1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Đánh giá kết quả ước tính trọng lượng thai trước khi sinh trên siêu âm bằng 2 công thức tokyo, hadlock 3 và trọng lượng thực tế của trẻ sơ sinh tại khoa sản bệnh viên bắc thăng long trong năm 2018

36 977 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 741,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp đo đường kính ngang bụng bằng siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung………..5 1.6.. Facob và Monroe Samuels 1969 có đề cập tới sự liên quan giữa lượng creatinin trong

Trang 1

SỞ Y TẾ HÀ NỘI BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG

********

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ:

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ƯỚC TÍNH TRỌNG LƯỢNG THAI TRƯỚC KHI SINH TRÊN SIÊU ÂM BẰNG 2 CÔNG THỨC: TOKYO

VÀ HADLOCK 3 VỚI TRỌNG LƯỢNG THỰC TẾ CỦA TRẺ SƠ SINH TẠI KHOA SẢN BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG NĂM

2018.

Chủ nhiệm đề tài:

1 Bs CKI Nguyễn Thị Mai Phương

2 Bs CKII Đoàn Thị Kim Liên

3 CN HS Bùi Thị Diên

4 HS Hồ Thị Hạnh

5 HS Nguyễn Thị Ngần

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT:

BPD: Đường kính lưỡng đỉnh

FTA: Thiết diện ngang thân thai

HC: Chu vi đầu thai nhi

Trang 3

MỤC LỤC:

ĐẶT VẤN ĐỀ….……….1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU………… ……… … 2

I Trước khi có siêu âm………2

II Khi có siêu âm……… 3

1 Các phương pháp ước tính trọng lượng thai trên siêu âm đã từng được sử dụng ……… 3

1.1 Phương pháp đo đường kính lưỡng đỉnh siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai……….……… 3

1.2 Phương pháp đo chu vi đầu thai để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung……… …….5

1.3 Phương pháp đo thể tích tử cung theo chiều cao, trước sau, ngang tử cung để chẩn đoán cân năng thai……….……….5

1.4 Phương pháp đo thể tích tim thai bằng siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai……….…… 5

1.5 Phương pháp đo đường kính ngang bụng bằng siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung……… 5

1.6 Phương pháp đo ngực thai để chẩn đoán cân nặng thai………6

1.7 Phương pháp đo thể tích thai bằng siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai………7

1.8 Phương pháp đo chu vi vòng bụng thai bằng siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai……….8

1.9 Phương pháp đo diện tích mặt cắt bụng thai qua tĩnh mạch rốn để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung……… 9

1.10 Phương pháp đo đường kính trung bình bụng thai để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung……… 9

1.11 Phương pháp đo kết hợp các phần của thai bằng siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung……….… 10

2 Các công thức ước tính trọng lượng thai trên siêu âm hiện nay hay dùng……….11

Trang 4

3 Công thức tính trọng lượng thai trên lâm sàng ( dựa vào cao tử cung

và vòng bụng)……… 12

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

CHƯƠNG III:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU…….……….17

CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN……… ………25

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN………28

CHƯƠNG VI: KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT……… …….29

Tài liệu tham khảo

Phiếu điều tra

Danh sách bệnh nhân trong nghiên cứu

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3: Sai số của từng công thức liên quan với tuổi của mẹ…….22Bảng 4: Sai số của từng công thức liên quan với tuần tuổi thai… 22Bảng 5: Sai số của từng công thức liên quan với việc tăng trọng lượng

của mẹ trong thai kỳ………23Bảng 6: Sai số của từng công thức liên quan với chỉ số ối ……….23Bảng 7: Sai số của từng công thức liên quan với yếu tố chuyển dạ.24

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1: Tỷ lệ nghề nghiệp………17

Sơ đồ 2: Tỷ lệ trình độ văn hóa……….……….…18

Sơ đồ 3: Tỷ lệ theo địa chỉ…….……….…18

Sơ đồ 4: Tỷ lệ theo số lần sinh… ……… 19

Sơ đồ 5: Tỷ lệ theo tuần tuổi thai……… ……… 19

Sơ đồ 6: Tỷ lệ theo chỉ số ối……… ……….….20

Sơ đồ 7: Tỷ lệ theo chuyển dạ đẻ……… ……… 20

Sơ đồ 8: Tỷ lệ theo số kg tăng của trọng lượng mẹ trong thai kỳ…21

Trang 7

DANH MỤC HÌNH MINH HỌA

Hình 1: Đo đường kính lưỡng đỉnh trên siêu âm……… 14Hình 2: Đo đường kính trước sauvaf đường kính ngang bụng trên siêu âm ……… ………14Hình 3: Đo chu vi và diện tích bụng theo hình e-líp……… 15Hình 4: Đo chiều dài xương đùi trên siêu âm……….15

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiên lượng cuộc đẻ là sự đánh giá của người thầy thuốc sau khi đã thăm khám một sản phụ để dự đoán cuộc đẻ sắp tới sẽ diễn ra bình thường hay khó khăn, có phải can thiệp không và can thiệp bằng cách nào là tối ưu

để đảm bảo an toàn cho mẹ và con, phòng ngừa những tai biến có thể xảy

ra trước, trong và sau cuộc đẻ

Tiên lượng cuộc đẻ đòi hỏi người thầy thuốc phải có kiến thức, kinh nghiệm, và quan trọng hơn là thái độ nghiêm túc trong việc thăm khám và theo dõi sản phụ mới có thể tiên lượng được tốt, không để xảy ra tai biến

Một trong những yếu tố quan trọng trong tiên lượng cuộc đẻ là ước tính trọng lượng thai Ngày nay, nhờ có siêu âm việc chẩn đoán trọng lượng thai trở nên dễ dàng và chính xác hơn

Siêu âm là những sóng dao động cơ học có tần số cao trên 16.000Hz,tai người không nghe thấy được

Siêu âm lan truyền trong các môi trường đặc, lỏng, môi trường sinh học với những vận tốc khác nhau phụ thuộc vào bước sóng, tần số của siêu

âm và môi trường (trở kháng âm của môi trường)

Trên thực tế đã có rất nhiều công thức để tính trọng lượng thai, kể cả trên lâm sàng và siêu âm, nhưng đến nay việc ước tính trọng lượng thai bằng siêu âm theo 2 công thức là Tokyo, và Hadlock3 là được sử dụng nhiều nhất do cách thức thực hiện đơn giản, dễ làm Tuy nhiên, việc so sánh độ chính xác của 2 công thức trên ở đơn vị vẫn còn chưa được nghiên

cứu vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài : “Đánh giá kết quả ước tính trọng

lượng thai trước khi sinh trên siêu âm bằng 2 công thức: Tokyo,

Hadlock 3 và trọng lượng thực tế của trẻ sơ sinh tại khoa Sản- Bệnh viên Bắc Thăng Long trong năm 2018” với mục tiêu:

1 Đánh giá độ sai lệch trong việc ước tính trọng lượng thai của 2 công thức trên.

2 Liên quan độ sai lệch trong việc ước tính trọng lượng thai của từng công thức trên với một số yếu tố nguy cơ.

Trang 9

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

I Trước khi có siêu âm:

Trước năm 1958 trong y văn các phương pháp sử dụng để chẩn đoán trọng lượng thai rất nghèo nàn, một số tác giả như Wallace P.Begneaud Jr.Truman P.Hawes Jr.Abe Mikal Facob và Monroe Samuels (1969) có đề cập tới sự liên quan giữa lượng creatinin trong nước ối và cân nặng thai, nhưng không nêu lên hệ số liên quan cụ thể để đánh giá mức độ tin cậy của phương pháp, mà chỉ nêu kết quả chung như sau:

Nếu độ creatinin < 2mg/100ml, thì cân nặng của thai tương ứng là 2500gr trong 48% trường hợp

Nếu độ creatinin ≥2mg/100ml, thì cân nặng thai tương ứng là 2500gr trong 63% trường hợp (độ tin cậy p< 0,001, λ2= 18,8)

Phương pháp này được nhiều tác giả chấp nhận để chẩn đoán độ trưởng thành của thai hơn là để chẩn đoán cân nặng thai [1].

Năm 1972 Ong H.C, Sen D.K đã áp dụng phương pháp lâm sàng( cân,

đo, sờ, nắn bụng của sản phụ) để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung cho

1000 trường hợp tại trường đại học Kuallalumpur( Malaysia), đã cho kết quả như sau:

Sai số chẩn đoán trong vòng 450gr chiếm 82,5% trường hợp

Sai số càng tăng với những thai to

Sai số chẩn đoán ± 448gr chiếm tỷ lệ 42,9%, ở thai có cân nặng từ 1350gr đến 1770gr

Sai số chẩn đoán ± 448gr chiếm tỷ lệ 55,4%, ở thai có cân nặng từ 1800gr đến 2220gr

Sai số này tăng lên đến 71,9%, ở thai có cân nặng từ 2250gr đến 2670gr

Sai số này tăng lên tối đa là 93,3%, ở thai có cân nặng từ 3150gr đến 3570gr

Phương pháp chẩn đoán cân nặng dựa vào kinh nghiệm, và dấu hiệu lâm sàng này hoàn toàn phụ thuộc vào tính chủ quan của từng người, cụ thểtrong công trình nghiên cứu của Ong H.C (1972), thì sinh viên chẩn đoán sai trong vòng ± 450gr chiếm 91,1% trường hợp, trong khi đó giảng viên và

Trang 10

nữ hộ sinh trưởng, có kinh nghiệm chẩn đoán sai ± 450gr chiếm 76,4 % trường hợp [1].

Nhìn chung tỷ lệ sai lệch của phương pháp này khá lớn, nhưng dù sao đối với các cơ sở không có siêu âm thì phương pháp này vẫn là một

phương pháp được nhiều thày thuốc áp dụng

Năm 1967, Loeffler F.E cũng dùng phương pháp lâm sàng này tại nhà

hộ sinh Charlotte cũng cho kết quả tương tự: 79,9% trường hợp sai lệch 450gr, độ sai lệch lớn nhất thường gặp ở trẻ có cân nặng dưới 2250gr hoặc trên 4000gr.[1]

Tóm lại phương pháp chẩn đoán cân nặng thai dựa vào lâm sàng là một phương pháp đơn giản, nhưng không đáng tin cậy vì tỷ lệ sai lệch quá cao

Vaclav Inster, Dinu Bernstein, Moshe Rikover, The Segal (1967) dùngphương pháp nắn bụng, cho kết quả sai lệch như sau:

85,2% trường hợp chẩn đoán có sai lệch ≤ 500gr

15% trường hợp chẩn đoán sai lệch trên 500gr

5% trường hợp chẩn đoán sai lệch trên 800gr

Có những trường hợp chẩn đoán sai lệch trên 1000gr

Năm 1961, Stokland L và Marks S.A đã dùng phương pháp X-quang

để chẩn đoán cho 179 trường hợp, có độ sai lệch không quá 10% cân nặng thai trong 72% trường hợp; có nghĩa là độ sai lệch chẩn đoán ±350gr chiếm72% trường hợp thai có cân nặng 3500gr[1]

Điểm qua một số phương pháp chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung bằng các phương pháp lâm sàng, và Xquang, đều có độ sai lệch trong chẩn đoán cân nặng thai là 350gr đến 450gr trong khoảng 70% đến 80% trường hợp

II Khi có siêu âm:

Vào thập kỷ 60, các tác giả đã ứng dụng siêu âm để chẩn đoán cân nặng, và theo dõi sự phát triển của thai trong tử cung đạt kết quả chính xác,chỉ định can thiệp điều trị lâm sàng được kịp thời góp phần giảm tỷ lệ tử vong mẹ và con

1 Các phương pháp ước tính trọng lượng thai trên siêu âm đã từng được sử dụng:

Trang 11

1.1 Phương pháp đo đường kính lưỡng đỉnh siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai:

Năm 1964, Willocks, Donald I Duggan I.S, Doy N., nêu lên ý kiến dùng siêu âm đo đường kính lưỡng đỉnh để chẩn đoán cân nặng thai Độ sailệch chẩn đoán ± 454gr gặp trong 67% Tiếp sau đó (1965) Thompson H.E,Holmes J.H., Goltesfels K.R., Taylor E.S cũng áp dụng phương pháp đo đường kính lưỡng đỉnh để chẩn đoán cân nặng thai cho kết quả tương tự:

độ sai lệch chẩn đoán là ±450gr gặp trong 68% Năm 1967, Kohorn E.I, nêu lên độ sai lệch chẩn đoán của phương pháp này là ±350gr Levi nghiên cứu thấy mối tương quan của đường kính lưỡng đỉnh và cân nặng thai là 0,5[1]

Năm 1967, Loeffler có nêu ý kiến so sánh kết quả trong bản nghiên cứu của ông về chẩn đoán cân nặng thai bằng phương pháp lâm sàng khôngkhác gì so với phương pháp chẩn đoán cân nặng thai bằng phương pháp đo đường kính lưỡng đỉnh của Willocks J, Donall I., Duggan I.S., Day N (1964) Mối tương quan giữa trị số đo đường kính lưỡng đỉnh của thai và cân nặng thai (r) là 0,731; p < 0,01

có độ sai lệch trong chẩn đoán như sau:

ước đoán (gr)

Tỷ lệ sai lệch(%)

Willocks JDonald I

Thompson HEHolmes JH

Phan TrườngDuyệt

Sai số chẩn đoán cân nặng của phương pháp đo đường kính lưỡng đỉnh bằng siêu âm khá cao, vì trên thực tế nhiều thai nhi có đầu phát triển

Trang 12

bình thường nhưng thân phát triển bé hơn bình thường; hoặc trên một thai bình thường sự phát triển giữa đầu và bụng không phải khi nào cũng tương xứng với nhau; thai dưới 36 tuần tỷ lệ đầu , đường kính bụng lớn hơn 1, nhưng thai nhi trên 36 tuần tỷ lệ này đảo ngược lại nhỏ hơn 1 vì trong giai đoạn này tốc độ phát triển phần mềm của thai nhi tăng lên Tốc độ phát triển của đầu và bụng thai khác biệt nhau trong quá trình thai nghén, là nguyên nhân ảnh hưởng đến độ chính xác của phương pháp này [1].

1.2 Phương pháp đo chu vi đầu thai để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung:

Qua nghiên cứu thấy rằng có mối tương quan tuyến tính giữa chu vi đầu thai và cân nặng thai, nên có thể áp dụng phương pháp này để chẩn đoán cân nặng thai với hệ số tương quan r = 0,503; p< 0,01 theo hàm số tương quan:

y = 150,53x -1609,30Trong đó: y = cân nặng, x = chu vi đầu thai

Phương pháp này ít được áp dụng [1]

1.3 Phương pháp đo thể tích tử cung theo chiều cao, trước sau, ngang tử cung để chẩn đoán cân nặng thai:

Poulos PP, Langstads Jr đã áp dụng phương pháp này để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung có độ sai lệch chẩn đoán ± 250gr trong 68% trường hợp Phương pháp này khá phức tạp trong khi đo nên khó áp dụng trong thực tế lâm sàng [1]

1.4 Phương pháp đo thể tích tim thai bằng siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai:

Levi S nhận thấy chu vi tim thai ngang mức van tim, diện tích mặt cắt tim thai và đường kính trước sau tim có mối tương quan hồi quy tuyến tínhvới cân nặng thai theo hệ số tương quan lần lướt như sau: r =0,438; 0,458; 0,341

Phương pháp này ít được áp dụng vì sai lệch chẩn đoán cao, (hệ số r thấp)

và đòi hỏi kỹ thuật đo tim thai khó khăn [1]

1.5 Phương pháp đo đường kính ngang bụng bằng siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung:

Năm 1977, Camprogrande M, Tullia Todros và Maria Brizzolar áp dụng phương pháp này cho kết quả sai lệch chẩn đoán như sau:

Dưới 200gr gặp trong 48 % trường hợp

Trang 13

Dưới 300gr gặp trong 66% trường hợp.

Dưới 400gr gặp trong 74% trường hợp

Cũng theo phương pháp đo đường kính ngang bụng Campbell nêu kết quả sai lệch chẩn đoán dưới 280gr gặp trong 58% trường hợp, và theo Horace E Thompson thì độ sai lệch của phương pháp này là ± 364 gr [1].Chúng tôi thấy rằng phương pháp đo đường kính ngang bụng tuy đơn giản, trị số đo được ghi nhận ngay sau khi đo nhưng vì cử động hô hấp của thai (breathing movement) đã làm cho đường kính ngang bụng thay đổi Khi thai có động tác thở vào, đường kính ngang to ra và đường kính trước sau nhỏ lại vì thế kết quả của phương pháp chẩn đoán này kém chính xác,mối tương quan giữa đường kính ngang bụng và tuổi thai thấp: r = 0,471 Hàm số tương quan là:

1.6 Phương pháp đo ngực thai để chẩn đoán cân nặng thai:

Năm 1975 Levi.S nghiên cứu phương pháp đo ngực thai để chẩn đoán cân nặng và đưa ra kết quả sau:

Diện tích ngực và chu vi ngực, đường kính trước sau ngực có mối tương quan hồi quy tuyến tính với cân nặng thai theo hệ số tương quan theo

hệ sau r= 0,648; 0,650; 0,643

Ở viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh, đã áp dụng phương pháp này và cómức độ tin cậy gần như phương pháp đo đường kính lưỡng đỉnh để chẩn đoán tuổi thai Hệ số tương quan giữa chu vi ngực và cân nặng thai là 0,701, p< 0,001 Nhưng trên thực tế gặp nhiều nhược điểm và sai lầm vì: hình ảnh bờ ngoài của ngực thai không rõ nét của các các đường cong của

Trang 14

tín hiệu siêu âm tương ứng với cấu trúc vùng ngực thai như các màng phổi, các vành xương sườn nên dễ bị sai lệch lúc đo [1].

Hàm số tương quan tuyến tính giữa cân nặng thai và chu vi ngực thai:y=110,581x – 523,33

Trong đó: y là cân nặng thai, x là chu vi ngực đo qua van tim [1]

1.7 Phương pháp đo thể tích thai bằng siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai:

Năm 1970, Garrett.W.J , Robinson D.E áp dụng phương pháp này đểchẩn đoán cân nặng thai Các tác giả nghiên cứu trên 20 sản phụ, các phần của thai nhi được đo bằng nguồn siêu âm đã được điều chỉnh tốc độ truyền

âm qua từng lớp tổ chức thai hệ số U và hệ số trở kháng âm “i”.Tác giả đã nêu lên mối tương quan giữa thể tích thai và cân nặng thai là 0,9794 và độ chênh lệch chẩn đoán chênh lệch thai là 106 gr [1]

Phương pháp này có giá trị chẩn đoán chính xác nhưng việc thực hànhkhá phức tạp đòi hỏi nhiều thời gian xác định và đo từng phần của thai và điều chỉnh tốc độ truyền siêu âm qua các phần thai khác nhau [1]

Năm 1979 chúng tôi áp dụng phương pháp đo thể tích thai dựa vào công thức: V = D3 + 2B3 Trong đó:

V: thể tích thai (cm3)

D: Đường kính lưỡng đỉnh thai

B: Diện tích mặt cắt bụng thai qua tĩnh mạch rốn

Mỗi tương quan giữa thể tích thai và cân nặng thai theo hàm số tương quan tuyến tính [1]

y = 1.2009 x – 107,94

Trong đó:

y: cân nặng thai (gr),

x: thể tích thai (cm3)

Trang 15

Hệ số tương quan r = 0,867; p< 0,001

Sai số chẩn đoán ít:

Chẩn đoán sai lệch 200 gr gặp trong 35,4% trường hợp

Chẩn đoán sai lệch 300 gr gặp trong 17,5% trường hợp

Thể tích thai V = D3 + 2B3

Trong đó:

V: thể tích thai (cm3),

D: đường kính lưỡng đỉnh thai (mm),

B: diện tích mặt cắt bụng thai qua tính mạch rốn (cm2)

1.8 Phương pháp đo chu vi bụng thai bằng siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai:

Năm 1975 Campbell S, và Wilkin D đưa ra phương pháp đo chu vi bụng thai qua mức tĩnh mạch rốn để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung.Tác giả nêu lên mối tương quan có ý nghĩa giữa chu vi bụng thai và cân nặng theo hàm số:

logc y = 4,564 + 0,282x – 0,00331 x2

Trong đó:

y: cân nặng của thai,

x: chu vi bụng thai đo bằng siêu âm

Kết quả chẩn đoán sai lệch như sau:

Sai lệch trung bình là 290 gr gặp trên thai có cân nặng 2000 gr

Sai lệch 450 gr trên thai có cân nặng 4000 gr [1]

Năm 1977, Campogrande cũng áp dụng phương pháp đo chu vi bụng thai kết quả trong chẩn đoán cân nặng thai như sau:

Sai lệch dưới 200 gr gặp trong 46% trường hợp

Trang 16

Sai lệch dưới 300 gr gặp trong 56% trường hợp.

Sai lệch dưới 400 gr gặp trong 82% trường hợp

Chúng tôi cũng nghiên cứu thấy mối tương quan tuyến tính giữa chu

vi bụng thai và cân nặng thai theo hàm số:

1.9 Phương pháp đo diện tích mặt cắt bụng thai qua tĩnh mạch rốn

để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung:

Phương pháp này có độ chẩn đoán khá chính xác, hệ số tương quan tuyến tính giữa diện tích mặt cắt bụng thai và cân nặng thai cao r = 0,820,

độ tin cậy p<0,001 Hàm số tương quan tuyến tính như sau:

y = 28,39x + 518,8

Trong đó:

y = cân nặng (gr ),

x = diện tích mặt cắt bụng (cm2)

Sai lệch chẩn đoán 200gr gặp trong 35,1% trường hợp

Sai lệch chẩn đoán 300gr gặp trong 21,62% trường hợp[1]

1.10 Phương pháp đo đường kính trung bình bụng thai để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung:

Phương pháp đo đường kính trung bình bụng thai cũng là một phươngpháp đơn giản có độ chính xác cao, vì đường kính trước sau và ngang bụng thai sẽ thay đổi bù trừ cho nhau khi có động tác thở của thai

Trang 17

Mỗi tương quan tuyến tính giữa đường kính trung bình bụng thai và cân nặng thai khá chặt chẽ r = 0,790, độ tin cậy p < 0,001 theo hàm số tuyến tính:

phương pháp này và cân nặng thực tế có độ sai lệch từ 200gr đến 300gr chiếm tỷ lệ 23,3% trường hợp Mối tương quan giữa cân nặng thai chẩn đoán và cân nặng thai thực tế rất cao r = 0,983 [1]

Phương pháp này còn có những ưu điểm:

Đo nhanh chóng ít sai lệch, số liệu đo được hiện rõ trên màn ảnh, tính toán dễ dàng

Áp dụng được trên các máy siêu âm đơn giản, rẻ tiền hiện đang được trang bị tại các tuyến điều trị

Chẩn đoán có độ tin cậy cao

Vì vậy phương pháp đo đường kính trung bình bụng thai cũng được ápdụng phổ biến [1]

1.11 Phương pháp đo kết hợp các phần của thai bằng siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung

Năm 1973 Schlender, Pecker nghiên cứu phương pháp kết hợp đo đường kính lưỡng đỉnh và chu vi ngực để chẩn đoán cân nặng thai có kết quả chẩn đoán sai lệch ± 250gr gặp trong 59% Boong G, Van Leeder M, Schumater JJ KirsteterL, Ganda R nghiên cứu phương pháp đo lường kính lưỡng đỉnh và đường kính ngang ngực để chẩn đoán cân nặng thai có kết quả sai lệch chẩn đoán là 286 gr Suzuki, Minei L.J và Shnizer áp dụng phương pháp đo đường kính lưỡng đỉnh kết hợp với thể tích tim thai và nêulên độ sai lệch trong chẩn đoán cân nặng thai là 495 gr Năm 1976 , Lunt và

Trang 18

Chart nghiên cứu phức tạp hơn là đo diện tích mặt cắt ngang ngực và diện tích mặt cắt đầu thai qua bướu đỉnh để chẩn đoán là ± 215 gr Năm 1977 Campogrande M, Tulli Todros đã nêu lên mối tương quan chặt chẽ giữa các trị số đo kết hợp các phần của thân thai trong tử cung để chẩn đoán cân nặng thai Tác giả nêu lên hàm số tương quan như sau :

Phương pháp này có độ sai lệch chẩn đoán:

Chẩn đoán sai lệch dưới 200 gr gặp trong 56% trường hợp

Chẩn đoán sai lệch dưới 200 gr gặp trong 66% trường hợp

Chẩn đoán sai lệch dưới 200 gr gặp trong 84% trường hợp

Shepard MJ, Richards VA, Berkowitz RL (1982) và Birnholz đã sử dụng phương pháp đo kết hợp bụng đầu và nêu mối tương quan theo hàm

Ngày đăng: 17/01/2019, 06:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w