1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luan an chinh thuc ngo van thien pdf 10072018110701sa 9773

189 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, nhất là vào giai đoạn đầu của quá trình phát triển, vốn đầu tư là một nhân tố không thể thiếu đòi hỏi Phú Quốc cần phải có các biện pháp huy động

Trang 1

NGÔ VĂN THIỆN

VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ

XÃ HỘI ĐẢO PHÚ QUỐC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017

Trang 2

NGÔ VĂN THIỆN

VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ

XÃ HỘI ĐẢO PHÚ QUỐC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 62 34 02 01 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Tuyết Hoa

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Để có cơ sở vững chắc cho đề tài nghiên cứu, chương này sẽ trình bày một

số nội dung cơ bản có liên quan đến đề tài như tính cấp thiết, mục tiêu, phạm vi, quy trình và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu mang lại sau khi nghiên cứu là gì? Đồng thời thông qua các lược khảo nghiên cứu có liên quan đến

đề tài sẽ giúp tác giả có định hướng chính xác hơn về hướng nghiên cứu của mình

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Phú Quốc là huyện đảo thuộc tỉnh Kiên Giang nằm ở phía Tây Nam của tổ quốc và là trung tâm của khu vực Đông Nam Á, có lợi thế quan trọng trong mối liên kết giao thông hàng hải, hàng không với các quốc gia trong khu vực và thế giới; có tiềm năng to lớn trong phát triển kinh tế nhất là lĩnh vực du lịch, có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng Do sở hữu những tiềm năng đặc biệt, năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 178/2004/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể phát triển đảo Phú Quốc đến 2010, tầm nhìn đến 2020 Tháng 9/2005, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 1197/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội đảo Phú Quốc đến năm

2020 đã xác định mục tiêu xây dựng Phú Quốc trở thành đặc khu kinh tế -hành chính vào năm 2020 với vai trò là trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí cao cấp quốc gia và quốc tế; trung tâm tài chính tầm cỡ khu vực; là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và hàng không quốc tế; là trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ chuyên ngành; bảo tồn đa dạng sinh học rừng và biển của quốc gia và khu vực; có vị trí đặc biệt về an ninh và quốc phòng

Để thực hiện được đề án như trong quy hoạch đòi hỏi Phú Quốc cần phải phát triển một cách đồng bộ cơ sở hạ tầng như đường giao thông, hệ thống cảng biển, sân bay, nhà hàng, khách sạn đủ tầm cở và một đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao để đảm bảo cho nhu cầu phát triển Tuy nhiên sau gần mười bốn năm triển khai đề án, mặc dù sân bay quốc tế đã sớm hoàn thành đưa vào sử dụng, nhiều

Trang 4

khu nghỉ dưỡng cao cấp tầm quốc tế đã được thực hiện nhưng còn nhiều hạng mục

cơ sở hạ tầng vẫn chưa triển khai hoặc có triển khai nhưng còn chậm chưa đáp ứng được cho nhu cầu phát triển Một số dự án điển hình như tuyến đường quanh đảo vẫn chưa được hoàn thiện, hệ thống cảng biển chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách cũng như là trung tâm trung chuyển hàng hóa của khu vực và quốc tế, nhiều

dự án đầu tư của các doanh nghiệp còn dở dang và chậm hoàn thiện làm ảnh hưởng chung đến mỹ quan và kế hoạch phát triển KTXH của Đảo Tất cả những tình trạng trên đều xuất phát từ nguyên nhân thiếu vốn cho đầu tư phát triển

Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, nhất là vào giai đoạn đầu của quá trình phát triển, vốn đầu tư là một nhân tố không thể thiếu đòi hỏi Phú Quốc cần phải có các biện pháp huy động vốn một cách hiệu quả từ nhiều nguồn khác nhau,

cả vốn ngân sách nhà nước, vốn trong và ngoài nước, khơi dậy nguồn lực to lớn trong dân và các doanh nghiệp từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau Để thực hiện được điều đó đòi hỏi Phú Quốc cần phải có một giải pháp hoàn chỉnh ngay từ ban đầu để huy động vốn đầu tư, có như vậy mới tạo ra được một tầm nhìn trong dài hạn giải quyết vấn đề về vốn đáp ứng cho nhu cầu phát triển Về các công trình nghiên cứu mang tính khoa học về vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương thì từ trước đến nay cũng có một số đề tài nghiên cứu như huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội tỉnh Trà Vinh, Tây Nguyên, Vùng núi Phía Bắc…Tuy nhiên nghiên cứu về vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội tại địa phương có định hướng phát triển trở thành đặc khu như Phú Quốc thì chưa được đề

cập Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi đã chọn đề tài: “Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế

xã hội đảo Phú Quốc” để thực hiện luận án tiến sỹ của mình nhằm tìm ra giải pháp

thiết thực tăng cường vốn đầu tư đáp ứng cho phát triển KTXH của Phú Quốc thời gian tới

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của đề tài là tìm ra các giải pháp nhằm tăng cường vốn đầu

tư đáp ứng cho phát triển KTXH tại đảo Phú Quốc thời gian tới

Trang 5

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng vốn đầu tư cho phát triển KTXH thời gian qua tại Phú Quốc như thế nào?

- Tác động của vốn đầu tư đối với phát triển KTXH tại đảo Phú Quốc ra sao?

- Những yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư vào Phú Quốc là gì?

- Chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của những yếu tố này đến thu hút vốn đầu tư tại đảo Phú Quốc như thế nào?

- Giải pháp gì để tăng cường vốn đầu tư cho phát triển KTXH đảo Phú Quốc trong thời gian tới, bao gồm tăng cường huy động và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả cho phát triển KTXH?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của đề tài là vốn đầu tư cho phát triển KTXH đảo Phú Quốc trên cả hai mặt huy động và sử dụng vốn

- Phạm vi nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu, đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng tình hình vốn đầu tư cho phát triển KTXH của đảo Phú Quốc giai đoạn 2011-

2016 trên cả 2 mặt huy động và sử dụng vốn; đánh giá tác động của vốn đầu tư đối với tình hình phát triển KTXH cùng khoảng thời gian trên; nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình thu hút vốn đầu tư, từ đó đề ra giải pháp nhằm tăng cường vốn đầu tư đáp ứng cho nhu cầu phát triển KTXH đảo Phú Quốc thời gian tới Về địa

Trang 6

giới hành chính đảo Phú Quốc thuộc huyện Phú Quốc tỉnh Kiên Giang được quy hoạch theo Quyết định 178/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

1.5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu

+ Thu thập số liệu thứ cấp

Các thông tin, số liệu được thu thập từ các báo cáo khoa học, báo chí, net, hội nghị, báo cáo của Phòng Thống kê huyện Phú Quốc, Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kiên Giang, Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang, Ban Quản lý phát triển đảo Phú Quốc Các thông tin này được tổng hợp và phân tích cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu

inter-+ Thu thập số liệu sơ cấp

Đề tài dựa vào các phiếu điều tra từ 230 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn, sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích số liệu Thời gian khảo sát được tiến hành từ 01/10/2016 đến 31/12/2016

- Phương pháp nghiên cứu

+ Sử dụng phương pháp tổng hợp nhằm khái quát chung về vốn đầu tư, kinh nghiệm huy động và sử dụng vốn đầu tư tại các vùng, miền tại Việt Nam và một số quốc gia

+ Phương pháp phân tích được sử dụng để đánh giá thực trạng vốn đầu tư cho phát triển KTXH đảo Phú Quốc giai đoạn 2011 – 2016 ở tất cả các mặt như: thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế về vốn đầu tư tại Phú Quốc, từ

đó đề ra giải pháp tăng cường vốn đầu tư hiệu quả

+ Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu những kết quả đã đạt được với thời gian trước đó hoặc với các địa phương khác làm cơ sở cho việc đánh giá

+ Phương pháp kế thừa được sử dụng để hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến luận án Kế thừa các kết quả điều tra, khảo sát, quan tâm nghiên cứu một số yếu tố đặc thù (vị trí địa lý, điều kiện KTXH,) tác động đến quá trình huy động và sử dụng vốn đầu tư cho phát triển KTXH của Phú Quốc

Trang 7

+ Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến của các nhà khoa học, lãnh đạo các đơn vị, cán bộ quản lý doanh nghiệp về một số nội dung liên quan

+ Phương pháp điều tra: là khảo sát các doanh nghiệp trên địa bàn dựa trên bảng câu hỏi được thiết kế trước về sự hài lòng của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư tại Phú Quốc Các doanh nghiệp được điều tra bao gồm các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề đang hoạt động, kể cả các tổ chức tín dụng Các thông tin điều tra được là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho quá trình nghiên cứu và là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn

+ Phương pháp định lượng: sử dụng mô hình phân tích khám phá (EFA) kết hợp với hồi quy đa biến được xử lý trên phần mềm SPSS 16.0 để định lượng các yếu tố ảnh hưởng từ đó đưa ra một số đề xuất các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư cho phát triển KTXH đảo Phú Quốc

1.6 Tổng quan về các nghiên cứu trước đó đã công bố

1.6.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Robert Solow (1956) lấy hàm sản xuất Cobb-Douglas làm cơ sở để lập ra mô hình tăng trưởng kinh tế trong điều kiện tiến bộ khoa học, kỹ thuật và đưa ra các tính toán mức độ đóng góp của từng nhân tố lao động, vốn, công nghệ (thông qua tổng năng suất các nhân tố - TFP) vào tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu chỉ ra rằng vốn có vai trò quan trọng, là yếu tố trực tiếp tác động đến phát triển KTXH của quốc gia hay địa phương Trên cơ sở mô hình Solow, từ năm 1956 đến nay, có nhiều nhà khoa học kế thừa nghiên cứu, đánh giá hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển

Michael Regan (2016), nghiên cứu về vai trò của thị trường vốn đối với phát triển kinh tế trong khu vực châu Á Thái Bình Dương Bằng phương pháp tổng hợp thống kê, so sánh tình hình thu hút vốn đầu tư các nước thuộc khu vực giai đoạn

2007 -2014, đồng thời đánh giá tình hình tăng trưởng kinh tế các nước trong cùng khoảng thời gian trên, theo tác giả thị trường vốn có vai trò hết sức quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế các nước trong khu vực châu Á Thái

Trang 8

Bình Dương Thông qua thị trường này có thể huy động vốn trên diện rộng từ bộ phận tư nhân, các tổ chức tài chính trung gian và thị trường trái phiếu Muốn làm được điều này thì việc phát triển thị trường vốn và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài có vị trí hết sức quan trọng gắn liền với việc phát triển kinh tế

Lin Xiong (2010) nghiên cứu về mối quan hệ giữa hiệu quả đầu tư và phát triển tài chính ở Trung Quốc đã dùng hệ số Icor để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế của Trung Quốc bằng việc phân tích hệ số Icor qua các thời kỳ từ 1986 – 2005 cho 3 lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đồng thời phân tích cụ thể từng vùng cho từng địa phương Để đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả vốn đầu tư, tác giả dùng mô hình hồi quy đa biến

để phân tích, theo tác giả hiệu quả đầu tư chung chịu ảnh hưởng từ hiệu quả của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và tùy theo địa điểm đầu tư Vì vậy, nhà đầu tư cần phải nghiên cứu kỹ những nhân tố này trước khi đầu tư

Dunning (1977), một doanh nghiệp chỉ thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (FDI) khi hội đủ 03 điều kiện: (1) Doanh nghiệp phải sở hữu một số lợi thế so với doanh nghiệp khác như: quy mô, công nghệ, mạng lưới tiếp thị, khả năng tiếp cận nguồn vốn có lãi suất thấp hay các tài sản vô hình đặc thù của doanh nghiệp; (2) Nội vi hóa: việc sử dụng những lợi thế đó trong nội bộ doanh nghiệp có lợi hơn là bán hay cho các doanh nghiệp khác thuê; và (3) Sản xuất tại nước tiếp nhận đầu tư

có chi phí thấp hơn là sản xuất tại nước mẹ rồi xuất khẩu Lợi thế địa điểm có thể có được nhờ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động, rào cản thương mại, chính sách khuyến khích đầu tư và cả những tác động ngoại vi mà địa điểm có thể tạo ra cho doanh nghiệp khi hoạt động tại đó

Kinda (2010), nghiên cứu về tăng cường dòng vốn đầu tư tư nhân vào các nước đang phát triển Theo tác giả đầu tư tư nhân gồm có 3 nguồn chính là đầu tư tư nhân trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp Tác giả đã dùng phương pháp phân tích hồi quy đa biến để xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến dòng vốn tư nhân đầu tư ở 58 quốc gia đang phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy

Trang 9

các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút dòng vốn đầu tư tư nhân vào các nước đang phát triển gồm: cơ sở hạ tầng, chính sách đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia, tỷ lệ lạm phát, độ mở của thị trường, giáo dục, tài nguyên thiên nhiên và sự ổn định của nền kinh tế Vì vậy, để tăng cường thu hút các dòng vốn trên thì các nước phải quan tâm cải thiện các yếu tố có ảnh hưởng như đã phân tích

Vidya Bhushan Rawat, Mamidi Bharath Bhushan, Sujatha Surepally (2011), cho rằng Ấn độ đã có nhiều thành công trong việc nâng số lượng các SEZ và góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ từ khoảng năm 2000 đến nay Một số chính sách Ấn Độ đã áp dụng như có nhiều ưu đãi về thuế như miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng cần thiết cho đầu tư, cần thiết cho nhu cầu phát triển của SEZ; giảm 100% thuế thu nhập đối với các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu trong 5 năm đầu, 50% cho 5 năm tiếp theo và giảm tiếp 50% trong 5 năm cuối; miễn thuế đối với lĩnh vực công nghệ cao; liên kết với các khu vực lân cận để cung ứng nguồn nhân lực phục vụ cho nhu cầu; thông tin nhanh chóng các chính sách của Chính phủ đến các doanh nghiệp có nhu cầu; đơn giản hóa thủ tục hành chính, tất cả các thủ tục đều qua bộ phận một cửa đó là văn phòng thương mại Để thu hút các nhà đầu

tư nước ngoài, Chính phủ Ấn Độ đã đầu tư cơ sở hạ tầng để hỗ trợ cho việc vận hành các đặc khu kinh tế, nhiều đặc khu kinh tế có sân bay, hải cảng và ga tàu riêng Tuy nhiên việc phát triển các SEZ ở Ấn độ cũng gặp không ít những hạn chế nhất định như Chính phủ Ấn Độ đã dành các ưu đãi cho các đối tượng nằm ngoài đặc khu kinh tế và rút bớt ưu đãi cho các đặc khu kinh tế khi ký các thỏa thuận mậu dịch tự do (FTA); việc thực hiện các chính sách thương mại nước ngoài vào năm

2009 mà thông qua đó trao một loạt các biện pháp khuyến khích xuất khẩu cho các nhà đầu tư ngoài khu vực đặc khu kinh tế chính là nguyên nhân khiến các đặc khu kinh tế không còn là đích đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư

1.6.2 Các nghiên cứu trong nước

Nguyễn Văn Hùng (2009), nghiên cứu về tăng cường huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên Qua phân tích thực trạng huy động vốn đầu tư vùng Tây Nguyên và tác động của vốn đầu tư đối với các chỉ tiêu kinh tế

Trang 10

xã hội như tốc độ tăng GDP, thu nhập bình quân đầu người, thu ngân sách nhà nước, tình hình xuất nhập khẩu, xóa đói giảm nghèo…từ đó rút ra một số thành tựu

và hạn chế và nguyên nhân về huy động vốn đầu tư cho phát triển KTXH Theo tác giả muốn tăng cường huy động vốn đầu tư cho vùng Tây Nguyên cần có một số giải pháp như cải thiện môi trường đầu tư, chính sách thu hút đầu tư và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế của vùng

Nguyễn Văn Bình (2017), nghiên cứu về tăng cường nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế biển, đảo Việt Nam Qua phân tích thực trạng tình hình quản lý hoạt động đầu tư, các chính sách có liên quan đến hoạt động đầu tư biển, đảo Việt Nam,

từ đó đề ra các giải pháp tăng cường vốn đầu tư hiệu quả Các chính sách được tác giả gợi ý gồm: tăng cường nguồn vốn đầu tư từ ngân sách trung ương, tăng cường vốn từ tư nhân, tăng cường vốn đầu tư từ nước ngoài, tăng cường sự hỗ trợ từ các TCTD và cuối cùng là phải nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng vốn đầu tư

Nguyễn Văn Dũng (2014), nghiên cứu về huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi của Việt Nam Để đạt được mục tiêu nghiên cứu tác giả đã dùng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để phân tích tình hình huy động vốn đầu tư qua các năm để đánh giá tác động của việc huy động vốn đầu tư đến phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số miền núi ở Việt Nam Theo tác giả muốn tăng cường huy động vốn đầu tư cho phát triển KTXH vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam cần phải có chính sách thu hút đầu tư và môi trường đầu tư phải hấp dẫn, ngoài ra các cấp chính quyền địa phương cần phải đổi mới tư duy trong việc quản lý và điều hành kinh tế

Nguyễn Hồng Hà (2015), nghiên cứu về các giải pháp tăng cường huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội tỉnh Trà Vinh Tác giả đã dùng phương pháp tổng hợp, so sánh để phân tích tình hình huy động vốn đầu tư của Trà Vinh giai đoạn 2007-2013, đồng thời sử dụng mô hình phân tích khám phá kết hợp với hồi quy đa biến để xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư Dựa vào các kết quả nghiên cứu đã đạt được theo tác giả muốn tăng cường huy động vốn đầu tư vào tỉnh Trà Vinh thì cần phải có các giải pháp như hoàn thiện cơ sở hạ tầng,

Trang 11

có chính sách thuê đất thích hợp, cải thiện chính sách thuế, tăng cường xúc tiến thương mại địa phương, nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nghề, bảo vệ môi trường và thực hiện tốt việc liên kết vùng

Bùi Mạnh Cường (2012), nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công tại Việt Nam đã hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước về mặt xã hội là: nâng cao mức sống người dân, tạo việc làm, giảm đói nghèo, bình ổn giá cả kiềm chế lạm phát, tăng năng suất lao động, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội Về mặt môi trường: hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, cải thiện chất lượng môi trường và đảm bảo cân bằng môi trường sinh thái Về phát triển bền vững: đóng góp vào phát triển bền vững hệ thống kinh tế, đảm bảo duy trì sự tăng trưởng đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và mức độ nợ công, quản lý bền vững tài nguyên, bền vững đa dạng sinh học, đóng góp vào khoa học công nghệ

Mai Văn Nam (2008), nghiên cứu việc đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển Thành Phố Cần Thơ Khi đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển ở Thành Phố Cần Thơ tác giả đã sử dụng mô hình Slow bằng cách đánh giá mức độ đóng góp của vốn và lao động vào tăng trưởng của thành phố, đồng thời đánh giá hiệu quả đầu tư thông qua chỉ số ICOR Ngoài ra để đánh giá hiệu quả đầu tư về mặt xã hội tác giả sử dụng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người để đánh giá mức sống của người dân

Lê Vinh Danh (2004), nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh có mục tiêu nghiên cứu là phân tích hiện trạng

sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1993-2002; đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh; đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh; từ những thông tin trong quá trình phân tích, xây dựng một chương trình phần mềm giúp các nhà quản lý dự

án, Sở Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan chức năng có liên quan của thành phố có

Trang 12

thể thẩm định sơ bộ mức độ hiệu quả quản lý dự án đầu tư bằng ngân sách hiệu quả đến đâu trong mỗi giai đoạn quản lý

Phan Thanh Mão (2003), nghiên cứu giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An

có đối tượng nghiên cứu là vấn đề chi ngân sách và hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước Công trình này tập trung vào khía cạnh tài chính của đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước, giải pháp trọng tâm là hoàn thiện chính sách, chế độ, quy trình nghiệp vụ tín dụng đầu tư phát triển các vấn đề về quản lý đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước không được đề cập một cách cụ thể

Nguyễn Đầu (2005), nghiên cứu tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp có đối tượng nghiên cứu là quá trình huy động, sử dụng có hiệu quả vốn tài chính là nguồn vốn đầu tư chủ yếu và quan trọng nhất cho đầu tư phát triển kinh tế Nguồn vốn này còn trực tiếp tạo năng lực cho việc giải quyết vấn đề xã hội: giáo dục, y tế, việc làm, xoá đói giảm nghèo ), trong một số trường hợp cần thiết, luận án đề cập đến khía cạnh của

sự phát triển kinh tế - xã hội nhưng không đi sâu vào lĩnh vực xã hội khác

Nguyễn Thị Giang (2010), nghiên cứu tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh tế khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã tập trung nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh

tế ở Đồng bằng sông Cửu Long Luận án đã đánh giá về huy động và sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh tế khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm qua Trong đó luận án phân tích tác động của huy động và sử dụng vốn đầu tư đến phát triển kinh tế - xã hội khu vực đồng bằng sông Cửu Long Trên cơ sở đánh giá thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội, tác giả chỉ ra những thành công và hạn chế trong huy động và sử dụng vốn để phát triển kinh tế khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Từ đó đề xuất các định hướng và các giải pháp

Trang 13

tiếp tục hoàn thiện huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển một cách hiệu quả trên địa bàn khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Đinh Văn Phương (1999), nghiên cứu tình hình thu thút và sử dụng vốn đầu

tư phát triển kinh tế khu vực miền núi phía Bắc đã làm rõ những nội dung cơ bản về vốn đầu tư - vấn đề huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế, đặc biệt làm

rõ vốn đầu tư tăng cường và đầu tư phát triển, mối quan hệ giữa huy động và sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh tế; đề xuất các giải pháp hoàn thiện huy động và

sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả để phát triển kinh tế, trong đó có việc mở rộng mọi hình thức liên doanh, liên kết để huy động vốn đầu tư, chính sách thu hút và sử dụng vốn đầu tư để phát triển Đây là một nội dung trong quá trình quản lý vốn đầu

tư phát triển Do vậy, có thể tham khảo khi nghiên cứu quản lý vốn đầu tư phát triển Tuy nhiên, công trình này chỉ tập trung vào một khía cạnh của cơ chế quản lý vốn đầu tư phát triển

1.6.3 Khoảng trống nghiên cứu và điểm mới của luận án

- Khoảng trống của nghiên cứu: Nhìn chung các công trình nghiên cứu chủ

yếu tập trung vào đánh giá thực trạng tình hình huy động vốn đầu tư, đánh giá tác động của vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, địa phương, khu kinh tế; ngoài ra việc xác định các yếu tố tác động đến việc thu hút vốn đầu tư cũng được nhiều tác giả đề cập…Tuy nhiên, việc nghiên cứu tình hình vốn đầu tư cho địa phương đặc thù sắp trở thành đặc khu hành chính – kinh tế đầu tiên ở Việt Nam vào năm 2020 như Phú Quốc vẫn còn chưa được ngiên cứu làm rõ

- Điểm mới của nghiên cứu: Qua lược khảo các tài liệu nghiên cứu về vốn

đầu tư cho phát triển KTXH, luận án đã thể hiện được các điểm mới sau:

+ Thứ nhất, hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây về vốn đầu tư cho

phát triển KTXH chủ yếu tập trung vào nghiên cứu định tính, rất ít tác giả sử dụng

mô hình phân tích định lượng Đề tài đi sâu nghiên cứu về vốn đầu tư cho phát triển KTXH đảo Phú Quốc là sự kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng

Trang 14

với hệ thống thang đo đặc thù riêng cho điều kiện của đảo Phú Quốc, mặc dù có

sự kế thừa từ một số công trình nghiên cứu trước đó

+ Thứ hai, với nguồn tư liệu phong phú, tin cậy, luận án đã minh chứng,

góp phần làm sáng tỏ thêm thực trạng về huy động vốn đầu tư, sử dụng vốn đầu

tư, tác động của vốn đầu tư đối với phát triển KTXH huyện đảo Phú Quốc những năm 2011-2016

+ Thứ ba, trên cơ sở thực trạng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội

huyện đảo Phú Quốc qua nguồn số liệu thứ cấp, kết hợp với kết quả điều tra khảo sát 230 doanh nghiệp trên địa bàn Phú Quốc, lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư vào Phú Quốc, luận án đã rút ra được những kết luận khách quan về kết quả đạt được, đặc biệt là phát hiện được nhiều hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội

+ Thứ tư, tác giả đã đề xuất được một hệ thống các giải pháp và kiến nghị

nhằm tăng cường vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội trong những năm tới Các giải pháp đưa ra là có cơ sở khoa học, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn và mang tính khả thi

1.7 Ý nghĩa của nghiên cứu

- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn cơ sở lý

thuyết về vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội

- Về mặt thực tiễn: Giúp chính quyền địa phương có cơ sở để tăng cường

vốn đầu tư hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu vốn cho phát triển KTXH của địa phương vốn có nhiều tiềm năng nhưng thiếu vốn cho đầu tư phát triển Ngoài ra, luận án cũng là một tài liệu đáng tin cậy cho các nhà đầu tư tham khảo trước khi quyết định đầu tư vào Phú Quốc

1.8 Kết cấu của luận án

Luận án được kết cấu thành 5 chương:

Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu

Chương này giới thiệu về sự cần thiết cũng như mục tiêu nghiên cứu, phạm

vi, đối tượng, quy trình, ý nghĩa của nghiên cứu Để tìm ra khoảng trống của

Trang 15

nghiên cứu, lược khảo tài liệu về các công trình nghiên cứu có liên quan cũng được đề cập trong chương này

Chương 2: Cơ sở lý luận về vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế xã hội

Chương này trình bày những lý thuyết cần thiết liên quan đến vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các khái niệm về đầu tư, vốn đầu tư, khu kinh tế đặc biệt và tác động của vốn đầu tư đối với phát triển KTXH

Chương 3: Thực trạng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội đảo Phú

Quốc

Nội dung chương này chủ yếu đi sâu phân tích thực trạng tình hình vốn đầu

tư cho phát triển KTXH của Phú Quốc trên 2 mặt: huy động và sử dụng vốn, đồng thời qua đó rút ra được những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về thực trạng vốn đầu tư cho phát triển KTXH làm cơ sở đưa ra giải pháp tăng cường vốn đầu tư để phát triển KTXH tại đảo Phú Quốc

Chương 4: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư tại đảo

Phú Quốc

Trên cơ sở sử dụng phương pháp định lượng, chương này đi sâu phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến tình hình thu hút vốn đầu tư vào Phú Quốc để có cơ

sở đưa ra giải pháp về thu hút vốn đầu tư hiệu quả

Chương 5: Kết luận và giải pháp tăng cường vốn đầu tư cho phát triển

KTXH tại đảo Phú Quốc

Chương này thể hiện các kết luận chính mà nghiên cứu đã đạt được, từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường vốn đầu tư đáp ứng cho phát triển KTXH tại đảo Phú Quốc thời gian tới

1.9 Quy trình nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu về tăng cường vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội đảo Phú Quốc, tác giả tiến hành lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ khung lý thuyết và các công trình nghiên cứu trước đó, tác giả đã đưa ra được phương pháp nghiên cứu phù hợp, sau

đó tiến hành phân tích thực trạng, đánh giá tác động của vốn đầu tư đối với phát

Trang 16

triển KTXH, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư vào đảo Phú Quốc, từ đó rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân để làm cơ sở cho việc đề ra giải pháp tăng cường vốn đầu tư cho phát triển KTXH tại Phú Quốc

Sơ đồ 1.1 Quy trình nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu

Vốn đầu tư cho phát triển KTXH đảo Phú Quốc

Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết cơ bản về vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng (mô hình EFA và

hồi quy đa biến)

Thực trạng, thành công, hạn chế, nguyên nhân và tác động của các yếu tố đến phát triển KTXH tại đảo Phú Quốc Giải pháp tăng cường vốn đầu tư cho phát triển

KTXH đảo Phú Quốc

Trang 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

Việc đưa ra các lý thuyết cơ bản phục vụ cho nghiên cứu là điều cần thiết, vì vậy, chương này tác giả chỉ tập trung trình bày các lý thuyết cơ bản có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu như đầu tư, vốn đầu tư phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội, khu kinh tế đặc biệt và tác động của nó đến phát triển KTXH Ngoài ra, để có nhiều kinh nghiệm hơn về tăng cường huy động vốn đầu tư vào Phú Quốc, một số kinh nghiệm ở một số quốc gia, địa phương cũng được tác giả đề cập trong chương này

2.1 Đầu tư và đầu tư phát triển

mà ai đó bán Đầu tư chỉ thực sự xuất hiện khi tạo ra vốn thực tế” Định nghĩa này nhấn mạnh ý nghĩa kinh tế của đầu tư ở tầm vĩ mô

Trung tâm từ điển Việt Nam (1995), định nghĩa đầu tư là hành động “bỏ vốn vào một doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị mới, hoặc thực hiện sự hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng” Định nghĩa này nhấn mạnh vào đầu tư phát triển, vào hình thái biểu hiện và động lực của đầu tư

Trần Ngọc Thơ (2005), khi nghiên cứu về lĩnh vực tài chính doanh nghiệp theo tác giả: “Đầu tư là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở hiện tại để đổi lấy khả năng

Trang 18

giá trị không chắc chắn trong tương lai” Khái niệm này xem xét đầu tư trên góc độ rủi ro và thời gian Một doanh nghiệp đầu tư hàng trăm ngàn đô la xây dựng nhà xưởng mới Một luật sư đầu tư hàng chục ngàn đô la xây dựng phòng tư vấn Một giáo sư đại học đầu tư hàng chục ngàn đô la mua cổ phần công ty IBM…Những hành vi trên đều liên quan đến sự hy sinh hiện tại để đổi lấy triển vọng tương lai tốt đẹp Với ý nghĩa rộng nhất đó, chúng ta có thể cho rằng tất cả hành vi trên là đầu tư Theo Luật đầu tư của Việt Nam (2005), đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư Khái niệm này còn chung chung, chưa cho thấy kết quả đầu tư mang lại lợi ích kinh tế như thế nào nhằm thu hút đầu tư

Đa số các nhà kinh tế học cho rằng, nội dung cơ bản của khái niệm đầu tư bao hàm các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, đầu tư là hành động mang tính tích lũy Để có vốn đầu tư, nhà đầu

tư phải hy sinh một phần tiêu dùng hiện tại, do đó họ luôn so sánh lợi ích giữa đầu

tư và tiêu dùng hiện tại khi quyết định đầu tư Lợi ích từ đầu tư (lãi suất, lợi nhuận, tăng giá của tài sản hình thành từ vốn đầu tư…) lớn hơn ích lợi của tiêu dùng hiện tại sẽ khuyến khích họ đầu tư, còn ngược lại, tiêu dùng hiện tại sẽ được ưu tiên hơn

Thứ hai, mục đích của đầu tư luôn là giá trị lớn hơn trong tương lai Bất cứ

khoản đầu tư nào cũng chỉ được bỏ ra khi nhà đầu tư kỳ vọng sẽ thu hồi đủ vốn và

có lãi trong tương lai

Thứ ba, quyết định đầu tư phụ thuộc vào tính toán của nhà đầu tư Nhưng xét

trên tổng thể, việc bảo toàn vốn và tạo lãi cho nhà đầu tư phụ thuộc rất lớn vào tình trạng chung của nền kinh tế quốc gia và thị trường thế giới Trong nền kinh tế thị trường, khi cơ chế tự phát còn quyết định trạng thái chung của nền kinh tế, tính bất

ổn của các chu kỳ kinh tế dẫn đến rủi ro đầu tư Càng bất ổn, càng rủi ro, rủi ro quá cao sẽ cản trở đầu tư

Tóm lại, đầu tư là tiết kiệm tiêu dùng hiện tại để đưa một phần của cải xã hội

đã tích lũy được vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra nhiều của cải hơn trong tương lai Đầu tư là chìa khóa của tăng trưởng kinh tế, đặc biệt tạo ra việc

Trang 19

làm Lý thuyết đã chứng minh rằng tăng đầu tư sẽ bù đắp những thiếu hụt của “cầu tiêu dùng”, từ đó tăng việc làm, tăng thu nhập, tăng hiệu quả biên của vốn đầu tư và kích thích tái sản xuất mở rộng

Căn cứ vào lý thuyết nêu trên, đầu tư luôn kỳ vọng giá trị lớn hơn trong tương lai Do vậy, nhà đầu tư luôn phải tính toán được giá trị kỳ vọng đó, tất nhiên cũng phải chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định Nhà nước, nhất là tại một địa phương phải đảm bảo những điều kiện để nhà đầu tư tư nhân đạt được giá trị kỳ vọng mới

có thể thu hút được vốn đầu tư vào địa phương mình, ngành mình

2.1.2 Đầu tư phát triển

Đỗ Phú Trần Tình (2009), cho rằng đầu tư phát triển là đầu tư tài sản vật chất

và sức lao động trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bổ sung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước

Xét về bản chất đầu tư phát triển có một số đặc điểm sau:

- Thứ nhất, hoạt động đầu tư phát triển cần một lượng vốn lớn và thời gian

kéo dài trong suốt quá trình đầu tư

- Thứ hai, thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành

quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm (thường từ 2 năm trở lên thậm chí 50 năm, nhưng cũng không quá 70 năm) với nhiều biến động xảy ra

- Thứ ba, thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra đối với các công

cuộc đầu tư đòi hỏi nhiều năm, do đó không tránh khỏi những biến động tích cực và tiêu cực các biến động về KTXH

Trang 20

- Thứ tư, thành quả do đầu tư phát triển mang lại biểu hiện trên hai mặt: lợi

ích tài chính và lợi ích kinh tế xã hội Lợi ích kinh tế xã hội được gọi tắt là lợi ích kinh tế, lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của nhà đầu tư, còn lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến xã hội, cộng đồng

- Thứ năm, các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng sẽ

hoạt động ngay tại nơi mà nó tạo dựng nên Do đó, các điều kiện địa lý, địa hình cũng ảnh hưởng đến quá trình đầu tư cũng như hoạt động sau này

2.2 Vốn đầu tư

2.2.1 Khái niệm

Vũ Thị Ngọc Phùng (2005), định nghĩa vốn đầu tư là toàn bộ những chi tiêu

để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định Tương ứng với

sự phân biệt chức năng của hai loại tài sản: sản xuất và phi sản xuất, vốn đầu tư cũng được chia thành hai loại: vốn đầu tư sản xuất và phi sản xuất

Vốn đầu tư sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí nhằm duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản xuất Vốn đầu tư sản xuất được chia thành vốn đầu tư vào tài sản cố định và vốn đầu tư vào tài sản lưu động Đến lượt mình, vốn đầu tư vào tài sản cố định lại chia thành vốn đầu tư cơ bản và đầu tư sửa chữa lớn Vốn đầu tư cơ bản làm tăng khối lượng thực thể của tài sản cố định, bảo đảm bù đắp số tài sản cố định

bị hao mòn và tăng thêm phần xây lắp dở dang Còn vốn sửa chữa lớn không làm tăng khối lượng thực thể của tài sản Vốn đầu tư phi sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí không tham gia vào quá trình sản xuất vì vậy không duy trì hoặc tăng vốn sản xuất

2.2.2 Nguồn vốn đầu tư

2.2.2.1 Nguồn vốn đầu tư từ khu vực nhà nước

Nguồn vốn khu vực nhà nước bao gồm vốn NSNN, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của DNNN

Nguồn vốn NSNN: là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển KT-XH của mỗi quốc gia và địa phương Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng KT-XH, an ninh quốc phòng, hỗ trợ các dự án của DN đầu

Trang 21

tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các

dự án quy hoạch tổng thể KT-XH vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn

Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng

kể trong chiến lược phát triển KT-XH

Thông qua nguồn tín dụng đầu tư, nhà nước thực hiện việc khuyến khích phát triển ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược chung Việc phân bổ và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển những vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo Và trên hết, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH

Nguồn vốn đầu tư của DNNN: từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại DNNN và chủ yếu là đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ của DN

2.2.2.2 Nguồn vốn đầu tư từ khu vực tư nhân

 Nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng

Các TCTD có thể dùng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế và dân cư hay nguồn vốn nhận ủy thác để tài trợ trực tiếp các dự án đầu tư có hiệu quả, thường là tài trợ trung dài hạn Các TCTD còn có thể dùng một phần vốn chủ sở hữu của mình

để tài trợ gián tiếp các dự án đầu tư thông qua việc mua các chứng khoán – có hay không có tham gia quản lý Ở Việt Nam, trước mắt, nguồn này chưa dồi dào khi mức tự tích lũy từ nền kinh tế còn thấp Nguồn vốn này thường dành cho những dự

án đầu tư, phục vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế

Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, nguồn vốn này chưa chú trọng đầu tư vào cơ

sở hạ tầng nơi lợi ích xã hội giữ vai trò trọng tâm

 Nguồn vốn từ các doanh nghiệp

Trang 22

Tiết kiệm của các doanh nghiệp được xác định trên cơ sở doanh thu và các khoản chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Doanh thu của doanh nghiệp (TR) là các khoản thu nhập do tiêu thụ hàng hóa hoặc các dịch vụ sau khi đã trừ đi các chi phí trung gian trong quá trình sản xuất Tổng chi phí (TC) thường bao gồm các khoản: trả tiền công, trả tiền thuê đất đai, trả lãi suất tiền vay và thuế kinh doanh

Khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí được gọi là lợi nhuận (Pr) trước thuế

Pr(trước thuế) = TR – TC Lợi nhuận trước thuế sau khi đóng thuế lợi tức (Tde) sẽ còn lại lợi nhuận sau thuế

Pr(sau thuế) = Pr(trước thuế) - Tde Đối với các công ty cổ phần thì lợi nhuận sau thuế còn phải chia cho các cổ đông, do đó còn xuất hiện thêm khái niệm lợi nhuận để lại công ty (hay còn gọi là lợi nhuận không chia) Lợi nhuận để lại cùng với quỹ khấu hao trở thành nguồn vốn tiết kiệm của doanh nghiệp có thể huy động vào đầu tư

 Nguồn vốn tiết kiệm của dân cư

Tiết kiệm của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình Thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập có thể sử dụng (DI) và các khoản thu nhập khác Chúng ta đã biết cách xác định thu nhập có thể sử dụng từ thu nhập quốc dân sản xuất (NI)

DI= NI – Td + SdTrong đó: Td là thuế thu nhập (bao gồm cả thuế thu nhập của công ty - Tde và thuế thu nhập của dân cư -Tdh , Sd là các khoản trợ cấp của chính phủ)

Td = Tde+ Tdh Các khoản thu nhập khác có thể từ rất nhiều nguồn như được viện trợ, thừa kế, bán tài sản, trúng vé xổ số, thậm chí là các khoản đi vay

Chi tiêu của hộ gia đình bao gồm: các khoản chi mua hàng hóa và dịch vụ Chi mua hàng hóa đó là chi về lương thực, thực phẩm, quần áo, phương tiện đi lại và

Trang 23

các hàng hóa tiêu dùng lâu bền khác; chi cho hoạt động dịch vụ là chi cho du lịch, chi cho các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, chi trả lãi suất các khoản tiền vay

Khác với chi tiêu của chính phủ, tất cả các khoản chi tiêu của hộ gia đình đều được coi là yếu tố cấu thành GDP Mối quan hệ giữa các khoản thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình có thể được mô tả qua hàm chi tiêu

Hàm chi tiêu C có dạng: C =a +b.DI

Trong đó: a là các khoản chi tiêu cố định, b là xu hướng tiêu dùng cận biên (MPC) phản ánh độ dốc của hàm chi tiêu

MPC ΔDI

ΔC

Tại D1, mức thu nhập có thể sử dụng nhỏ hơn mức chi tiêu (DI<C) Tại đó,để

có đủ tiền chi tiêu dân cư phải sử dụng các khoản thu nhập khác a1

Tại D0, mức thu nhập bằng mức chi tiêu (DI=C) Tại đó, thu nhập của dân cư

đủ để trang trải các khoản chi phí và không có tiết kiệm

Tại D2, mức thu nhập có thể sử dụng lớn hơn mức chi tiêu (DI>C) Tại đây dân cư mới có tiết kiệm S2

Hình 2.1 Hàm chi tiêu của các hộ gia đình

Trang 24

kiệm lớn hơn Và tất nhiên, những nước giàu có sẽ có tỷ lệ tiết kiệm để đầu tư cao hơn so với các nước có mức thu nhập thấp nhất

2.2.2.3 Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài

Đó chính là các khoản đầu tư nước ngoài hay còn gọi là đầu tư quốc tế Đầu

tư nước ngoài là phương thức đầu tư vốn, tài sản từ nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ với mục đích kiếm tìm lợi nhuận hoặc vì những mục tiêu chính trị, xã hội nhất định, có thể tóm tắt qua sơ đồ sau:

Về bản chất đầu tư nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hóa luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau trong chiến lược xâm nhập, chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn lớn của nước ngoài hiện nay Nhiều trường hợp việc buôn bán hàng hóa ở nước sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường, luật lệ để đi đến quyết định đầu tư Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng phát triển mạnh mẽ, hợp thành những dòng trào lưu có tính quy luật trong liên kết kinh tế toàn cầu hiện nay Sự phát triển của đầu tư nước ngoài bắt nguồn từ một

số nguyên nhân chủ yếu sau:

Sơ đồ 2.2 Các kênh chính của nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Vốn đầu tư quốc tế

Vốn đầu tư tư nhân

Vốn trợ giúp phát triển chính thức của chính phủ và VĐT của các tổ chức quốc tế

Vốn tín dụng

án

Vốn tín dụng

Trang 25

- Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế

- Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học công nghệ và những tiến

bộ vượt bậc trong lĩnh vực thông tin, truyền thông đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các nước, tạo nên sự chuyển dịch vốn giữa các quốc gia

- Sự thay đổi các yếu tố sản xuất, kinh doanh ở các nước sở hữu vốn tạo nên

“lực đẩy” đối với đầu tư quốc tế

- Nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển

là rất lớn, tạo “sức hút” mạnh mẽ với nguồn đầu tư nước ngoài

Như vậy, vốn đầu tư quốc tế có hai dòng chính là đầu tư tư nhân (trong đó, chủ yếu là đầu tư trực tiếp nước ngoài- FDI) và đầu tư của chính phủ và các tổ chức quốc tế

 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài đề đầu tư cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận Đây là một nguồn vốn lớn, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển

Trong lịch sử thế giới FDI đã tồn tại từ lâu, ngay từ thời tiền tư bản Các công ty của Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đồ Nha…là những công ty đi đầu trong lĩnh vực đầu tư FDI dưới hình thức đầu tư vốn vào các nước châu Á để khai thác đồn điền nhằm cung cấp nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp của chính quốc Cùng với các ngành khai thác đồn điền là các ngành khai thác khoáng sản, tài nguyên trong lòng đất đưa về chính quốc

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, FDI đã có sự thay đổi rõ rệt với sự đầu tư

ồ ạt của các nhà đầu tư Mỹ vào châu Âu theo kế hoạch Marshall để vực dậy phần lục địa bị chiến tranh tàn phá này Sau đó là sự đầu tư giữa các nước châu Âu, thực hiện sự liên minh tư bản, tăng cường khả năng kinh tế, chống độc quyền của các nhà đầu tư Mỹ Từ đó, việc đầu tư trực tiếp nước ngoài trở nên thường xuyên hơn

và được sử dụng phối hợp với các hình thức xuất khẩu tư bản khác trở thành vũ khí

Trang 26

lợi hại của các nước tư bản phương Tây trong việc thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, nhất là với các nước đang phát triển

Ngày nay, FDI trở thành một tất yếu kinh tế trong điều kiện quốc tế hóa sản xuất và lưu thông Không có một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa lại không cần đến nguồn vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài và tất cả đều coi đó là nguồn lực quốc tế quan trọng cần khai thác để từng bước hòa nhập vào cộng đồng quốc tế Ngay cả những quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh như Mỹ, Nhật dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay cũng không thể tự mình giải quyết được những vấn đề kinh tế,

xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục đặt ra Chỉ có con đường hợp tác, trong đó có FDI là loại hình đầu tư, hợp tác có hiệu quả

Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, song những hình thức chủ yếu là hợp đồng hợp tác kinh doanh; doanh nghiệp liên doanh; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên (gọi là bên hợp doanh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư mà không thành lập một pháp nhân

- Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với nước tiếp nhận đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỉ lệ vốn góp Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh

 Nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FPI)

Trang 27

Là các khoản vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài có thể là thể nhân hoặc pháp nhân thực hiện qua định chế tài chính trung gian như các quỹ đầu tư, công ty đầu tư các quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm,…đầu tư trực tiếp vào cổ phần, các công ty niêm yết vào thị trường chứng khoán Khi thực hiện đầu tư gián tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài không quan tâm đến quá trình sản xuất kinh doanh mà thực

tế chỉ quan tâm đến lợi tức hoặc sự an toàn của những chứng khoán mà họ đầu tư FPI được thực hiện dưới hai hình thức là các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu hoặc các công cụ tài chính khác do các công ty hoặc các thể chế tài chính của các nước đang phát triển phát hành trên thị trường nội địa hay các nhà đầu tư nước ngoài mua trái phiếu hoặc các công cụ nợ khác do chính phủ hoặc các công ty ở các

nước đang phát triển phát hành trên thị trường nội địa hoặc thị trường vốn quốc tế

 Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA)

Nguồn vốn ODA là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức (chính quyền nhà nước hay địa phương) của một nước hoặc một tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nước này

ODA ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II, cùng với kế hoạch Marshall để giúp các nước châu Âu phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn phá Để tiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall, các nước châu Âu thành lập Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Ngày nay, Tổ chức này không chỉ có thành viên là các nước châu Âu mà còn có Mỹ, ÚC, Nhật Bản, Hàn Quốc …Trong khuôn khổ hợp tác, các nước OECD lập ra những Ủy ban chuyên môn, trong đó có Ủy ban viện trợ phát triển (DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển ODA được thực hiện trên cơ sở song phương hoăc đa phương

 Nguồn vốn các tổ chức phi chính phủ (NGO)

Hiện nay trên thế giới có hàng trăm tổ chức phi chính phủ hoạt động theo các mục đích, tôn chỉ khác nhau (từ thiện, nhân đạo, y tế, tôn giáo ) Nguồn vốn của các tổ chức phi chính phủ thường nhỏ, chủ yếu dựa vào nguồn quyên góp hoặc sự tài trợ của các chính phủ Viện trợ NGO có những đặc điểm sau:

Trang 28

- Phương thức viện trợ đa dạng, có thể là vật tư, thiết bị hoặc lương thực, thực phẩm, thuốc men, tiền mặt, quần áo,…

- Quy mô viện trợ nhỏ nhưng thủ tục đơn giản, thực hiện nhanh, đáp ứng kịp thời những yêu cầu khẩn cấp (khắc phục thiên tai, dịch bệnh, .)

- Khả năng cung cấp viện trợ và thực hiện viện trợ thất thường và nhất thời

- Ngoài mục đích nhân đạo, trong một số trường hợp còn mang màu sắc tôn giáo, chính trị khác nhau nên khó quản lý

Viện trợ NGO thường là viện trợ không hoàn lại, trước đây loại viện trợ này chủ yếu là vật chất, đáp ứng những nhu cầu nhân đạo như: cung cấp thuốc men cho các trung tâm y tế, chỗ ở và lương thực cho các nạn nhân thiên tai Hiện nay, loại viện trợ này lại được thực hiện nhiều hơn bằng các chương trình phát triển dài hạn,

có sự hỗ trợ của các chuyên gia thường trú như: huấn luyện những người làm công tác bảo vệ sức khỏe, thiết lập các dự án tín dụng, cung cấp nước sạch ở nông thôn, cung cấp dinh dưỡng và sức khỏe ban đầu

 Nguồn vốn tín dụng quốc tế

Tín dụng quốc tế là nguồn vốn mà các nước nhận vốn vay sau một thời gian phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho nước cho vay Các nước cho vay vốn thu lợi nhuận thông qua lãi suất tiền vay Nguồn vốn tín dụng quốc tế có một số đặc điểm sau:

- Đối tượng vay vốn thường là các doanh nghiệp Độ rủi ro cao đối với các chủ đầu tư khi các doanh nghiệp vay vốn hoạt động không hiệu quả, làm ăn thua lỗ, phá sản

- Vốn vay dưới dạng tiền tệ, các doanh nghiệp vay vốn có toàn quyền sử dụng

- Chủ đầu tư nước ngoài thu lợi nhuận thông qua lãi suất cố định theo khế ước vay, độc lập với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp vay, có quyền sử dụng những tài sản đã thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan bảo lãnh thanh toán khoản vay trong trường hợp bên vay không có khả năng thanh toán Các tổ chức tín dụng cung cấp vốn tuy không tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, nhưng trước khi nguồn vốn được giải ngân thì họ đều nghiên cứu tính khả thi của dự án đầu tư, có yêu cầu

về bảo lãnh thế chấp các khoản vay để giảm rủi ro

Trang 29

Khi sử dụng nguồn vốn tín dụng quốc tế, các nước tiếp nhận vốn không phải chịu bất cứ một ràng buộc nào về chính trị, xã hội, có toàn quyền sử dụng vốn Tuy nhiên, do đây là nguồn vốn cho vay với lãi suất thương mại nên nếu các bước tiếp nhận không sử dụng hiệu quả nguồn vốn này thì có nguy cơ dẫn đến tình trạng mất khả năng chi trả, dẫn đến nguy cơ vỡ nợ

2.2.3 Huy động vốn đầu tư

2.2.3.1 Khái niệm huy động vốn đầu tư

Lê Văn Khâm (2001), huy động vốn cho đầu tư là quá trình xác định, tìm kiếm các nguồn tài chính cho hoạt động đầu tư Để tiến hành bất kỳ một hoạt động đầu tư nào cũng cần phải giải bài toán về vốn như: xác định lượng vốn cần thiết? lượng vốn đó sẽ lấy từ nguồn nào? tiềm năng của mỗi nguồn ra sao? khả năng tham gia của mỗi nguồn? và làm thế nào để khai thác được?

Việc huy động vốn đầu tư là điều kiện cần thiết cho hoạt động đầu tư, nếu không có vốn thì dự án sẽ không triển khai được Đối với phát triển kinh tế xã hội nó

là yếu tố đầu vào cần thiết cùng với yếu tố lao động quyết định sự tăng trưởng của một nền kinh tế

Như vậy, huy động vốn đầu tư ngoài việc hàng năm NSNN phải có kế hoạch phân bổ vốn cụ thể, thì còn phải có kế hoạch thu hút vốn đầu tư từ các nguồn khác như tư nhân, vốn đầu tư nước ngoài là điều hết sức cần thiết cấu thành nguồn vốn huy động của một quốc gia hay địa phương

2.2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ huy động vốn đầu tư

Lê Văn Khâm (2001), huy động vốn đầu tư phát triển KTXH được phản ánh thông qua các chỉ tiêu khối lượng vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư, cụ thể:

- Tổng mức huy động: là tổng số vốn đầu tư các nhà đầu tư đã thực hiện trong

kỳ theo dự án được quyết định cấp phép hay đăng ký đầu tư Ý nghĩa của chỉ tiêu này nói lên quy mô đầu tư như thế nào, có tương xứng với quốc gia, địa phương hay không?

Trang 30

- Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện so với nhu cầu, kế hoạch: Chỉ tiêu này phản ánh

kết quả huy động vốn đầu tư đạt được so với nhu cầu, kế hoạch đề ra, chỉ tiêu này được tính như sau:

ầ , ế ạ

ỷ ệ Đ ớ

= Đ ự ệ

- Tốc độ tăng trưởng VĐT: Tốc độ tăng trưởng VĐT được tính bằng cách lấy

chênh lệch giữa quy mô huy động vốn kỳ hiện tại so với quy mô huy động vốn kỳ trước chia cho quy mô huy động vốn kỳ trước, chỉ số này được tính như sau:

- Tỷ trọng vốn đầu tư thực hiện so với cả nước và các vùng khác: Chỉ tiêu này

thể hiện khả năng huy động vốn có được so với cả nước hoặc địa phương mình muốn so sánh, làm cơ sở cho việc đánh giá mức độ huy động vốn của địa phương được đề cập

ả ướ ( ù á )

ỷ ọ Đ ớ

= Đ ự ệ

Đ ả ướ ( ù á ) x100

- Cơ cấu vốn đầu tư: chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng vốn đầu tư trong tổng số;

cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa vốn đầu tư cho nông lâm - hải sản, công nghiệp – xây dựng và ngành dịch vụ trong tổng số; cơ cấu đầu

-tư theo nguồn hình thành thể hiện mối quan hệ giữa vốn nhà nước và khu vực DN ngoài nhà nước, dân cư trong tổng vốn huy động

ố đầ ươ ấ = Đ ( à , ồ … )

ổ ố đầ ư x100Chỉ số này nói lên khả năng huy động vốn của từng ngành, nguồn vốn có tương xứng với khả năng phát triển hay không?

Trang 31

2.2.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội

 Đối với nguồn vốn thuộc khu vực nhà nước:

Phương Thị Hồng Hà (2006), nghiên cứu về NSNN cho rằng huy động vốn đầu tư NSNN vào một địa phương thường chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố sau:

 Quy hoạch phát triển KTXH của địa phương

Chi đầu tư từ NSNN là nguồn vốn trung và dài hạn, do đó muốn chi đầu tư

từ NSNN phải có kế hoạch và đăng ký với cơ quan quản lý vốn Muốn đăng ký vốn thì trước tiên phải có quy hoạch phát triển KTXH được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt NSNN không thể chi tràn lan mà không có kế hoạch Do đó, một địa phương muốn xin hỗ trợ ngân sách từ cấp trên hoặc giữ lại nguồn vốn từ địa phương để chi cho đầu tư thì công tác quy hoạch KTXH là điều kiện đầu tiên được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Điều này không những đảm bảo được sự cân đối NSNN mà còn đảm bảo được tính hiệu quả khi đầu tư vào dự án

 Nguồn thu của địa phương

Ngân sách nhà nước được tập trung bởi nguồn thu từ NSNN thông qua các hoạt động thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác như hoạt động kinh tế của nhà nước, viện trợ không hoàn lại, thu từ bán tài sản…, trong các nguồn thu trên thì thu

từ thuế là nguồn thu chủ yếu

Nguồn thu NSNN có tác động trực tiếp đến hình thành nguồn vốn đầu tư của địa phương, nếu một địa phương có nguồn thu lớn và được cơ quan cấp trên xét duyệt cho để lại để tái đầu tư thì sẽ được bổ sung vào nguồn vốn đầu tư của địa phương đó

 Hỗ trợ vốn từ ngân sách Trung ương

Ngoài kế hoạch phát triển KTXH của địa phương, một số nơi còn nằm trong

kế hoạch phát triển của Trung ương như các dự án phát triển vùng, dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, dự án thuộc an ninh quốc phòng…Các dự án này

có nguồn vốn thuộc trung ương quản lý hoặc được phân bổ về địa phương Một địa phương có tiềm năng, nằm trong kế hoạch phát triển KTXH thuộc nguồn vốn này sẽ

Trang 32

được thừa hưởng lợi ích từ những dự án đó góp phần phát triển KTXH của địa phương

Ngoài nguồn vốn từ NSNN các nguồn vốn khác như vốn đầu tư từ các doanh nghiệp nhà nước, vốn vay phụ thuộc nhiều vào chính sách của mỗi quốc gia hay địa phương Ở Việt Nam hiện nay nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp nhà nước có

xu hướng ngày càng giảm do chính sách cổ phần hóa của Chính phủ Các nguồn vốn vay thường huy động nhiều từ nguồn ngân sách Trung ương, đối với các địa phương nguồn vốn này thường rất hạn chế và khó tiếp cận

 Đối với nguồn vốn không thuộc khu vực nhà nước

Nguồn vốn không thuộc khu vực nhà nước bao gồm vốn từ khu vực tư nhân, vốn đầu tư nước ngoài và các nguồn vốn khác Các nguồn vốn này được ảnh hưởng bởi các nhân tố sau:

 Cơ sở hạ tầng

Kinda (2010), cho rằng cơ sở hạ tầng là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật

và kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho hoạt động kinh tế, xã hội diễn ra trên đó, bao gồm tổng thể các ngành, các loại hình hoạt động, các yếu tố, các phương tiện vật chất kỹ thuật, các thiết bị và các công trình phục vụ quá trình sản xuất, dịch vụ và đời sống thích ứng với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội trên phạm vi quốc gia, địa phương, vùng lãnh thổ cũng như đối với các ngành, các khu vực, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân

Cơ sở hạ tầng bao gồm các yếu tố mang tính vật chất kỹ thuật (phần cứng) như đường giao thông, cầu cống, mạng lưới điện, nước, thông tin liên lạc và các dịch vụ mang tính chất phục vụ chung cho sản xuất và đời sống (phần mềm) như dịch vụ bưu chính viễn thông, giao thông vận tải Cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế của một quốc gia hay địa phương, cụ thể:

Thứ nhất, sự phát triển của giao thông vận tải góp phần làm giảm chi phí

vận chuyển, tạo thuận lợi cho lưu thông và buôn bán hàng hoá và nhờ đó nhiều công ty kinh doanh tầm cỡ lớn xuất hiện và phát triển, có thêm khả năng mở rộng đầu tư và xuất hiện cơ hội đầu tư mới thúc đẩy thu hút vốn đầu tư

Trang 33

Thứ hai, năng lực cung cấp điện đáng tin cậy với giá cả hợp lý đảm bảo cho

nhà đầu tư yên tâm mở rộng sản xuất có hiệu quả

Thứ ba,bưu chính viễn thông phát triển, với cước hợp lý là công cụ kinh

doanh hữu ích cho nhà đầu tư

Thứ tư, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống xử lý chất thải hiện đại đảm bảo

cho nhà đầu tư phát triển kinh doanh

Thứ năm, hiệu suất cảng biển, cảng hàng không cũng quyết định giảm chi

phí vận tải và góp phần tăng thêm giao dịch thương mại cho nhà đầu tư Hiệu suất của cảng tác động trực tiếp tới nhà xuất nhập khẩu và gián tiếp tới hầu hết doanh nghiệp

 Chính sách đầu tư

Theo Trung tâm từ điển Việt Nam (1995), “Chính sách là những chuẩn tắc

cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”

Ở Việt Nam, thuật ngữ chính sách đầu tư còn mới mẻ, thông thường chúng ta quen dùng cụm từ đồng nghĩa: Chính sách của nhà nước hoặc chính sách của Đảng

và Nhà nước, vì ở nước ta, Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc vạch ra đường lối, chiến lược, các định hướng chính sách, đó chính là những căn cứ chỉ đạo để Nhà nước ban hành các chính sách công, trong đó có chính sách thu hút đầu tư Do

đó chính sách đầu tư có vai trò hết sức quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư cho

địa phương

 Môi trường sống

Nguyễn Đình Thọ và ctg (2005), cho rằng môi trường sống có tác động đến

sự hài lòng của nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào địa phương Môi trường sống

là tổng hòa các yếu tố làm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Môi trường sống thể hiện qua các yếu tố như hệ thống y tế, giáo dục, môi trường có bị ô

Trang 34

nhiễm, chi phí sinh hoạt có hợp lý và điều kiện an ninh có tốt hay không? Các nhân

tố này, ngày nay trở thành mục tiêu, động lực của sự phát triển và ảnh hưởng tích cực tới khả năng thu hút đầu tư khi những yếu tố cơ bản này được đáp ứng, vì một

số nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào một địa phương thì thường có ý định gắn bó lâu dài với địa phương đó nên những yếu tố về nâng cao chất lượng cuộc sống là cần thiết

 Tài nguyên thiên nhiên

Nguyễn Mạnh Toàn (2010), cho thấy sự dồi dào về nguyên vật liệu, sự ưu đãi của tài nguyên thiên nhiên cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy thu hút đầu tư Trong trường hợp của Malaysia, nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước này có sức hút FDI mạnh mẽ nhất Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước này là nhắm đến các nguồn tài nguyên dồi dào về dầu mỏ, khí đốt, cao su, gỗ Đặc biệt tại các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), khai thác tài nguyên thiên nhiên là mục tiêu quan trọng của nhiều MNEs trong các thập kỷ qua Thực tế cho thấy, trước khi có sự xuất hiện của Trung Quốc trên lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, FDI chỉ tập trung vào

một số quốc gia có thị trường rộng lớn và nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào

 Xúc tiến thương mại và marketing địa phương

Kinda (2010), xây dựng chiến lược tiếp thị địa phương là tìm cách phát huy những nét riêng của địa phương nhằm hấp dẫn khách hàng muốn nhắm tới, vì thế phải dựa trên tiêu chí xem nhà đầu tư và khách hàng là trọng tâm Việc cạnh tranh giữa các địa phương không chỉ qua chất lượng và giá sản phẩm, mà còn qua cơ chế

- chính sách, sự minh bạch của cơ chế - chính sách, sự tận tụy - chuyên nghiệp của

bộ máy nhà nước, thái độ ứng xử văn minh lịch sự của người dân, uy tín của doanh nhân và thương hiệu của doanh nghiệp Hoạt động tiếp thị địa phương phải dựa trên chiến lược phát triển kinh tế, xã hội ở cấp quốc gia và cơ chế, chính sách cụ thể của từng địa phương

Tăng cường xúc tiến thương mại địa phương là những hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ bao gồm các hoạt động khuyến mãi, quảng cáo, trưng bày, tổ chức sự kiện, giới thiệu hàng hóa dịch vụ, hội

Trang 35

chợ triển lãm… nhằm thúc đẩy, tìm kiếm thêm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, hỗ trợ thương nhân kinh doanh hiệu quả hơn

 Nguồn nhân lực

Đinh Phi Hổ (2015), cho rằng khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới

ở địa phương nào đó, các nhà đầu tư cũng nhắm đến việc khai thác nguồn nhân lực trẻ và tương đối thừa thãi ở các địa phương này Thông thường nguồn lao động phổ thông luôn được đáp ứng đầy đủ và có thể hài lòng yêu cầu của các công ty Tuy vậy, chỉ có thể tìm được các nhà quản lý giỏi, cũng như cán bộ kỹ thuật có trình độ

và kinh nghiệm ở các thành phố lớn Động cơ, thái độ làm việc của người lao động cũng là yếu tố quan trọng trong việc xem xét, lựa chọn địa điểm để đầu tư

tổ chức tín dụng trên cơ sở khả năng tài chính áp dụng mức lãi suất cho vay hợp lý, giảm bớt thủ tục trong nghiệp vụ cho vay cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp vào địa phương

 Yếu tố chi phí đầu vào

Trần Ngọc Thơ & Nguyễn Ngọc Định (2002), nghiên cứu cho thấy phần đông các MNEs đầu tư vào các nước là để khai thác các tiềm năng, lợi thế về chi phí Trong đó, chi phí về lao động thường được xem là nhân tố quan trọng nhất khi

Trang 36

ra quyết định đầu tư Nhiều nghiên cứu cho thấy, đối với các nước đang phát triển, lợi thế chi phí lao động thấp là cơ hội để thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong các thập kỷ qua Khi giá nhân công tăng lên, đầu tư nước ngoài có khuynh hướng giảm Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư trực tiếp ở nước ngoài cho phép các công ty tránh được hoặc giảm thiểu các chi phí vận chuyển và do vậy có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, kiểm soát được trực tiếp các nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu với giá rẻ, nhận được các ưu đãi về đầu tư và thuế, cũng như các chi phí sử dụng đất Ngoài chi phí vận chuyển và các khía cạnh chi phí khác, cũng cần nhấn mạnh đến động cơ đầu tư của các công ty xuyên quốc gia nhằm tránh ảnh hưởng của hàng rào quan thuế và phi quan thuế, cũng như giúp giảm thiểu đáng kể chi phí xuất nhập khẩu

2.2.4 Hiệu quả vốn đầu tư

2.2.4.1 Hệ số ICOR

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư người ta dùng hệ số ICOR, hệ số này phản ánh quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế (mô hình Harrod - Domar) Hệ số này được tính dựa trên các giả định chủ yếu sau:

- Nền kinh tế luôn cân bằng ở dưới sản lượng tiềm năng Để có thể huy động được các nguồn lực dư thừa cần phải đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất

- Công nghệ không đổi, sự kết hợp giữa vốn và lao động được thực hiện theo một hệ số cố định

Hệ số ICOR được xác định theo công thức:

Y

K ICOR

Δ

Δ

=

Trong đó: ∆K mức thay đổi vốn đầu tư: (∆K = Kt – Kt-1)

∆Y là mức thay đổi về sản lượng và ∆Y = Yt – Yt-1, ở đây t chỉ năm nghiên cứu và t - 1 chỉ năm trước năm nghiên cứu

Ý nghĩa của hệ số ICOR là để tạo thêm được một đơn vị sản lượng trong một khoảng thời gian nhất định thì cần tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư Hay nói

Trang 37

cách khác, ICOR là “giá” phải trả thêm cho việc tạo thêm một đơn vị kết quả sản lượng Hệ số ICOR càng lớn chứng tỏ chi phí cho kết quả tăng trưởng càng cao nó phụ thuộc vào mức độ khan hiếm nguồn dự trữ và tính chất của công nghệ sản xuất;

ở các nước phát triển hệ số ICOR thường cao hơn ở các nước đang phát triển và ở mỗi nước thì hệ số ICOR luôn có xu hướng tăng lên tức là khi kinh tế càng phát triển thì để tăng thêm một đơn vị kết quả sản lượng cần nhiều hơn về nguồn lực sản xuất

2.2.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả vốn đầu tư

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả vốn đầu tư Các nhân tố ảnh hưởng này tác động đến cả hai thành phần của hiệu quả vốn đầu tư Lợi ích công dụng của các đối tượng do kết quả của quá trình đầu tư tạo nên khi được đưa vào sử dụng và vốn đầu tư chỉ ra nhằm tạo nên các kết quả ấy Do đó các nhân tố này tồn tại dọc theo suốt thời gian của quá trình đầu tư khi có chủ trương đầu tư ngay trong quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng và đặc biệt là cả quá trình khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư được hoàn thành Theo Bùi Mạnh Cường (2012), khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư có các yếu tố sau:

 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên,… Điều kiện tự nhiên thuận lợi (mưa nắng thuận hòa, thời tiết ít khắc nghiệt, đường giao thông ít phải cải tạo, ) góp phần làm cho nhà đầu tư giảm chi phí đầu vào quá trình đầu tư, trong quá trình thực hiện dự án và đưa sản phẩm đầu tư vào phục vụ cuộc sống Điệu kiện tự nhiên thuận lợi làm tăng nhanh tốc độ thực hiện dự

án, tốc độ đưa sản phẩm đầu tư đến người tiêu dùng sản phẩm đầu tư, góp phần tạo

ra hiệu quả đầu tư tốt

 Các nhân tố về chính sách kinh tế

Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Các chính sách này gồm chính sách định hướng phát triển kinh tế như: Chính sách công nghiệp, chính sách thương mại, chính sách đầu tư và các chính sách làm công cụ điều tiết vĩ mô hoặc vi mô như: Chính sách tài khoá (công

Trang 38

cụ chủ yếu là chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ), chính sách tiền tệ (công cụ

là chính sách lãi suất và mức cung ứng tiền), chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách khấu hao,

Các chính sách kinh tế tác động đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp Các chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vực đầu tư, góp phần tạo ra một cơ cấu đầu tư nhất định, là cơ sở để hình thành một

cơ cấu hợp lý hay không cũng như tác động làm giảm hoặc tăng thất thoát vốn đầu

tư, theo đó mà vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả hoặc kém hiệu quả

Trong quá trình khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành, các chính sách kinh tế tác động làm cho các đối tượng này phát huy tác dụng tích cực hay tiêu cực Đó là điều kiện làm cho vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp

Khi đã lựa chọn mô hình chiến lược công nghiệp hoá đúng, nếu các chính sách kinh tế được xác định phù hợp có hệ thống, đồng bộ và nhất quán thì sự nghiệp công nghiệp hoá sẽ thắng lợi, vốn đầu tư sẽ mang lại hiệu quả sử dụng cao Nếu các chính sách kinh tế phù hợp với mô hình chiến lược công nghiệp hoá, tạo điều kiện cho sự thành công của công nghiệp hoá, sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả

 Các nhân tố chính trị, văn hoá, xã hội, lịch sử, tập quán

Xã hội ổn định về chính trị, an toàn, an ninh sẽ làm cho các chính sách về đầu tư được ổn định Ổn định về chính trị sẽ giúp các nhà đầu tư tin tưởng hơn vào chính sách nhà nước từ đó sẽ mạnh dạng bỏ vốn và triển khai đầu tư một cách nhanh chóng

Những yếu tố như văn hoá, lịch sử, tập quán ít nhiều cũng tác động kể cả trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư và hiệu quả ĐTPT Nếu người dân tại địa phương hiểu và đồng thuận với chính sách đầu tư của nhà nhà nước sẽ nhiệt tình ủng hộ các nhà đầu tư thực hiện dự án, ngược lại nó là rào cản cho việc thực hiện việc triển khai các dự án này Ngoài ra tập quán, thói quen tiêu dùng của người dân

Trang 39

địa phương cũng là một trong những nhân tố mang lại thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của dự án sau đầu tư

 Các nhân tố về năng lực của chủ đầu tư

Một nhà đầu tư có năng lực tốt sẽ có đủ khả năng tài chính để thực hiện triển

khai dự án đúng tiến độ theo yêu cầu Ngoài ra họ có thể tiến hành tổ chức khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành một cách hiệu quả Tổ chức khai thác các đối tượng đầu tư hoàn thành sẽ mang lại một khối lượng cung ứng hàng hoá, dịch vụ nhất định, góp phần tăng hiệu quả vốn đầu tư cho nền kinh tế

2.3 Phát triển kinh tế xã hội và vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế xã hội

2.3.1 Phát triển kinh tế xã hội

Phan Thúc Huân (2006) định nghĩa phát triển kinh tế xã hội là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời gian nhất định

Phát triển kinh tế xã hội bao hàm các sự tăng trưởng kinh tế tức là tăng về quy mô sản lượng, sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế và sự tiến bộ về xã hội Khái niệm phát triển kinh tế xã hội bao hàm các vấn đề cơ bản sau:

- Thứ nhất, mức độ gia tăng sản lượng quốc gia và sự tăng trưởng mức sản

xuất, mức sống của quốc gia trong một thời gian nhất định

- Thứ hai, mức độ biến đổi cơ cấu kinh tế của quốc gia Trong đó quan trọng

nhất là tỷ lệ ngành dịch vụ, công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân Mức độ tỷ

lệ ngành dịch vụ, công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân càng cao thể hiện mức phát triển càng cao

- Thứ ba, sự tiến bộ về cơ cấu xã hội, đời sống xã hội, mức độ gia tăng thu

nhập thực tế của người dân, mức độ công bằng xã hội của một quốc gia

2.3.2 Vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế xã hội

Vốn đầu tư có vai trò rất lớn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội,

có nhiều tài liệu đã đề cập đến lý thuyết này Theo Vũ Thị Ngọc Phùng (2005), vốn đầu tư có một số vai trò sau đối với phát triển kinh tế xã hội của một địa phương:

- Thứ nhất, vốn đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Trang 40

Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăng trưởng Tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những nhân

tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, là nhân tố tổng hợp, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế… do đó, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế

Để lượng hóa mối quan hệ của vốn đầu tư với tăng trưởng của nền kinh tế, hai nhà kinh tế học Roy Harrod của Anh và Evsey Domar của Mỹ đã đưa ra mô hình thể hiện mối liên hệ giữa đầu tư và tăng trưởng Mô hình này được gọi là “Mô hình Harrod – Domar” và được sử dụng rộng rãi

g = S/k

Trong đó: g là tốc độ tăng trưởng kinh tế; S: tỷ lệ tiết kiệm/GDP; k được gọi

là hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio)

Mô hình Harrod – Domar cho thấy mối quan hệ giữa vốn đầu tư và hiệu quả

sử dụng vốn đầu tư với tăng trưởng kinh tế Như vậy, về mặt lý thuyết để có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thì phải tăng mức đầu tư so với GDP và giảm hệ số ICOR xuống hoặc hạn chế không tăng Tuy nhiên theo công thức trên, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hằng năm được xác định bằng tỷ lệ giữa mức đầu tư so với GDP và ICOR nhưng đây không phải là hai biến độc lập, nó có quan hệ với nhau trong mối quan

Để nâng cao sức cạnh tranh, ngoài nỗ lực chủ quan, các chủ thể cần có phương tiện, công nghệ ngày càng hiện đại kèm chất lượng của nguồn nhân lực Những yếu tố đó chỉ có thể mua được khi có vốn đầu tư, cho nên vốn đầu tư là một điều kiện quan trọng để ứng dụng công nghệ hiện đại và nâng cao sức cạnh tranh của từng sản phẩm, ngành hàng, toàn nền kinh tế Tác động đó được thể hiện qua

Ngày đăng: 17/01/2019, 10:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Adam Smith (1997), Của cải của các dân tộc, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Của cải của các dân tộc
Tác giả: Adam Smith
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
3. Nguyễn Văn Bình (2007), ‘Thực trạng và giải pháp tăng cường nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế biển, đảo Việt Nam’, Tạp chí công thương, số 8, tháng 07/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí công thương
Tác giả: Nguyễn Văn Bình
Năm: 2007
5. Nguyễn Thị Cành (2003), Giáo trình tài chính công, NXB Đại học quốc gia, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tài chính công
Tác giả: Nguyễn Thị Cành
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2003
6. Nguyễn Thị Cành (2004), Các Mô Hình Tăng Trưởng và Dự Báo Kinh Tế- Lý Thuyết và Thực Nghiệm, NXB Đại học Quốc gia, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Mô Hình Tăng Trưởng và Dự Báo Kinh Tế-Lý Thuyết và Thực Nghiệm
Tác giả: Nguyễn Thị Cành
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2004
7. Trần Thanh Cương (2010), ‘Kinh nghiệm huy động vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị của một số nước Đông Bắc Á và ASEAN’, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 7, tr. 49-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘"Kinh nghiệm huy động vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị của một số nước Đông Bắc Á và ASEAN’, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á
Tác giả: Trần Thanh Cương
Năm: 2010
8. Bùi Mạnh Cường (2012), Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Mạnh Cường
Năm: 2012
9. Lê Vinh Danh (2004), Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thành phố Hồ Chí Minh hiện trạng và giải pháp, Đề tài VKT 11.03.2004, Viện Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thành phố Hồ Chí Minh hiện trạng và giải pháp
Tác giả: Lê Vinh Danh
Năm: 2004
10. Dương Tấn Diệp (2005), Giáo trình kinh tế vĩ mô, NXB Kinh tế, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế vĩ mô
Tác giả: Dương Tấn Diệp
Nhà XB: NXB Kinh tế
Năm: 2005
11. Nguyễn Ngọc Dung (2016), ‘Kinh nghiệm quốc tế về phát triển mô hình đặc khu kinh tế’, Tạp chí Tài chính kỳ 2, tháng 2/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính kỳ 2
Tác giả: Nguyễn Ngọc Dung
Năm: 2016
12. Nguyễn Văn Dũng (2014), Huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 2014
13. Nguyễn Đầu (2005), Huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Đầu
Năm: 2005
14. Nguyễn Anh Động (2012), Di tích – danh thắng và địa danh Kiên Giang, NXB Thanh niên, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích – danh thắng và địa danh Kiên Giang
Tác giả: Nguyễn Anh Động
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2012
15. Trần Xuân Giá (2000), ‘Những giải pháp cơ bản trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bài toán đạt ra cho việc sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả’, Thông tin Tài chính, số 16, tr. 2-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin Tài chính
Tác giả: Trần Xuân Giá
Năm: 2000
16. Nguyễn Thị Giang (2010), Huy động và sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh tế khu vực bồng bằng sông Cửu Long, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động và sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh tế khu vực bồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Thị Giang
Năm: 2010
17. Hà Nam Khánh Giao, Lê Quang Huy, Nguyễn Thị Cẩm Hồng (2013), ‘Khảo sát các yếu tố thu hút vốn đầu tư vào tỉnh Quảng Trị’, Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Số 3- tháng 6/2013, tr. 19 – 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp
Tác giả: Hà Nam Khánh Giao, Lê Quang Huy, Nguyễn Thị Cẩm Hồng
Năm: 2013
18. Hả Nam Khánh Giao, Lê Quan Huy, Nguyễn Thị Cẩm Hồng, Huỳnh Diệp Trâm Anh (2015), ‘Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư vào tỉnh Cà Mau’, Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, số 5, tr. 38-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Hả Nam Khánh Giao, Lê Quan Huy, Nguyễn Thị Cẩm Hồng, Huỳnh Diệp Trâm Anh
Năm: 2015
19. Nguyễn Hồng Hà (2015), Huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế tỉnh trà vinh, Luận án tiến sỹ kinh tế, Luận án tiến sĩ, Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế tỉnh trà vinh, Luận án tiến sỹ kinh tế
Tác giả: Nguyễn Hồng Hà
Năm: 2015
20. Phương Thị Hồng Hà (2006), Giáo trình quản lý ngân sách nhà nước, NXB Hà Nội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý ngân sách nhà nước
Tác giả: Phương Thị Hồng Hà
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
21. Trần Xuân Hà (2003), ‘Sự dụng trái phiếu Chính phủ để huy động vốn cho đầu tư phát triển ở Việt Nam’, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, số 6, tr. 7- 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Trần Xuân Hà
Năm: 2003
22. Nguyễn Minh Hằng (1996), ‘Việc thành lập các đặc khu kinh tế ở Trung Quốc’, Nghiên cứu Trung Quốc, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Minh Hằng
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w