Trong những năm gần đây, nền kinh tế đất nước đang trên đà phát triển, nền công nghiệp của nước ta cũng có những sự phát triển mới vượt bậc, số lượng các nhà máy, khu công nghiệp, khu chế xuất ngày càng được xây dựng nhiều đã giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động. Tuy nhiên bên cạnh sự phát triển thì cũng còn có những hạn chế nhất định đặc biệt là trong công tác bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động. Đây là vấn đề được nhà nước quan tâm. Vậy pháp luật đã có những quy định như thế nào? Thực tiễn thực hiện công tác an toàn – vệ sinh lao động đã đạt được những kết quả gì? Còn khó khăn, vướng mắc gì?
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I Khái quát chung về an toàn lao động, vệ sinh lao động 1
1 Khái niệm an toàn lao động, vệ sinh lao động 1
2 Ý nghĩa của của việc thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động 2
II Quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động 3
1 Quy định chung về an toàn lao động, vệ sinh lao động 3
1.1 Quy định chung 3
1.2 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động 5
2 Quy định về chăm sóc sức khỏe người lao động 6
3 Quy định về phương tiện bảo vệ cá nhân 8
4 Quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ nghơi 9
5 Quy định về bồi dưỡng bằng hiện vật 9
III Thực trạng thực hiện công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động trong thời gian vừa qua 11
1 Một số thành tựu đã đạt được trong thời gian qua 11
2 Một số hạn chế trong việc thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động trong thời gian qua 13
3 Đề xuất hướng giải quyết 14
C KẾT LUẬN 15
Tài liệu tham khảo: 16
Trang 2A MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế đất nước đang trên đà phát triển, nền công nghiệp của nước ta cũng có những sự phát triển mới vượt bậc, số lượng các nhà máy, khu công nghiệp, khu chế xuất ngày càng được xây dựng nhiều đã giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động Tuy nhiên bên cạnh sự phát triển thì cũng còn có những hạn chế nhất định đặc biệt là trong công tác bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động Đây là vấn đề được nhà nước quan tâm Vậy pháp luật đã có những quy định như thế nào? Thực tiễn thực hiện công tác an toàn – vệ sinh lao động đã đạt được những kết quả gì? Còn khó khăn, vướng mắc gì? Để trả lời cho những câu hỏi trên Em xin chọn đề tài “Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động” làm
đề tài cho bài tiểu luận của mình
B NỘI DUNG
I Khái quát chung về an toàn lao động, vệ sinh lao động
1 Khái niệm an toàn lao động, vệ sinh lao động
Dưới góc độ kinh tế xã hội, anh toàn lao động, vệ sinh lao động được hiểu
là các giải pháp thực hiện nhằm ngăn ngừa các yếu tố nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại từ đó thiết lập môi trường lao động an toàn, vệ sinh bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tôn trọng nhân cách của người lao động
Dưới góc độ pháp lý, an toàn lao động, vệ sinh lao động là một chế định của ngành luật lao động do nhà nước ban hành chứa đựng các quy phạm mang tính bắt buộc về điều kiện lao động an toàn và vệ sinh cũng như các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc khắc phục những yếu tố nguy hiểm, độc hại trong môi trường lao động nhằm bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân cách người lao động
Theo quy định của Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 thì: “An toàn lao
động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo
đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao
Trang 3động” (khoản 2 Điều 3); “Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động
của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động” (khoản 3 Điều 3)
Như vậy chúng ta có thể hiểu an toàn lao động - vệ sinh lao động là tổng hợp các biện pháp về khoa học- kĩ thuật, y tế- vệ sinh học, kinh tế học… được tiến hành nhằm thiết lập điều kiện làm việc đảm bảo an toàn, vệ sinh cho người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng bị tai nạn lao động hoặc giảm thiểu tỉ lệ người bị mắc bệnh nghề nghiệp trong môi trường làm việc
2 Ý nghĩa của của việc thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động
Trong nền kinh tế thị trường phát triển hiện nay, số lượng người lao động ngày càng tăng, nền sản xuất ngày càng phát triển cho nên vấn đề an toàn - vệ sinh lao động ngày càng được quan tâm Việc thực hiện công tác an toàn - vệ sinh lao động có ý nghĩa rất to lớn, đó là:
Thứ nhất, việc thực hiện an toàn - vệ sinh lao động là hết sức cần thiết nhằm hạn chế các tai nạn lao động và nghề nghiệp, tạo tân lý yên tâm cho người lao động, tiến tới loại bỏ các nguy cơ khách quan có thể gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và sự phát triển của người lao động
Thứ hai, an toàn - vệ sinh lao động tạo sự phát triển ổn định, bảo vệ sức khỏe của lực lượng lao động xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái Hiện nay môi trường sống của chúng ta đang bị ô nhiễm
đó là do quá trình xử lý các chất thải, nước thải, khí thải sau quá trình sản xuất không đúng quy trình vệ sinh lao động Vì vậy, thực hiện an toàn - vệ sinh lao động luôn là yêu cầu tất yếu của mọi nền sản xuất xã hội, là yếu tố tạo nên sự phát triển bền vững của cả cộng đồng
Thứ ba, việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động sẽ góp phần ổn định sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng sức lao động, tăng năng suất lao động và đảm bảo chất lượng sản phẩm từ đó đem lại lợi nhuận và hiệu quả kinh tế cao Chúng
ta có thể thấy rằng, xét về trước mắt thì việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động
Trang 4sẽ làm phát sinh và tăng thêm chi phí cho doanh nghiệp tuy nhiên về lâu dài nếu thực hiện tốt an toàn, vệ sinh lao động sẽ hạn chế được khả năng xảy ra tai nạn lao động, phòng ngừa bệnh nghề nghiệp cũng như những rủi ro đáng tiếc trong quá trình lao động Một khi đã xảy ra tai nạn lao động hoặc bện nghề nghiệp thì chi phí cho việc khắc phục sẽ rất lớn, uy tín của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng
Thư tư, việc thực hiện tốt vấn đề an toàn - vệ sinh lao động còn là thước
đo cho sự phát triển của một quốc gia, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài Một quốc gia phát triển thì số vụ tai nạn lao động cũng như các vấn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người lao động sẽ ít xảy ra Đây là cũng là yếu tố giúp thu hút vốn đầu tư từ cá doanh nghiệp nước ngoài vì họ sẽ yên tâm không lo đến vấn đề các chi phí cho việc khắc phục thiệt hại do các vấn đề tai nạn lao động xảy ra
II Quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
1 Quy định chung về an toàn lao động, vệ sinh lao động
1.1 Quy định chung
Trong công tác bảo đảm an toàn - vệ sinh lao động thì tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động là một yêu cầu rất quan trọng Để thực hiện tốt công tác này thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm nghiên cứu các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động từ đó làm cơ sở để nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung đối với người sử dụng lao động nhằm đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động Theo đó, “Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng, ban hành và hướng dẫn tổ chức thực hiện các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động” (khoản 1 Điều 136 bộ luật lao động 2012) Vấn đề Xây dựng Chương trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động được quy định cụ thể tại Điều 9 Nghị định 45/2013 – NĐCP “Quy định chi tiết một số điều của bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động” theo đó:
Trang 5“1 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm xây dựng Chương trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động theo từng giai đoạn 05 năm, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
2 Hằng năm, căn cứ Chương trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động đã được phê duyệt, dự toán của các Bộ, cơ quan và địa phương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổng hợp dự toán kinh phí thực hiện Chương trình cùng với dự toán ngân sách nhà nước gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình cơ quan có thẩm quyền quyết định”.
Các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các
tiêu chuẩn về an toàn - vệ sinh lao động “Người sử dụng lao động căn cứ tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn lao động, vệ sinh lao động để xây dựng nội quy, quy trình làm việc bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với từng loại máy, thiết bị, nơi làm việc” (khoản 2 Điều 136 Bộ luật lao động 2015) Việc thực hiện các tiêu chuẩn
an toàn – vệ sinh lao động trong quá trình lao động đòi hỏi phải có sự tuân thủ nghiêm ngặt, không thể thỏa thuận hay thay đổi được
Việc lập phương án về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động được quy định tại Điều 10 Nghị định 45/2013 – NĐCP “Quy định chi tiết một số điều của bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và
an toàn lao động, vệ sinh lao động” theo đó:
“1 Khi xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo công trình, cơ sở để sản xuất, sử dụng, bảo quản, lưu giữ máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động thì chủ đầu tư, người sử dụng lao động phải lập phương án về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với nơi làm việc của người lao động và môi trường, trình cơ quan có thẩm quyền cho phép xây dựng mới, mở rộng, cải tạo công trình, cơ sở.
2 Phương án về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động phải có các nội dung chính sau đây:
a) Địa điểm, quy mô công trình, cơ sở phải nêu rõ khoảng cách từ công trình,
cơ sở đến khu dân cư và các công trình khác;
Trang 6b) Liệt kê, mô tả chi tiết các hạng mục trong công trình, cơ sở;
c) Nêu rõ những yếu tố nguy hiểm, có hại, sự cố có thể phát sinh trong quá trình hoạt động;
d) Các biện pháp cụ thể nhằm loại trừ, giảm thiểu các yếu tố nguy hiểm, có hại; phương án xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp”.
1.2 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động
Để công tác an toàn – vệ sinh lao động được thực hiện một cách có hiệu quả thì người sử dụng lao động cuãng nhu người lao động cần phải thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của mình
Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật lao động, người sử dụng có các nghĩa vụ đó là:
“a) Bảo đảm nơi làm việc đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung, các yếu tố có hại khác được quy định tại các quy chuẩn kỹ thuật liên quan và các yếu tố đó phải được định
kỳ kiểm tra, đo lường;
b) Bảo đảm các điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với máy, thiết
bị, nhà xưởng đạt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động hoặc đạt các tiêu chuẩn về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc đã được công bố, áp dụng;
c) Kiểm tra, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc của cơ sở để
đề ra các biện pháp loại trừ, giảm thiểu các mối nguy hiểm, có hại, cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe cho người lao động;
d) Định kỳ kiểm tra, bảo dưỡng máy, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng;
đ) Phải có bảng chỉ dẫn về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với máy, thiết
bị, nơi làm việc và đặt ở vị trí dễ đọc, dễ thấy tại nơi làm việc;
e) Lấy ý kiến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở khi xây dựng kế hoạch
và thực hiện các hoạt động bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động”.
Trang 7Ngoài các quy định của bộ luật lao động, nghĩa vụ của người sử dụng lao động còn được quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015
Bên cạnh các nghĩa vụ thì người sử dụng lao động có các quyền đó là:
“a) Yêu cầu người lao động phải chấp hành các nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc;
b) Khen thưởng người lao động chấp hành tốt và kỷ luật người lao động vi phạm trong việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động;
c) Khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật;
d) Huy động người lao động tham gia ứng cứu khẩn cấp, khắc phục sự cố, tai nạn lao động.” (khoản 1 Điều 7 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015).
Một trong những yếu tố quan trọng của việc thực hiện tốt công tác an toàn
- vệ sinh lao động thì người lao động đóng vai trò rất lớn, người lao động có nghĩa vụ đó là:
“a) Chấp hành các quy định, quy trình, nội quy về an toàn lao động, vệ sinh lao động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao;
b) Sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp; các thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động nơi làm việc;
c) Báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, gây độc hại hoặc sự cố nguy hiểm, tham gia cấp cứu và khắc phục hậu quả tai nạn lao động khi có lệnh của người sử dụng lao động” (khoản 2 Điều 138 Bộ luật lao động 2012).
Ngoài quy định của Bộ luật lao động thì quyền và nghĩa vụ của người lao động còn được quy định tại Điều 6 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015
2 Quy định về chăm sóc sức khỏe người lao động
Sức khỏe của con người nói chung và người lao động nói riêng là tài sản quý giá của mỗi quốc gia Trong công tác an toàn - vệ sinh lao động thì việc bảo
vệ sức khỏe của người lao động là một nhiệm vụ trọng tâm Theo pháp luật hiện hành, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người lao động được quy định như sau:
Trang 8“a, Căn cứ vào tiêu chuẩn sức khỏe cho từng loại công việc, người sử dụng lao động sẽ tuyển dụng và sắp xếp công việc hợp lý
b, Người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe cho người lao động, kể
cả người học nghề, tập nghề định kỳ hàng năm; đối với lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản Người làm công việc nặng nhọc, độc hại, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi phải được khám sức khỏe ít nhất 6 tháng một lần
c, Người lao động làm việc trong môi trường tếp xúc với các yếu tố có nguy cơ mắc bện nghề nghiệp phải được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp theo quy định của Bộ y tế người sử dụng lao động đưa người lao động được chuẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện chuyên môn kỹ thuật để điều trị theo phác đồ điều trị bệnh nghề nghiệp do Bộ trưởng bộ y tế quy định
d, Người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi
bố trí làm việc và trước khi chuyển sang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hơn hoặc sau khi bị tai nạn lao động, bện nghề nghiệp đã phục hồi sức khỏe, tiếp tục trở lại làm việc, trừ trường hợp đã được hội đồng y khoa giám định mức suy giảm khả năng lao động
đ, Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải được giám định y khoa để xếp hạng thương tật, xác định mức độ suy giảm khả năng lao động và được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo đúng quy định của pháp luật
Sau khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nếu còn tiếp tục àm việc, thì người lao động được sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa
e, Người sử dụng lao động có trách nhiệm lập và quản lý hồ sơ sức khỏe của người lao động, hồ sơ sức khỏe của người bị bệnh nghề nghiệp; thông báo kết quả khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp để người lao động biết; hàng năm, báo cáo về việc quản lý sức khỏe người lao động thuộc trách nhiệm quản lý cho cơ quan nhà nước về y tế có thẩm quyền
Trang 9g, Hàng năm, khuyến khích người sử dụng lao động tổ chức cho người lao làm nghề, công việc nặn nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và người lao động có sức khỏe khám được điều dưỡng phục hồi sức khỏe”.1
Các quy định về khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động còn được quy định tai Điều 21 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015
3 Quy định về phương tiện bảo vệ cá nhân
Phương tiện bảo vệ cá nhân là những công cụ, phương tiện cần thiết mà người lao động phải được trang bị để sử dụng trong khi làm việc hoặc thực hiện nhiệm vụ để bảo vệ cơ thể khỏi các tác động của cá yếu tố nguy hiểm, độc hhaij phát sinh trong quá trình lao động, khi cá giải pháp công nghệ, thiết bị, kỹ thuật
an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc chưa thể loại trừ hết
Phương tiện bảo vệ cá nhân bao gồm: Phương tiện bảo vệ đầu; phương tiện bảo vệ mứt, mặt; phương tiện bảo vệ thính giác; phương tiện bảo vệ cơ quan
hô hấp; phương tiện bảo vệ tay, chân; phương tiện bảo vệ thhaan thể; phương tiện chống ngã cao; phương tiện chống điện giật, điện từ trường; phương tiện chống chết đuối; và các phương tiện bảo đảm an toàn vệ sinh lao động khác
Điều 23 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 có quy định về phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động, theo đó:
“1 Người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được người sử dụng lao động trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và phải
sử dụng trong quá trình làm việc.
2 Người sử dụng lao động thực hiện các giải pháp về công nghệ, kỹ thuật, thiết
bị để loại trừ hoặc hạn chế tối đa yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại và cải thiện điều kiện lao động.
3 Người sử dụng lao động khi thực hiện trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Đúng chủng loại, đúng đối tượng, đủ số lượng, bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;
1 Trường đại học Kiểm Sát Hà Nội, Giáo trình Luật lao động, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2016, trang 269, 270.
Trang 10b) Không phát tiền thay cho việc trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân; không buộc người lao động tự mua hoặc thu tiền của người lao động để mua phương tiện bảo vệ cá nhân;
c) Hướng dẫn, giám sát người lao động sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân; d) Tổ chức thực hiện biện pháp khử độc, khử trùng, tẩy xạ bảo đảm vệ sinh đối với phương tiện bảo vệ cá nhân đã qua sử dụng ở những nơi dễ gây nhiễm độc, nhiễm trùng, nhiễm xạ.
4 Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về chế độ trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động.”
4 Quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ nghơi
Thời giờ làm việc có có ảnh hưởng quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe người lao động Nếu làm việc trong khoảng thời gian hợp lý, đảm bảo thời gian nghỉ ngơi là một trong các yếu tố góp phần bảo đảm sức khỏe người lao động, việc kéo dài thời gian lao động sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như khả năng tái tạo sức lao động của người lao động Nếu làm việc vào ban đêm, làm thêm hay làm vào cuối giờ làm việc thì khả năng xảy ra tai nạn lao động cao hơn là làm việc vào ban ngày, bởi vì vào những thời điểm đó, cơ thể con người thường mệt mỏi, xuất hiện các thao tác thiếu chính xác, phản xạ chậm nên không ứng phó kịp thời với các sự cố bất thường xảy ra trong quá trình sản xuất, do đó việc quy định thời giờ làm việc thời giờ nghỉ nghơi hợp lý có ý nghĩa với việc hạn chế tai nạn lao động và các sự cố khác trong lao động
Các quy định về thời giờ làm việc cũng như thời giờ nghỉ nghơi được quy định tại Chương VII Bộ luật lao động và tại Chương 2 Nghị định 45/2013 – NĐCP “Quy định chi tiết một số điều của bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động” ngoài các quy định của pháp luật thì người lao động và người sử dụng lao động có thể thỏa thuận với nhau về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong hợp đồng lao động hay trong thỏa ước lao động tập thể, và những thỏa thuận đó không được trái quy định của pháp luật