ngôn,
Trang 29Diễn ngôn không chỉ được coi như “một cái gì tồn tại cố hữu, tự thân và có thể được phân tích một cách cô lập”, mà là những quy tắc và cấu trúc nhằm tạo ra những phát ngôn và những văn bản cụ thể Đó là một hệ thống của “những tư tưởng, quan điểm, khái niệm, cách thức tư duy và hành xử, những cái được hình thành trong một bối cảnh xã hội cụ thể”, có một hiệu lực chung đối với cách suy nghĩ và nói năng của mỗi nhóm người cũng như mỗi cá nhân.” (Nguyễn Thị Ngọc Minh, 2012)
Trải qua những sự thay đổi của xã hội và các khung lí thuyết ứng dụng trong phân tích diễn ngôn, có thể thấy rằng ngôn ngữ không chỉ đơn giản đóng khung trong
“cấu trúc luận” của chính nó, mà phải được thừa nhận như một phương tiện của tư tưởng, mang giá trị kinh nghiệm điều khiển và làm thay đổi xã hội Vì thế, người tổ chức diễn ngôn phải biết tổ chức các kết cấu và nội dung của điều mình muốn nói, muốn viết để làm sao đạt hiệu quả nhất Vì vậy, “Phân tích diễn ngôn nhất thiết phải
là phân tích ngôn ngữ trong hành chức”, là miêu tả các cơ chế cấu trúc của ngôn ngữ, phân tích được các chức năng ngôn ngữ, cách nó chi phối nhận thức, điều chỉnh quyền lực và làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ - bối cảnh văn hoá - xã hội Điều
Trang 3028
này đòi hỏi phân tích diễn ngôn phải được tiếp cận dựa trên căn cứ của cấu trúc chức năng hệ thống ngôn ngữ học, có sự soi sáng của xã hội học, phong cách học, dụng học, ngôn ngữ học xã hội, ; nghĩa là có sự phối hợp giữa khung lí thuyết “cấu trúc luận” và “chức năng luận”, bởi “khó có thể tách bạch giữa cấu trúc và chức năng”
“Sự kết hợp giữa chức năng và cấu trúc là cần thiết cho lí luận phân tích diễn ngôn Schiffrin hoàn toàn có lí khi nói rằng: Sự phân tích cấu trúc dẫn đến việc xác định chức năng, và chức năng được phân tích trong diễn ngôn được hiện thực hoá về mặt ngôn ngữ theo những cách thức tạo ra cấu trúc” [theo Nguyễn Hoà, 2003: 144]
1.2.3 Khái niệm “diễn ngôn xã luận” và đặc điểm của diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân
1.2.3.1 Khái niệm “diễn ngôn xã luận”
Báo chí có quan hệ chặt chẽ, biện chứng với quá trình hình thành và phát triển
xã hội, tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội, tác động đến người tiếp nhận để cùng biết, cùng hiểu, thống nhất nhận thức và tiến tới thống nhất hành vi Đây cũng chính là khả năng liên nhân của diễn ngôn báo chí nói chung và xã luận nói riêng Bàn về thể loại DNXL, có rất nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau, nhưng có thể khái quát về DNXL với một số tiêu chí như sau:
- Là một thể loại báo chí thuộc phong cách chính luận
- Là bài báo quan trọng nhất của một tờ báo (thường đăng ở trang nhất), có một
số chức năng cơ bản: Trình bày, đưa thông tin về một vấn đề mang tính thời sự cấp thiết hoặc giải thích cho một chủ trương, đường lối mới của Đảng, Nhà nước; Đưa ra những bàn luận tổng quát, thể hiện quan điểm của toà soạn (cơ quan ngôn luận của một tổ chức chính trị, xã hội nào đó) về một vấn đề thời sự nhất định đang được xã hội quan tâm; Mục tiêu của xã luận là định hướng nhận thức cho công chúng, đồng thời đề xuất nhiệm vụ trước mắt, phương hướng hành động theo nhận thức được quán triệt Để thực hiện được các chức năng này thì ngôn ngữ xã luận phải có tính lí luận, lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục mạnh mẽ Bởi muốn thuyết phục được người nhận thông điệp thì cần phải giải thích, chứng minh một cách có lí lẽ, có căn cứ, dựa trên các luận điểm, luận cứ xác thực Tóm lại, xã luận có hai nhiệm vụ chính là thông tin và giáo dục, tác động, can thiệp nhằm thay đổi hành vi của người nhận
Trang 3129
Với mục tiêu phân tích DNXL báo Nhân Dân, luận án xác định một định nghĩa
khái quát làm cơ sở để nghiên cứu là: Xã luận là một thể loại diễn ngôn chính luận được các tổ chức chính trị dùng để tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục người khác làm theo các đường hướng, chính sách của họ nhằm thống nhất nhận thức, tiến tới thống nhất hành vi, giải quyết các vấn đề của xã hội
1.2.3.2 Đặc điểm của diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân giai đoạn 1964 - 1975
Đặc điểm của các diễn ngôn này là rõ ràng về đề tài, sâu sắc và rành mạch trong khi phân tích các vấn đề chính trị, độ chính xác và biểu cảm cao trong cách đánh giá, sắc bén khi bút chiến, phong phú về cảm xúc, chuẩn mực về ngôn từ và cô đọng trong cách trình bày Cũng chính nhờ những đặc điểm trên mà xã luận có thể tác động tới người tiếp nhận cả về lí trí và tình cảm, từ đó đạt được mục đích định hướng, cổ vũ lôi cuốn,… và cuối cùng là thuyết phục được người tiếp nhận biến những chủ trương, đường lối, lời kêu gọi đó thành hành động
Nghiên cứu về DNXL, Nguyễn Hoà cho rằng: “Bài xã luận về thực chất là một loại văn bản có tính chất hướng dẫn công luận, song cũng thuộc về thể loại bình luận chính trị Có thể có một số loại bình luận chính trị như: diễn ngôn bình luận ngắn, diễn ngôn bình luận trong ngày, diễn ngôn bình luận trong tuần, hay diễn ngôn bình luận mang tính bút chiến và tính giải thích Về nội dung, không có sự khác biệt giữa diễn ngôn bình luận (commentary) và bài xã luận do đều thể hiện ý kiến (opinion) giải thích hay phê phán một hiện tượng, một sự kiện hay một cá nhân nào đó Sự khác biệt lại nằm trên một phương diện tương đối hình thức: cụ thể là, diễn ngôn bình luận chính trị
do một cá nhân viết thể hiện quan điểm riêng của mình, còn bài xã luận (cũng vẫn do
cá nhân viết) lại thể hiện quan điểm, hay ý kiến của ban biên tập tờ báo (editors) hay người xuất bản (publishers)” [Nguyễn Hoà, 2003: 240]
Theo Vũ Quang Hào, diễn ngôn xã luận “đòi hỏi người phát luôn tỏ rõ lập trường, quan điểm và tình cảm cách mạng… cũng như biểu thị rõ ràng thái độ đối với sự kiện hay vấn đề được đề cập”; “có lập luận chắc chắn, rõ ràng, chặt chẽ, logic”, “có sức truyền cảm, dễ hiểu, giản dị, chân thật” [Vũ Quang Hào, 2010: 62]
Là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, là tiếng nói của
Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, báo Nhân Dân đăng tải các chủ trương
chính sách, các sự kiện chính trị, xã hội, văn hoá lớn trong nước và quốc tế theo quan
Trang 3230
điểm, lập trường chính thức của Đảng, Nhà nước Việt Nam Trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc vĩ đại, thống nhất đất nước và trong cả công cuộc đổi mới,
xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay, báo Nhân Dân luôn có mặt trên những trận
tuyến nóng bỏng để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, tuyên truyền, cổ vũ việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phản ánh tâm
tư nguyện vọng, sáng kiến và ý chí của các tầng lớp nhân dân, tham gia tổng kết thực tiễn, hoàn thiện đường lối Đổi mới Tuy nhiên, nếu xét về số lượng, trong khoảng 10 năm gần đây, xã luận với tư cách là một loại hình báo chí chính luận ít xuất hiện hơn
Ngoài hai tờ báo lớn là Nhân Dân và Quân đội Nhân dân, còn hầu hết tại các tờ báo
khác, sự xuất hiện của xã luận là không đáng kể
Luận án lựa chọn khảo sát các DNXL trên báo Nhân Dân giai đoạn 1965- 1975
vì một số lí do cơ bản sau:
- Thứ nhất, đây là giai đoạn quan trọng, đặc biệt và đánh dấu nhiều hoạt động,
sự kiện mang tính lịch sử to lớn của đất nước: đấu tranh giải phóng miền Nam, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước và là các hoạt động khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội Đây là giai đoạn đòi hỏi cả dân tộc phải thống nhất ý chí, tập trung nỗ lực tinh thần và lực lượng ở mức cao nhất Trong hoàn cảnh ấy, nhân dân rất cần có những thông tin chính xác, kịp thời từ mọi mặt trận (chính trị, quân sự, xã hội,…), những lời tổng động viên, kêu gọi, hướng dẫn của Đảng, Nhà nước Để định hướng, tập trung ý chí của toàn dân,
Ban Biên tập báo Nhân Dân đã liên tục đăng những bài xã luận trên trang nhất, coi
đây là kênh giao tiếp chính thống kết nối Đảng, Nhà nước với Nhân dân Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, DNXL thể hiện rõ nhất những đặc điểm thể loại, tính điển hình trong cách sử dụng ngôn ngữ, vì vậy, phân tích DNXL giai đoạn này cho phép thấy được mối quan hệ biện chứng tư tưởng - ngôn ngữ - xã hội
- Thứ hai, đây là thời điểm xã luận trên báo Nhân Dân xuất hiện với tần số và
số lượng lớn chưa từng thấy so với giai đoạn trước và sau, trong đó có những ngày
có tới 2 bài, đồng thời bộc lộ rõ nhất hiệu quả của nó trong xã hội
- Thứ ba, để nhận diện những giá trị kinh nghiệm, chức năng liên nhân, sự tác động của ngôn ngữ; đánh giá được hiệu quả tác động của DNXL trong thời điểm lịch
Trang 3331
sử ấy, cần phải có một cái nhìn toàn cảnh hơn, có độ lùi về không - thời gian để đánh giá được thấu đáo và xuyên suốt những đặc điểm của DNXL giai đoạn đó Các
DNXL báo Nhân Dân thời kì này đóng vai trò tiên phong, phát ngôn chính thức của
Đảng, Nhà nước ta, và chính xã luận khi đó đã có hiệu quả vô cùng to lớn trong việc thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tác động
Như vậy, có thể nói đây là giai đoạn mà thể loại diễn ngôn xã luận trên báo Nhân
Dân phát huy cao độ nhất chức năng kinh nghiệm, chức năng liên nhân, văn bản cần yếu
so với các thể loại báo chí khác trong điều kiện xã hội đặc biệt của Việt Nam
1.3 Quan điểm phân tích diễn ngôn của luận án
Từ tổng quan về phân tích diễn ngôn, có thế thấy rằng bức tranh phân tích diễn ngôn vô cùng phong phú, đa dạng và còn rất nhiều vấn đề cần đi sâu nghiên cứu Để
có thể khái luận tất cả các quan niệm về diễn ngôn và đưa ra một cách hiểu là việc làm ôm đồm và không tránh khỏi những mâu thuẫn trong quan niệm Vì vậy, trong
khuôn khổ của luận án - với việc phân tích diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân - chúng
tôi áp dụng đồng thời hai phương pháp tiếp cận động và tĩnh cả trong phương pháp
và khung lí luận để giải thích quá trình kiến tạo diễn ngôn và chức năng tác động, liên nhân của DNXL Trên cơ sở luận điểm phân tích diễn ngôn là phân tích ngôn ngữ trong hành chức, là miêu tả các cơ chế cấu trúc của ngôn ngữ, phân tích được các chức năng ngôn ngữ, cách nó chi phối nhận thức, điều chỉnh tư tưởng và làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ - bối cảnh văn hoá - xã hội (ngữ cảnh diễn ngôn), luận án
đề xuất một cách hiểu về phân tích diễn ngôn như sau:
Diễn ngôn là một chỉnh thể có cấu trúc xác định, nội dung hoàn chỉnh, tồn tại dưới cả hai dạng văn bản/phi văn bản; dùng để chỉ ngôn ngữ trong hoạt động, được
sử dụng trong ngữ cảnh văn hoá - xã hội, chịu sự tác động của ngữ cảnh diễn ngôn hành chức Phân tích diễn ngôn còn là giải mã diễn trình của nó, tái tạo các cấu trúc
và chiến lược của diễn ngôn với vị thế của các bên tham gia: người phát, người nhận, mục tiêu mà diễn ngôn hướng đến, ngôn ngữ, thể loại, phong cách, các chủ đề, sự kiện và ngữ cảnh diễn ngôn Thông qua phân tích diễn ngôn, có thể khảo sát các giá trị tư tưởng, mối quan hệ liên nhân, cách thức tổ chức diễn ngôn về mặt cấu trúc và thông tin như là một thước đo quan trọng để đánh giá đặc trưng bối cảnh ra đời của diễn ngôn trong những điều kiện xã hội nhất định
Trang 3432
Như vậy, diễn ngôn là để chỉ toàn bộ quá trình tương tác xã hội trong đó văn bản chỉ là một phần, chỉ là sản phẩm, ngoài ra còn có quá trình sản xuất, tổ chức văn bản, quá trình giải mã văn bản, mà bản thân văn bản là một tài nguyên Vì thế, việc chỉ ra các đặc điểm của diễn ngôn, đường hướng phân tích diễn ngôn giúp luận án nhận diện những nội hàm của diễn ngôn và có phương pháp cụ thể để phân tích DNXL Trên cơ sở đó, luận án xác định ba phương diện quan trọng của diễn ngôn là các từ ngữ, phương thức thể hiện chức năng tư tưởng của DNXL, chức năng liên nhân/tác động của diễn ngôn và chiến lược tổ chức thông điệp theo chủ đề của diễn ngôn thể hiện chức năng văn bản thông qua các từ ngữ, hiện tượng ngữ pháp biểu thị thời đại, mang giá trị kinh nghiệm, hệ thống tình thái, các hành động ngôn từ được thể hiện trong diễn ngôn Đồng thời luận án tập trung vào vai trò của chủ đề và mạng quan hệ chủ đề trong diễn ngôn, những mối quan hệ giữa các bên tham gia diễn ngôn
và được biểu hiện bằng dẫn chứng và phương thức, tri thức xã hội và kinh nghiệm để diễn giải mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư tưởng được thể hiện trong diễn ngôn Vì thế, ngoài khung lí thuyết của ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday, luận án còn sử dụng một số cơ sở lí thuyết khác ứng dụng vào phân tích diễn ngôn xã luận, như: lí thuyết giao tiếp, hành động ngôn từ (Austin), nguyên tắc cộng tác (Grice), lí thuyết lập luận
1.4 Các cơ sở lí luận đƣợc áp dụng để phân tích diễn ngôn xã luận
1.4.1 Ba siêu chức năng ngôn ngữ của Halliday
Thực tiễn phân tích CDA những năm qua cho thấy Lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday là khung lí thuyết phù hợp, là một căn cứ ngôn ngữ quan trọng để phân tích CDA Theo Halliday, ngữ pháp là một hệ thống, chứ không phải
là một quy tắc, và ngôn ngữ là một nguồn lực tạo nghĩa Ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp, đảm nhiệm ba siêu chức năng: chức năng kinh nghiệm; chức năng liên nhân; chức năng tạo văn bản diễn đạt hợp phần nghĩa có được qua việc tổ chức câu trong văn bản và trong ngữ cảnh tình huống
Theo đó, chức năng kinh nghiệm là sự thể hiện kinh nghiệm của con người về
thế giới xung quanh và trong bản thân người tạo lập diễn ngôn Có thể chia chức năng này thành hai mặt là kinh nghiệm và logic Mặt kinh nghiệm là các thông tin về hoàn cảnh, mối quan hệ giữa các đối tượng tham gia, ví dụ: tác thể, quá trình, Mặt
Trang 3533
logic là các thông tin sắp xếp giữa các câu dựa trên các mối quan hệ, ví dụ: quan hệ nhân quả, quan hệ điều kiện, quan hệ lập luận,
Trong cuộc sống hàng ngày, ngôn ngữ được sử dụng không chỉ để truyền tin,
mà hơn thế, chúng được dùng để “liên nhân” Con người sử dụng ngôn ngữ trong các chiến lược giao tiếp liên nhân nhằm giảm thiểu sự xung đột, duy trì và tăng cường
mối quan hệ xã hội Chức năng liên nhân làm cho người nói can dự vào một ngữ
cảnh tình huống nào đó, biểu đạt thái độ và suy đoán của họ và tính toán khả năng tác động tới thái độ và hành vi của người nghe Vì vậy, nó cũng biểu đạt vai quan hệ với tình huống có liên quan, tức là vai quan hệ giữa các bên tham gia chiến lược giao tiếp Trong chiến lược này, chức năng liên nhân đồng thời thể hiện vị thế xã hội, tôn
ti, thể hiện uy quyền, tính bình đẳng và bất bình đẳng trong giao tiếp, sự chi phối của quyền lực trong giao tiếp Để phân tích chức năng này, còn cần phải viện dẫn đến các nội dung: ngữ cảnh, tương tác các vai giao tiếp, hành động ngôn từ, quyền lực trong phát ngôn,
Với chức năng tạo văn bản, nhiệm vụ của phân tích diễn ngôn là xác định và
phân tích các thành tố tham gia tổ chức diễn ngôn, xác định vị trí của các yếu tố cấu thành, xem xét các cách thức tổ chức diễn ngôn (tổ chức hình thức và tổ chức nội dung) để phù hợp với mục đích giao tiếp
1.4.2 Hành động ngôn từ
Với hệ chức năng luận, phân tích diễn ngôn có nhiệm vụ xác định và phân tích các hành động nói của người phát nhằm thực hiện các mục đích giao tiếp nhất định cũng như hiểu các ý nghĩa xã hội, văn hoá hay cá nhân Theo Austin, nói năng cũng
là một loại hành động và nó có tác động đến người nhận Trong khi nói, người ta đồng thời thực hiện ba hành động nói: hành động tại lời, hành động tạo lời, hành động mượn lời Hành động nói thể hiện ý định, mục đích của người nói, chẳng hạn:
để hỏi, để yêu cầu, khẳng định, phủ định, giải thích, cảm ơn, xin lỗi,… Tiếp tục lí
thuyết của Austin, dựa trên bốn tiêu chí để phân loại hành động tại lời như: đích ở lời, hướng của sự khớp ghép, trạng thái tâm lí được biểu hiện, nội dung mệnh đề, Searle đã đi sâu nghiên cứu và phân loại thành năm hành động ngôn từ: i) Hành động biểu hiện: trình bày những gì người nói tin là đúng hoặc không đúng, bao gồm các hành động ngôn từ: miêu tả, kể, tự sự, trần thuật, báo cáo, thuyết minh, ; ii) Hành
Trang 3634
động điều khiển/cầu khiến: dùng để làm cho người nghe làm một việc gì đó, bao
gồm các hành động ngôn từ: yêu cầu, đề nghị, xin, xin phép, ra lệnh, sai khiến, hỏi,
khuyên, kêu gọi, ; iii) Hành động cam kết: dùng để ràng buộc chính bản thân người
nói vào một việc nào đó trong tương lai, bao gồm các hành động ngôn từ: hứa, thề,
cam kết, đảm bảo, thỏa thuận, tình nguyện, ; iv) Hành động biểu cảm: trình bày
trạng thái tâm lí của người nói do cảm nhận được sự vật nào đó, bao gồm các hành
động ngôn từ: than, than thở, cảm ơn, xin lỗi, khen, chê, ; v) Hành động tuyên bố:
làm thay đổi thế giới từ ngữ trong nội dung mệnh đề, bao gồm các hành động ngôn
từ: tuyên bố, tuyên án, buộc tội,
1.4.3 Lập luận
Lập luận từ rất lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm vì nó xuất hiện và góp
mặt ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống “Lập luận là một hoạt động ngôn
từ Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một hệ thống xác tín nào đó: rút ra một (một số) kết luận hay chấp nhận một (một số) kết luận nào đó [Nguyễn Đức Dân, 1998: 165] Trong DNXL báo Nhân Dân, sự
vận động lập luận góp phần làm thay đổi nhận thức của người nhận, làm cho người nhận từ chưa biết đến biết, từ chưa hiểu đến hiểu, từ chưa đúng đến đúng đắn hơn, từ nông đến sâu, từ khác biệt đến tương đồng, cuối cùng đi đến thống nhất nhận thức để hình thành niềm tin, ý chí làm cơ sở cho hành động của nhân dân, nhằm giải quyết các vấn đề đang đặt ra của đất nước Có nhiều định nghĩa về lập luận, tuy có thể khác nhau
về cách diễn đạt nhưng các nhà nghiên cứu vẫn thống nhất với nhau về bản chất và các yếu tố cấu thành lập luận Ba yếu tố đó là luận cứ, lí lẽ và kết luận
+ Luận cứ: là những căn cứ để rút ra kết luận Một phát ngôn chỉ được xem
như là một luận cứ khi người nói có ý định dùng nó làm luận cứ cho một lập luận nào đó, phát ngôn tự thân nó không phải là luận cứ mà nó chỉ tạo nên lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đi đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đó Chính mục đích này khiến cho một phát ngôn, một sự kiện có thể được nhìn nhận như là một luận cứ hay không
+ Lí lẽ: là những yếu tố mà nhờ đó từ những luận cứ chúng ta suy ra được kết
luận Lí lẽ được xem là những nguyên tắc lập luận và được hình thành từ những suy luận logic hoặc từ những nhận thức, hiểu biết của con người về các quy luật của tự
Trang 3735
nhiên, xã hội, về hành vi, tâm sinh lí của con người,… Hệ thống giá trị, quy tắc chung này mặc nhiên được đa số thành viên trong một xã hội chấp nhận, được xem như là tri thức nền của xã hội
+ Kết luận: là một khẳng định đích hay một khẳng định mục tiêu được suy ra từ
những luận cứ và lí lẽ Một lập luận tốt là một lập luận phục vụ tốt cho mục đích của người phát
Trong kiến giải lập luận, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khi người nhận càng phải luận suy nhiều, càng phải huy động nhiều nhân tố để tìm ra được những thành phần hàm ẩn của lập luận thì lập luận càng hấp dẫn Vì thế, lập luận không chỉ khó hiểu ở ý nghĩa mà còn phức tạp trong tổ chức lập luận, trong các mối quan hệ giữa các luận cứ - kết luận, giữa lập luận này với lập luận khác trong diễn ngôn
Ngoài các lí thuyết cơ bản trên, luận án còn sử dụng lí thuyết lịch sự với các
nhân tố tác động chi phối quá trình giao tiếp và kết quả giao tiếp, như: thể diện - vốn là sự tự tôn trọng mình trước mặt mọi người và trong chốn riêng tư, gồm thể diện âm tính - vốn là mong muốn được tự do hành động, không bị người khác áp đặt và dương tính - vốn là nhu cầu, mong muốn hoà đồng…
Các lí thuyết này được đưa ra để tạo khung, và làm cơ sở quan trọng cho việc tiếp cận tư liệu, đồng thời đưa ra đường hướng phân tích diễn ngôn của luận án Tuy nhiên, trong quá trình phân tích các diễn ngôn cụ thể, các bình diện này không tách rời mà giao thoa, đan bện vào nhau, soi chiếu và biện giải lẫn nhau nhằm tạo hiệu quả cao nhất cho diễn ngôn
1.5 Ngữ cảnh và vai trò của ngữ cảnh trong quá trình giao tiếp của diễn ngôn
xã luận báo Nhân Dân
Các nhà ngữ pháp chức năng hệ thống cho rằng người ta không thể hiểu được ý nghĩa của diễn ngôn nếu không biết về ngữ cảnh xung quanh nó, hoặc nếu có thể hiểu được diễn ngôn thì có thể hình dung ra được ngữ cảnh của nó, nghĩa là phải viện dẫn đến những yếu tố bên ngoài thông điệp để làm rõ/làm chắc chắn thêm thông tin được phát đi trong thông điệp Vì vậy, “ngữ cảnh” dùng để chỉ một loại môi trường nào đó, là những gì xảy ra xung quanh mà ngôn ngữ có liên quan đến” và “môi trường phi ngôn mà trong đó ngôn ngữ được sử dụng” Phân tích diễn ngôn, dù tiếp
cận theo đường hướng nào, cũng đều coi trọng yếu tố ngữ cảnh
Trang 3836
Trong lí thuyết phân tích diễn ngôn, ngữ cảnh có vai trò đặc biệt trong việc nhận diện sự tác động, liên nhân và quyền lực của diễn ngôn Các nhà nghiên cứu
phân biệt thành hai loại ngữ cảnh là ngữ cảnh văn hoá và ngữ cảnh tình huống Ngữ
cảnh văn hoá được hiểu là ngữ cảnh ngoài của văn bản, thể hiện những đặc điểm của
nền văn hoá sử dụng ngôn ngữ, bao gồm những đặc điểm về cách xưng hô, nghi thức lời nói, chiến lược lịch sự, v.v Bên trong ngữ cảnh văn hoá, người phát sử dụng ngôn
ngữ trong những ngữ cảnh cụ thể hơn, được gọi là ngữ cảnh tình huống Ngữ cảnh tình
huống bao chứa những thứ diễn ra trong thực tế đời sống, làm cho ngôn bản trở nên có
nghĩa Ở vào những ngữ cảnh khác nhau, con người buộc phải có những suy nghĩ, lựa chọn cách hành xử phù hợp với các giá trị, các khuôn mẫu xã hội, “lựa lời mà nói” để làm sao người nhận chấp nhận và thích nghi với những khuôn mẫu hành xử
đó - nghĩa là chấp nhận, phối hợp với chiến lược giao tiếp mà người phát đưa ra
1.5.1 Ngữ cảnh chung
Giai đoạn 1964-1975 là giai đoạn mà bối cảnh lịch sử, xã hội, tình hình chính trị, của thế giới nói chung, của nước ta nói riêng vô cùng đặc biệt, là giai đoạn ghi dấu quá trình đấu tranh gian khổ mà hào hùng của cả dân tộc, ghi dấu sự thắng lợi trên mọi mặt trận xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao của đất nước Đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại sự nghiệp xây dựng miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, làm lung lay ý chí giải phóng miền Nam của Đảng ta và nhân dân ta Quân và dân miền Nam giữ vững và phát triển thế tiến công, càng quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, liên tục tiến công và giành thắng lợi Quân dân miền Bắc quyết tâm vừa đánh thắng Mỹ vừa đảm bảo sản xuất và đời sống, vừa tích cực chi viện cho miền Nam Với hàng loạt cuộc tiến công, tổng tiến công liên tiếp thành công, cuộc kháng chiến chống Mỹ của đất nước đi đến thắng lợi hoàn toàn Nhân dân Việt Nam ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới với quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt nhất từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã hoàn thành thắng lợi, mở ra một kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc - cả nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất
1.5.2 Ngữ cảnh riêng, cụ thể
Trong giai đoạn 1964-1975 có những thời điểm cụ thể gắn liền với cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước Các mốc lịch sử cũng được thể hiện trong bức tranh chủ
Trang 3937
đề tổng thể của giai đoạn và sự biến động về chủ đề, tập trung nội dung thông tin chủ
đề, thông tin sự kiện theo giai đoạn, như các năm: 1964, 1968, 1972, 1975
- Năm 1964: Hoa Kỳ dựng lên sự kiện Vịnh Bắc Bộ để có một cái cớ ném bom miền Bắc Việt Nam Mục tiêu chiến lược hàng đầu của Hoa Kỳ là làm suy giảm ý chí của quân dân ta, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam Trong quá trình leo thang đánh phá miền Bắc, Hoa Kỳ xúc tiến mạnh mẽ con bài ngoại giao bằng nhiều con đường và thủ đoạn khác nhau, nhằm buộc miền Bắc ngừng chi viện cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Từ năm 1965, Hoa Kỳ đưa hàng chục vạn quân viễn chinh và quân các nước đồng minh của Hoa Kỳ vào xâm lược miền Nam, mặt khác tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Từ đây, lịch sử của cả hai miền Nam - Bắc chuyển vào thời kỳ mới: cả nước trực tiếp chống Mỹ, cứu nước
- Năm 1968: là năm đánh dấu một trong những chiến dịch quân sự lớn nhất và
có vai trò, hệ quả mang tính bước ngoặt trong Chiến tranh Việt Nam - sự kiện Tết Mậu Thân - cuộc tổng tiến công và vận động quần chúng nổi dậy chiếm chính quyền của quân và dân ta trên hầu hết lãnh thổ của Việt Nam Cộng hoà Cuộc tổng tiến công và nổi dậy này đã đập tan ý chí xâm lược miền Nam của Hoa Kỳ, buộc Hoa Kỳ phải ngồi đàm phán với Việt Nam ở bàn Hội nghị, buộc Hoa Kỳ chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện và phải thay đổi chiến lược ở miền Nam Tổng tiến công
và nổi dậy năm 1968 tạo ra cục diện mới trên chiến trường miền Nam đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam sang thời kì lịch sử mới
- Năm 1972: Những thắng lợi trên chiến trường miền Nam cùng với chiến thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của địch ở miền Bắc, đặc biệt chiến thắng đập tan đợt tập kích B52 của Hoa Kỳ vào Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972 đã trở thành “Điện Biên Phủ trên không”, buộc địch phải kí Hiệp định Paris, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương
- Năm 1975: Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã kết thúc vẻ vang 30 năm đấu tranh kiên cường chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, kết thúc hơn 100 năm đô hộ của đế quốc thực dân Thắng lợi đó mở ra thời kì mới cho lịch sử Việt Nam: đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội
Ngữ cảnh lịch sử đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải thông tin chính thức, kịp thời cho toàn thể nhân dân về tình hình thực tế của đất nước, về diễn biến quân sự, chính
Trang 4038
trị, xã hội, về các chủ trương đường lối, mục tiêu, kế hoạch hành động,… từ đó kêu gọi, tác động đến đông đảo nhân dân, thúc đẩy trách nhiệm, lợi ích và nghĩa vụ của nhân dân, tạo sự đồng thuận, đồng lòng trong công cuộc chiến đấu thống nhất đất nước và xây dựng đất nước Đây cũng chính là cơ sở, động lực và mục tiêu của các
bài xã luận báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975 Bởi mỗi bài xã luận bao giờ cũng
phải gắn chặt với những thời điểm đang có những biến cố quan trọng và ý nghĩa rộng lớn - mà theo lí luận báo chí thì đó phải là những vấn đề thuộc dòng thời sự chủ lưu Trong giai đoạn lịch sử hào hùng ấy, mỗi sự kiện, diễn biến của mỗi trận đánh, biến động lớn trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, thời khắc chuyển giao lịch sử,… đều được các phản ánh kịp thời và sống động trong các bài xã luận của giai đoạn này
1.6 Tiểu kết
Việc phân tích diễn ngôn có thể bao hàm tìm kiếm những yếu tố trong văn bản
và những yếu tố ngoài văn bản Đó có thể là tìm kiếm những chuẩn mực, quy tắc, thói quen, hành vi ngôn ngữ/xã hội đã được định hình hoặc sự thay đổi của chúng, nhưng cũng có thể là những yếu tố mới nổi lên, đang nhen nhóm và đang định hình trong diễn ngôn Khi phân tích diễn ngôn, có rất nhiều những bình diện khác nhau
mà nhà nghiên cứu cần phải lưu tâm đến Dựa trên những luận điểm khái quát trong nghiên cứu ngữ học thế giới và Việt ngữ học, chương này tập trung trình bày những vấn đề có tính chất nền tảng liên quan trực tiếp đến luận án như: khái niệm về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, các đường hướng tiếp cận diễn ngôn; các cơ sở lí thuyết được vận dụng để phân tích DNXL như: ba chức năng của Halliday, hành động ngôn
từ, lập luận,…
i Trên cơ sở đó, luận án xác định một cách thống nhất trong sử dụng khái niệm diễn ngôn là để chỉ ngôn ngữ trong hoạt động, ngôn ngữ được sử dụng trong ngữ cảnh văn hoá - xã hội; diễn ngôn được tạo ra, sử dụng và giải mã trong ngữ cảnh văn hoá - xã hội, vào cộng đồng ngôn ngữ cụ thể
ii Nghiên cứu, phân tích diễn ngôn hiện nay có rất nhiều đường hướng tiếp cận, nhiều giải thuyết, tuy nhiên, từ định hướng nghiên cứu, luận án xác định vận dụng
khung lí thuyết chức năng hệ thống của Halliday để phân tích DNXL báo Nhân Dân
Đây là đường hướng phân tích diễn ngôn từ tiếp cận ngôn ngữ học phù hợp với việc