Trong và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ngày càng có nhiều người Việt Nam ra nước ngoài hơn. Một bộ phận trong số đó sẽ có điều kiện tiếp xúc và tiếp thu luồng tư tưởng dân chủ tư sản. Hơn nữa, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, việc thực dân Pháp đẩy mạnh thực hiện các chính sách về văn hóa, giáo dục vô tình làm cho hệ tư tưởng dân chủ tư sản có điều kiện tràn vào nước ta thêm nữa. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải hiểu rằng, hệ tư tưởng dân chủ tư sản lúc đó không còn là hệ tư tưởng mới nhất, tiên tiến nhất, cách mạng nhất nữa. Vả lại, hệ tư tưởng đó khi vào Việt Nam lại bị bóp méo phần nào nên đã bị giảm bớt tính ưu việt
Trang 1Chuyên đề: KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO DÂN TỘC DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1919-1930
(Thời lượng 4 tiết)
A Nội dung cơ bản
I Điều kiện lịch sử tác động đến khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam
Để bù đắp những thiệt hại do chiến tranh gây ra, trong những năm 1919-1929, thực dân Pháp đã tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam với tốc độ đầu tư nhanh, quy mô lớn trong các ngành kinh tế
Rõ ràng, so với giai đoạn trước, nền kinh tế Việt Nam từ đầu thế kỉ
XX đến những năm 30 đã có bước phát triển nhanh chóng và những chuyển biến căn bản Quan hệ tư bản chủ nghĩa đã được mở rộng và giữ vị trí quan trọng trong nhiều ngành kinh tế.
Tuy nhiên, quá trình tư bản hoá của Pháp ở Việt Nam còn để lại nhiều hạn chế và những hậu quả nặng nề, mà hạn chế lớn nhất là đã tạo
ra một cơ cấu kinh tế què quặt mất cân đối và sự chuyển biến quá chậm của nền kinh tế, do đó dẫn tới sự phân hoá thiếu triệt để của cơ cấu giai cấp xã hội.
Giai cấp tiểu tư sản bao gồm những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, thợ thủ công, học sinh, sinh viên, công chức, trí thức… Sau chiến tranh giai cấp này có sự phát triển nhanh về số lượng Họ có ý thức dân tộc dân chủ, chống thực dân Pháp và tay sai Đặc biệt, bộ phận trí thức, học sinh, sinh viên rất nhạy cảm với thời cuộc và tha thiết canh tân đất nước nên hăng hái tham gia các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc.
Giai cấp tư sản ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Do bị tư bản Pháp chèn ép, kìm hãm nên số lượng ít, thế lực kinh tế yếu; dần dần
họ bị phân hóa thành hai bộ phận là tư sản mại bản và tư sản dân tộc Tư sản mại bản có quyền lợi gắn với đế quốc nên câu kết chặt chẽ với chúng… Tầng lớp tư sản dân tộc có xu hướng kinh doanh độc lập nên ít nhiều có khuynh hướng dân tộc và dân chủ
Quá trình phát triển của tư sản Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất là quá trình lớn mạnh và chuyển từ một tầng lớp xã hội sang một giai cấp xã hội và bắt đầu bước lên vũ đài chính trị, góp phần mình vào các phong trào dân tộc Tuy vậy, vì cơ sở kinh tế của giai cấp tư sản Việt Nam hết sức nhỏ yếu nên thái độ chính trị của họ rất bạc nhược Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sau chiến tranh, vai trò chủ yếu thuộc về tầng lớp tiểu tư sản trí thức chứ không phải giai cấp tư sản và sau khi cuộc
Trang 2khởi nghĩa Yên Bái bị dìm trong bể máu thì vai trò chính trị của giai cấp tư sản hầu như chấm dứt.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, những sĩ phu yêu nước lão thành như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh vẫn còn sục sôi nhiệt tình cách mạng Về cơ bản họ vẫn kiên trì đi theo con đường cứu nước mà chính họ
đã vạch ra từ đầu thế kỉ XX Giờ đây, tuy không còn đóng vai trò nòng cốt trong khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản nữa nhưng họ vẫn có ảnh hưởng sâu rộng trong phong trào yêu nước nói chung và khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản nói riêng.
Trong và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ngày càng có nhiều người Việt Nam ra nước ngoài hơn Một bộ phận trong số đó sẽ có điều kiện tiếp xúc và tiếp thu luồng tư tưởng dân chủ tư sản Hơn nữa, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, việc thực dân Pháp đẩy mạnh thực hiện các chính sách về văn hóa, giáo dục vô tình làm cho hệ tư tưởng dân chủ tư sản có điều kiện tràn vào nước ta thêm nữa Tuy nhiên, chúng ta cũng phải hiểu rằng, hệ tư tưởng dân chủ tư sản lúc đó không còn là hệ tư tưởng mới nhất, tiên tiến nhất, cách mạng nhất nữa Vả lại, hệ tư tưởng đó khi vào Việt Nam lại bị bóp méo phần nào nên đã bị giảm bớt tính ưu việt.
II Những hoạt động tiêu biểu đại diện cho khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam những năm 1919-1930
1 Hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở nước ngoài
a Phan Bội Châu và các hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở Trung Quốc
Trung Quốc là nơi tụ họp và địa bàn hoạt động của nhiều thế hệ người Việt Nam yêu nước Năm 1912, Phan Bội Châu cùng các đồng chí của ông nhóm họp ở Quảng Đông, tuyên bố giải tán Duy tân hội, thành lập Việt Nam quang phục hội với tôn chỉ mục đích “đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nền Cộng hoà dân quốc Việt Nam”.
Năm 1913, Phan Bội Châu bị bọn quân phiệt Trung Quốc bắt giam Đến cuối năm 1917 mới được trả tự do Từ sự thất bại và thời cuộc sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Phan Bội Châu tuy vẫn nặng lòng yêu nước song đã không thể tiếp tục tìm được phương thức cứu nước đúng đắn Ông
đã viết Pháp – Việt đề huề luận thể hiện tâm thế chán nản, bi quan trước thời cuộc.
Năm 1920, trước ảnh hưởng mạnh mẽ của cách mạng tháng Mười Nga, Phan Bội Châu bắt đầu hướng tới một hệ tư tưởng mới – tư tưởng xã hội chủ nghĩa Ông viết: “May thay! Đương lúc khói độc mây mù, thình lình có một trận gió xuân thổi tới Đương giữa lúc trời khuya đất ngủ,
Trang 3thình lình có một tia thái dương mọc ra Trận gió xuân ấy, tia thái dương
ấy là chủ nghĩa xã hội vậy.”
Tuy nhiên, tháng 6/1925 trong khi chưa thể thay đổi được tổ chức, thay đổi phương thức đấu tranh thích hợp với chuyển biến mới của đất nước và thời đại thì Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt tại Thượng Hải đưa về nước, kết án tù rồi an trí tại Huế Từ đó trở đi, trong hoàn cảnh một người tù bị giam lỏng, Phan Bội Châu không có điều kiện để vươn tới một
tư tưởng mới, một trào lưu cách mạng mới nữa.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nhiều thanh niên Việt Nam đã sang Trung Quốc mong tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc, tiêu biểu như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu… Năm 1923 nhóm thanh niên này đã thành lập tổ chức Tâm tâm xã tại Quảng Châu với tôn chỉ, mục đích:
“Liên hiệp những người có trí lực trong toàn dân Việt Nam, không phân biệt ranh giới đảng phái; miễn là có quyết tâm hy sinh tất cả tư ý và quyền lợi cá nhân, đem hết sức mình tiến hành mọi việc để khôi phục quyền làm người của người Việt Nam”.
Để phát huy thanh thế, Tâm tâm xã đã đưa người về nước liên lạc với các sĩ phu yêu nước, phân phát tài liệu ở nhiều nơi Đồng thời, cử Lê Hồng Sơn và Phạm Hồng Thái ám sát Toàn quyền Méc-lanh ở Sa Điện - Quảng Châu (19/6/1924) Sự việc không thành, Phạm Hồng Thái hy sinh anh dũng còn Lê Hồng Sơn trốn thoát và tiếp tục hoạt động.
Cuộc mưu sát Toàn quyền Méc-lanh thất bại nhưng đã góp phần thức tỉnh tinh thần yêu nước của hàng vạn đồng bào trong nước, “Tiếng bom của Phạm Hồng Thái đã nhóm lại ngọn lửa chiến đấu…., nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”.
b Phan Châu Trinh và hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở Pháp
Sau khi ra khỏi nhà tù Côn Đảo, Phan Châu Trinh sang Pháp (1911) tiếp tục hoạt động Năm 1912 ông cùng luật sư Phan Văn Trường thành lập Hội đồng bào thân ái tại Pháp Năm 1915 ông tham gia thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp Cuối năm 1917 khi Nguyễn Ái Quốc từ Anh sang Pháp, ông cùng Phan Văn Trường giúp đỡ Người từ nơi ăn trốn ở đến tìm kiếm việc làm và trở thành những đồng chí thân tín trong những năm tháng hoạt động của Người ở Pháp.
Vào đầu năm 1922, Phan Châu Trinh đến Mácxây Nhân dịp vua Khải Định sang dự cuộc triển lãm để khuếch trương “công lao khai hóa” của Pháp, Phan Châu Trinh đã viết Thất điều thư vạc ra 7 tội đáng chém của Khải Định Phan Châu Trinh còn tổ chức diễn thuyết lên án chế độ
Trang 4quân chủ và quan trường Việt Nam; tiếp tục hô hào “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”…
Tháng 6-1925, Phan Châu Trinh về nước Mặc dù sức khỏe đã yếu, ông vẫn tiếp tục hoạt động, đả phá chế độ quân chủ, đề cao dân quyền Nhiều tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên rất mến mộ và hưởng ứng hoạt động của Phan Châu Trinh.
Cùng với các hoạt động của Phan Châu Trinh, nhiều Việt kiều tại Pháp đã hăng hái tham gia các hoạt động như đưa đón cán bộ, chuyển tài liệu, sách báo tiến bộ về nước để tuyên truyền, giác ngộ các tầng lớp nhân dân Nhiều trí thức và lao động Việt Nam ở Pháp đã tập hợp lại trong các
tổ chức yêu nước Năm 1925, Hội nghững người lao động trí óc Đông Dương ra đời
Một số thanh niên, sinh viên yêu nước xuất thân trong các gia đình địa chủ, tư sản lập ra Đảng Việt Nam độc lập, xuất bản báo Tái sinh.
2 Hoạt động của giai cấp tư sản
Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam chưa phải là một giai cấp, do đó chưa có hoạt động gì nổi bật Phải đến thời kì sau chiến tranh, tư sản mới bước lên vũ đài chính trị và tiến hành một số hoạt động mang đặc điểm giai cấp rõ rệt.
a Đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế
Tư sản Hoa kiều là lực lượng giữ vị trí thứ hai sau tư bản Pháp trongcác ngành kinh doanh thương mại xuất nhập khẩu, thầu khoán, mộ phu… ởViệt Nam Để chống lại thế lực của người Hoa, năm 1919 tư sản Việt Nam đãdấy lên phong trào “tẩy chay khách chú” ở một số thành phố, thị xã như SàiGòn, Hà Nội, Hải Phòng…
Họ nêu ra các khẩu hiệu “Người An Nam mua bán với người An Nam”,
“Người An Nam không gánh vàng đi đổ sông Ngô”… Thậm chí một số nơi
còn xảy ra các vụ xô xát, đập phá một số cửa hàng, cửa hiệu của người Hoa
Trước sự phát triển của phong trào, thực dân Pháp lo sợ đã vội vàngtìm cách ngăn cản Sau vài vụ bắt bớ của chính quyền Pháp, phong trào xẹpdần rồi tắt hẳn
Nhằm thực hiện mục đích độc chiếm thị trường, năm 1923, thực dânPháp đã mở một cuộc vận động tại Hội đồng thuộc địa, chính thức trao quyềnkinh doanh ở cảng Sài Gòn cho một công ti Pháp Giới tư sản và địa chủ Nam
kì đã kịch liệt phản đối
Phong trào chống độc quyền cảng Sài Gòn diễn ra khá sôi nổi, lôi cuốnđược sự tham gia ủng hộ của đông đảo thanh niên trí thức tư sản và tiểu tưsản ở Sài Gòn và các tỉnh Nam kì Một số cuộc mít tinh được tổ chức, nhiều
Trang 5tờ báo còn công khai phản đối quyết định của Hội đồng thuộc địa.
Do sức ép của phong trào quần chúng cùng dư luận Việt Nam và Pháp,chính quyền Đông Dương buộc phải tạm hoãn thi hành nghị quyết của Hộiđồng thuộc địa Nam kì
Như vậy, cuộc đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn đã phản ánhnhững mâu thuẫn về quyền lợi giữa tư sản Việt Nam và tư bản Pháp Nhưngcuộc đấu tranh này chỉ chống một công ti tư bản, chứ chưa phải là cuộc đấutranh chống lại toàn bộ ách cai trị của chủ nghĩa thực dân Pháp trên đất nướcta
b Hoạt động trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng
Đi đôi với các cuộc đấu tranh kinh tế, giai cấp tư sản Việt Nam cònxuất bản báo chí làm cơ quan tuyên truyền cho tư tưởng cải lương chủ nghĩa,đồng thời đấu tranh đòi một số quyền tự do dân chủ trong khuôn khổ chế độthuộc địa
Hai tờ báo đóng vai trò cơ quan phát ngôn của giai cấp tư sản là Diễn
đàn Đông Dương và Tiếng dội An Nam Các tờ báo này tuyên truyền cho chủ
nghĩa Pháp – Việt đề huề và tư tưởng trực trị
Tổ chức đại diện đầy đủ nhất cho các quan điểm quốc gia cải lương của
giai cấp tư sản là Đảng lập hiến được lập ra ở Nam kì năm 1923 Với tư cách
là lãnh tụ của đảng, Bùi Quang Chiêu nêu ra 3 yêu cầu về chính trị là tự do tưtưởng, tự do viết báo bằng tiếng mẹ đẻ, tự do đi lại và hội họp
Năm 1925, Đảng lập hiến đưa tập Dân nguyện cho Toàn quyền Đông
Dương Va-ren, đòi một số quyền tự do dân chủ Cùng năm đó, Bùi QuangChiêu sang Pháp để vận động chính phủ Pháp ban hành một số cải cách tự dodân chủ ở Đông Dương nhưng không giành được kết quả gì
Ngoài Đảng lập hiến còn có các nhóm Nam phong của Phạm Quỳnh, nhóm Trung Bắc tân văn của Nguyễn Văn Vĩnh ở ngoài Bắc Nhóm Phạm
Quỳnh nêu lên thuyết quân chủ lập hiến, còn nhóm Nguyễn Văn Vĩnh lại đềcao tư tưởng trực trị…
Tóm lại, giai cấp tư sản Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất đã
có những cố gắng nhất định trong cuộc đấu tranh chống sự cạnh tranh, chèn
ép của tư bản nước ngoài Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh này chủ yếu nhằmthoả mãn các yêu cầu tối thiểu về quyền tự do dân chủ, quyền bình đẳng trongkinh tế và hoạt động chính trị với tư bản Pháp
3 Hoạt động của giai cấp tiểu tư sản
a Phong trào văn hoá tiến bộ
Trong cao trào đòi tự do dân chủ, nhiều trí thức tiến bộ đã trở thànhngười khởi xướng, tổ chức và lãnh đạo các cuộc đấu tranh yêu nước của nhân
Trang 6dân Họ dùng báo chí làm công cụ đấu tranh, đồng thời để bộc lộ các quanđiểm chính trị của mình Vì vậy, sau những năm 20, hoạt động báo chí, vănhoá đã diễn ra khá sôi nổi trên cả nước.
Hai tờ báo Chuông rè của Nguyễn An Ninh và An Nam trẻ của Phan
Văn Trường đã kịch liệt đả phá chế độ thực dân, công khai chống lại chủnghĩa Pháp - Việt đề huề Ngoài ra, báo chí còn trích đăng một số bài trên báo
Nhân đạo của Đảng cộng sản Pháp, giới thiệu những tài liệu liên quan đến
Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa xã hội
Bên cạnh các tờ báo in bằng tiếng Pháp, còn xuất hiện nhiều tờ báo
tiếng Việt như Thực nghiệp dân báo, tờ Hữu thanh của Tản Đà - Nguyễn
Khắc Hiếu… Các tờ báo nói trên đều phản ánh nguyện vọng về tự do dân chủcủa quần chúng, tuyên truyền tư tưởng văn hoá tiến bộ, kịch liệt chống lại chủnghĩa Pháp - Việt đề huề
Cùng với xuất bản báo chí, một số trí thức trẻ còn thành lập các nhà
xuất bản như Nam đồng thư xã của Phạm Tuấn Tài ở Hà Nội; Quan hải tùng
thư của Đào Duy Anh ở Huế; Cường học thư xã của Trần Huy Liệu ở Sài
Gòn…
Tuy chưa có một xu hướng chính trị thống nhất, nhưng những hoạtđộng văn hóa của tầng lớp tiểu tư sản trí thức đã phát triển rầm rộ, quy môkhá rộng lớn Họ không chỉ lớn tiếng trong làng báo mà còn biên soạn, dịchthuật và xuất bản khá nhiều sách: “Gắn những hoạt động văn hóa vào nhữngvấn đề nóng hổi đang diễn ra trước mắt cũng là một đặc điểm nổi bật cuả họ
Từ đó họ đả kích thực dân, cổ động lòng yêu nước” Họ không những gópphần đấu tranh đòi tự do dân chủ mà bằng hoạt động văn hóa họ đã tập hợp
lực luợng tạo nên những Nam đồng thư xã, Cường học thư xã, Đảng thanh
niên ở Nam Kì, Hội Phục Việt ở Trung Kì
b Phong trào đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu (1925) và lễ tang Phan Châu Trinh (1926)
- Phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu (1925)
Năm 1925, sau lần Phan Bội Châu lớn tiếng bênh vực cho hành độngcủa Phạm Hồng Thái trong việc ném tạc đạn vào Toàn quyền Méc-lanh(Merlin) và việc cụ Phan “răn đe” chính quyền thực dân: sẽ “quyết không đểcho chính phủ Pháp một ngày ngồi nằm yên ổn Việc ám sát Méc-lanh lầnnày chẳng qua là một sự cảnh cáo của đảng chúng tôi mà thôi”, rồi khẳngđịnh: “Thắng lợi cuối cùng thế tất thuộc về đảng chúng tôi”; thì thực dânPháp đã sang tận Trung Quốc bủa vây, rình mò để bắt cóc cụ Phan Bội Châu,nhằm chấm dứt vai trò của một thủ lĩnh cách mạng, suốt hơn một phần tư thế
kỉ, đã kiên cưòng đấu tranh, lăn lộn hoạt động vì sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trang 7của nhân dân ta.
Được tin Phan Bội Châu bị bắt, Hội Phục Việt đã rải truyền đơn kêu
gọi nhân dân đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp phải trả tự do cho cụ Khi
Toà Đề hình Đông Dương tuyên mức án khổ sai chung thân đối với Phan Bội
Châu thì dư luận rất phẫn nộ Nhiều điện văn được gửi tới Toàn quyền ĐôngDương đòi thả Phan Bội Châu Có những tờ đơn kháng cáo còn được gửi đếntận Hội quốc liên, Toà án quốc tế La Hay, Nghị viện Pháp đòi huỷ bỏ bản áncho Phan Bội Châu
Cuối cùng, ngày 25-12-1925, trước áp lực đấu tranh của quần chúng,Toàn quyền Varen kí lệnh “ân xá” Phan Bội Châu và đưa về giam lỏng ở Huếdưới sự kiểm soát chặt chẽ của bọn mật thám
Sự thắng lợi của phong trào đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu - phongtrào đấu tranh công khai đầu tiên, đã làm nức lòng nhân dân cả nước và cổ vũmạnh mẽ cho cuộc đấu tranh cứu nước trong giai đoạn mới
- Phong trào tổ chức tang lễ Phan Châu Trinh
Cũng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh là một nhà yêu nước nhiệtthành Ông là nhà dân chủ lớn và tiêu biểu nhất ở nước ta đầu thế kỉ XX Têntuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với một giai đoạn sôi động của phong tràogiải phóng dân tộc Vì vậy, khi nghe tin Phan Châu Trinh qua đời, nhân dân
cả nước ngậm ngùi thương tiếc, tổ chức lễ truy điệu ở khắp nơi
Ban tổ chức tang lễ cụ Phan Châu Trinh đã gửi lời hiệu triệu đi khắp cảnước kêu gọi làm lễ truy điệu nhà chí sĩ ái quốc, coi như một quốc tang Nốitiếp khí thế của cuộc vận động đòi thả cụ Phan Bội Châu, nên bản hiệu triệutrên đã được mọi nơi hưởng ứng nhiệt liệt Học sinh các trường Trung học đòinghỉ học để để tang nhà chí sĩ Không chỉ ở chùa Đồng Nhân (Hà Nội), chùa
Dư Hàng (Hải Phòng), chùa Cả (Nam Định) và nhiều nơi khác trên cả bamiền Bắc, Trung, Nam mà lòng tiếc thương Cụ còn vượt ra ngoài biên giớiđến cả Phnômpênh (Campuchia) và Viên Chăn (Lào); tổng cộng có tới hàngchục vạn người tham gia lễ truy điệu Riêng tại Sài Gòn 14 vạn người đã cómặt trong cuộc tiễn đưa cụ Phan Châu Trinh (từ Sài Gòn lên Tân Sơn Nhất)
về nơi an nghỉ cuối cùng
4 Việt Nam Quốc dân đảng (1927-1930) và khởi nghĩa Yên Bái
Việt Nam quốc dân đảng là tổ chức tiêu biểu nhất của khuynh hướng
cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam trong những năm 20
Trên cơ sở hạt nhân là nhà xuất bản Nam đồng thư xã, ngày 25/12/1927 Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Phạm Tuấn Tài thành lập Việt Nam quốc
dân đảng
Khi mới thành lập, đảng chưa có chính cương rõ ràng mà chỉ nêu
Trang 8chung chung là “trước làm dân tộc cách mạng, sau làm thế giới cách mạng”.Năm 1928, đảng nêu lên chủ nghĩa của đảng là “chủ nghĩa xã hội dân chủ”.Mục đích của đảng là đoàn kết lực lượng để đẩy mạnh cách mạng dân tộc,xây dựng nền dân chủ trực tiếp, giúp đỡ các dân tộc bị áp bức.
Bản chương trình hành động công bố năm 1929, Việt Nam quốc dân
đảng nêu nguyên tắc tư tưởng là “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”; chương trình
hành động gồm 4 thời kì, thời kì cuối cùng là bất hợp tác với chính phủ Pháp
và triều Nguyễn, cổ động bãi công, đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua,thiết lập dân quyền
Việt Nam quốc dân đảng chủ trương “tiến hành cách mạng bằng sắt và
máu”
Thành phần chủ yếu của đảng gồm trí thức, học sinh, giáo viên, côngchức, những người làm nghề tự do, một số thân hào ở nông thôn, một số binhlính người Việt trong quân đội Pháp
Về cơ cấu tổ chức, Việt Nam Quốc dân đảng có 4 cấp: Tổng bộ, Kì Bộ,Tỉnh bộ và Chi bộ Số đảng viên trong chi bộ không quá 19 người Trong hơn
hai năm tồn tại, Việt Nam quốc dân đảng đã có nhiều cố gắng trong việc xây
dựng và phát triển cơ sở, nhưng địa bàn hoạt động chính của đảng là ở Bắc kì
Ngoài ra còn có một số chi bộ ở Nam kì và ở Lào Tại Trung kì, Việt Nam
quốc dân đảng không phát triển được vì thế lực của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Tân Việt cách mạng đảng rất mạnh.
Do không có lí luận cách mạng làm cơ sở cho đường lối và phương
pháp đấu tranh nên Việt Nam quốc dân đảng thiên về các hoạt động ám sát,
khủng bố cá nhân Điển hình nhất là vụ ám sát Badanh – tên trùm mộ phu ởBắc Trung kì tại Hà Nội vào tháng 2/1929
Vụ án này đã làm nức lòng các tầng lớp nhân dân, còn bọn thực dân vôcùng hoảng sợ và tức tối Chúng tăng cường lực lượng truy tìm thủ phạm vụ
án, đồng thời nhân đà đó thẳng tay bắt bớ và khủng bố những người yêunước, phá vỡ các tổ chức cách mạng Sau 5 tháng săn lùng liên tục, đến tháng
7 năm 1929, Pháp đã bắt được 225 đảng viên đưa ra xét xử và giam cầmtrong các nhà tù Hầu hết các cơ sở của Việt Nam Quốc dân đảng ở Hà Nội,Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh bị mật thám Pháp phá vỡ Trước tình hìnhnguy ngập ấy, Ban lãnh đạo Tổng bộ đi đến quyết định phát động khởi nghĩavới tinh thần “Không thành công cũng thành nhân”
Do thiếu chặt chẽ trong tổ chức, thiếu thống nhất trong lãnh đạo, kếhoạch khởi nghĩa hoãn đi hoãn lại nhiều lần, lại bị thực dân Pháp điên cuồngkhủng bố nên khởi nghĩa nổ ra không đều Tại các vùng Lâm Thao, HưngHoá, Sơn Tây, Phả Lại, Vĩnh Bảo, Kiến An, Phủ Dực khởi nghĩa nổ ra đều
Trang 9không thành công; chỉ có cuộc khởi nghĩa Yên Bái (đêm 9-2-1930), nơi khởi
sự cho phong trào đã chiếm được Trại lính cơ số 5 và Trại lính cơ số 6.Nhưng không làm chủ được tình hình, không lôi kéo được toàn bộ lính khốxanh, nên sáng hôm sau, thực dân Pháp tập trung lực lượng phản công vàcuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị dập tắt
Khởi nghĩa Yên Bái với những hành động quả cảm của nghĩa quân Việt
Nam quốc dân đảng đã thể hiện tinh thần yêu nước, chí khí quật cường của
dân tộc ta, góp phần thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước trong các tầng lớp nhândân
Tuy nhiên, sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái cũng chứng tỏ sự bồngbột, hăng hái nhất thời của tầng lớp tiểu tư sản trí thức Đó cũng là thất bạicủa giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng ViệtNam
Đồng chí Lê Duẩn đã nhận định: “Khởi nghĩa Yên Bái chỉ là một cuộcbạo động bất đắc dĩ, một cuộc bạo động non, để rồi chết luôn không bao giờngóc đầu lên nổi Khẩu hiệu “Không thành công cũng thành nhân” biểu lộtính chất hấp tấp tiểu tư sản, tính chất hăng hái nhất thời và đồng thời cũngbiểu lộ tính chất không vững chắc, non yếu của phong trào tư sản”
Từ sau cuộc bạo động Yên Bái, Việt Nam quốc dân đảng hoàn toàn tan
rã, khuynh hướng cách mạng dân tộc hoàn toàn thất bại, hệ tư tưởng tư sảncũng hoàn toàn bất lực trước các nhiệm vụ của cuộc cách mạng giải phóngdân tộc Ngọn cờ cách mạng đã chuyển hẳn sang tay giai cấp vô sản Từ đâytrở đi, “trên dải đất Việt Nam, phong trào chống đế quốc, giành độc lập dântộc chỉ là những phong trào do giai cấp vô sản lãnh đạo”
III Nhận xét chung
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Namtrong những năm 1919 – 1930 là sự tiếp nối của khuynh hướng cách mạngdân chủ tư sản những năm đầu thế kỉ XX trong điều kiện lịch sử có nhiều nétmới
Trong những năm 1919-1930, những sĩ phu yêu nước, tầng lớp tư sảndân tộc, giai cấp tiểu tư sản đã đấu tranh không mệt mỏi vì quyền lợi của giaicấp, tầng lớp mình cũng như vì quyền lợi dân tộc Hình thức đấu tranh của họcũng khá phong phú, đa dạng qua đó gây cho Pháp nhiều khó khăn, thậm chí
là thiệt hại Đây là minh chứng hùng hồn cho lòng yêu nước, tinh thần cáchmạng của các giai cấp, tầng lớp đại diện cho khuynh hướng cách mạng dân
chủ tư sản ở Việt Nam Đây cũng là cơ sở để ta thấy được những đóng góp
của khuynh hướng cách mạng này đối với phong trào dân tộc dân chủ ở ViệtNam
Trang 10Sự thất bại của khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản có nhiều nguyên nhân:
- Giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu cả về kinh tế và chính trị nênkhông đủ sức giữ vững ngọn cờ lãnh đạo cách mạng
- Ngọn cờ tư tưởng dân chủ tư sản tuy đối với người Việt Nam còn rấtmới mẻ, nhưng trong điều kiện lịch sử hiện tại nó không phải là hệ tư tưởngtiến bộ nhất, ưu việt nhất
- Giai cấp tư sản Việt Nam còn thiếu một đường lối chính trị đúng đắn
và một phương pháp cách mạng khoa học Bên cạnh đó, do sự phân hoá giaicấp chưa triệt để nên giai cấp tư sản Việt Nam rất dễ bị dao động, dễ thoảhiệp khi được thực dân Pháp nhượng bộ cho một số quyền lợi trước mắt
- Tổ chức chính trị của giai cấp tư sản, tiêu biểu là Việt Nam quốc dân
đảng rất lỏng lẻo, thiếu cơ sở trong quần chúng nên không đủ sức chống đỡ
trước sự tiến công của đế quốc Pháp
- Về khách quan, đây là lúc thực dân Pháp đang mạnh, đang ra sứccủng cố nền thống trị ở Đông Dương So sánh lực lượng chưa có lợi chophong trào yêu nước, thời cơ cách mạng cũng chưa xuất hiện
Ý nghĩa lịch sử
Phong trào dân tộc dân chủ theo khuynh hướng cách mạng dân chủ tưsản ở Việt Nam những năm 1919-1930 đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nướccủa nhân dân Việt Nam; góp phần đào tạo, rèn luyện một đội ngũ những nhàyêu nước cho các phong trào đấu tranh về sau Những hoạt động tiêu biểu chokhuynh hướng cách mạng này đã góp phần khảo nghiệm một con đường cứunước mới và chứng tỏ con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dânchủ tư sản không đáp ứng được những yêu cầu mới của thời cuộc nên đã thấtbại trước những nhiệm vụ lịch sử của nó
Sự thất bại của phong trào cũng giúp cho những người yêu nước ViệtNam hướng đến một con đường mới, tiếp thu lí luận giải phóng dân tộc theokhuynh hướng cách mạng vô sản, làm cho phong trào yêu nước trở thành mộttrong những điều kiện dẫn đến sự ra đời của Đảng cộng sản Việt nam