1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển đài loan từ năm 1979 đến nay

130 198 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó tạonên nét đặc trưng của mối quan hệ này là đối đầu về chính trị ngoại giao nhưng lại hợptác về kinh tế, phù hợp với xu thế về liên kết kinh tế của khu vực và trên thế giới hiệnn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ NHIỆM

QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN

ĐÀI LOAN TỪ NĂM 1979 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ

Hà Nội - 2015

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ NHIỆM

QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN

ĐÀI LOAN TỪ NĂM 1979 ĐẾN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ

Mã số: 60310206

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hồ Việt Hạnh

Hà Nội - 2015

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU 4

DANH MỤC HÌNH 5

MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN ĐÀI LOAN 13

1.1 Điều kiện tự nhiên của Đài Loan và Trung Quốc đại lục 13

1.2 Điều kiện Kinh tế - Chính trị - Xã hội 17

1.2.1 Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế trên thế giới 17

1.2.2 Những yếu tố tương đồng về lịch sử - văn hóa 19

1.2.3 Yếu tố chính trị 26

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN ĐÀI LOAN TỪ NĂM 1979 ĐẾN NAY 37

2.1 Tổng quan chính sách kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan 37

2.1.1 Chính sách kinh tế của Trung Quốc đại lục đối với Đài Loan 38

2.1.2 Chính sách kinh tế của Đài Loan đối với Trung Quốc đại lục 40

2.1.3 Cơ chế hợp tác kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan 49

2.2 Thực trạng quan hệ thương mại – đầu tư giữa hai bờ eo biển Đài Loan 52

2.2.1 Quan hệ thương mại giữa hai bờ eo biển Đài Loan 52

2.2.2 Quan hệ đầu tư giữa hai bờ eo biển Đài Loan 58

2.2.3 Hiệp định khung hợp tác kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan (ECFA) 63

CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN ĐÀI LOAN TRONG THỜI GIAN TỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM 73

3.1 Những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan 73

3.2 Xu thế phát triển quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan trong thập niên tới (2011-2020) 75

3.2.1 Bối cảnh thế giới và nội tình hai bên 75 3.2.2 Phương hướng, chủ trương thực hiện của Trung Quốc đại lục và Đài Loan

Trang 4

trong thời gian tới 79

Trang 5

3.2.3 Tác động của Hiệp định khung Hợp tác kinh tế giữa hai bờ eo biển (ECFA)

trong tương lai 87

3.3 Những vấn đề đặt ra về kinh tế cho Việt Nam và các giải pháp gợi mở 88

3.3.1 Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trước mối quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan 88

3.3.2 Các giải pháp lành mạnh hóa quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với Trung Quốc Đại lục và Đài Loan trong thời gian tới 98

KẾT LUẬN 108

PHỤ LỤC 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACAFTA : ASEAN - China Free Trade Area

Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN

ARATS : Association For Relations Across The Taiwan Straits

Hiệp hội Quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan

CEPA : Closer Economic Partner Arrangement

Thỏa thuận hợp tác kinh tế thương mại chặt chẽ

ECFA : Economic Cooperation Framework Agreement

Hiệp định khung về hợp tác kinh tế

MAC : Mainland Affairs Council

Hội đồng các vấn đề Đại lục (Đài Loan)

MOEA : Ministry Of Economic Affairs

Bộ các vấn đề về kinh tế (Đài Loan)

SEF : Strait Exchange Foundation

Quỹ trao đổi giữa hai bờ eo biển (Đài Loan)

TPP : Trans – Pacific Strategic Economic Partnership Agreement

Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Ngoại thương của Đài Loan với Trung Quốc từ 1989 đến 2005Error! Bookmark not d

Bảng 2.2: Mậu dịch của Đài Loan với Đại lục 10 năm đầu thế kỷ 21 111

Bảng 2.3: Thị trường xuất – nhập khẩu chủ yếu của Đài Loan 112

Bảng 2.4: Các mặt hàng chủ yếu Đài Loan xuất khẩu vào Đại lụcError! Bookmark not defined. Bảng 2.5: Các mặt hàng chủ yếu Đài Loan nhập khẩu từ Đại lục 114

Bảng 2.6: Đầu tư của Đài Loan tại Đại lục 10 năm đầu thế kỷ 21Error! Bookmark not defined. Bảng 2.7: Đầu tư của Đài Loan vào Đại lục 10 năm đầu thế kỷ 21 116

Bảng 2.8: Đầu tư của Đài Loan vào Trung Quốc đại lục 10 năm đầu thế kỷ 21 117

Bảng 2.9: Thời gian biểu cắt giảm thuế trong chương trình EHP 117

Bảng 2.10: Thời gian biểu cắt giảm thuế quan trong Chương trình EHP 118

Bảng 3.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và ASEAN với Đài Loan (2000-2012) 118

Bảng 3.2: Đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam và ASEAN (1990-2012) 119

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Bản đồ eo biển Đài Loan 14

Trang 9

1 Lý do lựa chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Châu Á nói chung, Đông Á nói riêng vốn được đánh giá là khu vực kinh tếnăng động đang trở thành điểm hẹn hấp dẫn của các nhà kinh doanh Có hai nhân tốquan trọng tạo nên sự sôi động của khu vực này: thứ nhất là do bản thân các nước vàcác nền kinh tế đã đạt được các thành tựu kinh tế vượt bậc khiến cho châu Á trở thànhkhu vực có tốc độ tăng trưởng cao và duy trì liên tục trong nhiều năm qua Thứ hai là

do hợp tác trong khu vực ngày một gia tăng Có thể nói, đây cũng là một trong nhữngkhu vực sớm hình thành các tổ chức hợp tác khu vực như APEC, ASEAN, NAFTA

Sự ra đời của các tổ chức kinh tế này thể hiện nhu cầu liên kết ngày càng tăng cũngnhư cho thấy khả năng phát triển đi lên của cả khu vực nói chung và từng quốc gia nóiriêng Những năm gần đây, hầu hết các quốc gia trong khu vực này đều có sự điềuchỉnh chiến lược phát triển theo hướng tập trung hợp tác và liên kết mạnh mẽ hơntrong nội bộ vùng Mặc dù khu vực này đang tồn tại các chế độ chính trị khác biệt, sự

đa dạng về văn hóa, mức độ chênh lệch về trình độ kinh tế giữa các quốc gia còn khálớn, các điểm nóng vẫn chưa được giải quyết, nhưng nhìn chung những năm qua tìnhhình khu vực vẫn khá ổn định và xu thế hòa bình, hợp tác hữu nghị trở thành xu thếnổi trội Điều đó được thể hiện bằng sự bùng nổ của các hiệp định thương mại songphương và đa phương, đa đạng trong các hình thức hợp tác đầu tư Xu hướng gia tănghợp tác kinh tế của khu vực đã và đang mở rộng quan hệ kinh tế giữa các nước và cácchủ thể trong quan hệ quốc tế trong đó có Trung Quốc và Đài Loan

Mối quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan là một trong những mối quan hệphức tạp, ẩn chứa nhiều nguy cơ nhất trong khu vực Đông Á và trên thế giới Trongnhững năm gần đây, trong khi Trung Quốc kiên quyết theo đuổi chính sách “một nướchai chế độ” và xác định thống nhất Đài Loan là một nhiệm quan trọng của thế kỷ 21thì Đài Loan vẫn ấp ủ trở thành một nước độc lập Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế,

sự phát triển về khoa học kỹ thuật của Đài Loan trong thời gian qua đã khiến TrungQuốc không thể từ chối trao đổi kinh tế với Đài Loan và thị trường khổng lồ ở TrungQuốc cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng không thể thiếu được đối với các doanh

Trang 10

nghiệp Đài Loan Chính vì thế, cho dù vẫn xảy ra căng thẳng xoay quanh vấn đề chínhtrị thì hai bên vẫn trở thành đối tác lớn của nhau trong lĩnh vực kinh tế Điều đó tạonên nét đặc trưng của mối quan hệ này là đối đầu về chính trị ngoại giao nhưng lại hợptác về kinh tế, phù hợp với xu thế về liên kết kinh tế của khu vực và trên thế giới hiệnnay.

Nhằm nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ kinh tế thương mại - đầu tư songphương giữa Trung Quốc và Đài Loan, tìm ra những biện pháp mới thúc đẩy hơn nữamối quan hệ giữa hai bên cũng như tìm ra những ảnh hưởng của mối quan hệ này đối

với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, tôi đã lựa chọn đề tài “Quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biền Đài Loan từ năm 1979 đến nay”.

2 Tình hình nghiên cứu

Mối quan hệ giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan là một trong những đề tàihấp dẫn các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Đây là một cặp quan hệ tốnkhá nhiều giấy mực bởi hiện nay nó vẫn luôn mang tính thời sự

Trên thực tế đã có rất nhiều sách, tạp chí, luận văn viết về mối quan hệ giữaTrung Quốc đại lục và Đài Loan dưới nhiều góc độ khác nhau và dưới nhiều khoảngthời gian khác nhau

Ở nước ngoài:

Với việc Quốc Dân Đảng (KMT – Taiwan„s Kuomintang) giành lại quyền lực

từ Đảng Dân Chủ Tiến bộ (DPP – Democratic Progresstive Party) vào ngày 20/5/2008,

cả Trung Quốc đại lục và Đài Loan đều điều chỉnh chính sách của họ đối với nhau.Tuy nhiên, những thay đổi gần đây là một phần của cả tổng thể quá trình điều chỉnhchính sách liên tục của cả hai bên để đáp ứng được với những điều kiện thay đổi ở

trong và ngoài nước từ năm 1979 Cuốn sách “Cross – Taiwan Straits Relations Since 1979: Policy Adjustment and Institutional Change Across the Straits” của Kevin

G.Cai (Worls Scientific, 2011 – Political Science) khám phá quá trình điều chỉnhchính sách và thay đổi thể chế ở hai bờ eo biển Đài Loan từ năm 1979 và cung cấp cácchính sách khuyến nghị Đồng thời cuốn sách cũng đưa ra các quan điểm so sánh và

Trang 11

cân bằng các mối quan hệ xuyên eo biển từ quan điểm của cả hai bên là Trung Quốcđại lục và Đài Loan, qua đó giúp người đọc nâng cao sự hiểu biết về mối quan hệ này.

Cuốn sách China Diplomacy, The Washington – Taipei – Beijing Triangle của

John F.Copper (Westview Press, Bouldder • San Frasisco • Oxford) viết về mối quan

hệ tam giác giữa 3 chủ thể quan hệ quốc tế là Mỹ, Đài Loan, Trung Quốc trong vấn đề

eo biển Đài Loan

Mới nhất là cuốn sách “The US Strategic Pivot to Asia and Cross – Strait Relations: Economic and Security Dynamics” của Peter C.Y.Chow (Palgrave

Macmillan, Sep11, 2014 – New York, United States) nhấn mạnh vai trò quan trọngcủa mối quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan trong chiến lược trụ cột của Mỹ tại khuvực Châu Á Trong đó, cuốn sách phân tích cụ thể tam giác an ninh gồm Mỹ, TrungQuốc đại lục và Đài Loan từ năm 2008 đến nay; chiến lược của Mỹ đối với châu Á nóichung và đối với mối quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan nói riêng; những tác độngđến tình hình an ninh và sự ổn định của Đài Loan trong mối quan hệ xuyên eo biển vànhững phản ứng của Trung Quốc trước chiến lược trụ cột của Mỹ ở châu Á

Ở Việt Nam:

Thời gian qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai bờ

eo biển Đài Loan Các hướng nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích cặp quan hệ nàydưới góc độ an ninh – chính trị hay đề cập đến tầm quan trọng của vấn đề giữa hai bờ

eo biển Đài Loan trong chính sách của một số nước lớn hay tác động của mối quan hệnày đối với tình hình khu vực

Cuốn sách “Quan hệ “Hai bờ bốn bên” trong quá trình trỗi dậy của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam” của Ts Vũ Thùy Dương (NXB Từ điển

Bách Khoa, 2013, Hà Nội) hướng tới mục tiêu nghiên cứu về chính sách kinh tế củaTrung Quốc đại lục, Hồng Kông, Ma cao, Đài Loan; nghiên cứu chính sách của TrungQuốc đại lục, Đài Loan, Mỹ trong quan hệ giữa hai bờ eo biển để làm rõ tác động củachính sách đó đến quan hệ kinh tế giữa các bên; làm rõ hơn những thăng trầm của mốiquan hệ giữa hai bờ eo biển Từ đó, đưa ra những dự báo về triển vọng hợp tác trongkhu vực “hai bờ bốn bên” trong tương lai đồng thời trên cơ sở phân tích mối quan hệ

Trang 12

giữa Việt Nam với khu vực “hai bờ bốn bên, phân tích mối quan hệ giữa Việt Nam vớimỗi bên trong khu vực này cuốn sách đưa ra những gợi mở, những đối sách phù hợpnhằm tăng cường quan hệ hợp tác giữa việt Nam với Trung Quốc, Đài Loan, HồngKông, Ma Cao Như vậy, cuốn sách chỉ tập trung một phần nào đấy cho việc nghiêncứu về mối quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan mà thôi.

Bên cạnh đó cũng có rất nhiều các đề tài, các bài viết trên các tạp chí nghiên

cứu lớn của Việt Nam đề cập tới cặp quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan như: Đài loan với vấn đề thống nhất hai bờ sau chiến tranh lạnh, Luận văn thạc sỹ quan hệ quốc tế của Vũ Đức Dũng (Học viện Ngoại giao Việt Nam, Hà Nội – 2004); Vấn đề eo biển Đài Loan trong quan hệ Trung – Mỹ từ sau chiến tranh lạnh đến nay của Vũ Hạnh Quyên (Học viện Ngoại giao Việt Nam, Hà Nội – 2008); Triển vọng thống nhất Đài Loan và thế lưỡng nan của Mỹ của Tống Thị Ngọc Huyền (Học viện Ngoại giao Việt Nam, Hà Nội – 2008), Chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Đài Loan từ

1979 đến nay của Đặng Chung Thủy (Học viện Ngoại giao Việt Nam – 2000), Vấn đề Đài Loan trong quan hệ Trung – Mỹ của Đào Thị Thanh Nga (Khoa Quốc tế học,

ĐHKHXH&NV, ĐHQG HN – 2005) Như đã đề cập, đây là các đề tài thể hiện mốiquan hệ giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan được các tác giả nhìn nhận dưới góc độ

an ninh – chính trị - ngoại giao mà không hề đề cập tới góc độ trao đổi thương mại,đầu tư

Tuy nhiên, thời gian gần đây trên các tạp chí cũng đã xuất hiện các bài viết thể

hiện cặp quan hệ này dưới góc độ kinh tế như: Quan hệ đầu tư giữa Đài Loan và Trung Quốc của Phí Hồng Minh (Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 10 (116) –

2010) trình bày chính sách đầu tư của mỗi bên cũng như hiện trạng hợp tác đầu tư giữa

hai bờ eo biển Đài Loan từ cuối những năm 1990 đến đầu thế kỷ XXI Bài viết Quan

hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan trong 10 năm đầu thế kỷ XXI của Trương

Hoàng Thùy Vân (Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 10 (122) – 2011) phân tíchnhững nét cơ bản nhất trong quan hệ kinh tế giữa hai bờ trong 10 năm đầu thế kỷ XXI

Bài viết Quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan kể từ khi Mã Anh Cửu lên nắm

Trang 13

quyền của Phí Hồng Minh (Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 5 (159) – 2014) thể

hiện hiện trạng hợp tác kinh tế giữa hai bờ chủ yếu từ năm 2008 cho đến nay

Có thể thấy rằng, mối quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan là một vấn đề đãnhận được rất nhiều sự quan tâm và nghiên cứu sâu sắc từ rất nhiều các nhà nghiêncứu trong và ngoài nước Song đến nay vẫn chưa có một công trình thể hiện một cáchđầy đủ, hệ thống và xuyên suốt mối quan hệ kinh tế của cặp quan hệ này kể từ khi haibên bắt đầu có những nới lỏng trong chính sách và đi đến thực hiện hợp tác trao đổithương mại và đầu tư trên thực tế, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo nênmột khu vực mậu dịch năng động ở Đông Bắc Á

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về thời gian và không gian, căn cứ vào tên đề tài luận văn, do từ năm 1949, saukhi rời ra đảo Đài Loan, chính quyền Quốc Dân Đảng đã đưa ra nguyên tắc “3 không”:

“không tiếp xúc, không đàm phán, không thỏa hiệp” đối với Trung Quốc đại lục 3nguyên tắc được thực hiện một cách triệt để trong suốt ba thập kỷ 50, thập kỷ 60 vànhững năm đầu của thập kỷ 70 Tháng 12 năm 1978, sau khi Đảng Cộng Sản TrungQuốc tuyên bố thực thi chính sách mở cửa, đứng trước nhu cầu giao lưu kinh tế vớiTrung Quốc đại lục của các doanh nghiệp Đài Loan thì chính quyền Đài Loan mới nớilỏng các quy định nghiêm ngặt trước đây trong quan hệ với Trung Quốc đại lục Năm

1979, Trung Quốc bắt đầu tiến hành trao đổi bưu chính và điện tín với Đài Loan.Chính vì thế, luận văn sẽ đề cập tới quá trình trao đổi thương mại, đầu tư giữa hai bờ

eo biển Đài Loan từ năm 1979 cho đến nay

Về mặt nội dung, luận văn nghiên cứu diễn biến mối quan hệ giữa hai bờ eobiển Đài Loan trên hai lĩnh vực là thương mại và đầu tư Bên cạnh đó là các cơ sở đểhình thành nên mối quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan như các yếu tố về tựnhiên, xã hội, kinh tế, chính trị; các triển vọng phát triển mới giữa hai bờ trong tươnglai cũng những tác động của mối quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan tới Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 14

Do luận văn có đề cập tới mối quan hệ kinh tế song phương trong quan hệ quốc

tế và diễn ra trong một giai đoạn lịch sử nên phương pháp nghiên cứu được sử dụngchủ yếu ở đây là phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế

Ngoài ra, luận văn cũng được sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa họckhác như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, logic, tổng hợp, kiểm tra, đánh giá

tư liệu, hệ thống hóa nhằm rút ra những nhận định có tính tổng hợp, khái quát phục vụcho nghiên cứu được chi tiết, xác thực hơn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp của luận văn

Nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích chính của luận văn là đưa ra một cách nhìn

tổng thể về quá trình xác lập và phát triển mối quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển ĐàiLoan từ khi bắt đầu đến trải qua các giai đoạn khác nhau với chính sách, các diễn biếnkhác nhau Luận văn cũng đi tìm những tồn tại khác biệt giữa hai bờ, những giải phápkhắc phục cho những tồn tại đó và triển vọng của quan hệ hai bờ trong tương lai; quan

hệ giữa hai bờ tác động như thế nào tới khu vực và thế giới, đối sách của Việt Nam rasao trước tác động của mối quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan

Đóng góp của đề tài: Đề tài “Quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan” là

một đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Đề cập tới một cặp quan hệ tế nhị, nhạycảm và có tính thời sự trong quan hệ quốc tế Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu ở trên,luận văn đã đưa ra những đánh giá, nhận định tổng hợp về mối quan hệ kinh tế giữahai bờ eo biển, chỉ rõ những nhân tố hình thành, những thay đổi trong chính sách vàdiễn biến thực tế thể hiện bằng các số liệu, các sự kiện kinh tế và chính trị, xã hội cóliên quan nhằm xác thực một cách chân thật và đầy đủ nhất mối quan hệ kinh tế giữahai bờ eo biển Đài Loan Đồng thời, luận văn cũng đưa ra những tác động tích cực vàtiêu cực của mối quan hệ giữa hai bờ tới nền kinh tế Việt Nam để Việt Nam có thể đưa

ra những hoạch định chính sách riêng trong việc phát triển mối quan hệ kinh tế, chínhtrị, ngoại giao với mỗi bên

Nghiên cứu quan hệ kinh tế Trung Quốc đại lục - Đài Loan là một một đề tàihay nhưng do phạm vi nghiên cứu xuyên suốt một khoảng thời gian khá dài từ khi hai

bờ bắt đầu có dấu hiệu thiết lập sự giao lưu, hợp tác với nhau từ năm 1979 cho đến

Trang 15

tânj ngày nay nên luận văn vẫn sẽ có những thiếu sót khó tránh khỏi trong việc phântích và thể hiện một cách đầy đủ, thống nhất, trọn vẹn nội dung của đề tài Nguồn tàiliệu liên quan khá phong phú, đồ sộ nhưng tầm nhìn còn hạn chế, tính cập nhật chưacao nên học viên hy vọng sẽ nhận được nhiều đóng góp quý báu của các quý thầy cô,các nhà khoa học và các bạn học viên có quan tâm để đề tài được hoàn thiện hơn cũngnhư có giá trị tham khảo và đóng góp cho các công trình nghiên cứu tiếp theo.

6 Bố cục của luận văn

Luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở của mối quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan

Chương 2: Quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan từ năm 1979 cho đến nay Chương 3: Xu thế phát triển quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan trong thời gian tới và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

Ngoài ra Luận văn còn có phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN

ĐÀI LOAN 1.1 Điều kiện tự nhiên của Đài Loan và Trung Quốc đại lục

Eo biển Đài Loan là một eo biển nằm giữa đảo Đài Loan và Trung Quốc Eo biểnnày dài 380 km tư Nam sang Bắc, trung binh rông 190 km tư Đông sang Tây, chô hepnhât la tư Tân Truc (Đai Loan ) đến Bình Đàn tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) chỉ cách

130 km [28] Eo biển Đài Loan chiếm giữ một vị thế vô cùng quan trọng cả về kinh tếlẫn chính trị đối với Đài Loan và Trung Quốc nói riêng, đối với khu vực và thế giớinói chung Bởi eo biển Đài Loan là một khu vực giàu tiềm năng với nguồn tài nguyênthiên nhiên dồi dào, phong phú và có vị trí chiến lược quan trọng trong thương mại,hàng hải, an ninh – quốc phòng Chính vì vậy, eo biển Đài Loan luôn nhận được sựquan tâm không chỉ của các quốc gia trong khu vực mà còn là mối quan tâm đặc biệtcủa cường quốc số một thế giới là Mỹ

Đài Loan là quần đảo thuộc khu vực Thái Bình Dương, ngoài khơi Đông Namđại lục Trung Quốc, nơi xa nhất của Đài Loan nằm cách bờ biển đối diện của đại lụckhoảng 360 km, nơi gần nhất khoảng 150 km, phía Nam giáp với Biển Đông, phíaĐông giáp với biển Philippines [28] Đài Loan nằm ở vị trí trung tâm trong chuỗi đảothứ nhất ở Tây Thái Bình Dương, án ngữ eo biển Đài Loan, eo biển Bashi, là đầu mốigiao hội giữa lục địa Á –Âu với Thái Bình Dương, nơi giao hội giữa Đông Bắc Á vàĐông Nam Á

Trang 17

Hình 1: Bản đồ eo biển Đài Loan

Vị trí địa lý tự nhiên ưu việt đó đã đem lại cho Đài Loan một lợi thế quân sựlớn Một lực lượng hải quân hiện đại, đặt căn cứ ở Đài Loan có thể thực hiện một cuộctấn công được huy động đầy đủ khắp các vùng biển lãnh thổ và xung quanh Trung

Trang 18

Quốc trong vòng một thời gian ngắn Bản thân Đài Loan là một căn cứ quân sự có giátrị đối với vùng duyên hải của đại lục và cả với toàn bộ khu vực Đông Nam Á.

Lãnh thổ Đài Loan có tổng diện tích là 35.980 km2 bao gồm các đảo Đài Loan(đó là các đảo Lan Tự và Lục Đảo), quần đảo Bành Hồ tại eo biển Đài Loan, Kim Môn

và Mã Tổ ở ngoài khơi Phúc Kiến, đảo Thái Bình và đảo Đông Sa ở Biển Đông [29].Đảo chính là đảo Đài Loan có phía Đông giáp với Thái Bình D ư ơ n g , phía Nam giápBiển Đông, phía Tây là eo biển Đài Loan và phía Bắc là Đ ông H ả i T r ung Quốc

Diên tich hon đao Đai Loan chiêm trên 97% tông diên tich lãnh th ổ Đài Loan, làhòn đảo lớn nhất với chiều dài là 394 km và chiều rộng là 144 km Trên đao co nhiêu núi, diên tich cac nui cao va đôi nu i chiêm 2/3 tông diên tich , đông băng chi chiêm dươi 1/3 [29] Năm day nui lơn trên hon đao Đai Loan lân lươt la Day nui TrungƯơng, Dãy núi Ngọc Sơn , Dãy núi Tuyết Sơn , Dãy núi A Lý và Dãy núi Đài Đông (môt tên nưa la Dãy núi Hải Ngạn ) Đặc trưng địa hình hòn đảo Đài Loan là ở giữa cao, hai bên thâp, dãy núi Trung Ương xuyên qua nam bắc , là ranh giới nam bắc Ngọn núi chính của Dãy núi Ngọc Sơn là Ngọc Sơn , cao hơn măt biên 3.997m, là ngọn nui cao nhât Đai Loan Có thể thấy rằng, tuy là hải đảo nhưng 2/3 diện tích là đồi núi cao và rừng cây rậm rạp, chính điều này đã khiến cho Đài Loan có khung cảnh thiên nhiên vô cùng đặc sắc và tươi xanh

Vị trí lãnh thổ Đai Loan năm giưa ôn đơ i va nhiêt đơi, có khí hậu thuộc nhiệt đới

và á nhiệt đới Do Đai Loan bi biên bao vây vê bôn phia , nên chiu sư anh hương cuagió mùa đến từ biển , bốn mùa khí hậu vừa phải , mùa đông không rét , mùa hè khôngnóng, ngoài vung nui ra , nhiêt đô trung bình hàng n ăm là khoảng 22 độ Ở đồng bằng, nói chung bốn mùa đều không có sương và tuyết Chỉ riêng khu vưc vơi đô cao sovơi măt biên trên 3000m mơi mưa tuyêt Đai Loan mưa nhiêu , và nhiều khi c hịu sựảnh hương cua bao

Diên tich che phu cua rưng nui Đai Loan chiêm hơn môt nư a tông diên tich đâtđai toàn lãnh thổ, gâp hai lân diên t ích rừng núi của Thuỵ Sĩ - “đât nươc rưng nui” nôitiêng châu Âu Lương dư trư vât liêu gô đat trên 300 triêu m3 Bơi chiu sư anh hươngcủa sự thay đổi thẳng góc của khí hậu , nên Đai Loan co nhiêu chung loai cây , có gần

4000 loại gồm chủng loại nhiệt đới , á nhiệt đới , ôn đơi va han đơi , là vườn bach thaothiên nhiên nôi tiêng châu A Đai Loan co rưng cây kinh tê vơi diên tich chiêm 4/5

Trang 19

diên tich rưng nui Cây long nao Đai Loan xêp hang đâu thê giơi Long nao va dâu câylong nao là một đặc sản nổi tiếng của Đà i Loan , sản lượng chiếm khoảng 70% tôngsản lượng thế giới Đai Loan có biên bao quanh vê bốn phía, năm ơ chô giao thao giưa dòng nước ấm và dòng nước lạnh , nên co hai san rât phong phu Đai Loan co hơn 500loại cá Cao Hu ng, Cơ Long , Tô Ao , Hoa Liên , Tân Cang va Banh Hô đêu la ngư trương nôi tiêng Ngoài ra , muôi biên do Đai Loan san xuât cung rât nôi tiêng ĐàiLoan cũng có một số loại khoáng sản quan trọng như vàng, đồng, dầu hỏa, than đá, diêm sinh [28].

Như vậy, có thể nói Đài Loan là một lãnh thổ nhỏ bé nhưng lại có một vị trí địa

lý đặc biệt thuận lợi để hợp tác và phát triển mà nhiều quốc gia khác trên thế giớikhông thể có được

Bên kia eo biển Đài Loan chính là đại lục Trung Quốc Cộng hòa nhân dânTrung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc) là một quốc gia nằm ở phía đông Châu Á, tiếp giápgiữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, có 3 mặt giáp biển, là cầu nối giữa lục địa Á–Âu với lục địa Australia, nằm trong vùng nội chí tuyến, nằm trên vành đai sinhkhoáng Thái Bình Dương và Địa Trung Hải và nằm ở ngã tư đường hàng hải, hàngkhông quốc tế quan trọng

Trung Quốc có diện tích 9,6 triệu km2, là nước thứ 3 hoặc thứ 4 thế giới về tổngdiện tích và lớn thứ hai về diện tích đất Trung Quốc có địa hình đa dạng với caonguyên và sa mạc ở khu vực phía Bắc gần Mông Cổ và Seberi của Nga, rừng cận nhiệtđới ở miền Nam gần Việt nam, Lào, Myanmar Địa hình ở phía Tây gồ ghề với cácdãy núi cao Hi m al a y a và Thiên S ơ n hình thành biên giới tự nhiên với Ấn Độ và T r ung

Á, là nơi bắt nguồn của các sông lớn chảy về miền Đông Do phía Tây nhiều dãy núicao, sơn nguyên đồ sộ nên phần lớn là các hoang mạc, bán hoang mạc, bồn địa với đấtđai khô cằn, tài nguyên thiên nhiên ít chủ yếu là rừng và các đồng cỏ Ngược lại, phíaĐông là vùng đồng bằng thấp thuộc phần trung và hạ lưu của các con sông lớn nhưHắc Long Giang, Trường Giang, Hoàng Hà, Tây Giang nên đất đai màu mỡ, phì nhiêu

Là nơi tập trung của một số loại khoảng sản có giá trị như kim loại màu, than đá,quặng sắt, dầu khí Đặc biệt, Trung Quốc có 14.500 km chiều dài bờ biển tiếp giáp vớicác vùng biển lớn như Hoàng Hải, Hoa Đông và biển Đông (biển Nam Trung Hoa theocách gọi của Trung Quốc) Hiện nay, Trung Quốc có đường biên giới giáp 14 quốc gia

Trang 20

khác ở châu Á v ới tổng chiều dài là 21.500 km thuộc loại tương đối dài trên thế giới.Phía Bắc giáp ôngM C ổ, Nga; phía Tây giáp A f ghanistan, a zaK k hsta n , K y r g y zsta n , Tajikistan; phía Nam giáp Nepal, Bhuta n , M y a n m a, Ấn Độ, L à o, Vi ệ t N a m ; phía Đônggiáp Bắc Tr i ều Tiên và Biển Hoa Đông [ 30].

Có thể thấy rằng Trung Quốc là một quốc gia có đầy đủ các lợi thế với diện tíchlãnh thổ rộng lớn, có nhiều dạng khí hậu và địa dư khác nhau cùng với cảnh quan thiênnhiên đa dạng tạo điều kiện cho việc phát triển tổng hợp các ngành kinh tế như pháttriển lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc ở miền núi, phát triển công nghiệp đặc biệt làcông nghiệp khai khoáng, phát triển thủy điện, giao thông, thủy lợi, nuôi trồng thủy hảisản nhờ giá trị to lớn sông ngòi, đất đai màu mỡ, phì nhiêu giúp phát triển nông nghiệpvới cơ cấu cây trồng đa đạng, án ngữ ở một vị trí địa lý chiến lược với đường bờ biểndài kết hợp với việc tiếp giáp với các nền kinh tế phát triển năng động như Đài Loan,Hàn Quốc, Nhật Bản cho phép Trung Quốc phát triển mạnh mẽ các ngành kinh tế biển,tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế với khu vực cũng như trên toàn thế giới [30].Nếu Đài Loan là một hòn đảo xinh đẹp thì Trung Quốc là một vùng lãnh thổrộng lớn đầy tiềm năng Cả Đài Loan và Trung Quốc đều được thiên nhiên vô cùng ưuđãi và cả hai đều có thể tận dụng tối đa những điều kiện tự nhiên thuận lợi đó trongphát triển kinh tế Mặc dù mỗi bên đều có những thế mạnh riêng, nhưng chắc chắn cảhai bên đều rất cần đến nhau trong việc cùng nhau khai thác những giá trị chung cũngnhư hợp tác với nhau trên nhiều lĩnh vực nhờ những thuận lợi to lớn do sự gần gũi vềkhông gian địa lý mang lại, cùng tiếp giáp với một vùng biển rộng lớn và cùng án ngữ

ở ngã tư đường hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng

1.2 Điều kiện Kinh tế - Chính trị - Xã hội

1.2.1 Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế trên thế giới

Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đang diễn ra ở những cấp độkhác nhau với xu hướng toàn cầu hoá đi đôi với xu hướng khu vực hoá

Trong những năm gần đây người ta nhắc rất nhiều tới các khái niệm như “toàncầu hóa kinh tế”, “khu vực hóa kinh tế”, “hội nhập kinh tế” và “liên kết kinh tế” bởichúng khái quát được xu thế phát triển của thế giới từ sau những năm 1980 Sau chiếntranh lạnh, sự bùng nổ của thị trường tài chính toàn cầu, sự phát triển mạnh mẽ của các

Trang 21

công ty xuyên quốc gia đã và đang khiến cho toàn cầu hóa, khu vực hóa trở thành một

xu thế tất yếu và là một trong những xu thế chủ đạo của quan hệ kinh tế quốc tế

Toàn cầu hoá kinh tế là hình thành một thị trường thế giới thống nhất, một hệthống tài chính, tín dụng toàn cầu, là việc phát triển và mở rộng phân công lao độngquốc tế theo chiều sâu, là sự mở rộng giao lưu kinh tế và khoa học công nghệ giữa cácnước trên quy mô toàn cầu; là việc giải quyết các vấn đề kinh tế –xã hội có tính chấttoàn cầu như vấn đề dân số, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ mội trường sinh thái Trongkhi đó, khu vực hoá kinh tế chỉ diễn ra trong một không gian địa lý nhất định dướinhiều hình thức như khu vực mậu dịch tự do, liên minh kinh tế, liên minh thuế quan,liên minh tiền tệ chung Nhằm mục đích hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển, từngbước xoá bỏ những cản trở trong việc di chuyển tư bản, lực lượng lao động, hàng hoádịch vụ Tiến tới tự do hoá hoàn toàn những di chuyển nói trên giữa các nước thànhviên trong khu vực

Ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển (hay còn gọi là các quốc giacông nghiệp phát triển) thì xu hướng tham gia hội nhập vào nền kinh tế các nước trongkhu vực và bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng Việc tham gia mạnh mẽ và rộng rãivào các khối liên kết kinh tế khu vực, từng bước tiến tới sự nhất thể hoá cao thông quacác văn bản, hiệp định ký kết đã đưa lại cho các quốc gia trong liên minh sự ổn định,hợp tác cùng phát triển Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp của các quốc gia thànhviên được hưởng những ưu đãi về thương mại cũng như phải gánh vác các nghĩa vụ vềtài chính, giảm thuế cũng như các miễn giảm khác v.v Các quốc gia trong Hiệp hộimậu dịch tự do Bắc Mỹ - NAFTA, các quốc gia trong Liên minh châu Âu - EU lànhững liên kết phản ánh rõ nét các xu hướng trên Theo thoả thuận hợp tác này, cácquốc gia trong liên minh bên cạnh việc xoá bỏ thuế quan và những hạn chế về mậudịch khác giữa các quốc gia thành viên, còn cần phải thiết lập một biểu thuế quanchung của khối đối với các quốc gia ngoài liên minh, tức là phải thực hiện chính sáchcân đối mậu dịch với các nước không phải là thành viên

Xu thế toàn cầu hóa ngày càng mở rộng, sự liên hệ phụ thuộc và ràng buộc lẫnnhau trên các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội ngày càng tăng khôngloại trừ bất cứ một quốc gia hay khu vực nào trên thế giới Quá trình toàn cầu hóamang lại rất nhiều cơ hội và thách thức không thể xem thường đối với các quốc gia

Trang 22

phát triển hay chưa phát triển, chủ động hay không chủ động, tự giác hay không tự giác tham gia hội nhập.

Chính vì thế, lãnh thổ Trung Quốc rộng lớn hay quần đảo Đài Loan nhỏ bé xinhđẹp thì cả hai đều phải có nhận thức đúng đắn về cơ hội và thách thức của quá trìnhtoàn cầu hóa trong sự nghiệp phát triển của mình Việc cả hai bên đang nằm trong khuvực kinh tế sôi động nhất thế giới là Châu Á - Thái Bình Dương đã buộc cả hai bênphải tính toán những bước đi phù hợp để có thể đứng vững trước những khốc liệt củaquy luật cạnh tranh, đào thải cũng như để chiếm lĩnh được một vị thế và chứng tỏ bảnlĩnh của mình trên trường quốc tế

Rõ ràng là sự gia tăng hợp tác kinh tế là một xu thế hiện thực phản ánh nhu cầucần thiết về sự hợp tác hiện nay cũng như trong tương lai của các nước và các chủ thểquan hệ quốc tế tại các khu vực và trên toàn thế giới Xu thế hợp tác kinh tế này đã vàđang góp phần mở rộng quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Đài Loan xét từ cả góc độnhu cầu của mỗi bên, của cả khu vực Châu Á và trên toàn thế giới Ngoài ra, trongđiều kiện chưa thể vượt qua được rào cản về quan hệ chính trị và ngoại giao thì việc

mở rộng quan hệ kinh tế giữa hai bên là hoàn toàn phù hợp Với tư cách cùng là thànhviên của WTO thì cả hai bên đều có thể sử dụng vị thế hợp pháp đó để mở rộng quan

hệ hợp tác nói chung và phát triển quan hệ kinh tế nói riêng Tác động tích cực củanhân tố toàn cầu hóa kinh tế, khu vực khóa kinh tế đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽquan hệ kinh tế Trung Quốc và Đài Loan trong suốt thời gian vừa qua

1.2.2 Những yếu tố tương đồng về lịch sử - văn hóa

Không chỉ gần nhau về mặt vị trí địa lý mà Trung Quốc và Đài Loan còn cómối liên kết khá chặt chẽ về lịch sử và văn hóa

Sử sách Trung Quốc ghi chép rằng từ thời Tam Quốc, vua Tôn Quyền đã xuấtquân ra Đài Loan và người Hán đã di cư sang đó làm ăn Nguyên thế tổ Hốt Tất Liệtcũng đã đem quân ra Đài Loan Đến năm 1335, triều Nguyên chính thức thiết lập sựquản lý hành chính đối với Đài Loan Đến triều Minh, sự đi lại giữa Đại lục và ĐàiLoan càng nhiều và cuối triều Minh (những năm 1620) diễn ra những làn sóng di cưhàng loạt từ Đại lục sang Đài Loan Từ thế kỷ thứ 16 các nhà hàng hải Bồ Đào Nha đãphát hiện ra đảo Đài Loan và đặt tên gọi là “Ihla Formosa” (Hòn đảo xinh đẹp) Từ đóĐài Loan trở thành nơi tranh giành, cướp đoạt của chủ nghĩa thực dân phương Tây,

Trang 23

trước hết là người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha Năm 1602 và năm 1622, người Hà Lanhai lần xâm chiếm Bành Hồ Năm 1626, người Tây Ban Nha từ Phillipines tới xâmchiếm vùng Cơ Long, Đạm Thủy Năm 1642, người Hà Lan chiếm đoạt các cứ điểmcủa người Tây Ban Nha và từ đó Đài Loan trở thành thuộc địa của Hà Lan Năm 1661tướng nhà Minh Trịnh Thành Công thống lĩnh 25 nghìn quân sĩ từ Hạ Môn, Kim Mônvượt biển ra Đài Loan, kêu gọi và tổ chức nhân dân Đài Loan nổi dậy chống thực dân

Hà Lan Năm 1662 Đài Loan được giải phóng Cũng năm đó Trịnh Thành Công mất.Con ông là Trịnh Kinh và cháu ông là Trịnh Khắc Sáng tiếp tục cai trị Đài Loan 22năm Năm 1683 nhà Thanh đem quân tấn công Đài Loan và Trịnh Khắc Sáng đã quyphục Từ đó Đài Loan trở thành một tỉnh của nhà Thanh Triều đình nhà Thanh cai trịĐài Loan hơn 200 năm Đến năm 1895, do thất bại trong cuộc chiến tranh Trung –Nhật (1894-1895), nhà Thanh phải giao nộp Đài Loan cho Nhật Bản theo thỏa thuậncủa “Hòa ước Semoseki” (Hòa ước Mã Quân) tháng 4 năm 1895 và cũng từ đó ĐàiLoan nằm dưới sự chiếm đóng của Nhật Bản cho đến năm 1945 [16, tr.8]

Năm 1911, cuộc Cách mạng Tân Hợi đã xóa bỏ chế độ phong kiến hàng ngànnăm dẫn đến sự thành lập Trung Hoa Dân Quốc Tôn Trung Sơn trở thành Tổng thốngcủa chính phủ lâm thời Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thắng lợi trước sự thấtbại và đầu hàng của Nhật Bản, Trung Hoa Dân Quốc phong kiến thuộc địa đã trởthành một nước dân chủ, độc lập Tuy nhiên, sau đó tình hình ở Trung Quốc vẫn tiếptục căng thẳng bởi cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa một bên là Quốc Dân Đảng,hiện đang nắm quyền nhưng bị mất uy tín nghiêm trọng trong thời gian kháng chiếnchống Nhật Bên kia là Đảng Cộng Sản Trung Quốc hiện đang có ảnh hưởng sâu rộngkhắp đất nước Cuộc đấu tranh này đã nhanh chóng trở thành cuộc nội chiến kéo dàisuốt từ cuối năm 1946 cho đến tháng 10 năm 1949

Ngày 1 tháng 10 năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã buộc chính quyền Quốc Dân Đảng củaTưởng Giới Thạch tháo chạy sang Đài Loan (tháng 12 năm 1949), thành lập ra TrungHoa Dân Quốc và Tưởng Giới Thạch trở thành Tổng thống đầu tiên của Trung HoaDân Quốc Tại đây, Tưởng Giới Thạch đã củng cố, xác lập vị trí lãnh đạo cũng nhưquyền điều hành chính sự của Quốc Dân Đảng, tiến hành công cuộc khôi phục và xâydựng kinh tế - xã hội ở Đài Loan Do kết cục của cuộc nội chiến cũng như bối cảnh

Trang 24

của cuộc chiến tranh lạnh diễn ra ngay sau đó, cả hai bên đã không giải quyết đượcvấn đề thống nhất đất nước Từ đó đã dẫn đến tình trạng hai bờ eo biển Đài Loan vớihai thể chế chính trị song song tồn tại là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Đại lục vàTrung Hoa Dân Quốc tại đảo Đài Loan Từ năm 1949 đến nay, cả hai đảng cầm quyền(Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Quốc Dân Đảng) đã bắt tay vào công cuộc xây dựngđất nước theo hai chế độ chính trị hoàn toàn đối lập.

Lịch sử đã cho thấy rằng trước khi chia cắt thì Trung Quốc và Đài Loan là mộtkhối liền Việc xuất phát chung từ một nguồn gốc lịch sử ấy đã đến sự gần gũi, tươngđồng về văn hóa và ngôn ngữ Nhìn trên tổng thể thì có thể thấy rằng, văn hóa ĐàiLoan là một bộ phận của văn hóa Trung Hoa tuy nhiên ở khía cạnh nào đó, văn hóaĐài Loan vẫn có những nét riêng biệt và đặc trưng

Trung Quốc đã và đang sở hữu một nền văn hóa cổ xưa, có truyền thống dài lâu

và vô cùng độc đáo Dựa vào những chứng cứ từ các tài liệu khảo cổ học, các nhà khoahọc đều thừa nhận văn hóa Trung Hoa phát nguyên từ lưu vực sông Hoàng Hà cáchnay hơn 5000 năm [32] Khi mới định hình địa bàn Trung Quốc mới chỉ là một vùngnhỏ ở trung lưu sông Hoàng Hà Từ đó lãnh thổ Trung Quốc được mở rộng dần TrungQuốc là một quốc gia rộng thứ ba trên thế giới, có tới 5 đới khí hậu khác nhau MiềnTây đất cao có nhiều núi khí hậu khô hanh, miền Đông thấp hơn lại gần biển khí hậutương đối ôn hòa Chính điều này đã góp phần tạo nên tính đa dạng trong bức tranhvăn hóa Trung Quốc Ở Trung Quốc không chỉ có văn minh lúa nước, mà còn có cảđồng cỏ phù hợp với văn minh du mục, có văn hóa miền núi lại có cả văn hóa biển Sự

đa dạng của các đới khí hậu dẫn đến sự đa dạng trong điều kiện sống Từ đó làm nêntính cách đa dạng và hài hòa của con người Trung Quốc, đặc biệt tính cách TrungQuốc là sự kết hợp những giá trị tưởng như đối lập của cả văn minh nông nghiệp vàvăn minh du mục Một đặc điểm quan trọng nữa là sự phong bế về địa lí: Đông giápbiển, Bắc giáp sa mạc, Tây có núi cao chắn, đặc điểm này đã tạo nên sự ngộ nhận về

“tính chỉnh thể”, “tính toàn vẹn” của văn hóa Trung Quốc Điều này đã trở thànhnguyên tắc tối cao, vô thượng và có những ảnh hưởng tới những nhận định về địa vănhóa cũng như văn hóa chính trị của Trung Quốc trong đó biểu hiện rõ ràng nhất ở cáchđặt tên quốc gia của họ Mô hình thế giới của người Trung Quốc chỉ coi quốc gia mình

là trung tâm và coi thường các nước nhược tiểu ở xung quanh như Tây Nhung, Bắc

Trang 25

Dịch, Đông Di, Nam Man Về cơ bản, cội nguồn văn hóa Trung Quốc là loại hình vănhóa gốc nông nghiệp Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng lúa buộcngười Trung Quốc phải sống định cư tiến hành trồng trọt theo mùa vụ Họ biết thíchnghi với điều kiện tự nhiên và sáng tạo ra nền văn hóa ẩm thực độc đáo cùng với cáchchữa bệnh kỳ diệu của y học phương Đông Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên nêncon người có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với tự nhiên thể hiện ở quanniệm “vạn vật hữu linh”, tư tưởng “kính thiên”, “tôn thiên mệnh” Dần dần nhận thứccủa con người thoát khỏi sắc thái thần bí của tôn giáo, hình thành lối tư duy trực giác

cụ thể, người Trung Quốc đã nêu ra các học thuyết như Âm Dương, Ngũ Hành, BátQuái, sáng tạo ra lịch tính năm, tháng, mùa vụ, sáng tạo ra chữ viết là lối chữ tượnghình, một thứ chữ đồ theo hình ô vuông nguyên nhân có lẽ từ điều kiện sản xuất ruộnglúa khô phân theo lối “tỉnh điền” (ruộng chia theo hình chữ “tỉnh”) Địa bàn phát sinhcủa văn hóa Trung Quốc so với văn hóa Babilon, văn hóa Hy Lạp thì thuận lợi hơnnhưng so với các nền văn hóa khác như Ai Cập, Nam Bắc châu Mỹ thì lại khó khăngấp bội Cuộc đấu tranh với thiên nhiên đã bồi dưỡng cho dân tộc Trung Quốc tinhthần hợp tác giữa người với người, tinh thần coi trọng hòa mục, coi trọng gia đình, coitrọng gia tộc và huyết thống, đặc biệt là tinh thần trách nhiệm và tinh thần nhập thếcủa người Trung Quốc rất cao, khác hẳn với người Ấn Độ rất coi trọng tinh thần xuấtthế Lãnh thổ Trung Quốc rộng lớn có nhiều dân tộc khác nhau cùng nhau sinh sống,bên cạnh đó lại có đường biên giới tiếp giáp với 13 quốc gia rất thuận lợi cho việc tiếpxúc và giao lưu với rất nhiều nền văn hóa lớn của châu Á như văn hóa Ấn Độ, văn hóaHồi giáo ở Trung Á và Tây Á Qua nhiều năm sinh tồn dài lâu, các dân tộc đều cóquan hệ gắn bó với nhau về nhiều mặt từ nhu cầu sống đến quyền lợi chính trị, kinh tế,văn hóa Tất cả những điều này đã tạo nên tính thống nhất trong đa dạng của văn hóaTrung Quốc Trong đó, người Hán là dân tộc chiếm đa số dân cư, bởi thế văn hóa Hán

là văn hóa chủ đạo xong trong quá trình đồng hóa các dân tộc thiểu số thì người Hánvẫn tiếp thu một số đặc trưng văn hóa của các dân tộc thiểu số để tạo nên một bứctranh văn hóa đa sắc màu Trung Quốc Ở Trung Quốc, các thành tố của văn hóa tinhthần như tôn giáo, lễ chế và tập tục đặc biệt gắn bó, nương tựa và chuyển hóa lẫn nhau,tạo nên nét đặc sắc riêng cho văn hóa Trung Quốc Trung Quốc là quốc gia có nhiềutôn giáo, bao gồm tôn giáo bản địa và cả tôn giáo ngoại lai, những tôn giáo này có ảnh

Trang 26

hưởng to lớn tới tâm linh người Trung Quốc Tôn giáo tiêu biểu nhất của Trung Quốc

là sự dung hợp thành một khối của Nho – Đạo – Phật, mà người ta thường gọi là “Tamgiáo đồng nguyên”, phù hợp với tư tưởng tình cảm và tín niệm của người Trung Quốc.Những giá trị này được bền bỉ bồi đắp qua hàng ngàn năm lịch sử đã tạo nên một nềnvăn hóa lâu đời và rực rỡ, không chỉ có vậy, Trung Quốc còn là một nền văn hóa mở

có sức tiếp nhận và lan tỏa rộng rãi, tạo nên một vùng văn hóa Hán (Hán văn hóaquyển) ảnh hưởng tới nhiều nước trong khu vực và thế giới từ xưa đến nay, trong đóĐài Loan cũng như Việt Nam đều chịu ảnh hưởng khá sâu sắc

Mặc dù đã hơn 40 năm tồn tại cách biệt nhưng có rất nhiều những nét đặc sắccủa văn hóa Trung Quốc luôn tồn tại trong nền văn hóa Đài Loan Trên thực tế thì vănhóa Đài loan là sự pha trộn của nhiều dòng văn hóa khác nhau, trong đó kết hợp chặtchẽ với các yếu tố của văn hóa cổ truyền Trung Quốc, vốn là nguồn gốc lịch sử và dântộc của đa số cư dân hiện nay, ngoài ra còn có ảnh hưởng của văn hóa Nhật Bản và cácsắc màu phương Tây

Sau khi dời đến Đài Loan, Quốc Dân Đảng đã áp đặt các phong tục chính thốngcủa văn hóa truyền thống Trung Quốc cho văn hóa Đài Loan Chính quyền đã tổ chứccác chương trình về nghệ thuật thư pháp, thư họa, nghệ thuật cổ truyền và ca kịchTrung Quốc Cũng như nhiều nước châu Á khác cùng chịu ảnh hưởng của văn hóaTrung Quốc, ngày lễ tết quan trọng nhất trong năm của Đài Loan cũng là Tết âm lịch,đón mừng năm mới từ 30 tháng Chạp đến mùng 3 tháng Giêng theo lịch âm Cũngtheo lịch âm đến ngày 15 tháng Giêng là Tết Nguyên Tiêu – ngày rằm đầu tiên trongnăm với đèn lồng và bánh trôi nước Còn Tết Đoan Ngọ là vào mùng 5 tháng 5 âm lịchthì nhà nhà đều gói bánh ú để biếu tặng lẫn nhau Tết Trung Nguyên ngày rằm tháng 7

âm lịch cũng là một ngày lễ tết quan trọng không kém Đây được coi là ngày “xá tộivong nhân”, mọi nhà đều bày mâm cúng để tạ ơn các thần linh, tưởng nhớ đến ông bà

tổ tiên và cầu cho các linh hồn vất vưởng được siêu thoát Đó hoàn toàn là lễ tiết vàphong tục tập quán của người Trung Quốc xưa và nay Bên cạnh đó, nền văn hóa ẩmthực của Đài Loan cũng mang đậm hương vị và sắc màu Trung Quốc [34] Ngày nay,Đài Loan được du khách nước ngoài biết đến nhiều bởi sự nổi tiếng của các món ăn ỞĐài Loan các món ăn được chế biến theo lối truyền thống bằng phương pháp trộn lẫnmón ăn Phúc Kiến có nguồn gốc từ vùng Tuyền Châu và vùng Chương Châu với món

Trang 27

ăn cổ truyền Các nguyên liệu để chế biến ra các món ăn này thường phản ánh tậpquán ẩm thực của người dân Phúc Kiến Các món ăn Trung Quốc được chế biến bởingười dân ở vùng phía Bắc tỉnh Quảng Đông và người dân ở địa phương Hồ Tây lưutruyền sang Đài Loan cùng thời kỳ xây dựng tỉnh Phúc Kiến cũng đã trở thành mộtphần không thể thiếu trong các món ăn Đài Loan ngày nay Trong các loại thịt để chếbiến món ăn thì thịt lợn được coi là nguyên liệu chủ đạo vì ngày xưa người Đài Loankhông có tập quán ăn thịt bò Nhưng ngày nay kể từ sau chiến tranh, những thực đơn

có sử dụng nguyên liệu thịt bò ngày càng đắt hàng tại các nhà hàng Đài Loan do đãđược du nhập từ Trung Quốc đại lục Ví dụ như món mì của Đài Loan hầu như được

sử dụng nguyên liệu thịt là thịt bò hay các món ăn cao cấp Quảng Đông như súp vây

cá cũng được người Đài Loan hết sức ưa chuộng Một đặc trưng nữa trong các món ănĐài Loan có yếu tố văn hóa của Trung Quốc đó là cách trình bày các món ăn mangyếu tố gia đình Bất kể món ăn nào cũng được trình bày rất đẹp mắt, mang màu sắcquê hương – thể hiện đặc trưng văn hóa coi trọng gia đình, huyết thống của TrungQuốc [34] Ngoài ra, Đài Loan còn được biết đến bởi sự nổi tiếng của các đầu bếp Sauchiến tranh, cùng với sự tràn ngập các binh sĩ Quốc dân Đảng từ Trung Quốc đại lụccòn kéo theo cả đội ngũ những người đầu bếp sang Đài Loan sinh sống Những ngườiđầu bếp này đã phát huy năng lực, sở trường của mình, khéo léo kết hợp với ảnhhưởng của món ăn Nhật Bản trong thời kỳ thống trị của Nhật Bản cũng như chắt lọcnhững tinh khiết của các món ăn Trung Quốc đại lục để sáng chế ra nhiều món ănngon nổi tiếng làm rạng rỡ nền văn hóa ẩm thực Đài Loan Từ sau chiến tranh thế giớilần thứ hai, xã hội Đài Loan hầu như chịu ảnh hưởng nặng nề của chính phủ TrungHoa Dân Quốc và điều này đã trở thành một trong những nền tảng cơ bản để hìnhthành nên nét đặc sắc nền văn hóa ẩm thực Đài Loan Không những vậy, cùng vớiSingapore và Hongkong, kiến trúc Đài Loan cũng phảng phất nét văn hóa Trung Hoahay nền điện ảnh Đài Loan là cũng là một trong ba nền điện ảnh nói tiếng Hoa cùngvới Trung Quốc và Hongkong Ở Đài Loan, tiếng phổ thông chuẩn (hay còn gọi làtiếng Quan Thoại) được công nhận là ngôn ngữ chính thức của Trung Hoa Dân Quốc,ngôn ngữ này được đại đa số dân sử dụng Có đến khoảng 70% người dân Đài Loan làngười gốc Phúc Kiến và họ nói cả tiếng Đài Loan lẫn tiếng Phổ thông Về tôn giáo,trên 93% dân số Đài Loan trung thành với một sự kết hợp đa thần giáo gồm tôn giáo

Trang 28

cổ Trung Hoa, Phật giáo, Khổng giáo và Đạo giáo Chỉ có 3,9% dân số theo ThiênChúa giáo và dưới 2,5% theo các tôn giáo khác [36].

Có thể thấy rằng, mối quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài loan chịu ảnhhưởng không nhỏ của các đặc tính chung về “lực hấp dẫn tiềm năng” như khoảng cáchgần gũi về không gian địa lý, mối liên kết về lịch sử -văn hóa -xã hội, sự bổ sungtương hỗ lẫn nhau về đầu tư

Khoảng cách địa lý rất gần giữa hai bờ eo biển Đài Loan có tác động to lớntrong việc tạo ra mô hình động lực hấp dẫn trong quan hệ trao đổi thương mại cũngnhư mối quan hệ đầu tư giữa Đài Loan và Trung Quốc đại lục Khoảng cách thực tếgiữa thủ phủ Đài Bắc của Đài Loan tới các tỉnh và thành phố vùng ven biển duyên hảicủa Trung Quốc rất gần do đó sẽ giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí vậnchuyển, góp phần hạ thấp chi phí sản xuất và gia tăng lợi nhuận Ngoài ra, hoạt độngđầu tư tiềm năng giữa hai bờ eo biển sẽ hình thành tương đối bền vững bởi đặc điểmđầu tư của nền kinh tế Trung Quốc chủ yếu hút vốn vào còn Đài Loan thì chủ yếu nhảvốn ra Cụ thể, chênh lệch ròng giữa luồng FDI đổ vào và chảy ra của Trung Quốc đạtmức bình quân năm giai đoạn 1991 – 2008 là + 40,1 tỷ USD và có xu hướng đi lên,trong khi đó chênh lệch giữa luồng FDI đổ vào và chảy ra của Đài Loan bình quânnăm trong cùng kỳ đạt -2,4 tỷ USD và có xu hướng đi xuống (ngoại trừ năm 2006 đạtmức +0,026 tỷ USD) [13, tr.23] Như vậy, hai nền kinh tế tự nó đã có một sức hútngầm mạnh mẽ Thêm nữa, mạng lưới người Hoa mà đặc biệt là mạng lưới các doanhnghiệp gia đình người Hoa đang sinh sống và kinh doanh ở hai bên bờ eo biển ĐàiLoan gắn kết chặt chẽ với nhau bởi những mối liên kết về văn hóa, sự hiểu biết lẫnnhau và sử dụng một ngôn ngữ chung là tiếng Hoa Điều này thực sự là một đặc điểmhấp dẫn hiếm có giữa các nền kinh tế khác trên thế giới bởi bất đồng ngôn ngữ và vănhóa luôn là yếu tố cản trở mạnh mẽ sự trao đổi kinh tế giữa các quốc gia, khu vực vàvùng lãnh thổ trên thế giới

Trang 29

1.2.3 Yếu tố chính trị

Nguồn gốc hình thành nên mối quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan

Cho đến tận giữa thế kỷ 17, Đài Loan vẫn còn là một hòn đảo tương đối hoang

sơ, là chỗ trú chân cho các toán cướp biển, thiếu vắng luật pháp và nằm ngoài sự quản

lý của các triều đại phong kiến Trung Quốc Đến năm 1887, Đài Loan chính thức trởthành tỉnh thứ 20 của triều đình nhà Thanh Tuy nhiên, đến năm 1895, do thất bạitrong cuộc chiến tranh Trung – Nhật, nhà Thanh phải giao nộp Đài Loan cho Nhật Bảntheo thỏa thuận hòa ước Shimonoshaki tháng 4/1895 và cũng từ đó Đài Loan nằm dướiách chiếm đóng của Nhật Bản cho đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ hai.Với sự thất bại và đầu hàng của Nhật Bản, Trung Quốc (lúc này do chính phủ QuốcDân đảng đại diện) đã giành lại Đài Loan từ năm 1945 Tuy nhiên, lúc đó Trung Quốcvẫn bị chia cắt thành hai khu vực: vùng do Đảng Cộng Sản Trung Quốc kiểm soát(149 triệu dân, chủ yếu ở Đông Bắc Trung Quốc) và vùng do Quốc Dân Đảng kiểmsoát (2/3 đất đai, 200 triệu dân) trong đó có Đài Loan và Bành Hồ [20, tr.4]

Sau kháng chiến chống Nhật Bản thành công, Đảng Cộng Sản Trung Quốcngày càng lớn mạnh và phát huy được uy tín, trong khi chính quyền Tưởng Giới Thạchngày càng suy yếu và phải lệ thuộc vào viện trợ của Mỹ Mùa xuân năm 1947, nộichiến bùng nổ kéo dài hơn hai năm và kết thúc thắng lợi thuộc về Đảng Cộng SảnTrung Quốc Quốc Dân Đảng tháo chạy ra Đài Loan vào năm 1949 Ngày 1/10/1949,Đảng Cộng Sản Trung Quốc tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa– CHNDTH (nhưng chưa giải phóng được Đài Loan) [20, tr.4]

Như vậy, từ năm 1949, ở Trung Quốc xuất hiện hai chế độ chính trị xã hội khácnhau về mọi mặt Mao Trạch Đông đưa Cộng hòa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa pháttriển theo con đường xã hội chủ nghĩa (XNCN) và chính quyền Đài Loan tiếp tục đitheo con đường của chủ nghĩa tam dân (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinhhạnh phúc) Trung Quốc cho rằng chỉ có một Trung Quốc và chính phủ Cộng hòaNhân dân Trung Hoa là người đại diện hợp pháp duy nhất của Trung Quốc Chínhquyền Đài Loan cho rằng “Cộng hòa Trung Hoa” không hề mất đi khi Cộng hòa nhândân Trung Hoa thành lập và luôn tồn tại ở một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc Tuy

Trang 30

đối đầu nhau nhưng trong nhiều năm kể từ 1949 cả hai đều muốn thống nhất TrungQuốc, đưa Trung Quốc thành một cường quốc hàng đầu thế giới Từ cuối thập kỷ 1970Đài Loan tiến hàng cải cách về chính trị, từ bỏ ý muốn “giải phóng” đại lục nhưngmong muốn khôi phục lại địa vị pháp lý trong cộng đồng quốc tế vì Liên Hợp Quốc(United Nations – UN), Mỹ và đa số quốc gia trên thế giới công nhận Cộng hòa Nhândân Trung Hoa Thực chất, hai bờ eo biển Đài Loan là sự tồn tại hai thực thể chính trịkhác nhau giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và chính quyền Đài Loan với sự giảithích khác nhau về một nước Trung Quốc,về quan điểm thống nhất và phương thứcgiải quyết vấn đề tái thống nhất.

Chính sách của Trung Quốc đối với Đài Loan

Trong suốt 60 năm giải quyết vấn đề Đài Loan thống nhất đất nước, Chính phủTrung Quốc đã căn cứ vào tương quan lực lượng giữa hai bờ eo biển Đài Loan, quan

hệ Mỹ - Trung, tình hình khu vực và thế giới để điều chỉnh chính sách cho phù hợp vớithực tế

Trong đầu thập niên 1950, do tương quan lực lượng giữa Đảng Cộng SảnTrung Quốc với Trung Hoa Dân Quốc có lợi cho Trung Quốc, do chủ trương củanhững phái cứng rắn trong nội bộ lãnh đạo Trung Quốc và sự cần thiết đề phòng mộtcuộc phản công bằng quân sự của chính quyền Đài Loan sau những cuộc khủng hoảng

eo biển (khủng hoảng eo biển lần thứ nhất vào năm 1953; khủng hoảng eo biển lần thứhai vào năm 1954 – 1955 và khủng hoảng eo biển lần thứ ba vào năm 1958) cho nênTrung Quốc mong muốn thực hiện tham vọng giải phóng Đài Loan bằng vũ lực, sửdụng vấn đề này làm công cụ gây sức ép với cả Liên Xô và Mỹ để thực hiên mục tiêuchiến lược của mình Từ nửa cuối thập kỷ 50 trở đi, do gặp nhiều khó khăn trong nướccũng như quốc tế, vấn đề giải phóng Đài Loan được gác lại và cuộc đấu tranh chuyểnsang một hình thức mới là đàm phán hòa bình

Từ năm 1955, Trung Quốc đã bắt đầu đề cập đến biện pháp hòa bình để giảiphóng Đài Loan Đặc biệt, trong Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3,

khóa 11 (1/1979), Ban thường vụ Hội nghị nhân dân toàn quốc đã đề ra: “Phương châm chính trị lớn về hòa bình, thống nhất Tổ quốc”, trong đó phương châm của Đảng

Trang 31

cộng sản Trung Quốc đối với Đài Loan được điều chỉnh từ “giải phóng Đài Loan bằng vũ lực” sang phương thức thông qua “hiệp thương hòa bình, đàm phán chính trị

để thực hiện thống nhất đất nước” [17, tr.32] Từ đây, Trung Quốc đưa ra nhiều tuyên

bố, phương châm trong chủ trương thống nhất hòa bình Đài Loan vào Đại lục Cùngvới những thay đổi lớn về chủ trương, chính sách, Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnhnhiều biện pháp tuyên truyền về chủ trương này như Bộ ngoại giao đưa ra 5 quyết địnhliên quan đến việc đi lại, buôn bán giữa hai bờ; Bộ Thương mại đưa ra 4 kiến nghị vềviệc thông thương; Bộ bưu điện đưa ra 4 quyết định về thông bưu chính viễn thông;Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đưa ra 5 kiến nghị về tiến hành hợp tác giữa hai bờ

Từ năm 1983, chính sách “thống nhất hòa bình, một nước hai chế độ” được nhiều thế

hệ lãnh đạo của Trung Quốc theo đuổi và đặc biệt là sau khi Hồng Kông trở về TrungQuốc (1997), chính sách này càng được Trung Quốc thúc đẩy và coi trọng [17, tr.33]

Bước sang thế kỷ 21, quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan có nhiều biến cốthăng trầm Đầu năm 2000, được sự ủng hộ của Lý Đăng Huy, Đảng Dân Chủ tiến bộ

đã thắng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biển – người gốc ĐàiLoan trở thành Tổng thống thứ 4 của Đài Loan Trong giai đoạn 8 năm cầm quyền(2000 – 2008), Tổng thống Trần Thủy Biển theo đuổi chính sách đối kháng – chủ

trương Đài Loan độc lập; chống lại việc thống nhất Trung Quốc, phủ nhận “Nhận thức chung 1992” 1 đã khiến cho quan hệ hai bờ ngày càng trở nên căng thẳng, thậm chí lànhiều lúc rơi vào tình thế đối đầu

Với chủ trương giải quyết vấn đề Đài Loan một cách hòa bình, chính sách cơ

bản và nhất quán của Trung Quốc luôn kiên trì nguyên tắc “một nước Trung Quốc”, thực hiện theo phương châm cơ bản “hòa bình thống nhất, một nước – hai chế độ”,

“chủ trương 8 điểm” và “Luật chống chia cắt đất nước” trong tiến trình thúc đẩy hòa

bình, thống nhất Tổ quốc và phát triển quan hệ hai bờ Đây có thể xem là kim chỉ nam

1

Trong cuộc hội đàm giữa Uông Đạo Hàm (ARATS) và Cố Chấn Phủ (SEF) diễn ra tại Singapore từ ngày 27/4 – 29/4/1992, hai bên đã đạt được nhận thức chung về “một nước Trung Quốc, hai cách diễn đạt” Theo cách diễn đạt của Trung Quốc “một nước Trung Quốc” là CHND Trung Hoa, Đài Loan chỉ là một bộ phận của CHND Trung Hoa Cách diễn đạt của Đài Loan cho rằng: “một nước Trung Quốc” là Trung Hoa dân quốc thành lập từ năm 1911, bao gồm cả Trung Quốc và Đài Loan, hai thực thể chính trị tồn tại độc lập với nhau.

Trang 32

cho mục tiêu giải quyết vấn đề eo biển Đài Loan của Chính phủ Trung Quốc trongsuốt giai đoạn Đảng Dân Tiến cầm quyền.

Phương châm “một quốc gia – hai chế độ” được hình thành từ quá trình đàm

phán thiết lập quan hệ ngoại giao giữa CHND Trung Hoa với Mỹ vào thập kỷ 70 thế

kỷ 20 Khi đó (và ngay cả hiện nay), vấn đề Đài Loan trở thành trở ngại lớn nhất trongđàm phán Trung Quốc – Mỹ Trước tình hình đó, tiếp thu tư tưởng của các nhà lãnhđạo Trung Quốc thời kỳ Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình lần đầu tiên đề xuất ý

tưởng giải quyết vấn đề Đài Loan theo phương châm “một quốc gia – hai chế độ”.

Nghĩa là, sau khi thống nhất với Đại lục, Đài Loan tiếp tục giữ nguyên chế độ kinh tế

-xã hội tư bản chủ nghĩa (TBCN) vốn có theo nguyên tắc “người Đài Loan tự quản lý người Đài Loan” Trải qua các kỳ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc lần thứ 14,15,

16, 17, 18 Đảng Cộng Sản Trung Quốc thì phương châm này luôn được các nhà lãnhđạo Trung Quốc coi đó là điều kiện tiên quyết để tiến tới hòa thành mục tiêu hòa bình,thống nhất đất nước [4, tr.22]

“Chủ trương 8 điểm về quan hệ Trung Quốc – Đài Loan: ngày 30/1/1995, Tổng

bí thư Giang Trạch Dân đã công bố “Chủ trương 8 điểm quan hệ giữa Trung Quốc và Đài Loan” bao gồm những điểm cụ thể như: 1) Kiên trì nguyên tắc một nước Trung

Quốc là cơ sở và là tiền đề cho việc hòa bình thống nhất Chủ quyền và toàn vẹn lãnhthổ của Trung Quốc không được chia cắt Kiên quyết phản đối bất kỳ hành động nàonhằm tạo ra “Đài Loan độc lập”, “một Trung Quốc, một Đài Loan”, “hai nước TrungQuốc” đi ngược lại với nguyên tắc một Trung Quốc 2) Không phản đối quan hệ giaolưu trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa của Đài Loan với nước ngoài Nhưng kiên quyếtphản đối các thế lực núp dưới danh nghĩa “mở rộng không gian sinh tồn quốc tế” nhằmtạo thành “hai nước Trung Quốc” hoặc “một Trung Quốc, một Đài Loan” 3) Tiếnhành đàm phán hòa bình thống nhất giữa hai bờ eo biển Trong quá trình đàm phánhòa bình thống nhất, nhân sĩ các đoàn thể và các đảng phái ở Đài Loan có thể cùngtham gia Dưới tiền đề một nước Trung Quốc, vấn đề gì cũng đều có thể bàn Bước đitrước tiên, hai bên có thể tiến hành đàm phán việc “dưới nguyên tắc một nước TrungQuốc”, chính thức kết thúc tình trạng đối đầu giữa hai bờ 4) Nỗ lực thực hiện hòa

Trang 33

bình thống nhất, người Trung Quốc không đánh người Trung Quốc 5) Hướng tới sựphát triển kinh tế thế giới trong thế kỷ 21, hai bờ cần phải tăng cường hơn nữa hợp tácgiao lưu kinh tế, vì lợi ích kinh tế chung và sự phồn vinh, thịnh vượng của cả dân tộcTrung Hoa 6) Đại gia đình các dân tộc Trung Hoa cùng nhau tạo nên nền văn hóasáng lạn 5000 năm, cùng nhau gìn giữ sợi dây gắn bó tinh thần và đó cũng chính là cơ

sở quan trọng để thực hiện hòa bình, thống nhất đất nước 7) Hai mươi mốt triệu đồngbào Đài Loan, bất luận là người gốc Đài Loan hay ở tỉnh khác đều là người TrungQuốc, đều là đồng bào máu thịt, là anh em tay chân của chúng ta Cần phải tôn trọngđầy đủ phương thức sinh hoạt và nguyện vọng tự làm chủ của đồng bào Đài Loan 8)Chúng ta hoan nghênh các nhà lãnh đạo Đài Loan đến thăm Đại lục, đồng thời chúng

ta cũng sẵn sàng chấp nhận lời mời đến thăm Đài Loan [4, tr.24]

“Luật chống chia cắt đất nước”: Ngày 14/3/2005 tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa 10 Trung Quốc đã thông qua “Luật chia cắt đất nước” Đây là bộ luật đầu tiên

khẳng định về mặt pháp lý lập trường của Nhà nước Trung Quốc trong việc giải quyết

quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan nhằm thực hiện thống nhất đất nước “Luật chống chia cắt đất nước” bao gồm 10 điều, trong đó nội dung cơ bản khẳng định rõ

ràng, nếu thế lực Đài Loan độc lập thực hiện tách Đài Loan ra khỏi Trung Quốc dướibất kỳ danh nghĩa nào, hình thức nào hoặc xảy ra biến cố dẫn đến việc Đài Loan bịchia cắt khỏi Trung Quốc, hoặc khả năng cố gắng giải quyết bằng phương pháp hòabình thống nhất không còn thì Trung Quốc buộc phải sử dụng phương thức phi hòabình hay biện pháp cần thiết khác để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ Nói một

cách khái quát, “Luật chống chia cắt đất nước” giúp mở rộng hơn không gian hòa

bình thống nhất và thắt chặt hơn nữa không gian của các thế lực chủ trương Đài Loanđộc lập ở Đài Loan [4, tr.24]

Vào những năm cuối của thập niên đầu thế kỷ 21, nhất là kể từ sau khi QuốcDân Đảng trở lại nắm quyền ở Đài Loan, trên tinh thần thái độ tích cực, mềm dẻo vàthực tế hơn của cả hai bên, có thể nói đã mở ra trang mới trong quan hệ hai bờ Trong

lễ kỷ niệm 30 năm ngày Quốc vụ viện Trung Quốc viết “Thư gửi đồng bào Đài Loan”

tổ chức tại Bắc Kinh vào ngày 31/12/2008, Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào đã có bài phát

Trang 34

biểu thể hiện đầy đủ quan điểm của Chính phủ Trung Quốc về quan hệ hai bờ, thôngqua 6 điểm cơ bản: 1) Tăng cường tin cậy chính trị lẫn nhau trên cơ sở giữ vữngnguyên tắc “một nước Trung Quốc” Với tinh thần xây dựng, hai bờ cùng hướng tớitương lai, chung tay nỗ lực, tạo dựng tương lai, hiệp thương bình đẳng, từng bước giảiquyết các vấn đề do lịch sử để lại và những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình pháttriển 2) Xúc tiến quan hệ hợp tác kinh tế, cùng thúc đẩy phát triển Đài Loan và Đạilục có thể tiến tới ký kết hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện, xây dựng cơ chế hợp táckinh tế đặc sắc hai bờ, thực hiện mục tiêu bổ sung ưu thế cho nhau, cùng có lợi ở mức

độ cao nhất 3) Phát huy văn hóa Trung Hoa, tăng cường mối dây tinh thần, tăngcường hiệp thương và giao lưu văn hóa hai bờ 4) Tăng cường giao lưu thăm viếng lẫnnhau, mở rộng giao lưu giữa các giới chức Đại lục sẵn sàng hồi đáp những ý kiến cólợi cho việc thúc đẩy quan hệ hai bờ phát triển hòa bình [4, tr.25] 5) Bảo vệ chủ quyềnquốc gia, hiệp thương những vấn đề liên quan đến lĩnh vực đối ngoại Cần phải tránhnhững việc làm gây căng thẳng hai bờ ảnh hưởng đến lợi ích chung của dân tộc TrungHoa Thông qua hiệp thương, có thể giải quyết hợp tình hợp lý vấn đề Đài Loan thamgia vào các tổ chức quốc tế, trên nguyên tắc không tạo thành “hai nước Trung Quốc”

hoặc “một Trung Quốc, một Đài Loan” Thực hiện thống nhất đất nước là việc “nội bộ

của Trung Quốc, không tiếp nhận bất cứ sự can thiệp nào từ các thế lực bên ngoài” 6)Kết thúc tình trạng đối đầu, tiến tới hiệp thương hòa bình Để có lợi cho đàm phánhiệp thương, hai bờ có thể thảo luận những vấn đề chính trị đặc thù, chưa thống nhất,hết sức tránh những bất đồng giữa hai bên, để đảm bảo cục diện ổn định, giảm lo lắng

về nguy cơ an ninh quân sự, hai bên có thể suy nghĩ thiết lập cơ chế an ninh quân sựtin tưởng lẫn nhau [4, tr.26]

Có thế nói, “6 điểm của Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào” không chỉ là sự tổng kết

mang tính hệ thống sâu sắc về quan hệ hai bờ trong vòng 30 năm trở lại đây mà cònđược xem là bản cương lĩnh có tính chỉ đạo về chính sách cuả Trung Quốc đối với ĐàiLoan trong thời kỳ phát triển hòa bình, hình thành cục diện phát triển mới trong quan

hệ hai bờ, là trụ cột chính sách đốì với Đài Loan trong tương lai

Trang 35

Nói một cách khái quát, chính sách của Đại lục đối với Đài Loan tập trung vào

phương châm cơ bản “hòa bình phát triển, một nước – hai chế độ” với trọng điểm

trước mắt là thông qua quan hệ giao lưu kinh tế để tiến dần tới hiệp thương hòa bình.Chính sách này đã và sẽ là một trong những nền tảng quan trọng trong việc mở rộng

và phát triển quan hệ kinh tế với Đài Loan

Chính sách của Đài Loan đối với Trung Quốc đại lục

Sau khi rời ra đảo Đài Loan, chính quyền Quốc Dân Đảng đã đưa ra 3 nguyên

tắc “không tiếp xúc, không đàm phán, không thỏa hiệp” (còn gọi là nguyên tắc “3 không”) với Đảng cộng sản Trung Quốc Ba nguyên tắc này được thực hiện một cách

triệt để trong suốt ba thập kỷ 50, 60 và những năm đầu của thập kỷ 70 Cuối năm

1978, đồng thời với việc thực hiện chính sách cải cách mở cửa nền kinh tế, Đảng vàChính phủ Trung Quốc chủ trương nối lại quan hệ với chính quyền Quốc dân đảng,kêu gọi nhân dân Đài Loan bỏ thù địch, cùng hợp tác kinh tế, tìm giải pháp thống nhấtđất nước bằng biện pháp hòa bình Đứng trước yêu cầu và lợi ích phát triển đầu tư vàthương mại cũng như nhu cầu giao lưu kinh tế với Đại lục của các doanh nghiệp ĐàiLoan, chính quyền Đài Loan đã nới lỏng hơn những quy định nghiêm ngặt trước đâytrong quan hệ với Đại lục Đây được coi là bước chuyển biến quan trọng trong quátrình thiết lập mối quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan

Trong thời kỳ Tưởng Giới Thạch và Tưởng Kinh Quốc, Đài Loan chủ trương

“một nước Trung Quốc” nhưng từ khi Lý Đăng Huy lên năm chính quyền (1988) –

thời kỳ những năm 90 thì Đài Loan chuyển sang thực hiện một chính sách vừa thựcdụng, vừa khôn khéo Tình hình căng thẳng ở eo biển đã lắng dịu nhưng phong tràoĐài Loan độc lập vẫn giữ nguyên trạng, Đài Loan tiến hành mở cửa quan hệ mậu dịch,kinh tế gián tiếp ngày càng tăng với Trung Quốc, dùng quan hệ và lợi ích kinh tế củahai bên để ngăn chặn chiến tranh và tạo môi trường hòa bình để phát triển kinh tế, mởrộng không gian đối ngoại, nâng cao địa vị quốc tế của Đài Loan

Bước sang thế kỷ 21, trong suốt thập niên đầu cho đến trước khi Quốc DânĐảng trở lại nắm quyền (giai đoạn 2000 - 2008) quan hệ hai bờ trong trạng thái căng

Trang 36

thẳng, nhiều lúc rơi vào tình cảnh đối đầu do Trần Thủy Biển có phần quyết liệt, mạnh bạo hơn chính quyền Lý Đăng Huy trong thực hiện mục tiêu Đài Loan độc lập.

Trong diễn văn nhậm chức ngày 20/5/2000, Trần Thủy Biển (người gốc ĐàiLoan) đã đưa ra cam kết “5 không” trong quan hệ hai bờ Đó là: không tuyên bố độclập; không thay đổi quốc hiệu; không đưa thuyết “hai nước” vào Hiến pháp; không

tiến hành trưng cầu dân ý về thống nhất hay độc lập; không xóa bỏ “Cương lĩnh thống nhất”2 Thế nhưng để thực hiện cam kết này, Đài Loan và Đại lục sẽ phải cùng nhaugiải quyết vấn đề “một nước Trung Quốc” trong tương lai và Trung Quốc không được

có ý định sử dụng vũ lực đối với Đài Loan Đây là cách nói lấp lửng đầy ẩn ý thể hiệnngay từ đầu lập trường của Trần Thủy Biển Bởi, tuy cam kết “5 không” nhưng việcthừa nhận nguyên tắc “một nước Trung Quốc” lại hết sức mơ hồ, né tránh với nhiềuđiều kiện đi cùng

Sau khi nhận chức Chủ tịch Đảng Dân Tiến ngày 26/7/2002, Trần Thủy Biển

đưa ra chính sách “7 điểm về quan hệ hai bờ”: 1) Quán triệt nguyên tắc “hòa giải thiện

chí, tích cực hợp tác, hòa bình vĩnh viễn” 2) Đài Loan là một quốc gia độc lập có chủquyền 3) Thúc đẩy bình thường hóa hoàn toàn quan hệ hai bờ eo biển, thành lập các

cơ chế tương tác 4) Dưới tiền đề “giải quyết hòa bình, đối xử công bằng”, bất kỳ vấn

đề gì đều có thể đàm phán và đối thoại 5) Đài Loan sẵn sàng đóng vai trò tích cực đểgiúp Trung Quốc hiện đại hóa, dân chủ hóa 6) Gia nhập WTO, hai bờ eo biển cùngbình đẳng tham gia vào cộng đồng quốc tế, cùng tồn tại phồn thịnh 7) Để xây dựnglòng tin, hai bên cũng tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tích cực thúc đẩy các chuyếnthăm của lãnh đạo hai bên [4, tr.29]

Tiếp đến ngày 3/8/2002, Tổng thống Trần Thủy Biển lại tiếp tục nhấn mạnh

một lần nữa chủ trương đối với Đại lục của mình bằng việc đưa ra quan điểm “nhất biên – nhất quốc” – mỗi nước mỗi bờ, phản đối “một Trung Quốc” và mô hình “một

2

Tháng 2/1991, chính quyền Quốc Dân đáng công bố “Cương lĩnh thống nhất đất nước” trong đó có ý tưởng

“một Trung Hoa, hai thực thể chính trị ngang bằng nhau” và chia tiến trình thống nhất thành 3 giai đoạn, nhưng không hạn chế về thời gian “khi đủ điều kiện chín muồi” sẽ chuyển sang giai đoạn sau” [4, tr.28].

Trang 37

quốc gia – hai chế độ”, kiên quyết bảo vệ Đài Loan như là một thực thể chính trị bình

đẳng với Trung Quốc [4, tr.29]

Sau khi tái đắc cử Tổng thống (2004), Trần Thủy Biển tiếp tục có nhiều bước

đi, hành động mạnh mẽ trong việc cổ xúy chủ trương Đài Loan độc lập như in hai chữ

“Đài Loan” vào hộ chiếu thay cho “Trung Hoa Dân Quốc” nhằm chuyển quốc hiệu

“Trung Hoa Dân Quốc” sang “Cộng hòa Đài Loan”; chấm dứt hoạt động của Quỹ giaolưu hai bờ và “Cương lĩnh thống nhất đất nước”; bác bỏ đề nghị của Trung Quốc nốilại đàm phán thực hiện “tam thông”; đóng cửa Văn phòng đại diện Tân Hoa Xã và

Nhân dân nhật báo tại Đài Bắc Có thế thấy chính sách “7 điểm về quan hệ hai bờ” và

quan điểm “nhất biên – nhất quốc” đã thể hiện rõ ràng quan điểm của chính quyềnTrần Thủy Biển trong vấn đề thừa nhận nguyên tắc “một nước Trung Quốc” của BắcKinh

Tuy nhiên, trên thực tế ngay từ khi đưa ra chính sách “Đài Loan độc lập”, chínhquyền Trần Thủy Biển gặp phải nhiều sự phản ứng không chỉ là của Bắc Kinh mà còncủa dư luận trong và ngoài hòn đảo Xét về yếu tố chủ quan thì các chính sách củaĐảng Dân Tiến đã khống chế, kiểm soát quan hệ mậu dịch, đầu tư với Trung Quốc.Điều này đương nhiên sẽ bị giới doanh nghiệp Đài Loan phản đối mạnh mẽ Xét vềcác yếu tố khác, những hành động của chính quyền Trần Thủy Biển không được Mỹủng hộ Chính phủ Mỹ bị Trung quốc gây sức ép nhiều lần, đã công khai yêu cầu ĐàiLoan không được đi quá xa nguyên tắc “một Trung Quốc” Việc đưa ra chủ trươngkhông bám sát thực tế đó, cộng thêm việc trong 8 năm cầm quyền thì nội bộ Đảng DânTiến nảy sinh nhiều mâu thuẫn về đường lối đối nội, đối ngoại, xuất hiện nhiều tệ nạntham nhũng trong nội các đã khiến cho uy tín của Đảng Dân Tiến và Trần Thủy Biểnngày càng xuống cấp mở đường cho việc Quốc Dân đảng trở lại nắm quyền lãnh đạoĐài Loan

Trong diễn văn nhậm chức Tổng Thống Đài Loan (5/2008) Mã Anh Cửu đã

nhắc lại quan điểm của Tổng Bí Thư Hồ Cẩm Đào về quan hệ hai bờ, đó là “nhìn thẳng hiện thực, tạo dựng tương lai, tạm gác tranh cãi, hai bên cùng thắng” Đây

được xem là điểm khởi đầu tốt đẹp cho quá trình thúc đẩy quan hệ hai bờ theo hướng

Trang 38

hòa bình, tạo cục diện ổn định cho khu vực Lập trường, chính sách của Mã Anh Cửutrong quan hệ với Đại lục được mô tả là thiên về nguyên trạng (nghĩa là nguyên trạng

về chính trị), hoạt động theo nguyên tắc “3 không” (không tuyên bố độc lập; không thống nhất; không sử dụng vũ lực) và thừa nhận “Nhận thức chung 1992” [4, tr.31].

Trên cơ sở chính sách mới của chính quyền Đài Loan, các cuộc tiếp xúc giữahai bờ eo biển nhanh chóng được nối lại Tháng 6/2008, Phó chủ tịch Quốc Dân ĐảngGiang Bỉnh Khôn đã tiến hành đàm phán với chủ tịch Hiệp hội quan hệ hai bờ eo biểnĐài Loan – Trần Văn Lâm xung quanh vấn đề khôi phục “tam thông” và phát triểnquan hệ hai bờ Tiếp đó, tháng 11/2008, Trần Văn Lâm cùng đoàn đại biểu “Hiệp hộiquan hệ hai bờ” chính thức đến thăm và làm việc với các cơ quan hữu quan của ĐàiLoan Thông qua hai vòng hội đàm Giang Bỉnh Khôn – Trần Văn Lâm hai bên đã đạtđược nhiều hợp tác quan trọng như: cư dân Đại lục được đến Đài Loan du lịch Hủy bỏquy định hạn chế tối đa người Đại lục đến Đài Loan được thực hiện trong 30 năm qua

kể từ khi hai bên nối lại quan hệ vào năm 1979; nối thông đường bay Đại lục – ĐàiLoan; nối thông đường hàng hải; nối thông bưu chính viễn thông hai bờ; hợp tác antoàn thực phẩm

Hai bờ nối lại đàm phán sau 10 năm gián đoạn là một sự kiện nhận được sựđồng tình của đông đảo người dân Đài Loan Theo số liệu điều tra về kết quả “Hộiđàm Giang Bỉnh Khôn – Trần Văn Lâm” cho thấy 61,8% người được hỏi cho rằng hộiđàm có ảnh hưởng tốt đến Đài Loan; 14,4% cho rằng ảnh hưởng không tốt; 15% chorằng không có ảnh hưởng gì đến Đài Loan và 8% không có ý kiến [4, tr.32]

Từ năm 2010 trở đi, quan hệ hai bờ trở nên nồng ấm hơn sau khi hai bên đi đến

ký kết Hiệp định ECFA (Economic Cooperation Framework Agreement) (6/2010).Việc ký kết Hiệp định ECFA được xem là có ý nghĩa quan trọng mang tính bước ngoặtđối với sự phát triển quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan Tiếp đó vào tháng 7/2010, Chủtịch Quốc Dân Đảng Ngô Bá Hùng đến Bắc Kinh gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào.Cuộc gặp gỡ này được nhận định là mang tính lịch sử bởi ông Ngô Bá Hùng đã gián

tiếp chuyển đến Tổng Bí Thư Hồ Cẩm Đào 16 chữ “nhìn thẳng hiện thực, tích lũy

Trang 39

lòng tin, cầu đồng tồn dị, tiếp tục song thắng” của Tổng thống Mã Anh Cửu và hy

vọng sau khi hai bờ ký ECFA sẽ tiếp tục có bước tiến dài dựa trên nguyên tắc này

Việc Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu thông qua ông Ngô Bá Hùng phát đi

16 chữ đã thể hiện phần nào thiện chí của Đài Loan với Đại lục Những chủ trương

“giữ nguyên hiện trạng”, “3 không”, “thông điệp 16 chữ” đã có tác dụng trước mắt làmgiảm nguy cơ xung đột hai bờ, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân Đài Loan Xét

về lâu dài, chính sách này nếu được Đài Loan tiếp tục duy trì sẽ góp phần thúc đẩy hòabình và phát triển quan hệ giữa hai bờ trong tương lai

Eo biển Đài Loan có một vị trí địa chiến lược vô cùng quan trọng Nằm ở haibên eo biển Đài Loan thì cả Đài Loan và Trung Quốc đều có những cơ sở nhất định đểcùng nhau hợp tác và phát triển Bên cạnh các yếu tố khách quan về vị trí địa lý, tàinguyên thiên nhiên, sự gần gũi về truyền thống văn hóa – xã hội, xu thế toàn cầu hóa

và khu vực hóa diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới là yếu tố chủ quan xuất phát từ nhucầu nội tại của mỗi bên để phát triển nền kinh tế của mình Cả Đài Loan và TrungQuốc đều liên tục đưa ra những điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh thực tế mới để thúcđẩy trao đổi đầu tư và thương mại với nhau Đây hoàn toàn là một mối quan hệ pháttriển theo đúng quy luật tất yếu của tự nhiên và đáp ứng được quyền lợi của nhân dânmỗi bên, góp phần vào sự phát triển chung của kinh tế khu vực và trên thế giới

Trang 40

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN ĐÀI LOAN TỪ

NĂM 1979 ĐẾN NAY 2.1 Tổng quan chính sách kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan

Năm 1987, sau gần 10 năm Trung Quốc đại lục thực hiện chính sách cải cách

mở cửa, đồng thời cũng là năm đánh dấu Đài Loan hủy bỏ lệnh thiết lập quân luậtđược áp dụng từ năm 1947, cho phép người dân Đài Loan về Đại lục thăm gia đình,thăm quê quán Đây là cơ hội thuận lợi để các thương gia Đài Loan bắt đầu tiến hànhkhảo sát thị trường Đại lục nhằm tìm kiếm cơ hội đầu tư Có thể nói, nhờ vào nhữngđộng thái tích cực của hai bên đã giúp cho giao lưu kinh tế, văn hóa dân gian giữa hai

bờ có nhiều bước phát triển nhanh chóng, cục diện “ngăn cách” phần nào bị phá vỡ.Tuy nhiên, trong quá trình giao lưu giữa hai bên đã nảy sinh nhiều vấn đề cần giảiquyết, đòi hỏi phải có tổ chức điều phối hoạt động Tháng 2/1991, Đài Loan đã thànhlập Quỹ giao lưu hai bờ eo biển (SEF – Straits Exchange Foundation) – tổ chức dân sựtrung gian được ủy quyền tham gia hiệp thương với Đại lục Đến tháng 12/1991, Đạilục cũng thành lập một tổ chức đồng cấp – Hiệp hội quan hệ hai bờ eo biển (ARATS –Association for Relations Across the Tawan Straits) để thực hiện đối thoại với ĐàiLoan Như vậy, sau hơn 40 năm căng thẳng và đối đầu, đây là lần đầu tiên một kênhliên lạc giữa hai bờ đã được khởi động, điều này đã mở ra một giai đoạn mới trongquan hệ hai bờ

Được sự ủy quyền của Chính phủ Trung Quốc và chính quyền Đài Loan, SEF

và ARATS chính thức bắt đầu tiến hành tiếp xúc, hiệp thương, đưa ra “Nhận thức chung 1992” và đến tháng 4/1993 Chủ tịch ARATS Cố Chấn Phủ và Chủ tịch SEF

Uông Đạo Hàm đã tổ chức cuộc hội đàm lịch sử “Uông – Cố” tại Singapore Trongcuộc hội đàm, hai bên đã trao đổi các vấn đề trong hợp tác giao lưu kinh tế giữa hai bờbao gồm: các chủ trương cơ bản trong hợp tác; trực tiếp “tam thông” giữa hai bờ; kiếnnghị thiết lập cơ chế giao lưu kinh tế dân gian; vấn đề đầu tư của thương gia Đài Loantại Trung Quốc; hợp tác khai thác năng lượng, tài nguyên; giao lưu văn hóa, khoa học

kỹ thuật, hợp tác chống buôn lậu, tội phạm trên biển

Ngày đăng: 17/01/2019, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w