1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa linh sơn, phường thanh nhàn, quận hai bà trưng, thành phố hà nội

134 108 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tác giả, đóng góp phúc lợi xã hội của Phật giáo ở Úc là bao quát và có thể được phân thành chín lĩnh vực sau: Thứ nhất là Giáo dục cộng đồng cho người lớn, thứ hai là Giáo dục trẻ e

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn “Mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh

Kết quả nghiên cứu của luận văn dựa trên quá trình thu thập thông tin Các số liệu

và kết quả nghiên cứu là trung thực Các tài liệu tham khảo được trích dẫn rõ ràng Tác giả

Đào Thị Giang

Trang 4

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới trụ trì, sư thầy và toàn thể các bà các cô, các thành viên tham gia các hoạt động của chùa Linh Sơn, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu tại chùa

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nỗ lực, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 12 năm 2017 Học viên

Đào Thị Giang

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1

DANH MỤC BẢNG – BIỂU – HÌNH 2

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

2.1 Cácnghiên cứu trên thế giới 6

2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 9

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 14

4 Phạm vi nghiên cứu 14

5 Mục đích nghiên cứu 15

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 15

7 Câu hỏi nghiên cứu 15

8 Ý nghĩa của nghiên cứu 16

8.1 Ý nghĩa khoa học 16

8.2 Ý nghĩa thực tiễn 16

9 Phương pháp nghiên cứu 17

9.1 Phương pháp phân tích tài liệu 17

9.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 17

PHẦN NỘI DUNG 19

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 19

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 19

1.1.1 Các khái niệm công cụ 19

1.1.1.1 Khái niệm mô hình 19

1.1.1.2 Khái niệm người cao tuổi 20

1.1.1.3 Khái niệm sức khỏe 20

1.1.1.4 Khái niệm chăm sóc người cao tuổi 21

Trang 6

1.1.1.5 Khái niệm công tác xã hội 22

1.1.1.6 Khái niệm Phật giáo 24

1.1.1.7 Khái niệm tụng kinh và lợi ích của tụng kinh 25

1.1.2 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 27

1.1.2.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow 27

1.1.2.2 Thuyết hệ thống 30

1.1.3 Đặc điểm tâm, sinh lý ở Người cao tuổi 32

1.1.3.1 Đặc điểm sinh lý của người cao tuổi 32

1.1.3.2 Đặc điểm tâm lý ở người cao tuổi 33

1.1.4 Nhu cầu của người cao tuổi 34

1.1.5 Quan điểm, luật pháp, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay 37

1.1.5.1 Những chủ trương của Đảng 37

1.1.5.2 Luật pháp và chính sách của nhà nước về chăm sóc người cao tuổi 37

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 39

Tiểu kết chương I 42

CHƯƠNG II CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA MÔ HÌNH CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI TẠI CHÙA LINH SƠN……… 43

2.1 Quá trình hình thành của mô hình 43

2.2 Mục đích, nhiệm vụ và đối tượng hỗ trợ của mô hình 45

2.3 Cơ cấu tổ chức của mô hình và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của mô hình 48

Tiểu kết chương II 64

CHƯƠNG III CÁC HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI TẠI CHÙA LINH SƠN 65

3.1 Phòng khám, chữa bệnh cho người cao tuổi 65

3.2 Tổ cơm 69

3.3 Tổ cháo cho bệnh nhân 72

Trang 7

3.4 Hoạt động tụng kinh của các tổ kinh 76

3.5 Hoạt động của tổ bao sái 80

3.6 Hoạt động từ thiện đi xa 81

3.7 Ưu điểm và hạn chế của mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn từ góc nhìn công tác xã hội 83

3.7.1 Ưu điểm của mô hình 83

3.7.2 Hạn chế của mô hình 100

Tiểu kết chương III 102

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103

1 Kết luận 103

2 Khuyến nghị 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

PHỤ LỤC 110

Trang 9

Hình 1.1 Thang nhu cầu của Maslow

Hình 2.1 : Sơ đồ tổ chức của mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn

Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức của Tổ cơm từ thiện

Hình 2.3 Sơ đồ tổ chức của phòng khám, chữa bệnh từ thiện

Hình 2.4 Sơ đồ tổ chức tổ tụng kinh

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là quốc gia đang có tốc độ già hóa một cách nhanh chóng, do tuổi thọ bình quân ngày càng tăng trong khi tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm Khuynh hướng nhân khẩu học này là một trong những thành tựu to lớn đối với Việt Nam, liên quan tới những cải thiện đáng kể về y tế, dinh dưỡng và phát triển kinh tế-xã hội Tuy nhiên, già hóa dân số một cách nhanh chóng cũng tạo ra những thách thức lớn đối với Việt Nam

“Theo kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình của tổng cục thống kê (2016) thì tỉ lệ người cao tuổi so với tổng dân số ở Việt Nam tăng từ 7,1% năm 1989 lên 8,0% năm 1999, 8,7% năm 2009, 10,2% năm 2014, 11,3% năm 2015 và đạt đến 11,9% vào năm 2016 Tuổi thọ trung bình của dân số ngày càng cao đã làm tỷ trọng người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 4,7% năm 1989 lên 5,8% năm 1999, 6,4% năm

2009, 7,1% năm 2014, 7,6% năm 2015 và 8,0% năm 2016 Chỉ số già hoá (tính bằng tỷ

số giữa tỷ lệ người cao tuổi với tỷ lệ trẻ em) đã tăng từ 18,2% năm 1989 lên 24,3% năm 1999, 35,5% năm 2009, 43,3% năm 2014, 47,1% năm 2015 và 50,1% năm 2016 Điều đó cho thấy xu hướng già hoá dân số ở nước ta diễn ra khá nhanh trong hơn ba thập kỷ qua Tuổi thọ trung bình tăng và mức sinh giảm chính là yếu tố dẫn đến sự già

đi của dân số Dự báo cho thấy già hóa ở nước ta tiếp tục tăng rất nhanh trong thời gian tới và sẽ trở thành vấn đề lớn nếu Việt Nam không chuẩn bị trước một hệ thống an sinh

xã hội thật tốt dành cho người già thông qua cải cách hệ thống bảo trợ xã hội, mở rộng

độ bao phủ của bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm y tế và khuyến khích các đơn vị sử dụng lao động tạo việc làm và môi trường việc làm phù hợp với năng lực và sức khỏe người cao tuổi” [14: 30]

Như vậy, cùng với việc gia tăng dân số già, bên cạnh những ưu điểm, nhiều thách thức đặt ra đối với Đảng, Nhà nước và xã hội trong việc chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi Trong bối cảnh này, một trong những vấn đề hiện nay đang

Trang 11

được quan tâm trong xã hội là có những mô hình, dịch vụ nào để chăm sóc, hỗ trợ cho người cao tuổi một cách hiệu quả nhất để người cao tuổi sống vui, sống khỏe, sống có ích

Trên thế giới cũng như trong nước ta có rất nhiều mô hình khác nhau được thành lập và nhân rộng nhằm cung cấp một cách đầy đủ nhất, hiệu quả nhất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người cao tuổi Tại Việt Nam, hiện nay có rất nhiều mô hình chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi khác nhau như: Mô hình tư vấn và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng, Mô hình bệnh viện lão khoa và thành lập khoa lão khoa tại các bệnh viện, Mô hình câu lạc bộ của người cao tuổi, Trung tâm bảo trợ xã hội, viện dưỡng lão tư nhân, nhà chùa, mái ấm…Với một đất nước đang phát triển còn nhiều khó khăn như Việt Nam thì việc chăm sóc NCT là một thách thức lớn, cần có sự tham gia hỗ trợ, liên kết của các nhóm, tổ chức, trung tâm khác Tiêu biểu là sự tham gia của tôn giáo (nhất là Phật giáo) vào hỗ trợ chăm sóc NCT sẽ mang lại những hiệu quả nhất định

Trong đó, điểm đặc trưng, riêng biệt của mô hình chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi tại chùa có nét riêng biệt so với các mô hình chăm sóc người cao tuổi khác bởi

mô hình này mang đậm tư tưởng triết lý của Phật giáo Mô hình được thành lập và phát triển cũng chính là biểu hiện cụ thể nhất của những ảnh hưởng của triết lý Phật giáo đến đời sống người dân Việt Nam “Cũng xuất phát từ tinh thần từ bi của đạo Phật, tục

lệ bố thí và phóng sinh đã ăn sâu vào đời sống sinh hoạt của quần chúng Đến ngày rằm

và mùng một, người Việt Nam thường hay mua chim, cá, rùa … để đem về chùa chú nguyện rồi đi phóng sinh Người Việt cũng thích làm phước bố thí và sẵn sàng giúp đỡ

kẻ nghèo khó, hoạn nạn, vào các ngày lễ lớn họ tập trung về chùa Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại những biểu hiện mang tính chất hình thức này càng bị thu hẹp Thay vào

đó mọi người tham gia vào những đợt cứu trợ, tương tế cho các đồng bào gặp thiên tai,

Trang 12

hoạn nạn, hoàn cảnh sống gặp khó khăn đúng với truyền thống đạo lý của dân tộc Lá lành đùm lá rách”[23: 43]

Đặc biệt là mô hình mang đậm tư tưởng triết lý Phật giáo này với những hoạt động từ thiện xã hội cũng mang đậm tính công tác xã hội Mục đích của CTXH là hỗ trợ, giúp đỡ những đối tượng yếu thế trong xã hội Mà CTXH tuy vẫn đang phát triển ở nước ta song vẫn là một nghành mới, cần phải quan tâm, kết hợp, dung hòa với nền văn hóa, truyền thống đạo lý, lối sống của nhân dân Việt Nam để phát triển Đây cũng là hướng tiếp cận mới của ngành CTXH ở Việt Nam: Công tác xã hội Phật giáo Điều đó khiến tôi quan tâm tìm hiểu về cơ cấu tổ chức, cách kết nối nguồn lực, tổ chức hoạt động và hiệu quả của mô hình đặc trưng này Để từ đó có thể đưa ra những giải pháp góp phần phát triển mô hình CTXH Phật giáo này nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCT

Chính bởi lẽ đó, tôi chọn đề tài: “Mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn, Phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội”

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Công tác xã hội là một nghành mới, đang phát triển của Việt Nam được Đảng và Nhà nước cũng như xã hội quan tâm, tạo điều kiện để phát triển Trong đó những đặc trưng của hoạt động CTXH lại có nhiều điểm tương đồng với những tư tưởng, triết lý

và hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo, điều này thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước Các tác giả quan tâm nghiên cứu, phân tích, chỉ

ra những hoạt động từ thiện xã hội mà các ngôi chùa đã thực hiện để trợ giúp cho các đối tượng yếu thế trong xã hội, trong đó có NCT Có những tác giả lại quan tâm nghiên cứu về mối quan hệ giữa Phật giáo và CTXH, từ đó tìm ra hướng đi mới, thúc đẩy sự phát triển của Công tác xã hội và Phật giáo Dưới đây là một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam mà tác giả đã tìm hiểu được

Trang 13

2.1 Cácnghiên cứu trên thế giới

Trong tác phẩm “Địa vị của Phật giáo Thái Lan hiện nay” của tác giả Lê Thanh Hương đã dành một phần để nói lên vai trò của Phật giáo đối với các vấn đề xã hội ở Thái Lan Trong bài tác giả có nêu: Phật giáo Thái Lan là Phật giáo nhập thế Chùa ở Thái Lan không chỉ là trung tâm tín ngưỡng mà còn được coi là trung tâm hoạt động xã hội của địa phương Đất nước Thái Lan đạt được sự thống nhất, thanh bình và thịnh vượng cũng là nhờ đóng góp của Phật giáo Trong thời đại hiện đại hóa, toàn cầu hóa ngày nay, các thành viên Tăng đoàn có những đóng góp to lớn cho xã hội cả về mặt phát triển vật chất lẫn đời sống tinh thần lành mạnh Hoạt động của họ bao quá nhiều lĩnh vực, tham gia giải quyết nhiều vấn đề xã hội, như bảo vệ môi trường, vì sự tiến bộ

xã hội và hòa bình thế giới; từ thiện, phúc lợi xã hội, xóa đói giảm nghèo,… và hơn cả

là giáo dục và chống HIV/AIDS, giúp đỡ người có HIV/AIDS Theo những sáng kiến

và sự ủng hộ của các thành viên Tăng đoàn, nhiều làng mạc ở vùng sâu vùng xa đã có đường sá giúp giao thông thuận tiện, được hưởng nước sạch nhờ những giếng nước mới, những làng mạc từ lâu bị lãng quên đã có điện thắp sáng Các thành viên Tăng đoàn cũng giúp giải quyết êm thấm nhiều vấn đề nội bộ gia đình Một số tu viện tổ chức những trung tâm chữa trị cho người nghiện ma túy, những nhà từ thiện chăm sóc người già và những bệnh nhân HIV/AIDS giai đoạn cuối Đặc biệt, tác giả có phân tích

cụ thể thực trạng , vai trò của Phật giáo ở 2 vấn đề: thứ nhất là vai trò giáo dục của Phật giáo Thái Lan Thứ 2 là vai trò ngăn ngừa HIV/ AIDS và giúp đỡ người bị HIV/ AIDS Như vậy, bài viết này của tác giả đã nêu lên được vai trò của Phật giáo Thái Lan thông qua rất nhiều hoạt động cụ thể trong việc cung cấp các dịch vụ trợ giúp xã hội Thái Lan Tuy nhiên, tác giả chưa quan tâm, phân tích cụ thể chuyên sâu về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi của Phật giáo Thái Lan[11]

Nghiên cứu “Đóng góp của Phật giáo vào phúc lợi xã hội ở Úc” của tác giả Patricia Sherwood (Phân khoa Nhân loại học xã hội, Đại học Edith Cowan) do Nguyên

Trang 14

Hiệp dịch Bài viết này phác thảo những kết quả nghiên cứu được thực hiện vào năm

2000 về những đóng góp của các tổ chức Phật giáo vào phúc lợi xã hội ở Úc Tác giả

đã chọn lựa và tập trung vào lĩnh vực giáo dục và phúc lợi xã hội Theo tác giả, đóng góp phúc lợi xã hội của Phật giáo ở Úc là bao quát và có thể được phân thành chín lĩnh vực sau: Thứ nhất là Giáo dục cộng đồng cho người lớn, thứ hai là Giáo dục trẻ em, thứ 3 là Làm việc với bệnh nhân ở các bệnh viện, thứ tư là Làm việc với bệnh nhân và người sắp qua đời ở trong cộng đồng và chăm sóc bệnh nhân nan y, thứ 5 là Thăm hỏi

tù nhân, thứ 6 là Làm việc với người nghiện ma tuý, thứ 7 là Gây quỹ cho người nghèo khó (cả ở Úc và hải ngoại), thứ 8 là Diễn thuyết về nhân quyền và chống áp bức, thứ 9

là Những hoạt động từ bi dành cho những loài sống ngoài con người Bài viết này là một mô tả về sự dấn thân của Phật giáo trong những hoạt động giáo dục và phúc lợi xã hội ở Úc đã thể hiện lòng từ bi rộng lớn, đậm tính nhân văn, nhân ái thông qua các hoạt động từ thiện xã hội [42]

Nghiên cứu “Quy mô phúc lợi xã hội của Viên Phật giáo trong xã hội Hàn Quốc hiện đại” của tác giả Santosh K Gupta (thuộc viện nghiên cứu Hàn Quốc) do Nguyễn Minh Thu và Ngọc anh dịch đã đi sâu mô tả, phân tích về những nỗ lực giáo dục, phúc lợi cho trẻ em và thanh thiếu niên Viên Phật Giáo đã nhiệt tình tham gia một loạt các vấn đề xã hội như giáo dục, y tế, và xoá đói giảm nghèo Cụ thể, tác giả đưa ra và phân tích ba lĩnh vực chính của Viên Phật giáo là: thứ nhất là Giáo dục đại học và phúc lợi thanh niên Viên Phật giáo thành lập và điều hành các viện giáo dục đại học, đặc biệt là Viện Nghiên cứu thiền tông Yeongsan là một trong những sáng kiến về giáo dục đầu tiên của Viên Phật Giáo Nó được thành lập vào năm 1927 với mục tiêu là chuẩn bị một nhóm cố vấn tinh thần, nhóm này chính thức được biết đến như là các mục sư Viên Phật Giáo và nhân viên xã hội Hơn nữa, viện nghiên cứu này cũng góp phần vào việc nâng cao hiểu biết trong người dân địa phương Nó được chính phủ chấp thuận là một tổ chức giáo dục đại học, hơn nữa hiện nay còn cung cấp các khóa học chuyên sâu

Trang 15

về nghiên cứu đạo đức, tuyên truyền tôn giáo, giáo dục thanh thiếu niên và phúc lợi xã hội Trong số các sinh viên tốt nghiệp, một phân đoạn lớn dẫn thân vào thế tục với các

dự án của Viên Phật Giáo Thứ hai là: Giáo dục tiểu học và trung học và phúc lợi trẻ

em Các ngôi đền Phật giáo Hàn Quốc chứng kiến một thông lệ lâu đời là lưu giữ những trẻ em mồ côi và bị nhà bỏ rơi.Đặc biệt là hoạt động này, Viên Phật giáo tập trung chủ yếu vào đối tượng người nghèo ở những vùng lạc hậu của Hàn Quốc Thứ ba là: Phúc lợi Xã hội và Sự hình thành Vốn Xã hội Ở lĩnh vực này, Viên Phật giáo tổ chức rất nhiều hoạt động khác nhau đáp ứng phù hợp với nhu cầu của các nhóm đối tượng yếu thế theo thời gian Trong những năm 1970 - 1980, xã hội Hàn Quốc phải đối mặt với tỉ lệ bỏ học cao trên khắp cả nước, Viên Phật tử sẵn sàng đảm nhận nhiệm vụ quốc gia phổ cập giáo dục bằng việc tập trung chủ yếu vào các vấn đề của học sinh, đặc biệt là những em đến từ nông thôn, nông dân và bị áp bức Bên cạnh những môn học thông thường còn có các chương trình như phòng Nghệ thuật và làm việc nhóm, trường tình nguyện, giáo dục năng khiếu đặc biệt, giáo dục chống lạm dụng chất kích thích, và hoạt động câu lạc bộ18 Những chương trình này thường được tổ chức vào các kì nghỉ, và nhấn mạnh vào sự chủ động tham gia của thanh niên và phụ nữ trong hoạt động xã hội Do đó, sự hình thành vốn xã hội bắt đầu ngay từ lúc các em mới nhập trường và tiếp tục đến sau khi tốt nghiệp Như vậy, Mục đích chính của Viên Phật giáo

là giúp những người bị chà đạp và đang cần sự giúp đỡ xuất phát từ những vùng lạc hậu và từ số đông người nông dân thất học trong xã hội Hàn Quốc Chương trình phúc lợi xã hội của Viên Phật giáo tập trung vào giáo dục và phúc lợi cho nhi đồng và thanh niên, từ đó, họ đã kết nối cộng đồng qua công việc phúc lợi và giáo dục Qua nghiên cứu trên có thể thấy mặc dù không có đề cập đến nhóm đối tượng cụ thể là người cao tuổi song nghiên cứu cũng đã chỉ ra được vai trò của Viên Phật giáo đối với phúc lợi xã hội của Hàn Quốc đồng thời cũng nêu ra vai trò công tác xã hội trong các hoạt động đó thông qua mối liên hệ giữa nhân viên xã hội và các mục sư của Viên Phật giáo.[39]

Trang 16

2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Trong tác phẩm: “Giá trị của Phật giáo đối với Công tác xã hội trong xu thế toàn cầu hóa” của tác giả Nguyễn Hồi Loan (chủ biên) đã nêu nên mối quan hệ giữa công tác xã hội và phật giáo, và vai trò của phật giáo trong đời sống hàng ngày Tác phẩm gồm có ba nội dung chính Thứ nhất là: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động Phật giáo trong công tác xã hội tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trong đây, các tác giả có đưa ra một số khái niệm về Phật giáo và CTXH, đồng thời nêu lên cơ sở lý luận

cơ bản xuất phát từ triết lý của Phật giáo và CTXH cũng như các tiêu chí đánh giá hoạt động xã hội của Phật giáo với xu thế hội nhập Thứ hai là: Thực trạng hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo Việt Nam từ năm 2007- 2012 Chương này chỉ rõ thực trạng hoạt động xã hội của Phật giáo trong việc trợ giúp các nhóm yếu thế hiện nay Thứ ba là: Các giải pháp nâng cao tính hiệu quả hoạt động từ thiện xã hội của phật giáo với công tác xã hội Đặc biệt, trong nội dung thứ hai, các tác giả đã đưa ra và phân tích về hoạt động của Phật giáo đối với người già cô đơn không nương tựa Cụ thể, các tác giả

có đưa ra những ngôi chùa tiêu biểu trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi như nhà dưỡng lão chùa Lâm Quang, chùa Giác Hoa Như vậy,tác phẩm chính là nguồn tài liệu hỗ trợ, phục vụ rất nhiều cho đề tài nghiên cứu “Mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, thành phố

Hà Nội” [17]

Tác giả Phạm Thị Thúy với đề tài nghiên cứu “Phật giáo với hoạt động từ thiện dưới góc nhìn thế tục hóa tôn giáo” đã phân tích một cách khái quát vai trò xã hội của Phật giáo thông qua công tác từ thiện dưới góc nhìn thế tục hóa tôn giáo Ngoài ra, luận văn đã trình bày chi tiết những nội dung cơ bản trong Phật giáo đó là tinh thần tử bi, cứu khổ cứu nạn, cứu nhân độ thế được thể hiện qua công tác từ thiện ở nhiều góc độ khác nhau Phật giáo đã biết hòa mình nhờ tinh thần thế tục hóa đưa đạo vào đời và đã nêu qua được tình cảm với quê hương với dân tộc Phật giáo với vai trò hoàn thiện

Trang 17

nhân cách của con người trong xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay Biểu hiện cụ thể là việc hỗ trợ các phương tiện sống cho những người yếu thế, khó khăn, hoạn nạn thông qua các hoạt động sau: Thứ nhất là hệ thống khám chữa bệnh (bệnh viện, trung tâm y

tế, phòng khám) Thứ hai là hệ thống nhà dưỡng lão Thứ ba là các cơ sở dạy nghề Thứ tư là các hoạt động cứu trợ có tổ chức và không có tổ chức từ các chùa Như vậy,

sự nhập thế của Phật giáo là hỗ trợ xã hội thông qua công tác từ thiện nhằm giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần để họ có niềm tin trong cuộc sống, góp phần giúp cho cuộc sống tươi đẹp hơn, xã hội phát triển, văn minh, đất nước giàu mạnh Qua đây, có thể thấy được Phật giáo nước ta đang thực hiện các công việc như CTXH làm, có vai trò rất lớn trong việc cung cấp các dịch vụ trợ giúp các đối tượng yếu thế trong xã hội, trong đó có NCT.[37]

Bài viết “Những triết lý công tác xã hội trong các hoạt động nhân đạo của các cơ

sở phật giáo: Một góc nhìn khái quát từ Việt Nam và Nhật Bản” của các tác giả Nguyễn Kim Hoa, Nguyễn Thu Trang và Yusuke Fujimori Bài viết đăng trong Kỷ yếu hội thảo khoa học ngày công tác xã hội năm 2012 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội Trong bài viết, nhóm tác giả đã đưa ra những kết quả ban đầu về những triết lý Công tác xã hội thể hiện trong các hoạt động nhân đạo của các cơ sở Phật giáo mà cụ thể là trong các hoạt động mang tính từ thiện và Công tác xã hội của 4 ngôi chùa tại miền Bắc Việt Nam (Chùa Bồ Đề, chùa Hòe Nhai, chùa Pháp Vân, chùa Phật Tích) để thấy rõ hơn mối quan hệ giữa Phật giáo và Công tác xã hội trong bối cảnh xã hội hiện đại ngày nay nhằm góp phần đóng góp cho những nhận thức

về Công tác xã hội Việt Nam Bài viết đã đưa ra các nội dung chính sau: Thứ nhất là: Khái quát về triết lý Công tác xã hội Đây là cơ sở để chúng ta xem xét mối quan hệ giữa Công tác xã hội và Phật giáo trong bối cảnh xã hội hiện đại Thứ hai là: Sự vận dụng những triết lý Công tác xã hội trong các hoạt động nhân đạo trong lịch sử Thứ ba là: Những triết lý Công tác xã hội thể hiện trong các hoạt động nhân đạo của một số

Trang 18

chùa hiện nay Cụ thể như: Chùa Bồ Đề là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc và hỗ trợ giáo dục thường xuyên cho nhiều trẻ em, người già, phụ nữ bị tổn thương hay người nhiễm HIV,… với cơ sở nuôi dưỡng, chăm sóc khá chuyên nghiệp Chùa Hòe Nhai với hoạt động nấu cơm và phát miễn phí cho bệnh nhân bệnh viện Huyết học truyền máu vào các ngày chủ nhật Bên cạnh đó, nhà chùa thường xuyên tổ chức nhiều chuyến từ thiện Chùa Pháp Vân là cơ sở hỗ trợ uy tín, tích cực và hiệu quả với những người nhiễm HIV, nơi tổ chức các hoạt động Công tác xã hội với người nhiễm HIV Chùa Phật với những hoạt động từ thiện, nhà chùa đã vận động và xây dựng một trung tâm phát triển tài năng chuyên nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục những trẻ mồ côi cũng như người già neo đơn từ nhiều nơi trên cả nước Với việc quan tâm tìm hiểu đến hoạt động chăm sóc người cao tuổi ở chùa Bồ Đề thì đây là một nghiên cứu có ý nghĩa rất lớn trong việc tham khảo, ứng dụng vào đề tài nghiên cứu của tôi.[9]

Đề tài nghiên cứu “Sự tham gia của Phật giáo vào công tác xã hội” của nhóm tác giả do Nguyễn Hồi Loan làm chủ nhiệm đề tài đã mô tả một bức tranh chung về thực trạng các hoạt động từ thiện xã hội mang tính công tác xã hội đồng thời đánh giá hiệu quả của nó trong hoạt động trợ giúp nhóm người yếu thế (nhiệm kỳ 2007- 2012 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam) Từ đó đưa ra các giải pháp có tính khả thi để nâng cao hiệu quả các hoạt động từ thiện mang tính công tác xã hội Cụ thể, nhóm tác giả có mô

tả một cách cụ thể, đa dạng các hoạt động của Phật giáo trong việc trợ giúp các nhóm yếu thế hiện nay như: Hoạt động của Phật giáo với trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi và lang thang cơ nhỡ; Hoạt động của Phật giáo với nhóm người có HIV/AIDS; Hoạt động của Phật giáo với người già cô đơn không nơi nương tựa; Hoạt động của Phật giáo với người khuyết tật Ngoài ra, nhóm tác giả còn mô tả một trường hợp điển hình nghiên cứu về Trụ trì Thích Đàm Lan- chùa Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội Qua những nội dung của công trình nghiên cứu này, có thể thấy nhóm tác giả đã mô tả một cách bao quát về thực trạng hoạt động từ thiện của Phật giáo Việt Nam (2007- 2012) và hiêu quả của các

Trang 19

hoạt động mang tính công tác xã hội này Đây là công trình nghiên cứu có liên quan rất lớn với đề tài của tôi [18]

Đề tài nghiên cứu “Kết nối đạo Phật với công tác xã hội: Đề xuất một mô hình cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Hường đã trình bày một số cơ sở lý thuyết và thực tiễn để giải thích việc tại sao Việt Nam nên xây dựng một mô hình cung cấp dịch vụ xã hội thông qua liên kết hệ thống chùa vói các trung tâm công tác xã hội Dựa trên các lý do này, tác giả đề xuất chính phủ Việt Nam hỗ trợ các chùa và trung tâm CTXH xây dựng một mô hình liên kết giữa hai bên, trong đó các chùa có thể tham gia vào cả năm loại hoạt động cơ bản mà Đề án 32 cũng đang yêu cầu các trung tâm CTXH phải thực hành Đó là: Điều phối dịch vụ, cung cấp dịch vụ trực tiếp, đào tạo - giáo dục - truyền thông, hỗ trợ - phát triển cộng đồng, vận động chính sách Để không vi phạm nguyên tắc tín ngưỡng Phật giáo, các chùa có thể tham gia vào các loại hoạt động và lĩnh vực không xung đột với tín ngưỡng Phật giáo

và không gây kỳ thị trong cộng đồng Đồng thời, các chùa cũng cần tuân thủ các nguyên tắc chuyên môn và quy điều đạo đức của ngành CTXH; trái lại, các trung tâm CTXH cần tôn trọng các tín ngưỡng của chùa Thực hiện được điều này, Việt Nam có thể có một hệ thống cung cấp dịch vụ mạnh và có uy tín cho xã hội Cụ thể, tác giả minh họa Mô hình kết hợp Phật giáo với CTXH qua hình dưới đây:

Trang 20

Giới thiệu, chuyển tiếp, điều phối

Dịch vụ can thiệp trực tiếp

Đào tạo và thông tin Phát triển cộng đồng, tư vấn chính sách

Qua nghiên cứu này có thể thấy được mối quan hệ sâu sắc giữa Phật giáo và công tác

xã hội Những đề xuất mà tác giả đưa ra giúp tôi rất nhiều trong việc thực hiện đề tài nghiên cứu “Mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội”.[12]

Bài viết “Cơ sở tâm lý học tạo nên sự tương đồng của các hoạt động xã hội ở Phật giáo với công tác xã hội” của tác giả Nguyễn Hồi Loan đã phân tích cơ sở tâm lý của các hoạt động xã hội của Phật giáo thông qua một số phạm trù cơ bản được vận hành trong tâm lý học, Phật giáo và CTXH gồm: luân lý học và nhân bản; cơ sở trị liệu trong Phật giáo, tâm lý học và CTXH; động cơ; nhân cách; xung đột và thất vọng; trị liệu, can thiệp cho thấy rằng, những phạm trù trên luôn có sự tương đồng và thống nhất dù rằng những phạm trù này được thể hiện và vận hành trong các lĩnh vực khác nhau như tâm lý học, Phật giáo hay là ở CTXH Tác giả cho rằng xét dưới góc độ TLH, các hoạt động xã hội này của Phật giáo và CTXH đã có những điểm tương đồng Các hoạt động

xã hội của Phật giáo mang lại những hiệu quả to lớn cho xã hội được dựa trên cơ sở một niềm tin Phật giáo của người dân Hiện nay, các ngôi chùa ở Việt Nam đã và đang thực hiện các hoạt động xã hội mang tính thế tục của Nhà chùa mà thực chất là đang thực hiện ở những mức độ khác nhau về chức năng của một trung tâm CTXH, đó là: điều phối dịch vụ; cung cấp dịch vụ; đào tạo-giáo dục-truyền thông; hỗ trợ và phát triển

TÂM CTXH

Trang 21

cộng đồng; tư vấn và vận động chính sách Đối chiếu triết lý của Phật giáo với các mục tiêu của CTXH dưới góc độ tâm lý học chúng ta thấy có sự trùng lặp đáng kể, các cơ sở

lý luận khoa học và thực tiễn hiện nay chúng ta có thể xây dựng một cách tiếp cận mới trong CTXH tại Việt Nam mang tính dân tộc, phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động này, đó là cách tiếp cận Phật giáo trong CTXH [19]

Qua những nghiên cứu kể trên, người viết nhận thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của Phật giáo trong việc cung cấp các dịch vụ trợ giúp xã hội, đặc biệt là các dịch vụ chăm sóc người cao tuổi Và nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa Phật giáo và CTXH trong hoạt động trợ giúp các đối tượng yếu thế trong

đó có NCT Có thể nói rằng các công trình nghiên cứu kể trên là cơ sở quan trọng để tác giả nghiên cứu “Mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội ”

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Khách thể nghiên cứu gồm:

Thứ nhất: Người cao tuổi tham gia các hoạt động tại chùa

Thứ hai: Trụ trì, sư thầy và các tổ trưởng, nhân viên, thành viên của các hoạt động tại chùa

4 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3/2017 – hết tháng 7/2017

Trang 22

Không gian nghiên cứu: tại chùa Linh Sơn, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

5 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm các mục đích sau: Làm rõ cơ cấu tổ chức, thực trạng các hoạt động và hiệu quả của mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn dưới góc nhìn công tác xã hội Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra những đề xuất, giải pháp thúc đẩy phát triển mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn trong việc cung cấp các dịch vụ trợ giúp xã hội

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu ở trên, nghiên cứu này đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

Thứ nhất:Tìm hiểu về cơ cấu tổ chức của mô hình chăm sóc NCT tại chùa Linh Sơn

Thứ hai: Tìm hiểu mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành và nguồn lực của mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn

Thứ ba: Tìm hiểu thực trạng hoạt động chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn

Thứ tư: Đánh giá hiệu quả của mô hình từ góc nhìn CTXH

Thứ năm: Đề xuất giải pháp phát triển mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn trong việc cung cấp các dịch vụ trợ giúp xã hội

7 Câu hỏi nghiên cứu

Dựa trên nhiệm vụ nghiên cứu đã đưa ra ở trên, luận văn này cần phải tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:

Trang 23

Thứ nhất: Cơ cấu tổ chức của mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn như thế nào?

Thứ hai: Mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành và nguồn lực của mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn như thế nào?

Thứ ba: Thực trạng các hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại chùa Linh Sơn như thế nào ?

Thứ tư: Từ góc nhìn CTXH, mô hình này có hiệu quả ra sao?

Thứ năm: Cần phải làm gì để thúc đẩy phát triển mô hình?

8 Ý nghĩa của nghiên cứu

8.1 Ý nghĩa khoa học

Việc nghiên cứu đề tài này một phần là củng cố tri thức, phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội cho người nghiên cứu Đồng thời đề tài sẽ làm phong phú thêm phạm vi nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu cho ngành công tác xã hội Nghiên cứu này muốn kiểm nghiệm tính ứng dụng của lý thuyết hệ thống, và lý thuyết nhu cầu của Maslow để tìm hiểu cơ cấu tổ chức và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của mô hình, các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động ảnh hưởng đến mô hình; nhu cầu của người cao tuổi khi tham gia vào mô hình này, vai trò của mô hình này đối với đời sống của người cao tuổi tại địa bàn

Nghiên cứu sẽ bổ sung thêm thông tin hữu ích, đóng góp thêm một góc nhìn, một quan điểm, một cách tiếp cận khác vào những nghiên cứu về mối quan hệ giữa công tác xã hội và Phật giáo, về người cao tuổi nói chung và về mô hình chăm sóc người cao tuổi nói riêng Ngoài ra, nghiên cứu còn gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo cho chủ đề này, góp phần cung cấp những dữ liệu quan trọng trong việc hoạch định chính sách, cung cấp dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trang 24

Nghiên cứu vận dụng những kiến thức của bộ môn công tác xã hội trong việc thu thập thông tin và xử lý số liệu để tìm hiểu về cơ cấu tổ chức và hoạt động của mô hình, một số thuận lợi và khó khăn trong quá trình hoạt động, tác động của mô hình đến cuộc sống của người cao tuổi,…Qua đó đưa ra những giải pháp , đề xuất, khuyến nghị nhằm nhân rộng mô hình tại cộng đồng và trợ giúp người cao tuổi chăm sóc sức khỏe hiệu quả hơn

9 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng một phương pháp nghiên cứu là nghiên cứu định tính bao gồm các phương pháp nghiên cứu sau:

9.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Trong luận văn này, sử dụng phương pháp phân tích tài liệu nhằm tiến hành phân tích các nguồn tài liệu thu thập được có sẵn trên các tạp chí, báo, các công trình nghiên cứu khoa học trong nước và trên thế giới, các văn bản pháp luật, chính sách, có liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn Nguồn tài liệu phục vụ đề tài còn bao gồm các số liệu, tư liệu của tổng cục thống kê, tổng Cục dân số - kế hoạch hóa gia đình, bộ Lao động Thương binh và xã hội

Ngoài ra, còn sử dụng các nguồn tài liệu thu thập được trong các văn bản, sổ sách, giấy tờ của nhà chùa để phân tích tìm hiểu các thông tin về người cao tuổi, quá trình hình thành và đặc điểm của mô hình, lịch sử phát triển của địa bàn nghiên cứu, kinh phí hoạt động của mô hình

9.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Trong luận văn này, phương pháp PVS được sử dụng nhằm tìm hiểu về lý do mà NCT tham gia các hoạt động trong chùa, biết được những nhu cầu, mong muốn của NCT về những hoạt động này, hiểu được người cao tuổi tham gia những hoạt động này

Trang 25

như thế nào Sử dụng phương pháp PVS nhằm tìm hiểu về lịch sử thành lập, mục đích, đối tượng chăm sóc hỗ trợ, cơ cấu tổ chức của mô hình như thế nào, các hoạt động này

có mục đích, nội quy, tổ chức ra sao, hoạt động như thế nào

Trong nghiên cứu này, tác giả tiến hành 24 phỏng vấn sâu, đối tượng phỏng vấn là: người cao tuổi đang sinh hoạt trong các hoạt động của mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn, cán bộ y bác sĩ, nhân viên làm việc trong mô hình, trụ trì, sư thầy và các tổ trưởng, tổ phó của các tổ phòng trong mô hình để thu thập thông tin phục vụ đề tài nghiên cứu

Cơ cấu đối tượng phỏng vấn như sau:

Người cao tuổi Thành viên tham gia các

hoạt động trong mô hình

sinh, bưng bê, rửa đồ

Thành viên thuộc tổ cơm từ thiện

Trang 26

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1.1 Khái niệm mô hình

Theo từ điển xã hội học chúng ta có thể hiểu : Mô hình là cách thức tổ chức hoạt động của đơn vị, cơ quan tổ chức cộng đồng [41]

Như vậy, trong bài nghiên cứu này, tác giả làm rõ, mô tả chi tiết về cơ cấu tổ chức, cách thức tổ chức các hoạt động chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn Từ

đó đánh giá những ưu điểm, hạn chế của nó và đưa ra những đề xuất để hoạt động chăm sóc người cao tuổi tại chùa được hiệu quả hơn Cụ thể như sau: Với mô hình chăm sóc NCT tại chùa Linh Sơn, tác giả đã trình bày về quá trình hình thành, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng hỗ trợ và công tác tiếp nhận đối tượng hỗ trợ của mô hình Qua đó cho thấy, sự hình thành và phát triển của mô hình với mục đích là hỗ trợ và chăm sóc người cao tuổi Đối tượng hỗ trợ, chăm sóc của mô hình chủ yếu là người cao tuổi.Ngoài ra, tác giả cũng tập trung mô tả, phân tích về cơ cấu tổ chức và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của mô hình, nguồn lực của mô hình và các yếu tố bên ngoài tác động đến mô hình Mô hình gồm có ban quản lý là trụ trì, sư thầy và 6 tổ phòng bộ phận như (tổ cơm, tổ cháo, tổ bao sái, tổ tụng kinh, tổ từ thiện đi xa, phòng khám chữa bệnh miễn phí) Toàn bộ nguồn lực của mô hình đều là nguồn ủng hộ, đóng góp của cộng đồng trong và ngoài nước Tác giả tập trung vào mô tả thực trạng của các hoạt động trong mô hình chăm sóc người cao tuổi tại chùa Linh Sơn Mô hình gồm có

6 hoạt động chính dành cho NCT tham gia sinh hoạt Bao gồm hoạt động làm cơm từ thiện, nấu cháo từ thiện, tụng kinh, bao sái, đi từ thiện xa và khám chữa bệnh miễn phí Mỗi hoạt động có mục đích, tổ chức, thời gian hoạt động và đối tượng tham gia khác

Trang 27

nhau, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của NCT Qua đó, cùng với việc phân tích ở các nội dung trên, tác giả tiến hành đánh giá mô hình từ góc nhìn công tác xã hội Với các nội dung như hiệu quả của mô hình, hạn chế của mô hình, những đặc trưng của công tác xã hội trong mô hình, tính bền vững của mô hình

1.1.1.2 Khái niệm người cao tuổi

Khái niệm người cao tuổi theo luật Người cao tuổi (2009) tại điều 2 chương I, số 39/2009/ QH12 quy định là: “Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” [22]

Theo quan điểm của CTXH về NCT thì: “Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội nhìn nhận về người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động - thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn

đề trong cuộc sống Do đó, người cao tuổi là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của công tác xã hội”[8: 8]

Như vậy, ở trong luận văn này, người nghiên cứu dùng khái niệm NCT dựa trên luật NCT Việt Nam quy định Và đứng ở góc độ CTXH về NCT để thực hiện nghiên cứu này Tức là NCT là một trong những đối tượng yếu thế cần sự quan tâm, trợ giúp của xã hội

1.1.1.3 Khái niệm sức khỏe

Khái niệm sức khỏe theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới (WHO) – Tuyên ngôn Alma Ata, năm 1978 thì: “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật”[1:18]

“Như vậy, chúng ta có thể hiểu sức khỏe gồm 3 mặt: sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần và sức khỏe xã hội Ba yếu tố này có liên quan chặt chẽ với nhau Nó là sự

Trang 28

thăng bằng, hài hòa của tất cả những khả năng sinh học, tâm lý và xã hội của con người,

là cơ sở quan trọng tạo nền tảng cho hạnh phúc con người” [24] Cụ thể như sau:

Khái niệm sức khỏe thể chất

“Sức khỏe thể chất là yếu tố quan trọng biểu hiện ở có thể hình cân đối, phù hợp với tuổi, giới, có thể lực phù hợp với tuổi, giới, các cơ quan trong cơ thể có kích thước bình thường, có các chức năng tốt: ăn ngon miệng, ngủ sâu, chuyển động hài hòa, các giác quan thực hiện các chức năng tốt, các hằng số sinh lí khác đều trong giới hạn cho phép”[20]

Khái niệm sức khỏe tâm thần

“Sức khỏe tâm thần biểu hiện ở việc có khả năng làm chủ được bản thân, tự kiềm chế tốt, không có mâu thuẫn bên trong, luôn giữ được cân bằng trong lý trí và tình cảm trước mọi thay đổi không ngừng của môi trường, điều chỉnh tốt, có khả năng sống và làm việc với những người khác” [20]

Khái niệm sức khỏe xã hội:

“Sức khỏe xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ phức tạp giữa các thành viên trong hệ thống gia đình, nhà trường, bạn bè, xóm làng, nơi công cộng, cơ quan …” [34]

Khái niệm chăm sóc sức khỏe:

Theo tác giả Hoàng Đình Cầu trong cuốn sách Quản lý và chăm sóc sức khỏe ban đầu thì: “Chăm sóc sức khỏe là việc làm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt (nhu cầu đầy đủ dinh dưỡng, được vui chơi, giải trí,…) để đảm bảo trạng thái thỏa mãn về thể chất, tinh thần, xã hội của mỗi thành viên trong xã hội” [2: 21]

1.1.1.4 Khái niệm chăm sóc người cao tuổi

Trang 29

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), chăm sóc người cao tuổi được hiểu như sau:

“Chăm sóc người cao tuổi là công việc của toàn xã hội, đòi hỏi sự tiếp cận mang tính tổng thể, phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố liên quan đến nhu cầu của chính người cao tuổi” [44]

Thông qua lý thuyết nhu cầu của Maslow và nhu cầu của người cao tuổi được trình bày ở chương I này, chúng ta có thể hiểu “Chăm sóc người cao tuổi thực chất là đáp ứng các nhu cầu cơ bản của NCT (sức khỏe, ăn mặc, ở, đi lại, học tập, vui chơi, giải trí, thông tin, giao tiếp…) trên các mặt sức khỏe, đời sống vật chất, tinh thần để cho nhóm người cao tuổi trong xã hội được sống vui, sống khỏe, sống có ích”

Như vậy, trong nghiên cứu này, tác giả dùng khái niệm chăm sóc người cao tuổi tập trung vào các hoạt động hướng đến chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi bao gồm

cả sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe xã hội

1.1.1.5 Khái niệm công tác xã hội

1.1.1.5.1 Định nghĩa công tác xã hội

Định nghĩa được hiệp hội nhân viên công tác xã hội quốc tế (IFSW) thông qua vào tháng 7 năm 2000 tại Canada: “Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu

đề ra Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho con người nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người

và hệ thống xã hội, công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề” [10: 37]

1.1.1.5.2 Mục đích, chức năng, đối tượng của công tác xã hội

Trang 30

Mục đích

Theo hiệp hội quốc gia nhân viên công tác xã hội Mỹ (NASW) năm 1973 thì: Mục đích của CTXH là giúp đỡ các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn có khả năng phục hồi các chức năng xã hội và để tạo các điều kiện thuận lợi cho

họ đạt được các mục đích cá nhân Cụ thể là:

 Giúp đối tượng đáp ứng được nhu cầu và tăng cường chất lượng cuộc sống, thông qua việc tìm ra những tiềm năng, nội lực của họ và tiềm năng trong xã hội để giải quyết vấn đề của chính họ

 Giúp cho việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, hỗ trợ cho nhu cầu của đối tượng

 Giúp xây dựng một cộng đồng biết đáp ứng nhu cầu của người dân [38: 13]

 Chức năng Giải quyết vấn đề (chức năng chữa trị): Giúp đối tượng giải quyết các vấn đề xã hội theo một quy trình giúp đỡ

 Chức năng phục hồi: Giúp đối tượng đã và đang bị thiệt thòi có khả năng tái hòa nhập vào đời sống xã hội

 Chức năng phát triển: Giúp đối tượng phát triển thành con người mới toàn diện với đầy đủ năng lực về thể chất, tinh thần và sống có ích cho bản

Trang 31

thân, gia đình và xã hội Giúp cộng đồng nâng cao năng lực và tăng cường khả năng giải quyết vấn đề xã hội [38: tr15- 16]

Đối tượng của CTXH

Công tác xã hội hướng đến các đối tượng xã hội đa dạng về lứa tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, mức sống, tôn giáo, định hướng giới tính, cũng như có những năng lực cá nhân và xã hội khác nhau Theo Hepworth và cộng sự, danh mục đối tượng xã hội mà công tác xã hội hướng đến có thể bao gồm: Các cá nhân vô gia cư; Các gia đình

có các vấn đề về bỏ rơi con trẻ hay có những vấn đề về lạm dụng tình dục, thể chất hay cuộc sống vợ chồng; Các cặp vợ chồng thường xuyên có những xung đột trong hôn nhân; Các gia đình - bao gồm cả gia đình đơn thân có những khó khăn về cuộc sống của con trẻ; Các cá nhân có HIV/AIDS và cuộc sống của các thành viên trong gia đình; Các cá nhân và các gia đình có những hình thức vi phạm pháp luật; Vị thành niên mang thai; Những cá nhân đồng giới, đa giới tính hoặc chuyển giới và những người thân của họ; Những cá nhân khuyết tật về thể chất hay tinh thần và các thành viên trong gia đình; Những cá nhân nghiện ma túy, nghiện rượu và gia đình họ; Trẻ em vừa bị mất cha mẹ; Các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; trẻ em có khó khăn về học tập; Người di cư; Người già và cô đơn không nơi nương tựa; Những cá nhân vừa nghỉ hưu, nghỉ việc hay vừa tham gia vào lực lượng lao động; Các cá nhân có những khủng hoảng liên quan đến các biến cố trong cuộc sống; Các nạn nhân của bạo lực gia đình; Các nạn nhân của thiên tai, dịch bệnh [13:3]

Như vậy, có thể thấy được đối tượng hỗ trợ của CTXH phần lớn là những đối tượng yếu thế, gặp những khó khăn, bất trắc trong cuộc sống mà không tự giải quyết được

1.1.1.6 Khái niệm Phật giáo

Trang 32

“Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI trước công nguyên, ở miền bắc Ấn Độ, phía nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa

Ấn Độ và Nê Pan ngày nay Ra đời trong làn sóng phản đối của đạo Bà-la-môn và chế

độ phân biệt đẳng cấp xã hộ khắc nghiệt, đạo Phật với triết lý đạo đức nhân sinh sâu sắc đã trở thành một trong những ngọn cờ của phong trào đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội ở Ấn Độ đương thời Đạo Phật được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và tư tưởng triết lý của Thích Ca Mâu Ni Phật trong tiếng Phạn gọi là Bouddha, tiếng Hán phiên âm là “Phật đà” và tiếng Hán độc âm là “Phật” Phật có nghĩa là đấng giác ngộ

và giác ngộ người khác (giác giả tha) Phật theo các tín đồ Phật giáo, là bậc thánh nhân thấu suốt hết thảy mọi lẽ của tạo hóa và có thể cho ta giải thoát khỏi luật luân hồi sinh tử” [17: 11]

Nội dung chủ yếu của học thuyết Phật giáo được tóm tắt trong câu nói sau đây của Phật Thích ca: “Trước đây và ngày nay ta chỉ lý giải và nêu ra cái chân lí về nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ” “Cũng như nước đại dương chỉ có một vị mặn, học thuyết của ta chỉ có một vị là cứu vớt” [29: 31] Để giúp cho con người hiểu

rõ về các nỗi khổ trong đời và cách giải thoát những nỗi khổ đó, Phật giáo đưa ra thuyết “Tứ diệu đế” Đây có lẽ cũng chính là nguyên nhân tại sao có nhiều người, đặc biệt là NCT hướng theo và đi theo triết lý của Phật giáo

1.1.1.7 Khái niệm tụng kinh và lợi ích của tụng kinh

“Tụng kinh: Là đọc tụng thành tiếng và có âm điệu, hoặc đọc thầm những lời Phật dạy trong kinh điển một cách thành kính, phù hợp với căn cơ của chúng sinh” [40: 110]

Lợi ích của sự tụng kinh:

Tụng kinh là một liệu pháp chữa bệnh, góp phần chữa trị các bệnh tật, nhất là về

tư tưởng, tâm lý Giúp cho con người giảm bớt lo âu, căng thẳng, cảm giác bình an,

Trang 33

thanh tịnh “Qua các cuộc thử nghiệm, niềm tin được khoa học xác nhận là một yếu tố quan trọng đóng góp vào sự chữa trị bệnh tật Do đó, trong phạm vi Phật giáo, sự thực hành cầu nguyện với niềm tin để chữa trị bệnh tật, làm cho hết đau nhức và phối hợp thực hành cùng với sự chăm sóc của bác sĩ trong tiến trình chữa trị bệnh tật và phục hồi sức khỏe là điều cần thực hiện ở các khóa lễ và trong những lễ cầu an riêng biệt cho người phật tử có nhu cầu” [32: 44] “Trong Phật giáo, có nhiều phương pháp thực hành gọi là tu tập để làm phát sinh ra trạng thái thư giãn thân và tâm như dâng hương, tụng kinh , trì chú, lễ Phật 108 lạy, ngồi thiền, thiền hành và cầu nguyện Thực hành điều này hỗ trợ rất tốt cho việc chữa trị bệnh tật Qua nhiều cuộc nghiên cứu khoa học về trạng thái thân tâm thư giãn khi thực hành các phương pháp buông thư cũng như khi có niềm tin, có kết luận là khi trạng thái thư giãn thân tâm xuất hiện thì cơ thể con người tiết ra chất nitric oxide đưa đến hàng loạt sự tốt đẹp xuất hiện trong cơ thể của chúng ta giúp: Cơ thể chúng ta có khả năng phòng vệ chống lại nhiều các thứ bệnh tật Chúng ta gia tăng tự cảm nhận niềm vui và sự lành mạnh Các hội chứng bệnh, thân thể hay tâm thần do căng thẳng làm phát sinh, giảm đi nhanh chóng hay hoàn toàn hết hẳn.” [32: 27]

Tụng kinh giúp người tụng hiểu và ghi nhớ lời Phật dạy để có thể ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày “Tụng kinh trước nhất và quan trọng hơn hết là để "hiểu chính xác lời Phật dạy, ứng dụng vào cuộc sống hằng ngày, đem lại lợi lạc cho bản thân và tha nhân Tụng kinh là dịp tốt nhất để chúng ta có thể học hỏi, tư duy về lời Phật dạy rồi áp dụng chúng vào đời sống hằng ngày của chúng ta Chính sự áp dụng lời Phật dạy, sau quá trình tư duy và thể nghiệm, giúp chúng ta gặt hái những điều chúng ta mong muốn trong cuộc sống, như sự an lạc và hạnh phúc” [39: 119]

Tụng kinh giúp người tụng điều chỉnh suy nghĩ và hành vi của bản thân cho phù hợp với lời Phật dạy, làm việc thiện, loại bỏ những hành vi tham lam, độc ác.“Tụng kinh trong Phật giáo còn là một dịp tốt giúp chúng ta trau dồi và phát triển ba nghiệp

Trang 34

trong sạch và an tịnh Trong giờ phút tụng kinh, nhờ sự chú tâm chuyên nhất vào lời kinh, tâm ý của chúng ta chấm dứt sự bám víu vào các duyên thế sự Tâm ý của chúng

ta nhờ đó trở nên thanh tịnh và thuần khiết Tâm của chúng ta xa lìa các tâm lý tham lam, sân hận, si mê và các tâm lý âm tính khác, có hại cho tâm tư, tình cảm, nhân cách

và đạo đức của bản thân Ngoài ra, do miệng đọc tụng lời kinh, các lời nói mang tính chất sai sự thật, ác độc, thêm bớt và nói lời vô nghĩa không có cơ hội để phát triển Khi đọc kinh thì miệng của chúng ta xướng lên những lời lẽ đạo đức, trí tuệ, nhờ đó chúng

ta có cơ hội vun trồng các hạt giống thiện.” [40]

Như vậy, Tụng kinh để trau dồi sự thanh tịnh, giảm bớt căng thẳng, lo âu, phiền não, để mình và người được an lạc và hạnh phúc Tụng kinh giúp ghi khắc sâu chân lý Phật dạy, ứng dụng vào từng trường hợp cụ thể của cuộc sống, để khắc phục đau khổ, nhổ sạch gốc rễ của khổ đau là tham lam, sân hận, si mê Tụng kinh như vậy là một sự

tu tập: bỏ ác làm lành, phát triển các đức tính tốt trong mỗi người Tụng kinh có nhiều lợi ích như thế cho nên nhiều Phật tử và đặc biệt là người cao tuổi rất chuyên cần tụng niệm lời Phật dạy

1.1.2 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.1.2.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow

Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học gốc Do Thái nhập cư từ Nga vào Mỹ Maslow đã nêu ra thuyết nhu cầu, ông cho rằng mỗi nhu cầu con người trong

hệ thống thứ bậc phải được thỏa mãn trong mối tương quan với môi trường để con người có thể phát triển khả năng cao nhất của mình Thuyết nhu cầu của Maslow nêu lên 5 bậc thang Hệ thống thứ bậc phụ thuộc khá nhiều vào môi trường bên ngoài Mô hình thuyết nhu cầu của Maslow xem xét các nhu cầu kích thích vận động khác nhau được đặt theo hệ thống thứ bậc và cho rằng trước khi đáp ứng các nhu cầu ở mức cao hơn, tinh vi hơn thì phải thỏa mãn nhu cầu ở mức sơ cấp [25: 115]

Trang 35

Năm nhu cầu được Maslow khái quát hóa trong thang nhu cầu dưới đây:

Hình 1.1 Thang nhu cầu của Maslow Bậc thang thứ nhất: Trong hệ thống thứ bậc nhu cầu, đó là nhu cầu sinh học (sự sinh tồn cơ bản), nếu nhu cầu cơ bản này không đạt được sẽ bị tắc thì không thể tiến thêm ở bậc nhu cầu tiếp theo Bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như thức ăn đầy đủ, không khí để thở, nước uống, sưởi ấm, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi Các nhu cầu làm cho con người thoải mái về cơ thể Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người [4: 119]

Bậc thang thứ hai: Là nhu cầu vế sự an toàn (sự an sinh và an toàn) có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của cá nhân Cá nhân mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này cũng được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được yên tâm về các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở Tóm lại cá nhân cần có cảm giác an tâm khi được an toàn thân thể, được đảm bảo việc làm, được hưởng các dịch vụ y tế và xã hội và tài sản cá nhân được bảo vệ [4: 120]

Trang 36

Bậc thang thứ ba: Là nhu cầu xã hội (được thừa nhận, được yêu thương và được chấp nhận) Ở mức nhu cầu này, hoạt động giao tiếp được quan trọng Như việc tìm kiếm kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm Sự tổn thương về mặt tâm lý trong môi trường gia đình, nhà trường, xã hội sẽ làm cho cá nhân không thể phát triển cao hơn Maslow cho rằng, nếu nhu cầu này không được thỏa mãn, đáp ứng nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh [4:121]

Bậc thang thứ bốn: Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu

tự trọng vì nó thể hiện mong muốn được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân và sự cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự coi trọng khả năng của bản thân Khi chúng ta gia nhập một

tổ chức, một đội nhóm, chúng ta cảm thấy mình thuộc về nơi đó nên luôn muốn mọi người trong nhóm nể trọng, quý mến Đồng thời chúng ta cũng phấn đấu để cảm thấy mình có vị trí trong nhóm đó [4: 121]

Bậc thang thứ năm: Bậc thang cao nhất trong hệ thống thứ bậc nhu cầu của Maslow, có tác động lớn nhất đến sự hoàn thiện nhân cách, đó là nhu cầu về sự phát triển cá nhân Maslow mô tả nhu cầu này là sự mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm” Đó là nhu cầu được tự khẳng định mình, nhu cầu cho sự trưởng thành cá nhân, cơ hội của sự phát triển và học hỏi cá nhân để tự hoàn thiện mình Nhu cầu này thể hiện ở việc muốn được sáng tạo, được thể hiện khả năng, được trình diễn mình và được công nhận thành đạt [4: 122]

Trong luận nghiên cứu này tôi sử dụng lý thuyến nhu cầu nhằm tìm hiểu những nhu cầu, mong muốn của người cao tuổi khi tham gia vào các hoạt động của mô hình Người cao tuổi khi tham gia các hoạt động của chùa mong muốn được khỏe mạnh, được khám chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí và đưa ra những lời khuyên về chế độ dinh dưỡng, rèn luyện, phòng bệnh (nhu cầu an toàn) NCT mong muốn được vui vẻ,

Trang 37

trò chuyện, giao lưu, chia sẻ (nhu cầu xã hội) NCT mong muốn được mọi người trong

tổ tôn trọng, quan tâm, lắng nghe, yêu mến bản thân (nhu cầu tôn trọng) NCT muốn được khẳng định mình, thấy bản thân có ích thông qua việc tham gia vào hoạt động xã hội của chùa Từ đó có thể biết được mô hình chăm sóc NCT tại chùa Linh Sơn đã đáp ứng được những nhu cầu nào của người cao tuổi dựa theo lý thuyết nhu cầu này Đồng thời đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện mô hình để đáp ứng đầy đủ, nhu cầu ngày càng cao của người cao tuổi

1.1.2.2 Thuyết hệ thống

“Thuyết hệ thống trong công tác xã hội bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy (nhà sinh học) Thuyết này dựa trên quan điểm của lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và đồng thời bản thân các tiểu hệ thống cũng là một phần của hệ thống lớn hơn” [15: 56]

“Bản thân mỗi cá nhân cũng là một hệ thống và hệ thống cá nhân đó bao gồm nhiều tiểu hệ thống như: hệ thống sinh lý, hệ thống nhận thức, hệ thống tình cảm, hành động, và các hệ thống phản ứng” [15: 58]

Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày, hệ thống được phân thành ba hình thức chính sau đây: Thứ nhất là hệ thống phi chính thức (hệ thống tự nhiên) như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp …Thứ hai là hệ thống chính thức gồm nhóm cộng đồng, tổ chức đoàn thể, đội, cơ quan, công đoàn…Cuối cùng là hệ thống xã hội nhưcác tổ chức xã hội, bệnh viện, trường học…[15: 59]

Trong lý thuyết hệ thống cần lưu ý đến một số khái niệm cơ bản, cũng là cơ chế hoạt động của hệ thống: [25: 62]

 Tương tác: sự tác động giữa các thành phần tạo nên cá nhân hay giữa các cá nhân và các thành phần khác trong hệ thống Tác động qua lại

Trang 38

này có thể tiêu cực hoặc tích cực và ảnh hưởng đến an sinh của cá nhân Đây cũng là một trong những nhiệm vụ chính mà nhân viên xã hội cần lưu ý khi làm việc với thân chủ

 Nguyên liệu: là năng lượng, thông tin, truyền thông, sự hỗ trợ của các nguồn tái nguyên mà cá nhân nhận được từ môi trường

 Sản phẩm: là năng lượng, thông tin, truyền thông, sự hỗ trợ của cá nhân dành cho môi trường

“Các hệ thống luôn có tác động đến cá nhân Có thể đó là sự tác động tiêu cực hoặc tích cực Bên cạnh đó không phải tất cả mọi người đều có khả năng tiếp cận sự hỗ trợ như nhau về nguồn lực có từ các hệ thống tồn tại xung quanh Như vậy, mỗi cá nhân chịu sự tác động khác nhau từ các hệ thống mà họ tồn tại Mỗi cá nhân đều sống trong một hoặc nhiều hệ thống nhất định, những hệ thống này thì có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí, chức năng vai trò của cá nhân trong xã hội” [15]

Trong luận văn này, sử dụng lý thuyết hệ thống để thấy được vai trò của các hệ thống như: nhà chùa, các tổ chức xã hội, đoàn thể, NCT phối hợp với với nhau để các hoạt động của mô hình được triển khai hiệu quả (Như nhà chùa đã phối hợp với hội NCT quận Hai bà Trưng để khám, chữa bệnh miễn phí cho hội) Vận dụng lý thuyết này để phân tích những hệ thống bên trong và bên ngoài mô hình, nó có tác động đến NCT đang sinh hoạt trong mô hình như thế nào, những hệ thống nguồn lực trợ giúp NCT khi tham gia sinh hoạt trong mô hình như chính quyền địa phương, bác sĩ, cán bộ

và nhân viên trong mô hình,… và các tiểu hệ thống như những NCT khác cùng tham gia trong tổ, … Từ đó hiểu được các hệ thống đó có tác động và ảnh hưởng đến sự tham gia của NCT Đồng thời, thông qua lý thuyết này, có thể đánh giá được hệ thống dịch vụ mà mô hình cung cấp cho NCT thông qua các hoạt động: khám và chữa bệnh

từ thiện, làm cơm từ thiện, nấu cháo từ thiện, hoạt động bao sái, tụng kinh, hoạt động

Trang 39

từ thiện đi xa Từ đó có thể đưa ra những giải pháp điểu chỉnh, nâng cao hiệu quả mô hình

1.1.3 Đặc điểm tâm, sinh lý ở người cao tuổi

1.1.3.1 Đặc điểm sinh lý của người cao tuổi

Người cao tuổi có những thay đổi về thể chất sau đây:

1.1.3.1.1 Quá trình lão hóa cơ thể

Sự lão hóa của cơ thể khi tuổi cao là không thể tránh khỏi Ngoài các hiện tượng như stress, tai nạn, bệnh tật, ăn uống kém và nhiều yếu tố khác thì bản thân lão hóa là quá trình tự nhiên Quá trình lão hóa đối với phần lớn các kết cấu cơ thể con người bắt đầu từ khi cơ thể còn đang phát triển Tuy nhiên, khó có thể nhận biết được điều đó vì quá trình lão hóa diễn ra từ từ và phần lớn các kết cấu cơ thể có nguồn dự phòng vững chắc Đối với một số người sự lão hóa đến sớm hơn, với một số khác thì muộn hơn, song dù sớm hay muộn, quá trình lão hóa là điều không thể tránh khỏi [6: 266]

1.1.3.1.2 Những biến đổi của cơ thể

Diện mạo bị thay đổi như tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn; da trở nên khô và thô hơn Trên cơ thể, đầu và mặt xuất hiện mụn cơm nhiều hơn Ở tuổi già có những nếp nhăn là do lớp mỡ ở dưới lớp da mất đi cũng như do da không còn tính chất đàn hồi Bộ răng yếu làm cho người cao tuổi ngại dùng các thức ăn cứng thô và thường chọn các thức ăn mềm.Các cơ quan cảm giác bao gồm: Cảm giác - nghe nhìn, nếm và khứu giác cùng với tuổi tác ngày càng cao thường bắt đầu hoạt động kém hiệu quả.Các

cơ quan nội tạng cũng bị suy thoái như: phổi của người già thường làm việc ít hiệu quả khi hít vào và lượng oxy giảm Khả năng dự phòng của tim, phổi và các cơ quan khác cùng với cũng giảm sút Vì thế NCT thích nghi với các điều kiện rét chậm hơn Họ dễ dàng bị cảm lạnh, nhiệt độ cơ thể hạ thấp sẽ rủi ro nghiêm trọng cho sức khỏe của họ Ngoài ra, do sự thay đổi của nội tiết tố, ham muốn tình dục ở NCT cũng giảm rõ rệt Ở NCT xương và khớp không còn linh hoạt, mềm dẻo, các cơ đều yếu đi dẫn đến mọi cử

Trang 40

động đều chậm chạp, vụng về Họ hay bị mệt mỏi, mọi hành vi, cử chỉ yêu đương gặp khó khăn [8: 9]

1.1.3.1.3 Các bệnh thường gặp ở người cao tuổi

NCT thường mắc các bệnh sau: Các bệnh tim mạch và huyết áp như cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, suy tim , loạn nhịp tim…Các bệnh về xương khớp như thoái hóa khớp, loãng xương, bệnh gút… Và các bệnh về hô hấp như cảm sốt, viêm họng- mũi, cúm, viêm phế quản, viêm phổi, ung thư phổi…Các bệnh về răng miệng: khô miệng, sâu răng, bệnh nha chu…Các bệnh về tiêu hóa và dinh dưỡng: rối loạn tiêu hóa, suy dinh dưỡng…Ngoài ra NCT còn hay mắc các bệnh về ung bướu, bệnh thần kinh và các bệnh về sức khỏe tinh thần…[8:10]

1.1.3.2 Đặc điểm tâm lý ở người cao tuổi

Khi bước sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý của mỗi người mỗi khác, nhưng tựu trung những thay đổi thường gặp là: Đầu tiên là NCT thường hướng về quá khứ Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, NCT thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, tham gia hội ái hữu, hội cựu chiến binh… Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm cuộc sống cũng như hướng về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…Thứ hai là NCT chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực” Khi về già NCT phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghề nghiệp Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực xả hơi Do vậy, NCT sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới Người ta

dễ gặp phải “hội chứng về hưu” [8: 10]

NCT có những biểu hiện tâm lý sau Thứ nhất là Sự cô đơn và mong được chăm sóc nhiều hơn Con cháu thường bận rộn với cuộc sống làm cho NCT cảm thấy mình bị lãng quên, bị bỏ rơi Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được người khác coi mình không là người vô dụng Họ rất muốn được nhiều người quan tâm, lo lắng cho mình và ngược lại họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một mình.Thứ hai là

Ngày đăng: 17/01/2019, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w