1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đảng bộ thành phố hồ chí minh lãnh đạo thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ năm 1996 đến năm 2015

210 121 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 210
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn thiện, các KCN - KCX - KCNC đã và đang hình thành, chất lượng nguồn nhân lực, môi trường đầu tư thông thoáng, ...Thành phố

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM MẠNH THẮNG

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM MẠNH THẮNG

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học: Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ năm 1996 đến năm 2015 là của tác giả Các số liệu thu thập, trích dẫn, xử lý từ các nguồn rõ ràng Kết quả nêu trong luận án là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

Tác giả luận án

Phạm Mạnh Thắng

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Cơ sở lí luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 5

6 Bố cục của luận án 5

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6

1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 6

1.1.1 Nhóm nghiên cứu về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam nói chung 6

1.1.2 Nhóm nghiên cứu liên quan đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Thành phố Hồ Chí Minh 17

1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố liên quan đến đề tài và các vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 22

1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu 22

1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết 27

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005 28

2.1 Những yếu tố tác động đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Thành phố Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh 28

Trang 5

2.1.1 Những yếu tố tác động đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở

Thành phố Hồ Chí Minh 28

2.1.2 Chủ trương thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh 44

2.2 Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo thực hiện thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 48

2.2.1 Xây dựng kế hoạch thu hút vốn 48

2.2.2 Cải cách thủ tục hành chính 54

2.2.3 Công tác xúc tiến và giám sát đầu tư 57

2.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 61

Tiểu kết chương 2 65

Chương 3 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015 67

3.1 Yêu cầu mới và chủ trương đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh 67

3.1.1 Yêu cầu mới đối với đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 67

3.1.2 Chủ trương của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh về đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 2006 đến năm 2015 76

3.2 Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 2006 đến năm 2015 80

3.2.1 Chú trọng xây dựng kế hoạch thu hút vốn 80

3.2.2 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính 87

3.2.3 Tăng cường xúc tiến và giám sát đầu tư 94

3.2.4 Chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 103

Tiểu kết chương 3 107

Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 109

4.1 Nhận xét 109

4.1.1 Ưu điểm 109

Trang 6

4.1.2 Hạn chế 120

4.2 Một số kinh nghiệm 132

4.2.1 Nhận thức đúng tầm quan trọng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lựa chọn hướng đi và giải pháp phù hợp với lợi thế so sánh của địa phương 132 4.2.2 Chủ động cải thiện môi trường đầu tư, đưa ra những mô hình mang tính đột phá 135 4.2.3 Chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 139 4.2.4 Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 141

Tiểu kết chương 4 143

KẾT LUẬN 145 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 149 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

BOT Xây dựng - khai thác - chuyển giao

BT Xây dựng - chuyển giao

BTO Xây dựng - chuyển giao - khai thác CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CTrHĐ/TU Chương trình hành động/Thành ủy

FDI Đầu tư trực tiếp của nước ngoài

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

KCN Khu công nghiệp

KCNC Khu công nghệ cao

QLDA Quản lý dự án

TNCs Công ty xuyên quốc gia

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1 Thu hút vốn FDI từ năm 1988 đến năm 1995 33

Bảng 2.2 Thu hút vốn FDI từ năm 1996 đến năm 2005 51

Bảng 2.3 Lao động trong các doanh nghiệp FDI giai đoạn 2000 – 2005 64

Bảng 3.1 Thu hút vốn FDI từ năm 2006 đến năm 2015 84

Bảng 3.2 Lao động trong các doanh nghiệp FDI giai đoạn 2006 – 2015 105

Bảng 3.3 Thu nhập trung bình của người lao động phân theo loại hình doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh 106

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia đều có những mối liên hệ và phụ thuộc với các quốc gia khác Sự gắn bó giữa các quốc gia được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức luân chuyển vốn đầu tư giữa các quốc gia trong khu vực và giữa các khu vực với nhau Đối với những quốc gia đang phát triển, vốn FDI mang lại lợi ích rất lớn như tạo nên hiệu ứng lan tỏa về công nghệ,

hỗ trợ đầu tư nguồn nhân lực, đóng góp hội nhập thương mại quốc tế

Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam luôn đổi mới và ban hành các chính sách tiến bộ để thu hút vốn FDI từ các quốc gia trên thế giới Đặc biệt, kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành vào tháng 12 - 1987 thì vốn FDI vào Việt Nam với những kết quả đáng khích lệ và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế Bên cạnh việc mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã và đang tích cực cải thiện môi trường đầu tư để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra Bước vào thời kỳ Đổi mới, Việt Nam

đã thực hiện chủ trương đối ngoại rộng mở như tiến hành kí kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương như Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN từ năm 1995, của APEC từ năm 1998, tham gia diễn đàn kinh tế Á - Âu từ năm 2001, thành viên của tổ chức WTO từ năm 2006, đòi hỏi có một chiến lược thu hút, quản lý và sử dụng vốn FDI hiệu quả đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong các địa phương trên cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng đối với khu vực và cả nước được khẳng định qua các Nghị quyết 01-NQ/TW, Nghị quyết 20-NQ/TW và Nghị quyết 16-NQ/TW của Bộ Chính trị: “Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, đầu mối giao lưu quốc

tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và lan tỏa lớn của vùng kinh tế trọng điểm

Trang 10

2

phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước” [163, tr 3] Với những lợi thế

về vị trí địa lý, hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn thiện, các KCN - KCX - KCNC đã và đang hình thành, chất lượng nguồn nhân lực, môi trường đầu tư thông thoáng, Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI, điểm sáng với những sáng kiến đột phá trong công tác thu hút và quản

Bên cạnh kết quả đạt được, thu hút vốn FDI vào Thành phố Hồ Chí Minh cũng bộc lộ những hạn chế đáng kể, đó là: đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của địa phương, dự án đầu tư thường có quy mô nhỏ, công nghệ trong giai đoạn lắp ghép, nhiều dự án bị rút giấy phép do triển khai chậm hoặc không có khả năng tiếp tục đầu tư, nhà đầu tư đến từ các quốc gia có trình độ công nghệ trung bình là chủ yếu nên khả năng chuyển giao công nghệ còn hạn chế,

…Mặt khác, về mặt lý luận cũng còn nhiều vấn đề cần được làm rõ nhất là nội dung, bước đi, tổ chức thực hiện thu hút vốn FDI của cả nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

Vì vậy, tổng kết, đánh quá quá trình Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thu hút vốn FDI và cung cấp những luận cứ khoa học góp phần hoạch định sát hơn chủ trương về thu hút vốn FDI trong các giai đoạn tiếp theo thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều cần thiết

Do vậy, trước những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn lãnh đạo thu hút vốn FDI của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh và từ góc độ nghiên cứu của công dân ở một

Trang 11

3

“Thành phố Anh hùng” thôi thúc tác giả lựa chọn đề tài “Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ năm 1996 đến năm 2015” làm luận án tiến sĩ khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng

điểm, hạn chế và những kinh nghiệm có giá trị tham khảo

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả tập trung nghiên cứu vào những nhiệm vụ sau:

- Phân tích các yếu tố tác động đến công tác thu hút vốn FDI của Thành phố

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ

Thành phố Hồ Chí Minh đối với thu hút vốn FDI từ năm 1996 đến năm 2015

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu chủ trương và quá

trình chỉ đạo thực hiện thu hút vốn FDI của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: xây dựng kế hoạch thu hút vốn, cải cách thủ tục hành chính, tăng cường xúc tiến và giám sát đầu tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 4 nội dung chỉ đạo thực hiện thể hiện các khía cạnh trong quản lý nhà nước về thu hút và sử dụng vốn

Trang 12

4

FDI có hiệu quả Trong đó, xây dựng kế hoạch thu hút vốn, cải cách thủ tục hành chính, tăng cường xúc tiến đầu tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi; giám sát đầu tư nhằm đảm bảo hiệu quả đầu tư, hạn chế mặt tiêu cực trong thu hút vốn FDI

Về thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo thu hút vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong 20 năm (từ năm

Về không gian nghiên cứu: Địa bàn nghiên cứu chủ yếu của luận án là Thành

4.2 Nguồn tài liệu

- Các văn kiện của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, các Bộ, ngành có liên quan về phát triển kinh tế nói chung, thu hút vốn FDI nói riêng trong công cuộc Đổi mới đất nước

- Các văn kiện Đại hội và hội nghị Ban Chấp hành của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, của UBND và các sở, ngành của Thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến thu hút vốn FDI

- Các công trình nghiên cứu bao gồm: cuốn sách, bài báo, luận văn, luận án đã được công bố liên quan đến công tác thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 13

5

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế Luận án sử dụng những phương pháp cơ bản của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử,

phương pháp logic

Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp để làm rõ hơn quá trình thực hiện thu hút vốn FDI của Đảng bộ và chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Phục dựng có hệ thống chủ trương, quá trình tổ chức thực hiện của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh về thu hút vốn FDI trong 20 năm (từ 1996 đến năm 2015) Góp phần cung cấp cơ sở khoa học, một số kinh nghiệm để Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh tham khảo trong quá trình lãnh đạo thu hút vốn FDI những năm sắp tới

Ngoài ra, luận án có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy liên quan đến lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh và cho những nghiên cứu thể loại đề tài này

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận; Danh mục công trình khoa học của tác giả có liên quan đến đề tài luận án; Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án cấu trúc thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1996 đến năm 2005

Chương 3: Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 2006 đến năm 2015

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Trang 14

6

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là nội dung trong kinh tế đối ngoại góp phần thúc đẩy quá trình CNH, HĐH đất nước Do vậy, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn là chủ đề quan tâm của đông đảo các nhà khoa học, giới nghiên cứu trong và ngoài nước Với những phương pháp tiếp cận khác nhau, nhiều công trình nghiên cứu về thu hút FDI và tác động của vốn FDI đến phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã được công bố, chủ yếu dưới góc độ kinh tế và chính trị học

Khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án có thể chia thành 2 nhóm như sau:

1.1.1 Nhóm nghiên cứu về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam nói chung

Các công trình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu về thu hút FDI và kinh nghiệm thu hút FDI trong quá trình CNH,

HĐH ở một số quốc gia trên thế giới, tiêu biểu như cuốn “Đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ công nghiệp hóa ở Maylaysia kinh nghiệm đối với Việt Nam” của

Phùng Xuân Nhạ [106] đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách thu hút FDI ở các nước phát triển, đánh giá chi tiết tác động của FDI đối với quá trình công nghiệp hóa của Malaysia Theo tác giả, Malaysia coi trọng FDI và xem như chiếc chìa khóa để thực hiện thành công CNH đất nước khi FDI mang lại những mặt tích cực như: gia tăng sản lượng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển đầu tư nội địa Từ đó, tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình thu hút FDI phục vụ quá trình CNH, HĐH như: cần coi FDI như một bộ phận quan trọng trong tổng đầu tư xã hội với việc áp dụng cùng một luật khuyến khích đầu tư chung cho cả nước và có quy định riêng cho từng đối tượng đầu tư; các chính sách và biện pháp thu hút FDI cần thực hiện

Trang 15

7

đồng bộ đi liền với xúc tiến đầu tư, phát triển hạ tầng và cải tiến hợp lý hệ thống quản lý FDI; các chính sách thu hút FDI cần định hướng vào các nhà đầu tư lớn và các nước công nghiệp phát triển để thu hút nhiều vốn, trực tiếp chuyển giao công nghệ nguồn và tiếp cận với thị trường thế giới

Tiếp cận dưới góc độ về vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội, tác

giả Nguyễn Văn Tuấn với cuốn sách “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” [186] trình bày sự hình thành và phát triển, tác động của FDI

đối với Việt Nam Tiếp đó, tác giả kiến nghị một số giải pháp cho việc sử dụng dòng vốn FDI ở Việt Nam có hiệu quả

Ở góc độ nghiên cứu về công cụ quản lý của Nhà nước với các doanh nghiệp

FDI, công trình “Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” của tác giả Trần Văn Nam [100] đánh giá thực trạng sử dụng công cụ quản

lý của Nhà nước đối với các hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI

Công trình “Đổi mới kinh tế Việt Nam và chính sách kinh tế đối ngoại” của

tác giả Võ Đại Lược chủ biên [91] tập trung nghiên cứu quá trình đổi mới kinh tế Việt Nam dưới góc độ về chính sách kinh tế vĩ mô đối với hai khu vực nông nghiệp

và công nghiệp chế biến Cuốn sách tiếp cận chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam chủ yếu trên góc độ tiếp nhận ODA, FDI của nước ngoài và quan hệ thương mại với khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong khoảng thời gian từ những năm

Trang 16

8

Tập trung nghiên cứu nguồn gốc, bản chất và làm rõ những đặc điểm, hình

thức của FDI là nội dung của cuốn sách “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Trần Quang Lâm, An Như Hải [78] Từ kinh nghiệm của

một số quốc gia như Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, tác giả đề xuất một số giải pháp để phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Tác giả Lê Xuân Bá với cuốn sách “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” [5] phân tích diễn biến thu hút và thực hiện FDI

tại Việt Nam trong giai đoạn 1988 - 2003 và những tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế qua kênh đầu tư, tác động tràn của FDI tới năng suất lao động của doanh nghiệp trong nước Từ đó, tác giả đánh giá tổng quan khung chính sách thu hút vốn FDI và những chuyển biến về nhận thức và quan niệm của Việt Nam về vai trò của FDI, so sánh chính sách thu hút FDI của Việt Nam với các quốc gia khác với nhận định “so với những thời kỳ trước đây, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam hiện đã trở nên thông thoáng hơn, thuận lợi hơn đối với các nhà đầu

tư nước ngoài” [5, tr 29] Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra những bất cập ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư FDI vào Việt Nam như hiệu lực thực thi pháp luật còn thấp, cơ sở

hạ tầng yếu kém chưa đáp ứng yêu cầu của đối tác và các chi phí về viễn thông, điện, thủ tục hành chính còn cao đòi hỏi cần cải thiện chính sách đầu tư, môi trường đầu tư để tăng tính hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài để cạnh tranh với các nước trong khu vực

Nghiên cứu đầu tư của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và kinh nghiệm thu hút TNCs của một số quốc gia trong khu vực đã được trình bày trong công trình

nghiên cứu “Thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam”

của tác giả Hoàng Thị Bích Loan [84] Công trình nghiên cứu khái quát một bức tranh toàn cảnh về thực trạng đầu tư trực tiếp của TNCs vào Việt Nam và chỉ ra những giải pháp trong thu hút đầu tư như: cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước, phát triển nguồn nhân lực Nội dung này cũng đã

được trình bày trong một công trình nghiên cứu “Đầu tư của các công ty xuyên

Trang 17

9

quốc gia (TNCs) tại Việt Nam” của hai tác giả Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường

Lạng [10]

Trong bối cảnh những tiến triển mới trong quan hệ hợp tác Việt Nam - Hoa

Kỳ, những động thái mới của môi trường đầu tư trong khu vực cũng đặt ra đòi hỏi cần phân tích, nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan và đề xuất những giải pháp hữu hiệu để thu hút vốn đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia của Hoa Kỳ vào Việt Nam trong thời gian tới là những vấn đề được giải quyết trong

cuốn sách nghiên cứu “Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia của Hoa Kỳ

ở Việt Nam” của tác giả Đặng Hoàng Thanh Nga [101] Bước vào Đổi mới, Việt

Nam đã nhận thức những thách thức và khó khăn trong thu hút FDI và có những chính sách khuyến khích đầu tư nhằm tạo môi trường đầu tư hấp dẫn Tác giả cho rằng: những đổi mới của các chính sách kinh tế đối ngoại và môi trường kinh doanh trong những năm qua đã góp phần quan trọng trong việc thu hút FDI và tăng cường thế và lực của nước ta trong tiến trình hội nhập Tuy nhiên, thực tế tại nhiều địa phương đã tìm mọi cách thu hút vốn FDI chẳng hạn ưu đãi về thuế, chính sách đất đai, … trong khi nhà đầu tư không xem các chính sách ưu đãi là yếu tố quyết định

để bỏ tiền đầu tư Cho nên, tác giả trích dẫn một quan điểm của tiến sĩ Edmund Malesky- trưởng nhóm nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Việt Nam là: “Việt Nam cần đầu tư phát triển nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng để có thể đón đầu một thế hệ nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài mới [101, tr 131]

Từ sự phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn của FDI và những kinh nghiệm thu hút FDI của một số nước ở châu Á như Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc và một số bài học kinh nghiệm để kiến nghị một số chính sách trong thu hút và sử dụng FDI tại

Việt Nam trong thời gian tới là nội dung công trình “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năng suất lao động và trình độ công nghệ của Việt Nam” của tác

giả Lê Hữu Nghĩa và Lê Văn Chiến [104] Chính sách thu hút FDI của ba nước (Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc) đều gặt hái những thành công nhưng có những hạn chế mà Việt Nam cần phải học hỏi, trong đó cần đẩy mạnh việc thực hiện mô hình quản lý các dự án đầu tư nhỏ gọn và thống nhất từ trung ương đến địa phương,

Trang 18

10

nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào quản lý kinh tế của doanh nghiệp nhưng cần “kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, phòng tránh hiện tượng doanh nghiệp FDI lợi dụng yếu kém trong quản lý để thu lợi bất hợp pháp như trốn thuế, chuyển giá,…” [104, tr 54]

Đánh giá những tác động của các yếu tố đến FDI trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đặc biệt là đối với các nước đang phát triển

được đề cập trong công trình nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu”

của tác giả Lý Hoàng Phú [112] Tác giả trình bày một cách chi tiết những yếu tố tác động đến FDI và đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI tại Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng tài chính thế giới vừa diễn ra

Tác giả Nguyễn Đình Liêm đứng từ góc độ nghiên cứu đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam hơn 23 năm qua và những vấn đề bất cập đang đặt ra mà

Việt Nam phải đối mặt được trình bày ở cuốn sách “Nghiên cứu, đánh giá đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam” [80] Từ đó, tác giả dự báo tình hình và đề

xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm cung cấp các luận cứ khoa học trong việc hoạch định chính sách thu hút đầu tư như: hiểu rõ tư duy đầu tư trực tiếp kiểu Trung Quốc, tiếp cận phòng ngừa trong hợp tác với Trung Quốc, triệt để khai thác các diễn đàn đa biên trong đầu tư để kiềm chế tác động tiêu cực của dòng đầu tư từ Trung Quốc, …

FDI và những tác động của FDI đến năng lực cạnh tranh nền kinh tế là nội

dung được đề cập trong các công trình tiêu biểu như: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam” của tác giả Nguyễn Trọng Xuân [277]; tác giả Vĩnh Anh với cuốn “Thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam - Thành tựu 20 năm và chặng đường mới” [4]; cuốn “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năng lực cạnh tranh nền kinh tế Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị

Thìn [171],… Hầu hết các tác giả tập trung vào tầm quan trọng của FDI và những tác động tích cực và tiêu cực của FDI khi vào Việt Nam Thực tế, Việt Nam đã đạt được những thành công trong thu hút vốn FDI từ trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ

Trang 19

11

góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tuy nhiên, vốn FDI vào Việt Nam diễn biến khá thất thường, tỷ lệ FDI thực hiện so với số vốn đăng ký còn thấp, các dự án FDI có quy mô nhỏ là phổ biến, công nghệ của doanh nghiệp FDI chỉ ở mức trung bình, …

Tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu của chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản

Việt Nam, tác giả Hoàng Ngọc Hòa trong bài viết “Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế trong quá trình đổi mới” [70] đã trình bày một cách có hệ thống vai trò của Đảng Cộng

sản Việt Nam trong suốt 75 năm luôn coi việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “là một trong những nguyên tắc cơ bản trong đường lối chiến lược” [70, tr 25] Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích, đánh giá tình hình thế giới và trong nước, cơ hội và thách thức để đề ra đường lối trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế

Tác giả Phan Xuân Sơn có bài “Nhận thức mới của Đảng ta về nội dung kinh

tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” [139] và bài báo “Quá trình đổi mới tư duy của Đảng về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế” [68] của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền cùng phân tích nhận thức của Đảng

về kinh tế nhiều thành phần trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và quá trình đổi mới tư duy của Đảng trong phát triển kinh tế đối ngoại thời kỷ đổi mới

Ngoài ra, có thể kể đến những công trình nghiên cứu như:

Nghiên cứu của tác giả Mai Đức Lộc về “Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế Việt Nam” [85] phân tích sự tác động của các nhân tố quốc tế

vào đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút và phát huy có hiệu quả nguồn vốn FDI tại Việt Nam

Trên cơ sở nghiên cứu những lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài và kinh nghiệm của một số nước trong khu vực, tác giả Nguyễn Chí Dũng nghiên cứu đề

Trang 20

giá thực trạng khung pháp luật trong đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp luật FDI tại Việt Nam

Nhằm góp phần hoàn thiện không ngừng cơ chế, chính sách, pháp luật quản lý tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn thu hút các hoạt động đầu tư, góp phần ổn định tốc

độ tăng trưởng cao của nền kinh tế, tác giả Trần Văn Nam với đề tài luận án “Hoàn thiện công cụ quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta hiện nay” [99] Tác giả tập trung nghiên cứu các quan điểm đổi mới

của Đảng và nhà nước đối với các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Ngoài ra, tác giả còn phân tích vai trò và vị trí của các doanh nghiệp có vốn FDI trong sự nghiệp CNH, HĐH và thực trạng của các doanh nghiệp đó hiện nay Tác giả đưa ra các kiến nghị và giải pháp về phía nhà nước nhằm thu hút vốn FDI như đổi mới cơ chế, chính sách tạo điều kiện thu hút và triển khai FDI, khẩn trương sửa đổi và bổ sung Luật Đầu tư, cần bố trí cán bộ có năng lực và phẩm chất vào các vị trí chủ chốt trong các doanh nghiệp có vốn FDI,

Tác giả Đỗ Thị Thủy trong đề tài nghiên cứu “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam giai đoạn 1988 - 2005” [174]

trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến các nước đang phát triển với những tác động tích cực: bổ sung sự thiếu hụt vốn - ngoại tệ của nước nhận đầu tư, chuyển giao công nghệ và kĩ thuật hiện đại, góp phần tăng năng suất lao động, và những mặt tiêu cực: sự phụ thuộc vào các nước đến đầu tư, sự chuyển giao công nghệ không thích hợp và định giá cao hơn bình

Trang 21

Tác giả Dương Mạnh Hải trong đề tài luận án tiến sĩ Kinh tế “Cơ sở khoa học

và các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội của việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu” [65] làm rõ cơ sở khoa học về hiệu quả kinh tế - xã hội của việc thu hút và sử

dụng vốn FDI trong quá trình thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu Tác giả đề xuất các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội của việc thu hút và sử dụng vốn FDI Ngoài ra, tác giả trình bày kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới như Thái Lan, Malaisia, Singapore, Trung Quốc và bài học kinh nghiệm của các nước đối với Việt Nam về thu hút và sử dụng vốn FDI trong chiến lược hướng

Trang 22

14

ngoài ở Việt Nam” [144]; Tác giả Nguyễn Thị Kim Nhã trong luận án tiến sĩ Kinh

tế “Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Việt Nam” [105]; “Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế đối với khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (minh họa tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam)” của tác giả

Trần Ngọc Hoàng [71]… Các công trình nghiên cứu tập trung đề ra các giải pháp như hoàn thiện môi trường pháp luật về đầu tư, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng và nâng cao năng lực hiệu quả quản lý của Nhà nước,…

Từ góc độ tập trung đánh giá các nhân tố tác động đến thu hút FDI của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua và phân tích khía cạnh tích cực, tiêu cực của chính sách phân cấp đối với thu hút và sử dụng FDI, tác giả Nguyễn Chiến Thắng với

công trình “Phân cấp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh mới [141]

đã giải quyết những vấn đề trên ở các phương diện lý luận và thực tiễn Từ đó, tác giả chỉ ra những nguyên nhân và đề xuất những giải pháp tăng cường thu hút FDI, hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý FDI

Từ sự phân tích bối cảnh quốc tế tác động đến dòng vốn FDI trên thế giới và dòng vốn FDI tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Xuân Trung trong luận án tiến sĩ Kinh

tế “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020” [183] đưa ra khái niệm “chất lượng FDI” gắn với phát

triển bền vững tại Việt Nam và đưa ra một số nội dung như FDI với vấn đề bảo vệ môi trường, chuyển giao công nghệ Tác giả phân tích những căn cứ về tình hình dòng vốn FDI vào Việt Nam trong bối cảnh trong nước và thế giới gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020 và đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng FDI trong giai đoạn đó

Môi trường đầu tư và những nhân tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư là một trong những nội dung được tác giả Nguyễn Thị Ái Liên trình bày trong luận án tiến

sĩ Kinh tế “Môi trường đầu tư với hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” [81] Luận án khái quát quá trình hoàn thiện môi trường đầu tư tại

Việt Nam kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa như môi trường tự nhiên với vị trí

Trang 23

15

thuận lợi và hầu như không có trở ngại với nhà đầu tư nước ngoài, môi trường chính trị ổn định là đích đến an toàn cho các nhà đầu tư lựa chọn, môi trường chính sách, pháp luật và thủ tục hành chính đã và đang dần hoàn thiện nhưng vẫn còn gây trở ngại và ảnh hưởng tương đối nhiều đến hoạt động đầu tư Từ những hạn chế, tác giả

đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút có hiệu quả nguồn vốn FDI

Bên cạnh mặt tích cực thì tồn tại mặt trái trong quá trình thu hút vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Đứng từ góc độ đó, tác giả Trần

Phiên với đề tài luận án tiến sĩ Kinh tế “Mặt trái của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam” [111] đã trình bày những thành tựu

đạt được trong thu hút vốn FDI từ năm 1988 đến nay và những tác động tiêu cực của dòng vốn này đối với an ninh hệ thống tài chính quốc gia, chuyển dịch cơ cấu ngành, sự cạnh tranh giữa doanh nghiện trong nước và doanh nghiệp liên doanh, chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng kinh tế trọng điểm và các vùng kinh tế khó khăn, những xung đột trong xã hội, Từ đó, tác giả chỉ ra nguyên nhân và kiến nghị những giải pháp hạn chế những mặt trái của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế- xã hội trong thời gian tới ở nước ta

Tập trung nghiên cứu quan điểm, chủ trương cơ bản của Đảng đối với hoạt động kinh tế đối ngoại và những giải pháp, biện pháp lớn của Đảng nhằm thực hiện chủ trương, trong đó có lĩnh vực thu hút vốn FDI là nội dung trong luận án tiến sĩ

Lịch sử “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm

1986 đến năm 2006” [121] của tác giả Nguyễn Đình Quỳnh Theo tác giả, “Đảng

chú trọng các giải pháp đổi mới toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực của hoạt động kinh

tế đối ngoại, đưa ra các biện pháp thúc đẩy sự phát triển của từng lĩnh vực, cũng như tổng thể toàn bộ hoạt động kinh tế đối ngoại” [121, tr 142], trong đó coi thu hút đầu tư cũng như đầu tư ra nước ngoài là những lĩnh vực quan trọng, ưu tiên những lĩnh vực mang nhiều lợi nhuận trong hoạt động kinh tế đối ngoại

Ngoài ra có các công trình nghiên cứu đăng trên các tạp chí, kỷ yếu như: “Một

số giải pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong triển khai thực hiện các dự án đầu

Trang 24

16

tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hường [76]; “Giải pháp đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam theo cách tiếp cận marketing” của tác giả Nguyễn Quốc Nghi và Nguyễn Hữu Thuận [102];

“Đánh giá tác động của vốn đầu tư nước ngoài với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”

của tác giả Phạm Thị Hoàng Anh, Lê Hà Thu [3] cùng trình bày những tác động của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội và so sánh giữa mục tiêu thu hút FDI và thực trạng đang diễn ra để từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút FDI tại Việt Nam

Một số công trình nghiên cứu công bố ở nước ngoài tiêu biểu như:

Cuốn sách “The Role of Foreign Direct Investment in East Asian Economic Development” [286] của tập thể tác giả Takatoshi Ito và Anne O Krueger chỉ ra tác

động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào khu vực Đông Á cho phép khám phá cấu trúc tổng thể vốn FDI của từng quốc gia kể từ năm 1990

Đặc biệt, công trình nghiên cứu “Is Vietnam attractive to Japannese FDI comparing to Thailand and China? An attribute-based and holistic analysic” [281]

của tác giả Vuong Thi Minh Hieu và Kenji Yokoyama đã điều tra phản hồi của các doanh nghiệp Nhật Bản có vốn FDI ở Việt Nam về các nhân tố tác động đến quyết định đầu tư Theo kết quả nghiên cứu, cơ sở hạ tầng yếu, thiếu minh bạch trong thủ tục và thiếu công nghiệp phụ trợ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam

Ngoài ra, tác giả Nguyen Thi Phuong Hoa với bài viết “Foreign Direct Investment and its Contributions to Economic Growth and Poverty Reduction in Vietnam (1986-2001)” [282] đề cập đến thành tựu thu hút vốn FDI và Việt Nam và

những tác động của nó đến với nền kinh tế

Như vậy, vấn đề thu hút vốn đầu tư nói chung và thu hút vốn FDI nói riêng ở Việt Nam thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Các công trình nghiên cứu tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau với cách nhìn phong phú và đa dạng đã cung cấp cho tác giả nguồn kiến thức phong phú xung quanh vấn đề FDI như lý luận chung về FDI, quan điểm của những

Trang 25

17

nhà kinh điển về vấn đề FDI, tác động tích cực và tiêu cực của FDI và những giải pháp nhằm thu hút mạnh mẽ FDI đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Đây là nguồn kiến thức sẽ hỗ trợ cho tác giả trong quá trình thực hiện luận án

1.1.2 Nhóm nghiên cứu liên quan đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Thành phố Hồ Chí Minh

Do có ưu thế về mặt điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực cũng như các thế mạnh về kinh tế, là nơi mà cơ chế thị trường phát triển trước các tỉnh, thành trong cả nước nên Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều điều kiện thuận lợi hơn

so với các địa phương khác trong việc thu hút vốn FDI Đặc biệt, kể từ khi Luật Đầu

tư nước ngoài chính thức có hiệu lực, Thành phố Hồ Chí Minh luôn là địa phương dẫn đầu cả nước trong việc thu hút vốn FDI Do đó, nghiên cứu về thu hút vốn FDI

ở Thành phố Hồ Chí Minh, về sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền Thành phố

Hồ Chí Minh có nhiều công trình nghiên cứu như:

Đánh giá thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp có FDI đang hoạt động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ góc độ hiệu quả của doanh nghiệp, những tác động kinh tế - xã hội và phân tích môi trường kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến doanh nghiệp, quan hệ lao động của các doanh nghiệp có vốn FDI, tác động và hiệu quả của các chính sách kinh tế của nhà nước tới hoạt động doanh nghiệp là nội dung

của công trình “Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh” [83] của tác giả Lê Bộ Lĩnh Theo tác giả, trong những năm đầu của

chính sách thu hút vốn FDI, Thành phố Hồ Chí Minh được đánh giá là nơi có môi trường đầu tư hấp dẫn nhất cả nước do các yếu tố: hạ tầng cơ sở kĩ thuật tương đối tốt, hệ thống giao thông khá tốt, vị trí địa lý thuận lợi,… nhưng những lợi thế vốn

có đang có xu hướng mất dần khi cơ sở hạ tầng quá tải, chính sách ưu đãi của các địa phương lân cận đã hấp dẫn hơn, giá đất cao hơn,…Từ đó, tác giả kiến nghị về cải thiện môi trường đầu tư từ góc độ quản lý nhà nước là: “Để tạo điều kiện phát triển và thu hút đầu tư đúng hướng cần có một quan điểm rõ ràng, mang tính khoa học và cơ sở thực tiễn về vai trò đích thực của thành phố đối với kinh tế cả nước và khu vực đồng bằng Nam Bộ” [83, tr 98]

Trang 26

18

Tác giả Nguyễn Văn Quang trong Báo cáo tổng hợp đề tài cấp thành phố

“Đánh giá vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” [118] và “Định hướng thu hút đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh”

[119] đánh giá khái quát về tình hình hoạt động FDI trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và những tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tác giả đề xuất những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của FDI trong thời gian tới như: 1 - cần phải xây dựng chiến lược thu hút vốn FDI trong đó xác định rõ ngành, nghề, lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư; 2 - cần đẩy mạnh thực hiện tốt “5 sẵn sàng” cho đối tác gồm: sẵn sàng

về đất đai, viễn thông, cung cấp thông tin, cung cấp lao động và hạ tầng điện nước;

3 - cần phải minh bạch chính sách và phổ biến rộng rãi đến doanh nghiệp; cần xây dựng danh mục riêng các ngành dịch vụ hỗ trợ công nghiệp và hỗ trợ trong sản xuất kinh doanh được hưởng các ưu đãi; 4 - cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính và coi đây là khâu quan trọng trong thu hút FDI; 5 - tăng cường đầu tư và nâng cấp cơ

sở hạ tầng, hệ thống giao thông; 6 - đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ và dịch

vụ hỗ trợ kinh doanh; 7 - nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư, tiếp cận các tập đoàn kinh tế lớn, …

Công trình “Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh” của Trần Đăng

Long [87] khái quát các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI Tác giả trình bày một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý của nhà nước như tăng cường công quản lý và giám sát với doanh nghiệp FDI; đẩy mạnh cải cách hành chính và ban hành những chính sách ưu đãi đối với nhà đầu tư

Đề tài luận án tiến sĩ Kinh tế “Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020” của

tác giả Trần Văn Lợi [86] phân tích tình hình chung về thu hút vốn FDI trên địa bàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và những tác động của dòng vốn này Theo tác giả, dòng vốn FDI đã tác động tích cực đến sự phát triển của kinh tế vùng thể hiện ở

Trang 27

19

một số khía cạnh như FDI đã bổ sung nguồn vốn đầu tư xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, các dự án FDI đều có nội dung chuyển giao công nghệ hoặc có sản xuất các sản phẩm mới tác động trực tiếp đến hoạt động đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, Tác giả cũng đưa ra các giải pháp cơ bản để phát huy tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Dung trong đề tài luận án tiến sĩ Kinh tế “Thu hút vốn đầu tư phát triển Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh” [25] trình bày thực

trạng thu hút vốn FDI vào phát triển công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả chỉ ra những điểm mạnh trong môi trường thu hút đầu tư: kinh tế - chính trị ổn định và được coi là tâm điểm hàng đầu để thu hút vốn đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng cải thiện về hệ thống pháp luật, các thiết chế quản lý, và những điểm yếu như luật pháp chưa đồng bộ, thủ tục hành chính còn thiếu minh bạch và phức tạp, sự yếu kém trong khâu lập dự án, chi phí xuất khẩu hàng hóa cao, Ngoài ra, tác giả trình bày thành tựu trong thu hút FDI phát triển khu công nghệ cao thể hiện được chiều rộng - tầm ảnh hưởng của khu công nghệ cao đến toàn xã hội, chiều sâu - tầm ảnh hưởng của vốn đầu tư đến sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động và hình thành các doanh nghiệp cung ứng sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra những điểm yếu kém, nguyên nhân và giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác thu hút vốn FDI vào KCNC Một trong những hạn chế mà tác giả chỉ ra trong công tác thu hút vốn FDI của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh là: “Chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh chưa có chính sách đầu tư riêng biệt cho những ngành, lĩnh vực có ý nghĩa kinh tế - xã hội đặc biệt và có nhiều khả năng tận dụng lợi thế tương đối của đất nước” [25, tr 103]

Nghiên cứu những ảnh hưởng của FDI đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế thông qua tăng trưởng kinh tế ngành và đề xuất giải pháp cơ bản nhằm thu hút và

sử dụng FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh theo

Trang 28

20

hướng hiệu quả và bền vững là mục tiêu nghiên cứu của luận án tiến sĩ Kinh tế của

tác giả Nguyễn Tấn Vinh với đề tài “Đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh” [275] Tác giả nghiên cứu ảnh

hưởng của FDI đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Theo tác giả, nguồn vốn FDI ở TP.HCM trong thời gian qua là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ)

và nội bộ ngành công nghiệp và quan trọng hơn “FDI đang chuyển dần từ thâm dụng về lao động sang các ngành thâm dụng vốn và công nghệ, đây là những bước

đi cần thiết trong quá trình tăng trưởng theo chiều sâu của Thành phố” [275, tr 123] Tác giả phân tích những hạn chế cần xử lý như chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng yếu và thiếu đồng bộ, công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, chưa có

kế hoạch tổng thể và chiến lược FDI phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đồng bộ, Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm thu hút FDI phục vụ cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Ngoài ra, còn có thể kể đến các nghiên cứu như: tác giả Dương Thị Bình Minh

với loạt bài viết “Cải thiện môi trường đầu tư thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số nước châu Á và các bài học kinh nghiệm cho Thành phố Hồ Chí Minh” [94]; “Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội về sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh” [95]; “Tác động các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO đến môi trường đầu tư thu hút vốn FDI vào Thành phố Hồ Chí Minh” [96], phân tích các yếu tố cơ bản của môi trường

đầu tư, những thành tựu và hạn chế của môi trường đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh Theo tác giả, Thành phố Hồ Chí Minh đã đi đúng hướng trong thu hút FDI nhưng vẫn bộc lộ hạn chế: 1 - tốc độ phát triển của cơ sở hạ tầng không kịp với tốc độ thu hút đầu tư nước ngoài; 2 - quỹ đất ngày càng hạn hẹp, bất động sản tăng giá ảo; 3 -

ô nhiễm môi trường càng nặng nề; 4 - năng lực quản lý của cán bộ công quyền còn yếu; 5 - phân cấp trong quản lý còn thiếu đồng bộ,…Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp như cần xác định đúng nội dung thu hút nguồn vốn FDI và quy hoạch dự

Trang 29

dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố là góc độ tiếp cận của bài viết “Thực trạng và giải pháp thu hút vốn FDI cho phát triển kinh tế- xã hội Thành phố Hồ Chí Minh”

của tác giả Phạm Xuân Hậu, Phạm Thị Bạch Tuyết [66] Tuy nhiên, bài viết cũng chỉ ra những khó khăn mà Thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối diện là: sức ép lớn về nguồn nhân lực có tay nghề; thủ tục hành chính còn chồng chéo và chịu sự cạnh tranh gay gắt với các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu; vấn đề

ô nhiễm môi trường đang là cấp bách

Hiện tượng chuyển giá và thuế thu nhập doanh nghiệp là hiện tượng tương đối phổ biến ở các doanh nghiệp FDI và những hậu quả của nó là nội dung của công

trình “Chuyển giá và thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh” [64] của tác giả Nguyễn Minh

Hà và Bùi Quang Trọng Theo các tác giả, để tăng thu cho ngân sách nhà nước và hạn chế chuyển giá, Nhà nước cần phải “luật hóa công tác chống chuyển giá, xây dựng Luật chống chuyển giá” [64, tr 62] và tăng cường thanh kiểm tra đối với các doanh nghiệp FDI mua bán lòng vòng nhằm trốn thuế

Trong bài viết “Đầu tư nước ngoài vào Thành phố Hồ Chí Minh” ở cuốn sách Thành phố Hồ Chí Minh - 30 năm xây dựng và phát triển [8], các tác giả đưa ra kết

luận về hoạt động thu hút vốn FDI là: “Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động chuẩn

bị các dự án, xúc tiến quy hoạch và xây dựng hạ tầng kĩ thuật để đón đầu các nhà đầu tư” [8, tr 113]

Từ sự phân tích lợi thế so sánh của Thành phố Hồ Chí Minh so với các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước, tác giả Phạm Thị Minh

Lý trong bài viết “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh: Thành công và điểm nhấn” đăng trong cuốn Thành phố Hồ Chí Minh - 40

Trang 30

22

năm xây dựng, phát triển và hội nhập [169] đưa ra những đánh giá về tiềm lực của

Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thu hút vốn FDI Tác giả khẳng định một trong những điểm nhấn trong thu hút vốn FDI của Thành phố Hồ Chí Minh là: “với thương hiệu là một địa phương kiểu mẫu về cải cách hành chính của Việt Nam cũng làm tăng sự hài lòng của các nhà đầu tư khi đến với Thành phố Hồ Chí Minh, tạo nên một hiệu ứng về thu hút đầu tư tại Thành phố suốt nhiều năm qua” [169, tr 303] Bài viết đánh giá cao vai trò của các chính sách năng động, sáng tạo và kịp thời của Đảng bộ và chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh trong việc cải thiện môi trường đầu tư và có những đột phá thí điểm mang lại hiệu quả cao “đó là nhờ sự nỗ lực không ngừng của Thành phố trong việc cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư và theo đuổi một chiến lược phát triển phù hợp” [169, tr 301] Mặc dù trong quá trình tổ chức thực hiện còn một số hạn chế nhưng “nhờ sự quyết liệt, sự nỗ lực không ngừng, sự phối kết hợp chặt chẽ và cam kết của các cơ quan, ban ngành và lãnh đạo Thành phố trong việc hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đặc biệt là những đổi mới chính sách mang tính chiến lược thời gian gần đây” [169, tr 306] thì vốn FDI vẫn tăng qua các năm và duy trì được sức hút của Thành phố Hồ Chí Minh đối với các nhà đầu tư Ngoài ra, tác giả đưa ra phân tích những sự hạn chế từ phía doanh nghiệp, cơ quan quản lý và đề xuất những giải pháp nhằm phát huy nội lực và khắc phục những hạn chế để FDI đóng góp nhiều hơn vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới

1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố liên quan đến đề tài và các vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu

Những vấn đề đã được giải quyết

Từ việc tham khảo các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp và gián tiếp tới đề tài, tác giả nhận thấy những công trình trên cơ bản đã đề cập tới một số vấn

đề sau mà luận án có thể kế thừa:

Thứ nhất, về mặt nội dung

Trang 31

23

Một là, làm rõ được lý luận chung về FDI và vai trò của nó với sự phát triển

kinh tế- xã hội cuả quốc gia tiếp nhận vốn FDI

Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là từ viết tắt của Foreign Direct

Investment, là một hình thức đầu tư nước ngoài được hình thành gắn liền với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản độc quyền Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hoạt động không chỉ đơn thuần là chuyển dịch vốn đầu tư từ quốc gia này sang quốc gia khác với mục đích thu về lợi nhuận cao hơn mà nó còn mang lại những lợi ích về kinh tế - xã hội cho các nước được tiếp nhận đầu tư Mặc dù, hoạt động đầu

tư trực tiếp nước ngoài đã hình thành từ cuối thế kỷ XIX và có rất nhiều những khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài được đưa ra

Tuy nhiên, để có sự thống nhất giữa khái niệm và số liệu thống kê thì các công trình nghiên cứu đều sử dụng khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài do Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đưa ra Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm

1996, tại khoản 1 Điều 2 quy định: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này

Đặc điểm của FDI: (1) FDI có các đặc điểm như: FDI gắn liền với việc di

chuyển tài sản giữa các quốc gia trên thế giới, có thể là tài sản hữu hình (vốn, máy móc, công nghệ, nguyên vật liệu,…) và có thể là tài sản vô hình (kinh nghiệm quản

lý, bí quyết kinh doanh); (2) chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp điều hành hoặc tham gia quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư; (3) việc tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần tạo điều kiện khai thác

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước; (4) FDI là hoạt động đầu tư của

tư nhân nhằm thu về lợi nhuận và lợi nhuận được phân chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định đã được tính trừ đi thuế lợi tức và các khoản khác;

Các hình thức đầu tư FDI: có rất nhiều cách phân loại khác nhau, trong Luật

đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã sử dụng phân loại theo loại hình tổ chức đầu tư,

có thể phân thành nhiều hình thức khác nhau: thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài - hình thức truyền thống và phổ biến của FDI; thành lập

Trang 32

24

doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài-

hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới và rất phát triển ở Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thu hút FDI; đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với hai hình thức chủ yếu là hợp đồng phân chia sản phẩm và hợp đồng phân chia lợi nhuận; hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT Ngoài ra, còn có các hình thức khác như: đầu tư thông qua công ty mẹ - con và hình thức đầu tư mua lại và sát nhập (M&A) Nhưng ở Việt Nam, hai hình thức này chưa phổ biến như các hình thức kể trên

Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI bao gồm: ổn định chính trị - yếu tố

hấp dẫn hàng đầu, có tác dụng gián tiếp đến triển khai thực hiện dự án FDI; trình độ phát triển kinh tế thể hiện ở trình độ quản lý kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng và dịch vụ;

hệ thống pháp luật và các cơ chế chính sách thu hút vốn FDI; yếu tố về văn hóa - xã

hội như ngôn ngữ, phong tục tập quán, chất lượng nguồn nhân lực, biến động thị trường của nước sở tại, Đặc biệt, chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan

trọng trong việc thúc đẩy thu hút FDI

Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, trong

đó có Việt Nam FDI có những mặt tích cực như: góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn đầu tư trong nước, thúc đẩy chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, Ngoài ra, FDI cũng tồn tại những mặt tiêu cực như: chuyển giao công nghệ không như kỳ vọng, có hiện tượng chuyển giá và trốn thuế, vấn đề môi trường,

Hai là, một số công trình nghiên cứu có đề cập tới chủ trương, chính sách của

Đảng và Nhà nước với thu hút vốn FDI Các tác giả khẳng định Đảng và Nhà nước

đã có những chuyển biến nhận thức về tầm quan trọng của đầu tư nước ngoài nói chung, vốn FDI nói riêng, đặc biệt kể từ khi bước vào công cuộc Đổi mới Thay đổi trong nhận thức của Đảng đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là cơ sở quan trọng để Chính phủ, Bộ ngành và các địa phương hoàn thiện cơ chế chính sách

ưu đãi thu hút vốn FDI

Trang 33

25

Ba là, phân tích thực trạng thu hút FDI ở Việt Nam nói chung và Thành phố

Hồ Chí Minh nói riêng thể hiện trên một số khía cạnh như số dự án và số vốn đầu

tư, đối tác đầu tư, lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, Từ việc nghiên cứu thực trạng, nhiều tác giả chỉ ra việc cần thiết thu hút vốn FDI vào Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong quá trình CNH, HĐH Đồng thời, các tác giả cũng nêu ra những hạn chế và đề xuất những giải pháp thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn FDI tại Việt Nam gắn với phát triển nhanh và bền vững

Bốn là, một số công trình trình bày các biện pháp thực hiện thu hút vốn FDI

của cả nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh như: triển khai cải thiện môi trường đầu tư qua các hoạt động như xúc tiến đầu tư, ban hành chính sách ưu đãi, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Từ đó làm rõ trên kết quả thu hút vốn FDI ở các phương diện quy mô vốn, hình thức sở hữu, cơ cấu đầu

tư theo ngành, địa bàn đầu tư và đối tác đầu tư

Năm là, các tác giả rút một số kinh nghiệm thu hút vốn FDI ở một số quốc gia

thành công trên thế giới như Thái Lan, Trung Quốc, Singapore và bài học cho Việt Nam về thu hút và sử dụng vốn FDI có hiệu quả

Thứ hai, về phương pháp nghiên cứu

Hầu hết các công trình nghiên cứu đều dưới góc độ kinh tế và chính trị học, luật học và đều trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó vận dụng các quan điểm đánh giá toàn diện, khách quan và lịch sử Đây là phương pháp được tác giả kế thừa trong nghiên cứu

đề tài để đúc rút những quan điểm lý luận chung trong thu hút vốn FDI, các kinh nghiệm của các nước

Phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê cũng được các công trình sử dụng tương đối nhiều nhằm phân tích và đánh giá những tác động của vốn FDI đến

sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và các địa phương hay tìm ra mối quan

hệ giữa FDI với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Điều này giúp tác giả có thể sử dụng để tăng tính thuyết phục trong nghiên cứu kết quả của quá trình tổ chức thực hiện của Đảng bộ, UBND, các sở ngành với thu hút vốn FDI ở Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 34

26

Phương pháp so sánh giúp tác giả so sánh và nhận xét quá trình chỉ đạo tổ chức thực hiện thu hút vốn FDI của Đảng bộ, UBND, các Sở ngành giữa các giai đoạn được phân kỳ

Thứ ba, về nguồn tư liệu

Tất cả những công trình nghiên cứu kể ở trên có thể phân chia thành nhiều loại như nguồn tư liệu sách, nguồn tư liệu từ tạp chí và luận án giúp tác giả có được một

số tư liệu nhất định để hình thành những hiểu biết chung giúp tiếp cận và nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này Kế thừa những nghiên cứu từ góc độ kinh tế và chính trị học, luật học của các nhà nghiên cứu đi trước về FDI sẽ là nguồn tư liệu phong phú cho tác giả làm rõ hơn những chuyển biến về nhận thức và chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam, Đảng bộ và chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh về FDI từ năm 1996 đến năm 2015 Tuy có nhiều công trình nghiên cứu về thu hút vốn FDI nhưng tập trung chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ kinh tế và địa lý kinh tế - xã hội về phân tích thực trạng và đề xuất những giải pháp thu hút vốn FDI Những nội dung

về chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong lãnh đạo thu hút vốn FDI mới chỉ dừng lại ở phạm vi khái quát, đề cập chung chung ở lĩnh vực kinh tế hoặc kinh tế đối ngoại mà chưa được thể hiện một cách cụ thể dưới góc độ nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và sử dụng phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử

Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về các chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh về thu hút vốn FDI cũng như quá trình tổ chức thực hiện thu hút vốn FDI, nhất là liên tục trong gần 30 năm tiến hành Đổi mới đất nước (1986 - 2015)

Mặc dù nguồn tư liệu rất đa dạng và phong phú tập trung nhiều nội dung có liên quan đến đề tài nhưng các nguồn tài liệu có liên quan trực tiếp đến đề tài từ góc

độ khoa học lịch sử Đảng lại tương đối hạn chế khi các nhà nghiên cứu còn bỏ trống

Trang 35

27

Từ những nội dung, phương pháp và tư liệu đã được giải quyết là cơ sở để luận án kế thừa và đặt ra cho tác giả sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu những chỗ còn khiếm khuyết từ góc độ nghiên cứu của khoa học lịch sử Đảng

1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết

Một là, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh

hoạch định chủ trương về thu hút vốn FDI từ năm 1996 đến năm 2015 Đó là: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; thực trạng thu hút vốn FDI trước năm 1996; chủ trương thu hút vốn FDI của Đảng Cộng sản Việt Nam

Hai là, làm rõ quá trình vận dụng chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam

vào hoạch định chủ trương của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh về thu hút vốn FDI từ năm 1996 đến năm 2015

Ba là, quá trình chỉ đạo và giải pháp chủ yếu của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí

Minh hiện thực hóa chủ trương thu hút vốn FDI từ năm 1996 đến năm 2015

Bốn là, từ những thành công và hạn chế quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Thành

phố Hồ Chí Minh từ năm 1996 đến năm 2015, đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu

có tính gợi mở cho Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương có điểm tương đồng

có thể vận dụng vào thu hút vốn FDI có hiệu quả trong thời gian tới

Trang 36

28

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005 2.1 Những yếu tố tác động đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Thành phố Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1 Những yếu tố tác động đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở

Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7 - 1976 theo Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ngoài những quận, huyện được thành lập trên cơ sở sáp nhập các đơn vị hành chính thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Thành phố Hồ Chí Minh còn lập thêm nhiều quận, huyện mới vào tháng 4 - 1997 như quận 2, quận 9, quận Thủ Đức (từ huyện Thủ Đức cũ chia tách), quận 7 (tách từ huyện Nhà Bè), quận Tân Phú (chia tách từ quận Tân Bình) và quận Bình Tân (chia tách từ huyện Bình Chánh) Đến năm 1997, Thành phố Hồ Chí Minh có 17 quận và 5 huyện với 303 đơn vị hành chính cấp xã, phường và tăng lên “19 quận và 5 huyện với 317 đơn vị hành chính cấp xã, phường” [157, tr 43] vào năm 2004 với tổng diện tích tự nhiên 2.092,24 km2 Đây là một trong những địa phương thuộc đô thị lớn thứ hai so với

cả nước (sau thành phố Hà Nội)

Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích rộng hơn 2.094 km2 là vùng tiếp nối giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, có tọa độ địa lý 10°10' - 10°38' Bắc và 106°22'

- 106°54' Đông Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông

và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Với vị trí này, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành điểm giao lưu quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á Đồng thời, Thành phố Hồ Chí Minh còn là đầu mối giao thông quan trọng kết nối khu vực Đông Nam Bộ với

Trang 37

29

đồng bằng sông Cửu Long

Ngoài những lợi thế về mặt tự nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng là một trong những thế mạnh của Thành phố Hồ Chí Minh so với các địa phương khác trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và khu vực Nam Bộ

Hệ thống giao thông đô thị phát triển mạnh mẽ bao gồm đường hàng không, đường bộ, đường sắt, đường thủy với khả năng kết nối linh hoạt Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất quy mô lớn trong hệ thống sân bay ở Việt Nam, là đầu mối giao thông hàng không quan trọng của cả khu vực phía Nam Đầu mối giao thông đường

bộ quan trọng nối liền Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh và cả nước như Quốc lộ 1A nối với cả nước; Quốc lộ 13 nối với Bình Dương, Bình Phước, Campuchia; Quốc lộ 22 nối với Tây Ninh và Campuchia; Quốc lộ 50 nối với Long An, Tiền Giang; đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương, Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài Đường sắt Bắc

- Nam dài 1.726 km nối liền Thành phố Hồ Chí Minh - Hà Nội, sắp tới là dự án Metro Bến Thành - Suối Tiên hứa hẹn là dự án đường sắt đô thị lớn nhất và hiện đại nhất Việt Nam và khu vực Đông Nam Á sẽ trở thành xương sống trong vận chuyển hành khách công cộng và sẽ tác động mạnh mẽ đến sự phát triển các đô thị dọc tuyến trên địa bàn quận 2, quận 9, quận Thủ Đức và Thị xã Dĩ An (Bình Dương) Đường thủy với sự hợp lưu của sông Sài Gòn và sông Đồng Nai nên có khả năng kết nối với vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh ven biển, quốc tế bằng đường biển Hệ thống cảng Sài Gòn giao lưu với nhiều cảng trong nước và thế giới, “có thể tiếp nhận tàu trọng tải 15 – 20 ngàn tấn, với năng lực hoạt động 10 triệu tấn/năm và có khả năng mở rộng, nâng cấp lên đến 16 triệu tấn, năm” [269, tr 1] sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa lưu thông từ các quốc gia khác đến Thành phố Hồ Chí Minh và từ Thành phố Hồ Chí Minh đi nơi khác

Một số dự án giao thông mang tầm cỡ quốc tế và khu vực như Đại lộ Đông - Tây và đường hầm Thủ Thiêm, dự án các tuyến đường vành đai, dự án BOT cầu Phú Mỹ, dự án đường vành đai phía Đông thành phố, các công trình hạ tầng dọc kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, dự án xây dựng cầu vượt nút giao thông Hàng Xanh,

Trang 38

30

dự án về hệ thống đường sắt trên cao và hệ thống tàu điện ngầm, dự án xây dựng cảng mới tại Hiệp Phước (Nhà Bè), dự án xây dựng và phát triển khu cảng Cát Lái (Quận 2), đang đóng vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội giúp Thành phố Hồ Chí Minh vươn lên trở thành điểm sáng kinh tế trong khu vực Đông Nam Á

Về bưu chính viễn thông, Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm bưu chính viễn thông lớn nhất Việt Nam, phát triển mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng “Năm

2003, Thành phố có 24 tổng đài điện thoại với dung lượng 1.150.392 số, tổng số máy điện thoại đang sử dụng là 1.276.160 chiếc, trong đó 782.000 điện thoại cố định, 480.000 điện thoại di động và 14.160 điện thoại công cộng” [271, tr 33] sẽ đảm bảo cho việc truyền tin liên tục, nhanh chóng, thuận lợi góp phần kích thích môi trường đầu tư trên địa bàn

Tính đến cuối năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 3 KCX (Tân Thuận, Linh Trung I và Linh Trung II) và 13 KCN ( Bình Chiểu, Hiệp Phước, Tân Tạo, Tân Bình, Vĩnh Lộc, Tây Bắc Củ Chi, Tân Thới Hiệp, Lê Minh Xuân, Cát Lái II, Cát Lái IV, Phong Phú, Tân Phú Trung và KCNC ở quận 9) với “tổng diện tích theo giấy phép 3.062,9 ha, tổng diện tích đất cho thuê 1.047,95 ha” [8, tr 95] góp phần quan trọng vào việc phát triển cơ sở vật chất, kĩ thuật, nâng cao năng lực cạnh tranh

và thu hút vốn đầu tư, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn nhân lực dồi dào và cơ cấu dân số vàng làm cho thị trường lao động có giá mềm hơn, có lợi thế về trình độ dân trí Là một thành phố có mức độ tập trung dân cư đông đúc và luôn đứng ở vị trí 15 thành phố có quy

mô dân số đông đúc trên thế giới Dân số Thành phố Hồ Chí Minh không ngừng gia tăng với tốc độ cao “năm 1979 là 3.419.978 người thì đến năm 2004 là 6.117.215 người” [271, tr 11] chiếm 7% tổng số dân số cả nước Số người trong độ tuổi lao động có xu hướng tăng qua các năm “từ 62% năm 1995 lên 66% năm 2003, trên 98% số người trong độ tuổi lao động và trong số này có khoảng 68% lao động đang làm việc trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội” [271, tr 12] Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo tăng lên rõ rệt “từ 24,08% năm 2000 tăng lên 28,3% năm 2005, cao hơn mức

Trang 39

31

trung bình của cả nước năm 2005 là 25%” [271, tr 84] Ngoài ra, Thành phố Hồ Chí Minh còn có hàng chục trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, …của Trung ương và Thành phố Hồ Chí Minh:

Có 25 trường đại học và 21 trường cao đẳng, chiếm 25,7% tổng số trường đại học và cao đẳng của cả nước, 66 viện và phân viện khoa học –

kỹ thuật, 36 trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học, 28 trường trung cấp chuyên nghiệp chiếm 12% so với cả nước, 14 trường đào tạo công nhân kĩ thuật cùng với hàng trăm cơ sở dạy nghề [271, tr 39]

Đây là một thuận lợi lớn giúp đảm bảo nguồn nhân lực trên nhiều lĩnh vực, là điều kiện quan trọng để phát huy tác động lan tỏa nghiên cứu và chuyển giao, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ cho Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành khu vực phía Nam

Với những tiềm năng thuận lợi về vị trí địa lý, hệ thống giao thông và hạ tầng

đô thị, nguồn nhân lực chất lượng cao, là những nguồn lực nội sinh quan trọng để Thành phố Hồ Chí Minh trở thành điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư khu vực và trên thế giới Đây là những điều kiện thực tiễn để Đảng bộ và chính quyền Thành phố

Hồ Chí Minh hoạch định chủ trương và biện pháp tổ chức thực hiện đẩy mạnh thu hút vốn FDI

2.1.1.2 Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1996

Từ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Thành phố Hồ Chí Minh với tinh thần đi đầu, sáng tạo, chủ động đã vận dụng và có những bước cải tiến về thu hút vốn FDI Ngay trong Nghị quyết của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh khóa IV (10 - 1986) xác định nhiệm vụ trong lĩnh vực mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại là cần tập trung thực hiện là huy động mọi nguồn vốn, trong đó có liên doanh với nước ngoài “thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, nhập khẩu nguyên liệu, vật tư, thiết bị, kĩ thuật cho các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của thành phố” [28, tr 73] Nghị quyết lưu ý tập trung thu hút vốn ưu tiên cho các dự án tinh chế các loại nông sản và sản xuất hàng xuất khẩu, cơ khí

Trang 40

32

nông cụ, phụ tùng dệt, sửa chữa và đóng mới tàu biển, tham gia công nghiệp dầu khí, giao thông vận tải, nhà ở, trường học, bệnh viện và một số kết cấu hạ tầng trọng điểm

Như vậy, Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng vào tình hình thực tế, từng bước đề ra những nhiệm vụ và giải pháp hiệu quả Kết quả đạt được trong thời gian từ năm 1986 đến năm 1990 là vốn đầu tư nước ngoài cho sản xuất

phát triển khá, tập trung vào lĩnh vực gia công chế biến công nghiệp nhẹ

Trên cơ sở tình hình thế giới và trong nước, Nghị quyết Đại hội V (5 - 1991) của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh đề ra nhiệm vụ trong 5 năm (1991 - 1995) cần tập trung trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại:

Kiến nghị với Trung ương và trong quyền hạn của thành phố, ban hành ngay những chính sách đòn bẩy, bổ sung luật cần thiết để triển khai nhanh luật đầu tư đã ban hành, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cơ bản lâu dài theo định hướng xã hội chủ nghĩa và trong đó cần có chính sách phù hợp khuyến khích các công ty nước ngoài đầu tư vào sản xuất, kinh doanh như bỏ các thủ tục quan liêu nhằm tạo điều kiện thuận lợi thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, chuẩn bị tốt các danh mục và dự án để chủ động mời gọi nhà đầu tư theo định hướng chiến lược phát triển kinh tế- xã hội [29, tr 53]

Ngoài ra, Thành phố Hồ Chí Minh được Hội đồng Bộ trưởng lựa chọn làm nơi thí điểm mô hình thành lập KCX nhằm thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa theo hướng CNH, HĐH khắc phục những khó khăn trong đầu tư nước ngoài Ngày 25 -

11 - 1991, KCX Tân Thuận được thành lập và năm 1992, KCX Linh Trung ra đời góp phần thực hiện nhiệm vụ mà Chính phủ đề ra trong đó có nhiệm vụ thu hút vốn đầu tư nước ngoài Sự ra đời 2 KCX Tân Thuận và Linh Trung là sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh không ngừng tháo gỡ những vướng mắc

về thu hút vốn FDI, nhất là cơ chế chính sách Từ những khó khăn như cơ sở hạ tầng yếu kém và thủ tục xin giấy phép đầu tư, triển khai dự án đầu tư phức tạp đến

cơ chế quản lý “một cửa tại chỗ”, “phối hợp quản lý” đã phát huy sức mạnh từ

Ngày đăng: 17/01/2019, 16:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân, Nguyễn Thị Tuệ Anh (2008), Thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài sau khi gia nhập WTO, kết qủa điều tra 140 doanh nghiệp, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài sau khi gia nhập WTO, kết qủa điều tra 140 doanh nghiệp
Tác giả: Đinh Văn Ân, Nguyễn Thị Tuệ Anh
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2008
2. Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Dự án SIDA 2001 - 2010, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương – CIEM, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Tuệ Anh
Năm: 2006
3. Phạm Thị Hoàng Anh, Lê Hà Thu (2014), Đánh giá tác động của vốn đầu tư nước ngoài với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí Phát triển Kinh tế, (281), tr. 37 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của vốn đầu tư nước ngoài với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Hoàng Anh, Lê Hà Thu
Năm: 2014
4. Vĩnh Anh (2007), Thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam - Thành tựu 20 năm và chặng đường mới, NXB Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam - Thành tựu 20 năm và chặng đường mới
Tác giả: Vĩnh Anh
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 2007
5. Lê Xuân Bá (2006), Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, NXB Khoa học Kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Bá
Nhà XB: NXB Khoa học Kĩ thuật
Năm: 2006
6. Ban Quản lý các khu chế xuất và khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (2007), Báo cáo tổng kết 15 năm hình thành và phát triển các khu chế xuất- khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, lưu tại Văn phòng UBND Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 15 năm hình thành và phát triển các khu chế xuất- khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Quản lý các khu chế xuất và khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
7. Ban Quản lý các khu chế xuất và khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (2011), Báo cáo tổng kết 20 năm xây dựng và phát triển các khu chế xuất- công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, lưu tại Văn phòng UBND Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 20 năm xây dựng và phát triển các khu chế xuất- công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Quản lý các khu chế xuất và khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
8. Phạm Xuân Biên, Trần Nhu (2005), Thành phố Hồ Chí Minh - 30 năm xây dựng và phát triển, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phố Hồ Chí Minh - 30 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Phạm Xuân Biên, Trần Nhu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
10. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2006), Những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong đầu tư trực tiếp nước ngoài kinh nghiệm Trung Quốc và thực tiễn Việt Nam, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong đầu tư trực tiếp nước ngoài kinh nghiệm Trung Quốc và thực tiễn Việt Nam
Tác giả: Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng
Nhà XB: NXB Lý luận Chính trị
Năm: 2006
11. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2008), Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 7 năm đầu thế kỷ XXI, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 7 năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2008
12. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011), Kinh tế, xã hội, môi trường Việt Nam (2011 - 2015), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế, xã hội, môi trường Việt Nam (2011 - 2015)
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2011
18. Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh (2011), Niên giám thống kê 2010, NXB Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2010
Tác giả: Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2011
19. Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Niên giám thống kê 2011, NXB Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2011
Tác giả: Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2012
20. Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh (2016), Niên giám thống kê 2015, NXB Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2015
Tác giả: Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2016
21. Mai Ngọc Cường (2000), Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
22. Nguyễn Quyết Chiến (2000), “Một số biện pháp đào tạo lực lượng công nhân cho các Khu công nghiệp”, Tạp chí Phát triển Kinh tế (23), tr. 23 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp đào tạo lực lượng công nhân cho các Khu công nghiệp”", Tạp chí Phát triển Kinh tế
Tác giả: Nguyễn Quyết Chiến
Năm: 2000
23. Nguyễn Quyết Chiến (2001), “Biện pháp thúc đẩy đầu tư vào các Khu công nghiệp”, Tạp chí Phát triển Kinh tế (117), tr. 10 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp thúc đẩy đầu tư vào các Khu công nghiệp”," Tạp chí Phát triển Kinh tế
Tác giả: Nguyễn Quyết Chiến
Năm: 2001
24. Nguyễn Thị Mỹ Dung (2009), Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, Luận văn Thạc sĩ Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng trọng điểm kinh tế phía Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Dung
Năm: 2009
25. Nguyễn Thị Mỹ Dung (2009), Thu hút vốn đầu tư phát triển Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút vốn đầu tư phát triển Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Dung
Năm: 2009
26. Nguyễn Chí Dũng (1996), Hoàn thiện cơ chế tổ chức, quản lý Nhà nước về hoạt động FDI tại Việt Nam, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế tổ chức, quản lý Nhà nước về hoạt động FDI tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Dũng
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w